Danh mục mp3
Danh mục video
48 Đại Nguyện của Phật A Di Đà ( Phần 3)
10 Hạnh Không Mong Cầu (Phần 3)
Biểu Tướng và Ẩn Tàng
48 ĐẠI NGUYỆN CỦA PHẬT A DI ĐÀ - phần 2
10 HẠNH KHÔNG MONG CẦU (Phần 2)
48 ĐẠI NGUYỆN CỦA PHẬT A DI ĐÀ
CÓ MỘT CON ĐƯỜNG DỨT KHỔ AN VUI- PHẦN 3 NIỆM TĂNG VÀ NIỆM GIỚI
HÀNH TRANG CHO NGÀY CUỐI
Có một con đường dứt khổ an vui Phần 2: Niệm Pháp
Làm Thế Nào Để Được Thân Tướng Trang Nghiêm Thanh Tịnh
Hữu Thân Hữu Khổ
Có một con đường dứt khổ an vui Phần 1 - Niệm Phật
Vui với hạnh phúc của người chính là hạnh phúc của mình
Cận tử nghiệp
Tại sao chúng ta phải phát Bồ Đề tâm
PHÁP HÀNH THIỀN TẬP KHI QUÉT CHÙA
TỨ QUÁN HẠNH CỦA TỔ BỒ ĐỀ ĐẠT MA
NGƯỜI TU PHẬT CẦN PHẢI BIẾT TRƯỚC PHÚT LÂM CHUNG
TỊNH ĐỘ NƠI ẤY BÂY GIỜ VÀ Ở ĐÂY
PHÁT BỒ ĐỀ TÂM TRONG BIỂN LỬA
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 5)
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 4)
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 3)
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 2)
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (1)
Đâu là bến đỗ bình yên
Kinh hạnh phúc
Những Nghịch Cảnh Giữa Đời Thường
Tâm Tịnh Phật Độ Tịnh
Có Một Con Đường
Nhẫn là chánh hạnh thành Phật
Đạo Phật đến để mà thấy
Quán niệm về cái chết trong cuộc sống đời thường
Chết là hạnh phúc hay khổ đau
Nghiệp con đường của sự tái sinh
Pháp là con thuyền đưa chúng sanh thoát khổ
Chết con đường chúng ta phải đi
07 tài sản của người tu Phật
Một bước đạp tan tam giới mộng
Tâm là chủ muôn pháp
 

Lược giải Kinh Viên Giác

Thiền sư Hám Sơn trực giải

Người dịch: Đạt Ma Khế Định

LỜI NGƯỜI DỊCH

Như chúng ta đã hiểu, kinh Viên Giác là một bộ kinh Phật nói về giáo lý Đại thừa viên đốn, nhằm chỉ thẳng “Diệu giác minh tâm” sẵn có ở ngay nơi thân năm uẩn của mọi chúng sanh. Nghĩa là tất cả chúng sanh đều có đầy đủ “Diệu giác minh tâm” này, nhưng vì một niệm bất giác vô minh, ban đầu ở trong tánh giác vốn thanh tịnh sáng suốt, chợt dấy lên cái niệm chiếu soi trở lại tánh giác, nhân đó tâm cảnh hiện tiền lần lượt phát khởi mọi thứ điên cuồng sai biệt. Thế giới và chúng sanh do đó tiếp nối xoay vần mãi mãi không biết đâu là ngằn mé. Nay muốn trở về “Diệu giác minh tâm” ấy, Phật dạy chủ yếu phải rõ “Nhân địa bổn khởi pháp hạnh của Như Lai”.

1. Đấng Pháp vương có pháp môn Đại đà la ni tên là “Viên Giác”.

2. Phải nhận rõ đây là gốc phát sinh vô minh điên đảo.

3. Phải phát tâm như thế nào để khỏi lạc vào tà kiến.

Lại bộ kinh Viên Giác này còn có nhiều điểm đặc biệt đáng chú ý:

1. Kinh này chỉ ra cái Viên giác vô sanh ngay nơi thân năm uẩn, để làm nhân địa tu hành hợp với quả vị thường trụ.

2. Chỉ đường lối tu hành quá rõ ràng khế hợp với Thiền tông. Tức điều kiện cần yếu cho người hành giả trước đốn ngộ, sau phương tiện tiệm tu, như Thiền tông trước phải kiến tánh rồi sau khởi tu. Nghĩa là dạy cho tất cả chúng sanh ngay nơi thân sanh diệt giả dối này nhận ra “Diệu giác minh tâm trùm khắp pháp giới” đâu khác với Thiền tông trước phải nhận ra “Ông chủ” hay “Bộ mặt thật xưa nay”, lấy đây làm nhân địa pháp hạnh để  tiến tu.

 3. Tôn chỉ kinh này lại rất phù hợp với kinh Pháp Hoa viên đốn. Kinh Pháp Hoa Phật nhằm khai, thị, ngộ, nhập “Tri kiến Phật” thì kinh này Phật khai, thị, ngộ, nhập “Diệu giác minh tâm”. Đây là điểm đặc thù giữa hai bộ kinh viên đốn.

4. Kinh này đặc biệt Đức Thế Tôn chỉ dụ rất cặn kẽ rõ ràng: tu như thế nào khỏi  phải rơi vào chủng tánh ngoại đạo… phát tâm như thế nào khỏi phải lọt vào tà kiến.

5. Kinh này lại rất đặc thù trong các bộ kinh viên đốn Đại thừa. Vì sao? Vì mở đầu bộ kinh lần lượt xuất hiện mười hai vị Đại sĩ thưa hỏi ảo nghĩa uyên thâm bí tạng.

6. Ngoài những áo nghĩa uyên thâm khó nghĩ bàn trên. Về hình thức kinh này lại còn là một áng văn chương hùng hậu lưu loát, toát ra từ mười hai vị Đại sĩ  thưa hỏi Đức Tôn Sư về nghĩa lý nhân địa phát tâm tu hành của Đức Như Lai thế nào?

7. Nói chung, kinh Viên Giác là nêu bày sự giác ngộ viên mãn của Phật. Bộ kinh này là trung tâm đi thẳng tới Phật quả, là chỗ cực tắc của thiền môn, là nhân địa tu hành đến diệu quả.

Vì thế, chương đầu xuất hiện Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, là bậc thượng thủ chánh pháp, là pháp vương tử của Như Lai, đứng lên thưa hỏi về mật tạng pháp hạnh của Thế Tôn. Vì sao? Vì trong sáu pháp Ba la mật, Trí là đầu các công đức, có trí huệ chúng ta mới thấy được như thật, từ đó mới đốn dứt vô minh, hiển bày giác địa thanh tịnh như như bất động.

Tóm kết và cô đọng những điều kể trên đây đủ cho chúng thấy bộ kinh Viên Giác này thật là tối hệ trọng, nhất là những người tu Thiền cần yếu phải xét soi tường tận để làm tư lương trên bước đường lần về cố quốc.

Để đền đáp công ơn giáo hóa của Phật Tổ và công ơn Thầy Tổ đã đem hết tâm huyết soi đường chỉ nẻo, chúng tôi cố gắng dịch quyển kinh Viên Giác Trực Giải này ra Việt văn, để phổ biến lời Phật dạy, hầu làm lợi ích cho mọi người.

Với việc làm còn nông cạn, không thể tránh khỏi những điều sai sót. Cúi mong các bậc cao minh từ bi chỉ dạy, và bằng một tấm lòng bé nhỏ của chúng tôi chỉ mong người xem đạt ý quên lời, được cá quên nôm, và nhận chân ra được tánh Viên giác của chính mình, để đốn dứt vô minh vào nhà diệu giác.

Nguyện đem công đức phiên dịch này, hồi hướng cho bốn ơn ba cõi và chúng sanh trong khắp pháp giới đều trọn thành Phật quả.

Viết tại Trúc Lâm Tăng Xá

Lập Đông Canh Thìn

Cẩn bút

Đạt Ma Khế Định

 

 

 

CẨN NGUYỆN

Kính lạy Tam thế Phật

Bồ tát chúng hiền thánh

Nhiều như cát sông Hằng

Từ bi vô hạn lượng

Cứu vớt khắp quần sanh

Ba cõi cùng sáu đường

Đồng qui y Tam bảo

Thoát khỏi cảnh Tam đồ

Mau siêu thăng Phật đạo

Cùng tất cả chúng sanh

Khắp hằng sa các cõi

Đều phát tâm Bồ đề

Ngày đêm niệm Bát nhã

Đời đời luôn tinh tấn

Như lửa củi cháy đầu

Đến lúc đắc Bồ đề

Lập nguyện độ chúng sanh

Thoát khỏi cảnh tăm tối

Nammô Phật Pháp Tăng

Nguyện cho thảy chúng sanh

Đồng trọn thành Phật đạo

 

Cẩn nguyện

 

Đạt Ma Khế Định.

 

 

LƯỢC TRUYỆN ĐẠI SƯ HÁM SƠN

Đại sư húy Đức Thanh, vì mến mộ pháp giới Thanh Lương nên lấy tự là Trừng Ấn; biệt hiệu Hám Sơn là chọn sự lạ lùng của núi Ngũ Đài để dụ cho tánh cuồng đã cạn.

Sư họ Sái, cha là Ngạn Cao, mẹ là Hồng Thị mộng thấy Bồ tát Quán Âm bế đứa bé đưa cho mà có thai. Sư sanh ngày 12 tháng 11 niên hiệu Gia Tĩnh thứ 25.

Năm 12 tuổi theo Hòa thượng Tây Lâm ở chùa Báo Ân xuất gia.

Năm 19 tuổi đã thông Nho học và lễ Thiền sư Thê Hiền Vân Cốc xuống tóc, thọ giới.

Năm 20 tuổi đi hành khước các nơi và đại triệt đại ngộ ở núi Ngũ Đài.

Năm 22 tuổi trích máu viết kinh Hoa Nghiêm để cầu nguyện Hoàng đế có con nối dõi, mỗi lần đặt bút, sư niệm Phật một tiếng. Sư nằm mộng thấy lên cõi trời Đâu Suất được Bồ tát Di Lặc khai thị.

Năm 38 tuổi ẩn tu trong núi Lao Sơn ở Sơn Đông. Năm 50 tuổi, vì việc hoằng pháp xúc phạm đến vua bị sung quân đày ra Lôi Dương, sư trung hưng đạo tràng của Lục Tổ, hoằng dương Phật pháp đến Lĩnh Nam.

Năm 69 tuổi được mặc tăng phục trở lại.

Năm 72 tuổi lui về ẩn tại chùa Pháp Vân, núi Ngũ Nhũ ở Khuông Sơn.

Năm 77 tuổi lại theo lời thỉnh cầu của các đệ tử quan viên mà trở lại Tào Khê.

Niên hiệu Thiên Khải thứ ba, ngày 11 tháng 11 sư an tường thị tịch, thọ 78 tuổi, 60 tuổi hạ .

Sau đó 22 năm, người ta mở khám thờ thấy sư râu tóc ra dài, như đang nhập thiền định. Nếu không phải người tu hành đắc lực, sao được thân kim cang bất hoại?

Hiện nay nhục thân sư đang được thờ tại chùa Nam Hoa ở Quảng Châu.

                                 ***

LỜI TỰA

Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa kinh.

Phàm những gì thuộc về hữu tình ắt có tánh biết, xét có tánh biết thì ắt đồng một thể. Nghĩa là Chơn tịnh diệu minh rỗng suốt linh thông siêu tuyệt mà hiện diện duy nhất. Đó chính là nguồn cội của chúng sanh nên gọi là “Tâm địa”. Là chỗ chứng của Chư Phật nên gọi là “Bồ đề”. Giao triệt và dung nhiếp nên gọi “Pháp giới”. Lặng lẽ thường vui nên gọi là “Niết bàn”. Bất cấu bất lậu nên gọi là “Thanh tịnh”. Không hư dối, không đổi dời nên gọi là “Chơn như”. Lìa lỗi dứt quấy nên gọi là “Phật tánh”. Hộ thiện, ngừa ác nên gọi là “Nắm giữ”. Bao trùm và thâu nhiếp nên gọi là “Như Lai tàng”. Siêu tuyệt huyền nhiệm sâu xa nên gọi là “Mật nghiêm”, bao gồm các đức mà rất đầy đủ. Sáng soi chỗ tối tăm mà riêng chiếu nên gọi là “Viên giác”.

Thật ra đều là “Một tâm”, trái với tánh Viên giác thì Phàm, thuận với tánh Viên giác thì Thánh. Mê nó thì đầu mối của sự sanh tử; ngộ nó thì con đường luân hồi dứt tuyệt, gần mà cầu nó thì chỉ quán định huệ, suy ra cho rộng thì Lục độ muôn hạnh, gom lại mà làm trí, sau đó làm chánh trí, y đó mà làm nhân, sau đó làm chánh nhân. Thật ra đều là “Một pháp”.

Trọn ngày Viên giác mà chưa từng Viên giác nên gọi là “Phàm phu”. Muốn chứng Viên giác mà chưa thấu tột tánh Viên giác nên gọi là “Bồ tát”. Đầy đủ Viên giác mà trụ trì Viên giác nên gọi là “Như Lai”.

Lìa Viên giác thì không Lục độ, xả Viên giác thì không Tam thừa, phi Viên giác thì không Như Lai, tuyệt Viên giác thì không chơn pháp. Thật ra đều là “Một đạo”.

Chỗ chứng của ba đời chư Phật vốn là chứng chỗ này. Đức Thế Tôn vì một đại sự nhân duyên xuất hiện ra đời vốn là việc này. Ba Tạng giáo điển và tất cả 12 bộ kinh vốn là giải thích về chỗ này. Song thừa của Như Lai và yếu chỉ của diệu môn có hiển có mật; lập nghĩa thì có rộng có hẹp; thừa thì có trước có sau; đương cơ thì có sâu có cạn. Nếu chẳng phải là bậc thượng căn trí huệ viên mãn thì ai có thể thấy suốt về chỗ này.

Vì thế, Đức Như Lai ở trong Tạng quang minh tam muội cùng với 12 vị Đại sĩ mật thuyết mà hiển bày, ẩn mật mà bao trùm để ấn định pháp này làm tông yếu cương lĩnh của tất cả kinh.

Đạo nhơn Hám Sơn Thích Đức Thanh

Cẩn tựa.

 

TỔNG LUẬN

Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu nghĩa Kinh

Trực Chỉ Quyển Thượng

*

Đời Đường ở nước Kế Tân, Sa môn Phật Đà  Đa La dịch.

Đời Minh, Đại sư Thích Đức Thanh hiệu Hám Sơn ẩn dật ở Khuông Sơn trực giải.

Đời Minh, Tân An, Trình Mộng Dương hiệu Giác Ngã giảo duyệt.

*

Kinh này lấy riêng pháp làm tên, nhất chơn pháp giới Như Lai tàng làm thể. Lấy viên chiếu giác tướng làm tông. Lấy lìa vọng chứng chơn làm dụng. Lấy nhất thừa viên đốn làm giáo tướng.

Luận nói: “Chỗ người nói pháp gọi là tâm chúng sinh”. Hai chữ “Viên Giác” là trực chỉ một tâm lấy làm pháp thể.

     Đây có nhiều tên gọi, cũng gọi là “Đại viên mãn giác”, cũng gọi là “Diệu giác minh tâm”, cũng gọi là “Nhất chơn pháp giới”, cũng gọi là “Như lai tàng chơn tâm thanh tịnh”.

Kinh Lăng Già nói: “Lặng lẽ một tâm”. Nghĩa là Luận Khởi Tín nói: “Nhất pháp giới đại tổng tướng pháp môn”.

 Thể gọi tuy nhiều mà gom lại chỉ có một tên là “Viên giác diệu tâm”. Chỉ một tâm này chính là mười pháp giới là gốc của nhân quả phàm thánh mê ngộ y báo và chánh báo, là nguồn cội của chư Phật nên gọi là “Pháp thân”, là tâm địa của chúng sanh nên gọi là “Phật tánh”. Tất cả các pháp đều nương nơi tâm này mà dựng lập nên riêng lấy pháp làm tên.

Đại Phương Quảng đó chính là tâm pháp này, đầy đủ ba nghĩa lớn Thể - Tướng - Dụng.

Song “Đại” tức là thể “Đại”. Nghĩa là một tâm này bao gồm pháp giới mà có thừa. Rộng lớn suốt thông mà không ngoài, bao quát kiên định trùm khắp mà không ngoài nên gọi là “Đại”.  

Lại nữa, “Phương” tức là tướng “Đại”, lại “Phương” là giải nghĩa chữ “Pháp”. Nghĩa là một tâm này là Phật tánh của chúng sanh. Vì có riêng khuôn phép của tự tánh này nên một khi nghe Phật tánh liền có thể sanh hiểu. Dù trải qua muôn kiếp luân hồi mà chẳng mất nên nói: “Theo vật sanh hiểu giữ nguyên tự tánh”. Lấychơn tâm vô tướng mà làm phép tắc cái có tướng nên “Phương” là tướng “Đại”.

 “Quảng” tức là dụng “Đại”. Vì tâm thể này biến khắp mà không bỏ sót, không có cõi nào mà chẳng hiện, không có vật nào mà chẳng khắp nên gọi là dụng “Đại”. Do cái nghĩa pháp này viên mãn một tâm, do trong kinh này chỉ thẳng tâm này làm cái gốc của sự mê ngộ tu chứng, Phật và chúng sanh, nên nói: “Lấy riêng pháp làm tên”.

Tiếng Phạn gọi là “Tu Đa La”

Trung Hoa gọi là “Khế Kinh”.

Vì gồm các kinh mà Phật nói đều gọi là Khế Kinh. Nghĩa là lời dạy của Phật là ứng cơ ứng lý. Chỉ ứng cơ thì có lớn có nhỏ, vì người Tiểu thừa mà nói gọi là “Kinh bất liễu nghĩa”; vì người Đại thừa mà nói gọi là “Kinh liễu nghĩa”. Nghĩa là hiển bày diễn nói đến cái chỗ cùng cực rốt ráo, vì trong đề mục thông chỉ kinh này chính là kinh liễu nghĩa, trong tạng kinh thảy đều “Kinh liễu nghĩa”.

Mười chữ trên chính là pháp nghĩa của một kinh sở thuyên, một chữ kinh ở dưới chính là riêng chỉ bày đương kinh văn tự của năng thuyên.

Nhất chơn pháp giới tâm Như Lai tàng làm thể. Kinh nói: “Nhập thần thông Đại Quang Minh tạng” tức là Như Lai tàng tâm thể thanh tịnh bình đẳng chẳng hai nên gọi là “Nhất chơn”.

Lại nói: “Như pháp giới tánh rốt ráo viên mãn, ấy gọi là “Nhân địa pháp hạnh”.

 Lại nói: “Trang đầu gọi là Đại đà la ni” tức là: “Nhất chơn pháp giới đại tổng tướng pháp môn thể”. Là nhân địa của chư Phật, là bổn hạnh của Bồ tát nên lấy đây làm thể của một bộ kinh. Lấy giác tướng viên chiếu làm tông. Nên kinh nói: “Nhân địa pháp hạnh bổn khởi của tất cả  Đức Như Lai đều y nơi giác tướng thanh tịnh viên chiếu vĩnh viễn đoạn dứt vô minh chóng thành Phật đạo”.

Vì thế, lấy đây làm tông của một bộ kinh, lìa vọng chứng chơn làm dụng nên kinh nói: “Biết hoa đốm trong hư không thì không còn bị lưu chuyển”.

 Lại nói: “Biết huyễn tức lìa, lìa huyễn tức giác” (tri huyễn tức ly, ly huyễn tức giác) nên lấy đây làm dụng. Lấy Nhất thừa viên đốn làm giáo tướng. Vì trong kinh này nói thuần về giác tánh, viên tu tam quán đốn chứng nhất tâm,tuy liệt kê ra hai mươi lăm luân, thật ra chỉ là một tâm chuyển đổi, đều không có giai cấp thứ lớp nên lấy viên đốn làm giáo tướng. Song Ngũ trùng huyền nghĩa này chính là Tông Thiên Thai giải thích khuôn phép của kinh, và nhiếp trọn chỉ thú của toàn bộ kinh nên khi người học mở quyển này rồi thì tư duy quá nửa.

Đời Đường ở nước Kế Tân, Sa môn Phật Đà Đa La dịch.

Đây là phiên dịch tên họ. “Kế Tân” chính là quốc hiệu “Tây Vức”. Đây nói “tiện chủng” vì nước này khai quốc chính là người thấp kém tự lập làm quân trưởng (tức là vua) nên tương truyền gọi là “Phật đà”. Trung Hoa gọi là “Giác”. Tiếng Phạn gọi “Đa La”. Trung Hoa gọi là “Cứu”, chính là dịch tên của sư.

Người ẩn dật ở Khuông Sơn

 Đạo nhơn Hám Sơn Thích Đức Thanh trực giải.

 

PHẦN THỨ NHẤT

PHẦN TỰA

I. PHẦN TỰA CHUNG: (thông lệ các kinh)

1. Nói về thời gian và nơi chốn:

- Như thị ngã văn:

Từ đây đến đoạn tổng danh pháp hội bình đẳng là phần Chứng tín, vì đầu của các kinh đều có phần này gọi là phần Thông tự. Do ngài A Nan hỏi Phật: “Khi kiết tập kinh điển mở đầu các kinh nên để câu gì?” để làm chứng pháp là có chỗ trao truyền.    

“Như thị ngã văn” là khi ngài A Nan kiết tập pháp tạng là miệng nói lời Phật. Nghĩa là pháp “Như thị”.

“Ngã” là ngài A Nan nghe từ nơi Phật nói, chẳng tự mình ức thuyết.

Nói “Nhất thời” vốn là không có nhất định, chỉ là Phật cùng các hàng đệ tử khi cơ cảm mà hội tập nên phàm có nói kinh đều nói “Nhất thời”.

- Bà Già Bà: Cũng gọi là “Bạc Già Phạm”, là Phạm âm sở hạ, là quả hiệu của Phật. Tên hiệu này từ xưa chẳng có phiên dịch, vì hợp nhiều nghĩa nên chẳng phiên dịch. Nghĩa là một lời này đầy đủ có sáu nghĩa:

Một là “Tự tại”.

Hai là “Suý thạnh”.

Ba là “Đoan nghiêm”.

Bốn là “Danh xưng”.

Năm là “Kiết tường”.

Sáu là “Tôn quý”.

Sáu tên hiệu này đều gọi là Phật đức, nếu phiên dịch một tên tóm kết nghĩa lý chẳng trọn nên chỉ còn lại Phạn ngữ. Ở đây chỉ nêu ra một ví dụ còn năm phần chẳng phiên dịch ra. Vì đây nói phần Pháp chủ.

- Nhập thần thông Đại Quang Minh tạng tam muội chánh thọ. Ấy là chỗ của tất cả chư Phật Như Lai Quang Nghiêm trụ trì.

Chỗ nói kinh này Phật có ba thân:

Một là pháp thân.

Hai là báo thân.

Ba là hóa thân.

Chỗ nương tựa cũng có ba cõi: 

Một là “Tịch Quang”.

Hai là “Thật báo trang nghiêm”.

Ba là “Phương tiện hữu dư”.

Pháp thân Phật nương nơi cõi “Tịch Quang”. Báo thân phật nương nơi cõi “Thật báo”, tức là Phật Lô Xá Na ở cõi Hoa Tạng cùng với Bồ tát Địa thượng. Nói hoá thân trong kinh Hoa Nghiêm; chính là Phật Thích Ca Mâu Ni nương nơi chỗ nhơn gian tinh xá Kỳ Hoàn ở thành Xá Vệ, và núi Linh Thứu v.v… vì hàng trời người v..v…nói pháp Tam thừa. Nay chỗ kinh nói: “Đại thần thông quang minh tạng chính là cõi Thường tịch quang” là chỗ nương tựa của pháp thân.

Phạn ngữ gọi là “Tam muội”, Trung Hoa gọi là “Chánh định”.

Nói “Chánh thọ” chính là ý thọ dụng trong chánh định. Kinh này hiển bày là chỗ Phật nói pháp thân và báothân đồng thể, chánh định chánh thọ là chỗ tự thọ pháp lạc.

Nói tất cả Như Lai Quang Nghiêm trụ trì là nói về cõi pháp tánh, chính là chỗ chứng của chư Phật. Cõi “Thường tịch quang” lấy ánh sáng làm trang nghiêm, chẳng phải lấy bảo vật khác mà trang nghiêm. Vì cõi “Tịch quang” này chính là nhà an ổn của pháp thân nên nói là trụ trì, tức đây nói nương nơi chơn chẳng phải Phật nào khác mà có thể so sánh. Đây là hiển bày pháp yếu rất là thù thắng.

- Cũng là chỗ giác địa thanh tịnh của chúng sanh.

Đoạn này nói về cõi “Tịch Quang”, chính là thật tế của chúng sanh và Phật bình đẳng. Ấy là nhà an ổn của chư Phật, tức là giác địa bổn hữu chẳng mê của chúng sanh.

Đây là hiển bày cảnh giới chơn thật vọng và chơn vốn không hai.

- Thântâm đều lặng lẽ, bình đẳng bản tế tròn đầy cả mười phương, tuỳ thuận không hai.

Đoạn này nói về cảnh giới chơn thật tịch quang; chính là chư Phật và chúng sanh hoặc thân hoặc tâm đều đồng một thật tế lặng lẽ bình đẳng. Đây là thể tánh thâm sâu tròn đầy cả mười phương. Nghĩa là dụng rộng lớn. Nói dụng này tròn đầy bao trùm cả mười phương rộng lớn mà không ngoài.

“Bất nhị tùy thuận” nếu đảo văn thì nên nói “Tùy thuận bất nhị” nghĩa là tất cả Thánh phàm đều qui về bờ mé bình đẳng trong đây nên nói là “Tuỳ thuận bất nhị”.

- Ở trong cảnh giới bất nhị mà hiện ra các cõi nước thanh tịnh.

Cảnh bất nhị trên, chính là chỗ tự thọ pháp lạc của chư Phật, vì không có tướng của thân tâm thì đâu có phân chủ bạn. Nếu không có chủ bạn, không diễn nói, không chỉ bày, thì không có việc nói pháp. Nay nói ở trong cảnh giới bất nhị mà hiện ra các cõi nước thanh tịnh. Ngay đây hiển bày từ cảnh giới tự thọ dụng mà hiện ra tha thọ dụng. Đây chính là bậc Bồ tát Địa thượng nói về báo độ của pháp tự tánh.

Trong đây lại có nói, có nghe song trong cảnh giới này tuy có nói, có nghe, mà Đức Như Lai còn ở trong tam muội chưa từng xuất định vì sao có nói?

Ý là kinh này hiển bày chỗ của Như Lai nói pháp chính là pháp thân, hiển thị lìa tướng cảnh giới tâm ý và ý thức.Ngay đây là hiển bày thiền định của Như Lai rất là thù thắng thanh tịnh, ngoài ra chẳng phải kinh nào khác mà có thể so sánh. Trong kinh Lăng Già pháp thân nói pháp là dùng pháp chứng Phật. Kinh này dùng chỗ nơi chứng Phật.

Hai kinh này (kinh Viên Giác và kinh Lăng Già) hợp lại quán xét thì chỉ thú thật là sâu xa thâm diệu, và những điều từ trước đến nay người chưa thấu suốt xin xem xét cho thật kỹ.

- Cùng với Đại Bồ tát Ma-ha-tát mười muôn người cùng câu hội. Tên các vị ấy là:

Bồ tát Văn Thù Sư Lợi

Bồ tát Phổ Hiền

Bồ tát Phổ Nhãn    

Bồ tát Kim Cang Tạng

Bồ tát Di Lặc

Bồ tát Thanh Tịnh Huệ

Bồ tát Oai Đức Tự Tại

Bồ tát Biện Âm

Bồ tát Tịnh Chủ Nghiệp Chướng

Bồ tát Phổ Giác

Bồ tát Viên Giác

Bồ tát Hiền Thiện Thủ.

đều là những bậc thượng thủ cùng với các quyến thuộc, đều nhập trong tam muội, đồng trụ trong pháp hội  bình đẳngcủa Như Lai.

Đoạn này nêu rõ tên các bậc Bồ tát thượng thủ cùng với quyến thuộc.

Mười hai vị Đại sĩ theo bổn xưa giải đều lấy Tam quán mà giải thích tên. Song mỗi mỗi đều đầy đủ đức tướng

giống nhau không cần phải khư khư giữ cái cũ.

Nói đều nhập trong tam muội vì Phật chính là báo tướng của pháp thân, cõi nước chính là cảnh giới Thường tịch quang, huống nữa Phật tự nhập trong tam muội nói pháp tự tánh, há lại có các thính chúng tán tâm động niệm mà có thể nhập tam muội đuợc ư? Cho nên ắt là nhập trong tam muội rồi. Sau đó mới có thể đồng ở trong pháp hội bình đẳng này.

Hỏi rằng: - “Chủ bạn” (Phật và Bồ tát) đều nhập trong tam muội thì không có nói, không có nghe, vậy đem cái gì mà hiển bày pháp ư?

Đáp rằng: - Đây là pháp môn vi diệu chẳng có thể nghĩ bàn.

Xưa kia, ngài Tu Bồ Đề ngồi yên lặng ở trong núi, vị trời Đế Thích rải hoa tán thán ngài. Ngài Tu Bồ Đề nói: “Ta thật không có thuyết Bát nhã”, Đế Thích đáp: “Tôn giả chẳng khéo thuyết Bát nhã”. Không nói không nghe như thế mới là chơn thật Bát nhã.

Nếu biện rõ được chỗ này mới có thể tin nhận ở trong tam muội mà khéo nói khéo nghe.

Xưa nói Bồ tát đã có sự thưa thỉnh và đúng pháp oai nghi, thì ắt có sự xuất nhập, hoặc người dịch lược bớt.

Đây nói quá là khư khư giữ cái cũ, há chẳng nghe nói na già thường tại định, không có khi nào mà chẳng định, đâu riêng gì Phật thường tại định mà các bậc Bồ tát lại chẳng định ư? Bồ tát Bát địa hiện thần thông tam muội “lạc ý sanh thân” mà giáo hoá chúng sanh, há lại có xuất định ư? Nếu chấp ắt có sự  xuất định mà có nghe nhận thưa hỏi, thì chẳng khởi diệt định mà hiện các oai nghi, há chẳng phải là việc của các bậc Bồ tát ư? Nguyên nhân kia chính là như thế, người học cần phải rõ biết về việc này.

 

 

PHẦN CHÁNH TÔNG

II. CHƯƠNG VĂN THÙ SƯ LỢI:

1. Ngài Văn Thù hỏi Phật:

Khi ấy, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi ở trong đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu bên phải ba vòng, quì dài chắp tay cung kính mà bạch Phật rằng:

Các nhà kinh này trình bày về chỗ oai nghi thưa hỏi pháp yếu.

“Đại bi Thế Tôn! Nguyện Đức Thế Tôn vì các pháp chúng ở trong pháp hội này mà nói nhân địa pháp hạnh thanh tịnh bổn khởi của Đức Như Lai, và nói về Bồ tát ở trong Đại thừa phát tâm thanh tịnh làm sao mà xa lìa các bệnh hay khiến cho chúng sanh đời sau, người cầu Đại thừa chẳng đoạ lạc vào tà kiến”.

Ngay ở đoạn này là trình bày về những điều cần thưa hỏi.

Bồ tát Văn Thù nêu ra thưa hỏi nhằm có hai ý:

- Một là, nhân địa phát tâm của Đức Như Lai, y nơi pháp gì? Tu hành như thế nào mà được thành Phật?

- Hai là, thưa hỏi Bồ tát ở trong Đại thừa đã phát tâm thanh tịnh nguyện thành Phật đạo độ thoát chúng sanh. Chẳng biết dụng tâm tu hành như thế nào mà được cái thấy biết chơn chánh không đoạ lạc vào bệnh thiên tà (chấp đoạn và thường hay chấp có sanh tử và Niết bàn) nếu như được khai thị thì khiến cho chúng sanh đờisau phát tâm Đại thừa, y nơi những điều thưa hỏi ngày hôm nay mà tu thì chẳng đoạ lạc vào tà kiến.

Đây tuy là việc hiện tại thưa hỏi, thật ra phần nhiều là vì căn cơ cho đời sau, thật là tâm nguyện đại bi vậy.

Thưa lời đây rồi năm vóc gieo sát đất. Thưa thỉnh như vậy trước sau ba lần.

Đây là trình bày về sự thành khẩn cầu pháp.

2. Phật khen ngài Văn Thù:

Lúc bấy giờ Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát rằng: “Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Các ông mới vì hay chư Bồ tát mà thưa hỏi nhân địa pháp hạnh của Như lai, và tất cả chúng sanh đời sau cầu pháp Đại thừa được chánh trụ trì, khỏi rơi vào tà kiến. Ông hãy lắng nghe ta sẽ vì ông nói”.

Đoạn này là phần Như Lai tán thán khéo vì thưa hỏi, và thành khẩn lắng nghe hứa vì ông nói.

Văn dưới là phỏng theo đoạn này.

Khi ấy ngài Bồ tát Văn Thù Sư Lợi vui vẻ vâng dạy, và các đại chúng im lặng mà lắng nghe.

Đoạn này là nói về các vị Bồ tát vui mừng lắng lặng tâm thức, dừng các tư niệm mà lắng nghe Đức Như Lai tuyên thuyết giáo nghĩa.

Văn dưới là phỏng theo đây để trình bày về sự oai nghi thưa thỉnh giáo pháp của 12 bậc Đại sĩ, mỗi mỗi đều đồng văn này rất là chỉnh lý nên chẳng cần trùng tuyên và giải thích.

3. Phật trả lời cho ngài Văn Thù:

 Nầy thiện nam tử! Đấng Vô thượng Pháp vương

có pháp môn Đại đà la ni tên là Viên Giác lưu xuất tất cả thanh tịnh Chơn như, Bồ đề, Niết bàn và Ba la mật trao dạy cho các Bồ tát. Tất cả nhân địa bổn khởi của Như lai đều y nơi giác tướng thanh tịnh viên chiếu này mà vĩnh viễn đoạn trừ vô minh, chóng thành Phật đạo.

Đoạn này là chỉ thẳng nhân địa bổn khởi của Như Lai.

Nhân địa của Như Lai chỉ riêng bày một pháp Viên giác mà làm bản hạnh. Song gọi Viên giác này là pháp môn Đại đà la ni.

Tiếng Phạn gọi là “Đà la ni”. Trung Hoa gọi là “Tổng trì”. Nghĩa là gom tất cả pháp từ vô lượng nghĩa, vì Viên giác này là pháp môn Đại tổng tướng mười pháp giới. Thể tất cả thánh phàm y báo chánh báo, nhân quả mê ngộ đều nương nơi một tâm Viên giác này mà dựng lập. Vì không có một pháp nào mà chẳng đủ nên gọi là“Tổng”, cho đến một chút mảy may nhân quả chẳng mất, chẳng hoại nên gọi là “Trì”. Tất cả thánh phàm thảy đều thuận theo tánh Viên giác này nên gọi là “Môn”.

Nói “Lưu xuất” là do cái nghĩa này mà dựng lập. Song giác thể này là pháp thân của chư Phật, là tâm địa của bổn giác của chúng sanh, tuy nhiễm mà chẳng nhiễm nên gọi là “Thanh tịnh”. Từ xưa đến nay chẳng có luống dối, chẳng có biến đổi nên gọi là “Chơn như”. Chỉ vì vô minh che đậy nên chẳng tự hiện, chư Phật Như Lai ở trong nhân địa nương nơi chơn tâm bổn giác này mà phát minh trí thể giác vĩnh viễn đoạn dứt vô minh. Thể giác và bổn giác hiệp nhất nên gọi là “Cứu cánh giác”, vì đắc quả Bồ đề lại qui về nhất tâm tịch diệt nên gọi là “Viên tịch”, ấy gọi là “Niết bàn”. Phải biết quả đức của chư Phật đều nương nơi một tâm Viên giác này mà dựng lập nên gọi là “Lưu xuất”.

Song chẳng riêng gì Phật quả mà nhân địa Bồ tát, và các Ba la mật cũng đều từ đây mà ra nên gọi là “Và”, vì nhân địa của chư Phật là bổn hạnh của Bồ tát nên gọi là “Trao dạy”.

Thế nên, tất cả nhân địa bổn khởi của Như Lai chóng thành Phật quả, lại không có pháp khác đều nương nơi ánh sáng tự tánh Viên giác này, lại hay soi chiếu tướng thể giác tịch diệt thanh tịnh. Ấy là “Tánh thể”. Vì tánh Viên giác này đầy đủ soi thấu không có sai sót nên vĩnh viễn đoạn dứt vô minh viên chứng pháp thân. Chỉ một pháp này mà thôi, nên nói đều nương nơi giác tướng thanh tịnh viên chiếu này vĩnh viễn đoạn dứt vô minh chóng thành Phật đạo.

Song viên chiếu tức là một tâm trí của tam quán, giác tướng thanh tịnh tức là một tâm “Thể” của Tam đế.

Toàn bộ kinh chỉ có phát minh một câu này mà thôi.

Hỏi rằng: - Đây nói có pháp môn Đại đà la ni tên là “Viên Giác”, lưu xuất tất cả thanh tịnh, chơn như v..v.. Cùng kinh Thủ Lăng Nghiêm Phật nói có Tam ma đề tên là “Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Vương v..v..” lời nói hình dạng dường như đồng mà có nghĩa gì sai khác?

Đáp rằng: - Lời nói tuy dường như đồng mà nghĩa có sai khác chút ít? Vì kinh này (kinh Viên Giác) chỉ thẳng giác thể làm nhân tâm địa, kinh kia (kinh Thủ Lăng Nghiêm) dùng Thủ Lăng Nghiêm đại định làm phương tiện lúc sơ phát tâm tu hành chóng thành Phật quả. Đây thể (kinh Viên Giác), kia dụng (kinh Thủ Lăng Nghiêm) nên nói chẳng đồng.

Song chỗ đồng là kinh kia (kinh Thủ Lăng Nghiêm) trước lấy tâm bất sanh diệt làm gốc tu nhân, nương nơi Thủ Lăng Nghiêm đại định mà dựng lập. Song tâm bất sanh diệt tức là giác thể này, Thủ Lăng Nghêm đại định kia tức là giác tướng thanh tịnh viên chiếu này. Vì tánh viên chiếu này tức là đại định kia. Trong giác tướng này tức là tâm bất sanh diệt kia, nhiếp dụng về thể nên rốt ráo không có hai. Thế nên đều là cái gốc chóng thành Phật đạo.

Hỏi rằng: - Phật nói: “Có pháp môn Đại đà la ni tên là Viên Giác là nhân địa bổn khởi của Như Lai”.

Lại nói: “Thanh tịnh chơn như là Phật tánh chẳng mê của chúng sanh”.

Lại nói: “Đều nương nơi giác tướng thanh tịnh viên chiếu” thì vốn không có vô minh có thể đoạn, chợt nói vĩnh viễn đoạn dứt vô minh chóng thành Phật đạo, thì nghĩa này chẳng có tương ứng, dám hỏi về yếu chỉ này?

Đáp rằng: - Nghĩa này u thâm huyền diệu chẳng phải dùng thức tâm thô thiển mà có thể nghĩ bàn. Xin thử nói về tánh viên Viên giác ấy.

Vậy thì Viên giác diệu tâm chính là pháp thân của chư Phật và chúng sanh bình đẳng vốn không hai, do pháp thân lưu chuyển trong năm đường (địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, người và trời) nên gọi là chúng sanh. Song chơn như thanh tịnh chính là pháp thân của chư Phật, là Phật tánh của chúng sanh. Bởi do một niệm ban đầu bất giác vô minh vọng động mà mê cái pháp thân này, biến thành thân tâm năm ấm huyễn vọng; thì bổn hữu viên giác mà làm Phật tánh chẳng mê. Do phiền não chẳng có thể nhiễm nên gọi là “Thanh tịnh”. Xưa nay chẳng có luống dối, chẳng có biến đổi nên gọi là “Chơn như”.

Vì thế, một lời chơn như thanh tịnh là chỉ thẳng Phật tánh trong mê của chúng sanh, vì nhân địa của chư Phật đồng là chúng sanh, chỉ hay nương nơi Phật tánh bổn giác mà phát khởi trí thể giác đốn dứt vô minh, thể giác và bổn giác hiệp nhất nên gọi là “Bồ đề”.

Lại chứng nhập nhất tâm tịch diệt nên gọi là “Niết bàn” do đó quả đức của chư Phật Bồ đề và Niết bàn đều từ mê mà xoay về ngộ, trước tu mà sau được nên gọi là “Vĩnh viễn đốn dứt vô minh chóng thành Phật đạo”. Vậy thì trước tu sau đoạn đều nương nơi trí tuệ quang minh tự tánh Viên giác.

Lại hay soi thấu tâm thể tịch diệt thanh tịnh nên gọi là “Giác tướng thanh tịnh viên chiếu” do tự tánh quang minh một lúc soi thấu thì vô minh đốn phá nên gọi là “Vĩnh viễn đốn dứt”.

Đây thật là bí quyết thành Phật, là diệu môn đốn ngộ, đốn chứng, là pháp hạnh nhân địa của Như Lai.

Kinh này là chỉ thẳng yếu chỉ nhất tâm viên đốn, nên phần đầu ở đây nêu rõ làm tông chỉ thú hướng của một bộ kinh, lời nói và nghĩa lý thật là u thâm huyền diệu. Chẳng phải dùng thức tâm thô cạn có thể biện rõ nên riêng phát minh về điều này.

