Sấm Chớp Giữa Tầng Không – Tập 1
VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC VIỆT NAM
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG THIỀN HỌC BẮC TRUYỀN
THÍCH ĐẠT MA KHẾ ĐỊNH
Sấm Chớp Giữa Tầng Không – Tập 1

Mục Lục
Lời Tựa
1. Một Bông Hoa Bất Diệt
2. Có Tự Thuở Nào
3. An Tâm Tại Vọng Tình
4. Tội Tánh Vốn Không
5. Đâu Có Xa
6. Quên Mình Theo Vật
7. Khổ – Còn Có Khổ Của Chúng Sanh
8. Đạp Đổ Tịnh Bình
9. Con Trâu Của Quy Sơn
10. Không Ai Nhường Ai
11. Đâu Có Mất
12. Thánh Đế Không Làm
13. Phật Tánh Không Nam Bắc
14. Bầy Vịt Trời Mã Tổ
15. Chỉ Thẳng Tâm Yếu
16. Hạt Châu Ngài Địa Tạng
17. Hạt Châu Trong Hư Không
18. Thế Nào Là Lục Thông
19. Yếu Chỉ Thiền Tông
20. Rao Bán
21. Con Ngỗng Của Lục Hoàn Công
22. Nước Con An Ổn
23. Kho Báu Nhà Mình
24. Cưỡi Trâu Mà Tìm Trâu
25. Núi Sông Vẫn Là Núi Sông
26. Ông Chủ
27. Sống Trong Hiện Tại
28. Thiên Đường và Địa Ngục
29. Đứng Để Mà Đứng
30. Chén Trà Triệu Châu
31. Chừng Nào Cây Bách Thành Phật
32. Thiền Cửa Miệng
33. Cây Cầu Đá Của Triệu Châu
34. Vô Tâm Thị Đạo
35. Chẳng Phải Như Lai
36. Pháp Thân Luôn Hiện Hữu
37. Tâm Bình Thường Là Đạo
38. Mưa Hoa
39. Hòn Đá Quảng Châu
40. Dọn Cháo
41. Đầu Sào Trăm Trượng
42. Chén Trà Nam Ẩn
43.Ta Không Vào Địa Ngục Thì Ai Vào?
44. Thiền Không Thể Nói
45. Ba Cân Gai
46. Tu Như Thế Nào Mới Phải?
47. Một Niệm Bất Giác
48. Không Giữ Một Vật
49. Sự Giác Ngộ Tối Thượng
50. Gương Đúc Thành Tượng
51. Pháp Tánh Hằng Nhiên
52. Chưa Từng Thiếu Tường Muối
53. Vô Tâm Tức Thị Đạo
54. Hạnh Trực Đâu Cần Tu Thiền
55. Vô Minh Từ Đâu?
56. Thiền Trong Hiện Tại
Lời Tựa
Thế Tôn thị hiện thân vàng trượng sáu nơi cội Vô ưu, thành tựu Vô Thượng Đại Giác nơi cội Bồ-đề, chuyển bánh xe Đại Pháp nơi vườn Lộc uyển, thị tịch nơi Sa- la song thọ. Phải nói cả cuộc đời của Đức Thế Tôn từ nơi đản sanh, đến thành đạo chuyển bánh xe Pháp, thị hiện Niết-bàn đều biểu hiện cảnh giới “Vô sở trụ”.
Bằng chứng cụ thể trên hội Linh Sơn, Thế Tôn khai thị đại chúng ngay nơi tướng mà lìa tướng, cả hội chúng ngơ ngác, riêng Tôn Giả Đại Ca-diếp chúm chím mỉm cười; Thế Tôn liền tuyên bố: “Ta có Chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, Thật tướng vô tướng, lìa văn tự riêng truyền cho Ma-ha Ca-diếp.”
Từ đây dòng Thiền tuôn chảy. Song phải đợi chín năm diện bích mới xuất hiện lời sấm ký:
Ta đến cõi nước này,
Truyền Pháp cứu mê tình.
Một hoa nở năm cánh,
Kết quả tự nhiên thành.Rồi giọt nước nguồn Tào tuôn chảy bất tận. Năm tông bảy phái hình thành, một ngàn bảy trăm tắc công án cũng từ đây mà xuất hiện. Phật Phật thầm trao truyền, Tổ Tổ mật ấn chứng.
Tùng lâm là nơi sản sinh ra Phật Tổ, là thầy của vạn loại, nên những lời khai thị của Tổ sư không ngoài mục đích là tháo đinh nhổ chốt cho hành giả có chí hướng xuất trần.
Gần đây, khi rảnh rỗi chúng tôi tạm mượn lời khai thị của Chư Tổ, ghi lại lời bình để những ai cùng chung chí hướng xem qua. Nếu được lợi ích trong việc tu tập, nguyện công đức này xin hồi hướng lên Hòa Thượng Tông Sư bệnh duyên dứt sạch, thân tâm tự tại cửu trụ nơi đời, làm bóng cây che mát cho thiên hạ.
Việc làm này chỉ là bẩn mắt hàng thiền giả. Tuy nhiên ở trên văn tự mà thể nhập nguồn tâm, qua sông không lụy đò, được ý quên lời nên chúng tôi mạo muội bình những lời trên. Mong hàng trí giả niệm tình, chúng tôi thành thật tri ân.
Trúc Lâm Chánh Thiện
Mùa thu năm Ất Mùi
Cẩn bút: Đạt Ma Khế Định
1. Một Bông Hoa Bất Diệt
Một buổi sớm mai trời thu mát mẻ, trên hội Linh Sơn hội chúng đông đủ. Thế Tôn bước lên tòa, tay cầm cành hoa sen trắng đưa lên, cả hội chúng ngơ ngác nhìn nhau. Chỉ riêng Ngài Ma-ha Ca-diếp chúm chím mỉm cười. Thế Tôn liền tuyên bố: “Ta có Chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, Thật tướng vô tướng, vượt ngoài ngôn ngữ suy tầm, riêng truyền trao cho Ma-ha Ca-diếp”.
Bình:
Đó là thuật dĩ tâm ấn tâm, chẳng thể dùng ngôn ngữ văn tự diễn đạt được. Nếu người khéo nhận thì việc truyền tâm trong nhà thiền đâu ngoài chỗ này. Qua hình ảnh Đức Phật đưa cành hoa sen lên, Tổ Ca- diếp liền khế hội. Đó là Pháp nhãn thanh tịnh, từ nơi cửa mắt mà thấu suốt cội nguồn.
Cho nên trong Kinh Lăng Nghiêm cũng có nói:
“Mười phương chư Phật đồng lời khác miệng dạy bảo ông A-nan rằng: Sáu căn của ông chính là cội rễ sanh tử, mà sáu căn của ông cũng chính là bản thể Niết-bàn”.
2. Có Tự Thuở Nào
Một hôm, A-nan hỏi Ngài Ma-ha Ca-diếp:
• Đức Thế Tôn phó chúc Chánh pháp nhãn tạng, ngoài y kim lan và bình bát, sư huynh nhận được cái gì nữa?
Ca-diếp liền gọi:
• A-nan!
• Dạ!
Ngài Ca-diếp liền nói:
• Là cái gì?
A-nan liền lễ tạ.
Bình:
Tổ Ca-diếp không dùng thủ thuật “Đưa cành hoa sen”, mà Ngài lại dùng thủ thuật tiếng “Dạ” để ấn tâm. Qua tiếng gọi của Ca-diếp, Tôn giả A-nan liền nhận ra được cái “có tự thuở nào”, đó là hình ảnh Thật tướng vô tướng từ nơi cửa lỗ tai mà thấu suốt. Đây là thủ thuật “Dĩ tâm ấn tâm”. Trong nhà thiền các Tổ về sau cũng thường dùng những thủ thuật “kêu-dạ liền đáp.” Vì tai và mắt là hai cửa bén nhạy nhất trong sáu cửa, phải khéo thầm nhận, chớ đừng duyên theo sắc, thinh mà phải đành lưu chuyển.
Một hôm Quốc Sư Huệ Trung gọi:
– Thị giả!
– Dạ!
Sư gọi như thế ba lần, thị giả cũng dạ ba lần. Sư bảo:
-Tưởng ta cô phụ ngươi, nào ngờ ngươi cô phụ ta.
3. An Tâm Tại Vọng Tình
Tung Sơn vắng lặng, chỉ khe khẽ tiếng nước suối róc rách, gọi hồn người tráng sĩ lang bạt mau về chốn cố hương. Từ xa, trong hang sâu tĩnh mịch, một lão già mắt biếc đang ngồi im lìm bất động nhìn sững vào vách đá có tự thuở nào.
Đêm xuống!
Bên ngoài tuyết vẫn rơi.
Khí trời lạnh buốt cả xương tủy, ngoài sân một kiếm khách vẫn im lìm bất động. Dù cho lạnh buốt, cô đơn, buồn tẻ, chàng vẫn đứng đấy. Lặng lẽ trôi qua…Đêm sắp tàn…Rồi một hồi chuông chùa từ chân núi vọng lên, như muốn lay tỉnh ai kia còn đang chìm đắm trong vòng ái dục của thế nhân hãy mau thức tỉnh để hồi đầu về bổn xứ.
Đột nhiên lão già mắt biếc từ từ xoay lưng lại nhìn kỹ chàng từ đầu đến chân rồi khẽ hỏi:
– Ngươi từ phương nào đến, đứng đợi suốt đêm bất kể sự lạnh lẽo của đêm đông giá rét, muốn cầu việc gì?
Chàng không mong cầu việc gì cả.
Chẳng cầu Chơn tâm. Vì Chơn tâm Vô tướng.
Chẳng cầu Niết-bàn. Vì Niết Bàn Vô sanh.
Chẳng cầu làm Phật. Vì chư Phật Vô ngã.
Mà chỉ một câu ngắn gọn, nhưng đã thổn thức chàng từ bao năm tháng:
• Bạch Hòa Thượng! Tâm con chưa an. Xin Ngài cho con Pháp an tâm.
Tức thì, lão trừng mắt nhìn thẳng vào chàng, lạnh lùng với giọng nghiêm trang:
• Ngươi đem tâm ra đây ta an cho!
Bất chợt, trời đất tối tăm, núi rừng chìm lặng, chàng ta giật mình sửng sốt nhìn quanh tìm mãi chẳng thấy tâm đâu. Với giọng run run chân thành cầu đạo, chàng thưa rằng:
• Bạch Hòa Thượng! Con tìm tâm chẳng được.
Tổ bảo:
• Ta an tâm cho ngươi rồi!
Ngoài kia ánh bình minh cũng vừa ló dạng, báo hiệu một niềm tin vững chắc của chín năm trời chôn kín, một thoáng được nhổ bật lên.

4. Tội Tánh Vốn Không
Sau khi được truyền tâm ấn nơi Tổ, Ngài Huệ Khả hoằng truyền chánh pháp khắp nơi, đâu đâu cũng thấm nhuần tâm tông của Tổ. Một hôm, Sư gặp một người cư sĩ trạc 40 tuổi, chẳng nói tên họ, đến đảnh lễ Sư thưa:
• Đệ tử mang bệnh ghẻ lở đầy mình xin thầy từ bi vì đệ tử sám hối.
Sư bảo:
• Đem tội ra, ta sẽ vì ngươi sám hối!
Ông cư sĩ đứng sững giây lâu thưa:
• Đệ tử tìm tội không thể được.
• Ta đã vì ngươi sám hối tội rồi!
Ông cư sĩ liền thưa:
– Đệ tử nay mới biết tánh tội không ở trong, không ở ngoài, không ở chặng giữa; như tội tâm cũng vậy, thật Phật pháp không hai.
Bình:
Đó là thuật ngữ “Dĩ tâm ấn tâm” của người học trò đâu khác người thầy:
Ở nơi Sơ Tổ, Ngài phó chúc cho Tổ Huệ Khả qua hình ảnh đem tâm ra đây ta an cho, Huệ Khả liền khế hội. Đó là: “Tìm tâm không thể thấy”.
Đến Tổ Huệ Khả, Ngài lại dùng thuật đem tội ra ta sám cho. Tổ Tăng Xán liền nhận ra chỗ mật truyền của Tổ sư. Đó là “Thật tướng mà vô tướng”.
5. Đâu Có Xa
Có một vị quan làm đến chức tả thừa tướng, ông mến mộ thiền nhưng ngặt nỗi triều chính đa đoan nên cảm thấy con đường xa diệu vợi, không thể nào nắm bắt được tông chỉ. Một hôm ông đến với Thiền sư Nột bày tỏ nguyện vọng cho thiền sư nghe, bất chợt Nột Thiền sư nhìn thẳng vào mặt ông hét lớn.
• Hàng Hội.
Ông liền ứng thinh đáp:
• Dạ!
Nột Thiền sư liền nói:
• Đâu có xa!
Bình:
Đây là thuật truyền tâm của chư Tổ. Qua tiếng gọi- dạ, Hàng Hội liền nhận ra được cái tự thuở nào.
Sáu căn của chúng ta luôn luôn hiện hữu ông chủ, nhưng do vô minh vọng động che lấp nên chẳng nhận ra được. Chỉ cần xoay lại tánh nghe thì tất cả thiên sai vạn vật nằm trong gang tấc. Chỉ khéo thầm nhận ông chủ, chớ lầm ông chủ là sáu căn hiện hữu, cũng chớ lìa bỏ sáu căn mà nhận ra ông chủ. Ngay đây người hành giả thầm khế hội thì mới biết.
Thiền sư Huyền Giác nói:
“Tánh thật vô minh tức Phật tánh. Thân không ảo hóa tức pháp thân.”
Nên Tổ Hoàng Bá có nói:
“Người học đạo chỉ nhận cái thấy nghe hiểu biết động tác thi vi, không dẹp cái thấy nghe hiểu biết. Tức là con đường tâm bặt dứt không có lối vào, chỉ nơi cái thấy nghe hiểu biết nhận bản tâm. Song bản tâm không thuộc thấy nghe hiểu biết, cũng không rời thấy nghe hiểu biết. Cốt yếu là chớ ở trên thấy nghe hiểu biết khởi phân biệt; cũng chớ ở trên cái thấy nghe hiểu biết mà động niệm; cũng chớ lìa thấy nghe hiểu biết mà tìm tâm; cũng chớ bỏ kiến văn giác tri mà nhận pháp. Không tức, không ly, không tục, không trước, tung hoành tự tại đều là đạo tràng.”
6. Quên Mình Theo Vật
Thiền sư Cảnh Thanh ngồi trong thiền thất nghe tiếng mưa rơi, hỏi Thiền khách:
• Ấy là tiếng gì?
Thiền khách đáp:
– Tiếng mưa rơi.
Thiền sư Cảnh Thanh quở:
• Quên mình theo vật.
– Hòa Thượng thì sao!
• Vẫn chẳng quên mình.
– Vẫn chẳng quên mình ý nghĩa thế nào?
• Xuất thân còn là dễ, thoát thể nói rất khó.
Bình:
Chỉ có người luôn luôn tỉnh giác mới biết xoay lại chính mình. Mọi động tịnh bên ngoài đều là pháp sanh diệt – ví như chủ nhà, khách đến liền biết khách đến, khách đi liền biết khách đi, đến đi là hai pháp đắp đổi sanh diệt còn mất. Nhưng cái gì là tự thể của đến và đi, ấy mới thật là người chẳng sanh diệt, vì khi động vẫn biết động, khi tịnh vẫn biết tịnh. Hai tướng động và tịnh đắp đổi sanh diệt nhau, nhưng ông chủ ngồi yên, xem sự đổi thay sanh diệt của chúng. Ví như sóng có khi lớn khi nhỏ, nhưng mặt biển chưa từng lớn nhỏ. Và biết rằng nếu không có sóng làm sao có nước và nước đi về đâu, nếu không là trở về với sóng.
Người biết sống trở về với ông chủ của chính mình, mặc sự đổi thay sanh diệt còn mất của muôn pháp, vẫn không quên mình đuổi theo muôn pháp. Chỗ không quên mình ấy, làm sao diễn tả được cho người thấy nghe hay biết nên nói:
Xuất thân còn là dễ
Thoát thể nói rất khó.
7. Khổ – Còn Có Khổ Của Chúng Sanh
Thiền sư Cảnh Thanh ngồi trong thất có vị Tăng đứng bên cạnh. Sư hỏi:
• Bên ngoài có tiếng gì?
Tăng thưa:
– Tiếng con nhái bắt con rắn kêu.
Sư nói:
• Sẽ bảo chúng sanh khổ, lại có cái khổ của chúng sanh.
Bình:
Rắn bắt nhái đó là chúng sanh khổ. Vì sao? Vì con lớn hiếp con bé. Song còn có cái khổ của chúng sanh – cái khổ của chúng sanh là quên mình duyên theo ngoại cảnh. Tai nghe tiếng chúng ta liền phân biệt hay dở, lợi hại, yêu ghét, rồi sanh tâm chấp trước, nên đành phải trôi giạt trong muôn kiếp luân hồi. Nhưng có khi nào bạn nhận biết mình có tánh nghe thường hiện hữu, có tiếng chúng ta cũng nghe, không tiếng chúng ta cũng nghe. Nếu tánh nghe có gián đoạn, ắt chúng ta có khi nghe khi không; song tánh nghe luôn luôn hiện hữu cả khi thức lẫn khi ngủ, để biết rằng tánh nghe này chưa từng sanh cũng chưa từng diệt.
Nên trong kinh Lăng Nghiêm Đức Phật dạy cho Ngài A-nan tánh nghe chưa từng sanh diệt. Phật bảo ông La-hầu-la đánh một tiếng chuông, rồi hỏi ông A-nan rằng:
• Ông có nghe không?
A-nan thưa:
– Nghe.
Đến lúc chuông hết ngân, Phật lại hỏi:
• Ông có nghe không?
A-nan thưa:
– Không nghe.
Phật lại bảo ông La-hầu-la đánh lại một tiếng chuông nữa và hỏi:
• Ông có nghe không?
A-nan đáp:
– Nghe.
Phật hỏi:
• Thế nào là nghe và thế nào là không nghe?
A-nan thưa:
• Vì đánh chuông có tiếng ngân nên con nghe. Đến khi tiếng chuông hết ngân thì con không nghe.