Thế nào là vô minh?   

Đây là chứng cứ giải thích về thể của vô minh, để hiển bày công dụng của Viên chiếu.

Chứng cứ dưới đây là giải thích.

 Nầy Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay, các thứ điên đảo ví như người mê bốn phương đổi chỗ, họ vọng nhận tứ đại làm tướng tự thân, bóng dáng duyên theo sáu trần làm tướng tự tâm. Giống như con mắt bệnh thấy hoa đốm trong hư không và mặt trăng thứ hai.

Đây là giải thích nguồn gốc của vô minh. Nghĩa là chúng sanh vốn có pháp thân, ban đầu không có sanh tử. Nay nhân một niệm ban đầu bất giác vô minh vọng động mê mất Phật tánh xưa nay, khởi động tham, sân, si  tạo ra vô số nghiệp vọng chấp sanh tử trong sáu đường (địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, trời, người, a tu la) nên nói có các thứ điên đảo. Tuy qua lại ở trong sanh tử mà pháp thân vẫn lặng yên bất đồng, nên dụ như người mê phương hướng mà phương hướng thật chẳng chuyển đổi. Do đó, người mê vì trái với pháp thân, chỉ nhận bốn đại huyễn thân giả hợp làm thân mình, vọng nhận bóng dáng duyên theo sáu trần, vọng khởi các tâm phan duyên làm chơn tâm. Thí như con mắt bệnh thấy hoa đốm trong hư không và mặt trăng thứ hai. Bệnh mắt dụ cho “Vô minh”. Hoa đốm trong hư không dụ cho “Vọng thân”. Mặt trăng thứ hai dụ cho “Vọng tâm”. Nhận “Vọng” thì mất “Chơn” nên nói là điên đảo.

4. Phật chỉ vô minh:

Nầy Thiện Nam tử! Hư không thực không có hoa mà người bệnh lầm chấp, do vọng chấp nên chẳng những lầm tự tánh của hư không mà cũng lầm luôn hoa ở trong hư không thật có chỗ sanh. Do vọng chấp này mà có luân hồi sanh tử cho nên gọi là “Vô minh”.

Đoạn này là nêu lên ví dụ để chỉ bày về thể của vô minh. Nghĩa là pháp thân vốn không có tướng thân tâm, như hư không vốn không có hoa đốm. Nay nhận bốn đại làm tự thân, như vọng chấp hoa đốm ở trong hư không là thật có. Không chỉ mê lầm gốc pháp thân, nên nói “Mê lầm tự tánh hư không này”; cũng lại chẳng biết vọng thân từ vô minh mà có ra nên nói: “Mê hoa đốm ở trong hư không thật có chỗ sanh”. Do các thứ điên đảo này mà có luân hồi trong sanh tử. Đây chính là thể của vô minh.

5. Phật dạy vô minh không có thật thể:

Thiện Nam tử! Vô minh nầy chẳng thật có thể cố định. Ví như người trong mộng, trong khi mộng thì chẳng phải không, đến khi tỉnh giấc rõ ràng không thật. Như các hoa diệt ở trong hư không, chẳng phải nói có chỗ diệt nhất định. Vì cớ sao? Vì không có chỗ sanh vậy. Tất cả chúng sanh ở trong vô sanh mà vọng thấy có sanh diệt cho nên gọi là luân hồi sanh tử.

 Đoạn này là giải thích vô minh thể nó vốn là không, vì rõ sanh tử xưa nay chẳng có thật thể, vì sanh tử chính là sự điên đảo ở trong mê, như việc ở trong mộng. Sau giác rõ biết là không, vì sanh vốn vô sanh nên diệt cũng không diệt. Ví như hoa đốm ở trong hư không, không có chỗ diệt nhất định.

6. Phật dạy tu theo Viên Giác:

Nầy Thiện nam tử! Người tu Viên Giác nhân địa của Như Lai biết được “không hoa” nầy là dứt luân chuyển. Cũng không có thân tâm thọ cái sanh tử kia, chẳng phải do làm nó không mà bản tánh nó là không vậy.

Đoạn này là khai thị diệu môn đốn ngộ để hiển bày công dụng của Viên chiếu chỉ là một chữ “Biết”. Nghĩa là nhân địa tu hành của chư Phật, chỉ dùng tự tánh quang minh viên giác viên chiếu cái thể tự tâm tịch diệt. Nếu một niệm liễu tri thân tâm thế giới thì rõ biết hoa đốm ở trong hư không xưa nay chẳng thật có, thì sanh tử ngay đó liền đốn dứt. Vì thân tâm vốn không nên không có người thọ cái sanh tử kia.

Đây chẳng phải do tạo tác mà sau không, vì tự tánh xưa nay của nó là không vậy.

Cái tri giác kia giống như hư không, biết cái hư không đó là tướng không hoa cũng không thể nói là không có tánh tri giác. Có không đều bỏ. Ấy gọi là tuỳ thuận tánh viên giác thanh tịnh.

Đoạn này là quét sạch dấu vết năng sở đối đãi, để hiển bày tánh viên chiếu bình đẳng rốt ráo tịch diệt một tâm trí tịnh giác.

Nói cái tri giác kia chính là yếu chỉ “Biết” của phần trên là “Biết hoa đốm ở trong hư không”. Nghĩa là viên chiếu chính là ánh sáng trí huệ của tự tánh bản hữu, là trí năng chiếu. Chữ “Là” chỉ cảnh sở chiếu tức là giác tướng thanh tịnh.

Như hư không là dụ cho giác thể sở chiếu. Nghĩa là pháp thân thanh tịnh giống như hư không. Nghĩa là giác thể nầy tuy là cái sẵn có mà bị vô minh che lấp, nên từ xưa đến nay bất giác. Nay nhờ trí Quang minh một lúc chiếu soi thì vô minh đốn phá bản thể ngay đó hiện tiền, thì muôn kiếp sanh tử ngay đó đốn dứt. Ấy là biết được “Không hoa” nầy là không còn bị luân chuyển.

Đây là riêng hiển bày trí huệ viên chiếu có công dụng.

Biết hư không là. Chữ “Là” nầy chính là chỉ về trí năng chiếu của phần trên. Ý nghĩa là ban đầu dùng trí chiếu chỗ mê lầm, mê lầm diệt thì trí cũng không còn. Song “Sở chiếu” đã lặng nếu còn trí “Năng chiếu”, vẫn còn là vô minh nên cần phải bỏ nó luôn, nên nói: “Biết hư không là” tức “Tướng không hoa”.

Đây thì năng sở cả hai đều quên tịch chiếu chẳng hai.

Đây chỉ có cái thể chiếu như trí đứng một mình, nên nói “Cũng không thể nói là không có tánh tri giác”, thẳng đến tâm cảnh cả hai đều quên năng sở đều dứt, nên nói có không đều bỏ. Như đây chính là hiệp nhất một tâm tịch diệt. Cho nên nói: “Ấy gọi là tịch giác tuỳ thuận”. Đây đảo văn nên nói: “Tuỳ thuận tánh tịnh giác”, tức phần trước nói tuỳ thuận chẳng hai.

7. Phật và Bồ tát đều tu theo Viên Giác:

Vì cớ sao? Vì tánh hư không là bất động, trong Như Lai tàng không có khởi diệt. Vì không có thấy biết như pháp giới tánh rốt ráo viên mãn khắp cả mười phương.

Đoạn này là giải thích rõ, về chỗ soi chiếu của tâm thể tịch diệt. Trọng tâm là hiển bày chơn tâm dứt bặt các đối đãi, để khai thị giác tướng thanh tịnh. Vì sao? Vì muốn quét sạch nhiều lớp năng sở, vì tâm thể tịch diệt xưa nay như tánh hư không thường trụ bất động. Đây là hiển bày “Không”.

Nay tuy có thân tâm sanh tử mà xưa nay như hoa đốm ở trong hư không, vì trong Như lai tàng không có khởi diệt, chẳng dung có thấy biết. Đây là hiển bày “Giả”.

Như “Xứng”. Nghĩa là xứng với pháp giới tánh rốt ráo viên mãn khắp cả mười phương. Đây là hiển bày “Trung”.

Đây thật là thật tế của diệu giác minh tâm, nhân địa của Như Lai chỉ đây mà thôi.

Bồ tát nhân đây ở trong pháp Đại thừa phát tâm thanh tịnh và các chúng sanh đời sau y đây tu hành chẳng lạc vào tà kiến.

Bồ tát phát tâm ngay cái nhân đây mà phát, thì gọi là cái nhân chơn chánh. Chúng sanh y đây mà tu hành thì gọi là chánh hạnh (cái hạnh chơn chánh) nên chẳng lạc vào tà kiến.

Đây là tóm kết về cái ý hỏi đáp.

Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Văn Thù thầy nên biết

Tất cả các Như lai

Từ nơi bổn nhơn địa

Đều dùng trí Viên giác

Rõ suốt gốc vô minh

Biết nó như không hoa

Liền được khỏi luân chuyển

Lại như người trong mộng

Tỉnh giấc không có gì

Biết đó như hư không

Bình đẳng không động chuyển

Biết khắp mười phương cõi

Liền được thành Phật đạo

Các huyễn diệt không nơi

Thành đạo cũng không được

Vì bản tánh tròn đầy

Bồ tát ở trong đây

Hay phát tâm Bồ đề

Các chúng sanh đời sau

Tu đây khỏi tà kiến.

 

 

 

 

 

III. CHƯƠNG PHỔ HIỀN:

1. Ngài Phổ Hiền hỏi Phật:

Lúc bấy giờ Bồ tát Phổ Hiền ở trong đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy đi nhiễu Phật ba vòng, quỳ gối chấp tay bạch với Phật rằng:

Đoạn này là nói về pháp oai nghi thỉnh pháp yếu.

Đấng Thế Tôn đại bi! Nguyện vì các Bồ tát trong hội nầy và tất cả chúng sanh đời sau tu về Đại thừa nghe nói cảnh giới thanh tịnh Viên giác nầy, làm sao tu hành, bạch Thế Tôn?

1. Nếu những chúng sanh kia biết các pháp như huyễn, thân tâm như huyễn, thì làm sao lấy huyễn lại tu huyễn?

2. Nếu các tánh huyễn đều tận diệt thì không có tâm; thì ai là tu hành? Tại sao lại nói tu hành như huyễn?

3. Nếu các chúng sanh vốn chẳng tu hành thì ở trong sanh tử, thường ở trong huyễn hoá mà chưa từng biết cảnh giới như huyễn, khiến cho tâm vọng tưởng làm sao mà được giải thoát?

Cúi xin Ngài vì tất cả chúng sanh đời sau tạo phương tiện gì thứ lớp tu tập, khiến các chúng sanh hằng lìa các huyễn.

Đoạn này là nói về Đại sĩ Phổ Hiền trước nghe Phật khai thị, theo dõi pháp thoại liền sanh tâm khởi nghi. Riêng trình bày thưa hỏi phương tiện tu hành.

Do trước Phật nói biết là hoa đốm ở trong hư không, liền không bị luân chuyển, cũng không có thân tâm thọ cái sanh tử kia. Đây chính là một niệm đốn ngộ ngay đó liền đốn dứt sanh tử, thì chẳng có giả lập tu hành lại không có phương tiện. Đây thì khác biệt rất nhiều, chẳng phải là người thượng thượng căn thì không có thể đốn ngộ. Như thế chúng sanh đời sau rất hiếm người thượng thượng căn, nếu chẳng giả lập tu hành ắt khó ngộ nhập, hoặc chẳng giả lập phương tiện thì chẳng có thể tiến tu. Cho nên phần đầu này là hỏi về phương pháp tu hành, để cầu pháp môn tu hành phương tiện thứ lớp.

Nếu nói biết là hoa đốm ở trong hư không, liền không bị luân chuyển. Song “Không hoa” tức là huyễn vọng, hoặc tuy có chúng sanh hay biết thân tâm như huyễn, nếu chỗ biết là huyễn thì thân tâm hay biết này cũng là huyễn, thì làm sao lấy huyễn lại tu huyễn? Đây là một điều nghi.

Nếu chỗ biết huyễn đó đã diệt thì cái hay biết huyễn đó cũng diệt. Như thế năng sở đều diệt thì không có tâm; thì ai là người tu hành? Tại sao lại nói tu hành như huyễn? Đây là hai điều nghi.

Nếu các chúng sanh vốn chẳng tu hành thì ở trong sanh tử, thường ở trong huyễn hoá mà chưa từng biết cảnh giới như huyễn, khiến cho tâm vọng tưởng làm sao mà được giải thoát? Đây là ba điều nghi.

 Nhân đây Đại sĩ Phổ Hiền thưa hỏi Như Lai, cúi xin Ngài nói về phương tiện tu hành. Hiện tại chúng sanh hằng lìa các huyễn. Cho nên phần dưới Thế Tôn đáp: vì tâm huyễn của chúng sanh lại y nơi huyễn mà diệt, chẳng ngại lấy huyễn mà tu huyễn. Đây là đáp điều nghi thứ nhất.

Các huyễn diệt hết mà cái giác tâm bất động, chẳng vào đoạn diệt. Đây là đáp điều nghi thứ hai.

Biết huyễn tức lìa, cũng không có phương tiện; lìa huyễn tức giác, cũng không có thứ lớp. Đây là đáp điều nghi thứ ba.

Song đều giải thích hết chương trước là ý đốn ngộ đốn tu.

Thưa lời đây rồi, năm vóc gieo sát đất, thưa thỉnh như vậy trước sau ba lần.

Đây là trình bày về sự thành khẩn cầu pháp.

2. Phật khen ngài Phổ Hiền:

Khi ấy Đức Thế Tôn bảo Bồ tát Phổ Hiền rằng: “Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Các ông mới hay vì chư Bồ tát và những chúng sanh đời sau tu tập tam muội như huyễn của Bồ tát, phương tiện thứ lớp khiến cho chúng sanh được lìa các huyễn. Ông hãy lắng nghe ta sẽ vì ông nói.

Đoạn này là phần Như Lai tán thán khéo vì thưa hỏi, và thành khẩn lắng nghe hứa vì ông nói.

Khi ấy Bồ tát Phổ Hiền vâng dạy hoan hỷ và các đại chúng yên lặng mà nghe.

Đoạn này là nói về các vị Bồ tát vui mừng lắng lặng tâm thức, dừng các tư niệm mà lắng nghe Đức Như Lai tuyên thuyết giáo nghĩa.

3. Phật trả lời cho ngài Phổ Hiền:

Nầy Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh, các thứ huyễn hoáđều sanh nơi Như Lai viên giác diệu tâm. Ví như hoa đốm trong hư không, từ hư không mà có. Hoa huyễn tuy diệtmà tánh hư không chẳng hoại. Tâm huyễn của chúng sanh lại y nơi huyễn mà diệt, các huyễn diệt hết mà cái giác tâm bất động.

Đoạn này Phật đáp các huyễn diệt hết mà chẳng vào đoạn diệt.

4. Phật dạy pháp tu để nhập Viên Giác:

Y nơi huyễn mà nói giác cũng là huyễn. Nếu nói có giác vẫn chưa có lìa huyễn. Nói không giác cũng lại như thế. Cho nên huyễn diệt gọi là bất động.

Đoạn này là Phật đáp dùng huyễn tu huyễn, vì ý trọn giải thích chẳng vào đoạn diệt. Nghĩa là dùng giác giác huyễn, giác cũng là huyễn nên nói “Y nơi huyễn mà nói giác” cũng gọi là huyễn. Nếu nói huyễn diệt mà giác còn, đây cũng là huyễn. Nếu nói có giác vẫn chưa có lìa huyễn, nếu lại khởi thấy, nói rằng huyễn diệt mà giác cũng không cũng lại là huyễn. Vì sao? Vì chưa thấu đạt đến chỗ bờ mé rốt ráo, phải cần thẳng đến có không đều bỏ, thể chiếu độc lập (đứng riêng một mình) nên nói huyễn diệt gọi là bất động. Vì các thứ huyễn hoá đều sanh nơi Như Lai viên giác diệu tâm, nên các huyễn diệt hết mà cái giác tâm bất động.

5. Phật dạy phương pháp ly huyễn:

Nầy Thiện nam tử! Tất cả Bồ tát và chúng sanh đời sau nên phải xa lìa tất cả cảnh giới huyễn hoá hư vọng. Do chấp chặt cái tâm xa lìa, tâm như huyễn ấy lại cũng phải xa lìa.

Đoạn này là khai thị phương tiện lìa huyễn.

Do đáp cái lý tính hằng lìa các huyễn để xả bỏ tâm lìa huyễn. Nghĩa là biết là huyễn mới khởi cái tâm hay biết. Các huyễn đã diệt, nếu chấp chặt có cái tâm hay biết. Tâm đây cũng như huyễn nên cũng lại xa lìa. Đây là bỏ lớp thứ nhất cái tâm hay biết.

Xa lìa là huyễn, ấy cũng lại xa lìa.

Đây là xả bỏ lớp thứ hai cái tâm xa lìa cũng lại xa lìa. Nghĩa là ban đầu dùng cái biết lìa huyễn, huyễn diệt thì bỏ cái tâm hay biết, nếu cái tâm hay biết đã dứt. Đây thì lìa cũng như huyễn, nên nói xa lìa là huyễn, ấy cũng lại xa lìa.

Lìa cái xa lìa huyễn cũng lại xa lìa.

Đây là bỏ lớp thứ ba phần trên xa lìa, xa lìa của cái xa lìa. Nghĩa là dứt hẳn cái xa lìa.

Được cái chỗ không xa lìa tức là trừ hết các huyễn.

Ví như dùi lửa hai thanh cây làm nhân cho nhau. Lửa cháy cây hết, khi đó tro khói đều bay mất. Dùng huyễn tu huyễn cũng lại như thế. Các huyễn diệt hết mà không vào đoạn diệt.

Đoạn này là nói xa lìa lại xa lìa, cho đến không còn xa lìa. Nên nói được cái chỗ không xa lìa tức là trừ hết các huyễn, tro khói đều bay mất là dụ cho xa lìa cái xa lìa. Chỉ còn đất là dụ cho không vào đoạn diệt. Đây là phần tổng kết ý hỏi đáp.

6. Phật dạy giác ngộ không có tuần tự. Rời huyễn chẳng cần phương tiện:

Nầy Thiện nam tử! Biết huyễn tức lìa, chẳng khởi phương tiện lìa huyễn tức giác, cũng không có thứ lớp.

Đoạn này là tóm kết chỉ bày pháp môn đốn ngộ đốn chứng để hiển bày yếu chỉ một tâm rốt ráo.

Hỏi rằng: - Phần trên đáp dùng huyễn tu huyễn, lại xa lìa cái xa lìa đều là ý phương tiện thứ lớp. Nay tóm kết chỉ bày nói chẳng khởi phương tiện, cũng không có thứ lớp. Há lời của Phật tự trái nhau ư?

Đáp rằng: - Nghĩa lý này thật u thâm huyền diệu (sâu kín), thật khó mà thể hội. Phần trên nói các thứ huyễn hoá đều sanh nơi Như Lai viên giác diệu tâm. Tuy nói quét sạch nhiều lớp, chỗ quét sạch tại sao là huyễn? Nghĩa là trong tâm diệu giác này phàm có một chút mảy may khởi tâm động niệm, chỗ thấy chưa quên thảy đều là huyễn. Nếu biết rốt cuộc đều là huyễn thì tất cả các huyễn tự xa lìa chỉ “biết” mà thôi.

Lại sao riêng khởi phương tiện? Nếu chỉ còn một tâm chấp, tức là chỗ thấy biết chưa quên, lại gọi là pháp chấp vi tế. Nếu thấu suốt tất cả đều là huyễn thì ngay đó liền tiêu trừ, toàn thể tự hiện. Nên nói: “Biết huyễn tức lìa, lìa huyễn tức giác”. Ví như hương tượng (voi hương, voi chúa) qua sông, một lúc liền bơi đến bờ. Nghĩa là “Chẳng khởi phương tiện, cũng không thứ lớp”.

Tất cả Bồ tát và chúng sanh đời sau y đây tu hành như thế mới hay lìa các huyễn.

Đoạn này là tóm kết về ý hỏi. Nghĩa là cần phải quét sạch nhiều lớp như thế mới có thể hằng lìa các huyễn.

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Phổ Hiền thầy nên biết

Tất cả các chúng sanh

Huyễn vô minh vô thể

Đều từ tâm Viên giác

Như Lai mà dựng lập

Dụ như hoa hư không

Nơi không mà có tướng

Hoa không biết diệt rồi

Hư không vốn bất động

Huyễn từ Viên giác sanh

Huyễn hết giác viên mãn

Vì giác tâm bất động

Nếu chư Bồ tát kia

Và chúng sanh đời sau

Phải thường xa lìa huyễn

Các huyễn thảy đều lìa

Như trong cây sanh lửa

Cây hết lửa lại diệt.

Giác thì không tiệm thứ

Phương tiện cũng như thế.

 

Văn trường hàng chỉ nói nhiều thứ huyễn hoá đều sanh nơi Như Lai viên giác diệu tâm. Chẳng biết cái gì là huyễn hoá. Nên trong phần tụng chỉ thêm hai chữ vô minh. Nghĩa là các thứ huyễn hoá đều là vô minh.

 

 

IV. CHƯƠNG PHỔ NHÃN:

1. Ngài Phổ Nhãn hỏi Phật:

Lúc bấy giờ Bồ tát Phổ Nhãn ở trong đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu bên phải Phật ba vòng, quỳ gối chấp tay mà bạch Phật rằng:

Đoạn này là nói về pháp oai nghi thỉnh hỏi pháp yếu.

Đấng Thế Tôn đại bi! Cúi xin vì chúng Bồ tát trong hội nầy và tất cả chúng sanh đời sau, diễn nói thứ lớp tu hành của Bồ tát; làm sao tư duy? Làm sao trụ trì? Chúng sanh chưa ngộ làm những phương tiện gì khiến cho họ được khai ngộ?

Đoạn này là nói về bồ tát Phổ Nhãn thưa hỏi về pháp môn tu hành có thứ lớp.

Để giải thích về nghĩa giác tướng thanh tịnh Viên chiếu, vì phần trước, chương ngài Văn Thù, chỉ thẳng rằng: “Biết là hoa đốm trong hư không, liền không bị luân chuyển, cũng không có thân tâm thọ cái sanh tử kia”.

Chương ngài Phổ Hiền lại nói: “Biết huyễn tức lìa, chẳng khởi phương tiện, lìa huyễn tức giác, cũng không có thứ lớp”. Đây chính là đốn ngộ một tâm ngay đó liền đốn chứng. Chẳng trải qua lộ trình, chẳng giả lập phương tiện tu hành. Chỉ một chữ “Biết” mà thôi.

Đây là bậc thượng thượng căn mới có thể liễu ngộ, như chúng sanh đời sau, hiếm có bậc thượng thượng căn. Phần nhiều là bậc trung, bậc hạ, nếu chẳng tu hành, thì mãi ở trong vòng sanh tử, nếu tu hành mà không có chánh phương tiện, thì không có cửa có thể vào. Nếu không có thứ lớp, cũng khó mà đốn ngộ nên hỏi “Tư duy” chính là tâm ban đầu dùng chỉ quán để hạ thủ công phu.

“Trụ trì” chính là pháp an tâm. Đó đều là phương tiện khai ngộ.

Bạch Thế Tôn! Nếu chúng sanh kia không có phương tiện chân chánh và tư duy chơn chánh, nghe Phật Như Lai nói tam muội nầy tâm sanh mê muội, đối với tánh Viên giác chẳng thể ngộ nhập được. Cúi xin Đức Phật khởi lòng từ bi vì bọn chúng con và các chúng sanh đời sau giả nói phương tiện.

Đây là lời thưa thỉnh trọng yếu cần phải phương tiện tư duy. Vì tâm ban đầu ắt phải giả lập chánh phương tiện mới có thể vào cửa, sau đó mới có thể chánh tư duy. Hơn nữa vì phương tiện là điều cấp thiết, nên tóm kết thỉnh hỏi về phương tiện.

Giả thuyết là “Ở trong không phương tiện mà tạm nói phương tiện” nên gọi là “Giả thuyết”.

Trước y theo thứ tự, sau là văn đáp. Trước y nơi hạnh “Xa ma tha” giữ gìn các giới cấm, yên ở trong đồ chúng và ngồi yên lặng trong thất, mới là chánh phương tiện. Hằng khởi nghĩ thế nầy, chỉ quán song tu mới là chánh tư duy. Chẳng phải huyễn mà bất diệt mới an trụ tướng cấu hằng xa lìa mười phương thanh tịnh, mới là khai ngộ.

Thưa lời đây rồi, năm vóc gieo xuống đất. Thưa thỉnh như vậy trước sau ba lần.

Đây là trình bày về sự thành khẩn cầu pháp.

2. Phật khen ngài Phổ Nhãn:

Khi ấy Đức Thế Tôn bảo ngài Bồ tát Phổ Nhãn rằng: “Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! các ông mới hay vì các Bồ tát và chúng sanh đời sau hỏi Như Lai các thứ lớp tu hành, suy nghĩ, trụ trì, cho đến giả nói các thứ phương tiện. Nay ông lắng nghe, ta sẽ vì ông nói.

Đoạn này là phần Như Lai tán thán khéo vì thưa hỏi, và thành khẩn lắng nghe hứa vì ông nói.

Khi ấy Bồ tát Phổ Nhãn vui vẻ vâng dạy và các đại chúng yên lặng lắng nghe.

Đoạn này là nói các vị Bồ tát vui mừng lắng lặng tâm thức, dừng các tư niệm mà lắng nghe Đức Như Lai tuyên thuyết giáo nghĩa.

3. Phật dạy phương pháp tu:

Thiện nam tử! Những Bồ tát mới học kia và những chúng sanh đời sau muốn cầu được cái tâm viên giác thanh tịnh Như Lai nên chánh niệm xa lìa các huyễn.

Đoạn này là tóm kết ý hỏi đáp, Bồ tát Phổ Nhãn tuy hỏi về phương tiện thứ lớp tu hành tư duy, trụ trì v..v  song chủ ý riêng hỏi ban đầu về phương tiện lìa huyễn, nên Phật đáp để tu hành muốn mau chóng, chỉ là lấy chánh niệm làm ban đầu hạ thủ công phu, nên bảo rằng: “Nên phải chánh niệm” song “chánh niệm” là “vô niệm”, nên phàm khởi tâm động niệm trong thể viên giác đều là huyễn hoá. Ý là ở một niệm chẳng sanh thì các huyễn tự diệt. Cho nên nói “xa lìa các huyễn”.

Do trước có nói các thứ huyễn hoá đều sanh trong Viên giác diệu tâm của Như Lai, nên phải lìa niệm mới được tương ứng. Luận nói: “Lìa cảnh giới của niệm, duy chứng tương ưng”. Đây là dùng làm phương tiện ban đầu vậy.

Trước y nơi hạnh Xa ma tha của Như Lai, giữ gìn các giới cấm yên ở trong đồ chúng và ngồi yên lặng trong thất.

Đoạn này là khai thị phương tiện lìa niệm.

Tiếng Phạn gọi là “Xa ma tha”, tiếng Trung Hoa gọi là “Chỉ”. Song điều kiện tu hành cần phải dùng “Chỉ” làm phương tiện ban đầu, vì chúng sanh nhầm nhận cái tâm phan duyên vọng tưởng, niệm niệm sanh diệt không có lúc nào mà dừng nghỉ. Nay muốn một sớm lìa niệm há có thể được ư? Nên trước tu hành phải dùng “Chỉ”, để làm phương tiện ban đầu hạ thủ công phu, làm phương tiện vào cửa thiền.

Xét về Tông Thiên Thai, “Chỉ” có ba loại:

- Một là “Thể chơn chỉ”.

- Hai là “ Phương tiện chỉ”.

- Ba là “Tức nhị biên phân biệt chỉ”.

Dùng ba chỉ này làm dẫn đường. Sau đó mới có thể vào tạm quán “ Không - Giả - Trung”.

Nay “Chỉ” của kinh này chính là “Thể Chơn Chỉ”. Nếu tu “Chỉ” này trước phải đem thân tâm trong ngoài một lúc buông xả, buông xả lại buông xả, buông đến chỗ không có thể buông, thì các vọng tưởng tiêu trừ, trong ngoài rỗng không, tức cái chỗ không này liền hay thể hội chơn tâm, vọng tưởng chẳng sanh thì tư niệm tự lìa, cho nên dùng “Chỉ” làm chánh niệm, nếu chánh niệm luôn hiện tiền, thì các vọng tưởng đốn dứt, nên nói “xa lìa các huyễn”. Đây là điều thiết yếu để vào cửa thiền.

Người học nên biết kiên trì cấm giới. Đây chính là ba thứ lớp trong kinh Lăng Nghiêm, trước phải trì giữ bốn tội trọng (sát, đạo, dâm, vọng) trắng như nước sương nên gọi là “kiên trì”.

 “Ngồi yên lặng trong thất” nghĩa là: vì người tu thường hướng ở trong cảnh loạn động, nếu không ngồi yên lặng thì chẳng có thể nhiếp tâm, để mà chứng đến chỗ này. Đã chẳng phải là hành động tạo tác, thì riêng tu Thể Chơn Chỉ.

Song muốn an xử đồ chúng chẳng phải cần thiết nhiều người chỉ nhận lấy người đồng kiến đồng hành, làm chỗ nương tựa quyết định khiến cho công phu dễ thành tựu.

4. Phật dạy quán thân này như huyễn:

Hằng khởi nghĩ thế nầy: Thân nầy của ta bốn đại hoà hợp. Nghĩa là: tóc, răng, lông, móng, da, thịt, gân, xương, tủy, não, bụi đất, dơ bẩn đều thuộc về đất; nước miếng, nước mũi, nước mắt, máu, mủ, đàm, tinh khí và đại tiểu tiện thuộc về nước; hơi ấm thuộc về lửa; chuyển động thuộc về gió. Nếu bốn đại mỗi cái lìa nhau thì hỏi vọng thân nầy chính nó ở chỗ nào? Liền biết thân nầy rốt ráo là không có tự thể, do hoà hợp làm tướng, thật đồng với huyễn hoá. Do bốn duyên giả hợp vọng có sáu căn.

Đoạn này là chỉ bày phương tiện nhập quán. Để trả lời cho phần hỏi về thứ lớp tư duy. Trước là chỉ bày giả quán.

Nay ngài Phổ Nhãn hỏi thứ lớp phương tiện tư duy, vốn là vì chương ngài Văn Thù nói: “Vọng nhận bốn đại làm tướng của tự thân, bóng dáng duyên theo sáu trần làm tướng của tự tâm”. Hơn nữa nói: “Biết hoa đốm ở trong hư không, tức không còn bị luân chuyển”. Lại nói: “Biết huyễn tức lìa, chẳng khởi phương tiện”.

Đây chính là đốn ngộ, đốn chứng, thứ là sợ người trung căn, hạ căn chẳng có thể đốn nhập, nên có lời thưa hỏi nầy.

Đức Thế Tôn trước là chỉ bày tu Chỉ, là phần trước phương tiện. Nay chỉ bày nhập Quán chính là trả lời cho phần hỏi tư duy.

Trước là chỉ bày phương tiện Giả quán, ban đầu dạy quán thân, thứ đến là phân tích. Sau đó mới quán tâm. Đây là chỉ bày phương tiện thứ lớp; song Quán cũng có ba. Nghĩa là “Không - Giả - Trung”. Nay nương nơi kinh Lăng Nghiêm “Như huyễn Tam ma đề”, chính là chỉ bày trước là từ “Giả nhập Không”. Kế là từ “Không giả nhập Trung” chính là hiển bày thứ lớp tu tâm. Đây là trước quán thân như huyễn nên gọi là Giả quán, tam quán tròn đủ một tâm.

Tổng kết và giải thích về phần trước là “Biết huyễn tức lìa” chỉ là một chữ “Biết”.

Sáu căn bốn đại trong ngoài hợp thành. Vọng có duyên khí (là duyên theo hơi hám), trong đó nó tích tụ dường như có tướng duyên giả gọi là tâm.

Đoạn này là chỉ bày phương tiện quán tâm. Sáu căn là bên trong, bốn đại là bên ngoài, chỗ tạo ra sáu trần, vì căn trần hoà hợp bên trong thức sanh nên nói là hợp thành.

Vọng có là phần dưới chỉ bày tâm giả duyên. Nghĩa là tâm hiện tiền chính là vọng tưởng, chẳng phải chơn tâm. Vì sao biết nó? Là vì sáu thức phan duyên với lạc tạ ảnh tử của năm trần trước. Do duyên khí tích tụ dường như có giả tướng, chính là vọng tưởng ảnh tử giả danh gọi là tâm. Vì chúng sanh hàng ngày chỉ nhận giả ảnh nầy làm tâm. Nay quán tâm nầy lìa trần không có thể, nếu chẳng nhận giả làm chơn, thì vọng tưởng tự tiêu trừ, tức là chỗ vọng tưởng tiêu, chẳng cầu chơn mà chơn tự đến nên nói:

5. Phật dạy quán tâm như huyễn:

Nầy Thiện nam tử! Cái tâm hư vọng nầy nếu không có sáu trần thì không thế có, bốn đại mà chia lìa thì không trần có thể được. Ở trong trần duyên mỗi cái trở về chỗ tan mất rốt ráo không có cái tâm duyên có thể thấy.

Đoạn nầy là chỉ bày thành công của sự giả quán.

Phần trước nói vọng nhận bóng dáng duyên theo sáu trần làm tướng của tự tâm. Nếu chỉ biết huyễn tức lìa, thì chẳng có thể đốn lìa. Nên Phật dạy trước phải quán thân nầy bốn đại là giả danh mỗi cái trở về chỗ tan mất, căn bên trong đã không, thì ngoài cũng không trần có thể đối, căn trần đã diệt, thì duyên tâm cũng diệt. Tâm nầy cũng là giả danh.

6. Phật dạy huyễn hết thì chơn hiện, như bụi sạch thì gương sáng.

Nầy Thiện nam tử! Các chúng sanh kia vì huyễn thân diệt cho nên huyễn tâm cũng diệt. Vì huyễn tâm diệt cho nên huyễn trần cũng diệt. Vì huyễn trần diệt cho nên cái huyễn diệt cũng diệt. Vì cái huyễn diệt diệt cho nên cái phi huyễn không diệt. Ví như lau gương, khi bụi nhơ hết thì ánh sáng hiện.

Đoạn này là chỉ bày từ Giả quán nhập Không quán. Nghĩa là do quán chiếu ba thứ căn - trần - thức, đều đã tiêu diệt. Song sở quán đã không, thì năng quán cũng dứt, nên nói huyễn diệt cũng diệt. Vì phần trước nói: “Biết hư không” đã biết tướng hoa đốm ở hư không, nên quán chiếu cũng chẳng lập. Đây thì năng sở cả hai đều dứt đối đãi đều trừ, chỉ còn một chơn tâm tròn sáng thanh tịnh, nên nói: “Phi huyễn bất diệt”, giác tâm bất động, thanh tịnh chính là tên khác của hư không nên nói: “Không quán”. Kính dụ cho cái hay biết.

Nầy Thiện Nam tử! Nên biết thân tâm đều là huyễn nhơ, tướng nhơ hằng diệt thì mười phương được thanh tịnh.

Đoạn này là từ Không giả để nhập Trung đạo. Ban đầu nói: “Đều y nơi giác tướng thanh tịnh Viên chiếu”, chỉ là một tâm nên nói Trung đạo.

7. Dùng Ngọc ma ni dụ tánh Viên Giác:

Nầy Thiện Nam tử! Thí như hạt bảo châu ma ni trong trẻo, ánh ra năm sắc mỗi nơi nó hiện màu sắc khác nhau. Người ngu si thấy hạt châu ma ni có năm sắc thật. Nầy Thiện nam tử! Tánh thanh tịnh Viên giác hiện nơi thân tâm nầy tuỳ theo loại mà ứng hiện, kẻ ngu si kia nói tánh Viên giác thanh tịnh thật có thân tâm tự tướng như thế. Cũng lại như vậy, do đây không xa lìa các thứ huyễn hoá cho nên Ta nói thân tâm huyễn cấu. Người lìa cấu huyễn gọi là Bồ tát. Cấu hết thì cái đối trị cấu cũng dẹp, tức không có đối cấu và cái tên đối cấu.

Đoạn này là hiển bày chơn tâm dứt tuyệt các đối đãi, để khai thị thể của giác tướng thanh tịnh viên chiếu.

Ma ni châu dụ cho giác tâm thanh tịnh Viên chiếu.

Tùy mỗi nơi hiện ra năm sắc dụ cho thân tâm ngũ uẩn.

Theo lối xưa giải thích là dụ cho năm đường.

Đây chỉ cho đại giác, vì kinh nói: “Tự tướng thân tâm” chính là chỉ cho năm uẩn, mà tuỳ mỗi loài mà nói, ý là bao gồm năm đường. Song nghĩa chánh là chỉ cho năm đường chúng sanh. Nói chung là thân tâm ngũ uẩn. Nghĩa là Viên giác diệu tâm, vốn không có năm uẩn, bởi do nghiệp huyễn vô minh mà tạo tác, tất cả đều từ Viên giác diệu tâm mà hiển hiện, nên như Ma ni châu tuỳ mỗi nơi hiện ra năm sắc, chúng sanh chẳng rõ chơn tâm chỉ nhận huyễn tướng năm uẩn. Cho nên dụ như người ngu chấp thể châu thật có năm sắc, vì lầm nhận ngũ ấm là ngã, nên lấp mất cái thể chơn thật, nên gọi là huyễn cấu.

Nay dùng trí huệ chiếu phá năm uẩn đều không, nên gọi là Bồ tát, do đối đãi chưa quên nên vẫn còn là vô minh, nên chơn thể chưa hiển hiện, nếu đối đãi một lúc đều quên, năng sở cả hai đều dứt. Đây chính là hiển bày chơn tâm tuyệt các đối đãi.

8. Vì có kẻ lìa huyễn và người chưa lìa được. Nên phân có Thánh và Phàm:

Nầy Thiện nam tử! Bồ tát nầy và chúng sanh đời sau vì chứng được cảnh tượng huyễn diệt, khi ấy liền được vô phương thanh tịnh, tánh giác rộng lớn như hư không hiển phát, vì tánh giác tròn sáng nên hiển tâm thanh tịnh.

Đoạn này chánh là hiển bày tướng của viên chiếu. Nghĩa là thể của diệu tâm viên giác nầy, vốn tự kỳ diệu rõ ràng bao la thông suốt, vốn tự rộng lớn rỗng suốt tịch lặng ấy gọi là  “Chơn không”.

Song ban đầu nhân một niệm bất giác vô minh vọng động mà che mất đi cái diệu giác sáng suốt, bèn biến thể của chơn không làm thành mười phương ngoan không.

Nay vô minh đã phá, thì mười phương hư không thảy đều tiêu mất, nên quán mười phương hư không đều từ giác tâm hiển phát. Song hư không đã tiêu thì thể diệu tâm hiển lộ. Cho nên nói hiển tâm thanh tịnh, một tâm nầy thanh tịnh, thì mười pháp giới đều thanh tịnh, nên văn dưới đã rõ ràng, cảnh giới thân tâm Thánh phàm mỗi mỗi đều thanh tịnh. Tức phần trước nói “Giác tướng thanh tịnh” song thanh tịnh chính là tên khác của hư không.

Phần dưới từ đây đã xong, đến bình đẳng bất động, thảy đều chỉ bày về nghĩa không quán.

9. Viên Giác hiện thì các pháp đều thanh tịnh:

Vì tâm thanh tịnh nên thấy được các trần thanh tịnh. Vì cái thấy thanh tịnh nên nhãn căn thanh tịnh. Vì nhãn căn thanh tịnh nên nhãn thức thanh tịnh. Vì nhãn thức thanh tịnh nên văn trần được thanh tịnh. Vì văn trần thanh tịnh cho nên nhĩ căn thanh tịnh. Vì nhĩ căn thanh tịnh cho nên nhĩ thức thanh tịnh. Vì nhĩ thức thanh tịnh cho nên giác trần thanh tịnh. Cho đến tỷ, thiệt, thân, ý cũng lại như thế.

Đoạn này là hiển bày tướng của Diệu giác tâm thể viên chiếu để khai thị thể không.

Cái thấy trần nầy riêng là chỉ về vô minh vọng kiến. Chính là kiến phần của bát thức, soi ra khắp sáu cửa. Cái thấy nầy tức là trần, chẳng phải sắc trần. Nghĩa là tâm cảnh mê ngộ của mười pháp giới đều y nơi vọng kiến mà có. Nay vô minh một lúc phá trừ, diệu giác tròn sáng, tâm cảnh cả hai đều quên, năng sở đều đoạn, cái thấy nầy cũng dứt. Nên mười pháp giới đều rỗng rang thanh tịnh, do thanh tịnh nên mỗi mỗi đều khớp, chỉ một pháp giới diệu minh viên chiếu. Nên văn dưới mỗi mỗi nói rõ tâm cảnh Lục phàm tứ thánh mỗi mỗi đều thanh tịnh khắp cả.

Căn cứ vào lý tức là một tâm viên chiếu, bóng dáng Thánh phàm đều dứt tuyệt, chỉ khai thị bằng ngộ, nên văn dưới thứ lớp mỗi mỗi nói rõ, do hiển bày diệu giác viên minh đều khắp. Hơn nữa phần trước chỉ bày lục phàm đều thanh tịnh.