Phật dạy:
• A-nan! Khi tiếng chuông hết ông nói rằng không nghe, nếu ông thật không có “cái nghe” thì ông đồng như cây đá. Tại sao khi đánh tiếng chuông thứ hai, ông lại có nghe? Vậy cho biết, cái “tiếng” khi có khi không, chớ cái “nghe” của ông lúc nào cũng có. Nếu cái “nghe” của ông thật không có, thì cái gì biết được “không nghe” đó?
Thế nên ông phải biết, cái “tiếng” đối với cái “nghe” thì cái “tiếng” nó tự sanh diệt, chớ cái “nghe” của ông không phải vì tiếng sanh mà nó “có”, tiếng diệt mà nó “không”. Tại ông điên đảo hôn mê, nhận cái “thường” (tánh nghe) làm đoạn diệt (tiếng), chớ không phải rời sáu trần cảnh: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp mà các giác quan thấy, nghe, hay, biết của ông không có.

8. Đạp Đổ Tịnh Bình
Một hôm, Ngài Bá Trượng bảo:
– Nếu người nào trong chúng này nói được một câu xuất cách sẽ cho trụ trì.
Bá Trượng liền chỉ tịnh bình nói:
– Chẳng được kêu là tịnh bình.
Ngươi kêu là gì?
Hoa Lâm thưa:
– Không thể kêu là cây lủng vậy.
Bá Trượng hỏi Quy Sơn, Sư đạp nhào tịnh bình rồi đi ra.
Bình:
Đi đứng nằm ngồi, nói năng động tịnh đều không ngoài chỗ này. Chỗ này là chỗ nào? Cùng thân tột mạng!
Chỗ này Quốc Sư Huệ Trung phải mất bốn mươi hai năm bảo nhậm.
Chỗ này Thiền Sư Duy Tín phải mất ba mươi năm bảo nhậm.
Khéo khéo thầm nhận – Khéo khéo dụng công.
9. Con Trâu Của Quy Sơn
Sư thượng đường dạy chúng:
– Sau khi lão tăng trăm tuổi đến dưới núi làm con trâu, hông bên trái viết năm chữ “Quy Sơn Tăng Linh Hựu”, khi ấy gọi là Quy Sơn Tăng hay gọi là con trâu? Gọi là con trâu hay gọi là Quy Sơn Tăng? Gọi thế nào mới đúng.
Bình:
Lúc sao mai vừa mọc Bồ-tát Sĩ-đạt-đa tỏ ngộ chơn tâm, thấu suốt bản tướng của vũ trụ. Và Ngài kêu lên: “Lạ thay! Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có đức tướng trí huệ Như Lai không khác”. Nhưng do vô minh chấp ngã, vọng thấy giả chơn, nên phân biệt ngã và ngã sở, phải đành cam chịu trong lục thú.
Vì thế, Đức Như Lai thương xót dùng phương tiện hiện cảnh giới Niết-bàn để mọi người sanh tâm khát ngưỡng, hướng về Ngài mà tu tập. Từ đây Tổ Tổ tương truyền dùng nhiều phương tiện: hoặc đánh, hoặc hét, hoặc dựng phất tử, hoặc há miệng… đều thị hiện cho chúng sanh thấy rõ, muốn đến cảnh giới Niết-bàn thì phải xa lìa chấp ngã, vọng tưởng điên đảo, dù đó là ngôn ngữ thánh thiện.
Một hôm, Bàng Long Uẩn đến hỏi Mã Tổ:
– Người chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì?
Mã Tổ nói:
– Đợi ông một ngụm uống cạn sông Giang Tây sẽ vì ông nói.
Đây là thủ thuật độc đáo truyền tâm trong nhà Thiền, chỉ có người lợi căn mới thấu suốt được ý Tổ, bằng không người hành giả duyên theo ngôn cú của quý Ngài thì đành lưu chuyển trong tam giới.
Một hôm, Đức Sơn đứng hầu, Sùng Tín bảo:
– Đêm khuya sao chẳng xuống?
Sư kính chào bước ra lại trở vào thưa:
– Bên ngoài tối đen.
Sùng Tín thắp đèn cầy đưa Sư, Sư toan tiếp lấy, Sùng Tín liền thổi tắt. Ngay đó Sư đại ngộ, liền lễ bái. Sùng Tín hỏi:
– Ngươi thấy cái gì?
Sư thưa:
– Từ nay về sau chẳng còn nghi lời nói chư lão Hòa Thượng trong thiên hạ.

10. Không Ai Nhường Ai
Ngài Đặng Ẩn Phong một hôm đẩy xe đất. Mã Tổ duỗi chân ngang giữa lối đi. Ẩn Phong nói:
– Xin Hòa Thượng rút chân lại.
Mã Tổ bảo:
– Đã duỗi ra thì không rút lại.
Ẩn Phong nói:
– Đã tiến thì không lùi.
Bèn đẩy xe cán qua mà đi. Sư bị thương ở chân.
Bình:
Trên con đường tầm cầu giác ngộ lắm nỗi chông gai hiểm hóc, người hành giả vẫn hiên ngang tiến bước dù lắm nỗi nhọc nhằn có khi hy sinh cả tấm thân này. Với niềm tin vững chắc, vị ấy biết rằng thân này vô thường tạm bợ, muôn pháp ảo ảnh đổi thay vô thường, xuân hạ thu đông bốn mùa đắp đổi, còn có cái cao siêu vượt thoát tất cả ngôn ngữ suy cầu, không lệ thuộc vào không và thời của muôn pháp.
Bởi vậy họ sẵn sàng hy sinh tất cả để đón nhận một pháp thân trường tồn miên viễn.
Thiền thoại ghi: Một hôm Lão Thiền sư bước lên pháp tòa khai thị chúng: “Này các trò! Tại sao các con sông đều uốn khúc.”
Thiền sinh: Bởi vì các con sông sẽ gặp nhiều trở ngại, có cái vượt qua được, có cái không. Nên con sông chỉ có thể đi vòng để tránh các chướng ngại. Mục đích cuối cùng là hòa vào biển khơi.
Thiền sư: Cuộc sống chúng ta cũng như vậy. Khó khăn, trắc trở trong cuộc sống là chuyện bình thường, không bi quan, không tuyệt vọng, không thở dài, buồn khổ hay bỏ cuộc mới là thái độ sống đúng đắn. Như dòng sông kia không khuất phục trước gian nan, thử thách, luôn kiên trì tiến về phía trước, tiến về biển khơi bao la.
Cho nên Ngài Tôn Túc nói:
Việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ
Việc lớn đã sáng như đưa ma mẹ.
11. Đâu Có Mất
Có một bà già đến hỏi một Thiền sư:
– Bạch Hòa Thượng con bị mất trâu.
Hòa Thượng liền nhìn thẳng bà già gọi:
– Bà già!
Bà liền ứng thinh:
– Dạ!
Ngài liền đáp:
– Trâu đâu từng mất.
Bình:
• Ai là bậc tác gia sáng mắt hãy chỉ ra bà già nhận trâu ở đâu?
Còn có tâm tìm toàn chẳng biết!
12. Thánh Đế Không Làm
Lục Tổ trở về Tào Khê. Một hôm có một vị Tăng đến hỏi Sư:
– Phải làm việc gì khỏi rơi vào giai cấp?
Tổ gạn lại:
– Ngươi từng làm việc gì?
– Thánh Đế còn chẳng làm.
– Vậy rơi vào giai cấp nào?
– Thánh Đế cũng chẳng làm, làm gì có giai cấp.
Bình:
Thanh Nguyên Hành Tư đích thực là người đảm đương thừa kế ý Tổ từ Tây sang không khác. Khi xưa Vua Lương hỏi Tổ:
– Thế nào là Thánh Đế Đệ Nhất nghĩa?
Tổ dõng dạc đáp:
– Rỗng rang không Thánh.
Giờ đây Hành Tư Thánh Đế cũng chẳng làm. Phải chăng Tây Thiên vắng bóng lại nổi sóng cồn? Tuy xa cách bao thế kỷ, mà dòng Thiền trực chỉ chưa từng biến chất. Bởi yếu chỉ của Thiền là chỉ thẳng: “Thấy tánh thành Phật”. Chẳng qua thứ lớp tu trì, nghĩa là “niệm mê tức chúng sanh, niệm ngộ đồng với Phật”. Từ cái bản giác ban đầu cho đến rốt ráo viên thành Phật quả về sau cũng chỉ đồng bản giác khi xưa không khác. Chẳng theo thứ lớp, chẳng thuộc có không, lìa mọi ngôn từ viên thành Phật quả. Nên Tổ sư nói:
“Phiền não tức Bồ-đề,
Sanh tử tức Niết-bàn,
Vô minh tức Phật tánh.”
Do chuyển tham sân si thành giới định tuệ, chuyển hận thù thành tình thương chân thật, muôn cửa lành cũng từ Pháp đốn siêu này rộng mở, nên Ngài Quy Sơn nói:
“Chỗ lý tột chẳng dính một mảy bụi
Muôn hạnh lành chẳng bỏ một Pháp.”
13. Phật Tánh Không Nam Bắc
Rừng xanh núi thẳm, tịch mịch cô liêu là nơi sản sinh những nhân tài kiệt xuất, thật vậy lời nói không ngoa. Một hôm, có ông cư sĩ họ Lư tên Huệ Năng từ phương Nam đến yết kiến Sư. Sư hỏi:
• Ngươi từ đâu đến?
Huệ Năng thưa:
– Đệ tử từ Lãnh Nam đến.
• Ngươi đến ý muốn cầu việc gì?
– Đệ tử chỉ mong cầu làm Phật.
• Người Lãnh Nam không có Phật tánh làm sao làm Phật được?
Huệ Năng đáp:
– Người thì có Nam Bắc, Phật tánh há có Nam Bắc sao? Thân quê mùa cùng Hòa Thượng chẳng đồng, nhưng Phật tánh đâu sai khác.
Bình:
Người tu hành mà còn phân biệt kẻ Nam người Bắc là người chưa thấy tánh. Vì sao? Vì tánh linh giác không hình, không tướng thì làm sao mà có Nam và Bắc. Vì vậy, Huệ Năng liền nói: “Phật tánh không Nam Bắc”.
Đâu không giống khi xưa, lúc Bồ-tát Sĩ-đạt-đa thấu suốt thật tướng vũ trụ vạn hữu, liền buột miệng kêu lên: “Lạ thay! Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có đức tướng trí huệ Như Lai không khác”.
Nhưng muốn cùng Như Lai không khác thì mỗi hành giả:
Thầm khéo hội!
Thầm dụng công!
Thầm nỗ lực!
14. Bầy Vịt Trời Mã Tổ
Một hôm, Thiền sư Bá Trượng theo hầu Mã Tổ đi dạo vườn, chợt gặp bầy chim bay qua.
Mã Tổ nói:
– Bầy đó là gì?
Hoài Hải thưa:
– Bầy vịt trời.
– Bay qua đâu?
– Bay qua mất.
Mã Tổ nắm lỗ mũi của Sư vặn mạnh một cái, đau quá Sư la thất thanh. Mã Tổ bảo:
– Sao không nói bay qua mất!
Bình:
Tâm thể luôn luôn hiển lộ đầy đủ nơi sáu căn mà chúng ta không nhận thấy. Ta luôn luôn buông thả sáu căn rong ruổi chạy theo sáu trần, nhiễm trước các pháp chẳng lúc nào dừng nghỉ. Khi mắt đối với sắc ta cho là có thấy, sắc trần qua mất cho là không thấy. Chúng ta luôn luôn lệ thuộc ngoại cảnh – sắc trần là tướng sinh diệt ảo hóa, chợt có chợt không, mà cái thấy biết sắc trần đâu từng sinh diệt.
Ta luôn chỉ nhận sắc trần mà bỏ quên cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái xúc chạm – là hiện thân của tâm yếu. Giống như một căn nhà có một ngọn đèn nhưng phát ra sáu cửa. Đèn ví như thể, ánh sáng ví như dụng của ngọn đèn, nên nó là nguồn sống mạng mạch muôn đời của chúng ta. Chúng ta nào có nhớ lại mạng sống của chính mình, cũng như hàng ngày mình nhờ hơi thở mới sống được, mà có ai nhớ hơi thở, chỉ luôn phóng tâm đuổi theo dòng sanh diệt của ngoại cảnh.
Cũng như Bá Trượng Thiền sư, chỉ nhớ bầy chim bay mất, không nhớ cái thấy thường còn của mình. Nên Ngài bị Mã Tổ vặn mạnh lỗ mũi bảo: “Sao không nói bay qua mất”. Sư chợt tỉnh ngộ cái chưa từng sinh diệt của chính mình, cái không sanh diệt đó nó luôn luôn hiện hữu nơi mỗi chúng ta. Nhưng chỉ khi nào tâm vọng tưởng lặng đi, không còn mống niệm theo dòng sông ý thức, thì tâm thể lúc ấy mới hiện tiền.
Bởi vậy Sư Bá Trượng sau khi được Mã Tổ khai thị, Ngài chợt tỉnh ngộ cái không sanh diệt của mình hay chợt tỉnh cơn mê ngàn kiếp: “Quên mình theo vật”.
15. Chỉ Thẳng Tâm Yếu
Thiền sư Đạo Ngộ bảo đệ tử là Sùng Tín rằng:
• Ngươi theo hầu hạ ta, ta sẽ chỉ tâm yếu cho ngươi.
Sùng Tín liền nhận lời, trải qua ba năm mà không được chỉ dạy điều gì. Sùng Tín một hôm thưa:
– Từ ngày con vào đây đến giờ, chưa được Hòa thượng chỉ dạy tâm yếu.
Đạo Ngộ bảo:
• Từ ngày ấy đến nay, ta chưa từng chẳng chỉ dạy tâm yếu cho ngươi.
Sùng Tín đáp:
– Chỉ dạy chỗ nào?
• Ngươi dâng trà lên, ta vì ngươi nhận; ngươi xá lui ta gật đầu, chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu?
Sùng Tín cúi đầu suy nghĩ.
Đạo Ngộ bảo:
• Thẳng đó liền thấy, suy nghĩ liền sai.
Sư chợt tỉnh ngộ.
Bình:
Trong mọi hành động hàng ngày của chúng ta khi ăn cơm, mặc áo, tiểu tiện, tằng hắng, tới lui qua lại đều biểu lộ tâm yếu đầy đủ.
Chỉ đáng tiếc, khi ăn chúng ta chẳng chịu ăn mà nghĩ trăm thứ chuyện, khi mặc chúng ta chẳng chịu mặc mà chê khen tốt xấu, khi ngủ chúng ta chẳng chịu ngủ mà mơ tưởng viễn vông. Chúng ta chẳng chịu sống lại tâm thể bình thường của mình, mà luôn luôn bị các vọng tưởng điên đảo cuốn hút qua mọi lãnh vực hoạt động của nó. Do đó cả ngày chúng ta luôn luôn đuổi mãi theo vọng tưởng hết thứ này đến thứ khác chẳng lúc nào chịu dừng nghỉ, nên chẳng nhận ra được tâm yếu của chính mình.
Thiền sư Đạo Ngộ chỉ thẳng cho chúng ta thấy được tâm yếu qua hành động khi dâng trà, nhận cơm, gật đầu….Đâu không giống Thiền sư Nam Tuyền chỉ cho Tùng Thẩm “Tâm bình thường là đạo”. Thật là bình thường đơn giản, tâm yếu ấy hằng hiện hữu nơi mọi hành động của chúng ta mà chúng ta đâu từng nhận. Bởi vì trong đầu óc của chúng ta luôn luôn chứa đựng những cái kỳ đặc quái tượng phi thường thì làm sao nhận được tâm bình thường đơn giản này. Mà ngay tâm bình thường tức là phi thường, còn ngay nơi phi thường là đã bất bình thường.
Nói đến tâm yếu pháp thân, Bồ-đề, ông chủ, chơn tâm, Phật tánh, chủ nhân ông, bản lai diện mục v.v…, chúng ta tưởng tượng phải là cái gì cao siêu huyền bí mới được, đâu ngờ nó lại là cái đơn giản bình dị, chỉ cần chúng ta ném phắt mọi vọng tưởng cuồng loạn thì tâm thể hoàn toàn hiển lộ. Vì thế, các hiện tượng triều lưu của con sóng lặn hụp trên mặt biển là biểu tượng các tướng sinh diệt. Khi mọi hiện tượng sóng nước lặng yên, chỉ còn lại mặt biển phẳng lì trong lặng, thử hỏi cái gì sanh diệt còn mất?
Sóng thì có sanh diệt còn mất, nhưng mặt biển thì chưa từng sanh diệt còn mất. Nếu không có sóng thì làm sao có nước, nước đi về đâu nếu không trở về với sóng? Sóng buồn khổ, sóng tủi hận luôn luôn đi tìm nước, nhưng một khi sóng biết rằng mình chính là nước, thì tức khắc sóng vượt thoát những lo âu sầu muộn đó vì biết chắc rằng mình chính là nước.
Tâm thể thanh tịnh của ta cũng vậy, chỉ cần dừng lặng hết mọi vọng tưởng điên cuồng thì tâm thể hiện bày. Thế nên, chúng ta vừa dấy tâm động niệm thì thể tánh mất rồi, nên Thiền sư Đạo Ngộ nói Thẳng đó liền biết, suy nghĩ liền sai.
Chớ có hồ đồ nhận lấy bóng giả. Nếu nói sóng tức chơn thì tại sao sóng lật úp thuyền, còn nước chở thuyền qua bể?
Hãy khéo thầm nhận chỗ này, chớ để ngày tháng qua suông uổng công tu học.
“Phải khéo dụng công,
Phải khéo thầm nhận.
Tấc tơ sai lệch,
Ngàn Thánh cách xa”.

16. Hạt Châu Ngài Địa Tạng
Có vị Tăng hỏi Thiền sư Thạch Cựu:
– Thế nào là hạt châu trong tay Địa Tạng?
• Trong tay ông lại có chăng?
– Con chẳng hội.
• Chớ dối đại chúng.
Sư nói tụng:
Bất thức tự gia bảo
Tùy tha nhận ngoại trần
Nhật trung đào ảnh chất
Cảnh lý thất đầu nhơn.
Dịch:
Báu nhà mình chẳng biết
Theo người nhận ngoại trần
Giữa trưa chạy trốn bóng
Kẻ soi gương mất đầu.