Nầy Thiện nam tử! Vì căn thanh tịnh nên sắc trần thanh tịnh. Vì sắc trần thanh tịnh nên thanh trần thanh tịnh; hương; vị; xúc; pháp cũng lại như thế.

Đoạn này chính là nói sáu trần thanh tịnh. Vì đây nói sáu trần nên biết phần trước thấy trần chẳng phải là lục trần. Đây vốn là chỉ vọng kiến tức là trần vậy.

Nầy Thiện nam tử! Vì sáu trần thanh tịnh nên Địa đại thanh tịnh. Vì Địa đại thanh tịnh nên Thuỷ đại thanh tịnh; Hoả đại; Phong đại cũng lại như thế.

Đoạn này là nói bốn đại đều thanh tịnh.

Nầy Thiện nam tử! Vì bốn đại thanh tịnh nên Thập nhị xứ, Thập bát giới và hai mươi lăm cõi cũng đều thanh tịnh.

Đoạn này đều nêu bày tâm cảnh Lục phàm tất cả thanh tịnh. Căn - Trần - Thức - Giới chính là căn cảnh phàm phu, hai mươi lăm cõi chính là Tam giới. Vì chúng sanh là nơi của y báo, nói chung thì thân tâm thế giới tất cả thảy đều thanh tịnh.

Đây chính là chỗ nói cùng kinh Pháp Hoa đồng nghĩa sáu căn thanh tịnh. Kinh kia (kinh Pháp Hoa) chỉ nói pháp sư trì kinh chính là quán hạnh vị, vào tức được sáu căn thanh tịnh. Đây nói (kinh Viên Giác) đốn ngộ chỉ là tâm, thì Phàm Thánh đều dứt, nên làm rõ xuất thế Tứ thánh tất cả thanh tịnh.

Phần trên nói Lục phàm

Phần dưới nói Tứ thánh.

Vì những cái kia thanh tịnh cho nên Thập lực, Tứ vô sở úy, Tứ vô ngại trí, Thập bát bất cộng pháp và Ba mươi bảy phẩm trợ đạo đều thanh tịnh. Như thế cho đến tám muôn bốn ngàn môn Đà la ni tất cả đều thanh tịnh.

Đoạn này là nói rõ cảnh giới xuất thế Tứ thánh thảy đều thanh tịnh.

Nầy thiện nam tử! Vì tất cả thực tướng tánh nó đều thanh tịnh cho nên một thân thanh tịnh. Vì một thân thanh tịnh nên nhiều thân thanh tịnh. Vì nhiều thân thanh tịnh như thế cho đến mười phương chúng sanh cái viên giác cũng được thanh tịnh.

Đoạn này hiển bày căn thân thế giới tròn đầy thanh tịnh. Đây là trước nêu lên một thân chánh báo cùng với nhiều thân, phàm phu chúng sanh thảy đều thanh tịnh. Song mười phương chúng sanh cái viên giác thanh tịnh, thì chúng sanh đều “Như”.

Nầy Thiện nam tử! Vì một thế giới thanh tịnh cho nên nhiều thế giới thanh tịnh. Vì nhiều thế giới thanh tịnh như thế cho đến tột cùng hư không trùm khắp cả Tam giới tất cả đều bình đẳng thanh tịnh bất động.

Đoạn này là so sánh cảnh tượng y báo thế giới thanh tịnh. Như thế thì chúng sanh không giới, Thánh phàm đều dứt, chỉ một bảo giác tròn sáng thanh tịnh.

Kinh Lăng Nghiêm nói: “Ta lấy bất sanh bất diệt hợp Như Lai tạng, mà Như Lai tạng chẳng phải pháp thế gian, chẳng phải pháp xuất thế gian, mà tất cả đều Như Lai tạng. Nên văn dưới mỗi mỗi đều nói “Bất động”.

10. Vì thấy hiện tượng các pháp bình đẳng nên biết bản thể Viên giác bình đẳng:    

Nầy Thiện nam tử! Hư không bình đẳng bất động như thế, nên biết tánh giác bình đẳng bất động. Vì bốn đại bất động, nên biết tánh giác bình đẳng bất động. Như thế cho đến tám muôn bốn ngàn môn Đà la ni bình đẳng bất động, nên biết tánh giác bình đẳng bất động.

Do hư không thế giới chúng sanh nhân mê tánh giác mà có. Nay tất cả pháp đều hiệp với bình đẳng viên giác, thì bình đẳng lặng lẽ không hai. Nên nói “bất động”.

Đoạn này chỉ là hiển bày dứt tất cả pháp, nên nghĩa không quán đều do nhiếp sự về lý, lý khắp thì sự cũng khắp, nên văn dưới nói  “Mỗi mỗi đều khắp cả”.

11. Bản thể khắp cả mười phương nên hiện khắp cả mười phương:

Nầy Thiện nam tử! Tánh giác đều khắp cả pháp giới, thanh tịnh, bất động, tròn đầy không ngằn mé, nên biết sáu căn cũng trùm khắp pháp giới. Vì sáu trần đầy khắp pháp giới nên biết bốn đại cũng đầy khắp pháp giới. Như thế cho đến những môn Đà la ni cũng đầy khắp pháp giới.

Đoạn này là nói rõ mười pháp giới, để hiển bày sự theo lý mà khắp nên cửa pháp giới lý sự không ngại nhau. Đây là chỉ bày nghĩa Giả quán.

Nầy Thiện nam tử! Do cái tánh diệu giác kia nó đầy khắp cả pháp giới nên căn tánh, trần tánh, không hoại, không tạp, như thế cho đến môn Đà la ni cũng không hoại, không tạp, như trăm ngàn ngọn đèn ánh sáng chiếu soi trong một căn phòng mà không hoại, không tạp.

Đoạn này là nói rõ mười pháp giới, để hiển bày sự

sự vô ngại, pháp giới hiện tượng bao hàm đầy khắp, nên lập thành nghĩa của nhất tâm Trung đạo.

Đây là bày rõ tướng của nhất tâm pháp giới, không có hỗn tạp mỗi mỗi chẳng có tướng hoại, nên thành cái nghĩa “Viên giác phổ chiếu”.

12.Vì chứng đuợc Viên Giác, nên thấy các pháp bình đẳng:

Nầy Thiện nam tử! Vì các tánh giác thành tựu nên biết Bồ tát không bị pháp trói buộc, chẳng cầu pháp giải thoát, chẳng chán sanh tử, chẳng ưa Niết bàn, chẳng kính người trì giới, chẳng ghét người phá giới, chẳng trọng người tu lâu, chẳng khinh người mới học. Vì cớ sao? Vì tất cả là giác, ví như con mắt sáng soi thấy những cảnh trước thì ánh sáng được tròn đầy, được không có yêu ghét. Vì cớ sao? Vì thể sáng nó không hai, do không yêu không ghét vậy.

Đoạn này là chỉ bày nhất tâm tịch diệt bình đẳng bất nhị (chẳng có hai tướng), chính là hiển bày giác tướng thanh tịnh. Vì pháp trói buộc, pháp giải thoát, pháp yêu, pháp ghét v.v.. đều là hai tướng. Nay dùng Viên chiếu thì tất cả đều giác, cho nên không có hai tướng.

Con mắt sáng chính là Bát thức hiện lượng viên chiếu, các căn ở mắt cùng hiển bày, nên lấy ví dụ thể của Viên giác phổ chiếu vốn không có hai.

Nầy Thiện nam tử! Bồ tát nầy và chúng sanh đời sau tu tập tâm nầy được thành tựu. Nơi đây không tu cũng không thành tựu. Tánh Viên giác chiếu khắp lặng lẽ không hai. Ở trong đó trăm ngàn muôn ức a tăng kỳ chẳng thể nói hằng hà sa thế giới chư Phật. Ví như hoa đốm sanh diệt rối loạn trong hư không, chẳng tức chẳng lìa, không trói không mở. Mới biết chúng sanh xưa kia thành Phật, sanh tử Niết bàn ví như gic mộng đêm qua.

Đoạn trên đây là điểm trọng yếu giải thích về tướng của Viên giác chiếu khắp lặng lẽ không hai, để hiển bày cái chỗ chứng cùng tột rốt ráo của nhất tâm, vì trong Như Lai tàng vốn không có tướng của sanh tử đến và đi.

Song sanh tử và Niết bàn đều là việc trong mộng vô minh điên đảo. Nay vô minh và mộng tưởng phá trừ, nhìn kĩ lại những việc cũ, khác gì như giấc mộng đêm qua.

13.Các pháp bình đẳng:       

Nầy Thiện nam tử! Ví như giấc mộng đêm qua nên biết sanh tử cùng với Niết bàn không khởi không diệt, không đến không đi. Chỗ chứng ấy không đuợc, không mất, không thủ không xả. Người hay chứng đó không tác, không chỉ, không nhậm, không diệt. Ở trong cái chứng ấy không năng, không sở, rốt ráo không chứng cũng không có người chứng. Tất cả pháp tánh bình đẳng không hoại.

Điểm trọng yếu của đoạn này là chỉ bày nhất tâm tịch diệt, cứu kính thể vốn không hai. Phần trước có nói: “Trong tánh Viên giác lưu xuất tất cả thanh tịnh chơn như Bồ đề Niết bàn và các Ba la mật”. Nghĩa là: “Mê tâm chơn như thanh tịnh mà biến thành chúng sanh năm ấm sanh tử”.

Bồ đề Niết bàn chính là: “Quả sở chứng”, các Ba la mật là “Hạnh sở chứng”. Vì trong Như Lai tàng vốn không có mê ngộ sanh tử đến đi, sanh tử và Niết bàn đều như giấc mộng đêm qua, đã như giấc mộng đêm qua, há lại có những việc tu chứng được mất, lấy bỏ….Đã không có tu chứng thì không có năng sở, tất cả những ảnh tượng rốt ráo đều lặng lẽ. Như đây pháp pháp đều chơn thường trụ chẳng hoại. Đây là chỗ cực tắc (chỗ cứu kính rốt ráo) của Giác tướng Viên chiếu pháp giới thanh tịnh.

Thông lệ chương đầu giải thích đều lấy nghĩa Giác tướng thanh tịnh Viên chiếu.

Nầy Thiện nam tử! Những Bồ tát kia tu hành như thế, thứ lớp như thế, suy nghĩ như thế, trụ trì như thế, phương tiện như thế, khai ngộ như thế, cầu pháp như thế cũng không có muội.

Đoạn này là tóm kết lời hỏi đáp yếu chỉ chánh hạnh, nên đều nói: “Như thị”.

Bấy giờ Đức Thế Tôn muốn lập lại nghĩa nầy, nên nói kệ rằng:

Phổ Nhãn thầy nên biết!

Tất cả các chúng sanh

Thân tâm đều như huyễn

Thân tướng thuộc tứ đại

Tâm tánh thuộc sáu trần

Thể bốn loại đều lìa

Cái gì là hoà hiệp?

Thứ lớp tu như vậy

Tất cả đều thanh tịnh

Khắp pháp giới không động

Không tác, chỉ, nhậm, diệt

Cũng không người năng chứng

Hết thảy thế giới Phật

Cũng như hoa hư không

Ba đời đều bình đẳng

Rốt ráo không đến đi.

Bồ tát mới phát tâm

Cùng chúng sanh đời mạt

Muốn cầu vào Phật đạo.

Phải như thế tu tập.

 

*

 

 

 

V.CHƯƠNG KIM CANG TẠNG:

1.Ngài Kim Cang Tạng Bồ tát hỏi Phật:

Khi ấy Bồ tát Kim Cang Tạng ở trong đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy đnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu Phật ba vòng, quỳ thẳng chấp tay mà bạch Phật rằng:

Đoạn này là nói về oai nghi thỉnh pháp.

Đức Thế Tôn đại bi! Khéo vì tất cả Bồ tát rộng nói Viên giác thanh tịnh Đà la ni của Như Lai, nhân địa pháp hạnh, phương tiện thứ lớp, vì các chúng sanh khai phát cái tối tăm của chúng trong hội nầy. Nhờ Phật mở lòng từ bi chỉ dạy cho cái huyễn ế được sáng sủa, con mắt trí huệ được thanh tịnh.

Nhân trước Phật nói: “Giống như bệnh mắt thấy hoa đốm ở trong hư không. Do phần trên Phật khai thị căn thân thế giới tất cả thanh tịnh, như hoa đốm ảnh tượng trong không rơi rớt. Đây lại nói: “ Huyễn ế được sáng sủa, con mắt trí huệ được thanh tịnh”.

Thưa Thế Tôn!

1.Nếu tất cả chúng sanh xưa nay đã thành Phật, vì sao lại có tất cả vô minh?

2.Nếu chúng sanh sn có vô minh, thì do nhân duyên gì Như Lai lại nói xưa nay đã thành Phật?

3.Mười phương các loại dsanh đã thành Phật đạo, sao lại khởi vô minh? Vậy tất cả Như Lai khi nào lại sanh tất cả phiền não?

Cúi mong Ngài không bỏ lòng đại từ vô giá (vô giá là không ngăn che)vì các Bồ tát mở bày các kho bí mật nầy, và vì tất cả chúng sanh đời sau được nghe kinh điển pháp môn liu nghĩa như thế mà hằng đoạn được nghi ngờ.

Đoạn này nói về ngài Kim Cang Tạng thưa thỉnh pháp yếu.

Nhân Bồ tát Kim Cang Tạng nghe Phật nói chúng sanh xưa đã thành Phật,liền khởi lên ba điều nghi vấn, nên mới dấy tâm thưa hỏi về việc này.

Ý là thưa hỏi Phật ban đầu nói chúng sanh nhânvô thỉ vô minh vọng nhận thân tâm nên mới có cảnh trầm luân sanh tử. Nay lại nói dứt hẳn cội gốc vô minh mới thành Phật đạo. Đây thìvô minh chính là bổn hữu chúng sanh. Vì sao lại nói chúng sanh xưa nay vốn đã thành Phật? Nếu chúng sanh xưa nay đã thành Phật, vì sao lại có vô minh? Nếu chúng sanh xưa nay đã thành Phật, saolại dấy khởi vô minh, nếu là như thế thì tất cả các Đức Như Lai đã thành Phật rồi, khi nào lại sanh tất cả phiền não ư? Nhân vì Bồ tát Kim Cang Tạng nghe nói chúng sanh xưa nay đã thành Phật đạo cùng với dứt hẳn vô minh mới thành Phật đạo lời nói trái nhau, nên mới dấy khởi ba điều nghi vấn. Do đây mà có điều thưa hỏi.

Thưa lời đây rồi, năm vóc gieo xuống đất. Như thế thưa thỉnh trước sau ba lần.

2.Phật khen ngài Kim Cang Tạng:

Khi ấy Đức Thế Tôn bảo Bồ tát Kim Cang Tạng rằng: “Lành thay!Lành thay! Này Thiện nam tử! Các ông mới hay vì Bồ tát và chúng sanh đời sau, thưa hỏi Như Lai các phương tiện cứu kính thậm thâm bí mật như thế. Đây là chỗ chỉ dạy tối thượng của chư Bồ tát, là giáo lý Đại thừa liễu nghĩa hay khiến cho mười phương Bồ tát tu học, và các chúng sanh đời sau được lòng tin chắc chắn đoạn được các nghi ngờ. Nay ông lắng nghe sẽ vì ông nói.

Khi ấy Bồ tát Kim Cang Tạng vâng dạy hoan hỷ và các đại chúng lặng lẽ mà nghe.

Nầy Thiện nam tử! Tất cả thế giới trước sau sanh diệt, trước sau có không, tụ tán khởi dừng, niệm niệm tiếp nối, tuần hoàn qua lại, các thứ thủ xả đều là luân hồi. Chưa ra khỏi luân hồi mà biện cái tánh Viên giác thì cáitánh Viên giác kia tức đồng với lưu chuyển; nếu khi luân hồi thì không có lẽ vậy.

Đoạn này ý là quở trách người hỏi, chẳng nên lấy cái tâm sanh diệt mà vọng biện biệt cái thể Viên giác. Vì mười pháp giới nhân quả mê ngộ đều là việc bờ mé sanh tử, từ vọng kiến mà có, trong tánh Viên giác vốn không có việc này, nếu lấy vọng kiến mà biện biệt tánh Viên giác thì tánh Viên giác này cũng đồng với pháp sanh tử vậy.

Thế giới có ba thứ:

1.Chúng sanh chánh báo thế gian.

2.Chúng sanh y báo thế gian.

3.Chư Phật là trí chánh giác thế gian

Đây là bao gồm mười pháp giới, nhân quả y báo và chánh báo.

“Thể” nghĩa là mê cái nhân gốc.

“Chung”nghĩa là quả Niết bàn.

“Sanh diệt” chính là thân tâm chúng sanh, bao gồm bốn tướng Sanh - Trụ - Dị - Diệt.

“Tiền hậu” chính là ba métrước sau, và quá khứ vị lai bao gồm hiện tại.

Có không tụ tán chính là thế giới Thành-Trụ-Hoại-Không.

Có không chính là “Trụ- Không”.

Tụ tán chính là “Thành- Hoại”

“Khởi” nghĩa là ba cõi sống chết.

“Dừng”nghĩa là Nhị thừa Niết bàn (Cảnh giới tịch lặng của hàng Nhị thừa)

Như việc trên chính là vọng kiến vọng tưởng, niệm niệm chẳng dừng tiếp nối, từ đây sanh diệt chẳng ngừng tuần hoàn qua lại, các thứ thủ xả như thế đều là vọng kiến luân hồi sanh tử. Nếu lấy vọng kiến này mà biện biệt tánh Viên giác thì tánh Viên giác cũng đồng với pháp sanh tử. Cho nên Phật nói tức đồng lưu chuyển, nếu lấy vọng kiến mà thoát khỏi sanh tử thì không có lẽ như vậy.

Đây là bao quát quở trách đều là điên đảo.

Đoạn văn dưới Phật lấy ví dụ để khai thị.

3.Phật dùng ví dụ để giải thích:

Ví như con mắt mình chớp thì thấy mặt nước phẳng nó gợn sóng, lại như con mắt nhìn sửng thấy vòng lửa xoay tròn. Ví như mây bay mà thấy mặt trăng chạy. Ví như thuyền đi mà thấy bờ chạy.

Đoạn này Phật lấy bốn pháp dụ cho vọng kiến.

1.Mặt nước phẳng không có gợn sóng nhân chớp mắt mà thấy có gợn sóng.

2.Mắt định tỉnh thì không có xoay chuyển do xoay tròn vòng lửa mà có.

3.Trăng bờ chẳng có dời đổi nhân mây thuyền mà có dời đổi (mây bay trăng chạy).

Mặt nước phẳng, mắt định tỉnh,trăng, bờ đều dụ cho giác tánh.

Mặt nước gợn sóng, vòng lửa xoay chuyển, mây bay, trăng chạy đều dụ cho vọng kiến.

Nầy Thiện nam tử! Cái xoay vần chưa dứt thì vật kia muốn khiến cho nó dừng trụ còn không thể được.

Đoạn này hiệp với pháp mà ví dụ. Như các vòng xoay tròn chính là: sóng nước, lửa xoay, mây bay, thuyền chạy. Vật kia dừng thì nước mới lặng,mắt định tỉnh thì trăng chẳng bay, thuyền chẳngchạy nghĩa là các vật xoay tròn nếu chưa từng trụ thì các vật kia ắt khó dừng trụ.

Huống là đem cái tâm cấu sanh tử luân hồi chưa từng thanh tịnh mà xem cái tánh Viên giác của Phật thì sao lại chẳng lẩn quẩn? Thế nên các ông mới sanh ba điều nghi vấn như trước.

Đây là lấy cái cạn mà dò xét chỗ sâu cùng đều Phật quở trách làcái mê điên đảo.

Ý nghĩa là việc thế gian thiển cận, nếu xoay mà chẳng dừng thì vật kia ắt khó dừng trụ. Huống là đem cái tâm cầu sanh tử mà biện biệt cái tịnh diệu giác tánh thường trụ, há chẳng rơi vào chỗ lưu chuyển kia ư?

Đây là dấy khởi ba điều nghi vấn thật là do vọng kiến phân biệt.

Đoạn này đều quở trách ba điều nghi vấn.

Văn dưới chính là nghĩa hỏi đáp.

4.Phật dạy: Các pháp hư huyễn không có thật sanh và thật diệt:

Nầy Thiện nam tử! Ví như mắt bệnh huyễn, vọng thấy hoa đốm trong hư không, bệnh mắt huyễn nếu trừ thì không thể nói bệnh mắt huyễn đã diệt khi nào là sanh ra các bệnh. Vì cớsao? Vì bệnh và hoa, hai pháp đó không có đối đãi. Cũng nhưhoa đốm trong hư không, không thể nói rằng hư không khi nào lại sanh ra hoa đốm? Vì cớ sao? Vì hư không vốn không có hoa đốm nên chẳng khi sanh diệt. Sanh tử Niết bàn đồng với cái khởi diệt. Còn cái diệu Viên giác chiếu lìa cả hoa đốm và bệnh nhặm mắt.

Đây là lấy một ví dụ hoa đốm trong hư không, đều là chỗ hỏi đáp để quyết trạch ba điều nghi vấn.

Huyễnuế dụ cho “vô minh”.

Vọng kiến dụ cho hoa đốm trong hư không cùng sanh tử Niết bàn.

Hư không dụ cho Diệu giác chơn tâm.

Đây là hiển bày sanh tử Niết bàn đều là cái tướng hoa đốm cuồng lao điên đảo. Trong tâm diệu giác vốn không có việc này.

Nay Ngài Kim Cang Tạng nghi về việc đó, nhân nghe chương đầu Phật nói vô minh chính là chúng sanh luống nhận thân tâm huyễn vọng làm cái bản hữu.

Đây thì chúng sanh nhân vô minh mà có. Như vậy vì sao lại nói chúng sanh xưa nay thành Phật? Nếu chúng sanh xưa nay là Phật saolại làmchúng sanh? Đây thì vô minh từ trong tâm Phật mà có. Như đây thì trong tâm chư Phật bao giờ khởi sanh phiền não mà làm chúng sanh? Đoạn này ngài Kim Cang Tạng dấy khởi ba điều nghi vấn đều từ vọng kiến phân biệt mà có. Chỉ chưa ngộ Diệu giác chơn tâm nên trước quở trách cái thấy còn điên đảo luân hồi, nên đem bệnh huyễn dụ cho hoa đốm trong hư không.

Nếu ngộ hư không vốn không có hoa đốm. Vì sao chúng sanh xưa nay đã thành Phật? Nếu liễu tột hoa đốm từ bệnh huyễn sanh ra, lại sao còn nghi đã thành Phật, rồi sau còn khởi sanh phiền não?

Đoạn này Đức Phật Như Lai khéo dùng phương tiện thiện xảo khai thị, nếu liễu tột một ví dụ này thì ba điều nghi vấn liền đốn dứt.

Nầy Thiện nam tử! Nên biết hư không không phải tạm có, cũng không phải tạm không, huống lại tánh Viên giác tùy thuận của Như Lai, bảntánh bình đẳng như hư không.

Nầy Thiện nam tử! Như lọc vàng, vàng không phải do lọc mà có. Khi nó thành vàng rồi thì chẳng trở lại thành khoáng. Trải qua vô lượng kiếp tánh vàng chẳng hoại, không nên nói vốn chẳng thành tựu. Tánh

Viên giác của Như lai cũng lại như thế.

Đoạn này Phật khai thị Diệu giác chơn tâm thường trụ viên mãn chẳng thuộc sanh tử Niết bàn, để giải thoát điều nghi vấn Phật còn sanh khởi phiền não chăng?

Ý nghĩa là: Hư không còn chẳng có theo huyễn hoa khởi diệt huống là “Diệu giác minh tâm”, mà bản tánh của hư không lại há theo sanh tử Niết bàn khởi diệt ư? Nếu ngộ Giác tánh bình đẳng thường trụ bất động. Đây là chỗ chứng của chư Phật, há lại sanh mê? Nên Phật dùng ví dụ lọc vàng để đúc kết khai thị về điều này. Nếu liễu tột ví dụ này, thì chúng sanh tuy vốn đã là Phật, hiện tại kiết sử vô minh chẳng ngại trước huân tu mà sau thành tựu. Như vàng tuy vốn có, hiện tại vẫn còn nằm trong khoáng chất, trọn phải dung lọc rồi sau mới thấy vàng.

Nghĩa là: Phật vốn là có sẵn mà phải cần siêng tu, mê lầm nguyên là không mà cần phải đoạn trừ. Nếu biết tánh vàng chẳng hoại, tại sao nghi Phật lại sanh khởi mê lầm?

5.Tánh Viên Giácphi tất cả tướng:

Nầy Thiện nam tử! Tất cả Diệu tâm Viên gc của Như lai vốn không có Bồ đề và Niết bàn. Cũng không cóthành Phật và chẳng thành Phật, cũng không có vọng luân hồi và phi luân hồi.

Đoạn này là khai thị trong tánh Viên giác vốn không có tướng sanh tử và Niết bàn, để quyết trạch điều nghi vấn của ngài Kim Cang Tạng, nếu ngộ tánh này tự không có cái thấy khởi diệt điên đảo.

6.Tánh Viên giác không thể nghĩ bàn:

Nầy Thiện nam tử! Các cảnh giới tròn đầy thân tâm ngữ ngôn thảy đều đoạn diệt của hàng Thanh văn cũng chẳng đến được chỗ thân chứng cảnh sở hiện của Niết bàn kia, huống nữa dùng tâm suy nghĩ tạp nhạp mà xét lường được cảnh giới Viên giác của Như Lai.

Như người lấy lửa đom đóm mà đốt ngọn núi Tu Di trọn không thể được. Dùng cái tâm luân hồi sanh cái kiến giải luân hồi để vào trong cái biển đại tịch diệt của Như Lai trọn không thể nào đến. Thế nên Ta nói tất cả Bồ tát và chúng sanh đời sau phải đoạn gốc luân hồi từ vô thủy.

Đoạn này là khai thị Viên giác diệu tâm chẳng phải lấy tâm suy nghĩ mà đến kịp.

Vả lại hàng Nhị thừa thân tâm đã diệt, còn chẳng có thể đến cảnh giới tự chứng Niết bàn, huống nữa chúng sanh đem cái tâm sanh diệt mà muốn vào tánh diệu giác viên mãn bất sanh diệt, quyết định chẳng có thể được. Cho nên đem ví dụ như lấy lửa của đom đóm mà đốt núi Tu Di trọn chẳng có thể được.

Hàng Nhị thừa thân tâm lời nói đều diệt, do đoạn cái tâm Lục thức phân biệt, bảy thức đã hàng phục bất hành (chẳng tạo tác) nên không có giác quán lời nói, chỉ có sở chứng niết bàn. Đâychính là tám thức toàn thể vô minh nhận làm Niết bàn, vì hàng Nhị thừa vào danh tự vô minh chẳng biết nên chẳng có thể đến chỗ thân chứng sở hiện niết bàn.

Ý nghĩa làhàng Nhị thừa tâm hành đã diệt mà còn chẳng có thể biết cảnh giới tự chứng vô minh, huống nữa đem cái tâm sanh diệt mà muốn vào biển đại tịch diệt của Như Lai đây ắt hẳn chẳng có thể được nên lấy ví dụ lấy lửa của đom đóm mà đốt núi Tu Di.

Đoạn này tóm kết khai thị nên đoạn cội gốc luân hồi, chính là chỉ bày vọng kiến vô minh

7. Không thể dùng tâm chúng sanh phân biệt cảnh giới Phật:

Nầy Thiện nam tử! Cái tâm suy nghĩ có tạo tác từ nơi hữu tâm khởi ra đều là duyên khí vọng tưởng sáu trần cũng như không hoa, chẳng phải tâm thể chân thật. Dùng tâm suy nghĩ này mà biện minh Phật cảnh chẳng khác nào không hoa lại kết thành không quả, lần thêm vọng tưởng thì không thể được.

Nầy Thiện nam tử! Cái phù tâm hư vọng nhiều các xảo kiến không thể thành tựu được Viên giác phương tiện. Phân biệt như vậy không phải là vấn đề chánh.

Đoạn này là khai thị thẳng vọng tâm thô phù. Tóm kết Phật quở trách đương cơ.

Ý nghĩa là: Chỉ vì phàm phu khởi tâm động niệm đều là vọng tưởng. Chẳng  phải là chơn tâm. Đem cái vọng tưởng này mà tư duy biệt minh Phật cảnh việc đó thật là xa vời nên như không hoa lại kết thành không quả (mong cầu hoa ở hư không) do đó lần thêm vọng tưởng. Tâm thô phù hư vọng như thế, há có thể thành tựu được Viên giác phương tiện ư? Cho nên đây chẳng phải là vấn đề chánh.

Bấy giờ Thế Tôn muốn lập lại nghĩa nầy, nên nói kệ rằng:

Kim Cang thầy nên biết

Tánh tịch diệt Như Lai  

Chưa từng có thể chung

Nếuđemtâm luân hồi

Tư duy thì lẩn quẩn

Chỉ đến chỗ luân hồi

Không thể vào biển Phật

Thí như nấu kim khoáng

Vàng chẳng do nu có

Dầu xưa nay là vàng

Phải nhờ nấu thành tựu

Một khi đã thành vàng

Chẳng trở lại làm khoáng

Sanh tử với niết bàn

Phàm phu cùng chư Phật

Đồng là tướng không hoa

Tư duy còn huyễn hóa

Huống chi các hư vọng

Nếu hay rõ tâm nầy

Sau mới cầu Viên giác.

 

 

 

 

VI.CHƯƠNG BỒ TÁT DI LẶC:

1.Ngài Di Lặc Btát hỏi Phật:

Khi ấy Bồ tát Di Lặc ở trong đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu bên phải Phật ba vòng, quỳ gối chấp tay bạch Phật rằng:

Đức Thế Tôn đại bi! Rộng vì chư Bồ tát mở bày kho bí mật, khiến cho đại chúng ngộ sâu được lý luân hồi, phân biệt tà chánh, hay bố thí cho tất cả chúng sanh đời sau con mắt đạo vô úy, đối với đại Niết bàn sanh lòng tin, quyết định không trở lại theo cảnh giới luân hồi mà khởi các kiến chấp tuần hoàn.

Bạch Thế Tôn!

1.Nếu các Bồ tát và chúng sanh đời sau muốn dạo chơi trong biển đại tịch diệt của Như Lai, làm sao đoạn được cội gốc luân hồi?

2.Đối với các luân hồi có bao nhiêu chủng tánh?

3.Người tu Phật Bồ đề có bao nhiêu thứ sai biệt?

4.Khi trở vào trần lao lập bao nhiêu thứ phương tiện giáo hóa để độ chúng sanh?

Cúi mong Đức Thế Tôn chẳng bỏ lòng đại bi cứu thế, khiến cho những người tu hành, tất cả Bồ tát và chúng sanh đời sau được con mắt trí tuệ thanh tịnh chiếu soi gương tâm, ngộ được viên mãn cái vô thượng tri kiến Như Lai.

Đoạn này là Bồ tát trình bày thưahỏi diệu nghĩa có bốn phần:

1.Do phần trên Phật nói Bồ tát tu hành trước phải đoạn cội gốc luân hồi, nên phần đầu đây hỏi rằng: Sao nên đoạn? Ý nghĩa là: Cái gì là cội gốc luân hồi? Nên phần dưới Phật đáp: Do ân ái tham dục là cội gốc luân hồi.

2.Hỏi: Luân hồi có bao nhiêu chủng tánh?

Phật đáp: Do nhân có hai thứ chướng nên có năm thứ tánh sai biệt.

3. Hỏi: Tu hành có bao nhêu thứ chủng tánh?

Phật đáp: Là do năm tánh mà hiển bày có sai biệt.

4.Hỏi: Bồ tát độ sanh có bao nhiêu phương tiện?

Phật đáp: Chỉ lấy đại bi đồng sự nguyện lực (đồng sự nhiếp)

Song chỗ Bồ tát Di Lặc hỏi chính là điều tu hành và làm lợi ích cho chúng sanh. Vì Bồ tát tu hành vốn là độ sanh, mà tu hành chẳng xả bỏ chúng sanh giới, vì độ sanh chính là “Tu hành”.

2.Phật khen ngài Di Lặc Bồ tát:

Thưa lời đây rồi, năm vóc gieo xuống đất, thưa thỉnh như vậy trước sau ba lần.

Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Bồ tát Di Lặc rằng: “Lành thay!Lành thay! Này Thiện nam tử! Các ông mới hay vì các Bồ tát và chúng sanh đời sau thưa hỏi NhưLai về nghĩa thâm áo bí mật vi diệu như thế, khiến cho các Bồ tát con mắt trí huệ được trong sạch và khiến cho tất cả chúng sanh đời sau hằng đoạn được sanh tử luân hồi, tâm ngộ thật tướng, đầy đủ pháp vô sanh nhẫn. Nay ông  hãy lắng nghe ta sẽ vì ông nói”.

Khi ấy Bồ tát Di Lặc vâng dạy hoan hỷ và các đại chúng đều yên lặng lắng nghe.

3.Phật dạy: Ái và Dục là gốc rễ của sanh tử luân hồi:

Nầy Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ mé vô thủy do có các thứ ân ái tham dục cho nên có luân hồi. Nếu các thế giới tất cả chủng nh noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh đều do sự dâm dục mà có tánh mạng chánh yếu, nên biết sự luân hồi, ái là cội gốc.

 Đoạn này là đáp thẳng cội gốc luân hồi.

Vô minh có hai:

1.Phát nghiệp vô minh.

2. Nhuận sanh vô minh.

Phát nghiệp chính là một niệm vô thủy tối sơ vọng động mê đi cái gốc Viên giác quang minh nên gọi là “Vô minh”. Duy chỉ mê pháp thân bản hữu này mà vọng nhận năm ấm thân tâm huyễn vọng làm ngã. Đây chính là trong phần trước ngài Văn Thù Sư Lợi đã trình bày.

Vô thỉ bổn khởi vô minh, đây tuy là mê chơn nhận vọng còn chưa tiếp nối các sanh tử chỉ hay phát nghiệp mà thôi.

Nhuận sanh vô minh chính là cội gốc sanh tử luân hồi tiếp nối, do trước mê lý vô minh vọng nhận thân tâm năm ấm làm ngã, tức là huyễn thân này lại khởi ra cái thấy trai gái, tốt xấu, thương ghét… mà khởi ra cái tưởng tham ái dâm dục, nhận thấy ái mà phát nghiệp. Nghĩa là: “Ông ái ngã tâm, ngã thương đắm sắc ông”, do đó kết thành nhân duyên trăm ngàn vạn kiếp mãi mãi bị trói buộc. Cho nên chúng sanh mê mất chơn tánh pháp thân huệ mạng, chỉ lấy mỗi một việc dâm dục mà làm điều chánh yếu thọ sanh bẩm mạng (tính tình, tính nết) nên nói: “Đều nhân nơi dâm dục mà có tánh mạng chánh yếu”. Nên biết sự luân hồi, ái là cội gốc. Nên nay tu hành muốn được thoát khỏi cảnh luân hồi, nên lấy sự dứt hẳn ái dục là nghĩa đệ nhất. Đây chính là chỗ nói trong kinh Lăng Nghiêm không khác. Thế nên pháp thế gian cùng xuất thế gian, sanh cùng vô sanh hết thảy đều ở tại tâm dâm, đoạn dục chẳng đoạn nên nay kinh chỉ bày trước phải đoạn dâm dục là điều thiết yếu trong việc tu hành.

Do có dục giúp nên phát sanh tánh ái, thế nên hay khiến sanh tử tiếp nối.

Đoạn này chính là khai thị ái dục là cội gốc sanh tử. Vì thân tâm năm ấm chúng sanh vốn nhân ái dục mà có chỉ lấy ái dục làm tánh mạng chánh yếu, nên cảnh tham dục tuy nhiều mà mỗi mỗi cái dục đều là cái gốc trợ giúp phát sanh tánh ái.

Lại chẳng thôi dứt rượu thịt, hành, hẹ, tỏi,nén, hương cừ… vì nó là trợ nhân, do căn ái đã sâu mà sự trợ phát tánh ái mỗi ngày mỗi dầy, tâm tâm trước dục (đắm nhiễm vào dục) niệm niệm nhuận sanh, thế nên hay khiến sanh tử tiếp nối.

Văn dưới là khai thị cội gốc luân hồi.

Dục là nhơn ái mà sanh, mạng là nhơn dục mà có. Có chúng sanh ái mạng trở lại y nơi gốc dục. Ái dục làm nhơn, ái mạng làm quả.

Đoạn này làm sáng tỏ ái dục là cội gốc sanh tử.

Dục nhơn ái mà sanh là: Phần trên nói. Do có các dục trợ phát tánh ái, nói các dục cũng từ dục ái mà sanh, vì ái là cội gốc, dục là nhơn trợ phát. Song dục là “tham”, mà ái là “căn dâm”. Vì chúng sanh ái luyến tâm dâm sắc đẹp của trai gái, nhân ái sắc đó nên tham đắm các thứ ăn uống chú trọng mùi vị lấy làm cung dưỡng thân mình, hoặc xoa phấn ướp hoa, gấm vóc lấy làm trang sức thân, hoặc chiếu giường chăn đệm ấm êm mềm mại lấy làm ưa thích; cho đến lời hay tiếng đẹp lấy làm khoái lạc, tất cả các dục đều từ tâm dâm mà phát khởi. Nên nói: “Dục nhân ái mà sanh, mạng nhân dục mà có”.

Vì chúng sanh một đời nhiễm dục sắc đẹp nam nữ và sau khi chết xả bỏ thân mạng chưa thọ cái báo thân sau, còn ở trong thân trung ấm. Thân này đặc biệt là không có chỗ thấy, chỉ cầu cảnh dục nên ngàn muôn dặm xa thấy chỗ nam nữ đang giao cấu (trai gái đang ân ái với nhau) nếu từng có túc duyên ái nhiễm với nhau liền từ xa mau vội đến trước, liền vội lấy cái tướng của nam nữ làm mình tâm khát ái cùng cực liền nương theo nước ái trôi dạt vào thai mẹ, bám giữ tinh huyết này nạp tưởng chẳng bỏ bèn kết làm thai. Đây là nguyên do thọ mạng nên nói: “Mạng nhơn dục mà có”, trợ giúp sanh mạng đó chính là ái dục làm nhân và thọ cái báo thân sau chính là lại ái mạng làm quả. Do đó sanh tử này tiếp nối liên tục mà chẳng có thôi dứt.

Do nơi dục cảnh khởi các thuận nghịch. Cảnh trái với tâm ái thì sanh ra ghét giận, tạo các thứ nghiệp, cho nên lại sanh nơi địa ngục, ngạ quỷ.

Đoạn này là làm sáng tỏ quả báo khổ hải ở trong Tam đồ ác đạo (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh) đều nhơn nơi dâm dục mà có. Vì tâm ái lẫy lừng vội hướng đến cảnh dục. Song cảnh có thuận nghịch, nếu cảnh thuận với tâm đó thì ái luyến càng thêm nhiều, nếu cảnh nghịch với tâm liền sanh ra ghét giận; cho đến sân hận đánh mắng đến nỗi giết hại thì không việc ác nào mà chẳng tạo. Do đó lại chuốc lấy quả khổ dữ dội ở địa ngục tam đồ, đều nhơn nơi ái dục mà gây nên.

Bỏ ác mà vui với thiện nghiệp lại hiện cõi trời, cõi người.

Đoạn này làm sáng tỏ do ái mà cảm quả báo cõi trời, cõi người.

Phần trên nói tạo các thứ nghiệp trọn chẳng ra ngoài mười ác nghiệp.Nghĩa là:

- Thân có ba: Sát sanh, trộm cắp, tà dâm.

- Miệng có bốn: Nói dối, nói lời thêu dệt, nói lời hai lưỡi, nói lời ác độc.

- Ý có ba: Tham dục, sân hận, si mê.

Mười ác nghiệp này đều do sự dâm dục mà phát khởi, nếu tạo đủ mười nghiệp này thì cảm quả báo nơi Tam đồ ác đạo. Nếu bình thường chẳng tạo nghiệp ác trên thì cảm quả báo sanh ở cõi người, nếu siêng tu thiện phẩm (mười điều thiện nghiệp) thì cảm quả báo sanh ở cõi trời. Nói chung cõi trời hay cõi người đều do dục ái chán ghét nghiệp đạo cũng từ ái mà gây nên.

Lại biết cái ái đáng chán, cho nên bỏ ái, và ưa cái bỏ đó, trở lại nuôi dưỡng thêmcái gốc ái, lại hiện có cõi Thiện tăng thượng hữu vi. Vì đều luân hồi không thành Thánh đạo.

Phần trên nói cõi trời cõi người. Lại biết quả báo ở cõi trời Lục dục. Nói cõi trời Lục dục trọn là chưa dứt hẳn cảnh dục, chỉ chẳng tạo tác ác nghiệp nên cảm quảbáo mười thiện nghiệp. Đây là làm rõ sắc giới rồi và phần trên là chư Thiên.

Chư Thiên ái nhiễm chẳng sanh lòng tu phạm hạnh. Song chỗ tu chỉ biết ái dục là nhiễm,là ma chướng, nên ái nhiễm chán lìa, do đó đắm say lạc vị thủ chứng hỷ tâm, song chỗ vui đó cũng là “ái”. Nên nói: “Lại nuôi dưỡng thêm cái gốc ái” do đây chỉ gọi là: “Cõi thiện tăng thượng hữu vi”. Chưa vượt thoát sanh tử, nên nói: “Đều là luân hồi chẳng thành Thánh đạo” bởi còn lấy ái bỏ ái nên sanh tử chẳng đoạn. Nghĩa là: Dù cho ông tu đến chỗ cảnh giới Phi phi tưởng cũng rơi vào chỗ Đệ nhị thiền gia, do tình căn cội gốc sanh tử chưa đoạn.