Bình:
Chúng sanh hằng chạy theo ngoại cảnh, mà quên mất bổn tâm sáng suốt của chính mình, lại chạy tìm rong ruổi hỏi han hạt châu trong tay Bồ-tát Địa Tạng, quên mất trong tay mình sẵn có hạt châu vô giá. Hạt châu ấy theo suốt chúng ta như bóng theo hình, mặc dù chúng ta lang thang trong sáu nẻo: Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh….mà hạt châu ấy vẫn luôn luôn có trong túi áo. Chúng ta do si mê bỏ nó nên phải đành làm chàng cùng tử bỏ cha đi không khác. Cũng như chàng Diễn-nhã-đạt-đa xem gương thấy bóng đầu hiện trong gương, úp gương lại thấy bóng đầu mất đi, chàng hoảng la lên: “Tôi mất đầu!” Và phát cuồng rong chạy la: “Tôi mất đầu!”
Tất cả chúng ta ai ai cũng thế, hằng ngày chạy theo vọng tưởng điên cuồng, có nó cho là có mình, nhưng một khi vọng lặng hoảng la lên: “Tôi mất mình!” Giống chàng Diễn-nhã-đạt-đa đâu khác. Vọng tưởng là cái chợt sanh, chợt diệt, không cội gốc, không nơi chốn mà chấp là thật mình. Khi vọng tưởng lặng xuống, mọi thấy nghe hiểu biết vẫn còn nguyên vẹn, có tiếng không tiếng, có sắc không sắc chúng ta đều rõ biết mà cho là mất mình.
Thử hỏi ai là kẻ biết mất mình?
Ai là kẻ biết sanh và diệt?
Ai là kẻ biết động và tịnh?
Các pháp đắp đổi sanh diệt còn mất, nhưng ông chủ này chưa từng sanh diệt, nên gọi là pháp thân bất diệt. Bởi không sanh diệt nên tùy cảm ra vào sáu thú để độ tiếp chúng sanh. Một khi chúng ta nhận ra được hạt minh châu này rồi thì diệu dụng như hằng sa không thể lường được.
Diệu dụng ở chỗ nào?
Chẳng hạn mắt chúng ta nhìn ra vạn pháp, thấy các pháp đều là tạm bợ giả dối, không có thật nên nói: “Như bọt nước, sương mù, bóng nắng, điện chớp…không có thật thể”. Thế nên, trong bốn oai nghi ta luôn luôn sống với thật tướng của nó thì không bị lục trần sai sử.
Đây còn là:
Chuyển tám thức thành bốn trí.
Chuyển phiền não thành Bồ-đề.
Chuyển sanh tử thành Niết-bàn.
Bởi vậy, người nhận ra được hạt châu này thì còn gì sung sướng bằng, quả là Niết-bàn hiện tại trần gian, đâu cần tìm kiếm đâu xa.
17. Hạt Châu Trong Hư Không
Có vị Tăng đến hỏi Thiền sư Huệ Hải:
– Trong hư không có một hạt châu làm sao lấy được?
Sư bảo:
• Chặt tre làm thang bắc trong hư không lấy.
– Trong hư không làm sao bắc thang?
• Ngươi nghĩ thế nào lấy?
Bình:
– Ai sáng mắt lấy dùm hạt châu trong hư không cho ông Tăng khỏi nhọc lòng Sư.
– Lấy ở đâu?
– Trời xanh! Trời xanh!
18. Thế Nào Là Lục Thông
Có vị Tăng đến hỏi Ngài Lâm Tế:
– Bạch Hòa Thượng! Thế nào là lục thông?
Tổ Lâm Tế nói:
– Sáu căn không nhiễm sáu trần là lục thông.
Bình:
Thần thông của Tổ chỉ cho chúng ta thấy, không phải thần thông biến hóa sanh ra muôn vật, mà thần thông ở đây chính là sáu căn đừng nhiễm sáu trần, đó mới là lục thông đệ nhất. Bởi vì sao? Vì tất cả chúng sanh điên đảo khổ đau cũng bởi sáu trần tác quái. Nhưng với trí tuệ Bát-nhã rõ suốt các pháp của nó, không lầm chấp, không ham mê, đó không phải thần thông diệu dụng là gì?
Nên phàm phu thấy sắc đắm nhiễm trước sắc, đẹp thì ưa thích xấu thì chán ghét. Ngược lại người trí tuệ Bát-nhã, thấy rõ được tự ngã của chúng là duyên hợp tạm có, không có thật thể, nên không ham mê, không chấp trước. Người nào vượt thoát có không, thương ghét, tốt xấu, phải quấy….thì không phải thần thông là gì?
Thiền sư Lâm Tế dạy:
“Các ông nói Phật có lục thông không thể nghĩ bàn, thế thì tất cả chư Thiên, Thần, Tiên, A-tu-la, Đại lực quỉ, há đấy cũng là Phật sao? Này các Đạo lưu, chớ lầm! Xem như A-tu-la đánh nhau cùng với vua trời Đế Thích, đánh thua thì dẫn tám vạn bốn ngàn quyến thuộc vào núp trong lỗ cọng sen mà trốn. Đấy là thánh sao? Những thứ sơn tăng này vừa đưa ra đều là nghiệp thông và y thông.
Còn như lục thông của Phật thì không phải như thế: vào sắc giới chẳng bị sắc giới mê hoặc; vào thanh giới chẳng bị thanh giới mê hoặc; vào hương giới chẳng bị hương giới mê hoặc; vào vị giới chẳng bị vị giới mê hoặc; vào xúc giới chẳng bị xúc giới mê hoặc; vào pháp giới chẳng bị pháp giới mê hoặc. Cho nên đạt được sáu thứ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp đều là không tướng, không thể trói buộc kẻ đạo nhân không y cứ này được. Tuy là lậu chất của năm uẩn, mà cũng là địa hành thần thông.
Này các Đạo lưu, Phật chân thật không có hình, Pháp chân thật không có tướng. Các ông cứ vin vào cái phía huyễn hóa mà làm này làm nọ thì dù cho có cầu được thì cũng đều là bọn chồn hoang tinh mị, đều chẳng phải là Phật chân chánh, mà đấy chỉ là kiến giải của ngoại đạo. Kẻ học đạo chân chánh thì không chấp vào Phật, không chấp vào Bồ-tát, La-hán, không chấp vào sự thù thắng của ba cõi, riêng mình giải thoát, không bị trói buộc vào vật. Trời đất nghiêng ngả ta cũng chẳng nghi, chư Phật mười phương dầu có hiện ra trước mắt thì ta cũng chẳng một thoáng vui mừng, ba đường địa ngục bỗng hiện ra ta cũng chẳng một thoáng sợ hãi. Cớ sao như vậy? Đấy là vì ta thấy cái không tướng của các pháp, biến thì có, không biến thì không có. Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức.
Cho nên hoa đốm giữa hư không mộng huyễn thì hơi đâu mà nắm bắt. Chỉ có cái người đang nghe pháp trước mặt các Đạo lưu đây là vào lửa không bị thiêu, vào nước không bị chìm, vào Tam đồ Địa ngục mà như đi ngoạn cảnh trong vườn, vào Ngạ quỉ, Súc sanh mà chẳng chịu quả báo. Cớ sao như vậy? Vì đó là pháp không hiềm. Nếu các ông không yêu thánh ghét phàm thì đâu bị chìm nổi trong biển sinh tử. Phiền não do tâm mà có, vô tâm thì phiền não trói buộc cái gì? Chẳng nhọc sức phân biệt lấy tướng thì trong chớp mắt tự nhiên đắc đạo. Các ông toan học lung tung bên hàng xóm cho được, thì suốt trong ba A-tăng-kỳ kiếp rốt cũng trở về sinh tử. Chẳng bằng vô sự, ngồi tréo chân ở góc giường trong chốn Tùng lâm.”

19. Yếu Chỉ Thiền Tông
Có Vị Tăng đến hỏi Ngài Triệu Châu:
– Bạch Hòa Thượng, thế nào là ý Tổ từ Tây sang?
Sư đáp:
– Cây bá trước sân.
Bình:
Nhiều khi chúng ta sống trong sự mơ tưởng viễn vông xa rời thực tại – mình thì chưa biết mình là ai, mà luôn luôn tìm tòi lục lọi ý Tổ từ Tây sang. Nếu chúng ta thấy được rõ được từng tâm niệm của mình, tức là rõ được ý Tổ từ Tây sang.
Cho nên đến với các Ngài, các Ngài luôn luôn kéo mình trở về với giây phút hiện tại – mà giây phút hiện tại đó chỉ có mặt trong sát-na hiện tiền bất động. Chúng luôn luôn có mặt và hiện hữu quanh ta.
Bởi vậy, người sống được với phút giây hiện tại là sống được với bản thể của chính mình. Sống được với bản thể đó thì đâu ngoài bản hoài của chư Tổ từ Tây sang.
20. Rao Bán
Thiền sư Nam Tuyền Phổ Nguyện ở Tuyền Châu dạy chúng:
• Nam Tuyền bán thân có ai mua chăng?
Có Vị Tăng bước ra nói:
– Tôi mua.
Sư đáp:
• Cũng chẳng mắc, cũng chẳng rẻ. Làm sao người có thể trả giá được?
Tăng không đáp được.
Bình:
Đây là thân gì?
Ai là người sáng mắt thử đáp xem?
Nếu nói là pháp thân thì làm gì có mắc rẻ?
Nếu nói là hóa thân, thì tùy cảm tùy ứng, làm gì có rao bán?
Nếu nói là báo thân, thì đầy đủ đâu thiếu thốn.
Vậy là thân gì?
Thôi chạy loạn làm gì vô ích?
Một tiếng quát!
Dừng!

21. Con Ngỗng Của Lục Hoàn Công
Một hôm có vị cư sĩ Lục Hoàn Công đến tham vấn Nam Tuyền Thiền Sư.
Cư sĩ thưa:
– Con có nuôi một con ngỗng trong cái bình, bình thì nhỏ ngỗng thì lớn. Hôm nay muốn đem ngỗng ra khỏi bình, nhưng điều kiện ngỗng đem ra mà bình thì nguyên vẹn. Thỉnh Hòa Thượng đem ra giùm.
Sư gọi:
• Lục Hoàn Công!
Hoàn Công:
– Dạ!
• Con ngỗng ra rồi!
Bình:
Chẳng phải là bậc tác gia thì ai dám đảm đương đưa con ngỗng ra khỏi bình mà bình vẫn nguyên vẹn.
Thử hỏi ai thấy được con ngỗng chỗ nào?
Thử đáp xem!
Chớ có hồ đồ chỉ con ngỗng ở trong bình.
Một tiếng quát!
Đã qua rồi!
22. Nước Con An Ổn
Một hôm có ông Sa-di Cao đến tham vấn Dược Sơn Thiền sư.
Sư bảo:
• Ta nghe ở Trường An rất náo loạn, ngươi có biết chăng?
Sa-di thưa:
– Nước con an ổn.
• Ngươi do xem kinh được hay thưa hỏi được?
– Chẳng do xem kinh được, cũng chẳng do thưa hỏi được.
• Có lắm người chẳng xem kinh, chẳng thưa hỏi, sao chẳng được?
– Chẳng nói họ chẳng được, chỉ vì không chịu thừa nhận.
Bình:
Quả là một giọt sữa sư tử làm tan sáu đấu sữa lừa. Nếu không phải là bậc tái lai xuất thế thì làm sao nhắm vào chỗ ấy. Chỗ ấy là chỗ nào?
Nếu nói xem kinh được tức là pháp tạo tác, còn nếu nói thưa hỏi được tức là pháp vọng tưởng.
Vậy phải làm sao thấu suốt nguyên nguồn?
Một tâm mống sanh, đất trời xa cách.
Phải làm thế nào?
Một tiếng quát!
Dừng con khỉ ông lại đi!
Chớ có hồ đồ! Kẻ nói ăn không khi nào no bụng!
Vậy phải làm sao?
Thử chuyển ngữ xem:
“Muôn duyên cắt đứt một thân nhàn”.
23. Kho Báu Nhà Mình
Một hôm có vị Tăng đến tham vấn Mã Tổ. Mã Tổ hỏi:
• Từ đâu đến?
Sư thưa:
– Ở Đại Châu chùa Đại Vân đến.
• Đến đây tính cầu việc gì?
– Đến cầu Phật pháp.
• Kho báu nhà mình chẳng đoái hoài bỏ nhà chạy đi tìm cái gì? Ta trong ấy không có một vật. Cầu Phật pháp cái gì?
Sư lễ bái thưa:
– Cái gì là kho báu nhà mình của Huệ Hải?
• Chính nay ngươi hỏi ta, là kho báu của ngươi, đầy đủ tất cả không thiếu thốn, tự do sử dụng đâu nhờ tìm cầu bên ngoài.
Bình:
Ngài Huệ Hải đâu khác chàng cùng tử bỏ cha, xa quê hương của mình, lang thang khắp hang cùng ngõ hẻm để ngửa tay xin của người.
Rồi một hôm nào đó, chàng cùng tử bỗng dạt dào nhớ cha, nhớ quê hương muôn thuở của mình, bèn lui gót trở về quê cũ. Nhưng thấy cha giàu sang như vua chúa nên không dám nhận đó là cha của mình. Vì đã tự mang mặc cảm mình là kẻ cùng tử lang thang đói rách, nên đối với người sang trọng, gia tài đồ sộ như vua chúa thì làm sao dám nhận người đó là cha mình.
Xét cho kỹ chúng ta ngày nay đâu khác chi Ngài Huệ Hải có ông cha “bất sanh bất diệt” với một kho báu “công đức trí tuệ vô biên” dùng mãi không hết. Song bởi do một niệm bất giác trái hẳn với bản tâm, duyên theo ngoại trần đành phải lưu chuyển trong sanh tử lang thang từ kiếp này qua kiếp khác. Càng theo những cái hư ảo phù phiếm thì càng cách với bản thể chân không thanh tịnh hằng nhiên của mình.
Bởi vậy, Đức Phật thương xót mới ra đời để đánh thức chúng ta trở về nguyên thể ban sơ của chính mình. Rồi lần lượt chư Tổ ra đời tiếp nối ánh nhiên đăng Phật Tổ. Các Ngài cũng dùng đủ phương tiện để khơi dậy chỗ này. Vậy chúng ta phải làm sao để trở về tánh chân không huyền nhiệm nầy?
Người xưa nói: “Nhân nơi đất mà té, cũng nhân nơi đất mà đứng dậy”. Chính từ chỗ mê đó, mà cũng chính là chỗ trở về đó.
Vì thế khi Ngài Huệ Hải đến xin Mã Tổ kho báu nhà mình:
Một tiếng thét vang lên!
Kho báu nhà mình chẳng đoái hoài, cuồng rong chạy loạn làm gì vô ích. Bất giác trời đất như đảo lộn, không và thời bỗng tan biến; phút chốc những ảo ảnh đổi thay của muôn pháp tan biến – đồng thể nhập tự tánh vô sanh. Từ cửa lưỡi vô vị chân nhân mà nhảy vào. Thôi từ đây đâu còn lang thang làm khách phong trần nữa, mặc tình sử dụng kho báu của mình, ai thiếu thốn gì thì cho nấy, đâu còn nghèo khổ như thuở hàn vi.
Vì thế nên chỗ dụng công của Thiền giả là phản quan tự kỷ bổn phận sự – việc làm này là việc của chính mình nên nói là phận sự. Người hành Thiền luôn luôn lúc nào cũng tỉnh thức và hằng xét soi lại chính mình. Đến khi nào công phu thành khối lại càng tỉnh táo, đắc lực thêm lên. Thời tiết nhân duyên đến tự nhiên khắc tỉnh – một tiếng nổ vang, mười phương thấu thoát suốt thể chân nguồn, mới hay ra rằng: “Người trở về bản tâm, mười phương thế giới đều tan biến”.
Nhưng thử hỏi có người nói năng suốt ngày sao chẳng dám nhận!
Hãy chuyển ngữ xem!
Người xưa nói:
“Khéo khéo lúc dụng tâm,
Khéo khéo không tâm dụng,
Không tâm khéo khéo dụng,
Thường dụng khéo khéo không.”
Cái chỗ “khéo khéo không” là gì?
Một tiếng quát!
Chớ chạy rong. Tối kỵ kiếm tìm!
Ngay đó thẳng vô sanh!
24. Cưỡi Trâu Mà Tìm Trâu
Thiền sư Đại An hỏi Tổ Bá Trượng:
– Con muốn cầu biết Phật, thế nào là Phật?
• Thật là người cưỡi trâu tìm trâu.
– Sau khi biết thì thế nào?
• Như người cưỡi trâu về nhà.
– Chẳng biết trước sau gìn giữ thế nào?
• Như người chăn trâu cầm roi dòm chừng, không cho ăn lúa mạ của người.
Sư liền lãnh hội ý chỉ.
Bình:
Chúng ta xưa nay là Phật mà đâu tự dám nhận, mãi chạy đi thưa hỏi như người cưỡi trâu tìm trâu, như người ở giữa dòng nước mà kêu khát nước, thật là đáng thương xót. Bởi vậy, sau khi nhận ra được chơn tánh bất sanh bất diệt nơi mình, như người cưỡi trâu về nhà, không còn băn khoăn tìm kiếm.
Nhưng nhận ra được bản tâm chưa phải là người đã xong việc, cần phải bền chí chăm nom bảo vệ cho thuần thục – như chú mục đồng cầm roi chăn trâu không cho ăn lúa mạ của người.
Nên người xưa nói:
“Đốn ngộ đồng với Phật,
Nhiều đời tập khí sâu
Gió dừng sóng vẫn vỗ
Lý hiện niệm còn vương.”
Chỗ thấy lý tột đồng với chư Phật, chư Tổ, song nhiều đời còn tập khí sâu dày chưa có thể sạch. Chúng ta cần phải nỗ lực công phu buông xả vọng tưởng, lâu ngày thì vọng tưởng lặng, tánh chơn giác hiện bày. Lúc này trâu trắng mới hiện sờ sờ trước mặt, hành giả thảnh thơi ca khúc vô sanh, tấu nhạc pháp nhẫn. Lúc này là thế nào?
Trời xanh man mác không cụm mây.
Nhưng thử hỏi, làm sao chăn trâu?
Một hôm Thạch Củng làm việc trong nhà bếp. Mã Tổ hỏi:
– Làm gì đây?
– Chăn trâu.
– Chăn cách nào?
– Một khi vào lúa mạ người liền nắm mũi kéo lại.