Thế nên chúng sanh muốn thoát sanh tử, khỏi luân hồi thì trước phải đoạn cái tham dục, và trừ khát ái.

Đoạn này là tóm kết cội gốc luân hồi đều do lỗi lầm tham dục khát ái mà gây nên.

4. Bồ tát hiện thân không phải do ái dục, mà do lòng đại bi và nguyện lực:    

Nầy Thiện nam tử! Bồ tát biến hóa thị hiện ở thế gian chẳng phải do ái làm gốc, mà chỉ do lòng từ bi khiến nhổ hết gốc ái của người kia. Các Ngài mượn tham dục mà vào trong sanh tử. Nếu tất cả chúng sanh đời sau hay bỏ được ái dục và trừ tâm yêu ghét thì hằng đoạn được luân hồi, siêng cầu cnh giới Viên giác của Như Lai, nơi tâm thanh tịnh liền đưc khai ngộ.

Đoạn này là giải thích điểm nghi và hiển bày quyền biến phương tiện. Vì sợ có người nghi nói rằng: “Bồ tát vào trong sanh tử, há chẳng phải là lỗi của tham dục chăng?”Nên đây giải thích nói: “Bồ tát chỉ biến hóa thị hiện tham dục mà vào trong sanh tử”. Vì đồng sự nhiếp khiến cho các chúng sanh kia xả bỏ tham dục. Đây chính là quyền biến phương tiện thiện xảo hóa hiện chẳng phảilà việc thật. Song việc tu hành cần phải dứt hẳn tham dục,tâm thường thanh tịnh mới được khai ngộ.

Phần trên là đáp cội gốc luân hồi.

Phần dưới là đáp chủng tánh.

5.Phật dạy: Có năm chủng tánh:

Nầy Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh đời sau do gốc tham dục mà phát huy thêm tánh vô minh. Hiển bày ra năm tánh sai biệt chẳng đồng, y theo hai thứ chướng mà hiện có sâu cạn.

Thế nào là hai thứ chướng?

Một là lý chướng làm ngăn ngại chánh tri kiến.

Hai là sự chướng tiếp nối sự sanh tử.

Đoạn dưới là đáp về cảnh luân hồi.

Hỏi: - “Có bao nhiêu chủng tánh?”Nghĩa là “Hai chướng lý và sự”. Vì tánh luân hồi là thế tánh. Vì lý chướng chính là “Phát nghiệp vô minh”, sự chướng chính là “Nhuận sanh vô minh”. Cội gốc luân hồi sanh tử lấy hai chướng làm thể, tức là tu hành có điểm sai biệt chẳng đồng cũng nhơn vô minh dày mỏng, hai chướng có sâu cạn mà hiển bày.

Thế nào là năm tánh? NầyThiện nam tử! Nếu hai chướng này chưa đoạn diệt thì chưa thành Phật.

Phần dưới đây chính là đáp tu hành có bao nhiêu chủng tánh. Trước là quán triệt sau lại giải thích.

Năm chủng tánh là:

1.Phàm phu chủng tánh.

2.Nhị thừa chủng tánh.

3. Bồ tát chủng tánh.

4. Bất định chủng tánh.

5. Ngoại đạo chủng tánh.

Phần ban đầu này là phàm phu chủng tánh.

Nếu chúng sanh hằng bỏ cái tham dục, trước trừ sự chướng, nhưng mà chưa đoạn lý chướng thì chỉ có thể vào được Thanh văn, Duyên giác, chưa có thể hiển trụ được cảnh giới Bồ tát.

Đoạn này là nói về Nhị thừa chủng tánh. Vì người Nhị thừa chỉ đoạn dục thức (nhãn, nhĩ,tỉ, thiệt, thân, ý thức), tam độc (tham, sân, si) lìa phần đoạn sanh tử, nên nói: “Hằng xả bỏ tham dục”.Kinh nói: “Chỉ hết sanh tử nghĩa là diệt độ”. Đó mới thật là hằng được diệt độ tất cả.

Nầy Thiện nam tử! Nếu chúng sanh đời sau muốn dạo trong biển đại Viên giác của Như Lai, trước phải phát nguyện siêng đoạn hai chướng. Hai chướng đã dẹp được liền hay ngộ nhập được cảnh giới Bồ tát. Nếu sự, lý đã hằng đoạn diệt thì liền ngộ nhập vào tánh Viên giác vi diệu của Như Lai đầy đủ Bồ đề và đại Niết bàn.

Đoạn này là nói về Bồ tát chủng tánh.

Tam hiền hàng phục hai chướng (sự và lý), hàng Bồ tát địa thượng cũng đoạn trừ hai chướng. Hoặc sau kim cang đạo dị thục đã không thì hai chướng dứt hẳn liền ngộ nhập vào biển lớn Niết bàn thâm diệu của Như Lai.

Nầy Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh đều chứng Viên giác gặp Thiện tri thức, y nơi pháp hạnh nhân địa mà vị ấy đã tu, khi ấy tu tập liền có đốn và tiệm. Nếu gặp được con đường tu hành chơn chánh Vô thượng Bồ đềNLai thì căn cơ chia ra không có lớn nhỏ tất cả đều thành Phật quả.

Đoạn này là nói về bất định chủng tánh.

Nếu nói tất cả chúng sanh đều chứng Viên giác thì mỗi mỗi đều là Như Lai chủng tánh. Sao lại có sai biệt bất định chủng tánh ư? Chỉ vì mỗi người kia khi gặp Thiện tri thức, y nơi pháp hạnh nhân địa mà vị ấy đã tu, nhơn đây tu tập thì có đốn tiệm chẳng đồng. Đây thì bất định tánh tại thầy chẳng do căn cơ. Nghĩa là: Nghe Thầy dạy huân tu thành chủng tánh, nếu gặp bậc đại Thiện tri thức chỉ bày con đường tu hành chơn chánh của Như Lai khai đạo tu hành (dẫn dắt tu hành) thì căn cơ không có lớn nhỏ đều thành Phật quả. Đây là hiển bày Phật tánh là một,nhơn thầy bất định nên có đốn tiệm. Do đó kinh Lăng Già nói: Cần yếu phải thân cận bậc Thiện tri thức ấy là đều tối thắng vậy. Đây thì Tam thừa (Thanh văn, Duyên giác,Bồ tát) đều thâu nhiếp về bất định chủng tánh.

Nếu các chúng sanh tuy cầu thiện hữu nhưng lại gặp những người tà kiến chưa đựợc chánh ngộ, ấy gọi là chủng tánh ngoại đạo, đây là lỗi lầm của Thầy tà chớ không phải chúng sanh kia lỗi lầm.

Đoạn này nói về chủng tánh ngoại đạo.

Như đã nói tất cả chúng sanh đều chứng Viên giác thảy đều thành Phật. Sao lại có tà ngoại? Bởi gặp những tà sư tà giáo, nên thành tà ngoại. Đây chỉ là lỗi lầm của Thầy tà, chẳng phải lỗi lầm của Phật tánh chúng sanh. Đây thì kinh giáo Đại thừa không có căn cơ nào chẳng thâu nhiếp, do gặp Thầy tà mà thành Thầy tà, nếu bỏ tà trở về chánh thì không có gì chẳng thành Phật. Xiển đề làm Phật là thấy nghĩa ở đây.

Phần trên là đáp tu tập sai biệt.Phần dưới là đáp giáohóa chúng sanh sai biệt.

6.Bồ tát nhập thế độ sanh thị hiện các hình tướng và các cảnh thuận nghịch:

 Nầy Thiện nam tử! Bồ tát chỉ tùy phương tiện đại bi vào các thế gian, mở bày cho những người chưa ngộ cho đến thị hiện các hình tướng, hoặc cảnh giới nghịch thuận, cùng với những người kia đồng sự để giáo hóa khiến họ thành Phật, đều y nơi nguyện lực thanh tịnh từ vô thỉ.

Đoạn này là đáp Bồ tát trở vào trần lao, hỏi có bao nhiêu phương tiện.

Nghĩa là: Bồ tát lợi sanh có rất nhiều phương tiện giáo hóa độ sanh, duy chỉ lấy đại bi làm đầu, đại nguyện thu thúc và lấy đồng sự nhiếp để giáo hóa họ. Ấy là pháp môn diệu hạnh. Song Bồtát độ sanh đem bốn nhiếp pháp mà giáo hóa họ.Bốn nhiếp pháp đó là:

1.Bố thí nhiếp.

2.Ái ngữ nhiếp.

3. Lợi hành nhiếp.

4. Đồng sự nhiếp. 

Nhưng đoạn kinh này chỉ chú trọng đoạn dục làm đầu, nên riêng gọi là đồng sự, vì nó là pháp môn diệu hạnh để đoạn tham ái. Nếu chẳng phải là nguyện lực thu thúc, mặc nhiên đồng sự thảy đều đọa lạc nên cần yếu đều y nơi nguyện lực thanh tịnh từ vô thỉ.

Nếu các chúng sanh đời sau đối với Viên giác mà khởi tâm tăng thượng nên phát đại nguyện thanh tịnh của Bồ tát, thì nên nguyện như thế nầy:Nay con nguyện ở trong Viên giác Phật cầu Thiện tri thức, chớ không gặp ngoại đạo cùng với Nhị thừa, y theo nguyện tu hành lần lần đoạn trừ các chướng. Chướng hết, nguyện được viên mãn, liền lên được pháp điện thanh tịnh giải thoát, chứng được cõi Đại Viên giác diệu trang nghiêm”.

Đoạn này nói chẳng những Bồ tát lợi sanh (giáo hoá chúng sanh) y nơi đại nguyện lực mà người tu hành đời sau cũng nên lấy đại nguyện lực giữ chắc chân tâm, khỏi phải đoạ lạc vào tà kiến. Nghĩa là Bồ tát tu hành đối với đại Viên giác mà khởi tâm tăng thượng mạn.Đây chính là người quyết chí hoàn thành Phật đạo, nên trước phát nguyện nói: “Con nay trụ ở trong Viên giác Phật, chí nguyện thành Phật nên cầu bậc Thiện tri thức chớ không gặp ngoại đạo tà sư cùng với hàng Nhị thừa liệt giải (cái hiểu còn kém cõi) phá hoại căn lành của con. Nguyện gặp được bậc Bồ tát tri thức tối thắng y nơi giáo tu hành (y nơi lời dạy bảo của Bồ tát) dần dần đoạn trừ các chướng, nếu các chướng dứt sạch nguyện lực đầy đủ thì con thành tựu quả Phật”.

          Thành Diệu Trang Nghiêm chính là quả hải của Phật.

          Bấy giờ Đức Thế Tôn muốn lập lại nghĩa nầy, nên nói kệ rằng:

                        Di Lặc thầy nên biết

                   Tất cả các chúng sanh

                   Chẳng được đại giải thoát

                   Vì đều do tham dục

                   Đọa lạc trong sanh tử!

                    Nếu đoạn được yêu ghét

                   Cùng với tham, sân, si

                   Chẳng nhơn tánh phân biệt

                   Đều được thành  Phật đạo.

 

           Trường Hàng nói: “Năm tánh nhơn hai chướng mà có sai biệt”. Kệ nói: “Chỉ hay đốn dứt phiền não” chẳng lấy năm tánh sai biệt, thì ngay đây một lúc đốn thành Phật quả”(chỉ cần dứt hẳn phiền não thì chớp mắt thành Phật).

Hai chướng hằng tiêu diệt

                   Cầu thầy được chánh ngộ

                   Tuỳ thuận nguyện Bồ tát

                   Nương nhờ đại Niết bàn

                   Các Bồ tát mười phương

                   Đều vì nguyện đại bi

                   Thị hiện vào sanh tử

                   Người hiện tại tu hành

                   Và chúng sanh đời mạt

                   Siêng đoạn các ái kiến

                   Liền về đại Viên giác.

 

*

      

 

VII.CHƯƠNG THANH TỊNH HUỆ:

            1.Ngài Thanh Tịnh Huệ Bồ tát hỏi Phật:

          Khi ấy Bồ tát Thanh Tịnh Huệ ở trong đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy đnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu bên phải Phật ba vòng, quỳ gối chấp tay bạch Phật rằng: “Đức Thế Tôn đại bi! Vì bọn chúng con rộng nói việc bất tư nghì như thế, từ trước chưa từng thấy, từ trước chưa từng nghe. Ngày nay chúng con nhờ Phật khéo dẫn dụ thân tâm thơ thới được lợi ích lớn.

     Cúi mong Ngài vì tất cả pháp chúng đến trong hội nầy nói rõ lại tánh Viên giác viên mãn của Đấng pháp vương,chỗ chứng đắc của chúng sanh, Bồ tát và chư Phật sai biệt như thế nào? khiến cho chúng sanh nghe lời dạy nầy, tuỳ thuận được khai ngộ thứ lớp hay vào.

     Đoạn là hỏi về Diệu tánh Viên giác Thánh phàm đều bình đẳng nhơn đâu mà có tu chứng sai biệt?

Nhân phần trước có nói: “Biết là hoa đốm trong hư không, liền không bị luân chuyển”. Đây thì chớp mắt đốn chứng Phật địa chẳng trải qua cấp bực thứ lớp. Lại nói:“Tất cả chúng sanh đều chứng Viên giác. Đây thì tánh giác vốn không sai biệt”.

Phần trên hỏi sai biệt. Phật đáp: “Do nhơn hai chướng sâu cạn mà có”. Nay hỏi tu chứng sai biệt; ý nghĩa là: Giác tánh đã bình đẳng thì hai chướng cũng chẳng có thể là sai biệt. Nên nay hỏi từ Phàm đến Thánh tu chứng vì sao mà có sai biệt?

Thưa lời đây rồi năm vóc gieo xuống đất, thưa thỉnh như vậy trước sau ba lần.

Oai nghi thỉnh pháp.

2.Phật khen ngài Thanh Tịnh Huệ Bồ tát:

Khi ấy Đức Thế Tôn mới bảo Bồ tát Thanh Tịnh Huệ rằng: “Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Các ông mới hay vì chúng sanh đời sau thưa hỏi Như Lai thứ lớp sai biệt. Nay ông lắng nghe sẽ vì ông nói”.

Khi ấy Bồ tát Thanh Tịnh Huệ vâng dạy hoan hỷ và các đại chúng đều lặng lẽ mà nghe.

            Đại chúng Phật dừng tâm suy niệm để lắng nghe pháp yếu.

3. Phật dạy: Trong Viên giác không có Bồ tát và chúng sanh.

Nầy Thiện nam tử! Tự tánh Viên giác phi tánh tánh hữu. Nó theo các tánh mà khởi không có thủ, không có chứng, ở trong thật tướng thật không có Bồ tát và chúng sanh. Vì cớ sao? Bồ tát chúng sanhđều là huyễn hoá. Vì cái huyễn hoá diệt cho nên không thủ không chứng. Ví dụ như con mắt không tự thấy con mắt. Tánh nó tự bình đẳng mà không có bình đẳng.

Nhân hỏi giác tánh là một. Vì sao Thánh phàm tu chứng sai biệt chẳng đồng? Phật trước khai thị, vì giác tánh xưa nay vốn là bình đẳng không hai. Bồ tát chúng sanh cũng thủ chứng thứ lớp (Bồ tát và chúng sanh chấp có thứ lớp tu chứng) tự tánh vô tánh nên nói“Phi tánh”. Phàm thánh đều đầy đủ nên nói “Tánh hữu”. Tuỳ duyên mà hiện nên nói“Nó theo các tánh mà khởi”. Vốn không có thứ lớp tu chứng. Sau đó khai thị vì ở trong vọng dụng công liền hiển bày sai biệt, mắt chẳng thấy mắt là dụ cho giác tánh vốn không có năng sở đối đãi.

Bởi chúng sanh mê điên đảo chưa hay trừ diệt tất cả huyễn hoá, đối với cái diệt mà chưa diệt vọng,trong vọng dụng công liền hiển bày ra có sai biệt. Nếu được NhưLai tịch diệt tuỳ thuận thật  không có tịch diệt và người tịch diệt.

Đoạn này là khai thị nhơn chúng sanh điên đảo mê lầm vọng có sai biệt. Kỳ thật liễu rồi thì không có năng sở thủ chứng.

 Phần dưới là khai thị sai biệt không sai biệt. Cựu giải Tông Thiên Thai lấy “Lục tức” để giải thích về việc này. Nghĩa là tánh tự bình đẳng phàm Thánh chẳng hai nên nói: “Lý tức”.

Phần trên nói: “Giác tánh bình đẳng lý đồng một vị”. Nay nhơn chúng sanh điên đảo mê lầm huyễn hoá chưa diệt trong vọng công dụng liền hiển bày ra có sai biệt. Đây thì hiển bày “Lục tức” sai biệt nhơn mê mà có, nếu đến chỗ rốt ráo cùng nguồn thì tịch diệt vốn không hai. Nếu thật rõ “Lục tự”thì phần trên chẳng sanh khinh nhờn, nếu ngộ “Tức tự” thì chẳng sanh thoái khuất. Đây là viên đốn trực chỉ của Tông Thiên Thai.

 Phần trên là tóm kết khai thị lý viên đốn. Phần dưới là khai thị “Lý tức” nghĩa kinh rất phù hợp nhau nên đem giải thích về việc này.

4.Phàm phu tuỳ thuận tánh Viên giác. Địa vị Thập tín:

 Ny Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến giờ do vọng tưởng ngã và ngã ái, từng chẳng tự biết niệm niệm sanh diệt cho nên khởi yêu ghét và đam mê ngũ dục.

Đoạn này là khai thị “Lý” tức là do chúng sanh toàn thể ở trong mê buộc ràng Phật tánh tại mêNên nói: “Lý”. Chúng sanh tức Phật nên nói: “Lý tức”. Vì mê tánh giác mà nhận lầm vọng tưởng trái với pháp thân mà luống nhận năm ấm (bỏ giác hợp với trần lao) nên nói: Do vọng tưởng ngã, chấp vọng thân làm ngã, ngã kiến kiên cố chẳng xả bỏ nên nói“và ngã ái”. Từng chẳng tự biết niệm niệm sanh diệt, tạo các nghiệp ác. Song tạo nghiệp chính là Phật tánh nên nói “Lý tức”.

Nếu gặp Thiện hữu tri thức dạy khiến khai ngộ được tánh tịnh Viên giác phát minh khởi diệt, tức biết tánh chúng sanh nầy tự lao (tức là cái lăng xăng lộn xộn).

Đây gọi là “Tự tức”, do chúng sanh mê rồi chẳng biết bổn hữu Phật tánh (cái Phật tánh sẵn có nơi mình) nếu gặp Thiện hữu tri thức mở đường dẫn đạo, liễu ngộ tự tánh, tánh tức vô sanh biết rõ “bổn” là “Phật” do biết “Danh thức tự”. Một chữ “Biết” tức Phật tánh nên nói “Danh tự tức”

Nếu lại có người ngay cái lăng xăng lộn xộn đó mà đoạn diệt thì lúc đó được cảnh giới thanh tịnh. Có đoạn có được nên cái thanh tịnh giải của người đó tự chướng ngại nên đối với Viên giác chẳng được tự tại. Đây gọi là: “Phàm phu tuỳ thuận tánh Viên giác”.

Đoạn này là quán “Hạnh tức”. Đây là Viên giác ngũ phẩm quán hạnh vị của Tông Thiên Thai.

Bậc Viên giáo hàng phục ngũ trụ, trước đoạn kiến

hoặc tư hoặc nên nói “Cái lăng xăng lộn xộn hằng đoạn diệt”,tam độc chẳng hiện hành nên được cảnh giới thanh tịnh lại đắm mê cảnh giới thanh tịnh nên nói: “Cái thanh tịnh giải của người đó đủ nên đối với Viên giác mà chẳng được tự tại. Tông Thiên Thai chia viên giáo “Quán hạnh vị” cùng” Biệt tính vị” đồng đoạn kiến hoặc tư hoặc gọi là“Ngoại đạo phàm phu” nên tóm kết gọi là “phàm phu”.

5.Bồ tát ở vị Tam Hiền, tuỳ thuận tánh Viên Giác:

 Nầy Thiện nam tử! Tất cả những Bồ tát vì kiến giải làm ngại, tuy đã đoạn được giải ngại nhưng vẫn còn ở trong kiến giác. Do giác ngại làm ngại mà chẳng tự tại, ấy gọi là Bồ tát chưanhậpđịa tuỳ thuận tánh viên giác.

  Đoạn này là: “Tương tợ tức”. Bậc đại vị Tam hiền trí quán từng minh, đã thấy trước bị tinh giải làm ngại. Nay đã đoạn diệt, sở đoạn tuy quên mà còn năng đoạn trí quán gọi là “Kiến giác”. Đây là “Năng kiến của kiến giác làm ngại” năng sở chưa quên nên đối với Viên giác mà chẳng tự tại, ấy gọi là Bồ tát chưa nhập địa. Đây chính là chỉ cho bậc Tam hiền.

6.Bồ tát Thánh vị tuỳ thuận Tánh Viên Giác:

Nầy Thiện nam tử! Có chiếu có giác đều gọi là chướng ngại thế nên Bồ tát thường giác chẳng trụ. Chiếu cùng với người chiếu đồng thời tịch diệt.

Đoạn này là phần “Chơn tức chiếu” là cảnh sở chiếu chính là “Tịnh giải”, giác là trí năng quán chính là “Kiến giác” tức trước nói về hai vị (Bồ tát, chúng sanh) vì đối đãi chưa quên nên đều gọi là chướng ngại. Nay Địa thượng Bồ tát đã chứng bình đẳng chơn như lấy trí tức thể lại thể chiếu tịch diệt nên chiếu mà chẳng chiếu chẳng trụ công phu chiếu diệu nên nói “Thường giác chẳng trụ” vì lý và trí nhất như nên đồng thời tịch chiếu.

Thí như có người tự chặt đầu của mình. Cái đầu đã bị chặt rồi nên không có người hay chặt và cái đầu bị chặt (năng sở) ắt là cái tâm ngại tự diệt các ngại. Các ngại đã đoạn hết nên không có người diệt ngại.

Đoạn này đem ví dụ để làm sáng tỏ quán trí đều hết, năng sở cả hai đều quên. Người dụ cho “Năng chiếu”, đầu dụ cho “Sở chiếu”, sở chiếu đã quên thì năng chiếu cũng hết nên dụ là không có người hay chặt. Song do chiếu làm ngại là kinh Lăng Nghiêm nói: “Viên minh chiếu sanh”. Cho nên trong thể Viên minh vốn không năng sở chỉ khởi một tâm chiếu soi thì hiện ra tướng nên do chiếu làm ngại. Vì các vô minh đều gọi là các ngại, phi chiếu chẳng diệt nên lấy ngại diệt được. Nếu các ngại đã đoạn thì chiếu cũng chẳng lập nên không có người diệt ngại.

 Kinh điển của Phật nói như ngón tay chỉ mặt trăng. Nếu thấy được mặt trăng thì rõ biết ngón tay chỉ kia cứu kính không phải là mặt trăng. Tất cả những ngôn thiết của Như Lai để mở bày cho Bồ tát cũng lại như thế.

Đoạn này là hiển bày cái chỗ thật chứng của Bồ tát Địa thượng. Nghĩa là Bồ tát tu hành chưa ngộ được tự tánh, nên Phật mới giả lập các thứ ngôn giáo để khai thị để làm phương tiện ngộ nhập chân tâm nên nói: “Như ngón tay chỉ mặt trăng”.

Nay đã liễu ngộ tự tâm thì tất cả ngôn thuyết đều là pháp thừa, nên như thấy trăng thì rõ biết ngón tay chỉ kia rốt ráo không phải là mặt trăng. Vì phàm có nói tu đoạn, quán trí, năng sở đều là như ngón tay chỉ mặt trăng. Nay đã chứng nhập nhất tâm thì năng sở cả hai đều quên, quán chiếu cả hai đều dứt đồng thời tịch diệt.

Đây gọi là Bồ tát đã nhập địa tuỳ thuận tánh Viên giác.

Đoạn này là tóm kết vị thứ, vì kinh này riêng lấy Viên chiếu giác tướng làm tông, nên chẳng nói vị thứ, chỗ đoạn chỉ quán hạnh sâu cạn để làm rõ cao thấp của vị thứ. Nếu đối với trong chương Phổ Hiền mà nói: “Nên phải xa lìa tất cả cảnh giới huyễn hoá hư vọng. Do kiên cố chấp cứng cái tâm xa lìa nên tịnh giải chưaquên”. “Đương quán hạnh vị”, tâm như huyễn cũng lại xa lìa tức là “Kiến giác làm ngại”. “Đương tương tợ vị” có giác có chiếu đồng thời tịch diệt, tức xa lìa là huyễn cũng lại xa lìa.

Phần dưới là “Đương phân chơn vị”. Nói tất cả chướng ngại tức là: “Cứu kính giác” tức là: “Xa lìa lìa huyễn cũng lại xa lìa” được không có chỗ xa lìa, ấy gọi là: “Cứu kính giác”. “Đương cứu kính” tức là kinh chỉ bày rõ ràng mong mỏi hành giả quán sâu về việc này.

7. Như Lai tuỳ thuận tánh Viên giác:

Nầy Thiện nam tử! Tất cả các chướng ngại tức là cứu kính giác được niệm mất niệm đều là giải thoát. Pháp thành pháp phá đều là Niết bàn. Trí tuệ, ngu si thảy đều là Bát nhã. Bồ tát, ngoại đạo, chỗ thành tựu đều là Bồ đề. Vô minh, chân như không có cảnh giới khác. Giới định huệ và tham sân si đều phạm hạnh. Chúng sanh quốc độ đồng một pháp tánh. Địa ngục Thiên cung đều là Tịnh độ. Có tánh, không tánh, đồng thành Phật đạo. Tất cả phiền não cứu kính đều là giải thoát. Biển pháp giới huệ chiếu soi các tướng ví như hư không. Đây gọi là Như Lai tuỳ thuận tánh giác.

Đoạn này là nêu bày cứu kính giác để khai thị bình đẳng Phật huệ (trí huệ Phật bình đẳng).

Nói về được niệm mất niệm v.v. mười pháp đối… đều là việc hai bên mê ngộ. Bởi vì trong thể Viên giác diệu tâm, chẳng thuộc nhân quả, đối dãi, mê ngộ nên tất cả tịch diệt bình đẳng nhất như, lấy vọng kiến mà quán thì có hai tướng, nếu lấy biển pháp giới huệ chiếu soi các tướng thì giống như hư không tất cả các tướng liễu chẳng có thể được.

Nầy Thiện nam tử! Chỉ những vị Bồ tát và chúng sanh đời sau ở trong tất cả thời chẳng khởi vọng niệm. Đối với cái vọng tâm cũng không có  dứt diệt. Trụ ở vọng tưởng mà không thêm liễu tri. Nơi không liễu tri chẳng biện chơn thật.

Đoạn này là khai thị pháp môn vi diệu bình đẳng “An tâm”.

Phần trên nói vị thứ có cao thấp, người chứng có thứ lớp, đều là chẳng liễu tâm thể tịch diệt vọng có tu chứng chẳng quên năng sở đối đãi nên ngộ có cạn sâu. Nay khai thị bình đẳng nhất tâm tùy duyên hiệp đạo. Chính là diệu chỉ của pháp môn viên ngộ đốn chứng, vì chúng sanh hàng ngày hiện chứng toàn là trong thể pháp thân bình đẳng Như Lai nếu một niệm chẳng sanh thì toàn thể tự hiện, nên nói: “Ở trong tất cả thời chẳng được khởi vọngniệm”.Vì vừa khởi một niệm liền mê hiện lượng. Nghĩa là chúng sanh vọng tưởng mà vọng tưởng vốn tự vô tánh, nguyên là chơn tâm, nếu dứt vọng cầu chơn giống như chặt đầu tìm sự sống. Nên nói: “Đối với cái vọng tâm cũng không có dứt diệt” vì cảnh giới vọng tưởng vốn là “Chơn”. Không thể nghĩ lường nếu lại thêm cái tâm liễu tri, tức là như gióng tiếng lại bảo ngừng tiếng vang nên nói: “Trụ ở cảnh giới vọng tưởng chẳng thêm liễu tri”.

Chỗ chẳng thêm liễu tri tức là “Chơn tri” nếu khởi tâm lại biện biệt cầu cảnh giới chơn thật, thì khác nào đầu lại thêm đầu càng thêm điên đảo. Nên nói: “Nơi không liễu tri chẳng biện chơn thật”. Đây là điểm bí quyết của bậc đạo nhơn an tâm trong lúc sinh hoạt hàng ngày. Nếu hay tuỳ duyên như trên thì tâm tâm hợp đạo, niệm niệm chứng nhơn chẳng khởi diệt định mà hiện việc độ sanh. Trên từ các Tổ chưa có vị nào chẳng vào pháp môn này. Đây là một con đường tham  thiền hướng thượng nghĩa là: “Kề ngay cái lỗ mũi của nạp tăng”.

Các chúng sanh ấy nghe được pháp môn nầy tin hiểu thọ trì, không sanh kinh sợ, ấy gọi là tuỳ thuận tánh giác.

Đây là pháp môn trực chỉ đốn ngộ an tâm chính là cương yếu của sự tu hành, pháp môn này tức là ở trên tất cả thời…Vì pháp môn này khó tin, khó hiểu, khó thọ trì nếu nghe mà không sanh kinh sợ, ấy gọi là tuỳ thuận tánh giác.

Nầy Thiện nam tử! Những chúng sanh như thế đã từng cúng dường trăm ngàn muôn ức hằng sa chư Phật và đại Bồ tát, gieo trồng các cội công đức, Phật nói người ấy là thành tựu Nhất thiết trí.

Đây là tóm kết căn cơ phần trên là bậc đốn ngộ tuỳ duyên hiệp đạo, đều là những bậc sớm đã gieo cái nhân sâu dầy mới hay tin hiểu chẳng nghi. Những chúng sanh như thế, tuy ở nhân vị mà quyết định thành Phật không nghi.

Khi ấy Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

            Tịnh Huệ thầy nên biết!

          Tánh Bồ đề viên mãn

          Không thủ cũng không chứng

          Không Bồ tát, chúng sanh

          Khi giác cùng chưa giác

          Thứ lớp có khác nhau

          Chúng sanh vì giải ngại

          Bồ tát chưa ly giác

          Nhập địa hằng lặng dứt

          Chẳng tan tất cả tướng

          Đại giác đều viên mãn

          Gọi là khắp tuỳ thuận.

 

Hai câu ban đầu thảy đều tụng sai biệt, do đó một câu chúng sanh là “Quán hạnh tức”. Một câu Bồ tát là “Tương trợ tức”. Hai câu nhập địa là “Phân chơn thức tức”. Hai câu Đại giác là “Cứu kính giác”, song câu ban đầu giác cùng chưa giác cũng hàm nhiếp “Lý tức” gọi là “Tự tức”

          Các chúng sanh đời mạt

          Tâm chẳng sanh hư vọng

          Phật nói người như thế

          Hiện đời tức Bồ tát

          Cúng dường hằng sa Phật

          Công đức đã viên mãn

          Tuy có nhiều phương tiện

          Đều gọi tuỳ thuận trí.    

 

*

 

 

KINH VIÊN GIÁC TRỰC GIẢI

QUYỂN THƯỢNG CHUNG

Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa Kinh

 

Trực Chỉ Quyển Hạ

*

Đời Đường, ở nước Kế Tân, Sa môn Phật Đà Đa La dịch.

Đời Minh, Đại Sư Thích Đức Thanh hiệu Hám Sơn ẩn dật ở Khuông Sơn trực giải.

Đời Minh, Tân An, Trình Mộng Dương hiệu Giác Ngã giảo duyệt.

 

 

 

 

VIII. CHƯƠNG OAI ĐỨC TỰ TẠI:

            1. Ngài Oai Đức Tự Tại hỏi Phật:

Khi ấy Bồ tát Oai Đức Tự Tại ở trong đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu bên phải ba vòng, quỳ gối chấp tay bạch Phật rằng:

Đức Thế Tôn đại bi! Rộng vì chúng con phân biệt thế nào là tùy thuận tánh giác, khiến cho những vị Bồ tát giác tâm được sáng suốt nương nơi viên âm của Phật không nhân tu tập mà được thiện lợi.

Bạch Thế Tôn! Ví như cái thành lớn ở bên ngoài có bốn cửa tùy phương mà lại, chẳng dừng ở một con đường. Tất cả Bồ tát trang nghiêm cõi Phật và thành Bồ đề cũng không phải chỉ một phương tiện.

Vậy cúi mong Thế Tôn vì chúng con tuyên nói tất cả phương tiện thứ lớp, cùng người tu hành phải có bao nhiêu thứ khiến những vị Bồ tát trong hội nầy và chúng sanh đời sau cầu Đại thừa, chóng được khai ngộ vào trong biển đại tịch diệt du hí Như Lai.

Đoạn này là thưa hỏi về phương tiện tu hành. Do phần trên chỉ nghe nói sự sai biệt của phần sở chứng, chưa nghe nói về công hạnh năng chứng.

Cho nên, nay riêng thưa thỉnh Phật chỉ bày phương tiện để vào cửa. Thành dụ cho “Viên giác”. Môn dụ cho con đường “Sở nhập”. Phương tiện chính là cửa “Nhập chứng” tức là phương tiện ban đầu của kinh Lăng Nghiêm. Nghĩa là tùy phương giữ lấy phương tiện chính là công phu hạ thủ thứ lớp. Vì ban đầu Viên chiếu “Nhị tự” để làm nhân địa thành Phật, nên ban đầu nói: “Biết là không hoa” tức không lưu chuyển, biết huyễn tức lìa, chẳng khởi phương tiện chính là viên tu đốn ngộ nên chẳng giả lập phương tiện. Đây chính là chỗ hành đạo của bậc thượng thượng căn; nay là bậc trung hạ nên thưa thỉnh Phật chỉ bày thứ lớp, ý là ở chỗ khai bày “Tam quán môn”, tức là phần dưới viên tu hai mươi lăm luân đều là thứ lớp.

Thưa lời đây rồi năm vóc gieo xuống đất, thưa thỉnh như vậy trước sau ba lần.

Đoạn này là trình bày sự thành khẩn oai nghi cầu pháp.

2. Phật khen ngài Oai Đức Tự Tại Bồ Tát:

Khi ấy Đức Thế Tôn bảo Bồ tát Oai Đức Tự Tại rằng: “Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Các ông mới hay vì Bồ tát và chúng sanh đời sau thưa hỏi Như Lai những phương tiện như thế. Nay ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì ông nói”.

Đoạn này nói về Phật tán thán và hứa khả, đại chúng trong pháp hội thì lắng nghe những lời Phật răn bảo.

Khi ấy Bồ tát Oai Đức Tự Tại vâng dạy hoan hỷ và các đại chúng lặng lẽ mà nghe.

Đoạn này nói về đại chúng vui mừng nghe pháp âm của chư Phật. Tất cả chúng hội tâm đều dừng lặng mà lắng nghe.

3. Phật dạy: Cảnh Viên giác không hai nhưng phương tiện vào có nhiều đường:

Phật bảo: Nầy Thiện nam tử! Vô thượng diệu giác khắp cả mười phương xuất sanh Như Lai và tất cả pháp đồng thể bình đẳng, đối với sự tu hành không có hai.

Đoạn này là Phật khai thị pháp tánh tròn đủ vốn không có mê ngộ, bình đẳng không hai chỉ khế hợp nhất chơn, chẳng cần giả lập nhiều thứ phương tiện tu hành. Nên nói: “Đối với sự tu hành thật không có hai”.

Mà phương tiện tùy thuận số nó vô lượng, tròn nhiếp để trở về theo tánh sai biệt sẽ có ba thứ.

Đây chính là cửa chứng nhập. Song giác tánh chu biến tròn đủ tất cả các pháp, thì pháp pháp đều là cửa chứng nhập, chỉ theo căn cơ mà tròn nhiếp, chẳng phải không yếu lược về việc này nên chỉ ra ba cửa.

Song ba cửa này tức là tam quán Lăng Nghiêm, nghĩa là: “Không quán - Giả quán - Trung quán”, vả lại hai kinh liệt kê ba tên đồng một phạm ngữ, nghĩa là: “Xa ma tha, Tam ma bát đề, Thiền na”.

Khi xưa giải thích Xa ma tha. Đây (tức là Trung Hoa) phiên âm nói là: “Chỉ”, lấy tịch diệt làm tướng, nghĩa là “Không quán”.

Tam ma bát đề, Trung Hoa phiên âm là đẳng chí cũng gọi là “Đẳng trí”, lấy huyễn hoá làm tướng, nghĩa là “Giả quán”.

Thiền na, Trung Hoa phiên âm là “Tịnh lự”, hai phần tịnh huyễn đều lìa lấy tịch diệt làm tướng, nghĩa là “Trung quán”. Song tu chứng ắt cần Tam quán, lấy tâm Như Lai tàng đầy đủ lý Tam đế, nghĩa là “Không bất không, không bất không”. Đây thì lấy Tam quán mỗi mỗi chiếu một đế tròn nhiếp một tâm nên nói: “Viên chiếu”, lấy Nhất tâm viên chiếu thì làm đốn, Tam quán thứ lớp mỗi mỗi chiếu phá thì làm thứ lớp. Kỳ thật vốn không có sự sai biệt thứ lớp ba và một văn sau tự rõ.

Ban đầu Xa ma tha.

4. Tu pháp Xa ma tha:

Nầy Thiện nam tử! Nếu các Bồ tát ngộ được cái tịnh Viên giác.

Đoạn này là nêu lên bổn hạnh chính là trước ngộ sau mới xứng tánh mà tu (từ chơn tánh tu ra) chẳng phải trong mê mà tu, nghĩa là Bồ tát tu hành trước cần yếu phải tự liễu ngộ bổn hữu tịnh giác viên chiếu chơn tâm, nương nơi chơn tâm bất sanh bất diệt nầy mà an lập quán hạnh, để tịnh hoá tập khí vô minh từ muôn kiếp, lấy đây làm hạ thủ; đây thì chỉ xứng với chơn tánh mà tu.

Dùng cái tịnh giác tâm mà giữ gìn cái lặng lẽ làm hạnh. Do lóng các niệm, giác thức phiền động nên cái tịnh huệ phát sanh, thân tâm khách trần từ đây hằng diệt.

Đoạn này là khai thị hành tướng “Không quán”. Sơ tâm phát giác dùng cái tịnh giác tâm mà làm đầu, vì khi chưa ngộ một bề chỉ hướng đến chỗ vọng tưởng động loạn. Nay đã ngộ tâm nầy liền dùng cái sở ngộ giác tâm phát khởi quán chiếu xoay lại quán chiếu tâm thể bất động, nên nói: “Giữ gìn cái lặng lẽ làm hạnh”, do đây vọng tưởng tiêu dứt, thì thấy cái tướng tập khí sanh diệt trong A lại da, nên nói “Do lóng các niệm, giác thức phiền động” khẩn cấp phát sát thì tự tâm quang minh hốt nhiên phát hiện. Nên nói: “Tịnh huệ phát sanh thì ánh sáng của tự tâm một lúc phát khởi”.

Do đó chóng thấy thân tâm huyễn vọng xưa nay chẳng có, nên biết khách trần thân tâm từ đây hằng diệt. Đây là tối sơ công phu một niệm đốn chứng vô sanh.

Liền hay ở bên trong phát ra cái lặng lẽ khinh an. Cho nên mười phương thế giới các tâm của Như Lai ở trong đó đều hiển bày như là những bóng hiện ở trong gương vậy.

Đoạn này là khai thị về sự hiệu quả hành tướng “Nhập quán”.

Vì Viên giác diệu tâm do bị thân tâm huyễn vọng vô minh che lấp. Nay thân tâm đã giảm thì gánh nặng vô minh đốn diệt nên nói: “Trong phát ra cái lặng lẽ khinh an”. Đến đây thì mười phương rỗng suốt nên bổn hữu pháp thân hiển lộ nên nói: “Các tâm của Như Lai đề hiển hiện”. Như là những bóng hiện ở trong gương vậy.

Nghĩa là pháp thân chư Phật thể nhập vào tánh ta, tâm ta lại cùng tánh Như Lai hoà hiệp, đó mới là diệu khế pháp thân. Đây chính là trong kinh Lăng Nghiêm “Xoay dòng toàn nhất” sáu dụng chẳng hành mười phương cõi nước sáng suốt thanh tịnh. Thí như viên ngọc lưu ly treo lửng bên trong như trăng sáng mùa thu. Cho đến tất cả Như Lai mật viên tịnh diệu đều hiện ở trong đó. Đây là viên giáo đốn phá hành tướng của vô minh.

Phương tiện nầy gọi là Xa ma tha.

Tóm kết các tên Xa ma tha, Trung Hoa phiên âm là: “Chỉ” nghĩa là “Tịch tỉnh”, tại nhân gọi là “Chỉ”, tại quả gọi là “Định” nghĩa là “Không quán”.

5. Tu pháp Tam ma bát đề:

Nầy Thiện nam tử! Nếu các vị Bồ tát ngộ được cái tịnh Viên giác.

Lấy chỗ ngộ tịnh tâm Viên giác mà làm bổn hạnh.