Mã Tổ nói:
– Thật là người chăn trâu giỏi.
Hãy xem cách chăn trâu của người xưa.
25. Núi Sông Vẫn Là Núi Sông
Thiền sư Duy Tín đời nhà Tống nói:
“Sãi này ba mươi năm trước, thấy núi sông là núi sông. Sau khi gặp được thiện tri thức chỉ dạy, sãi thấy núi sông không phải là núi sông. Sau khi thôi dứt, sãi này thấy núi sông vẫn là núi sông.”
Bình:
Ba mươi năm trước là lúc Sư chưa học đạo, cái nhìn của Sư cũng như cái nhìn của phàm phu không khác: Thấy núi thật là núi, thấy sông thật là sông, thấy người thật là người… cũng tham đắm chấp giữ như bao con người khác.Duyên xưa sâu dầy, Sư gặp được thiện tri thức chỉ dạy. Sư mở mắt tuệ Bát-nhã nhìn sự vật đều do duyên hợp mà có, tự tánh các pháp vốn rỗng không, không có thực thể. Muôn pháp từ nhân duyên mà sinh, cũng do nhân duyên mà diệt. Cái này có mặt vì cái kia có mặt, cái này vắng mặt vì cái kia vắng mặt; cái này sinh ra vì cái kia sinh ra, cái này ẩn diệt khi cái kia ẩn diệt. Bởi vì trong thực tại không có một cái gì đồng nhất và bất biến. Con người có mặt là do sự tập hợp vận hành của năm uẩn – đó là những dòng sông biến chuyển liên tục, chúng không có phút giây nào ngừng nghỉ.
Mãi ba mươi năm sau mọi ô nhiễm vọng động dính mắc đều dứt sạch, giờ đây chỉ lồ lộ hiện bày tâm thể thanh tịnh thuần nhất. Đến đây Sư nhìn rõ thấy núi vẫn là núi sông vẫn là sông. Vì sao? Vì đã dứt sạch mọi kiến chấp, mọi phân biệt, mọi quán chiếu. Theo du trình các pháp mà Sư đã trở về với thật tướng Bát-nhã, cái thấy này không qua trung gian quán chiếu giữa cái thấy và cái bị thấy, mà trực diện các pháp thẳng thừng không còn quán chiếu nữa. Đó mới thật là cái thấy “Như thị tri, như thị kiến”.
Như Thiền Sư Vân Môn thượng đường, đưa cây gậy lên bảo chúng:
“Phàm phu gọi là thật, nhị thừa phân tích là không; Duyên giác gọi là huyễn có, Bồ-tát thì đương thể tức không; Thiền gia thì thấy cây gậy gọi là cây gậy – đi chỉ đi, ngồi chỉ ngồi, không được động đến.”
Ai thấy được chỗ thấy của Thiền Sư Duy Tín?
Thử đáp xem!
Một tiếng quát!
Đừng mộng mị!
26. Ông Chủ
Thiền sư Nhan lúc nào cũng tự gọi tự đáp:
– Ông chủ!
– Dạ!
– Tỉnh tỉnh!
– Dạ! Dạ!
– Chớ để người lừa dối nhé!
– Dạ! Dạ!
Bình:
Người hành giả cốt nhận cho ra được ông chủ của mình mới tự làm chủ được. Nội tâm không để cho phiền não chi phối, cảnh duyên bên ngoài không để cho thanh sắc lôi cuốn, nếu được vậy thì tung hoành ngang dọc sá gì cảnh cùng chẳng cảnh. Nên người xưa nói: “Nếu chuyển được vật tức đồng Như Lai”. Đây là công phu của người đã thấy tánh.
Tánh đó là gì?
Mà thấy cùng chẳng thấy?
Thử đáp xem!
Một tiếng quát!
“Xoay về hướng Nam, nhìn sao Bắc Đẩu.”
27. Sống Trong Hiện Tại
Thế Tôn hỏi đệ tử:
• Mạng người sống bao lâu?
– Sống năm mươi năm.
• Không đúng!
– Sống bốn mươi năm.
• Không đúng!
– Sống ba mươi năm.
• Không đúng! Không đúng!
– Thế thì người đời sống bao lâu?
Thế Tôn đáp:
• Đời người chỉ sống trong hơi thở.
Bình:
Người đời luôn xuôi ngược lang thang khắp nẻo để mưu cầu hạnh phúc, nhưng đâu biết rằng hạnh phúc ấy chỉ là ảo ảnh vô thường như sương khói, như điện chớp – có đó rồi mất đó. Họ cứ đinh ninh rằng trên cõi đời này chỉ có vàng bạc, trân bảo là quý nhất; song họ lại quên rằng cái quý nhất của con người lại chính là hơi thở.
Bởi vậy, Thiền giúp chúng ta sống lại con người chân thật của chính mình và khám phá ra cái trân quý nhất của con người – đó chính là hơi thở. Người biết sống lại chính mình tức là người làm chủ được chính mình, họ luôn sống ngay với giây phút hiện tại. Người sống với giây phút an tĩnh thì mới khám phá ra chân lý của vũ trụ.
28. Thiên Đường và Địa Ngục
Có một vị tướng quân đến hỏi đạo với Thiền Sư Bạch Ẩn:
– Thực sự có thiên đường và địa ngục không?
• Ông làm gì?
– Tôi là một vị danh tướng.
• Ha! Ha! Ha! Một kẻ ngu si như ông mà làm tướng quân à, tôi trông ông giống tên đồ tể.
– Cái gì? Xem ta lấy mạng ngươi!
• Cửa địa ngục từ nơi đây.
– Bậy quá! Xin Thầy tha cho sự thô bạo của con.
• Cửa thiên đường do đây rộng mở.
Bình:
Phàm phu chẳng hội, tưởng rằng sau khi chết mới có thiên đường và địa ngục, mà là chính ngay nơi hiện tại trong cuộc sống hằng ngày. Người có tâm sân hận một niệm ác vừa dấy lên, cửa địa ngục tức khắc rộng mở. Người có thiện tâm luôn luôn cứu giúp mọi người, tâm hồn họ lúc nào cũng vui tươi cởi mở, niệm thiện vừa dấy lên cảnh thiên đường hiện tiền. Vậy thiên đường hoặc địa ngục hoàn toàn do ta định đoạt.
Nên Lục Tổ dạy:
“Này thiện tri thức! Tự tánh mê tức chúng sanh, tự tánh giác tức Phật; từ bi tức Quán Âm; hỷ xả gọi là Đại Thế Chí; hay tịnh tức Thích-ca; bình trực tức Phật Di-đà; nhơn ngã ấy là tu-di, tà tâm là biển độc; nhơn ngã phiền não là sóng mòi, độc hại là rồng dữ; hư vọng là quỷ thần; trần lao là rùa trạch; tham sân là địa ngục; ngu si là súc sanh. Này thiện tri thức! Thường làm mười điều lành thì thiên đường liền đến – trừ nhơn ngã thì núi tu-di ngã, dẹp được tham dục thì biển nước độc khô, phiền não không thì sóng mòi mất, độc hại trừ thì rồng cá dứt”.
Nên người xưa nói:
“Phàm phu tức Phật, phiền não tức Bồ-đề; niệm trước mê tức phàm phu, niệm sau ngộ tức Phật; niệm trước chấp cảnh tức phiền não, niệm sau lìa cảnh tức Bồ-đề”.
Tại sao Tổ dạy “Phàm phu tức Phật”?
Vì ngay nơi phàm phu đã có chơn tánh tức giác ngộ, nếu chúng ta đối cảnh tâm không dấy niệm, hằng tỉnh hằng giác – đó là Phật. Phật đây không phải là Phật có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp, mà Phật đây là Phật tánh của tất cả mọi người ai ai cũng có, chỉ cần chúng ta biết phản quan tự kỷ. Đó cũng là yếu chỉ tinh hoa của Đức Phật. Trên hội Linh Sơn, Ngài đưa cành sen cả hội chúng ngơ ngác, riêng mình Ma-ha Ca-diếp chúm chím mỉm cười. Phật liền nói: “Ta có Chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng trao cho ông khéo gìn giữ chớ để cho đoạn dứt.”
29. Đứng Để Mà Đứng
– Người kia đứng trên núi làm gì vậy? Ai thử hỏi xem sao?
– Ông đứng đây chờ bạn hả?
• Không phải.
– Vậy thì để hít thở không khí trong lành chắc?
• Không phải.
– À hay đứng đây để ngắm cảnh chứ gì?
• Không phải.
– Cái gì cũng không phải, vậy ông đứng đây làm gì?
• Tôi chỉ đứng đây thôi.
Bình:
Người hành giả cốt phải nhận rõ bộ mặt trước khi cha mẹ chưa sanh thì mới dám đảm đương thừa kế.
Thừa kế cái gì?
Thử đáp xem.
Đi để mà đi, đứng để mà đứng, ngồi chỉ biết ngồi, nằm chỉ biết nằm; mặc áo, ăn cơm đều rõ biết. Đây mới thật là phong thái ung dung của người: Quá khứ đã qua họ không truy tìm, tương lai chưa đến không ước vọng, chỉ luôn luôn an trú trong phút giây hiện tại.
Nên Đức Thế Tôn vào trong thai mẹ nhưng chưa từng vào, nên vào trong Như thị.
Bốn mươi chín ngày đêm ngồi dưới cội Bồ-đề để thành tựu quả vị giác ngộ cuối cùng nhưng chưa từng thành, nên thành trong Như thị.
Thuyết pháp độ vô số chúng sanh mà chưa từng độ, nên độ trong Như thị.
Bốn mươi chín năm thuyết pháp vô lượng diệu nghĩa nhưng chưa từng nói một lời, nên nói trong Như thị.
Thế nên Đức Phật đi để mà đi, đến để mà đến, nên đến đi đều ở trong Như thị.
Nên nói Phật cũng Như, Pháp cũng Như, Tăng cũng Như, Phàm cũng Như.
Rốt ráo đều ở trong Như thị.
30. Chén Trà Triệu Châu
Sư hỏi vị Tăng mới đến:
• Từng đến đây chưa?
Tăng thưa:
– Từng đến.
• Uống trà đi!
Sư lại hỏi Tăng:
– Từng đến đây chưa?
Tăng thưa:
– Chưa từng đến.
• Uống trà đi!
Quái! Đến rồi cũng uống trà đi, chưa đến cũng uống trà đi! Tại sao vậy?
Sư gọi:
• Viện chủ.
– Dạ!
• Uống trà đi!
Bình:
Chén trà của Triệu Châu bình đẳng với tất cả mọi người, dù kẻ đến hoặc chưa từng đến, chỉ cần trước khi uống trà đừng khởi tâm mống niệm truy tìm quá khứ, thì mới có thể thưởng thức được hương vị ngọt chén trà của Ngài Triệu Châu.
Bởi vậy, Viện chủ không bình thường mới thắc mắc nên cũng cần uống trà của Triệu Châu.
31. Chừng Nào Cây Bách Thành Phật
– Thưa thầy cây bách có Phật tánh không?
Đáp: • Có.
– Vậy chừng nào thành Phật?
• Đợi khi trời sập.
– Trời bao giờ sập?
• Khi cây bách thành Phật.
Bình:
Phật tánh là bản tánh tồn tại của vạn vật. Thiền là để thể nhập, hợp nhất bản tánh với muôn pháp. Người khéo nhận thì ngay vật tức pháp, ngay sanh tức vô sanh, ngay tướng tức vô tướng. Nên một khi hành giả nhận ra được bản tánh của mình rồi thì họ thấy mình và vật vốn không hai. Không thấy chủ và khách, trong và ngoài, năng và sở, người biết và đối tượng biết. Vì vậy đối với họ, trăng trong gió mát, sắc tướng hình hài, cỏ non đồng nội đều là của báu. Tất cả đều là sắc Phật, tất cả đều là tiếng Phật, tất cả là mùi vị của Phật…Nên nói “chạm mắt là Bồ-đề”, “chạm mắt là ý Tổ”.
Vì thế, Vua Lý Thái Tông đến viếng Thiền Lão Thiền sư, Vua hỏi: “Hằng ngày Hòa Thượng làm gì?”.
Sư đáp:
“Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân.”
Dịch:
“Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác
Trăng trong mây bạc hiện toàn chân.”
Với cái nhìn thanh tịnh và lặng lẽ thì đối với Sư, mọi hiện tượng trước mắt đều là chân thật, đều là ảnh tượng của tự tâm ứng tác. Cho dù cảnh có đẹp có xấu, đối với người đã giác ngộ thì họ thấy tất cả đều là chơn như, đều là Phật pháp. Vì họ thấy được trong cái đẹp có cái xấu, trong cái xấu có cái đẹp; họ không bị cảnh vật bên ngoài chi phối – chỉ một bề sống lại bản tâm thanh tịnh của chính mình.
Nhưng muốn biết chừng nào cây bách thành Phật, phải làm sao?
Thử đáp xem!
Một tiếng quát!
Buông! Buông!
Thử hạ một chuyển ngữ xem!
“Yết-đế, yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la-tăng yết-đế, bồ-đề tát-bà-ha”.
32. Thiền Cửa Miệng
Thiết Chu đi đây đó tham vấn danh sư. Một hôm ông đến chùa Tướng Quốc, ra mắt Hòa Thượng Độc Viên để bày tỏ chỗ tỏ ngộ vô cùng đắc ý của mình:
– Tâm, Phật, chúng sanh cả ba đều không. Tánh thật của hiện tượng là không – không ngộ không mê, không Thánh không phàm, không kẻ thí không người nhận!
Bốp!
– Ôi chao! Sao ông lại đánh tôi?
– Tất cả đều không! Sao ông lại giận dữ?
Bình:
– Người tu thiền cốt yếu là hành nơi tâm, chẳng hành nơi miệng. Bởi vậy, người mà thấu suốt tất cả họ luôn luôn làm tất cả việc mà không chấp một pháp.
– Nên Tổ Quy Sơn nói:
“Thật tế lý địa bất thọ nhất trần,
Vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp.”
Dịch:
“Chỗ lý thật tế chẳng thọ một mảy bụi,
Trong cửa muôn hạnh chẳng bỏ một pháp.”
Vì thế hương vị của Thiền cần phải tự thân chứng nghiệm. Phàm thường ngày nói “không” mà chẳng biết “không”, vì không tức là sắc mà sắc tức là không.
Không và sắc đại loại chia làm hai phần:
1- Phần vật chất:
Ngay thân ngũ uẩn này là sắc, biết rõ có đó rồi mất đó nên nói nó là không. Ngay cái không này hội đủ nhân duyên thành hình nên gọi nó là sắc. Người trí rõ thấu trong sắc có không, trong không có sắc nên không đắm nhiễm các pháp – họ không bị ngoại cảnh chi phối, luôn luôn an trú trong mảnh đất tâm chính mình.
2- Phần tinh thần:
Thấy tất cả các pháp sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp mà không duyên theo các pháp, đó là sắc tức là không. Chơn tâm thanh tịnh bỗng nhiên chợt sanh dấy niệm có không, phải quấy, năng sở, ta người, chủ khách, đó là không tức là sắc.
Thế nên, Bồ-tát vào đời lấy không làm tự thể, lấy sắc làm hoạt dụng. Ứng tác từ tự tâm của chính mình mà thi thiết các phương tiện thiện xảo tùy theo tánh dục của chúng sanh. Bởi vậy, Bồ-tát từ thế giới lý tưởng trở về thế giới mê mờ, đó là hình ảnh từ không trở về sắc. Ở trong thế giới mê mờ, mà không rời thế giới lý tưởng, đó là hình ảnh từ sắc trở về không. Nên Bồ-tát chẳng chán sanh tử, chẳng ưa Niết-bàn.
Vì các loài hữu tình, vì số đông, vì nhân loại, vì tình thương rộng lớn, các Ngài cứu giúp tất cả chúng sanh thoát khỏi biển khổ trầm luân mà không phân biệt kẻ oán người thân, kẻ thương người ghét. Thương xót tất cả chúng sanh, coi họ như con đẻ của mình nên nói là “chúng sanh từ”. Bố thí tài thí, pháp thí, vô úy thí cho tất cả chúng sanh nhưng đều ứng tác từ tự tâm thanh tịnh của chính mình nên nói là “vô duyên từ”. Thấu suốt tất cả các pháp, thấy rõ họ và mình không hai nên tương hỗ lẫn nhau, dìu dắt trên con đường giác ngộ mà không thấy có ngã và pháp, ta và người, người thí và đối tượng thí nên nói là “pháp giới từ”.
Bồ-tát là những con người không khác chúng ta. Nhưng Bồ-tát có những đặc tính và phương tiện thiện xảo là:
1- Trí lớn.
2- Công hạnh lớn.
3- Tình thương lớn.
Bồ-tát vận dụng ba đặc tính trên vào đời để độ sanh, mà không thấy chúng sanh để độ, đó là liễu tướng từ sắc trở về không. Lại nữa, Bồ-tát thủ chứng Niết-bàn mà không an trụ Niết-bàn, đó là liễu tướng từ không trở về sắc.
Bồ-tát thấy rõ Niết-bàn là một thực tại thì sanh tử cũng là một thực tại, đó là hình ảnh không tức là sắc, và sanh tử Niết-bàn đều hòa quyện lấy nhau trong cuộc sống nhiệm mầu bất biến. Lại nữa, Bồ-tát ở trong trần mà chẳng nhiễm trần, đó là hình ảnh sắc tức là không.
Bồ-tát vì lợi ích cho tất cả chúng sanh, nên chiều uốn theo tánh dục của họ – cũng đờn ca, cũng ăn thịt, uống rượu nhưng không đắm nhiễm các pháp, đó là liễu tướng từ sắc trở về không. Vì tùy theo nghiệp dụng của chúng sanh mà biểu hiện các tướng, nhưng đáo cùng đều lấy không làm tự thể, lấy sắc làm hoạt dụng.
Bởi vậy, một vị Bồ-tát muốn thực hành thông đạt Phật đạo phải thực hành phi đạo, đó là liễu tướng không trở về sắc. Vả lại, Bồ-tát đi trong phi đạo để trắc nghiệm lại sự tu chứng của chính mình, đó là hình ảnh từ sắc trở về không.