Dùng tịnh giác tâm biết cái tri giác tâm tánh cùng căn trần đều là nhơn huyễn hoá, liền khởi cái huyễn để trừ huyễn, biến hoá cái huyễn mà khai hoá những chúng sanh huyễn. Bởi do khởi huyễn cho nên ở bên trong phát ra lòng đại bi khinh an.

Đoạn này là khai thị hành tướng “Giả quán”.

Biết tâm tánh nghĩa là nương nơi chỗ ngộ tịnh tâm Viên giác phát khởi trí chiếu, chiếu cái thức kia cùng căn trần xưa nay chẳng có đều nhân nơi sự biến hiện của vô minh. Tuy có mà tánh thường không nên nói: “Đều nhân nơi huyễn hoá”. Song huyễn hoá chỉ cho chi mạt vô minh, đã liễu tâm tánh cùng căn trần đều như huyễn hoá thì quán sát chúng sanh mỗi mỗi như huyễn. Nên nói: “Liền khởi các huyễn để trừ huyễn”. Các huyễn nghĩa là trí huyễn, cái huyễn này xét cho cùng là căn bản vô minh, nghĩa là nương nơi trí thể giác như huyễn đốn phá căn bản vô minh, biến hoá các thứ.

Nghĩa là sau khi đốn dứt vô minh tự nhiên liền có nghiệp dụng bất tư nghì nên nói biến hoá các huyễn mà khai hoá những chúng sanh rộng làm Phật sự độ sanh. Hiện thân mười cõi phổ ứng tất cả quần sanh. Đây là hành tướng ra chơn về giả. Do khởi các huyễn nghĩa là “Đã chứng chơn như từ chơn như mà khởi sự nghiệp độ sanh mà lấy đồng thể đại bi, rộng giáo hoá chúng sanh chẳng chấp tướng chúng sanh nên nói “Đại bi khinh an”.

Tất cả Bồ tát từ đây khởi hành thứ lớp tăng tiến. Người quán huyễn kia không đồng với huyễn quán đều là huyễn. Tướng huyễn hằng lìa.

Đoạn này là khai thị tướng quán hạnh tăng tiến, do chứng nhập chơn tánh chưa tâm tròn đủ vô minh chưa thanh tịnh, dần dần nhiễm vào nên nói “Thứ lớp”, do đối đãi chưa quên. Trước sai khiến cảnh sở quán vẫn còn trí năng quán nên nói: “Người quán huyễn kia không đồng với huyễn”. Người quán huyễn, quán tức là “Trí năng quán”, người huyễn tức là: “Cảnh sở quán”, chơn trí vẫn còn nên chẳng đồng huyễn kia. Song sở quán đã quên năng quán cũng dứt, nếu còn năng quán vẫn chưa lìa huyễn nên nói “không đồng với huyễn quán đều là huyễn” năng sở cả hai đều quên, cảnh trí cả hai đều dứt chỉ một chơn tâm nên nói “Tướng huyễn hằng lìa”.

Các vị Bồ tát nầy ở nơi hạnh viên diệu như đất làm cho nấm được tăng trưởng.

Đoạn này dụ cho hành tướng tăng trưởng.

Nghĩa là Bồ tát quán hạnh cảnh trí cả hai đều quên, chỉ còn một chơn tâm duy nhất thì chơn địa pháp thân, mầm giống trí huệ dần dần tăng trưởng. Đất dụ cho “pháp thân chơn địa” bổn giác chơn như giống như chủng tử (hạt giống) trí quán thêm tỏ dụ như nấm được tăng trưởng.

Phương tiện này gọi là Tam ma bát đề.

Đây là tóm kết tên Hạnh quán, tiếng Phạn gọi là: “Tam ma bát đề”, Trung Hoa dịch là “Đẳng chí trong đẳng trì” hay đến Thánh vị.

6. Tu pháp Thiền na:

Nầy Thiện nam tử! Nếu các vị Bồ tát ngộ được cái tịnh Viên giác.

Đoạn này là chỉ về bổn hạnh.

Dùng tịnh Viên giác tâm chẳng giữ huyễn hóa và các tướng lặng lẽ, rõ biết thân tâm đều là quái ngại, cái “Vô tri giác minh” không y nơi các ngại hằng được siêu việt các cảnh ngại và không ngại. Thế giới thọ dụng cùng với thân tâm, tướng ở tại trần vức, như cái hoàn ở trong món đồ, cái tiếng nó vượt ra ngoài. Phiền não Niết bàn chẳng lưu ngại nhau.

Đoạn này là khai thị hành tướng quán trung, nghĩa là nương nơi chỗ ngộ tịch tâm viên giác, kiến lập quán hạnh, quán thẳng một tâm trung đạo, ngoài quên cảnh quán. Nên nói “Chẳng giữ huyễn hóa”, trong quên trí quán chẳng giữ tướng tịnh. Cảnh trí cả hai đều quên thân tâm lặng lẽ đều không có chướng ngại. Nên nói “Rõ biết”. Biết “Giác minh” và “Căn bản vô minh” nghĩa là đối đãi đã quên năng sở chẳng lập thì vô minh trọn tịnh. Nên nói: “Vô tri giác minh” cảnh trí cả hai đều không. Nên nói: “Hằng được siêu việt các cảnh ngại”. Cái hoàn và tiếng chuông trống nói tuy có thể chất mà chẳng đạt cái chỗ sâu xa tiếng được, chính do đồ dùng thì nhỏ mà tiếng lớn. Vì minh chỗ ngại hay đạt được chỗ vô ngại. Ý nghĩa là tâm cảnh chưa quên thì thân tâm thế giới làm ngại, nay đã liễu ngộ pháp thân tức là vọng huyễn này thì thân tâm thế giới chẳng ngại pháp thân. Nên nói: “Thế giới thọ dụng cùng với thân tâm, tướng ở tại trần vức, như cái hoàn ở trong món đồ cái tướng nó vượt ra ngoài” để dụ cho pháp thân vượt ra ngại, pháp phiền não sanh tử. Nghĩa là thân tâm thế giới, lý trí, Niết bàn chỉ một chơn tâm. Nên nói: “Sanh tử Niết bàn chẳng lưu ngại nhau”.

Nội tâm liền được lặng lẽ khinh an, diệu giác tùy thuận cảnh giới tịch diệt tự tha, thân tâm không còn có thể kịp nữa. Chúng sanh, thọ mạng đều là cái tưởng phù hư.

Đoạn này là khai thị tướng quán hạnh thành tựu lợi ích. Vì sanh diệt đã diệt thì tịch diệt hiện tiền, tam đức viên chứng Niết bàn thường lạc. Nên nói: “Tịch diệt khinh an” tâm tâm  tùy thuận, diệu giác lặng lẽ. Nên nói: “Tự tha thân tâm không còn có thể kịp nữa” chúng sanh thọ mạng đều là cái tưởng phù hư. Đây thì nhị chướng hằng đoạn, nhị tử hằng quên, nghĩa là rốt ráo viên chứng cùng tột chỉ một chơn tâm.

Phương tiện này gọi là “Thiền na”.

Đây là tóm kết tên.

Nầy Thiện nam tử! Ba pháp môn này đều là thân cận tùy thuận tánh Viên giác. Mười phương Như Lai nhân đây mà thành Phật. Mười phương Bồ tát tu mọi phương tiện đồng hay khác, đều y ba sự nghiệp này, nếu được viên chứng tức thành Viên giác.

Đoạn này là tổng kết thứ lớp phương tiện. Nghĩa là ba pháp môn này đều là thân cận tùy thuận phương tiện Viên giác tức là “Nhân địa Như Lai” và vạn hạnh chư Bồ tát, hoặc thứ lớp, hoặc thiên viên đều y ba sự nghiệp này, hoặc lại viên tu, nếu một niệm viên chứng tức thành Viên giác.

Nầy Thiện nam tử! Nếu có người tu theo Thánh đạo, giáo hóa trăm ngàn muôn ức người thành tựu quả A la hán, Bích chi Phật, không bằng người chỉ nghe pháp môn Viên giác vô ngại này trong khoảng sát na mà tùy thuận tu tập.

Đoạn này là tóm kết về sự hiển bày thắng hạnh.

Thiên viên tu tập mỗi kiếp gấp bội nên giáo hóa rất nhiều hàng Nhị thừa, chẳng bằng tạm nghe pháp này. Vì pháp này là chánh nhân thành Phật.

Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

            Oai Đức thầy nên  biết

          Tâm Đại giác vô thượng

          Xưa nay không hai tướng

          Tùy thuận các phương tiện

          Số kia đến vô lượng

          Như Lai tổng khai thị

          Chỉ có ba chủng loại

          Xa ma tha vắng lặng

          Như gương chiếu các tượng

          Tam ma đề như huyễn

          Như mạ lần tăng trưởng

          Thiền na duy lặng dứt

          Như tiếng trong đồ vật

          Ba thứ diệu pháp môn

          Đều tùy thuận giác tánh

          Mười phương các Như Lai

          Cùng các đại Bồ tát

          Nhơn đây được thành Phật

          Vì ba sự Viên chứng

          Nên cùng tột Niết bàn

                                    *

 

 

 

 

IX. CHƯƠNG BIỆN ÂM:

1. Ngài Biện Âm Bồ tát hỏi Phật:

Khi ấy Bồ tát Biện Âm ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu bên phải ba vòng, quỳ gối chấp tay bạch Phật rằng:

Đức Thế Tôn đại bi, pháp môn như vậy thật là ít có. Bạch Thế Tôn, các phương tiện này, tất cả Bồ tát đối với môn Viên giác có bao nhiêu pháp tu tập?

Đoạn này là phần chánh trình bày ý hỏi. Nghĩa là trước Phật nói Tam quán (Xa ma tha, Tam ma bát đề, Thiền na) chưa rõ chỗ tu tập của tất cả Bồ tát, là một người đầy đủ cả ba, hay là ba người mỗi một pháp hay là đồng thời, hay là thứ lớp. Xin Phật thương xót khai thị chỉ bày để làm phương tiện tu tập.

Xin vì đại chúng và chúng sanh đời sau phương tiện chỉ bày, khiến cho ngộ được thật tướng.

Đoạn này là Bồ tát Biện Âm thưa hỏi để Phật chỉ bày.

Thưa lời đây rồi năm vóc gieo xuống đất, thưa thỉnh như vậy lặp lại ba lần.

2. Phật khen ngợi Bồ tát Biện Âm:

Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Bồ tát Biện Âm rằng: “Lành thay! Lành thay! Nầy Thiện nam tử, các ông vì đại chúng và chúng sanh đời sau thưa hỏi Như Lai về sự tu tập như thế. Nay ông hãy lắng nghe ta sẽ vì ông nói”.

Đại chúng thành tâm lắng nghe, Đức Thế Tôn hứa nói.

Khi đó Bồ tát Biện âm, cùng với đại chúng đồng yên lặng lắng nghe và hoan hỷ nghe lời Phật dạy bảo.

Đại chúng hoan hỷ dừng lại tất cả tâm thức lắng nghe.

3. Phật dạy 25 pháp tu:

Nầy Thiện nam tử! Tất cả Viên giác thanh tịnh Như Lai vốn không tu tập và người tu tập. Tất cả Bồ tát và chúng sanh đời sau y nơi chưa giác dùng sức huyễn mà tu tập khi ấy mới có hai mươi lăm thứ thanh tịnh định luân.

Đoạn này là tổng kết lại ý hỏi đáp.

Phật dạy: Viên giác thanh tịnh chúng sanh vốn đầy đủ chẳng cần tu tập, chỉ nay ở trong mê, lấy huyễn tu huyễn, chỉ lấy sức huyễn nên có 25 thứ chẳng đồng. Vốn là Tam quán nhất tâm nguyên không có sai khác, mỗi mỗi tùy theo ý người. Cần yếu thiên trọng là ở chỗ tu tập, xoay chuyển mà làm hai mươi lăm luân. Chẳng phải quyết định là có hai mươi lăm thứ. Xong hai mươi lăm thứ không ra ngoài tam quán, riêng lại viên tu mà phân chia sai biệt.

Ban đầu riêng tu Tam quán.

1. Riêng tu một pháp Xa ma tha (tu Định):

Nếu chư Bồ tát chỉ giữ một chỗ cực tịnh, do cái sức lặng lẽ nên hằng đoạn diệt phiền não, cứu kính thành tựu, không rời nơi tòa liền vào Niết bàn. Vị Bồ tát này gọi là riêng tu về pháp Chỉ.

Đoạn này là riêng tu về Không quán. Song Tam đế vốn chỉ một cảnh, nên Tam quán vốn là một tâm viên dung hàm nhiếp, nêu lên một mà đủ cả ba, nói ba thể tức một nghĩa là gồm cả chánh thiên, nên tuy riêng tu một quán, mà ắt gồm cả hai, tuy chẳng nói rõ mà nghĩa tức toàn đủ.

Nay nói tuy giữ một chỗ cực tịnh, mà lấy Quán không làm chủ, do cái sức lặng lẽ mà hằng đoạn diệt phiền não, thì nghĩa bao quát ở “Giả”, vì phiền não huyễn hóa nên lấy sức tịnh mà hằng đoạn nó, nếu rốt ráo thành tựu, thì viên chứng một tâm ắt là nhiếp “Trung”. Nên chẳng rời chỗ ngồi liền vào Niết bàn. Đây là riêng dùng viên tu không quán mà vào, hay khởi quán như thế, nghĩa mới đầy đủ.

2. Riêng tu một pháp Tam ma bát đề (tu Huệ):

 

Nếu Bồ tát chỉ có quán như huyễn, do dùng Phật lực biến hóa thế giới các thứ tác dụng đầy đủ diệu hạnh thanh tịnh của Bồ tát. Nơi Đà la ni (Tổng trì) không mất niệm lặng lẽ và các huệ lặng lẽ. Các vị Bồ tát này gọi là riêng tu về pháp quán.

Đây là riêng tu Giả quán. Phật lực nghĩa là tự tánh vốn đầy đủ chơn như, do cái sức của Phật tánh ẩn tàng bên trong nên phát khởi các thứ tác dụng biến hóa đầy đủ diệu hạnh thanh tịnh, đây là y nơi huyễn mà hành. Nơi Đà la ni không mất niệm lặng lẽ, thì toàn thể khởi dụng hàm nhiếp một tâm, thể của trung đạo lặng lẽ mà khởi không huệ chiếu phá vô minh. Đây là giả quán hàm nhiếp trung quán và không quán.

3. Riêng tu pháp Thiền na (Định Huệ đồng thời tu):

 

Nếu các vị Bồ tát chỉ diệt các huyễn mà không giữ các tác dụng, riêng đoạn phiền não, phiền não đoạn hết liền chứng thật tướng, Bồ tát này là riêng tu về Thiền na.

Đoạn này là riêng tu Thiền na Trung quán, chỉ duyệt các huyễn riêng đoạn phiền não. Chính là nhiếp giả vào trung. Phiền não đọan hết liền chứng thật tướng, chính là nhiếp không quán vào trung quán. Đây chính là ngăn chiếu đồng thời để hiển bày trung quán, vì chỉ diệt đoạn tận thì cả hai đều ngăn riêng đoạn hoặc chứng chơn thì cả hai đều chiếu. Phần trên đây là riêng tu Tam quán. Phần dưới lại tu hai mươi mốt luân.

4. Trước tu Định, sau tu Huệ:

 

 Nếu những vị Bồ tát trước chỉ giữ lòng thật lặng lẽ do các huệ lặng lẽ, cho nên chứng được chỗ rất lặng lẽ, liền đoạn phiền não, hằng ra khỏi sanh tử, vị Bồ tát này gọi trước tu Chỉ, sau tu Quán.

Kế là trước tu Không quán, sau tu Trung quán.

5.     Trước tu Định, sau Định Huệ đồng thời tu:

 

Nếu các vị Bồ tát do tịnh huệ, tức là cái huệ lặng lẽ, cho nên chứng được chỗ rất lặng lẽ, liền đoạn phiền não, hằng ra khỏi sanh tử, vị Bồ tát này gọi là trước tu Chỉ, sau tu Thiền.

Tức là trí thể nên nói là “Tịnh huệ” lại chiếu tịnh thể nên nói là: “Chứng đến chỗ tịnh tánh” liền đoạn phiền não rằng ra khỏi sanh tử, nhân quên quả mất viên chứng nhất tâm, nên gọi “Trung đạo”.

Ban đầu trước là “Không quán”, kế là “Giả quán”, sau là “Trung quán”.

6. Trước tu Định, thứ tu Huệ, sau Định Huệ song tu:

 

Nếu các vị Bồ tát do sức tịnh lặng lẽ, trí huệ soi lại hiện ra sức huyễn, các thứ biến hóa để độ chúng sanh, sau mới đoạn phiền não mà vào chỗ tịnh diệt, Bồ tát này gọi là trước tu Chỉ, giữa tu Quán và sau tu Thiền.

Trước là tu “Không quán”, kế là tu “Trung quán”, sau là tu “Giả quán”.

7. Trước tu Định, thứ Định Huệ song tu, sau tu Huệ:

 

Nếu những vị Bồ tát do sức rất lặng lẽ đoạn phiền não sau khởi ra thanh tịnh diệu hạnh của Bồ tát độ khắp chúng sanh thì Bồ tát này gọi là trước tu Chỉ, giữa tu Thiền và sau tu Quán.

8. Trước tu Định, sau đồng thời tu Huệ và Định Huệ song tu:

 

Nếu những vị Bồ tát dùng sức rất lặng lẽ, tâm đoạn phiền não, sau lại độ chúng sanh dựng lập thế giới, thì Bồ tát này trước tu Chỉ, đồng thời tu Quán và Thiền.

9. Trước đồng thời tu Định và Huệ, sau Định Huệ song tu:

Nếu những vị Bồ tát do sức rất lặng lẽ, phát ra các biến hóa, sau mới đoạn phiền não, Bồ tát này gọi là đồng tu Chỉ quán, và sau tu Thiền.

10. Trước đồng thời tu Định và Định Huệ song tu, sau tu Huệ:

Nếu những vị Bồ tát dùng sức thật lặng lẽ giúp cho sự tịch diệt, sau khởi ra tác dụng biến hóa thế giới, Bồ tát này gọi là đồng thời tu Chỉ và Thiền, sau mới tu Quán.

11.            Trước tu Huệ, sau tu Định:

 

Nếu các vị Bồ tát dùng sức biến hóa các thứ tùy thuận mà giữ thật lặng lẽ, Bồ tát này gọi là trước tu Quán, sau tu Chỉ.

12.            Trước tu Huệ, sau Định Huệ song tu:

 

Nếu các vị Bồ tát dùng sức biến hóa các thứ cảnh giới mà giữ cái tịch diệt, Bồ tát này gọi là trước tu Quán, sau tu Thiền.

13.            Trước tu Huệ, thứ tu Định, sau Định Huệ song tu:

 

Nếu các vị Bồ tát dùng sức biến hóa mà làm các Phật sự, an trụ chỗ lặng lẽ mà đoạn trừ phiền não, Bồ tát này gọi là trước tu Quán, giữa tu Chỉ, và sau tu Thiền.

14. Trước tu Huệ, kế Định Huệ đồng thời tu, sau tu Định:

        Nếu các vị Bồ tát dùng sức biến hóa các tác dụng vô ngại đoạn các phiền não rồi an trụ chỗ lặng lẽ, những Bồ tát này gọi là trước tu Quán, giữ tu Thiền, sau tu Chỉ.

15. Trước tu Huệ, sau đồng thời tu Định và Định Huệ song tu:

 

Nếu những vị Bồ tát dùng sức biến hóa làm phương tiện để tác dụng đến chỗ thật lặng lẽ tịch diệt, hai các tùy thuận, Bồ tát này gọi là trước tu Quán, đồng thời tu Chỉ và Thiền.

16. Trước đồng thời tu Huệ và Định, sau tu Thiền na:

Nếu những vị Bồ tát dùng sức biến hóa khởi các thứ tác dụng giúp cho đến chỗ lặng lẽ, sau mới đoạn phiền não, Bồ tát này gọi là đồng thời tu Quán và Chỉ, sau mới tu Thiền.

17. Trước đồng thời tu Huệ và Định Huệ song tu, sau tu Định:

Nếu các vị Bồ tát dùng sức biến hóa giúp cho được tịch diệt rồi sau, trụ chỗ thanh tịnh mà không khởi tịnh sự (suy nghĩ trong cái yên lặng), Bồ tát này gọi là đồng tu quán Thiền, sau mới tu Chỉ.

18.            Trước tu Định Huệ song tu, sau tu Định:

 

Nếu các vị Bồ tát do sức tịch diệt mà khởi ra cái thật lặng lẽ rồi ở chỗ thanh tịnh Bồ tát này gọi là trước tu Thiền, sau mới tu Chỉ.

19.            Trước Định Huệ song tu, sau tu Huệ:

 

Nếu những vị Bồ tát do sức tịch diệt mà khởi tác dụng ở trong tất cả cảnh lặng lẽ đó mà khởi dụng tùy thuận, Bồ tát này gọi là trước tu Thiền, sau mới tu Quán.

20.            Trước Định Huệ song tu, kế tu Định, sau tu Huệ:

 

Nếu những vị Bồ tát do sức thật lặng lẽ, các thứ tự tánh an ở nơi tịnh lự mà khởi biến hóa, Bồ tát này gọi là trước tu Thiền, giữa tu Chỉ, rồi sau tu Quán.

21.            Trước Định Huệ song tu, kế tu Huệ, sau tu Định:

 

Nếu những vị Bồ tát do sức tịch diệt từ vô tác tự tánh mà khởi ra tác dụng trong cảnh giới thanh tịnh trở về nơi tịnh lự, Bồ tát này gọi là trước tu Thiền, giữa tu Quán, sau tu Chỉ.

22.            Trước tu Thiền na, sau đồng thời tu Định Huệ:

 

Nếu những vị Bồ tát dùng sức tịch diệt, các thứ thanh tịnh mà trụ ở chỗ tịnh lự, rồi khởi biến hóa, Bồ tát này gọi là trước tu Thiền, đồng thời tu Chỉ và Quán.

23.            Trước đồng thời tu Thiền na và tu Định, sau tu Huệ:

 

Nếu những vị Bồ tát dùng sức tịch diệt giúp cho rất lặng lẽ mà khởi biến hóa, Bồ tát này gọi là đồng thời tu Thiền và Chỉ, sau mới tu Quán.

24.            Trước đồng thời tu Thiền na và Huệ, sau tu Định:

 

Nếu những vị Bồ tát dùng sức tịch diệt giúp cho sự biến hóa mà khởi lên sự rất lặng lẽ, cảnh giới trí huệ thanh tịnh trong sáng, Bồ tát này gọi là đồng thời tu Thiền và Quán, sau mới tu Chỉ.

25.            Bồ tát viên tu ba pháp:

 

Nếu các vị Bồ tát do các huệ Viên giác được tròn đầy, hợp với tất cả, đối với các tánh tướng không lìa tánh giác. Bồ tát nầy gọi là tròn tu ba thứ tự tánh thanh tịnh tùy thuận.

Đây là bậc Bồ tát Viên giác Tam quán. Chính là Tam quán nhất tâm, một niệm đầy đủ nghĩa là ban đầu có nói: “Viên chiếu thanh tịnh giác tướng”. “Viên giác được tròn đầy” tức là “Viên chiếu tất cả” thì bao hàm mười pháp giới, đối với các tánh tướng không lìa tánh giác, tức là thanh tịnh giác tướng. Nhân địa bổn khởi (ban đầu) của chư Phật chỉ một tâm viên chiếu pháp giới, mà làm diệu hạnh. Thế nên 25 luân rốt cùng đều qui hướng về ý này, để hiển bày nhất quán là viên tu 24 luân này đều tùy theo căn cơ vậy.

Nầy Thiện nam tử! Ấy gọi là 25 luân của Bồ tát. Tất cả Bồ tát nên như thế tu hành. Nếu các Bồ tát và những chúng sanh đời sau y nơi những luân này mà giữ gìn phạm hạnh, lặng lẽ tư duy, thành tâm sám hối trải qua 21 ngày, nơi 25 luân này mỗi cái ghi ra rồi để trên bàn, chí tâm cầu nguyện rồi tay bốc một thăm. Tùy theo cái thăm đó mà mở ra, liền biết mình căn cơ đốn hay tiệm. Nếu còn một niệm nghi thì chẳng thành tựu.

Đoạn này là tóm kết khuyên tu, phải giữ gìn phạm hạnh, nghĩa là nhân giới sanh định, tức là ba loại tiệm thứ trong kinh Lăng Nghiêm. Chính là căn bản nhập Thiền trước phải lặng lẽ tư duy sám hối, tức là quán tội tánh vốn không, nghĩa là nếu người muốn sám hối ngồi ngay thẳng mà niệm thật tướng, chí tâm cầu nguyện kết quả nêu bày, để chiêm nghiệm căn cơ của mình đốn hay tiệm. Đây chính lá mỗi mỗi Thánh thần dùng sức gia trì để khởi lên lòng tin quyết định.

Khi ấy Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

            Biện Âm thầy nên biết

          Tất cả các Bồ tát

          Vô ngại Huệ thanh tịnh

          Đều y Thiền định sanh

         Ấy là Xa ma tha

          Tam ma đề, Thiền na

          Đốn tiệm tu ba pháp

          Có hai mươi lăm loại

          Mười phương Đức Như Lai

          Người ba đời tu hành

          Thảy đều nhân pháp này

          Mà được thành giác đạo

            Chỉ trừ người đốn giác

          Với pháp không tùy thuận.

 

Hai mươi lăm luân đều là nhân hạnh của Bồ tát tụng nói: “Mười phương Đức Như Lai” ý là nêu bày cái quả thú hướng. Đây chính là “Nhân địa pháp hành của Như Lai”. Người đốn giác trực chỉ thì chẳng cần tiệm thứ với pháp chẳng tùy thuận, còn kẻ xiển đề chẳng tin thì tiệm cũng chẳng có thể vào.

          Tất cả các Bồ tát

          Và chúng sanh đời mạt

          Thường phải theo luân này

          Tùy thuận siêng tu tập

          Nhờ sức đại bi Phật

          Mau chứng được Niết Bàn

Đoạn này là Đức Phật tóm kết khuyến tu.

 

 

 

 

                         

 

 

   X. CHƯƠNG TỊNH CHƯ NGHIỆP CHƯỚNG:

1. Ngài Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ tát hỏi Phật:

 

Khi ấy Bồ tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng ở trong đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu bên phải Phật ba vòng, quỳ gối chấp tay bạch Phật rằng:

Đoạn này là nói về oai nghi thưa thỉnh pháp yếu.

Đức Thế Tôn đại bi! Vì bọn chúng con rộng nói việc bất tư nghì như thế, tất cả hành tướng nhơn địa của Như Lai, khiến cho đại chúng được điều chưa từng có. Xem thấy Đấng Điều Ngự trải qua nhiều kiếp như số cát sông Hằng, cảnh giới siêng năng cần khổ tất cả các dụng công ví như trong một niệm, Bồ tát chúng con thân tâm tự thích thú.

Đoạn này nói về Bồ tát nghe thân tâm tự thích thú, nghĩa là từ nhất tâm kiến lập các định luân. Đây chính là “Nhân địa pháp hành của chư Phật”.

Cảnh giới siêng năng cần khổ như trong một niệm mà thấy đầy đủ nên thân tâm tự thích thú.

Bạch Thế Tôn! Nếu cái giác tâm này bản tánh thanh tịnh tại sao nó nhiễm ô, khiến cho chúng sanh mê muội chẳng vào được?

Đoạn này chính là phần thưa hỏi.

Chương trên Phật nói: “Tất cả Viên giác thanh tịnh của Như Lai vốn không tu tập”. Song thanh tịnh thì xưa nay không ô nhiễm, nay nhân đâu mà có ô nhiễm lại cần tu tập.

Cúi mong Đức Như Lai rộng vì chúng con khai ngộ được pháp tánh, khiến cho đại chúng ở đây và những chúng sanh đời sau làm con mắt cho kẻ tương lai

Đoạn này là nói về ý thưa thỉnh.

Thưa lời đây rồi, năm vóc gieo sát xuống đất, thưa thỉnh như vậy trước sau ba lần.

Đoạn này là nói về Bồ tát thành khẩn cầu pháp.

2. Phật khen ngài Tịnh Chư Nghiệp Chướng:

 

Khi ấy Đức Thế Tôn mới bảo Bồ tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng rằng: “Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Các ông mới hay vì đại chúng và những chúng sanh đời sau thưa hỏi Như Lai phương tiện như thế. Nay ông lắng nghe ta sẽ vì ông nói”.

Đoạn này là Đức Phật hoan hỷ hứa khả truyền dạy pháp yếu.

Khi ấy Bồ tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng vâng dạy hoan hỷ và các đại chúng lặng lẽ lắng nghe.

Đoạn này nói về tất cả đại chúng, dừng các tự niệm yên lặng mà lắng nghe pháp âm Đức Phật.

3. Phật trả lời do chúng sanh vọng chấp bốn tướng:

 

Phật bảo:

Nầy Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay do vọng chấp có ngã, có nhơn, có chúng sanh, có thọ giả (thọ mạng), nhận bốn thứ điên đảo làm cái ngã thật, do đây liền sanh hai cảnh yêu ghét, đối với cái thể hư dối này lại thêm một lớp chấp hư dối. Hai cái hư dối này nương nhau mà sanh ra các vọng nghiệp đạo. Bởi vì có cái vọng nghiệp cho nên có cái vọng kiến lưu chuyển. Do chán cái lưu chuyển cho nên vọng thấy có Niết bàn.

Đoạn này là phần chính yếu Đức Phật đáp do đâu mà có cái nhiễm ô. Vì tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay, vọng tưởng chấp có ngã, có nhơn,có chúng sanh, có thọ mạng.

Đây chính là phần đầu có nói: “Vọng nhận bốn đại làm tướng của tự thân, sáu trần duyên bóng làm tướng của tự tâm”, do các chúng sanh ban đầu bất giác, mê cái bổn nguyên pháp thân, nênvọng nhận năm ấm huyễn vọng thân tâm làm cái thể thật ngã. Nên gọi là “Ngã tướng”.

Chấp ngã xoay chuyển hướng đến dư thú nên gọi là “Nhơn tướng”.

Chấp ngã nhận lấy buồn vui, sướng khổ, biến dị (dời đổi) tương tục nên gọi là: “Chúng sanh tướng”.

Chấp có mạng căn một thời chẳng đoạn nên gọi là “Tướng thọ giả”.

Do chẳng đạt đến chỗ vô ngã nên chấp vọng làm chơn nên nói là “Điên đảo”. Song chấp hư vọng làm ngã, ấy là điên đảo. Vả lại đối với vọng ngã này khởi tâm thương ghét nên nói là “Lại thêm một lớp chấp hư dối” do đây mà khởi ra cảm hoặc, hai cái tướng hư dối này nương nhau, mà tạo ra các thứ nghiệp tập nên nói là “Sanh ra cái vọng nghiệp đạo”.

Đây gọi là tạo nghiệp nên có vọng nghiệp, ắt hẳn là thọ lãnh cái quả báo khổ nạn trong vòng sống chết. Cái quả khổ này cảm lấy ba đường khổ nạn (Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh) đều nhân nơi vọng nhận ngã chấp. Do nhận ba cõi luân hồi nên nói là “Lưu chuyển”. Đây gọi là “Phần đoạn sanh tử”.

Như hàng Nhị thừa chán cái khổ sanh tử, dứt hẳn cái tập phiền não, vượt thoát Tam giới (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới) lại vọng thấy có Niết bàn nên nhận lấy khổ “Biến dịch sanh tử” đều do chấp ngã mà ra, nên nói: “Từ đây thuận tiện mà sanh” v.v… Song bốn tướng này có phần thô tế mê thức và mê trí, người thô mê thức chính là hạng phàm phu vọng nhận năm uẩn làm ngã, vọng sanh thương ghét. Đây là phần trước kinh Kim Cang nói rõ vậy. Người tế mê trí chính là tất cả Thánh hiền vọng có chứng đắc, năng sở chưa quên, nói cái chỗ tế này là phần sau kinh Kim Cang nói rõ vậy.

Hai thứ ngã chấp thô tế trong đây đều thuộc về “Câu sanh”, chúng sanh trong kinh này ý là bao hàm chín cõi (Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, Trời, Người, A Tu La, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát). Trong đây trước là nêu lên bốn tướng của phàm phu, để hiển bày bốn tướng của ba thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát). Vì bốn tướng của phàm phu do thương ghét mà có, bốn tướng của ba thừa do thủ chứng mà có, do thủ chứng mà phát khởi ái căn chủng tử nên phàm thánh cả hai đều nêu bày.

Do đây mà không thể vào được tánh giác thanh tịnh, chẳng phải tánh giác nầy chống cản không cho chúng sanh vào.Có các người hay nhập không phải là giác nhập. Thế nên động niệm cùng với dứt niệm đều trở về mê muội.

Đoạn này là phần chánh yếu Đức Phật đáp sở dĩ không thể vào được tánh giác. Do phần trên có nói do vọng chấp ngã nên nhiễm ô chơn tánh, từ đây chẳng có thể vào được tánh giác thanh tịnh, chẳng phải tánh giác này chống cản không cho người vào. Vì chấp ngã không thể vào được tánh giác nên nói: “Có các người hay nhập, không phải là giác nhập”, nếu do giác nhập giác thì như hư không hiệp với hư không, lại đâu mà có chống cản, do ngã chấp chưa quên nên phàm phu thì động niệm, hàng Nhị thừa thì dứt niệm đều trở về mê muội.

Vì cớ sao? Do vô minh bản khởi từ vô thỉ làm chủ tể của mình.

Đoạn này là giải thích rõ cội gốc của sự mê muội, bản khởi vô minh nghĩa là ban đầu một niệm bất giác sanh ra các tướng vô minh nên mê cái gốc pháp thân, thành Đà na thức làm cái cội rễ ngã tướng.Từ đây đều là việc dụng vô minh (trong sự giao tiếp hằng ngày đều nằm trong vô minh) nên nói: "Làm chủ tể của mình”. Ngã nghĩa là “Chủ tể” nghĩa là từ vô thỉ đến nay, một bề đều là vô minh làm chủ tể. Ấy là ngã tướng, từ bậc đẳng giác lại chưa phá sanh tướng vô minh, dị thục chưa thông suốt đều thuộc vềngã tướng. Song ngã tướng này cùng với các kinh giáo chỗ nói chẳng đồng văn sau tự rõ.

Nên tất cả chúng sanh sanh ra không có con mắt trí huệ, thân, tâm v.v.. bản tánh nó đều là vô minh. Ví như có người không thể tự giết mình.

Đoạn này là điểm trọng yếu giải thích về hành tướng  vô thỉ vô minh, sở dĩ đến nay khó mà đoạn trừ, nghĩa là toàn thể vô minh biến thành thân tâm năm uẩn. Song cội gốc vô minh này, chẳng phải cội gốc trí chiếu chẳng có thể phá, do các chúng sanh từ xưa đến nay chưa gặp thiện tri thức khai phát con mắt trí huệ chiếu phá. Há lại có lý nào vô minh hay đoạn vô minh nên nói: “Ví như có người không thể tự giết mình”.

Thế nên biết có cái ngã ái thì ngã cùng với nó tùy thuận, còn nếu không tùy thuận liền sanh ra oán ghét. Vì yêu ghét nuôi lớn vô minh, nên tiếp nối để cầu đạo đều không thể thành tựu.

Đoạn này nói rõ sở dĩ có cái vô minh tiếp nối muôn kiếp, nghĩa là vô minh tiếp nối này muôn kiếp mà khó đoạn, do có hai cái cảm hoặc thương ghét để tưới tẩm nó. Vì có chấp ngã thì nghiêng về ái ngã, nếu có ái ngã thì lại tăng trưởng ái kiến ngã. Nếu mà trái nghịch cái ngã ắt là sanh ra oán ghét này cũng đều từ ái mà khởi, do chẳng tùy thuận ái đó liền sanh ra oán ghét. Vì yêu ghét này nuôi lớn chủng tử vô minh phát khởi hiện hành, nên đời đời kiếp kiếp thương ghét vô minh ngày càng sâu đậm. Vì thế mà con đường sanh tử cứ tiếp nối mãi mãi. Nay lấy cái tâm thương ghét mà cầu Phật đạo, thì đâu có lý nào mà thành tựu đạo nghiệp. Nên nói: “Đều chẳng thành tựu”.

4. Phật nói về bốn tướng:      

a. Ngã tướng:

Nầy Thiện nam tử! Thế nào là Ngã tướng? Nghĩa là các chúng sanh trong tâm có sở chứng.

Đoạn này chính là khai thị thể của ngã tướng.

Bốn tướng ngã này… khi xưa biện giải đều có phần thô tế. Nay xét tường về ý Phật (chăm chú rõ ràng) chỉ ra cái vô thỉ vô minh làm chủ tể của mình, ấy là “Ngã thể”. Thế thì bốn tướng này riêng là sanh tướng vô minh, nay do quán chiếu nghiền ngẫm cùng cực đối trị chưa quên nên lần lượt có bốn. Vốn chẳng phải là phần thô tế làm sao mà rõ nó? Nghĩa là “Diệu tánh viên minh” vốn không năng sở, bởi do một niệm ban đầu bất giác nên che lấp cái diệu tánh này, mất đi cái gốc sáng suốt nên gọi là “Vô minh”.

Từ nay trở đi một bề đều là vô minh làm chủ tể mình, mà nhận làm ngã thể. Nay dùng thể giác quán chiếu muốn chứng nhập Viên giác, mà chưa có thể tròn đầy, khoảng này đều nhân cái cội gốc vô minh mà làm chướng ngại nên đối đãi chưa quên, tức là người này Sở đối và Sở chứng chính là “Vô minh” chẳng phải là “Tánh giác”. Nên nói “Tâm có sở chứng”. Đây chính là “Ngã tướng”.

Chiếu cố theo đây thì ban đầu khởi vô minh làm ngã đâu có phần thô tế.

Ngài Vĩnh Gia nói: “Một niệm trong năm ấm”. Đây chính là ý này vậy. Người trí xin hãy sâu sắc mà quán sát nó.

Nầy Thiện nam tử! Như có người toàn thân an ổn chợt như quên mất thân mình. Tay chân thư thả nhưng trong sự điều dưỡng trục trặc, bỗng có sự châm chích nhỏ nhặt liền biết có ngã. Cho nên có cái chứng thủ liền hiện ra cái ngã thể.

Đoạn này là lấy cái ví dụ để làm sáng tỏ về ngã tướng nghĩa là chúng sanh đều hướng đến cái việc dụng vô minh, mà chẳng biết có ngã hồn nhiên mà thôi, nên như người toàn thân an ổn chợt quên mất thân mình. Nay do sức quán chiếu nghiền ngẫm cùng cực mới hiển bày cái thể vô minh. Cho nên dụ như người bị sự châm chích liền biết có ngã, thế nên tâm quán thủ chứng chính là “Vô minh” chẳng phải là “Giác tánh”. Nên nói: “Có cái chứng thủ liền hiện ra cái ngã thể”

Phần trước Phật có nói rõ vô thỉ vô minh làm chủ tể của mình. Chính là nêu bày cái cội gốc vô minh là ngã. Đâu có thể dùng thô hoặc mà xem nó.

Phần dưới là tóm kết nêu bày.

Nầy Thiện nam tử! Cái tâm kia cho đến chứng được Như Lai cứu kính rõ biết cái thanh tịnh Niết bàn, đều là tướng ngã.

Đoạn này là nêu bày tóm kết về cội gốc ngã tướng.

Ý nghĩa là chẳng riêng bậc Tam hiền Thập thánh lấy sở chứng làm ngã, cho đến rõ biết cái thanh tịnh Niết bàn, nếu còn một niệm chứng tánh chưa quên, thì cái sanh tướng vô minh chưa phá. Đây chính là cội gốc ngã tướng.

Thiền sư Vân Môn nói: “Pháp thân cũng có hai loại bệnh, được đến bờ pháp thân, nếu chấp phá chẳng quên, cái thấy của mình vẫn còn cũng là bệnh”.

Hỏi rằng: - Trong Tam Thừa Giáo nói: “Câu sanh ngã chấp thất địa và bát địa đó đã phá”. Sau là câu sanh pháp chấp phá cái pháp chấp này tức là thể nhập phần diệu giác. Nay trải qua phần đẳng giác sau tâm vẫn chưa phá phần ngã tướng. Sao mà chênh lệch nhau như thế?

Đáp rằng: - Hai cái chấp ngã và pháp đều thuộc về một ngã nghĩa là ngã của ngã, pháp của ngã. Song câu sanh pháp chấp chính là ngã pháp chấp, nên pháp cũng gọi là ngã, do dị thục chưa thông suốt chỉ thủ chứng làm ngã. Kinh này chẳng đồng các kinh khác nói, vì bốn tướng đều thuộc một ngã nên nói: “Đều là ngã tướng”

b. Nhơn tướng:

Nầy Thiện nam tử! Thế nào là Nhơn tướng? Nghĩa là chúng sanh trong tâm còn thấy có chứng ngộ. Nầy Thiện nam tử! Ngộ là có ngã. Không lại nhận ngã, chỗ ngộ đó chẳng phải ngã, ngộ cũng như thế. Ngộ rồi vượt hơn tất cả chứng, thảy đều là nhơn tướng.

Đoạn này là chỉ bày về nhơn tướng nghĩa là phần trước nói sở chứng là ngã thì chẳng lại nhận ngã, nếu tâm còn cái ngã năng ngộ tức là nhơn tướng. Vì đối với ngã làm nhơn, chẳng phải là tha nhơn.

Thiện nam tử! Tâm kia cho đến viên ngộ được Niết bàn đều là ngã. Tâm còn có một chút ít ngộ, đầy đủ chứng lý, đều gọi là nhơn tướng.

Đoạn này là giải thích về nhơn tướng nghĩa là mặc dù ngộ được Niết bàn là ngã chẳng tự thủ chứng, tức là tâm năng ngộ này. Đều gọi là nhơn tướng nghĩa là liễu ngộ cái lý Niết bàn cực tận làm ngã, nếu còn chút ít mảy may tâm ngộ chưa quên tức gọi là nhơn tướng:

c. Chúng sanh tướng:

Nầy Thiện nam tử! Thế nào là Chúng sanh tướng? Nghĩa là các chúng sanh tâm tự chứng ngộ chỗ không thể đến được.

Đoạn này là chỉ bày chúng sanh tướng nghĩa là phần trước giác chứng ngộ cả hai đều là vọng, tức là cái tâm giác liễu nầy .Gọi là chúng sanh tướng, vì tâm giác liễu này, chẳng phải chứng ngộ không thể đến được. Do thấy có chứng ngộ có thể lìa, nên gọi là chúng sanh tướng.

Nầy Thiện nam tử! Thí như có người nói như thế nầy: “Tôi là chúng sanh”, thì biết người kia nói chúng sanh đó không phải ngã, cũng không phải bỉ, tức là không phải ta, không phải kia.

Thế nào là không phải ngã? Vì tôi là chúng sanh thì không phải là ngã. Thế nào là không phải kia? Tôi là chúng sanh cho nên không phải người kia.

Đoạn này là mượn thí dụ để làm sáng tỏ chúng sanh tướng.

Do chúng sanh tướng của phàm phu, bên chấp ngã cảm hoặc khổ vui đời đổi tiếp nối. Gọi là chúng sanh tướng.

Nay Thánh nhân, chỉ do liễu ngộ chứng thủ, năng sở cả hai đều quên, chỉ còn tâm năng liễu. Gọi là chúng sanh tướng.

Do chẳng thuộc năng sở nên mượn thế nhơn nói kia đây, để thí dụ làm sáng tỏ việc này, nghĩa là nói ngã là chúng sanh nên không phải ta không phải kia.

d. Thọ mạng tướng:

Nầy Thiện nam tử! Thế nào là Thọ mạng tướng? Nghĩa là các chúng sanh tâm chiếu thanh tịnh, đã được cái sở liễu, tất cả các nghiệp trí không thể tự thấy, ví như là mạng căn.

Đoạn này là chỉ bày Thọ mạng tướng.

Nghĩa là phần trước tâm năng liễu gọi là Chúng sanh tướng. Nay trí quán tăng rõ chiếu phá tâm năng liễu nầy, cũng chẳng có thể được chỉ một tâm thanh tịnh giác thể, nghĩa là nguồn cội của giác tâm nên gọi là “Cứu cánh giác”. Đến đây thì cảnh trí cả hai đều quên, tất cả đều lìa nghĩa là vì trí tức tâm lại chiếu cái thể tịch diệt, cảnh trí nhất như, ví như mắt chẳng thể thấy mắt. Nên nói: “Tất cả các nghiệp trí không thể tự thấy”, do phản vọng qui chơn đến cái chỗ cực tắc của pháp thân, chỉ trụ giữ ở chỗ vắng lặng không có thể “Chuyển vị hồi cơ” nghĩa là ôm giữ đầu sào chìm lặng vào chỗ nước chết. Thiền Tông gọi là: “Rơi vào chỗ tôn quý” tức là chỗ rơi này chẳng thể vượt thoát nên nói: “ví như là mạng căn”. Ấy gọi là Thọ mạng tướng.

Lời rằng:

          Đầu sào trăm thước ngồi chót vót

          Tuy thấy mà nào thấy được chân

          Ví dám đầu sào thêm bước nữa

          Mười phương thế giới hiện toàn thân.

 

          Bách xích can đầu tra đích nhân

Tuy nhiên đắc kiến vị vi nhân

Bách xích can đầu tiến nhất bộ

          Tam thiên thế giới hiện toàn thân.

Cho nên do ngồi ôm giữ cái chỗ huyễn vi nên mạng căn chẳng đoạn. Phần trước có nói: “Chẳng trụ sanh tử, chẳng trụ Niết bàn”. Đây chính là hành tướng trụ vào cảnh giới Niết Bàn.

5. Vì không rời được bốn tướng nên tu chẳng thành Phật:

 

Nầy Thiện nam tử! Tâm chiếu kiến soi tất cả cái giác đều là trần cấu, năng giác và sở giác chẳng lìa nơi trần. Như nước nóng mà chế trên băng, không riêng có băng biết băng tiêu. Còn ngã giác cũng lại như thế.

Đoạn là chỉ thẳng nguồn gốc của vọng.

Tất cả cái giác của ba tướng trước nghĩa là tâm chiếu giác thanh tịnh của ba tướng trước đều là trần cấu, tức là giác tâm nầy cũng chưa lìa trần. Song do chơn chiếu vọng, vọng tức là chơn. Nên như nước nóng mà chế trên băng, băng tức là nước nóng. Nay còn ngã giác, ngã thì như băng biết băng do chẳng hay tự sai khiến, ví như chẳng tự đoạn mạng. Cho nên gọi là Thọ giả tướng.

Nầy Thiện nam tử! Chúng sanh đời sau không rõ bốn tướng, tuy trải qua nhiều kiếp siêng năng cần khổ tu hành mà chỉ gọi là hữu vi, trọn không thành tựu được tất cả thánh quả cho nên gọi là Chánh pháp trong thời mạt thế.

Đoạn này giải thích rõ ngã là cái gốc làm chướng đạo nghĩa là chúng sanh đời sau, nếu chẳng rõ bốn tướng nầy, tuy trải qua nhiều kiếp siêng năng cần khổ tu hành, trọn chẳng có thể thành Thánh quả. Vì cớ sao? Vì chấp lấy Ngã tướng mà tu.

Chánh pháp trong thời mạt nghĩa là chúng sanh trong đời sau, mới gặp pháp môn viên giáo này. Có thể gọi là “Chánh pháp”, nếu tu tập sai lầm cùng người chẳng tu nên không có hạnh chứng. Cho nên gọi là thời mạt pháp. Trong pháp Đức Thích Ca, chánh pháp một ngàn năm giáo lý hạnh quả bốn pháp đều trọn đủ. Tượng pháp một ngàn năm có giáo lý hành, mà người chứng quả thì rất ít. Mạt pháp một muôn năm, chỉ có giáo lý, mà không có hành chứng. Nay giáo lý tuy còn, mà người nhọc nhằn tu hành không có lợi ích thì rất nhiều.

Vì cớ sao? Vì nhận cái ngã làm Niết bàn. Có chứng ngộ gọi là thành tựu. Ví như có người nhận giặc làm con thì gia bảo của họ trọn chẳng thành tựu.

Đoạn này là giải thích người tu không chứng quả vị, vì nhận tất cả ngã làm Niết bàn, do sự chứng ngộ chưa quên được chút ít cho là đủ, nên nói “Nhận tất cả ngã” nghĩa là phàm chỗ tu hành đều y nơi ngã kiến, đem cái ngã kiến này cho là Niết bàn nên trọn chẳng thanh tựu.

Đây thì ví như có người nhận giặc làm con trọn chẳng thành tựu.        

6. Thương ghét là gốc luân hồi sanh tử:

 

Vì cớ sao? Vì ái ngã cũng là ái Niết bàn. Nếu dẹp được cái gốc ngã ái là tướng Niết bàn. Có ghét ngã cũng là ghét sanh tử. Không biết ái thật là gốc sanh tử, riêng ghét sanh tử cũng gọi là chẳng giải thoát.

Đoạn này là giải thích sở dĩ nhận ngã làm ngại đạo nghiệp.

Vì ngã là cội gốc thương ghét nghĩa là phàm chấp ngã ắt hẳn là ái ngã. Nay đem ngã ái mà cầu Niết bàn, thì Niết bàn chỉ là vốn liếng ái căn, chẳng phải là chơn Niết bàn (Niết bàn chơn thật), nên nói: “Nếu dẹp được cái gốc ngã ái là tướng Niết bàn”, nên không phải là chơn.

Phàm chẳng thuận ngã ái, ắt là khởi tâm ghét, do có ghét ngã cũng ghét sanh tử. Song cái tâm ghét này vốn từ ái mà khởi, chẳng biết cái ái này, thật là gốc sanh tử nên nay người tu hành, chẳng biết đoạn ái căn, mà riêng ghét sanh tử rất là mê lầm nó, nên chẳng giải thoát. Song nói nhận ngã làm chướng ngại đạo, đều do ái làm tư lương ái.

Thế nào nên biết pháp không giải thoát?

Đoạn này là nói rõ thế nào nên biết ái Niết bàn vốn là pháp giải thoát, vì sao trở lại chẳng giải thoát.

Nầy Thiện nam tử! Những chúng sanh đời sau kia, người tu tập Bồ đề do đã chứng vi tế cho là tự thanh tịnh mà vẫn chưa dứt sạch cội gốc của ngã tướng.

Đoạn này là giải thích nghĩa văn sở dĩ đối với pháp Niết bàn mà chẳng được giải thoát. Vì còn chấp ngã mà cầu do thủ chứng vi tế cho là tự thanh tịnh, được chút ít cho là đủ mà vẫn chưa dứt sạch cội gốc của ngã tướng, nên chẳng giải thoát.

7. Phật chỉ Ngã tướng ẩn nấp trong tàng thức:

 

Nếu lại có người khen ngợi cái pháp của họ tu, họ liền sanh hoan hỷ muốn độ người đó. Nếu lại chê bai cái chỗ sở đắc của họ, họ liền sanh sân hận ắt biết cái Ngã tướng cố chấp một cách bền chắc, ẩn náu nơi tàng thức một cách chắc chắn và nó đang dạo chơi nơi các căn từng không có khi nào gián đoạn.

Đoạn này là nói rõ, do hai cảnh nghịch thuận, để nghiệm về cái ngã tướng chưa quên.

Nói người tu hành nghĩa là tự đã được pháp Niết bàn, giả như có người khen ngợi các pháp của họ tu, họ liền sanh tâm hoan hỷ. Nếu lại chê bai cái pháp của họ tu, thì sanh tâm sân hận. Song Niết bàn chính là pháp rỗng, đâu có hỷ nộ ở khoảng nầy. Nay nghe khen ngợi, chê bai mà sanh tâm hỷ nộ, hỷ nộ này vốn là ngã tướng, chẳng phải là Niết bàn. Do đây nghiệm biết người này cái ngã tướng cố chấp bền chắc, do cái chủng tử này ẩn náu nơi tàng thức, nếu gặp cảnh thì kích phát hiện hành, và nó đang dạo chơi các căn từng không có khi nào gián đoạn, đem đây mà cầu đạo nên nói: “Sao mà được giải thoát”.

Nầy Thiện nam tử! Những người tu hành kia chẳng trừ được ngã tướng nên chẳng vào được tánh Viên giác thanh tịnh.

Đoạn này là tóm kết cái lỗi đem chấp ngã mà cầu đại đạo.

Nầy Thiện nam tử! Biết cái ngã không mà không huỷ hoại cái ngã, có ngã nói pháp vì cái ngã chưa đoạn. Chúng sanh thọ mạng cũng lại như thế.

Đoạn này mà đem pháp trắc nghiệm bệnh, qua lại để hiển bày ngã tướng chưa quên.

Song Niết bàn chính là pháp rỗng. Nếu quả chứng Niết bàn thì ngã tướng ắt không, ngã tướng nếu không, thì đâu có sự khen chê hay huỷ nhục ư! Nay nhân khen chê hoặc huỷ nhục pháp mình mà sanh tâm hoan hỷ hay sân hận. Đây chính là ngã tướng chưa trừ, thì bốn tướng Ngã - Nhơn - Chúng sanh - Thọ mạng vẫn còn tồn tại.

Như đây chính là bệnh căn chúng sanh, lại đâu có thể mà được Niết bàn.

Văn dưới là chỉ bày nguồn gốc của bệnh.

Nầy Thiện nam tử! Những chúng sanh đời sau nói bệnh làm pháp, thế nên gọi là đáng thương xót vậy.

Tuy siêng năng tinh tấn mà tăng trưởng các bệnh, thế nên không thể nào vào được tánh Viên giác.

Đoạn này chính là chỗ chỉ bày nguồn gốc của bệnh.

Nghĩa là người tu hành đời sau chưa đoạn được ngã tướng, nên nhận ngã làm pháp. Do đó nói chính là nói về cái bệnh ngã tướng nầy, chẳng phải nói pháp Niết bàn. Nên nói: “Nói bệnh làm pháp”.

Vì thế tuy siêng năng tinh tấn tu hành, mà chỉ tăng thêm các bệnh, nên chẳng có thể vào được tánh Viêngiác

 thanh tịnh. Thế nên gọi là: “Đáng thương xót vậy”.

Văn dưới là chỉ bày cái lỗi chấp bệnh.

Nầy Thiện nam tử! Những chúng sanh đời sau không rõ bốn tướng, lấy cái hiểu và chỗ hành xưa của Như Lai làm sự tu hành thì trọn không thể thành tựu.

Đoạn này là chỉ bày cái lỗi chấp bệnh làm pháp.

Nghĩa là người tu hành chẳng rõ bốn tướng, chỉ lấy hạnh giải xưa của Như Lai làm sự tu hành, chẳng phải là thân chứng của mình nên trọn chẳng thành tựu.

Hoặc có chúng sanh chưa được mà nói được, chưa chứng mà nói chứng, thấy người hơn mình mà sanh tâm tật đố. Do chúng sanh kia chưa đoạn dứt được ái ngã cho nên không thể vào được tánh Viên giác thanh tịnh.

Đoạn này là chỉ bày cái lỗi chấp bệnh, hẳn là rơi vào hạng tăng thượng mạn. Kỳ thật chưa được, chưa chứng, mà tự nói là được là chứng, được chút ít cho là đủ nên gọi là tăng thượng mạn. Đây chính là ngã ái chưa đoạn. Vì sao mà biết, chỉ thấy người hơn mình thì sanh tâm tật đố.

Song cái tâm tật đố này, phát xuất từ nơi ngã ái nên

 biết người này chính là chưa đoạn được ngã ái. Thế nên không thể vào được tánh Viên giác thanh tịnh. Đây là đáng nói ngã ái làm cội gốc bệnh.

Nầy Thiện nam tử! Chúng sanh đời sau hy vọng thành đạo chẳng cầu giác ngộ chỉ tăng thêm đa văn làm tăng trưởng ngã kiến.

Đoạn này rất thành thật phòng ngừa sự quấy.

Nghĩa là phần trên người chấp bệnh làm pháp, do đó bốn tướng chưa trừ, chỉ là một việc đem tâm đợi ngộ. Ấy là bệnh căn nếu có đem tâm đợi ngộ thì ắt hẳn là rộng cầu kinh giáo, chấp lời nói tương tợ trở lại làm diệu giải của mình, thế nên chỉ làm tăng thêm đa văn, làm tăng trưởng ngã kiến, chẳng phải bậc chơn tu.

Vào thời mạt pháp những bậc cao sĩ tha thiết chí thành đại đạo, có thể nào không sợ hãi ư?

Chỉ phải tinh tấn hàng phục phiền não, khởi đại dõng mãnh những cái chưa được, chưa đoạn khiến đoạn, những tham sân ái mạn, siểm khúc, tật đố, đối cảnh không sanh, cái ngã ái ân đều lặng. Phật nói người này lần lần sẽ thành tựu, cầu thiện tri thức không rơi vào tà kiến.

Đoạn này là khuyến khích chơn thật tu hành.

Bậc cao sĩ chơn tu ắt chẳng đem tâm đợi ngộ, cũng ắt chẳng rộng cầu đa văn, chỉ phải tinh tấn hàng phục phiền não là hạnh đệ nhất, cũng chẳng thể được chút ít cho là đủ, nếu chưa đạt được quả vị Niết bàn, hẳn là tha thiết cho được Niết bàn đối với phiền não chưa đoạn quyết định muốn cho đoạn phiền não, chỉ trải qua cảnh mà trắc nghiệm bản tâm, nếu tham, sân, ái mạn tất cả phiền não đối cảnh quả nhiên chẳng sanh. Cho đến ta người ân ái quả nhiên tất cả lặng yên. Như Lai tự nghiệm tâm đó.

Như người xưa nói: “Học đạo ắt chẳng đem tâm cầu ngộ, chỉ đối với tất cả cảnh giới phiền não, trên cảnh mà mình suốt qua được, liền là chỗ ngộ”, nên Phật nói: “Người này lần lượt có thể thành tựu”. Tuy nhiên như thế, điều cần yếu là phải cầu bậc Thiện tri thức quyết trạch, tà chánh phân minh (rõ ràng) cũng không rơi vào tà kiến. Tu hành như thế mới có chút ít phần tương ứng. Những người học đạo có thể nào mà không gắng sức ư!

Nếu đối với sở cầu, tức là Thiện tri thức của mình,  riêng siêng niệm yêu ghét thì chắc chắn không thể vào biển Viên giác thanh tịnh được.

Đoạn này là điểm trọng yếu khuyên người học đạo gắngsức tu hành chơn thật, để mà khiến xa lìacác lỗi,nghĩa là hẳn như trên đã nóichính là chơn tu, nếu mà xảbỏ ngoài này, riêng khởi cái tâm chán ghét, thủ xả, tắng ái, thì rốt ráo chẳng có thể vào biển Viên giác thanh tịnh được.

Khi ấy Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

            Tịnh Nghiệp thầy nên biết!

          Tất cả các chúng sanh

          Đều do chấp ngã ái

          Xưa nay vọng luân chuyển

          Chưa trừ được bốn tướng

          Chẳng thành tựu Bồ đề

          Nơi tâm sanh yêu, ghét

          Ở niệm còn siểm khúc

          Cho nên nhiều mê muội

          Không vào thành Viên giác

          Nếu hay về cõi ngộ

          Trước dẹp Tham, Sân, Si

          Ái chẳng còn nơi tâm

          Dần dần sẽ thành tựu

          Thân ta vốn chẳng có

          Yêu, ghét do đâu sanh?

          Người này cầu thiện hữu

          Trọn chẳng rơi tà kiến

          Sở cầu tâm sanh khác

          Rốt cuộc không thành tựu.

 

 

 

XI. CHƯƠNG PHỔ GIÁC:

1. Ngài Bồ tát Phổ Giác hỏi Phật:

Khi ấy Bồ tát Phổ Giác ở trong đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu bên hữu Phật ba vòng, quỳ gối chấp tay bạch Phật rằng:

Đức Thế Tôn Đại bi khéo nói bệnh Thiền khiến cho chúng sanh được điều chưa từng có, tâm ý thản nhiên được rất an ổn. Bạch Thế Tôn! Những chúng sanh đời sau cách Phật lần lần càng xa, Hiền Thánh ẩn khuất, tà pháp tăng mạnh, các chúng sanh cầu những người nào? Y những pháp gì? Hành những hạnh gì? Trừ những bệnh gì? Làm sao phát tâm? Khiến những kẻ mù tối chẳng rơi vào tà kiến?

Đoạn này chính là trần thuật thưa hỏi:

Đây thì hỏi có năm:

1. Là hỏi cầu người nào? Phần dưới Phật đáp: “Cầu bậc Thiện tri thức”.

2.  Là hỏi y những pháp gì?

3.  Là hỏi hành những hạnh gì?

4.  Là hỏi làm sao phát tâm?

5. Sau cùng phát rộng đại tâm, văn dưới đều làm sáng tỏ.

2. Phật khen Bồ tát Phổ Giác:

Thưa lời đây rồi năm vóc gieo xuống đất, như thế thưa thỉnh trước sau ba lần.

Khi ấy Đức Thế Tôn bảo Bồ tát Phổ Giác rằng: “Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Các ông mới hay thưa hỏi Như Lai sự tu hành như thế, hay bố thí chúng sanh ở thời mạt pháp con mắt đạo vô uý, khiến cho những chúng sanh kia được thành Thánh đạo. Nay ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì ông nói”.

Khi ấy Bồ tát Phổ Giác vâng dạy hoan hỷ và các đại chúng yên lặng lắng nghe.

Đoạn này là nói Bồ tát và các đại chúng dừng các tư niệm mà lắng nghe pháp âm Đức Phật.

Văn dưới đáp có năm.            

Ban đầu đáp cầu người.

3. Phật dạy Bồ tát Phổ Giác:

 

Nầy Thiện nam tử! Những chúng sanh đời sau sắp phát đại tâm muốn cầu Thiện tri thức để tu hành, thì nên cầu những người được chánh tri kiến. Những người đó tâm không trụ nơi tướng, chẳng mắc kẹt cảnh giới Thanh văn, Duyên giác, tuy hiện trong cõi trần lao mà tâm hằng thanh tịnh. Những người Thiện tri thức đó dù thị hiện có lỗi lầm, nhưng vẫn luôn luôn tán thán hạnh thanh tịnh, không khiến cho chúng sanh vào chỗ trái với luật nghi. Cầu được người như thế tức là thành tựu quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Đoạn này là đáp cầu người nào? Thiện tri thức nghĩa là biết rõ căn khí chúng sanh ứng cơ mà nói pháp, lại biết bệnh mà cho thuốc, khiến cho chúng sanh đó được an ổn.

Người được Chánh tri kiến, tức là tâm chẳng trụ nơi tướng, chẳng dính kẹt vào hạnh Nhị thừa, tuy hiện trong cõi trần lao mà tâm hằng thanh tịnh.

Nói hạnh của bậc Thiện tri thức là những vị Bồ tát “Ở trần mà chẳng nhiễm trần”. Nên nói “Tâm hằng thanh tịnh”. Do đồng sự nhiếp nên nói “Thị hiện có các lỗi”. Trước là vì muốn dắt dẫn tiến lên, sau là khiến nhập Phật trí (thể nhập vào trí Chư Phật) nên nói: “Không khiến cho chúng sanh vào chỗ trái với luật nghi”. Cầu người như thế, tức là được thành tựu Vô thượng chánh đạo.

Những chúng sanh đời sau thấy người như thế nên cúng dường chẳng tiếc thân mạng. Thiện tri thức kia trong bốn oainghi thường hiện thanh tịnh, cho đến thị hiện các thứ lỗi lầm tâm cũng không kiêu man huống lại là tài sản, vợ con, quyến thuộc.

Nếu Thiện nam tử! Đối với thiện hữu kia không khởi niệm ác tức hay cứu kính thành tựu Chánh giác, tâm hoa phát sáng, soi khắp cả mười phương cõi nước.

Đoạn này là dạy thừa sự pháp tắc của bậc Thiện tri thức.

Chẳng tiếc thân mạng, như là Phật vào núi tuyết xả thân cầu đạo, Bồ tát Thường Đề phá xương. Cho đến thân làm giường ngồi..v.v. trong bốn oai nghi thường hiện thanh tịnh. Đây chính là thuận hạnh của bậc Thiện tri thức, kiên quyết phải tận mệnh thừa sự.

Lại có bậc nghịch hạnh, thị hiện tham, sân, si.v.v..Như nữ bà Tu Mật và vua Yểm Túc cũng không dám khởi tâm kiêu mạn huống lại là tài sản..v.v.. Đoàn chính là đoàn thực, tài chính là tài bảo. Ý nghĩa là trong thì hiện tham sân còn không dám kiêu mạn, hà huống ngoài thân đoàn, tài bảo, vợ con, quyến thuộc. Đây thường là bậc đạo nhơn như ngài Tịnh Danh, lại há có thể kiêu mạn ư! Nếu người tu hành đối với vị Thiện tri thức kia chẳng khởi niệm ác nghĩa là y nơi pháp chẳng y nơi người tức hay cứu kính thành tựu hằng dứt cội nghi, trực tâm chánh niệm nên được tâm hoa phát sáng, soi khắp cả mười phương cõi nước .

Văn dưới là đáp y nơi pháp.

Nầy Thiện nam tử! Vị Thiện tri thức kia đã chứng diệu pháp nên lìa bốn bệnh.

Đoạn này là đáp y nơi pháp. Ý là phải chọn Thầy chính là cầu bậc Chánh tri kiến (có cái nhìn chơn chánh) tu hành phải y nơi pháp, pháp ắt phải y nơi Thầy, nên điều cần yếu phải chọn Thầy chánh tri kiến mới có thể mà nương cậy. Làm sao mà biết người đó là bậc Chánh tri kiến? Chỉ đem pháp mà nghiệm người đó, nếu nói pháp mà tâm trụ tướng thì là pháp bệnh, nếu lìa pháp bệnh thì tri kiến tự chánh  nên từ trên chư Tổ chỉ lấy tình mở trói thật không có một pháp buộc người, ấy là người chẳng trụ tướng, nếu người như thế mới có thể nương nhờ.

4. Phật nói bốn bệnh:

 

Thế nào là bốn bệnh?

Một là bệnh Tác.

Nếu có người khởi nói thế nầy: “Nơi bản tâm của tôi làm các thứ hạnh”. Muốn cầu Viên giác thì cái tâm Viên giác kiachẳng phải do làm mà được. Ấy gọi là bệnh.

Đoạn này là thỉnh cầu Phật giải thích bốn tướng bệnh.

Một là bệnh Tác:

Song tác là bệnh, vì tánh của Viên giác là thiên nhiên vốn đủ, chẳng cần tạo tác. Nay do có tạo tác các thứ hạnh, mà cầu Diệu tánh Viên giác. Vả lại Diệu tánh Viên giác này, há tạo tác mà có thể cầu ư! Nên nói là bệnh, nếu lại có người khởi nói thế này. Giả như bậc Thiện tri thức kia  tự khởi lời nói nầy.

Hai là bệnh Nhậm:

Nếu lại có người lại nói thế này: “Chúng ta ngày nay không đoạn phiền não, cũng chẳng cầu Niết bàn. Niết bàn sanh tử không có niệm khởi diệt, mặc tất cả cái kia, tuỳ các pháp tánh”. Muốn cầu tánh Viên giác thì tánh Viên giác kia cũng không phải mặc tình mà có. Nên nói là bệnh.

Đoạn này là chỉ bày nhậm là bệnh. Song bệnh nhậm này chính là người cuồng giải (kiến giải điên cuồng). Nhậm tánh thong dong (thích sao làm vậy, tự do phóng túng) thân tâm buông thả, tự nói không vật, không ngăn ngại (ý nói xưa nay không một vật thì làm gì có ngăn ngại) được đại giải thoát, mượn cớ vốn không sanhtử có thể đoạn, vốn không Niết bàn có thể chứng (mượn lời người xưa mà nói) làm cho tư cách buông tuồng phóng dật, chẳng phải là bậc Thiện tri thức có cái nhìn chánh kiến. Nếu nương với người nầy..v.v. thì rơi vào cuồng vọng, nên nói nhậm tánh là bệnh.

Ba là bệnh Chỉ:

Nếu có người khởi nghĩ thế nầy: “Nay tôi tự tâm hằng dứt các niệm, được tất cả tánh tịch nhiên bình đẳng”. Muốn cầu tánh Viên giác thì tánh Viên giác kia không dừng mà hợp, nên nói là bệnh.

Đoạn này nêu bày chỉ là bệnh. Song Viên giác phổ chiếu đại dụng không nơi chốn, há có thể do hằng dứt các niệm, mãi vui say đắm trước vào hạnh khô tịch, để cầu được ư! Vì diệu tánh Viên giác chẳng phải chỉ mà có thể hợp. Nên nói là bệnh.

Bốn là bệnh Diệt:

Nếu lại có người lại khởi nghĩ như thế nầy:“Nay tôi hằng đoạn tất cả phiền não, thân tâm hoàn toàn không, huống là những cảnh giới hư vọng của căn trần, tất cả hằng lặng”. Muốn cầu tánh Viên giác thì tánh Viên giác kia không phải là cái tướng lặng lẽ nên nói là bệnh.

Đoạn này chỉ bày diệt là bệnh.

Giác tánh tròn đủ tuỳ duyên ứng hiện, lặng lẽ mà thường chiếu. Nay do rốt ráo mà hoàn toàn không, thì cơ phong chìm trong đoạn diệt, do hằng lặng yên mà cầu Viên giác, thì gấp chìm dưới vô tưởng là rơi vào hàng Nhị thừa nên nói là bệnh.

Lìa bốn bệnh đó ắt biết được thanh tịnh.

Khởi quán như thế là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

Đoạn này là tóm kết chỉ bày chánh quán.

Ban đầu nói: “Viên chiếu giác tướng thanh tịnh”, vì diệu tánh Viên giác vốn không thuộc vào bốn tướng Tác - Chỉ - Nhậm - Diệt. Nay lìa bốn tướng nầy, thì tự tánh tròn sáng vốn không khiếm khuyết. Nên nói: “Thanh tịnh”.

Song bốn tướng Tác, Chỉ, Nhậm, Diệt đều thuộc công dụng tu hành, nay nói là bệnh do tại chưa ngộ tông môn; bốn tướng này đều là thuốc. Nay theo tự tánh Viên giác mà nói, tánh này vốn tự thiên nhiên, không cần dụng công nên nói là bệnh.

Vì thế Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng nói: “Tu chứng tức chẳng không, nhiễm ô tức chẳng được” nghĩa là chỉ hình vẽ sắc tức thuộc nhiễm ô, nên lìa bốn tướng nầy thì gọi là: “Thanh tịnh”.

Người khởi quán như thế chính là người quán pháp, chẳng phải quán trí nghĩa là người quán lìa bệnh mới không trụ tướng. người nầy mới gọi là bậc Chánh tri kiến, mới nhận làm Thầy để có thể mà nương cậy.

Nầy Thiện nam tử! Chúng sanh đời sau muốn tu hành nên phải trọn đời cúng dường thiện hữu, thờ phụng Thiện tri thức. Thiện tri thức kia muốn đến thân cận thì phải đoạn tâm kiêu mạn, nếu lại xa lìa nên đoạn tâm sân hận. Nếu Thiện tri thức có hiện ra cảnh thuận, cảnh nghịch thì vẫn như hư không, rõ biết thân tâm rốt ráo đều bình đẳng cùng với chúng sanh đồng thể không khác. Người tu hành như thế mới vào được tánh Viên giác.

Đoạn này là đáp hành những hạnh gì?

Trong đây tu hành chẳng nói Lục độ vạn hạnh, chỉ là thờ phụng bậc Thiện tri thức. Đoạn cái tâm kiêu mạn là nền tảng bậc nhất.

Như Thiện Tài đồng tử một đời là tròn đủ hạnh quả muônkiếp, chỉ do một việc là tham cầu bậc Thiện tri thức, liền được tròn đủ vô lượng pháp môn nghĩa là nương nơi bậc Thiện tri thức mà chẳng sanh hai niệm, nên quán cái cảnh thuận nghịch khiến xa lìa, tâm như hư không. Vả lại rõ biết thân tâm rốt ráo đều bình đẳng cùng chúng sanh đồng thể không khác. Đây là không có tướng ngã nhơn, người này chính là bậc căn khí thọ đạo, do cái tâm nầy, hạnh nầy mới cùng Viên giác pháp thể tương ứng, nên mới nói là hay thể nhập.

Nầy Thiện nam tử! Chúng sanh đời sau không được thành đạo, do có các chủng tử yêu, ghét, mình, người từ vô thỉ. Nếu lại có người quán kẻ thù kia là cha mẹ mình, tâm không có hai, tức là trừ được các bệnh. Ở trong các pháp mình, người, yêu, ghét cũng lại như thế.

Đoạn này là đáp trừ bỏ những bệnh gì?

Sở dĩ chúng sanh lưu chuyển (trôi nổi) trong sanh tử, do các chủng tử yêu, ghét vô thỉ vô minh, là căn bệnh chướng đạo, nên tuy tu hành mà chưa được giải thoát. Nay phụng thờ bậc Thiện tri thức, chẳng khởi tâm kiêu mạn, sân hận, thì hàng phục hiện hành, rõ biết thân tâm của mình cùng với chúng sanh thảy đều bình đẳng, thì rõ biết không có tướng ngã nhơn, chủng tử yêu ghét tự hàng phục.

Đến như gặp kẻ thù như là người thân, thì chủng tử yêu, ghét tự dứt trừ, mà cái bệnh chướng đạo tự lìa nên nói: “Tức là trừ được các bệnh”. Đây chính là phương thuốc thần diệu để trị bệnh.

Nầy Thiện nam tử! Các chúng sanh đời sau muốn cầu Viên giác nên phải phát tâm nói như thế nầy: “Tột ở hư không tất cả chúng sanh tôi đều khiến vào được cứu kính Viên giác. Ở trong viên giác không có người chấp cái giác, trừ hết tất cả tướng ngã nhơn kia”. Phát tâm như thế thì mới không rơi vào tà kiến.

Đoạn này là đáp làm sao phát tâm?

Bát Nhã Di Lặc tụng rằng:

        Quảng đại thường đệ nhất

          Tâm kia chẳng điên đảo.

 

Đây nói: “Tột ở hư không tất cả chúng sanh là tâm quảng đại”. Đều thể nhập cứu kính Viên giác là “Tâm đệ nhất”. Ở trong Viên giác mà không thủ giác là “thường tâm” trừ tất cả các tướng ngã nhơn kia, tức là trừ được bốn bệnh, chẳng có tâm điên đảo. Phàm các hành nhơn gần Thầy là điều thích yếu thọ pháp tu hành, không do đây mà quán sát, bỏ cái thấy này tức là rơi vào tà kiến nên nói: “Phát tâm như thế chẳng rơi vào tà kiến”

Khi ấy Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

          Phổ Giác thầy nên biết

          Những chúng sanh đời sau

          Muốn cầu Thiện tri thức

          Nên cầu người chánh kiến

          Tâm xa lìa Nhị thừa.

 

Đoạn này là phần tụng cầu thầy.

         

          Trong các pháp trừ bốn bệnh

          Là Tác, Chỉ, Nhậm, Diệt

          Thân cận không kiêu mạn

          Xa lìa không sân hận

          Thấy các thứ cảnh giới

          Tâm phải sanh hy hữu

          Lại như Phật ra đời

          Không phạm điều giới luật

          Giới căn hằng thanh tịnh.

 

Đây là tụng tu hành, không phạm điều giới luật. Trường Hàng nói: “Vị Thầy thị hiện có lỗi, không khiến chúng sanh vào chỗ trái với luật nghi”.

Trong đây chính là nói đệ tử thờ Thầy, như thấy cảnh nghịch hạnh, không được theo cảnh sanh tâm, liền không phạm vào đều luật nghi, ắt là giới căn hằng thanh tịnh, mà làm chánh hạnh.

 

          Độ tất cả chúng sanh

          Cứu kính vào Viên giác

          Không có tướng nhơn ngã

          Thường y chánh trí huệ

          Liền vượt qua tà kiến

          Chánh giác nhập Niết bàn.

 

Đây là tụng phát tâm câu năm tụng nhân hạnh tứ tâm. Tứ tâm là:

1. Quảng đại tâm.

2. Đệ nhất tâm.

3.Thường tâm.

4. Bất điên đảo tâm.

Câu cuối là hiển bày quả chứng .

 

                                      *

 

 

 

 

 

 

XII. CHƯƠNG VIÊN GIÁC:

1. Ngài Viên Giác Bồ tát hỏi Phật:

 

Khi ấy Bồ tát Viên Giác ở trong đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu Phật ba vòng bên hữu, quì gối chấp tay bạch Phật rằng:

Đoạn này là nói về oai nghi thỉnh pháp.

Đức Thế Tôn đại bi! Vì bọn chúng con rộng nói về các phương tiện tịnh giác khiến cho các chúng sanh đời sau sanh ra được lợi ích lớn. Bạch Thế Tôn! Chúng con ngày nay đã được khai ngộ nếu sau khi Phật diệt độ, những chúng sanh đời sau chưa ngộ làm sao an cư tu về cảnh giới thanh tịnh Viên giác nầy. Trong Viên giác nầy ba thứ tịnh quán lấy cái gì làm đầu? Cúi mong Đấng Đại Bi vì đại chúng và chúng sanh đời sau bố thí cho sự lợi ích lớn.

Thưa lời đây rồi năm vóc gieo xuống đất, thưa thỉnh như vậy trước sau ba lần.

Khi ấy Đức Thế Tôn bảo Bồ tát Viên Giác rằng: “Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Các ông mới hay hỏi Như Lai cái phương tiện như thế để làm lợi ích lớn bố thí cho các chúng sanh. Nay ông lắng nghe, ta sẽ vì ông nói”.

Khi ấy Bồ tát Viên Giác vâng dạy hoan hỷ và các đại chúng đều lặng lẽ lắng nghe.

Đoạn này là nói về đại chúng dừng các tư niệm, lắng nghe Đức Tôn Sư dạy bảo.

2. Phật dạy pháp An cư:

 

Nầy Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh nếu khi Phật còn ở đời, hoặc khi Phật đã diệt độ, nếu khi pháp cuối cùng có những chúng sanh đầy đủ tánh Đại thừa tin được đại Viên giác bí mật của Phật, tâm muốn tu hành, thì ở trong già lam và yên ở trong đồ chúng. Nếu vì có duyên sự, phải tuỳ phần mà xét nét như ta đã nói trước.

Phần dưới đây chính là đáp về cái chỗ thưa thỉnh.

Tánh nghĩa là chủng tánh, giống như khí căn. Vì Viên giác chính là diệu tánh bí tạng thâm sâu, nếu chẳng phải bậc thượng căn thì không có thể tu tập, nên mới chuẩn y cho người căn tánh Đại thừa kia mới có thể tu tập.

Nếu không có duyên sự bên ngoài, thì phải ở trong già lam cùng với chúng đồng tu, nếu có duyên sự bên ngoài chẳng thể nào yên ở, phải tuỳ phần mà xét nét như ta đã nói trước. Như phần trước phải quán sát thân nầy.v..v..

Nếu lại không có những duyên sự khác liền dựng lập đạo tràng thì lập một hạn kỳ: Trường kỳ là 120 ngày, trung kỳ 100 ngày, hạ kỳ 80 ngày, để mà an cư cho được thanh tịnh.

Đoạn này là Đức Phật chỉ dạy về qui tắc kết chế (ở yên đạo tràng). Ý nghĩa là nếu không có duyên sự bên ngoài, ắt là lấy cái việc ở yên là điều thượng sách để dễ dàng nhập đạo. Ba kỳ tùy ý, dài ngắn vốn không có nhất định, chỉ chọn thời gian hạn định để tiến đạo.

3. Phật dạy 21 ngày đầu ở trong tịnh thất:

Nếu Phật còn hiện tại thì phải chánh tư duy, nếu sau khi Phật diệt độ thì phải bày lập những hình tượng Phật, tâm giữ, mắt tưởng, sanh ra nhớ niệm chân chánh lại đồng như Phật còn tại thế vậy. Và treo các tràng phan, hương hoa, trải qua 21 ngày thành tâm đảnh lễ danh tự mười phương chư Phật để cầu xin sám hối. Nếu trong khi thành tâm sám hối mà gặp những cảnh giới lành thì tâm được nhẹ nhàng khinh an. Qua 21 ngày thì một bề nhiếp niệm.

Đoạn này là Đức Phật dạy về phép tắc ở yên để tiến tu.

Nếu Như Lai còn hiện tại thì phải chánh tư duy Phật, nếu sau khi Phật diệt độ, thì phải bày lập những hình tượng Phật, quán tưởng Phật, pháp thân Phật nên nói: “Lại đồng thường trụ” và treo các tràng phan, hương hoa. Rộng như trong kinh Lăng Nghiêm phải lập đàn tràng, nay trong đây thì rất đơn giản nên chỉ nêu tràng phan, hương hoa.

Nói sám hối được cảnh giới thiện nghĩa là thấy được ánh sáng hoặc thấy cảm mộng điềm lành.v..v. chính là cái tướng diệt tội.

Một bề nhiếp niệm thì tu chỉ quán, nên Như Lai mười lăm luân, mỗi mỗi ghi rõ sắp đặt ghi rõ kỹ càng. Tóm kết lại riêng chọn viên tu chính là chánh hạnh.

4. Phật dạy an cư ba tháng theo Bồ tát Thừa:

 

Nếu trải qua đầu mùa hạ ba tháng an cư, phải cùng những Bồ tát thanh tịnh mà dừng ở, tâm lìa những hàng Thanh văn, chẳng nhờ đồ chúng.

Đoạn này là nói về pháp nhập kỳ.

Nói Bồ tát dừng trụ, ý là lựa chọn chúng Tiểu thừa, phần trước nói ba kỳ hạn chính là khắc định kỳ hạn. Nay kết chế an cư, chính là pháp nhập kỳ. Ở Tây Vức (Ấn Độ) Phật chế: Ba tháng an cư, đều gọi là kiết hạ, nay nói đầu hạ, chính là  ban đầu nhập kỳ. Trong luật chế: Khi mà kiết chế, ắt phải vân tập chúng để bố tác, tác pháp (tác pháp yết ma). Sau đó mới an cư, phần nhiều là người tu hạnh Tiểu thừa.

Nay nói Bồ tát dừng trụ nghĩa là chẳng đồng với chúng Tiểu thừa kia, chỉ theo một loại tự tiện tu quán hạnh Bồ tát. Chẳng cần nhớ cái pháp sự bố tát của người Tiểu thừa kia, cũng chẳng nhờ đồ chúng kia. Đây nói chẳng nhờ đồ chúng Tiểu thừa, chẳng phải cùng văn trước nói chỗ yên đồ chúng trái nhau.