Vì vậy, hương vị không thiện không ác, không khổ không vui, không phàm không Thánh, không chủ không khách, không năng không sở, không người thí và đối tượng nhận thí – rốt ráo đều là Không. Nhưng cần phải tự thân mình thể nghiệm thật chứng mới có thể nói được “Các pháp là Không”. Không đây là không có tự tánh riêng biệt chớ không phải là không có gì. Cần phải trắc nghiệm lại, chớ có hồ đồ làm quấy mà tự chuốc họa vào thân – như Thiết Chu không khác.
Muốn biết các pháp là không, hãy chuyển ngữ xem!
“Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua sân trước một cành mai.”
33. Cây Cầu Đá Của Triệu Châu
Nghe tiếng đồn ở Quan Âm Viện tỉnh Hà Bắc có cây cầu đá của Triệu Châu vô cùng nổi tiếng. Đến đây, chẳng thấy cây cầu đá của Triệu Châu mà chỉ thấy cây cầu độc mộc. Thế còn cầu đá đâu? Sao chỉ thấy cây cầu độc mộc mà không thấy cây cầu đá Triệu Châu?
Cây cầu đá của Triệu Châu rốt cuộc là cái gì?
Độ lừa, độ ngựa,…độ tất cả chúng sanh mê muội.
Bình:
Phàm phu ngu muội chấp cảnh sanh tình, rồi sanh ra các thứ điên đảo, chấp ngã mê tình, đắm nhiễm sắc pháp.
Họ như người vô trí, đâu biết rằng các pháp đều là vô thường, khổ, không, vô ngã. Như người ngu si chẳng biết đâu là mê, đâu là giác.
Thế nên Đức Phật dạy:
“Này các Thầy Tỳ-kheo! Cái khổ của địa ngục, hoặc thiêu, hoặc chém, hành hạ khổ sở trăm điều, Như Lai nói cũng chưa phải khổ. Hoặc làm thân trâu, ngựa, lạc đà, Như Lai nói cũng chưa phải là khổ. Mà cái khổ Như Lai muốn nói đây là cái khổ của người vô trí, không thấy đúng như thật, lầm chấp các pháp – vô thường cho thường, khổ cho vui, giả cho là thật, vô ngã cho là có ngã”.
Vì thương tưởng tất cả chúng sanh, Đức Thế Tôn thị hiện trong cõi đời ô trược này, hòng dìu dắt họ lên bờ giác. Sau bốn mươi chín năm vân du khắp nẻo thi thiết nhiều phương tiện thiện xảo, nào là ngũ giới, thập thiện…tùy theo căn tánh lợi độn của chúng sanh, rốt cuộc rồi Ngài tuyên bố: Vì lợi ích cho Chư thiên, vì lợi ích cho mọi người, Như Lai ra đời cốt chỉ cho chúng sanh “Ngộ nhập tri kiến Phật”.
Tri kiến Phật là gì? Là cái thấy biết đúng như Phật. Phật là gì? Phật là giác, giác ngộ chính tự tâm của mình. Nên một người giác ngộ tự tâm của chính mình, họ luôn luôn sống cho tất cả, cho nhân loại. Họ không vị kỷ, sẵn sàng tha thứ cho tất cả. Dù thân này có nát, nhưng sức kiên tâm của họ không vì thế mà thối chuyển.
Vì thế, hình ảnh cây cầu đá của Triệu Châu, phàm phu chẳng hội chỉ thấy cây cầu độc mộc – làm sao mà thấy được cây cầu đá. Vì sao? Vì cây cầu đá của Triệu Châu là thể hiện tâm Bồ-tát: từ bi lặng lẽ vô hình, không âm thanh, không tướng mạo; chỉ một hạnh nguyện duy nhất của Ngài là đem thân làm cầu độ khắp chúng sanh từ bờ mê qua bờ giác.
Ai thấy được cầu Đá Triệu Châu? Thử Đáp xem!
“Giọt nước chẳng mục đích
Ngàn núi chẳng bày thân.”
34. Vô Tâm Thị Đạo
Một hôm, có một vị khách đến hỏi một Thiền sư:
– Thế nào là Đạo?
Ngài đáp:
– Vô tâm tức thị Đạo.
Bình:
Phàm người học đạo họ cứ tưởng tượng rằng đạo là một cái gì cao siêu huyền nhiệm, vượt ngoài những gì hiện hữu trong cuộc sống hằng ngày, trong sinh hoạt thừa đương tiếp vật. Nên người xưa nói:
“Mê thời tam giới hữu,
Ngộ hậu thập phương không.”
Nhưng thật ra chỉ khi nào chúng ta đối cảnh không sanh tâm phân biệt đẹp xấu, hay dở, có không, phải quấy, ấy là đạo hiện tiền. Nếu còn sanh tâm phân biệt tức là còn chướng ngại, còn chướng ngại thì thể đạo cách xa.
Người mà được “vô tâm” tức là đối với các pháp tâm không dấy niệm. Khi ý thức tiếp xúc với trần cảnh thường duyên theo – hễ có pháp trần là có hình tướng; như vừa khởi nghĩ tướng nam thì người nam hiện tiền, tức là chướng ngại. Ví như mùa xuân mặt hồ phẳng lặng, đột nhiên gió cành lay động, nhìn xuống mặt hồ không còn thấy được mặt thật của hồ. Cũng vậy, chơn tâm vốn bản nhiên thanh tịnh, chợt dấy hữu niệm, nên đành cách Đạo. Nếu người “vô niệm”, giống như mặt gương trong suốt, có người hiện ảnh người, có cảnh hiện ảnh cảnh, không người không cảnh thì mặt gương trong suốt.
Người học chẳng rõ, nói “vô niệm” là không còn gì nữa. Họ đâu biết rằng “vô niệm” nhưng rõ suốt các pháp: xanh ra xanh, vàng ra vàng, trắng ra trắng…Nên Thiền sư Huyền Giác nói: “Phân biệt diệc phi ý”, phân biệt tất cả các pháp mà không tâm phân biệt.
Mà thế nào là hữu niệm? Thế nào là vô niệm?
Thế nào là hữu tâm? Thế nào là vô tâm?
Niệm có niệm không, niệm thiện niệm ác, niệm phải niệm quấy cho đến niệm khổ vui, sanh diệt, thương ghét, thủ xả, ta người đều gọi là hữu niệm.
Đối cảnh không sanh tâm phân biệt có không, còn mất, ta người, thương ghét, chỉ luôn luôn nhớ rằng mình có tánh giác viên mãn đồng với hư không pháp giới đều gọi là vô niệm.
Người ngồi thiền trong tâm luôn luôn dấy động duyên theo pháp trần, ý thức khởi diệt không lúc nào dừng nghỉ, đó là hữu tâm.
Khi đi đứng, nằm ngồi, đối duyên xúc cảnh tâm không dấy niệm, dù cảnh có đến đi tâm vẫn hằng nhiên thanh tịnh, tám gió thổi chẳng động, đó gọi là vô tâm. Người xưa nói: Việc đến chẳng nhận, tất cả chỗ “vô tâm” đều là ý này vậy.
Thế nên mới biết người sống được với “vô tâm” này thì đồng với hư không ngàn cội; thắp nén hương lòng thành tâm xông ướp thấu tầng mây, bay qua khắp mười phương chư Phật.
Hương đó là gì?
1- Giới hương: Ngăn ngừa sự quấy ác của tâm, chẳng duyên theo vọng tưởng.
2- Định hương: Dù cho biển động sóng dời, muôn muôn sai biệt, vẫn lặng lẽ hằng nhiên.
3- Huệ hương: Thể dụng viên châu, mười phương thế giới đều rõ thấu, chẳng lầm một pháp, rõ tận nguyên nguồn.
4- Giải thoát hương: Đối với các pháp, tâm không đắm nhiễm, tâm không dính mắc – rỗng rang xưa nay, tâm không câu thúc tình phàm, tình Thánh.
5- Giải thoát tri kiến hương: Bổn tánh vốn lặng nhiên, xưa nay không đến cũng không đi – vốn hằng thanh tịnh, không một pháp có thể được, không một pháp có thể cầu.
Hương này thường xông nơi nào?
Thử đáp xem!
“Núi cao biển rộng trải dài hư không.”
35. Chẳng Phải Như Lai
Một cư sĩ cầm trái táo vừa ăn vừa hỏi:
– Thế nào là Như Lai ăn Như Lai?
Viện chủ bảo:
– Chẳng phải Như Lai rồi!
Bình:
Trong sinh hoạt, trong sự tu tập hằng ngày, phàm làm việc gì biết việc ấy, luôn luôn tỉnh giác trong giây phút hiện tại – ngay tại đây và bây giờ. Ông chủ của chúng ta lúc nào cũng hiện hữu, ứng tác từ tự tâm thanh tịnh của chính mình. Nhưng khi chúng ta đang làm việc gì nếu khởi niệm có ông chủ thì đã mất. Vì sao? Vì ông chủ lại thêm ông chủ – đầu lại thêm đầu. Nên người xưa quở mình: chính ngay đó thừa đương chớ chạy rong kiếm tìm vô ích.
Người muốn nhận diện ông chủ, phải được chứng nghiệm bằng kinh nghiệm thực chứng của chính mình. Còn chỉ nghe và tư duy thôi thì chúng ta không thể nào thâm nhập vào giữa lòng chân tánh của thực tại. Vì cớ sao? Vì chân tánh siêu việt hết cảnh giới văn tự ngữ ngôn, siêu việt hết cảnh giới của hí luận, siêu việt hết cảnh giới của so lường, của tầm tư, của hư vọng, phiền não và ngu si.Nên trong Kinh Hoa Nghiêm có một ví dụ nói về Thiện Tài Đồng Tử và Bồ-tát Diệu Nguyệt:
Thiện Tài thưa:
– Há không phải do nghe mà có tư duy và do tư duy, biện luận mà được thấy chân như (ông chủ). Đây không phải là tự chứng ngộ sao?
Diệu Nguyệt đáp:
– Không phải vậy. Không hề do nghe và tư duy mà được tự chứng ngộ. Này thiện nam tử, đối với nghĩa này ta phải lấy một thí dụ, người hãy lắng nghe.
Thí dụ như trong một sa mạc mênh mông không có suối và giếng. Vào mùa xuân hay mùa hạ, khi trời nóng có một người khách từ tây hướng về đông mà đi, gặp một gã đàn ông từ phương đông đến, liền hỏi gã rằng: “Tôi nay nóng và khát nước lắm, xin chỉ cho tôi nơi nào có suối trong và bóng cây mát mẻ để tôi có thể uống nước, tắm mát và hoàn toàn tươi tỉnh lại.” Gã đàn ông ấy theo lời yêu cầu liền chỉ dẫn cặn kẽ cho người khách rằng: “Cứ tiếp tục đi về hướng đông, rồi sẽ có con đường chia làm hai nẻo – nẻo phải và nẻo trái. Bạn nên theo nẻo bên phải gắng sức mà đi tới chắc chắn bạn sẽ đến một nơi có suối trong và bóng mát”.
Này Thiện nam tử! Bây giờ ngươi có nghĩ rằng người khách nóng khát từ tây đến, khi nói đến suối mát và những bóng cây liền tư duy về việc đi tới đó càng nhanh càng tốt, người ấy có thể trừ được cơn khát và được mát mẻ chăng?
Thiện Tài đáp:
– Dạ không, người ấy không thể làm thế được, bởi vì người ấy chỉ trừ được cơn nóng khát và được mát mẻ khi nào theo lời chỉ dẫn của kẻ kia mà đi ngay đến dòng suối, rồi uống và tắm ở đó.
Diệu Nguyệt nói:
– Này Thiện nam tử! Đối với Bồ-tát cũng vậy, không phải chỉ do nghe, tư duy và huệ giải mà có thể chứng nhập hết Pháp môn. Này Thiện nam tử! Sa mạc là chỉ cho sinh tử, người khách đi từ tây chỉ cho các loài hữu tình, nóng bức là tất cả những sự tướng mê hoặc, khát tức là tham và ái, người chỉ đường đó là Phật hay Bồ-tát, an trụ trong nhất thiết trí – Các Ngài đã thâm nhập chân tánh của các pháp, thật nghĩa bình đẳng; giải trừ khát cháy và thoát khỏi nóng bức nhờ uống dòng suối mát là chỉ cho sự chứng ngộ chân lý bởi chính mình vậy.
Câu chuyện giữa Bồ-tát Diệu Nguyệt và Thiện Tài Đồng Tử nói lên rằng: Người tu đạo nghe và tư duy chưa phải là chỗ cứu cánh rốt ráo của đạo, mà phải cần nỗ lực tu trì thì mới đạt được chỗ cứu cánh tuyệt đối viên mãn.
36. Pháp Thân Luôn Hiện Hữu
Viên Quan họ Vi đến thăm hỏi Thiền sư Huyền Sa:
– Có người bảo chúng ta lúc nào cũng dùng “nó”, song không biết “nó” là cái gì?
– Mời ăn một trái cam trước đã.
– Cảm ơn!
– Đại Sư vẫn chưa trả lời cái này là cái gì?
– Chính là “cái này” – Ông hằng ngày dùng “nó” mà không biết “nó”.
Bình:
Sáu căn chúng ta luôn hoạt động, tánh thể luôn hiện tiền. Song vì bên trong tâm thức dao động, bên ngoài đắm nhiễm sáu trần nên hằng ngày sống với “nó” mà chẳng biết “nó”, nên phải đành lang thang trong ba đường sáu nẻo.
Cảm thương cho nhân loại hằng ngày luôn luôn sống trong thể tánh bất sanh diệt mà chẳng từng hay biết, nên Vua Trần Thái Tông đã nói lên cái chỗ thấy biết của chính mình, hòng thức tỉnh cho nhân sanh trở về với bản giác – trong Khóa Hư Lục, tựa bài Núi Thứ Nhứt:
“Trời đất nấu nung vạn tượng thành,
Xưa nay không mống cũng không manh,
Chỉ sai hữu niệm quên vô niệm,
Liền trái không sanh nhận có sanh.
Mũi đắm các hương, lưỡi tham vị,
Mắt mờ chúng sắc, tiếng mê tai,
Lang thang làm khách phong trần mãi,
Ngày cách quê hương muôn dặm trường.”
(Hòa Thượng Thích Thanh Từ dịch)
Muôn vật, muôn pháp, thiên hình vạn trạng giữa cuộc đời hư ảo này không do ai tạo ra cả, mà chỉ do trời đất nung nấu mà hình thành. Đây là nhằm hiển bày, do mê mà hiện ra muôn pháp, thật không có đầu mối sanh tử, tức ngay vật là pháp, ngay tướng mà vô tướng, ngay sanh mà vô sanh. Vì thế, con người sống trong thể vô niệm, nhưng do bất giác vọng động duyên theo duyên trần vọng lầm muôn pháp. Ngay đó trái với bản thể vô niệm, phải đành sống trong hữu niệm.
Nên trong Kinh Lăng Nghiêm Ngài Phú-lâu-na Di-đa-la-ni Tử hỏi Đức Như Lai rằng:
“Tánh Như Lai Tạng bản nhiên thanh tịnh, cớ sao phát sanh núi sông, đất bằng, đồng nội?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Này Thiện nam tử! Lắng nghe ta sẽ vì ông mà nói: Do vọng minh sanh ra bởi niệm lầm lỗi trong lúc tối sơ, che khuất bổn giác sáng suốt, vọng lập chỗ sở vọng. Do nhân duyên ấy mà nghe không vượt khỏi phạm vi của thinh, thấy không vượt khỏi phạm vi của sắc. Sáu món vọng trần sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp đối đãi với sáu vọng căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý nên tạng thức mới phân kiến văn, giác, tri giao kết với ba đồng nghiệp, hoặc hiệp hoặc ly mà sanh sản. Ba đồng nghiệp là nghiệp cha, nghiệp mẹ và biệt nghiệp. Lại nữa, thể tánh của bổn giác sáng suốt, nhưng chúng sanh khởi hoặc vô minh, vọng lập thêm phương sở mà bị buộc vào phương sở thành ra tạng thức; do tạng thức này sanh ra tánh hay thấy. Ở trong cảnh chân đế thì không đồng không dị, nhưng bỗng nhiên tánh hay thấy vọng lập có đồng có dị; nhân dị lập ra đồng, rồi lại đồng và dị đối đãi nhau mà lập ra vô đồng vô dị. Trong tạng thức xao động như hoa đốm rối loạn, lại bị các duyên trần mà sanh lao lự mờ mịt, rồi khởi ra các sắc tướng dấy đục lẫn nhau. Do đó phát hiện trần lao phiền não, nổi lên thì có núi sông đất bằng, thế giới hữu tình; còn lặng xuống thì thành hư không vô hình. Có thế giới là do tướng dị, có hư không là do tướng đồng.”
Chính ở niệm sanh, niệm diệt này nên đành trái với bản thể vô sanh, bỏ mất chơn tánh hằng hữu sáng suốt của chính mình, rồi đi xa dần xa dần mãi trong chốn lục đạo. Nguyên nhân chính là do sáu căn tiếp xúc sáu trần sanh ra các thứ phân biệt – mũi thì đắm mùi hương lạ, thơm thì ưa thích, thúi thì chán ghét; lưỡi thì đắm mùi vị; mắt thì đắm nhiễm sắc pháp; tai thì duyên theo tiếng hay, tiếng dở rồi cũng sanh ưa thích – nghe tiếng khen thì sanh tâm vui mừng, nghe tiếng chê thì sanh tâm oán hận.
Sáu căn bị sáu trần lôi mãi nên mất đường về. Vì vậy nói lang thang làm khách phong trần mãi, càng ngày càng cách xa quê hương chân thật của chính mình. Thật là đáng xót thương biết bao. Xót thương cho ai? Thật ra cho chính mình. Vì cớ sao? Vì chúng ta có một quê hương sáng ngời, có một gia tài vô tận mà nào hay biết. Mãi do duyên theo những cái ảo ảnh phù du, chợt có chợt không – như điện xẹt, như bóng nắng, như bong bóng nước…nào có thật đâu. Vậy mà chúng ta nào có hay biết niềm vui bất diệt tại quê nhà. Quê nhà này ở đâu? Không ở đâu xa cả – chính là sáu căn đối duyên với sáu trần không sanh tâm phân biệt thương và ghét. Cũng từ chỗ mê muội đó mà cũng chính từ chỗ giải thoát đó.