Đến ngày an cư liền ở trước Đức Phật bạch lên Phật như thế nầy: Con là Tỳ kheo (Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di) cứ theo Bồ tát thừa tu hạnh tịch diệt đồng vào trụ nơi thanh tịnh thật tướng, dùng đại Viên giác làm già lam của con, thân tâm an cư trong tánh trí bình đẳng Niết bàn tự tánh nó không có hệ thuộc. Nay con kính thỉnh, chẳng y nơi Thanh văn mà phải y nơi mười phương Như Lai và các vị  đại Bồ tát ba tháng an cư vì tu Bồ tát vô thượng diệu giác làm đại nhân duyên chớ không hệ thuộc đồ chúng.

Đoạn này là chỉ bày pháp yếu nhập kỳ an tâm.

Phần trên nói tâm lìa những hàng Thanh văn, đây chính là chỉ bày chỗ tu của hàng Bồ tát, xa lìa các hành tướng vắng lặng. Chẳng thể so sánh các hàng Thanh văn trước tướng mà tu, vì đại Viên giác là “Già lam”nghĩa là chẳng nương nhờ thế giới dừng trụ. Đây mới là chỗ trụ tâm cảnh cả hai đều quên, chỉ thuần một tánh bình đẳng vắng lặng nghĩa là Niết bàn của tự tánh, vốn không thân tâm thế giới có thể trói buộc khác hẳn với cảnh giới Thanh văn nên nói: “Chẳng cần nương nhờ”.

Chỉ nương nơi thật tế pháp thân Như Lai, vì chỗ tu của hàng Bồ tát là lấy diệu giác làm nhân duyên. Đây chính là cảnh tự giác thánh trí làm chỗ tự chứng, đó mới là chỗ của hàng Bồ tát riêng đến nên nói: “Chẳng hệ thuộc vào đồ chúng”.

Nầy Thiện nam tử! Đây gọi là Bồ tát thị hiện an cư, qua ba thời kỳ liền tùy đi đâu không chướng ngại.

Đoạn này là tóm kết chỉ bày nghỉ hạ.

Nói thị hiện an cư, vì trên có nói Bồ tát tu cái hạnh vắng lặng, an cư ở chỗ tánh trí bình đẳng. Đây sao lại cần kỳ hạn, tất nhiên phải lấy ba kỳ làm hạn định, để chỉ bày như nhau, và quyền biến dẫn dắt những vị chưa ngộ, qua ba thời kỳ liền tùy đi đâu không chướng ngại. Vì sau khi hàng Tiểu thừa giải chế có người mới học, phàm nếu có dạo ra ngoài, cùng đi phải cần ba người, để phòng lỡ nhỡ sai lầm.

Nay bậc Bồ tát do quán trí an tâm, chẳng cần có bạn lữ (bạn đi cùng đường ) nên nói: “Tuỳ đi đâu không chướng ngại”.

5. Khi thấy thắng cảnh, hành giả chớ nên chấp trước:

 

Nầy Thiện nam tử! Những chúng sanh tu hành ở đời sau kia cầu Bồ tát đạo mà nhập trong ba thời kỳ đã nói ở trước, chẳng phải tất cả cảnh giới mà mình đã được nghe thì trọn không nắm giữ.

Đoạn này là chỉ bày đề phòng cái ngộ sai lầm.

Được nghe, tức là phần trên nói tam quán riêng lại viên tu hai mươi lăm luân, và giới căn - trần- thức mỗi mỗi thanh tịnh v.v.. Đây chính là chánh quán.

Chẳng phải tất cả cảnh giới mà mình đã được nghe thì trọn không nắm giữ. Như trong kinh Lăng Nghiêm năm mươi loại ngũ ấm ma, và trong Đại Thừa Khởi Tín Luận có nói về ma sự đều chẳng có thể nắm giữ, sợ rơi vào chỗ sai lầm tà kiến.

Ban đầu có hai câu hỏi: Một là hỏi an cư, hai là hỏi tam quán lấy gì làm đầu? Phần trên là đáp an cư xong.

Phần dưới là đáp phương tiện ban đầu.

1.     Tu Chỉ Xa ma tha:

 

Nầy Thiện nam tử! Nếu các chúng sanh tu hạnh Chỉ thì trước phải giữ rất là thanh tịnh, không khởi suy nghĩ.Cái Tịnh nó tột liền được giác như thế. Cái Tịnh ban đầu từ nơi một thân đến một thế giới. Cái Giác cũng như thế.

 

Nầy Thiện nam tử! Cái Giác khắp đầy một thế giới, trong một thế giới có tất cả chúng sanh khởi một niệm đều phải hay biết, trăm ngàn thế giới cũng lại như thế, chẳng phải tất cả cảnh giới đã nghe đây thì trọn không nên chấp.

Đoạn này là đáp phương tiện ban đầu của ba pháp quán.

Trước là phương tiện “Không quán”

Nói tu “Chỉ” thì trước phải giữ rất là thanh tịnh, vì “Chỉ” là phương tiện thực hành trước. Nói giữ rất là thanh tịnh, tức là tông Thiên Thai nói: “Trong Tam Chỉ, đây là thể Chơn Chỉ nghĩa là thể hiệp với chơn không nên nói: “Giữ rất là thanh tịnh”.

Một niệm chẳng sanh nên không khởi suy nghĩ. Cái tịnh nó tột liền được giác sanh nên nói “Liền giác”. Ban đầu từ nơi một thân v.v.. nghĩa là bên trong thì thoát thân tâm, bên ngoài thì mất đi thế giới. Trong ngoài bình đẳng bất động vì thân tâm thế giới rỗng lặng nhất không, thì cùng tất cả dung nhiếp làm một tâm, tất cả thế giới hiệp làm một cõi, nên phàm có chúng sanh nào khởi tâm động niệm, tức là từ trong tự tâm ứng hiện, do đó chúng sanh nào khởi một niệm thảy đều rõ biết, nghĩa là cái tịnh nó tột liền được thông suốt, tịch chiếu hiệp với hư không, lại quán thế giới giống như việc trong mộng. Đây là chỗ cực tắc của Không quán.

Như đây mới gọi là chánh quán, chẳng phải tất cả cảnh giới đã nghe kia thì trọn không nên chấp.

7. Tu Quán:

 

Nầy Thiện nam tử! Nếu các chúng sanh tu Quán, trước phải nhớ tưởng mười phương Như Lai và tất cả Bồ tát mười phương thế giới. Y theo các pháp môn thứ lớp tu hành cần khổ được chánh định, rộng phát đại nguyện, tự huân thành chủng tử. Chẳng phải tất cả cảnh giới đã nghe kia, trọn không được giữ.

Đoạn này là chỉ bày về pháp quán. Đây là phương tiện “Giả quán”.

Tam ma bát đề nghĩa phải quán huyễn. Nói trước phải nhớ tưởng mười phương Như Lai và tất cả Bồ tát trong mười phương thế giới pháp môn thứ lớp tu hành cần khổ được chánh định. Nghĩa là tư duy trong nhân địa chư Phật và Bồ tát tu các thứ khổ hạnh, khó hành, độ các chúng sanh ở trong chánh định, khởi quán như huyễn đem thân tâm mình, tự trải qua cảnh đó, trong kiểm nghiệm tâm đó thứ lớp cảnh giới, hoàn toàn trải qua cảnh như huyễn để quán cảnh huyễn này phát nguyện độ sanh, tự huân thành chủng tử, lâu dần thuần thục, liền hay bên trong phát đại bi khinh an, mà khởi diệt hạnh Bồ tát lợi sanh nghĩa là do quán như huyễn mà mở các huyễn, khởi các Phật sự như huyễn.

Đây thì Tam ma bát đề lấy quán như huyễn làm đầu. Chẳng phải tất cả cảnh giới đã nghe kia trọn không được giữ.

8. Tu Thiền na:

 Nầy Thiện nam tử! Nếu các chúng sanh tu Thiền, trước hết phải sổ tức, tâm rõ các niệm sanh trụ diệt, chừng ngằn số lượng, như thế khắp trong bốn oai nghi đều phân biệt biết rõ ràng số niệm. Dần dần tăng tiến cho đến biết được một hạt mưa trong trăm ngàn thế giới, như mắt xem thấy những vật mình thọ dụng vậy. Nếu không phải tất cả những cảnh giới đã nghe kia, trọn không được giữ.

Đoạn này là chỉ bày phương tiện ban đầu là Tịch quán.

Thiền na nghĩa phải là nhất tâm trung đạo. Ấy gọi là “Tịch quán”.

Nói trước phải sổ tức, chính là công phu ban đầu để nhập Thiền. Vì người tu Thiền một bề tâm nhiều tạp loạn khó được lặng lẽ, nên trước phải dùng pháp sổ tức làm đầu, nghĩa là ban đầu nhiếp tâm, trước phải trở về một hơi thở, nương nơi hơi thở ra vào mà làm số đếm, từ một cho đến mười, lại từ mười cho đến một. Như thế qua lại cùng một nhịp thở chẳng gián đoạn, tâm tâm chẳng mê mờ, hơi thở sanh diệt mỗi mỗi rõ ràng, từ ít cho đến nhiều, để nghiệm định lực sâu hay cạn. Nếu lâu dần thuần thục hơi thở đến một niệm chẳng sanh, thì hơi thở đó tự dứt, một tâm vắng lặng, thậm thâm sâu kín an trụ. Ấy gọi là tướng định.

Như thế khắp trong bốn oai nghi niệm niệm rõ biết, trăm ngàn thế giới, do tâm mà biến hiện. Cho đến một hạt mưa đều phân minh rõ biết, như mắt xem thấy vật. Đây là thành công về pháp quán tịch tịnh.

Như trong Luận Khởi Tín nói: “Người tu chỉ quán chẳng nương nơi hơi thở”. Vì người kia bên trong thoát thân tâm làm điều thiết yếu. Đây thì nói nương hơi thở, vì ban đầu lấy quyền cơ nhiếp tâm làm phương tiện, chẳng phải là chỗ rốt ráo nương nơi hơi thở. Nếu do hơi thở mà làm được, thì khỏi rơi vào tà đạo, chẳng phải cảnh giới nghe kia, trọn không được giữ.

Ấy gọi phương tiện tu ban đầu của ba pháp quán.

Đoạn này là tóm kết tên gọi.

Phần trước hỏi ba thứ tịnh quán, lấy gì làm đầu nên Phật đáp đủ rồi. Ở đây tóm kết chỉ ra, đó là phần trước biết hai mươi lăm luân chỉ là nói tướng quán. Ba pháp quán phương tiện nầy chính là ban đầu hạ thủ công phu, tức là trong kinh Lăng Nghiêm hai mươi lăm vị Thánh mỗi mỗi đều nói: “Ban đầu hạ thủ công phu” tức là nghĩa nầy vậy.

Nếu chúng sanh siêng năng tu đúng cả ba pháp này tức gọi là Như Lai xuất hiện ở đời.

Đoạn này là chỉ bày sự lợi ích của ba pháp quán, vì ba pháp quán này chính là nhân địa bổn khởi của Như Lai, nên có viên căn chúng sanh (căn tánh tròn đủ) hay siêng năng tu đúng cả ba pháp này, tức gọi là Như Lai xuất hiện ở đời.

Nói cứu kính thành tựu vô ngại, là có sự lợi ích thù thắng này, nên khuyến khích phải tinh tấn tu hành.

Nếu những chúng sanh độn căn đời sau, tâm muốn cầu đạo mà chẳng được thành tựu, do những nghiệp chướng xưa cần phải siêng năng sám hối, thường khởi hy vọng trước đoạn yêu ghét, tật đố siểm khúc, cầu tâm thắng thượng. Trong ba thứ tịnh quán tuỳ học một môn, pháp này không được thì tập quán pháp khác, tâm không buông bỏ dần dần cầu chứng.

Đoạn này là nói chúng sanh độn căn nghiệp chướng sâu nặng, phải dùng pháp sám hối để dứt trừ tội chướng là đều thiết yếu.

Do nghiệp chướng xưa liền sớm tập quán chủng tử, nay lúc tu hành huân phát hiện hành (gặp cảnh phát khởi hiện hành) làm cái duyên chướng đạo nghĩa là hảo chánh kết tà, muốn thanh tịnh mà lệch vào chỗ nhiễm ô, liền sớm tập quán sai sử như thế nên phải tinh tấn cần khổ sám hối, để tiêu trừ cái nghiệp chướng xưa, nghiệp chướng nếu tiêu trừ thì duyên đạo mới có thể biền biệt được, thường khởi hy vọng nghĩa là hy vọng nguyện đoạn trừ nghiệp chướng. Nên phần dưới nói: “Trước đoạn thương ghét v.v.. Chính là tham - sân - si”.

Cầu tâm thắng thượng nghĩa là cội gốc phiền não đã đoạn hiện hành chẳng còn hành động, thì tập khí có thể trừ, quán hạnh dễ thành công. Đây quán chẳng được chính là người tu quán kia, ý là bày tỏ hai mươi luân để ghi nhớ nên nói: “Dần dần cầu chứng”.

Bấy giờ Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

          Viên Giác thầy nên biết

          Tất cả các chúng sanh

          Muốn cầu đạo Vô thượng

          Trước nên kết ba kỳ

          Qua hai mươi mốt ngày

          Sau đó chánh tư duy

          Nếu không phải chỗ nghe

          Rốt ráo chẳng nên chấp

          Xa ma tha rất tịnh

          Tam ma chánh nhớ nghĩ

          Thiền na rõ sổ tức

          Ấy gọi ba tịnh quán

          Nếu siêng năng tu tập

          Ấy gọi Phật ra đời

          Độn căn chưa thành tựu

          Tâm thường siêng sám hối

          Tất cả tội vô thuỷ

          Các chướng nếu tiêu diệt

          Cảnh Phật liền hiện tiền.

 

Phần trên là phần Chánh tông.

Phần dưới là phần Lưu thông.

 

                                                                   

 

C. PHẦN LƯU THÔNG:

XIII. CHƯƠNG HIỀN THIỆN THỦ:

1. Bồ tát Hiền Thiện Thủ hỏi Phật:

Lúc đó Bồ Tát Hiền Thiện Thủ ở trong đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu bên phải ba vòng, quỳ gối chấp tay bạch Phật rằng:

Đoạn này nói về oai nghi thưa thỉnh pháp yếu.

Đức Thế Tôn đại bi, vì chúng con và chúng sanh đời sau khai ngộ rộng rãi những việc không thể nghĩ bàn. Bạch Thế Tôn! Kinh Đại Thừa này tên là gì? Làm sao phụng trì? Chúng sanh tu tập được những công đức gì? Chúng con làm sao bảo hộ người trì kinh? Nên lưu bố kinh giáo này đến nơi nào?

Đoạn này hỏi về tên kinh, lưu thông pháp này. Đây thì hỏi có năm:

          - Một là hỏi tên kinh.

          - Hai là hỏi phụng trì.

          - Ba là hỏi công đức.

          - Bốn là hỏi hộ trì.

            - Năm là hỏi lưu bố đến nơi nào.

            2. Phật khen Bồ tát Hiền Thiện Thủ:

 

Thưa lời đây rồi năm vóc gieo xuống đất, thưa hỏi như thế lặp lại ba lần.

Khi ấy Thế Tôn bảo Hiền Thiện Thủ Bồ tát rằng: “Lành thay! Lành thay! Này Thiện nam tử, các ông mới hay vì Bồ tát và chúng sanh đời sau thưa hỏi Như Lai, những danh tự công đức của kinh như thế. Nay ông hãy lắng nghe ta sẽ vì ông nói”.

Đoạn này là Phật hứa nói, đại chúng thành thật lắng nghe.

Khi ấy Bồ tát Hiền Thiện Thủ vâng lời dạy, cùng đại chúng yên lặng lắng nghe.

Đoạn này nói về Bồ tát Hiền Thiện Thủ, cùng đại chúng yên lặng dừng các tư niệm lắng nghe pháp yếu.

3. Phật nói tên kinh:

 

Nầy Thiện nam tử! Kinh này do trăm ngàn muôn ức hằng hà sa chư Phật nói ra, là chỗ bảo hộ của ba đời chư Phật, là chỗ qui y của mười phương Bồ tát, là con mắt thanh tịnh của mười hai bộ kinh.

Đoạn này là Đức Phật thảy tán thán pháp môn thù thắng khiến sanh lòng tin thêm lớn.

Kinh nầy chính là bổn khởi nhân địa pháp hành của chư Phật Như Lai, thế nên chư Phật nói: “Như Lai bảo hộ, chỉ dạy Bồ tát, là chỗ quy y của Bồ tát, lưu xuất tất cả chơn như thanh tịnh Bồ đề Niết bàn”. Nên nói: “Là con mắt thanh tịnh của mười hai bộ kinh”.

Kinh này tên là Đại Phương Quảng Viên Giác Đà La Ni, cũng tên Tu Đa La Liễu Nghĩa, cũng tên Bí Mật Vương Tam Muội, cũng tên Như Lai Quyết Định Cảnh Giới, cũng tên Như Lai Tàng Tự Tánh Sai Biệt, ông nên phụng trì.

Đoạn này là Đức Phật đáp về tên kinh, chỉ bày tên kinh có năm loại.

Nay kết tập đề kinh chỉ còn hai tên, xưa giải thích năm tên.

Nay rút gọn giáo lý hạnh Tu Đa La, giản yếu giáo Bí Mật Vương Tam Muội, giản yếu hạnh, còn lại đều giản yếu (rút gọn) về lý nhất tâm trung đạo nên nói: “Bí mật”, chẳng phải là: “Mật ngữ” y Như Lai tàng mà dựng lập sai biệt, nghĩa tột là ở đây phải như thế phụng trì.

4. Phật nói công đức trì kinh:

 

Nầy Thiện nam tử! Kinh này chỉ hiển bày cảnh giới Như Lai nên chỉ có Như lai mới hay tuyên nói. Nếu các Bồ tát và chúng sanh đời sau y đây tu hành thì dần dần tăng tiến đến địa vị Phật.

Đoạn này Đức Phật khen ngợi pháp viên đốn thù thắng, ý là Đức Thế Tôn khiến cho tu tập.

Đáp đến đất nào?

Phật Phật thành đạo đều y nơi Viên giác làm bổn nhân, và thành Phật lợi sanh cũng chỉ nói pháp này, giáo hoá Bồ tát ngoài pháp đây ra, lại không có pháp khác nên Đức Thế Tôn khuyến bảo tu tập mới có thể đến địa vị Phật.

Nầy Thiện nam tử! Kinh này tên là Đại Thừa đốn giáo, chúng sanh căn cơ đốn từ đây được khai ngộ, kinh này cũng nhiếp tất cả chúng sanh tiệm tu. Thí như biển lớn không bỏ sót các dòng nhỏ, cho đến ruồi, muỗi, A tu la uống nước biển đều được no đủ.

Đoạn này là Đức Phật đáp công đức gì?

Nói riêng bậc thượng căn kia gọi là Đại thừa đốn giáo lại phổ nhiếp ba căn nên công đức rất lớn. Do đó tất cả chúng sanh giác địa thanh tịnh đều chứng Viên giác nên nói: “Thảy đều được no đủ” giống như biển lớn chẳng từ bỏ các con sông nhỏ, người uống lớn nhỏ đều được no đủ.

Nầy Thiện nam tử! Giả sử có người thuần dùng bảy báu đầy cả Tam thiên đại thiên thế giới đem bố thí, không bằng người nghe tên kinh này và hiểu nghĩa lý một câu.

Đoạn này là Đức Phật so sánh để hiển bày pháp môn đốn giáo rất là thù thắng.

Của cải tài sản ở chốn nhơn gian, cũng là của cải hữu lậu. Chí lý mà nói: “Nếu như chuyển Phàm thành Thánh, thì cái công đức cách nhau một trời một vực”.

Nầy Thiện nam tử! Giả sử có người giáo hoá trăm ngàn hằng sa số chúng sanh đắc quả A la hán, không bằng người tuyên nói rành rẽ nửa bài kệ của kinh này.

Đoạn này là Đức Phật nói về nửa bài kệ của kinh. Vì thành Phật là cái nhân chánh nên khó mà so sánh được.

Nầy Thiện nam tử! Nếu có người nghe tên kinh này lòng tin không nghi, nên biết người ấy chẳng phải ở nơi một ĐứcPhật, hai Đức Phật gieo trồng phước huệ nhưthế cho đến ở nơi hằng hà sa tất cả Đức Phật trồngcác căn lành nghe kinh giáo.

Đoạn này là Đức Phật khen ngợi những người căn cơ thù thắng, hay thọ giáo kinh đốn giáo nghĩa là hay tín thọ pháp đốn giáo này.

Những người này vốn từ nhiều Đức Phật đã rộng tu phước huệ, nhất định người phước kém, đức mỏng không thể kham nhận.

5. Các vị Thiện Thần phát nguyện bảo hộ người tu hành:

 

Nầy Thiện nam, nên hộ trì những người ở đời sau tu hành, chớ để những loài ác ma và ngoại đạo làm não hại thân tâm họ khiến cho họ sanh tâm lui sụt.

Đoạn này là Đức Phật dặn bảo là phần lưu thông của toàn bộ kinh.

Do hộ trì người tu hành là đệ nhất, vì người tu tập pháp này chính là chỗ nối kết huệ mạng, nếu để những loài ác ma làm não loạn thân tâm khiến cho họ sanh tâm lui sụt, thì huệ mạng đoạn dứt nên phải hộ trì.

Khi ấy trong hội có Hoả Thủ Kim Cương, Tốc Toái Kim Cương, Ni Lam Bà Kim Cương… tám vạn Kim cương cùng với quyến thuộc liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu bên phải ba vòng, bạchPhật rằng:

Bạch Thế Tôn, nếu tất cả chúng sanh đời sau có thể thọ trì Đại thừa quyết định này, chúng con sẽ bảo hộ người đó như giữ tròng con mắt của mình vậy; cho đến nơi đạo tràng của người tu hành, hàng kim cương chúng con tự lãnh đồ chúng ngày đêm bảo vệ, khiến cho chẳng thoái chuyển; cho đến nhà của họ hằng không có tai chướng, bệnh dịch đều tiêu trừ, những tài bảo đều đầy đủ thường không thiếu thốn.

Đoạn này là trình bày hàng Kim cương lãnh thọ lời dạy bảo của Đức Thế Tôn. Phát nguyện bảo hộ người thọ trì kinh viên đốn này.

Nói Kim cương là do thần hộ pháp, cầm cái chày báu nên đây được tên. Do cái chày báu này hay đập nát tất cả nên gọi là: “Hoả Đầu Kim Cương” nghĩa là đầu có ngọn lửa, tức là trong kinh Lăng Nghiêm có nói: “Biến chuyển bao nhiêu tâm dâm thành biển trí huệ” (ai có bệnh này nếu công phu như đây thì sẽ thông suốt chỗ này, thật là chư Phật chẳng lừa dối). Đây chính là Bồ tát thị hiện, Ni Lam Bà Kim Cương chưa dịch ra nghĩa rõ ràng, đây nói chư thần đều sớm huân tập pháp nguyện hộ pháp, nên thường ở trong hội của Đức Phật.

Khi ấy Đại Phạm Vương và hai mươi  tám vị ThiênVương, cùng với Tu Di Sơn Vương, Hộ Quốc ThiênVương… liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật đi nhiễu bên phải ba vòng, bạch Phật rằng:

Bạch Thế Tôn, con cũng hộ trì người thọ trì kinh khiến họ được an ổn tâm không thoái chuyển.

Đoạn này là trình bày chư Thiên lãnh thọ lời dạy bảo của Đức Tôn Sư, nguyện hộ trì người thọ trì kinh.

Đại Phạm Thiên Vương chính là “Sơ Thiền Vương” làm chủ thế giới Ta Bà. Phật Phật ra đời vua này vì chúng sanh thưa thỉnh. Vua hai mươi tám cõi trời, thảy đều nêu ba cõi chư Thiên nghĩa là cõi trời Lục Dục, mười tám Thiền Thiên (cõi trời thứ mười tám), cõi trời Tứ Không, Tu Di Sơn Vương chính là Tứ Thiên Vương, làm chủ bảo hộ cõi nước. Ý là liệt kệ ba cõi chư Thiên đều làm hộ pháp.

Khi ấy có Đại Lực Quỉ Vương tên là Kiết Bàn Trà cùng với mười muôn Quỉ Vương, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu bên phải ba vòng, bạch Phật rằng:

          Bạch Thế Tôn, chúng con cũng nguyện sớm chiều bảo hộ hầu hạ người trì kinh này, khiến cho chẳng thoái chuyển. Người trì kinh ở chỗ nào trong khoảng một do tuần, nếu có quỉ thần xâm phạm vào cảnh giới ấy con sẽ đập nát bọn nó như hạt bụi.

Đoạn này là trình bày Quỉ Thần lãnh thọ lời dạy của Đức Tôn Sư, nguyện bảo hộ người trì kinh.

Kiết Bàn Trà cũng gọi là Cưu Bàn Trà. Đây nói có thể sợ quỉ, người ăn tinh khí bệnh này như gió biến hoá không chướng ngại, thường dừng ở rừng hoang thủ lãnh các chúng quỉ nên hiệu là vua, chẳng thuộc trời người riêng ở quỉ thú, quỉ này đã phát nguyện bảo hộ thì tất cả ác quỉ không có thể làm hại vậy.

Một do tuần là bốn mươi lý, nói bảo hộ vùng ven có thể là trong bốn mươi dặm không có sự não hại.

Hỏi: - Kinh này chính là Đức Phật trụ ở trong Tạng Đại Quang Minh (kho tàng ánh sáng lớn) nhập trong tam muội vì hàng đại Bồ tát Địa Thượng mà nói, hàng Nhị thừa thì tuyệt phần nên trước pháp hội chẳng liệt kê. Lại vì sao có các Trời Quỉ Thần phát nguyện bảo hộ?

Đáp rằng: - Đây chẳng phải là thường tình không thể nào mà so lường được. Song Phật trụ ở Tạng Đại Quang Minh nghĩa là phải thường ở cõi “Tịch Quang” thì tự tha bình đẳng, nói nghe đều không sợ. Đã nói ở cảnh “Bất Nhị” hiện các cõi tịnh độ thì chẳng riêng cõi “Thật báo” mà đồng cư ắt gồm đủ.

Như “Thật báo” ở cõi Hoa Tạng ắt là thu nhiếp đồng cư nênpháp hội Hoa Nghiêm chư Thiên Thần Vương mỗi mỗi tán thán Phật, mỗi mỗi được nhất chủng (một thứ) pháp môn há lại không có phần chăng.

Vì thế ước lược pháp thì Nhị thừa tuyệt phần, ước lược cảnh thì Phàm Thánh gồm đủ. Huống là tròn khắp rộng rãi nhanh chóng khắp cả mười phương, há lại cõi này chư Thiên Thần Vương mà chẳng ngưỡng mộ khen ngợi pháp hội đó ư! Huống lại thị hiện bóng hình, tiếng vang trụ ở cảnh giới Phật không có gì đáng để nghi ngại.

Phật nói kinh này xong, tất cả Bồ tát, Thiên, Long, Quỉ Thần, Bát Bộ quyến thuộc và các Thiên Vương, Phạm Vương… tất cả đại chúng nghe Phật dạy rồi đều rất vui vẻ tin nhận vâng làm.

Đoạn này tóm kết pháp hội.

Xưa giải thích Thiên Long Bát Bộ đây nhất định là bên trong chứng pháp tánh, thị hiện hình này. Song pháp hội ban đầu chẳng liệt kê, ý là hiển bày pháp môn thù thắng, tóm kết pháp hội thì gồm đủ các chứng nghĩa ắt đồng nghe nên nói: “Đều rất vui vẻ tin nhận vâng làm”.

Kinh Viên Giác trực giải

Quyển hạ chung

 

 

 

 

 

 

 

Nguyện đem pháp bảo này

Hồi hướng đến chúng sanh

Ba đường khổ luân hồi

Khi nghe tên kinh này

Đồng thoát ra biển khổ

Mau sanh lên cõi Phật.

 

Cẩn tựa

Đạt Ma Khế Định.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MỤC LỤC

LƯỢC GIẢI KINH VIÊN GIÁC                       

Lời người dịch                                                                        5

Lược truyện Đại Sư Hám Sơn                                              10

Lời tựa                                                                                12

Tổng luận                                                                             14

I. Phần tựa chung (thông lệ các kinh)                                    19

II. Chương Văn Thù Sư Lợi                                                 28

III. Chương Phổ Hiền                                                          43

IV. Chương Phổ Nhẫn                                                         53

V. Chương Kim Cang Tạng                                                 76

VI. Chương Bồ Tát Di Lạc                                                  90

VII. Chương Thanh Tịnh Huệ                                             108

VIII. Chương Oai Đức Tự Tại                                           124

IX. Chương Biện Âm                                                         137

X. Chương Tịnh Chư Nghiệp Chướng                                151

XI. Chương Phổ Giác                                                        175

XII. Chương Viên Giác                                                      188

XIII. Chương Hiền Thiện Thủ                                             202

  

        LƯỢC GIẢI KINH VIÊN GIÁC

         Việt dịch: Đạt Ma Khế Định    

 

 

 

 

                  NHÀ XUẤT BẢN PHƯƠNG ĐÔNG

                                                                           

Post new comment

CAPTCHA
This question is for testing whether you are a human visitor and to prevent automated spam submissions.
12 + 6 =
Solve this simple math problem and enter the result. E.g. for 1+3, enter 4.
 