Nên trong Kinh Lăng Nghiêm cũng có nói:
“Khi ấy, ông A-nan và cả đại chúng đều nghe mười phương các Đức Như Lai như số vi trần, tuy khác miệng nhưng đồng lời bảo với A-nan rằng: Lành thay! A-nan, ông muốn biết câu sanh vô minh là cái đầu gút khiến ông luân chuyển sinh tử, thì nó chính là sáu căn của ông chứ không phải vật gì khác. Ông biết tánh Vô thượng Bồ-đề khiến ông mau chứng an lạc giải thoát tịch tịnh diệu thường cũng là sáu căn của ông chứ không phải vật gì khác”. (Kinh Lăng Nghiêm Trực Chỉ do TT Thích Phước Hảo dịch, trang 414).
Nói tóm lại, sáu căn là gốc luân hồi mà cũng chính là gốc giải thoát. Giải thoát hay luân hồi, chúng sanh hay Phật đạo, phiền não hay Bồ-đề đều do ta định đoạt; chẳng mong cầu một bậc đại sư nào cả, chỉ cần một phen biết xoay về là thấy được quê hương muôn thuở. Chính lâu nay chúng ta rong ruổi trên dòng sông ý thức, mặc tình đắm nhiễm các pháp, rồi say sưa, rồi thèm khát để rồi lang thang mãi trong kiếp khốn cùng. Ngay đây chỉ cần đối duyên các pháp mà không sanh tâm phân biệt, phải quấy, hơn thua, thương ghét…tức là giải thoát.
Giải thoát không ở một cảnh giới nào cả, mà giải thoát đây chính là ngay giây phút hiện tại, chẳng hạn như thấy cành hoa đẹp, thấy chỉ thấy biết rõ ràng đẹp ra đẹp, xấu ra xấu. Điều tối kỵ trong nhà thiền là không nhớ đến cành hoa nào trong quá khứ, không mơ tưởng đến tương lai; chỉ có mặt trong giờ phút hiện tại, ngay tại đây và bây giờ. Đó là yếu chỉ của Thiền vậy.
Nên trong Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật cũng có dạy: “Nầy A-nan! Thế nên phải biết, nay ông chính nơi thấy biết mà lập ra tướng thấy biết là cội gốc của vô minh. Chính nơi tri kiến mà không có tướng tri kiến thì đó là vô lậu chơn tịnh Niết-bàn”. (Kinh Lăng Nghiêm trang 416)
Nghĩa là ở trên thấy nghe hiểu biết chẳng khởi tâm phân biệt, cũng chớ ở trên thấy nghe mà động niệm. Ngay các pháp thừa đương, chính ngay đó là giải thoát.
Đâu khác chỗ thấy của Ngài Huyền Giác ban sơ đến tham bái Lục Tổ, Sư hội được thể vô sanh bèn đầy đủ oai nghi và cáo từ. Tổ bảo:
– Trở về quá nhanh!
Sư thưa:
– Vốn tự không động thì đâu có nhanh.
Tổ bảo:
– Cái gì biết không động?
Sư thưa:
– Ngài tự phân biệt.
Tổ bảo:
– Ngươi được ý vô sanh rất sâu.
Sư thưa:
– Vô sanh có ý sao?
Tổ bảo:
– Không ý, cái gì biết phân biệt!
Sư thưa:
– Phân biệt cũng không phải ý.
Tổ khen:
– Lành thay! Lành thay!
(Thiền Sư Trung Hoa tập I – HT Thích Thanh Từ dịch)
Quả là loài có sừng tuy nhiều một con lân là đủ. Với Ngài, cái thấy là đối diện các pháp mà không hủy hoại đến các pháp, trả các pháp trở về nguyên nguồn của nó. Hoa vẫn nở, chim vẫn hót, mây vẫn bay; thấy trong như thị là cái thấy tột cùng không phân biệt mà vẫn rõ ràng thường biết. Đâu không đồng với cái thấy của Ngài Huệ Khả: “Bặt hết các duyên, rõ ràng thường biết, nói không thể đến”.
Nói tóm lại, thường ngày chúng ta sống cùng với “nó” mà chẳng biết “nó”. Vì cớ sao? Vì do mãi theo đuổi cảnh giả dối bên ngoài nên không nhận ra được “nó”. Chỉ cần ngay đây ăn biết ăn, ngồi biết ngồi, tiểu tiện đại tiện đều chớ ở trên ấy mà động dụng, thì tức là Phật sự, chỗ nào lại tìm “nó”. Chẳng lẽ đầu lại thêm đầu, chân lại thêm chân. Chỉ chớ trên cảnh mà sanh động niệm thì núi là núi, sông là sông, trăng là trăng, mây là mây, nước là nước.
Tóm lại, núi sông, đồng nội thảy đều không ngoài tâm ông; tam thiên đại thiên thế giới đâu ngoài bản thể của ông, lại tìm cầu cái gì? Dù cho có cầu được cũng là bên ngoài, đâu giải quyết được vấn đề tử sanh cho mình – mà mỗi người phải tự hội lấy, tin sâu tâm mình xưa nay vốn là Phật; hư không, đại địa đều là mắt huệ của Phật. Nên nói: “Pháp thân vô tướng chạm mắt đều bày, Bát-nhã vô tri đối duyên liền chiếu”.
Cho nên phải biết trọn ngày ăn mà chưa từng nhai nát hạt cơm, trọn ngày mặc áo chưa từng dính tấc tơ, lội sông mà không quậy sóng, vào rừng không động lá. Đó cũng chính là: “Trọn ngày nghe mà chưa từng nghe, trọn ngày thấy mà chưa từng thấy”. Nên nói: “Thích-ca bốn mươi chín năm nói Pháp, chưa từng nói lời nào”.
Bởi vậy, Thiền không phải là trò hý luận suông mà là một sự thực sống động, sự thực đó là liên hệ rất mật thiết trong sự sống hằng ngày. Ngay khi một người đệ tử đến hỏi Thầy điều gì liên hệ đến Phật pháp, các Ngài liền đưa một ngón tay, một chén trà, hoặc dựng đứng cây phất tử….Đó là để đánh thức ý thức của đệ tử mình trở về với chân lý của Thiền – không còn ngao du trên dòng sông ý thức sanh diệt nữa.
Nhưng thử hỏi: Ai thấy được “nó” và sống với “nó”?
Thử đáp xem!
Một tiếng quát!
Ôi! Một trường đại mộng.
37. Tâm Bình Thường Là Đạo
Triệu Châu đến hỏi Ngài Nam Tuyền:
– Thế nào là đạo?
Nam Tuyền đáp:
– Tâm bình thường là đạo.
Triệu Châu hỏi:
– Lại có thể nhằm tiến đến chăng?
Nam Tuyền đáp:
– Nghĩ nhằm tiến đến là trái.
Triệu Châu hỏi:
– Khi chẳng nghĩ làm sao biết là đạo?
Nam Tuyền đáp:
– Đạo chẳng thuộc biết và chẳng biết, biết là vọng giác, không biết là vô ký. Nếu thật đạt đạo thì chẳng nghi, ví như hư không thênh thang rỗng rang đâu thể gắng nói phải quấy.
Bình:
Triệu Châu tha thiết thưa hỏi đạo như thế nào? Lại một phen hý lộng của bậc tác gia sáng mắt, đánh thẳng vào chỗ ách yếu của Triệu Châu: “Tâm bình thường là đạo”. Đây là yếu chỉ Tổ Sư: “Trực chỉ nhơn tâm, kiến tánh thành Phật”.
Nhưng thử hỏi, tâm bình thường là tâm nào? Tâm truy tìm quá khứ, mơ tưởng đến tương lai chăng? Vừa dấy niệm truy tìm là đã động, mà đã động thì bất bình thường. Vì cớ sao? Ví như mặt biển gió ngừng sóng chẳng vỗ, chợt gió cảnh nổi lên sóng ào ạt, mặt biển chao động – đó là trạng thái bất bình thường. Cũng vậy, tâm thể luôn luôn ở trong trạng thái yên bình thanh tịnh, chợt dấy niệm duyên trần nên phải chao động – mà đã chao động nên chẳng bình thường, vì chẳng được bình thường nên đành cách đạo.
Mà tâm bình thường là tâm nào? Đó là tâm lặng lẽ sáng suốt, thấy biết rõ ràng, đối duyên xúc cảnh không sanh tâm phân biệt – giống như mặt biển phẳng lặng không gợn sóng. Phàm có ai sống được với tâm này đâu! Họ luôn sống với các tâm phân biệt so đo tính toán; có nó cho là có mình; mất nó cho là mất mình. Nên phải đành lang thang mãi trong ba đường sáu nẻo.
Vì thế, trong Kinh Lăng Nghiêm, Phật bảo Ngài A-nan: “Ông đánh mất cái nhìn của bản tâm, và chỉ thấy tâm vọng tưởng, tâm phân biệt, xem đó cho là tự ngã. Nhưng đó không phải là tâm chân thật của ông”. Bởi vậy, A-nan nghi hoặc nói: “Tâm này khiến chúng con luân hồi trong sáu cõi, nhưng bởi tâm này chúng con đạt đến Phật đạo. Ngoài tâm này ra, thì con có khác gì gỗ đá!”. Đức Phật nói: “Này A-nan! Ông nghĩ đó là tâm ông, nếu nó hiện hữu, nó phải có vị trí. Vậy nó ở đâu?”.
A-nan lúc đầu bảo tâm ở trong thân, nhưng Đức Phật nói không phải, và cũng không đúng khi ông nói nó ở ngoài thân. Hỏi liên tục thì A-nan đưa ra giả thiết bảy vị trí khác, nhưng đều không được chấp nhận. Và cuối cùng, Phật mới dạy A-nan cùng tất cả đại chúng trong pháp hội: “Nguyên nhân khiến chúng sanh trôi lăn từ vô thủy trong vòng luân hồi sanh tử là vì đánh mất bản tâm, và nhận tâm vọng tưởng, tâm phân biệt làm tự ngã”.
Qua cung cách đối đáp giữa Đức Phật và A-nan, đâu không đồng cái thắc mắc của Ngài Triệu Châu thưa hỏi Nam Tuyền: “Thế nào là Đạo?” Được Nam Tuyền chỉ thẳng bản tâm, mà ông chưa tin nhận, nên mới hỏi tiếp: “Lại có thể nhằm tiến đến chăng?” Sư nghĩ tiến đến để đạt đạo, mà tiến đến tức là dấy niệm, là bất bình thường nên chẳng phải là đạo chơn thật. Vì cớ sao? Ví như mùa xuân bầu trời xanh trong êm ả không một gợn mây, bỗng nhiên giông gió sấm chớp nổi dậy. Phút chốc bầu trời từ trạng thái bình yên trong xanh liền tối sẫm, đó là biểu tướng bất bình thường của vạn pháp.
Huống nữa, chơn tâm vốn thanh tịnh, bỗng nhiên duyên theo pháp trần sanh tâm phân biệt phải trái, có không, ta người, năng sở….Vì vậy, Sư Nam Tuyền chỉ thẳng: “Nhằm tiến đến là trái đạo.” Bởi vì nhằm tiến đến tức là động, mà động thì trái đạo. Nhưng Triệu Châu cũng chưa lãnh hội được, bèn hỏi tiếp: “Khi chẳng nghĩ làm sao biết là đạo?” Sư lại nghĩ đạo phải lệ thuộc: suy nghĩ mới có đạo, nếu không suy nghĩ thì không có đạo. Cũng vậy, đa phần tất cả chúng ta ai cũng nghĩ rằng phàm có suy nghĩ mới có mình, còn không suy nghĩ thì không có mình.
Vì thế, trong Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật diễn tả hình ảnh chàng Diễn-nhã Đạt-đa sáng sớm soi gương, khi úp gương lại liền la hoảng: “Tôi mất đầu! Tôi mất đầu!”. Nhưng đâu ngờ đầu mình vẫn còn đó, có mất gì đâu!
Cũng vậy, chơn tâm vốn thanh tịnh bỗng nhiên dấy động cho là có mình, vọng lặng cho là mất mình. Họ đâu có biết tướng động và tướng tịnh là hai mặt đắp đổi sanh diệt xoay vần lẫn nhau, mà cái gì là tự thể của cái biết động và tịnh? Ví như trong giảng đường có người thì động, không người thì tịnh – mà cái gì biết được động và tịnh? Cái gì biết được có người và không người? Đó mới chính là tự thể của chính mình.
Cũng vậy, sóng thì có sanh diệt còn mất, nhưng mặt biển thì chưa từng sanh diệt còn mất. Nếu không có sóng thì làm sao có nước, nước đi về đâu nếu không trở về với sóng? Nên nói: “Sóng tức là nước, nước tức là sóng”. Chỉ cần mọi hiện tượng sóng nước lặng yên thì mặt biển phẳng lì trong lặng. Cũng thế, chỉ cần mọi hiện tượng vọng động điên cuồng lặng đi thì tâm thể chân thật hiện bày. Thế nên, chúng ta vừa dấy tâm động niệm suy nghĩ để biết được đạo, thì càng cách xa đạo. Nên Ngài Nam Tuyền liền bảo: “Đạo chẳng thuộc biết và chẳng biết, biết là vọng giác, không biết là vô ký, nếu thật đạt đạo thì chẳng nghi. Ví như hư không thênh thang rỗng rang đâu thể gắng nói phải quấy.”
Tức là ngay chỗ đối duyên xúc cảnh mà tâm vẫn hằng nhiên thanh tịnh, đó là đạo rồi. Vừa khởi tâm động niệm tức là vọng giác, chẳng phải đạo thể chân thật; còn như ngu ngơ chẳng biết gì tức là vô ký – chỗ này người dụng công hạ thủ phải cho thật khéo, khỏi phải sai lầm mà uổng phí đời tu của mình vì cả hai đều sai cả. Nếu người thật đạt đạo rồi thì thấy rõ chân tâm của mình thanh tịnh rỗng nhiên nhưng trùm khắp vạn pháp. Tới đây thì không nói gắng gượng phải quấy nữa, vì phải quấy là còn thấy hai, chưa thật đạt đạo.
Vì thế, trong Kinh Pháp Bảo Đàn có nói về cuộc rượt đuổi của Ngài Huệ Minh tranh giành y bát. Sau khi đuổi kịp Huệ Năng nhưng y bát nhấc không lên mới nói đến đây vì pháp, chẳng phải vì y bát. Huệ Năng liền bước ra nói: “Nếu ông vì pháp mà đến đây thì tâm phải dứt bặt các duyên”. Huệ Minh đứng giây lâu, Huệ Năng liền nói: “Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, chính khi ấy cái gì là bản lai diện mục của Thượng Tọa Minh”. Ngay câu nói này ông liền đốn ngộ yếu chỉ Huỳnh Mai.
Vì sao? Vì nghĩ thiện, nghĩ ác là còn thấy hai bên. Nhưng cái gì biết rõ chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác? Đó mới là yếu chỉ của Thiền vậy. Thế nên, người không có tâm phân biệt thì tất cả thiên sai vạn vật đều trở về trong nhất thể chơn như – mà chơn như là tự thể của muôn pháp, muôn pháp là tướng dụng của chơn như. Vì vậy, nói đến Thiền là nói đến tâm linh sống động, nên người ta bảo đừng nhìn vào những lời lẽ khô cứng văn tự mà phải nhìn vào tâm linh sống động của các Ngài.
38. Mưa Hoa
Ngài Tu-bồ-đề là một đệ tử của Phật. Ông có khả năng hiểu sâu xa tiềm thể của tánh không, lập trường này cho rằng không có gì hiện hữu trừ sự tương quan giữa chủ thể và khách thể.
Một hôm, Tu-bồ-đề ngồi dưới một gốc hoa, trong một tâm cảnh tánh không cao độ. Hoa bắt đầu rơi quanh ông, có tiếng thì thầm của các Thần bên tai: “Chúng tôi đang ca ngợi về bài thuyết pháp tánh không của Ngài”.
Tu-bồ-đề đáp: “Nhưng tôi không nói về tánh không”. Tiếng thì thầm của các Thần lại vang lên: “Ngài không nói tánh không, chúng tôi cũng không nghe tánh không, đây là tánh không chơn thật.” Và hoa vẫn tiếp tục rơi xuống chỗ Tu-bồ-đề như mưa.
Bình:
Đây mới chính là chỗ nói Kinh Bát-nhã thậm thâm vi diệu. Vì cớ sao? Vì chủ thể và khách thể tương đồng, trong thể ấy không phân biệt ta người, thương ghét….mà vẫn rõ suốt vạn pháp trong nhất thể chân như của chính mình. Lúc bấy giờ tất cả thế giới thiên sai vạn biệt, hữu tình và vô tình thảy đều tan biến và đều trở về trong cái “một” nguyên thủy từ ban sơ của nó.
Với lời thuyết pháp vô ngôn của Ngài Tu-bồ-đề, chỉ có ai vô tình mới thâm nhập được tánh không của vạn pháp. Vô tình đây không phải như ngu, như gỗ đá chẳng biết gì, mà vô tình đây có nghĩa là không có tính ràng buộc – đắm nhiễm nơi sắc pháp, thinh pháp, hương pháp, vị pháp, xúc pháp. Vì thế, Tu-bồ-đề thuyết pháp trong một tâm cảnh nhất như, toàn thể pháp giới đều trở về trong cái “một”, người nghe Pháp đây cũng phải ở trong một trạng thái nhất như mới có thể tương đồng và hòa nhập với vạn pháp được. Đây mới thật là chỗ “vô tình thuyết pháp vô tình nghe”.
Nên một hôm, Thiền sư Lương Giới đến tham vấn Quy Sơn Linh Hựu. Sư hỏi:
– Được nghe Quốc Sư Huệ Trung nói “vô tình thuyết pháp”, con chưa hiểu chỗ vi diệu ấy.
Quy Sơn bảo:
– Ta trong ấy cũng có, chỉ không gặp được người xứng đáng.
Sư thưa:
– Con chưa hiểu, xin thầy chỉ dạy.
Quy Sơn dựng đứng cây phất tử hỏi:
– Hội chăng?
Sư thưa:
– Chẳng hội, thỉnh Hòa Thượng nói.
Quy Sơn bảo:
– Miệng do cha mẹ sanh, trọn không thể vì người nói.
Thiền sư Lương Giới muốn biết “vô tình thuyết pháp”, Tổ Quy Sơn với tâm lão bà bèn dựng đứng cây phất tử lên hỏi: Hội chăng? Nếu ngay cửa con mắt mà thấu suốt thì ngay đây quả là vô tình thuyết pháp cho Thiền Sư nghe rồi. Vì chưa lãnh hội được yếu chỉ của Quy Sơn nói phá, nếu Quy Sơn nói phá thì thành “hữu tình thuyết pháp”. Vì thế, cho chúng ta thấy rõ sự truyền tâm bí yếu pháp tạng ngày xưa và ngày nay đâu có khác. Ngày xưa, trên hội Linh Sơn, Phật dùng tâm yếu bí tạng đưa cành hoa sen lên. Đó là gì? Là vô tình thuyết pháp! Cả hội chúng đều ngơ ngác, chỉ có Ngài Ma-ha Ca-diếp mỉm cười. Đó là vô tình nghe.
Ngày nay cũng vậy, đến hỏi các Ngài về tâm yếu bí tạng, hoặc các Ngài dựng đứng cây phất tử lên hỏi: Hội chăng? Nếu ngay đây học nhơn lãnh hội yếu chỉ của Ngài liền rõ “Chánh pháp nhãn tạng”. Hoặc có khi các Ngài vạch một đường trong hư không, nếu ngay đây lãnh hội liền rõ suốt “Niết-bàn diệu tâm”. Hoặc có khi các Ngài gọi: Thị giả! Thị giả: Dạ! Ngay đây nếu lãnh hội thì rõ suốt “Thật tướng mà vô tướng”.
Bởi vậy, trong Kinh Di-đà Đức Phật diễn tả cõi cực lạc về sự mầu nhiệm của muôn pháp. Phật nói: “Này Xá-lợi-phất! Cõi đó thường có những giống chim màu sắc xinh đẹp lạ thường, nào chim Bạch Hạc, Khổng Tước, Anh Võ, Xá Lợi, Ca Lăng Tần Già, Cọng Mạng… Những giống chim đó, ngày đêm sáu thời kêu tiếng hòa nhã. Tiếng chim đó diễn nói pháp mầu như Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ-đề phần, Bát thánh.v.v…Lại nữa, trong cõi nước của Đức Phật đó, gió nhẹ lung lay các hàng cây báu và mành lưới báu, làm ra tiếng vi diệu như trăm ngàn thứ nhạc đồng hòa một lúc. Người nghe tiếng đó, đều sanh lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng”.
Đây là biểu tướng tánh tịnh thì muôn pháp tịnh. Vì cớ sao? Vì trong cái “một” bao hàm cái “tất cả” – trong “tất cả” đều quy về “một”. Đó là tiêu biểu “một về tất cả, tất cả về một”. Vì thế, trong khi đi, đứng, ngồi, nằm, mặc cho muôn pháp đắp đổi sanh diệt mà ta vẫn luôn luôn tỉnh giác. Bấy giờ ta mới hay ra rằng, một ngọn cỏ, một con chim, một con kiến, một ao sen, đều phát ra tiếng âm vi diệu của Đức Phật. Nếu thấu suốt chỗ này rồi thì ta mới hay rằng Đức Phật Thích-ca vẫn còn đó – pháp âm vi diệu của Ngài vẫn hùng hồn, mầu nhiệm và thấy rõ suốt hiện nay, ngay tại đây và bây giờ Phật vẫn còn ngự trên núi Linh Sơn thuyết pháp cho một nghìn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo nghe pháp. Pháp đó vẫn lưu chuyển bất tận, bắt nguồn từ tự tánh chân như nhất thể của tất cả chúng sanh vậy.
Nên trong Luật Tỳ-ni Nhật Dụng có nói: Nghe tiếng chuông là biểu tướng “vô tình thuyết pháp”. Phiền não nhẹ, trí tuệ lớn, bồ-đề sanh, lìa địa ngục, thoát hầm lửa là biểu tướng “vô tình nghe”.
Nói tóm lại, chúng ta không hẳn phải nghe tiếng chuông phiền não mới nhẹ. Mà chúng ta nghe tiếng chửi, tiếng nhục mạ mình, ngay đây biết rõ: mặc cho pháp trần luôn sanh diệt nhưng tánh nghe vẫn luôn luôn hiện hữu. Đó là liễu tướng: nghe tiếng chửi, phiền não cũng nhẹ, nhờ không duyên theo pháp trần, nên trí tuệ lớn, tâm Bồ-đề càng ngày càng tăng trưởng, tức khắc lìa địa ngục, thoát hầm lửa. Vì cớ sao? Vì địa ngục và hầm lửa tiêu biểu do tâm niệm tham dục, sân hận, si mê và ảo vọng.
Vì thế, nói đến Thiền là nói đến tự tâm của mình. Nếu tâm mình thanh tịnh thì nhìn các pháp đều thanh tịnh, nếu tâm mình không thanh tịnh thì nhìn các pháp đều chẳng thanh tịnh. Vì cớ sao? Vì muôn pháp đều từ tự tâm mình lưu xuất, nên Lục Tổ nói: “Phật nói tất cả pháp, để trừ tất cả tâm. Ta đâu có tâm, đâu cần tất cả pháp”.
Vô tình thuyết pháp. Thử đáp xem!
“Gió đùa tùng cỗi trăng soi bên hồ.”
39. Hòn Đá Quảng Châu
Dược Sơn hỏi:
– Vân Nham, ngoài chỗ Bá Trượng ngươi còn đến đâu chăng?
Sư thưa:
• Con từng đến Quảng Nam.
– Ta nghe nói ngoài cửa thành đông ở Quảng Châu có một hòn đá bị Châu Chủ dời đi chăng?
Sư đáp:
• Chẳng những Châu Chủ, dù họp tất cả người toàn quốc dời cũng chẳng động.
Bình:
– Hòn đá này lớn chăng?
Đáp:
– Lớn.
– Lớn bằng chừng nào?
– Không ngằn mé.
– Hòn đá này nhỏ chăng?
– Nhỏ.
– Nhỏ bằng chừng nào?
– Ngàn Thánh xem chẳng thấy.
Hòn đá này là vật gì mà ngàn Thánh xem cũng chẳng thấy?
Hòn đá này chẳng phải xanh vàng đỏ trắng; chẳng dài chẳng ngắn; chẳng sanh chẳng diệt; chẳng nhơ chẳng sạch; vô khứ vô lai, vượt thoát không gian và thời gian của muôn pháp – ứng cơ tiếp vật thì muôn hình vạn trạng, tùy nghi nhiếp hóa tất cả chúng sanh đồng vào biển trí huệ của Như Lai. Thị hiện tất cả hình tướng tùy nghiệp lực của tất cả chúng sanh, đến đi qua lại trong ba cõi sáu đường, mà vẫn ngồi yên tịnh thường lặng lẽ, chiếu soi không lầm mảy may muôn pháp. Đó là hình tướng của hòn đá Vân Nham.
Ai thấy được hòn đá Vân Nham? Thử đáp xem!
Một tiếng quát!
Một tâm dấy lên, trời đất xa cách.
Vậy phải làm sao?
“Ngoài kia gió thổi trải dài hư không.”
40. Dọn Cháo
Một hôm Nam Tuyền dọn cháo cho chúng. Mã Tổ hỏi:
– Trong thùng có chi?
Nam Tuyền nói:
– Lão già này ngậm miệng lại! Ăn nói như vậy à?
Sư bèn thôi.
Bình:
Nam Tuyền đích thực là Tào Khê tái lai chớ chẳng ai khác! Khi xưa ở tại Huỳnh Mai là: “Xưa nay không một vật! “Giờ đây hý lộng lên: “Ngậm miệng lại chớ ăn nói hồ đồ!” Trong thùng lại có gì? Phải chăng Tào Khê đang sống lại? Trước sau tuy cách biệt bao đời mà ứng cơ tiếp vật chưa từng biến đổi. Vì cớ sao? Vì chính thống của Thiền Tông là ngay vật tức pháp, ngay sanh tức vô sanh, ngay tướng tức vô tướng. Nghĩa là khi “mê” nhìn ra các pháp thấy có sai biệt, “ngộ” rồi thấu suốt các pháp đều ở trong tự thể nhất nguyên, vô sai biệt.
Vì thế, con người khi mới sanh ra đều ở trong nhất nguyên vô sai biệt, nhưng do đối duyên xúc cảnh sanh tình nên đành sống trong tướng sai biệt. Từ đây luống chịu bao thứ nhọc nhằn, lang thang làm khách phong trần, càng đi càng xa cách mãi! Càng quanh quẩn nhiều càng lạc lối thêm, giống như chàng cùng tử bỏ cha đi không khác.
Thật là:
“Ở trong nhất thể vô sai biệt
Chợt vọng tình sanh xúc cảnh trần
Lang thang lao nhọc từ độ ấy
Biết đến bao giờ về cố hương?”
Chính vì thế, Đức Phật ra đời cốt để đánh thức chúng sanh quay về nẻo giác. Rồi lần lượt tiếp nối chư Tổ ra đời, dùng mọi phương tiện để khơi lại chỗ này. Nhưng làm sao để trở về lại tự tánh nhất nguyên vô sai biệt này? Trở về bằng cách nào?
Người xưa nói: “Sanh nơi đất, lớn nơi đất; té nơi đất cũng từ nơi đất mà đứng dậy”. Cũng vậy, mê từ chỗ đó mà ngộ cũng từ chỗ đó. Lâu nay, chúng ta một bề đối duyên xúc cảnh – mắt duyên nơi sắc, tai duyên nơi tiếng, mũi duyên nơi mùi, lưỡi duyên nơi vị, thân duyên nơi xúc chạm, ý duyên nơi pháp trần rồi sanh tâm phân biệt, có không phải quấy, ta người, thương ghét rồi tạo nghiệp không lường, để từ đây phải đành luân hồi trong sáu nẻo. Giờ đây, cũng chính từ chỗ sáu căn đó, một phen xoay thẳng trở về thì sờ sờ trước mắt, bằng không thì luống nhọc một đời vô ích.
Ôi! Thời giờ qua nhanh, mạng sống trong hơi thở. Vậy thì đừng phí thời giờ vô ích, nhàn rỗi tăng phòng niệm ngôn, niệm ngữ. Giả sử đọc hết đại bộ tạng Kinh, thuộc làu trăm tắc công án Tổ Sư, nếu không niệm niệm hạ thủ công phu, triệt cốt bản tâm, thấu suốt muôn pháp thì lúc đối diện trình với lão già Diêm Vương được có ích gì? Sao không ngay đây mạnh dạn thẳng tiến, xoay ngược trở lại coi thử nó là cái gì? Ngày qua tháng lại, cho tới khi tâm mình nhồi thành một khối, thì hoa lòng bỗng nhiên bừng nở – mới hay ra rằng chúng sanh xưa nay vốn đã là Phật, sanh tử Niết-bàn như giấc mộng chiêm bao.
Mà thật vậy! Chúng sanh vốn sẵn có Phật tánh chơn như thường hằng bất biến, cho dù bị nghiệp lực lôi kéo khiến phải luân chuyển trong sáu nẻo ba đường; khi mang thân thú, khi mang thân người, khi làm người thiên giới….nhưng chất Phật vẫn hằng hữu, không vơi, không đầy, không mờ, không tỏ. Lúc nào chất Phật vẫn sáng suốt linh diệu, ứng tác ra muôn pháp diệu dụng như hằng sa công đức – như trăm ngàn con sông đổ về biển cả. Cho nên, Phật với chúng sanh vốn đồng một thể, thể ấy trùm khắp cả tam thiên thế giới, thể ấy phi cả không và thời, thể ấy không có biên cương thiện ác, không có phiền não và Bồ-đề, không có sanh tử và Niết-bàn; thể ấy không sanh không diệt, vô khứ vô lai, vô chúng sanh vô Phật đạo.
Nên một khi nhận ra được bản tâm nhất nguyên vô sai biệt của chính mình, thì đối với hành giả Phật ngự ở khắp nơi. Họ thấy rằng trong tâm địa sâu thẳm của tất cả chúng sanh đều có đức tướng trí tuệ Như Lai thanh tịnh tròn sáng. Và thấy rõ từ trong tâm địa sâu thẳm của con chim, con kiến, con ngựa, con trâu….đều có chất Phật, đều cũng có cái biết. Biết gì? Biết lạnh, biết nóng, biết đói, biết thương, biết khổ….Nhưng do nghiệp lực sâu dày che đậy nên không có được trí tuệ siêu tuyệt như con người.
Vì vậy, để cúng dường hằng hà sa số chư Phật, hành giả đâu cần phải vào tận cảnh giới chư Phật để dâng hoa, để xông hương trầm nghi ngút, mà mỗi niệm hành giả phải xoay trở lại chính mình. Dù cho niệm thiện hoặc niệm ác đều đưa chúng vào vô dư Niết-bàn, độ cùng tận như thế mà không thấy mình độ tận. Đó là yếu chỉ từ Tây sang vậy.
Nhưng thử hỏi: Ai trả lời cho hợp ý Mã Tổ?
Thử đáp xem!
Một tiếng quát!
Buông! Phàm Thánh đều buông !
Như thế được nửa phần!
Vậy phải làm sao?
Hãy chuyển ngữ xem!
“Núi non biển rộng, hư không vô bờ.”
41. Đầu Sào Trăm Trượng
Có vị tăng đến hỏi Sư Duyên Quán:
– Khi giặc nhà khó giữ thì như thế nào?
• Biết được chẳng phải oan gia.
– Sau khi biết được thì thế nào?
• Tiến đến nước vô sanh.
– Nước vô sanh đâu phải chỗ y an thân lập mạng?
• Nước chết không chứa rồng.
– Thế nào là nước sống chứa rồng?
• Dậy mòi mà chẳng thành sóng.
– Bỗng khi đầm nghiêng núi đổ thì sao?
Sư bước xuống giường thiền, nắm đứng ông tăng bảo:
• Chớ nói ướt góc ca-sa của lão Tăng.
Bình:
Thế nào là giặc nhà khó giữ? Nghĩa là vọng tưởng điên đảo do sáu tên giặc cướp dẫn vào, nên nói rất khó giữ. Cổ Đức nói: Nhận giặc làm con, chúng sẽ phá nát gia sản của mình. Nhưng biết rõ chúng là vọng tưởng giả dối không thật do duyên theo pháp trần mà lưu ảnh, chúng vốn không có thể thật – ví như điện chớp, sóng nước, mộng huyễn…Đã rõ được thật tướng của chúng thì không còn là oan gia nữa, trái lại ta điều phục chúng và sai khiến chúng.
Sau khi biết rõ thì tự nó dừng lặng, càng lâu càng lặng là an trụ chỗ vô sanh. Nhưng chỗ vô sanh này chẳng phải là chỗ an thân lập mạng trên con đường Phật đạo, mà phải cố gắng tiến bước chẳng để chết chìm trong ấy. Người xưa nói đây là “hang động của quỷ Sa-tăng”, còn gọi là “trầm không trệ tịch” hoặc “nước chết chẳng chứa được rồng”. Đây còn gọi là “mục thứ tám trâu người đều mất”.
Thật là:
Bà lão tốn công cất am tranh
Ba năm tròn đủ chẳng bao là
Hận mình nuôi luống ông tăng chết
Đốt quách am tranh đuổi trở về.
Nên Cổ Đức quở: “Thối chí độ sanh, an ổn lợi mình, chẳng hạnh nguyện độ sanh”. Thế nên, hành giả đến đây cần phải phấn chấn tỉnh giác vượt qua mới được. Đây còn gọi là “đầu sào trăm trượng”.
Thật là:
Ra đi rồi lại tìm về,
Đến xin bà lão am quê tu hành.
Thương tình Tăng đến thưa trình,
Lão bà làm lại am tranh vườn nhà.
Ba năm mở thất bước ra,
Cũng như lần trước ôm qua hông thầy.
Tức thì đối đáp ngay đây,
Tôi biết cô biết đừng hay, lão bà.
Cô về tình sự thuật qua,
Ra chiều vui vẻ lão bà tán dương.
Ngay đây mới thật là Tăng,
Đầu sào dẫm bước, mười phương hiện tiền.
Để trở về với bản thể uyên nguyên muôn thuở của chính mình, Cổ Đức nói “chim bay về tổ”, “lá rụng về cội” hay “phản bổn hoàn nguyên”. Đây gọi là “bức tranh thứ chín trong thập mục ngưu đồ”.
Đến đây chưa phải là con đường trở về Phật đạo, mà phải đi sâu vào tầng lớp xã hội để dìu dắt cho tất cả chúng sanh đồng về nẻo giác – đây là nguyện độ sanh của bậc Đại Bồ-tát xả thân cứu đời. Bởi vậy, đến chỗ này hành giả phải luôn luôn tỉnh sáng đầy đủ diệu dụng mà không động. Mới thật “nước sống chứa được rồng”. Dù cho trời nghiêng đất đổ cũng không lay động tâm hành giả, nghĩa là khi ra giáo hóa độ sanh, Bồ-tát bị hủy nhục, bị đánh đập hoặc giết hại mà tâm vị ấy không lay động trước hoàn cảnh mình bị nhục hại.
Lục Tổ có nói: “Người kiến tánh, dù cho múa đao ra trận cũng vẫn thấy tánh”. Đây mới thật là tông chỉ của Tổ Sư. Nên Ngài nói: “Không ướt góc ca-sa của lão tăng”.
Tuy chưa đến được chỗ này nhưng hãy chuyển ngữ xem! Có hợp ý Sư chăng!
Một tiếng quát!
Sơn hà đại địa toàn bày pháp chơn.
42. Chén Trà Nam Ẩn
Có một học giả đến hỏi Thiền nơi Ngài Nam Ẩn. Nam Ẩn mang trà ra đãi. Ông rót trà vào chén, trà đầy rồi mà vẫn không ngừng rót…
– Sư phụ! Trà tràn đầy rồi xin dừng tay lại!
Ông có khác chi chén trà này, trong lòng đầy ắp những tri giải, định kiến. Nếu ông không cạn chén trà tri giải nơi mình trước, ta biết làm sao nói Thiền cho ông.
Bình:
Phàm người học đạo phải tự kiểm điểm lại chính mình, chớ chạy trên lời ngôn cú của chư Thiền Đức. Nghe người xưa nói: “Kiến sắc minh tâm, gá vật hiển lý” liền bắt chước chỉ cành hoa, ngọn cỏ – cho rằng ta hội thiền, hội đạo. Đến hoa tàn, cỏ úa, bốn mùa đắp đổi xoay vần, gạn hỏi lại đạo ở chỗ nào, tức thì ngơ ngơ, ngáo ngáo chẳng biết đâu mà chỉ. Nên người xưa nói: “Lâu đài biến thành cỏ úa” là ý này vậy, họ đâu biết rằng đạo lý chân thật vốn tại nơi mình đâu cần tìm cầu bên ngoài.