Audio mới nhất
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 32
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 31
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 30
NHỮNG PHÉP QUÁN KHIẾN TÂM THANH TỊNH - phần 18
NHỮNG PHÉP QUÁN KHIẾN TÂM THANH TỊNH - phần 17
NHỮNG PHÉP QUÁN KHIẾN TÂM THANH TỊNH - phần 16
NHỮNG PHÉP QUÁN KHIẾN TÂM THANH TỊNH - phần 15
NHỮNG PHÉP QUÁN KHIẾN TÂM THANH TỊNH - phần 14
NHỮNG PHÉP QUÁN KHIẾN TÂM THANH TỊNH - phần 13
NHỮNG PHÉP QUÁN KHIẾN TÂM THANH TỊNH - phần 12
NHỮNG PHÉP QUÁN KHIẾN TÂM THANH TỊNH - phần 11
NHỮNG PHÉP QUÁN KHIẾN TÂM THANH TỊNH - phần 10
NHỮNG PHÉP QUÁN KHIẾN TÂM THANH TỊNH - phần 9
NHỮNG PHÉP QUÁN KHIẾN TÂM THANH TỊNH - phần 8
NHỮNG PHÉP QUÁN KHIẾN TÂM THANH TỊNH - phần 7
NHỮNG PHÉP QUÁN KHIẾN TÂM THANH TỊNH - phần 6
NHỮNG PHÉP QUÁN KHIẾN TÂM THANH TỊNH - phần 5
NHỮNG PHÉP QUÁN KHIẾN TÂM THANH TỊNH - phần 4
NHỮNG PHÉP QUÁN KHIẾN TÂM THANH TỊNH - phần 3
NHỮNG PHÉP QUÁN KHIẾN TÂM THANH TỊNH - phần 2
NHỮNG PHÉP QUÁN KHIẾN TÂM THANH TỊNH - phần 1
Hành Trình Của Người Tu Phật - phần 7
Hành Trình Của Người Tu Phật - phần 6
Hương Thiền trong Kinh Tạng Nikaya P1 - phần 1
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 29
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 28
Hành Trình Của Người Tu Phật - phần 5
Hương Thiền trong Kinh Tạng Nikaya P1 - phần 10
Hành Trình Của Người Tu Phật - phần 4
Kinh Thập Thiện qua cái nhìn nhà Thiền - phần 7
Hành Trình Của Người Tu Phật - phần 3
Hương Thiền trong Kinh Tạng Nikaya P1 - phần 9
Hương Thiền trong Kinh Tạng Nikaya P1 - phần 8
Hành Trình Của Người Tu Phật - phần 2
Hành Trình Của Người Tu Phật - phần 1
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 59
Hương Thiền trong Kinh Tạng Nikaya P1 - phần 7
DIỆU CHỈ CÔNG PHU TU THIỀN - phần 4
Tín Tâm Minh - phần 7
Tín Tâm Minh - phần 5
Tín Tâm Minh - phần 6
Tín Tâm Minh - phần 4
Tín Tâm Minh - phần 3
Tín Tâm Minh - phần 2
Hương Thiền trong Kinh Tạng Nikaya P1 - phần 6
Hương Thiền trong Kinh Tạng Nikaya P1 - phần 5
Hương Thiền trong Kinh Tạng Nikaya P1 - phần 4
Hương Thiền trong Kinh Tạng Nikaya P1 - phần 3
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 58
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 57
Kinh Thập Thiện qua cái nhìn nhà Thiền - phần 6
DIỆU CHỈ CÔNG PHU TU THIỀN - phần 3
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 27
Hương Thiền trong Kinh Tạng Nikaya P1 - phần 2
Hương Thiền trong Kinh Tạng Nikaya P1 - phần 1
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 56
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 26
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 54
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 55
Kinh Thập Thiện qua cái nhìn nhà Thiền - phần 5
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 25
DIỆU CHỈ CÔNG PHU TU THIỀN - phần 2
Năm Dục Là Pháp Chướng Ngại Thánh Đạo - phần 2
Năm Dục Là Pháp Chướng Ngại Thánh Đạo - phần 3
Năm Dục Là Pháp Chướng Ngại Thánh Đạo - phần 1
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 53
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 52
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 51
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 24
DIỆU CHỈ CÔNG PHU TU THIỀN - phần 1
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 50
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 23
Kinh Thập Thiện qua cái nhìn nhà Thiền - phần 4
Kinh Thập Thiện qua cái nhìn nhà Thiền - phần 2
Kinh Thập Thiện qua cái nhìn nhà Thiền - phần 3
Kinh Thập Thiện qua cái nhìn nhà Thiền - phần 1
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 22
Tín Tâm Minh - phần 1
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 21
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 46
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 49
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 48
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 47
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 20
Phát đại bi nguyện trong cuộc sống đời thường - phần 6
Phát đại bi nguyện trong cuộc sống đời thường - phần 5
Phát đại bi nguyện trong cuộc sống đời thường - phần 4
Phát đại bi nguyện trong cuộc sống đời thường - phần 3
Phát đại bi nguyện trong cuộc sống đời thường - phần 2
Phát đại bi nguyện trong cuộc sống đời thường - phần 1
12 Đại nguyện của đức Phật Dược Sư - phần 22
12 Đại nguyện của đức Phật Dược Sư - phần 21
12 Đại nguyện của đức Phật Dược Sư - phần 20
12 Đại nguyện của đức Phật Dược Sư - phần 19
12 Đại nguyện của đức Phật Dược Sư - phần 18
12 Đại nguyện của đức Phật Dược Sư - phần 17
12 Đại nguyện của đức Phật Dược Sư - phần 16
12 Đại nguyện của đức Phật Dược Sư - phần 23
12 Đại nguyện của đức Phật Dược Sư - phần 15
12 Đại nguyện của đức Phật Dược Sư - phần 14
12 Đại nguyện của đức Phật Dược Sư - phần 13
12 Đại nguyện của đức Phật Dược Sư - phần 12
12 Đại nguyện của đức Phật Dược Sư - phần 11
12 Đại nguyện của đức Phật Dược Sư - phần 10
12 Đại nguyện của đức Phật Dược Sư - phần 9
12 Đại nguyện của đức Phật Dược Sư - phần 8
12 Đại nguyện của đức Phật Dược Sư - phần 7
12 Đại nguyện của đức Phật Dược Sư - phần 6
12 Đại nguyện của đức Phật Dược Sư - phần 5
12 Đại nguyện của đức Phật Dược Sư - phần 4
12 Đại nguyện của đức Phật Dược Sư - phần 3
12 Đại nguyện của đức Phật Dược Sư - phần 2
12 Đại nguyện của đức Phật Dược Sư - phần 1
Tổ Bồ Đề Đạt Ma - Con người và huyền thoại - phần 1
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 18
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 17
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 19
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 45
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 44
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 43
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 42
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 41
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 40
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 38
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 39
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 15
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 16
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 33
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 36
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 35
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 34
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 37
LỜI THIỀN TRONG CUỘC SỐNG 25/06/2011 (THIỀN TỰ HIỆN QUANG) - phần 3
LỜI THIỀN TRONG CUỘC SỐNG 25/06/2011 (THIỀN TỰ HIỆN QUANG) - phần 2
LỜI THIỀN TRONG CUỘC SỐNG 25/06/2011 (THIỀN TỰ HIỆN QUANG) - phần 1
LỜI THIỀN TRONG CUỘC SỐNG 25/06/2011 (THIỀN TỰ HIỆN QUANG) - phần 4
VÔ THƯỜNG CON ĐƯỜNG ĐƯA ĐẾN TUỆ GIÁC 25/06/2011 (CHÙA HUỆ QUANG) - phần 4
VÔ THƯỜNG CON ĐƯỜNG ĐƯA ĐẾN TUỆ GIÁC 25/06/2011 (CHÙA HUỆ QUANG) - phần 3
VÔ THƯỜNG CON ĐƯỜNG ĐƯA ĐẾN TUỆ GIÁC 25/06/2011 (CHÙA HUỆ QUANG) - phần 2
VÔ THƯỜNG CON ĐƯỜNG ĐƯA ĐẾN TUỆ GIÁC 25/06/2011 (CHÙA HUỆ QUANG) - phần 1
THIỀN CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT TRI KIẾN /06/2011 ( ĐẠO TRÀNG HOA ƯU ĐÀM - phần 2
THIỀN CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT TRI KIẾN /06/2011 ( ĐẠO TRÀNG HOA ƯU ĐÀM - phần 1
THIỀN CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT TRI KIẾN /06/2011 ( ĐẠO TRÀNG HOA ƯU ĐÀM - phần 3
CHẾT LÀ CON ĐƯỜNG CỦA SỰ TÁI SINH 12/6 (TT HỶ XẢ) ADELAIDE - phần 2
CHẾT LÀ CON ĐƯỜNG CỦA SỰ TÁI SINH 12/6 (TT HỶ XẢ) ADELAIDE - phần 1
CHẾT LÀ CON ĐƯỜNG CỦA SỰ TÁI SINH 12/6 (TT HỶ XẢ) ADELAIDE - phần 3
GIỚI LÀ CON ĐƯỜNG DUYÊN THÀNH PHẬT ĐẠO 11/06/2011 (TT HỶ XẢ) ADLAIDE - phần 2
GIỚI LÀ CON ĐƯỜNG DUYÊN THÀNH PHẬT ĐẠO 11/06/2011 (TT HỶ XẢ) ADLAIDE - phần 1
GIỚI LÀ CON ĐƯỜNG DUYÊN THÀNH PHẬT ĐẠO 11/06/2011 (TT HỶ XẢ) ADLAIDE - phần 3
PHÁP LÀ DI SẢN TỐI THƯỢNG ( CHÙA PHẬT ĐÀ) QUEENLAND NGÀY 04/06/2011 - phần 2
PHÁP LÀ DI SẢN TỐI THƯỢNG ( CHÙA PHẬT ĐÀ) QUEENLAND NGÀY 04/06/2011 - phần 3
PHÁP LÀ DI SẢN TỐI THƯỢNG ( CHÙA PHẬT ĐÀ) QUEENLAND NGÀY 04/06/2011 - phần 1
PHÁP LÀ DI SẢN TỐI THƯỢNG ( CHÙA PHẬT ĐÀ) QUEENLAND NGÀY 04/06/2011 - phần 4
CHỈ CÓ TU MỚI HÓA GIẢI HẬN THÙ 29/05/2011 ( ĐT PHÚC ĐỨC) SYDNEY - phần 1
CHỈ CÓ TU MỚI HÓA GIẢI HẬN THÙ 29/05/2011 ( ĐT PHÚC ĐỨC) SYDNEY - phần 2
NĂM PHÁP CHE LẮP TỰ TÁNH BÁT NHÃ 28/05/2011 (CHÙA THIÊN ẤN&ĐT PHÚC ĐỨC) SYDNEY - phần 8
NĂM PHÁP CHE LẮP TỰ TÁNH BÁT NHÃ 28/05/2011 (CHÙA THIÊN ẤN&ĐT PHÚC ĐỨC) SYDNEY - phần 7
NĂM PHÁP CHE LẮP TỰ TÁNH BÁT NHÃ 28/05/2011 (CHÙA THIÊN ẤN&ĐT PHÚC ĐỨC) SYDNEY - phần 6
NĂM PHÁP CHE LẮP TỰ TÁNH BÁT NHÃ 28/05/2011 (CHÙA THIÊN ẤN&ĐT PHÚC ĐỨC) SYDNEY - phần 5
NĂM PHÁP CHE LẮP TỰ TÁNH BÁT NHÃ 28/05/2011 (CHÙA THIÊN ẤN&ĐT PHÚC ĐỨC) SYDNEY - phần 4
NĂM PHÁP CHE LẮP TỰ TÁNH BÁT NHÃ 28/05/2011 (CHÙA THIÊN ẤN&ĐT PHÚC ĐỨC) SYDNEY - phần 3
NĂM PHÁP CHE LẮP TỰ TÁNH BÁT NHÃ 28/05/2011 (CHÙA THIÊN ẤN&ĐT PHÚC ĐỨC) SYDNEY - phần 2
NĂM PHÁP CHE LẮP TỰ TÁNH BÁT NHÃ 28/05/2011 (CHÙA THIÊN ẤN&ĐT PHÚC ĐỨC) SYDNEY - phần 1
NĂM PHÁP CHE LẮP TỰ TÁNH BÁT NHÃ 28/05/2011 (CHÙA THIÊN ẤN&ĐT PHÚC ĐỨC) SYDNEY - phần 9
CẬN TỬ NGHIỆP 22/05/2011 (CHÙA HUỆ QUANG) MELBOURNE - phần 2
CẬN TỬ NGHIỆP 22/05/2011 (CHÙA HUỆ QUANG) MELBOURNE - phần 1
CẬN TỬ NGHIỆP 22/05/2011 (CHÙA HUỆ QUANG) MELBOURNE - phần 3
PHÁP BỒ ĐỀ TÂM 21/05/2011(ĐT HOA ƯU ĐÀM) MELBOURNE - phần 3
PHÁP BỒ ĐỀ TÂM 21/05/2011(ĐT HOA ƯU ĐÀM) MELBOURNE - phần 2
PHÁP BỒ ĐỀ TÂM 21/05/2011(ĐT HOA ƯU ĐÀM) MELBOURNE - phần 1
PHÁP BỒ ĐỀ TÂM 21/05/2011(ĐT HOA ƯU ĐÀM) MELBOURNE - phần 4
THAM VẤN ĐẠO LÝ TẠI ÚC CHÂU TỪ NGÀY 21.5 ĐẾN 26.6.2011 - phần 23
THAM VẤN ĐẠO LÝ TẠI ÚC CHÂU TỪ NGÀY 21.5 ĐẾN 26.6.2011 - phần 22
THAM VẤN ĐẠO LÝ TẠI ÚC CHÂU TỪ NGÀY 21.5 ĐẾN 26.6.2011 - phần 21
THAM VẤN ĐẠO LÝ TẠI ÚC CHÂU TỪ NGÀY 21.5 ĐẾN 26.6.2011 - phần 20
THAM VẤN ĐẠO LÝ TẠI ÚC CHÂU TỪ NGÀY 21.5 ĐẾN 26.6.2011 - phần 24
THAM VẤN ĐẠO LÝ TẠI ÚC CHÂU TỪ NGÀY 21.5 ĐẾN 26.6.2011 - phần 19
THAM VẤN ĐẠO LÝ TẠI ÚC CHÂU TỪ NGÀY 21.5 ĐẾN 26.6.2011 - phần 18
THAM VẤN ĐẠO LÝ TẠI ÚC CHÂU TỪ NGÀY 21.5 ĐẾN 26.6.2011 - phần 17
THAM VẤN ĐẠO LÝ TẠI ÚC CHÂU TỪ NGÀY 21.5 ĐẾN 26.6.2011 - phần 16
THAM VẤN ĐẠO LÝ TẠI ÚC CHÂU TỪ NGÀY 21.5 ĐẾN 26.6.2011 - phần 13
THAM VẤN ĐẠO LÝ TẠI ÚC CHÂU TỪ NGÀY 21.5 ĐẾN 26.6.2011 - phần 14
THAM VẤN ĐẠO LÝ TẠI ÚC CHÂU TỪ NGÀY 21.5 ĐẾN 26.6.2011 - phần 12
THAM VẤN ĐẠO LÝ TẠI ÚC CHÂU TỪ NGÀY 21.5 ĐẾN 26.6.2011 - phần 11
THAM VẤN ĐẠO LÝ TẠI ÚC CHÂU TỪ NGÀY 21.5 ĐẾN 26.6.2011 - phần 6
THAM VẤN ĐẠO LÝ TẠI ÚC CHÂU TỪ NGÀY 21.5 ĐẾN 26.6.2011 - phần 5
THAM VẤN ĐẠO LÝ TẠI ÚC CHÂU TỪ NGÀY 21.5 ĐẾN 26.6.2011 - phần 15
THAM VẤN ĐẠO LÝ TẠI ÚC CHÂU TỪ NGÀY 21.5 ĐẾN 26.6.2011 - phần 9
THAM VẤN ĐẠO LÝ TẠI ÚC CHÂU TỪ NGÀY 21.5 ĐẾN 26.6.2011 - phần 8
THAM VẤN ĐẠO LÝ TẠI ÚC CHÂU TỪ NGÀY 21.5 ĐẾN 26.6.2011 - phần 7
THAM VẤN ĐẠO LÝ TẠI ÚC CHÂU TỪ NGÀY 21.5 ĐẾN 26.6.2011 - phần 4
THAM VẤN ĐẠO LÝ TẠI ÚC CHÂU TỪ NGÀY 21.5 ĐẾN 26.6.2011 - phần 3
THAM VẤN ĐẠO LÝ TẠI ÚC CHÂU TỪ NGÀY 21.5 ĐẾN 26.6.2011 - phần 2
THAM VẤN ĐẠO LÝ TẠI ÚC CHÂU TỪ NGÀY 21.5 ĐẾN 26.6.2011 - phần 1
THAM VẤN ĐẠO LÝ TẠI ÚC CHÂU TỪ NGÀY 21.5 ĐẾN 26.6.2011 - phần 10
Phát Tâm Bổ Đề - phần 3
Phát Tâm Bổ Đề - phần 2
Phát Tâm Bổ Đề - phần 1
Phát Tâm Bổ Đề - phần 4
Năng Lực Bồ Đề Tâm - phần 3
Năng Lực Bồ Đề Tâm - phần 2
Năng Lực Bồ Đề Tâm - phần 1
Năng Lực Bồ Đề Tâm - phần 4
Làm Thế Nào Phát Khởi Bồ Đề Tâm - phần 3
Làm Thế Nào Phát Khởi Bồ Đề Tâm - phần 2
Làm Thế Nào Phát Khởi Bồ Đề Tâm - phần 1
Làm Thế Nào Phát Khởi Bồ Đề Tâm - phần 4
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 14
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 13
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 31
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 30
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 29
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 28
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 32
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 27
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 25
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 26
LỜI KHAI THỊ CỦA THIỀN SƯ DUY TẮC - phần 1
Phát Bồ đề tâm - phần 1
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 24
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 22
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 21
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 20
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 19
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 18
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 17
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 23
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 16
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 14
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 13
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 12
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 11
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 10
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 9
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 15
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 8
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 7
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 6
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 5
TÂM là Cội Nguồn của muôn pháp - phần 3
TÂM là Cội Nguồn của muôn pháp - phần 2
TÂM là Cội Nguồn của muôn pháp - phần 1
TÂM là Cội Nguồn của muôn pháp - phần 4
Biển khổ không bờ xoay đầu liền thấy - phần 3
Biển khổ không bờ xoay đầu liền thấy - phần 2
Biển khổ không bờ xoay đầu liền thấy - phần 1
Biển khổ không bờ xoay đầu liền thấy - phần 4
HÃY TỰ MÌNH THẮP ĐUỐC LÊN MÀ ĐI - phần 5
HÃY TỰ MÌNH THẮP ĐUỐC LÊN MÀ ĐI - phần 4
HÃY TỰ MÌNH THẮP ĐUỐC LÊN MÀ ĐI - phần 3
HÃY TỰ MÌNH THẮP ĐUỐC LÊN MÀ ĐI - phần 2
HÃY TỰ MÌNH THẮP ĐUỐC LÊN MÀ ĐI - phần 1
HÃY TỰ MÌNH THẮP ĐUỐC LÊN MÀ ĐI - phần 6
Pháp Bảo Là Tối Thượng - phần 5
Pháp Bảo Là Tối Thượng - phần 4
Pháp Bảo Là Tối Thượng - phần 3
Pháp Bảo Là Tối Thượng - phần 2
Pháp Bảo Là Tối Thượng - phần 1
Pháp Bảo Là Tối Thượng - phần 6
TÂM HIẾU LÀ TÂM PHẬT - phần 5
TÂM HIẾU LÀ TÂM PHẬT - phần 4
TÂM HIẾU LÀ TÂM PHẬT - phần 3
TÂM HIẾU LÀ TÂM PHẬT - phần 2
TÂM HIẾU LÀ TÂM PHẬT - phần 1
TÂM HIẾU LÀ TÂM PHẬT - phần 6
MỤC ĐÍCH CỦA SỰ TU THIỀN - phần 14
MỤC ĐÍCH CỦA SỰ TU THIỀN - phần 13
MỤC ĐÍCH CỦA SỰ TU THIỀN - phần 12
MỤC ĐÍCH CỦA SỰ TU THIỀN - phần 11
MỤC ĐÍCH CỦA SỰ TU THIỀN - phần 10
MỤC ĐÍCH CỦA SỰ TU THIỀN - phần 9
MỤC ĐÍCH CỦA SỰ TU THIỀN - phần 8
MỤC ĐÍCH CỦA SỰ TU THIỀN - phần 7
MỤC ĐÍCH CỦA SỰ TU THIỀN - phần 6
MỤC ĐÍCH CỦA SỰ TU THIỀN - phần 5
MỤC ĐÍCH CỦA SỰ TU THIỀN - phần 4
MỤC ĐÍCH CỦA SỰ TU THIỀN - phần 3
MỤC ĐÍCH CỦA SỰ TU THIỀN - phần 2
MỤC ĐÍCH CỦA SỰ TU THIỀN - phần 1
MỤC ĐÍCH CỦA SỰ TU THIỀN - phần 15
Đức Phật Hiện Thân Một Con Người Bình Dị - phần 6
Đức Phật Hiện Thân Một Con Người Bình Dị - phần 5
Đức Phật Hiện Thân Một Con Người Bình Dị - phần 4
Đức Phật Hiện Thân Một Con Người Bình Dị - phần 3
Đức Phật Hiện Thân Một Con Người Bình Dị - phần 2
Đức Phật Hiện Thân Một Con Người Bình Dị - phần 1
Đức Phật Hiện Thân Một Con Người Bình Dị - phần 7
Sáu nẻo luân hồi - phần 4
Sáu nẻo luân hồi - phần 3
Sáu nẻo luân hồi - phần 2
Sáu nẻo luân hồi - phần 1
Sáu nẻo luân hồi - phần 5
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 28
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 27
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 26
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 25
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 24
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 23
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 22
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 21
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 20
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 19
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 18
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 17
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 16
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 15
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 14
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 13
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 12
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 11
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 10
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 9
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 8
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 7
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 6
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 5
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 4
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 3
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 2
THẬP GIỚI CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU - phần 1
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 28
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 27
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 26
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 25
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 24
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 23
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 22
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 21
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 20
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 19
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 18
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 17
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 16
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 15
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 14
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 13
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 12
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 11
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 10
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 9
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 8
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 7
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 6
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 5
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 4
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 3
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 2
Tì Ni Con Đường Chuyển Hoá Nội Tâm - phần 1
Tỳ ni con đường chuyển hóa nội tâm đĩa 1 - phần 19
Kinh pháp cú - phần 34
Kinh pháp cú - phần 33
Kinh pháp cú - phần 32
Kinh pháp cú - phần 31
Kinh pháp cú - phần 30
Kinh pháp cú - phần 29
Kinh pháp cú - phần 28
Kinh pháp cú - phần 27
Kinh pháp cú - phần 26
Kinh pháp cú - phần 25
Kinh pháp cú - phần 24
Kinh pháp cú - phần 23
Kinh pháp cú - phần 22
Kinh pháp cú - phần 21
Kinh pháp cú - phần 20
Kinh pháp cú - phần 19
Kinh pháp cú - phần 18
Kinh pháp cú - phần 17
Kinh pháp cú - phần 16
Kinh pháp cú - phần 15
Kinh pháp cú - phần 14
Kinh pháp cú - phần 13
Kinh pháp cú - phần 35
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 4
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 3
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 2
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 3 (Phần 3) - phần 1
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 62
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 61
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 60
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 59
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 65
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 64
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 63
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 49
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 48
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 47
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 50
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 56
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 55
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 53
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 54
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 52
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 51
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 46
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 58
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 57
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 44
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 43
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 42
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 41
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 40
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 39
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 38
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 37
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 36
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 35
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 34
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 45
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 32
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 31
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 30
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 29
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 28
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 26
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 27
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 25
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 33
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 23
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 22
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 21
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 20
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 19
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 18
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 17
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 16
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 15
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 14
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 13
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 12
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 11
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 10
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 9
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 8
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 7
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 6
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 5
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 4
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 3
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 2
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 1
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI (phần 2) - phần 24
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 86
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 85
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 84
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 83
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 82
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 81
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 80
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 79
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 78
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 77
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 76
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 75
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 74
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 87
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 72
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 71
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 70
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 69
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 68
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 67
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 66
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 65
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 64
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 63
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 62
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 61
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 60
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 59
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 58
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 57
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 56
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 55
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 54
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 53
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 52
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 51
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 50
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 49
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 48
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 73
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 46
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 45
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 44
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 43
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 42
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 41
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 40
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 39
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 38
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 37
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 36
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 35
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 34
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 33
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 32
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 31
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 47
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 29
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 28
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 27
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 26
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 25
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 24
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 23
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 22
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 21
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 20
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 19
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 18
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 17
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 16
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 15
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 14
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 13
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 30
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 12
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 10
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 9
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 11
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 7
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 6
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 5
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 4
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 3
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 2
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 1
THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI 1 (Phần 1) - phần 8
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 55
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 54
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 53
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 52
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 51
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 50
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 49
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 48
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 47
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 46
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 45
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 44
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 43
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 42
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 41
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 40
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 39
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 38
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 37
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 36
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 35
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 34
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 33
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 32
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 31
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 2
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 3
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 30
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 29
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 28
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 27
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 26
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 25
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 24
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 23
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 22
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 21
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 20
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 19
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 18
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 17
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 16
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 15
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 14
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 13
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 12
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 11
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 10
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 9
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 8
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 7
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 6
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 5
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 4
QUI SƠN CẢNH SÁCH - phần 1
OAI NGHI - phần 26
OAI NGHI - phần 24
OAI NGHI - phần 45
OAI NGHI - phần 44
OAI NGHI - phần 43
OAI NGHI - phần 42
OAI NGHI - phần 41
OAI NGHI - phần 40
OAI NGHI - phần 39
OAI NGHI - phần 38
OAI NGHI - phần 37
OAI NGHI - phần 36
OAI NGHI - phần 35
OAI NGHI - phần 34
OAI NGHI - phần 33
OAI NGHI - phần 32
OAI NGHI - phần 31
OAI NGHI - phần 30
OAI NGHI - phần 29
OAI NGHI - phần 28
OAI NGHI - phần 27
OAI NGHI - phần 25
OAI NGHI - phần 23
OAI NGHI - phần 22
OAI NGHI - phần 22
OAI NGHI - phần 21
OAI NGHI - phần 20
OAI NGHI - phần 19
OAI NGHI - phần 18
OAI NGHI - phần 17
OAI NGHI - phần 16
OAI NGHI - phần 15
OAI NGHI - phần 14
OAI NGHI - phần 13
OAI NGHI - phần 12
OAI NGHI - phần 11
OAI NGHI - phần 10
OAI NGHI - phần 9
OAI NGHI - phần 8
OAI NGHI - phần 7
OAI NGHI - phần 6
OAI NGHI - phần 5
OAI NGHI - phần 4
OAI NGHI - phần 3
OAI NGHI - phần 2
OAI NGHI - phần 1
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 12
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 11
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 10
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 9
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 8
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 7
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 6
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 5
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 4
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 3
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 2
Khúc Ca Chứng Đạo - phần 1
Thiền là phương thuốc trị tâm bệnh chúng sanh - phần 11
Thiền là phương thuốc trị tâm bệnh chúng sanh - phần 10
Thiền là phương thuốc trị tâm bệnh chúng sanh - phần 9
Thiền là phương thuốc trị tâm bệnh chúng sanh - phần 8
Thiền là phương thuốc trị tâm bệnh chúng sanh - phần 7
Thiền là phương thuốc trị tâm bệnh chúng sanh - phần 6
Thiền là phương thuốc trị tâm bệnh chúng sanh - phần 5
Thiền là phương thuốc trị tâm bệnh chúng sanh - phần 4
Thiền là phương thuốc trị tâm bệnh chúng sanh - phần 3
Thiền là phương thuốc trị tâm bệnh chúng sanh - phần 2
Thiền là phương thuốc trị tâm bệnh chúng sanh - phần 1
Thuyền lớn vượt trùng dương - phần 1
Thuyền lớn vượt trùng dương - phần 2
Đâu là hạnh phúc chân thật - phần 1
Đâu là hạnh phúc chân thật - phần 2
Công đức nghe pháp - phần 1
Công đức nghe pháp - phần 2
Cẩn ngôn - phần 1
Cẩn ngôn - phần 2
Của báu thế gian và xuất thế gian - phần 1
Của báu thế gian và xuất thế gian - phần 2
Sức mạnh của lòng từ - phần 3
Sức mạnh của lòng từ - phần 2
Sức mạnh của lòng từ - phần 1
Sức mạnh của lòng từ - phần 4
Năng lực của sự tùy hỷ - phần 1
Năng lực của sự tùy hỷ - phần 2
Mười điều tâm niệm - phần 1
Mười điều tâm niệm - phần 2
Ý nghĩa tam quy ngũ giới - phần 6
Ý nghĩa tam quy ngũ giới - phần 4
Ý nghĩa tam quy ngũ giới - phần 3
Ý nghĩa tam quy ngũ giới - phần 5
Ý nghĩa tam quy ngũ giới - phần 1
Ý nghĩa tam quy ngũ giới - phần 2
Thiền là phương thuốc trị tâm bệnh chúng sanh - phần 2
Thiền là phương thuốc trị tâm bệnh chúng sanh - phần 1
Thiền con đường của sự chứng nghiệm - phần 2
Thiền con đường của sự chứng nghiệm - phần 1
Thiền con đường của sự chứng nghiệm - phần 3
Thiền là con đường vô sở trụ - phần 2
Thiền là con đường vô sở trụ - phần 3
Thiền là con đường vô sở trụ - phần 1
Tỳ ni con đường chuyển hóa nội tâm đĩa 1 - phần 17
Tỳ ni con đường chuyển hóa nội tâm đĩa 1 - phần 16
Tỳ ni con đường chuyển hóa nội tâm đĩa 1 - phần 18
Tỳ ni con đường chuyển hóa nội tâm đĩa 1 - phần 14
Tỳ ni con đường chuyển hóa nội tâm đĩa 1 - phần 13
Tỳ ni con đường chuyển hóa nội tâm đĩa 1 - phần 15
Tỳ ni con đường chuyển hóa nội tâm đĩa 1 - phần 11
Tỳ ni con đường chuyển hóa nội tâm đĩa 1 - phần 12
Tỳ ni con đường chuyển hóa nội tâm đĩa 1 - phần 9
Tỳ ni con đường chuyển hóa nội tâm đĩa 1 - phần 8
Tỳ ni con đường chuyển hóa nội tâm đĩa 1 - phần 7
Tỳ ni con đường chuyển hóa nội tâm đĩa 1 - phần 10
Tỳ ni con đường chuyển hóa nội tâm đĩa 1 - phần 5
Tỳ ni con đường chuyển hóa nội tâm đĩa 1 - phần 6
Tỳ ni con đường chuyển hóa nội tâm đĩa 1 - phần 3
Tỳ ni con đường chuyển hóa nội tâm đĩa 1 - phần 4
Tỳ ni con đường chuyển hóa nội tâm đĩa 1 - phần 2
Tỳ ni con đường chuyển hóa nội tâm đĩa 1 - phần 1
Kinh pháp cú - phần 11
Kinh pháp cú - phần 10
Kinh pháp cú - phần 9
Kinh pháp cú - phần 8
Kinh pháp cú - phần 7
Kinh pháp cú - phần 12
Kinh pháp cú - phần 5
Kinh pháp cú - phần 4
Kinh pháp cú - phần 3
Kinh pháp cú - phần 6
Kinh pháp cú - phần 2
Kinh pháp cú - phần 1
Video mới nhất
48 Dai Nguyen_5 (phan 3)
48 Dai Nguyen_4 (phan 3)
48 Dai Nguyen_3 (phan 3)
48 Dai Nguyen_2 (phan 3)
48 Dai Nguyen_1 (phan 3)
10 HẠNH KHÔNG MONG CẦU (Phần 1) - phần 5
10 HẠNH KHÔNG MONG CẦU (Phần 1) - phần 4
10 Hạnh Không Mong Cầu (Phần 3) - 05
10 Hạnh Không Mong Cầu (Phần 3) - 04
10 Hạnh Không Mong Cầu (Phần 3) - 03
10 Hạnh Không Mong Cầu (Phần 3)- 02
10 Hạnh Không Mong Cầu (Phần 3) - 01
Biểu Tướng và Ẩn Tàng 04
Biểu Tướng và Ẩn Tàng 03
Biểu Tướng và Ẩn Tàng 02
Biểu Tướng và Ẩn Tàng 01
48 Đại Nguyện Của Phật A Di Đà - Phần 04
48 Đại Nguyện Của Phật A Di Đà - Phần 03
48 Đại Nguyện Của Phật A Di Đà - Phần 02
48 Đại Nguyện Của Phật A Di Đà - Phần 01
10 HẠNH KHÔNG MONG CẦU (Phần 1) - phần 2
10 HẠNH KHÔNG MONG CẦU (Phần 1) - phần 3
10 Hạnh Không Mong Cầu 04
10 Hạnh Không Mong Cầu 03
10 Hạnh Không Mong Cầu 02
10 Hạnh Không Mong cầu 01
48 Đại Nguyện của Phật A Di Đà phần 04
48 Đại Nguyện của Phật A Di Đà phần 03
48 Đại Nguyện của Phật A Di Đà phần 02
48 Đại Nguyện của Phật A Di Đà phần 01
Phát Bồ Đề Tâm - Phần 4+ 5: TÁM TƯỚNG TRẠNG (4)
Phát Bồ Đề Tâm - Phần 4+ 5: TÁM TƯỚNG TRẠNG (3)
Phát Bồ Đề Tâm - Phần 4+ 5: TÁM TƯỚNG TRẠNG (2)
Phát Bồ Đề Tâm - Phần 4+ 5: TÁM TƯỚNG TRẠNG (1)
Có một con đường dứt khổ an vui - Phần 3: Niệm Tăng và Niệm giới (4)
Có một con đường dứt khổ an vui - Phần 3: Niệm Tăng và Niệm giới (3)
Có một con đường dứt khổ an vui - Phần 3: Niệm Tăng và Niệm giới (2)
Có một con đường dứt khổ an vui -Phần 3: Niệm Tăng và Niệm giới ( 1)
HÀNH TRANG CHO NGÀY CUỐI - phần 1
HÀNH TRANG CHO NGÀY CUỐI - phần 2
HÀNH TRANG CHO NGÀY CUỐI - phần 3
HÀNH TRANG CHO NGÀY CUỐI - phần 4
HÀNH TRANG CHO NGÀY CUỐI - phần 5
Diệu Chỉ Công Phu Tu Thiền _ Thích Đạt Ma Khế Định _ TvSungphuc.net
Diệu Chỉ Công Phu Tu Thiền - Phần 03 - phần 3
Diệu Chỉ Công Phu Tu Thiền - Phần 03 - phần 2
Diệu Chỉ Công Phu Tu Thiền - Phần 03 - phần 1
Tám tướng trạng phát Bồ đề tâm (Phần 3) - phần 3
Tám tướng trạng phát Bồ đề tâm (Phần 3) - phần 2
Tám tướng trạng phát Bồ đề tâm (Phần 3) - phần 1
Tám tướng trạng phát Bồ đề tâm (Phần 3) - phần 4
Có một con đường dứt khổ an vui - Phần 2: Niệm Pháp
Tướng trạng phát Bồ Đề tâm chân chánh
Làm thế nào để có được thân tướng trang nghiêm thanh tịnh
Tứ pháp ấn Phật(Phần 2)-truclamchanhthien.net
Tứ pháp ấn Phật (Phần 1) - truclamchanhthien.net
Đạo người xuất gia - phần 4
Đạo người xuất gia - phần 3
Đạo người xuất gia - phần 2
Đạo người xuất gia - phần 1
Giá trị công năng tu thiền - phần 4
Giá trị công năng tu thiền - phần 3
Giá trị công năng tu thiền - phần 2
Giá trị công năng tu thiền - phần 1
Hữu Thân Hữu Khổ - phần 4
Hữu Thân Hữu Khổ - phần 3
Hữu Thân Hữu Khổ - phần 2
Hữu Thân Hữu Khổ - phần 1
Hữu Thân Hữu Khổ - phần 5
Tám tướng trạng phát Bồ đề tâm (Phần 1) - phần 3
Tám tướng trạng phát Bồ đề tâm (Phần 1) - phần 2
Tám tướng trạng phát Bồ đề tâm (Phần 1) - phần 1
Tám tướng trạng phát Bồ đề tâm (Phần 1) - phần 4
VĂN KHUYẾT PHÁT BỒ ĐỀ TÂM - phần 2
VĂN KHUYẾT PHÁT BỒ ĐỀ TÂM - phần 4
VĂN KHUYẾT PHÁT BỒ ĐỀ TÂM - phần 3
VĂN KHUYẾT PHÁT BỒ ĐỀ TÂM - phần 1
VĂN KHUYẾT PHÁT BỒ ĐỀ TÂM - phần 5
TỨ PHÁP ẤN PHẬT - phần 9
TỨ PHÁP ẤN PHẬT - phần 8
TỨ PHÁP ẤN PHẬT - phần 7
TỨ PHÁP ẤN PHẬT - phần 6
TỨ PHÁP ẤN PHẬT - phần 10
TỨ PHÁP ẤN PHẬT - phần 4
TỨ PHÁP ẤN PHẬT - phần 3
TỨ PHÁP ẤN PHẬT - phần 2
TỨ PHÁP ẤN PHẬT - phần 1
TỨ PHÁP ẤN PHẬT - phần 5
Có một con đường dứt khổ an vui Phần 1 - Niệm Phật - phần 5
Có một con đường dứt khổ an vui Phần 1 - Niệm Phật - phần 4
Có một con đường dứt khổ an vui Phần 1 - Niệm Phật - phần 3
Có một con đường dứt khổ an vui Phần 1 - Niệm Phật - phần 2
Có một con đường dứt khổ an vui Phần 1 - Niệm Phật - phần 1
Lễ tạc tượng Phật ngọc Thiền viện trúc lâm Chánh Thiện - phần 2
Lễ tạc tượng Phật ngọc Thiền viện trúc lâm Chánh Thiện - phần 1
Vui với hạnh phúc của người chính là hạnh phúc của mình - phần 4
Vui với hạnh phúc của người chính là hạnh phúc của mình - phần 3
Vui với hạnh phúc của người chính là hạnh phúc của mình - phần 2
Vui với hạnh phúc của người chính là hạnh phúc của mình - phần 1
Thiền trong biển dục - phần 6
Thiền trong biển dục - phần 5
Thiền trong biển dục - phần 4
Thiền trong biển dục - phần 3
Thiền trong biển dục - phần 2
Thiền trong biển dục - phần 1
Cận tử nghiệp - phần 3
Cận tử nghiệp - phần 2
Cận tử nghiệp - phần 1
Tại sao chúng ta phải phát Bồ Đề tâm - phần 6
Tại sao chúng ta phải phát Bồ Đề tâm - phần 5
Tại sao chúng ta phải phát Bồ Đề tâm - phần 4
Tại sao chúng ta phải phát Bồ Đề tâm - phần 3
Tại sao chúng ta phải phát Bồ Đề tâm - phần 2
Tại sao chúng ta phải phát Bồ Đề tâm - phần 1
Năm pháp che lấp tự tánh Bát Nhã - phần 9
Năm pháp che lấp tự tánh Bát Nhã - phần 8
Năm pháp che lấp tự tánh Bát Nhã - phần 7
Năm pháp che lấp tự tánh Bát Nhã - phần 6
Năm pháp che lấp tự tánh Bát Nhã - phần 5
Năm pháp che lấp tự tánh Bát Nhã - phần 4
Năm pháp che lấp tự tánh Bát Nhã - phần 3
Năm pháp che lấp tự tánh Bát Nhã - phần 2
Năm pháp che lấp tự tánh Bát Nhã - phần 1
TẬP SỐNG VỚI CON NGƯỜI TỈNH THỨC - phần 2
TẬP SỐNG VỚI CON NGƯỜI TỈNH THỨC - phần 1
PHÁP HÀNH THIỀN TẬP KHI QUÉT CHÙA - phần 3
TỨ QUÁN HẠNH CỦA TỔ BỒ ĐỀ ĐẠT MA - phần 8
TỨ QUÁN HẠNH CỦA TỔ BỒ ĐỀ ĐẠT MA - phần 7
TỨ QUÁN HẠNH CỦA TỔ BỒ ĐỀ ĐẠT MA - phần 6
TỨ QUÁN HẠNH CỦA TỔ BỒ ĐỀ ĐẠT MA - phần 5
TỨ QUÁN HẠNH CỦA TỔ BỒ ĐỀ ĐẠT MA - phần 4
TỨ QUÁN HẠNH CỦA TỔ BỒ ĐỀ ĐẠT MA - phần 3
TỨ QUÁN HẠNH CỦA TỔ BỒ ĐỀ ĐẠT MA - phần 2
TỨ QUÁN HẠNH CỦA TỔ BỒ ĐỀ ĐẠT MA - phần 1
NGƯỜI TU PHẬT CẦN PHẢI BIẾT TRƯỚC PHÚT LÂM CHUNG - phần 3
NGƯỜI TU PHẬT CẦN PHẢI BIẾT TRƯỚC PHÚT LÂM CHUNG - phần 4
NGƯỜI TU PHẬT CẦN PHẢI BIẾT TRƯỚC PHÚT LÂM CHUNG - phần 1
NGƯỜI TU PHẬT CẦN PHẢI BIẾT TRƯỚC PHÚT LÂM CHUNG - phần 2
PHÁP HÀNH THIỀN KHI CẮM HƯƠNG - phần 4
PHÁP HÀNH THIỀN KHI CẮM HƯƠNG - phần 3
PHÁP HÀNH THIỀN KHI CẮM HƯƠNG - phần 2
PHÁP HÀNH THIỀN KHI CẮM HƯƠNG - phần 1
PHÁP HÀNH THIỀN TẬP KHI ĐỐT HƯƠNG - phần 6
PHÁP HÀNH THIỀN TẬP KHI ĐỐT HƯƠNG - phần 5
PHÁP HÀNH THIỀN TẬP KHI ĐỐT HƯƠNG - phần 4
PHÁP HÀNH THIỀN TẬP KHI ĐỐT HƯƠNG - phần 3
PHÁP HÀNH THIỀN TẬP KHI ĐỐT HƯƠNG - phần 2
PHÁP HÀNH THIỀN TẬP KHI ĐỐT HƯƠNG - phần 1
TỊNH ĐỘ NƠI ẤY BÂY GIỜ VÀ Ở ĐÂY - phần 17
TỊNH ĐỘ NƠI ẤY BÂY GIỜ VÀ Ở ĐÂY - phần 16
TỊNH ĐỘ NƠI ẤY BÂY GIỜ VÀ Ở ĐÂY - phần 15
TỊNH ĐỘ NƠI ẤY BÂY GIỜ VÀ Ở ĐÂY - phần 14
TỊNH ĐỘ NƠI ẤY BÂY GIỜ VÀ Ở ĐÂY - phần 13
TỊNH ĐỘ NƠI ẤY BÂY GIỜ VÀ Ở ĐÂY - phần 18
TỊNH ĐỘ NƠI ẤY BÂY GIỜ VÀ Ở ĐÂY - phần 11
TỊNH ĐỘ NƠI ẤY BÂY GIỜ VÀ Ở ĐÂY - phần 12
TỊNH ĐỘ NƠI ẤY BÂY GIỜ VÀ Ở ĐÂY - phần 9
TỊNH ĐỘ NƠI ẤY BÂY GIỜ VÀ Ở ĐÂY - phần 8
TỊNH ĐỘ NƠI ẤY BÂY GIỜ VÀ Ở ĐÂY - phần 7
TỊNH ĐỘ NƠI ẤY BÂY GIỜ VÀ Ở ĐÂY - phần 10
TỊNH ĐỘ NƠI ẤY BÂY GIỜ VÀ Ở ĐÂY - phần 5
TỊNH ĐỘ NƠI ẤY BÂY GIỜ VÀ Ở ĐÂY - phần 4
TỊNH ĐỘ NƠI ẤY BÂY GIỜ VÀ Ở ĐÂY - phần 6
TỊNH ĐỘ NƠI ẤY BÂY GIỜ VÀ Ở ĐÂY - phần 2
TỊNH ĐỘ NƠI ẤY BÂY GIỜ VÀ Ở ĐÂY - phần 1
TỊNH ĐỘ NƠI ẤY BÂY GIỜ VÀ Ở ĐÂY - phần 3
PHÁT BỒ ĐỀ TÂM TRONG BIỂN LỬA - phần 8
PHÁT BỒ ĐỀ TÂM TRONG BIỂN LỬA - phần 9
PHÁT BỒ ĐỀ TÂM TRONG BIỂN LỬA - phần 6
PHÁT BỒ ĐỀ TÂM TRONG BIỂN LỬA - phần 7
PHÁT BỒ ĐỀ TÂM TRONG BIỂN LỬA - phần 4
PHÁT BỒ ĐỀ TÂM TRONG BIỂN LỬA - phần 3
PHÁT BỒ ĐỀ TÂM TRONG BIỂN LỬA - phần 5
PHÁT BỒ ĐỀ TÂM TRONG BIỂN LỬA - phần 1
PHÁT BỒ ĐỀ TÂM TRONG BIỂN LỬA - phần 2
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 5) - phần 6
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 5) - phần 5
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 5) - phần 4
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 5) - phần 3
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 5) - phần 2
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 5) - phần 1
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 4) - phần 8
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 4) - phần 7
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 4) - phần 6
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 4) - phần 5
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 4) - phần 9
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 4) - phần 3
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 4) - phần 2
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 4) - phần 1
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 4) - phần 4
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 3) - phần 9
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 3) - phần 8
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 3) - phần 7
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 3) - phần 6
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 3) - phần 5
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 3) - phần 4
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 3) - phần 3
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 3) - phần 2
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 3) - phần 1
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 2) - phần 6
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 2) - phần 5
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 2) - phần 4
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 2) - phần 3
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 2) - phần 2
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (Đĩa 2) - phần 1
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (1) - phần 5
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (1) - phần 4
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (1) - phần 3
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (1) - phần 2
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (1) - phần 1
Ý nghĩa 7 bước đi của Đức Phật (1) - phần 6
Đâu là bến đỗ bình yên - phần 5
Đâu là bến đỗ bình yên - phần 4
Đâu là bến đỗ bình yên - phần 3
Đâu là bến đỗ bình yên - phần 2
Đâu là bến đỗ bình yên - phần 1
Kinh hạnh phúc - phần 10
Kinh hạnh phúc - phần 8
Kinh hạnh phúc - phần 9
Kinh hạnh phúc - phần 6
Kinh hạnh phúc - phần 5
Kinh hạnh phúc - phần 7
Kinh hạnh phúc - phần 3
Kinh hạnh phúc - phần 4
Kinh hạnh phúc - phần 1
Kinh hạnh phúc - phần 2
Những Nghịch Cảnh Giữa Đời Thường - phần 12
Những Nghịch Cảnh Giữa Đời Thường - phần 11
Những Nghịch Cảnh Giữa Đời Thường - phần 10
Những Nghịch Cảnh Giữa Đời Thường - phần 9
Những Nghịch Cảnh Giữa Đời Thường - phần 8
Những Nghịch Cảnh Giữa Đời Thường - phần 7
Những Nghịch Cảnh Giữa Đời Thường - phần 6
Những Nghịch Cảnh Giữa Đời Thường - phần 5
Những Nghịch Cảnh Giữa Đời Thường - phần 4
Những Nghịch Cảnh Giữa Đời Thường - phần 3
Những Nghịch Cảnh Giữa Đời Thường - phần 2
Những Nghịch Cảnh Giữa Đời Thường - phần 1
Tâm Tịnh Phật Độ Tịnh - phần 10
Tâm Tịnh Phật Độ Tịnh - phần 9
Tâm Tịnh Phật Độ Tịnh - phần 8
Tâm Tịnh Phật Độ Tịnh - phần 7
Tâm Tịnh Phật Độ Tịnh - phần 6
Tâm Tịnh Phật Độ Tịnh - phần 5
Tâm Tịnh Phật Độ Tịnh - phần 4
Tâm Tịnh Phật Độ Tịnh - phần 3
Tâm Tịnh Phật Độ Tịnh - phần 2
Tâm Tịnh Phật Độ Tịnh - phần 1
Có Một Con Đường - phần 9
Có Một Con Đường - phần 8
Có Một Con Đường - phần 7
Có Một Con Đường - phần 6
Có Một Con Đường - phần 5
Có Một Con Đường - phần 4
Có Một Con Đường - phần 3
Có Một Con Đường - phần 2
Có Một Con Đường - phần 1
Nhẫn là chánh hạnh thành Phật - phần 3
Nhẫn là chánh hạnh thành Phật - phần 1
Nhẫn là chánh hạnh thành Phật - phần 2
Đạo Phật đến để mà thấy - phần 3
Đạo Phật đến để mà thấy - phần 4
Đạo Phật đến để mà thấy - phần 1
Đạo Phật đến để mà thấy - phần 2
Kinh Địa tạng qua cái thấy nhà Thiền - phần 4
Kinh Địa tạng qua cái thấy nhà Thiền - phần 5
Kinh Địa tạng qua cái thấy nhà Thiền - phần 2
Kinh Địa tạng qua cái thấy nhà Thiền - phần 1
Kinh Địa tạng qua cái thấy nhà Thiền - phần 3
Quán niệm về cái chết trong cuộc sống đời thường - phần 6
Quán niệm về cái chết trong cuộc sống đời thường - phần 7
Quán niệm về cái chết trong cuộc sống đời thường - phần 4
Quán niệm về cái chết trong cuộc sống đời thường - phần 3
Quán niệm về cái chết trong cuộc sống đời thường - phần 5
Quán niệm về cái chết trong cuộc sống đời thường - phần 1
Quán niệm về cái chết trong cuộc sống đời thường - phần 2
Chết là hạnh phúc hay khổ đau - phần 4
Chết là hạnh phúc hay khổ đau - phần 5
Chết là hạnh phúc hay khổ đau - phần 3
07 tài sản của người tu Phật - phần 14
07 tài sản của người tu Phật - phần 13
07 tài sản của người tu Phật - phần 12
07 tài sản của người tu Phật - phần 11
07 tài sản của người tu Phật - phần 10
07 tài sản của người tu Phật - phần 9
07 tài sản của người tu Phật - phần 8
07 tài sản của người tu Phật - phần 7
07 tài sản của người tu Phật - phần 6
07 tài sản của người tu Phật - phần 5
07 tài sản của người tu Phật - phần 4
07 tài sản của người tu Phật - phần 3
07 tài sản của người tu Phật - phần 1
07 tài sản của người tu Phật - phần 2
Chết là hạnh phúc hay khổ đau - phần 1
Chết là hạnh phúc hay khổ đau - phần 2
Nghiệp con đường của sự tái sinh - phần 4
Nghiệp con đường của sự tái sinh - phần 5
Nghiệp con đường của sự tái sinh - phần 6
Nghiệp con đường của sự tái sinh - phần 2
Nghiệp con đường của sự tái sinh - phần 1
Nghiệp con đường của sự tái sinh - phần 3
Pháp là con thuyền đưa chúng sanh thoát khổ - phần 7
Pháp là con thuyền đưa chúng sanh thoát khổ - phần 6
Pháp là con thuyền đưa chúng sanh thoát khổ - phần 5
Pháp là con thuyền đưa chúng sanh thoát khổ - phần 4
Pháp là con thuyền đưa chúng sanh thoát khổ - phần 3
Pháp là con thuyền đưa chúng sanh thoát khổ - phần 2
Pháp là con thuyền đưa chúng sanh thoát khổ - phần 1
Pháp là con thuyền đưa chúng sanh thoát khổ - phần 8
Tu thiền có lợi ích gì trong cuộc sống - phần 5
Tu thiền có lợi ích gì trong cuộc sống - phần 4
Tu thiền có lợi ích gì trong cuộc sống - phần 3
Tu thiền có lợi ích gì trong cuộc sống - phần 2
Tu thiền có lợi ích gì trong cuộc sống - phần 1
Tu thiền có lợi ích gì trong cuộc sống - phần 6
Chết con đường chúng ta phải đi - phần 7
Chết con đường chúng ta phải đi - phần 6
Chết con đường chúng ta phải đi - phần 5
Chết con đường chúng ta phải đi - phần 8
Chết con đường chúng ta phải đi - phần 3
Chết con đường chúng ta phải đi - phần 2
Chết con đường chúng ta phải đi - phần 1
Chết con đường chúng ta phải đi - phần 4
Ngộ là huyết mạch của thiền - phần 5
Ngộ là huyết mạch của thiền - phần 4
Ngộ là huyết mạch của thiền - phần 3
Ngộ là huyết mạch của thiền - phần 2
Ngộ là huyết mạch của thiền - phần 1
Ngộ là huyết mạch của thiền - phần 6
Một bước đạp tan tam giới mộng - phần 4
Một bước đạp tan tam giới mộng - phần 3
Một bước đạp tan tam giới mộng - phần 1
Một bước đạp tan tam giới mộng - phần 2
Tâm là chủ muôn pháp - phần 1
Tâm là chủ muôn pháp - phần 2
Tâm là chủ muôn pháp - phần 5
Tâm là chủ muôn pháp - phần 4
Tâm là chủ muôn pháp - phần 3
Tâm là chủ muôn pháp - phần 6