Dù cho ta có hiểu ba cân gai của Động Sơn, hay một hớp nước uống cạn sông Giang Tây cũng chưa dính dáng gì với Tông chỉ của Tổ Sư. Vì cớ sao? Vì hiểu chưa phải thực chứng. Thế nên, người chơn thật học đạo phải can đảm, mạnh dạn xuyên suốt qua lời Phật Tổ, mới mong cùng Phật Tổ nắm tay đồng bước. Ngược lại, chỉ hiểu suông trên ngôn cú mà chẳng hạ thủ công phu tu hành, thì đến Phật Di-lặc ra đời cứu cũng chẳng xong. Huống nữa là chén trà Nam Ẩn.
Ai cạn được chén trà của Nam Ẩn? Thử đáp xem! Một tiếng quát! Tỉnh! Tỉnh! Chớ buông mình bắt bóng.
43.Ta Không Vào Địa Ngục Thì Ai Vào?
Có người đến hỏi Thiền Sư Triệu Châu:
– Hòa Thượng sau khi chết đi về đâu?
– Làm lừa, làm ngựa!
– Sau đó thế nào?
– Ta vào địa ngục.
– Hòa Thượng là bậc đại thiện tri thức. Vì sao bị vào địa ngục?
– Ta không vào địa ngục thì ai đến đó giáo hóa ông.
Bình:
Vì lợi ích cho chư Thiên, vì lợi ích cho mọi người, Đức Thế Tôn thị hiện trong cõi đời này, hòng dìu dắt cho tất cả chúng sanh đồng vào biển giác. Sau cùng thấy duyên sắp mãn hiện tướng Niết-bàn, an nhiên thị tịch.
Rồi lần lượt chư Đại Bồ-tát nối tiếp ánh từ quang của Ngài, dìu dắt tất cả chúng sanh còn đắm mình trong biển dục trở về nẻo giác. Hạnh nguyện của các Ngài thì không cùng tận. Các Ngài luôn luôn ra vào trong ba đường sáu nẻo; hoặc làm vua, làm quan, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di; hoặc làm những người danh vọng và quyền uy nhất trong nước; hoặc làm người bần cùng nhất trong nước. Đây là hình ảnh “hòa quang đồng trần”.
Đặc điểm của Bồ-tát:
1- Bồ-tát là những con người không khác chúng ta nhưng các Ngài có những đặc tính và những phương tiện thiện xảo:
– Một là trí huệ siêu việt. Sao gọi là trí huệ siêu việt? Vì Bồ-tát dùng trí huệ thấy rõ các pháp đều như huyễn, như mộng…nên Bồ-tát giáo hóa cho tất cả chúng sanh mà không thấy mình giáo hóa.
– Hai là công hạnh lớn. Sao gọi là công hạnh lớn? Bồ-tát dùng vô số phương tiện thiện xảo, và bi nguyện rộng lớn độ vô lượng vô số chúng sanh mà không biết mệt mỏi.
– Ba là tình thương rộng lớn. Sao gọi là tình thương rộng lớn? Bồ-tát dùng trí huệ thấy rõ mình và chúng sanh vốn đồng một thể tánh sáng suốt, do một niệm bất giác nên chúng sanh mê muội chìm đắm trong ngũ dục. Bồ-tát khởi lòng đại bi bình đẳng coi tất cả chúng sanh như con đẻ của mình, chúng sanh đau khổ, Bồ-tát cảm thấy như mình đang đau khổ nên vận dụng vô lực từ, bắc nhịp cầu trong sanh tử đưa chúng sanh thoát khỏi sanh tử.
2- Bồ-tát tuy chứng nhất thể vô tướng mà chẳng thủ chứng vô tướng, tuy chứng pháp thân thường trụ mà vẫn bi nguyện tiếp vật độ sanh. Tùy theo tánh dục của chúng sanh mà thi thiết các phương tiện thiện xảo, hoặc làm dâm nữ, hoặc làm kẻ say, hoặc làm kẻ bần cùng; cũng đờn ca, cũng uống rượu ăn thịt nhưng không đắm nhiễm các pháp. Đó là hình ảnh “ở trần mà chẳng nhiễm trần”. Chỉ vì tùy theo nghiệp dụng của chúng sanh mà biểu hiện các tướng, nhưng đáo cùng đều lấy “không” làm tự thể, “sắc” làm hoạt dụng.
Thật là:
“Trúc ảnh tảo giai trần bất động,
Nguyệt luân xuyên hải thủy vô ngân.”
Dịch:
“Bóng trúc quét thềm bụi chẳng động,
Vầng trăng xuyên biển nước không chao.”
Nên Tào Sơn nói: “Chớ đi đường tâm ấy, chẳng mặc áo bản lai, phải thế nào mới đúng? Tối kỵ lúc chưa sanh. Chẳng dừng ở vô vi mà phương tiện mặc áo nhơ, chẳng dứt hữu vi mà đi trong phi đạo; để tùy loài đồng sự, độ thoát cho các loài hữu tình; nên chỉ bày cái nhiễm, tu cái tịnh, thông đạt Phật đạo.” Đó mới thật là:
“Tóc bạc đầy đầu lìa hang núi
Đêm tối xuyên mây vào xóm làng.”
Lại nữa, Bồ-tát vào biển cả sanh tử dùng con thuyền vô ngã, đưa hết tất cả chúng sanh trở về nẻo giác. Dù cho biển gió dập dồn mà tâm Bồ-tát vẫn không lay động.
Nên trong Kinh Hoa Nghiêm có nói “Như vị đại thuyền sư đem con thuyền vĩ đại, hạ giữa lòng chảy, chẳng đụng bên này, chẳng chạm bên kia, chẳng trụ giữa dòng, cứ thẳng tiến tới không chút ngừng nghỉ”.
Cũng thế, Bồ-tát giong thuyền Ba-la-mật, ở trong dòng sanh tử, chẳng thủ Niết-bàn, mà cũng chẳng ở giữa dòng; là vì muốn chúng sanh đạt đến bờ bên kia nên không ngừng tay. Trong khoảng vô lượng kiếp, thường tu tinh tiến giáo hóa chúng sanh.
Vì thế, Bồ-tát đi trong phi đạo để hoàn thành Phật đạo, đi trong địa ngục để hoàn thành nhẫn nhục ba-la-mật, vào chốn ngạ quỷ để hoàn thành hạnh bố thí ba- la-mật, vào chốn súc sanh để hoàn thành hạnh trí tuệ ba-la-mật, vào cõi người để hoàn thành bi nguyện tinh tấn ba-la mật, vào cõi trời để hoàn thành bi nguyện thiền định ba-la-mật, vào chốn A-tu-la để hoàn thành bi nguyện từ tâm ba-la-mật.
Vì cớ sao? Vì Bồ-tát thấy rõ tất cả các pháp đều là huyễn tướng, trôi chảy như một dòng sông vô tận, nước chảy trôi mà dòng sông vẫn bất động. Dòng nước là biểu tướng mà lòng sông là tự thể. Vì vậy, Bồ-tát vào chốn khổ đau nhưng cảm thấy an vui hạnh phúc. Vì Bồ-tát thấy rõ hạnh phúc là một thực tại, thì khổ đau cũng là một thực tại. Và thấy suốt rằng hạnh phúc là tự thể mà khổ đau là biểu tướng.
Thế nên một hôm Đức Phật sai A-nan xuống địa ngục thăm Đề-bà-đạt-đa. A-nan vâng lời Đức Phật xuống thăm, thấy sư huynh mình đang ngồi trong hỏa ngục liền buột miệng hỏi: “Sư huynh ngồi trong hỏa ngục cảm thấy nóng bức như thế nào?” Đề-bà đáp: “Những người tu chứng tứ thiền cảm thấy an lạc như thế nào thì đối với ta ngồi trong hỏa ngục đây cũng cảm thấy an lạc như thế đó”. Qua lời đối đáp giữa Đề- bà và A-nan chúng ta thấy bi nguyện của bậc Đại Bồ-tát thật vĩ đại. Dưới con mắt phàm tình, chúng ta làm sao hiểu thấu?
Như trường hợp Ngài Nam Tuyền chém mèo, đây là thật hành phi đạo mà thông đạt Phật đạo. Bởi vì trong lúc thật hành phi đạo tâm các Ngài không tham dục, sân hận, si mê và ảo vọng; mà chỉ vì cho số đông, cho tất cả. Đó là đại bi nguyện của các Ngài.
Hoặc trường hợp Ngài Đơn Hà thiêu tượng Phật, cũng vì khai ngộ cho viện chủ thấy rõ chủ nhơn ông của chính mình. Đó là con đường phi đạo để hoàn thành bi nguyện Phật đạo. Vì vậy, các Ngài vào địa ngục như vào cõi Niết-bàn; vào cõi ngạ quỷ như vào cõi thiên giới; dạo chốn ta-bà như dạo trong hoa viên.
Cảm thông sâu sắc hàng Bồ-tát thực hành phi đạo để hoàn thành bi nguyện Phật đạo, nên một hôm có vị tăng đến hỏi Sơ Tổ Trúc Lâm đầu đà: “Người đại tu hành lại rơi vào nhân quả chăng?”
Ngài liền đáp:
“Khẩu tợ huyết bồn ha Phật Tổ,
Nha như kiếm thọ chủy Thiền Lâm.
Nhứt triêu tử nhập A Tỳ ngục,
Tiếu sát Nam Mô Quán Thế Âm.”
Dịch:
“Miệng dường chậu máu chê Phật Tổ,
Răng như kiếm bén gặm rừng thiền.
Một mai chết đọa A-tỳ ngục,
Cười ngất Nam Mô Quán Thế Âm.”
(Hòa Thượng Thích Thanh Từ dịch)
Đây là tinh thần “bất muội nhân quả”. Các Ngài thấy rõ nhân quả vẫn phải trả, nhưng khi mê thì khổ, khi ngộ rồi thì cười ngất. Như trường hợp Tổ Sư Tử đưa đầu cho vua Kế Tân chém, Tổ Huệ Khả chết trong ngục tù.v.v…Các Ngài không chối bỏ nhân quả, nhưng nghiệp chướng quả báo đến, các Ngài coi chúng như hình, như bóng, như điện chớp…chúng vốn không có thể thật. Như Ngài Huyền Giác nói:
“Liễu tức nghiệp chướng bổn lai không,
Vị liễu ưng tu hoàn túc trái.”
Nghĩa là người liễu ngộ rồi dù nghiệp chướng đến các Ngài coi nó cũng như không. Còn chưa liễu ngộ thì phải đền nợ trước, tức là bị nhân quả.
Tóm lại, hàng Bồ-tát thực hành hạnh phi đạo là cụ bị cho mình đầy đủ sức nhẫn chịu để dần bước lên trên con đường Phật đạo. Nhưng muốn hoàn thiện Phật đạo, Bồ-tát phải thực hành bi nguyện như thế nào?
Thử đáp xem!
1. Nhẫn từ
2. Tâm từ
3. Huệ từ
4. Nguyện từ
5. Tín từ
6. Hạnh từ
7. Định từ
44. Thiền Không Thể Nói
Dược Sơn Thiền Sư lâu lắm không thăng tòa thuyết pháp, chúng đệ tử đều mong được nghe sư phụ chỉ dạy.
• Được rồi! Hãy đánh chuông tập chúng nơi đại điện nghe pháp.
– Sư phụ! Vì sao không nói câu nào đã bỏ đi?
• Giảng kinh đã có Pháp sư, dạy luật đã có Luật Sư; còn ta là Thiền sư, mà thiền thì không thể giảng, có giảng chỉ vô dụng. Vậy sao ông còn thắc mắc?
Bình:
Thiền là vô ngôn nhưng đầy đủ nghĩa lý siêu tuyệt. Thiền là vô ngôn nhưng đầy đủ tất cả muôn hạnh. Thiền là vô ngôn nhưng đầy đủ diệu dụng và có sức sống mãnh liệt. Thiền là vô ngôn nhưng an tâm tại Thiếu Thất. Thiền là vô ngôn nhưng siêu việt các ngôn từ. Vì thế, thiền càng hiểm nghèo và càng sóng gió càng tốt, để chỉ cho những tâm hồn khát khao về thiền mới có thể trèo lên chót đỉnh.
Bởi vậy, nói đến thiền là nói đến sự phản tỉnh của nội tâm chúng ta, nó chỉ con đường từ khổ đau đến an vui hạnh phúc. Đưa ta đến đỉnh cao của cuộc sống mầu nhiệm uyên nguyên để hưởng trọn ngụm nước đầu nguồn bất tận.
Thiền tuy vô ngôn nhưng cởi mở tất cả những gì trói buộc trong tâm hồn của chúng ta, những sanh linh bé nhỏ, luôn luôn đau khổ và quằn quại trong kiếp sống này. Thiền sẵn sàng khai phóng tất cả năng lực nội tại trong tâm hồn chúng ta. Ví như một ngọn đèn thắp lên thì bóng tối ngàn năm liền tan biến, một niệm giác bừng lên thì ngàn năm mê liền tiêu diệt. Vì cớ sao? Vì mê và giác chỉ trong khoảng sát-na tâm.
Vì thế, muôn triệu kiếp về trước, thực tại vĩnh viễn cũng ngay tại đây. Bây giờ và muôn triệu kiếp sau, thực tại vĩnh viễn cũng ngay tại đây và bây giờ. Và hiện tại bây giờ đây thực tại cũng thường hiện diện. Nếu hiểu được lý này thì chúng ta biết rằng ta luôn luôn vĩnh viễn sống trong cái như thật.
Vì thế, nỗi khát khao nghe pháp của đại chúng được Ngài Dược Sơn trả lời bằng sự im lặng sấm sét, nhưng đầy đủ sự diệu dụng khôn lường – y như trăm ngàn mũi tên bắn về một phía.
Nhưng thử hỏi ai là kẻ tri âm của Ngài Dược Sơn? Thử đáp xem!
Linh Sơn, Thiếu Thất, Tào Khê ấy!
Một điểm linh quang sạch pháp trần.
Đêm nay trăng sáng soi đỉnh núi,
Dáng núi cô liêu tiếng vượn trầm.
45. Ba Cân Gai
Có một vị tăng đến hỏi Thiền Sư Động Sơn:
– Thế nào là Phật?
Sư đáp:
• Ba cân gai.
– Xin lấy vật khác để ví dụ.
• Ta không có chỉ vật.
– Vậy Phật là gì?
– Ba cân gai.
Bình:
Thiền là một làn chớp nội tâm rọi sâu vào hố thẳm của tự tánh. Thiền không nhìn bên ngoài, không vọng cầu truy đuổi quá khứ và tương lai, không tìm kiếm thực tại, mà chỉ đạt tới mảnh đất thực tại. Bởi vậy, nói đến Phật là nói đến tự thể của muôn pháp. Người tu thiền nhìn ra muôn pháp, trúc biếc hoa vàng trăng trong mây bạc, đều hiện rõ suốt con người chân thật của chính mình, chớ không rong ruổi tìm cầu Phật đâu cả. Vì sao? Vì ngay vật tức là tâm, ngay tướng tức vô tướng, ngay sanh tức vô sanh, ngay biểu tướng tức tự thể.
Trong tự thể nhiệm mầu không có ranh giới giữa chủ thể và khách thể, không có biên cương thiện và ác, phiền não và Bồ-đề, chúng sanh và Phật đạo. Muốn tìm về thực tại nhiệm mầu thì ngay trong từng sát-na hiện tại thể hội lấy đại đạo, ngay trong từng sát-na tâm thể hội lấy Phật đạo, ngay sắc thể hội lấy không, ngay không thể hội lấy sắc.
Chân lý tối thượng là ngay trong nội tâm của pháp thân, đó là bản thể tuyệt đối bao trùm hữu thức và vô thức. Và câu trả lời “ba cân gai” của Ngài Động Sơn là để đánh thức hành giả trở về lại tâm Phật của chính mình. Chúng ta đâu biết rằng pháp thân của Phật vẫn hiển hiện mãi mãi, sáng ngời đầy đủ diệu dụng. Vị tăng quên mất tự tâm thanh tịnh của mình – đã là Phật mà lại tìm cầu một Đức Phật khác. Quên mất tự tánh thanh tịnh của chính mình, lại tìm Phật bên ngoài, càng tìm càng cách xa đạo.
Bởi vậy, dưới con mắt của người đã đạt ngộ, tất cả chúng sanh đều đã là Phật, nhưng họ không lưu tâm đến chân Phật của mình, lại đi thưa hỏi về Phật. Thật là vô ích!
Và tiếng vang của Động Sơn đã đưa hành giả đang lang bạt trên dòng sông ý thức sanh diệt, trở về với bản thể uyên nguyên muôn thuở của chính mình. Nếu người nào thấu suốt lý này thì mới biết rõ yếu chỉ của Ngài Động Sơn khai thị:
• Thế nào là Phật?
– Ba cân gai.
Ai thấy được ba cân gai? Thử đáp xem!
Trăng soi gió lặng Bồ-đề trổ hoa.
46. Tu Như Thế Nào Mới Phải?
Người tu là người như thế nào?
– Giống như tôi.
Đại sư tu ra sao?
– Tu không ngoài mặc áo ăn cơm!
– Đây là những việc lặt vặt hằng ngày. Sao cho là tu hành?
– Ông cho rằng hằng ngày phải làm gì?
Bình:
Đi cũng thiền, đứng cũng thiền, ngồi cũng thiền, mỗi mỗi đều phải xoay về chính mình. Thế nên tu hành là chỉ tùy việc mặc áo, ăn cơm, khát uống, ấm lạnh tùy duyên…Mỗi việc làm đều phải tỉnh giác tự chủ phản quan lại con người chân thật của chính mình – tự nhiên lâu ngày dài tháng hoa lòng tự nở, ngộ được tâm cơ mảy may của Phật Tổ. Bởi vậy, chân lý không đâu ngoài con người chân thật của chính mình. Đó là cốt tủy của thiền vậy.
Nhưng có mấy ai luôn luôn sống được giây phút hiện tại này đâu! Ăn họ chẳng chịu ăn đòi trăm thứ, ngủ chẳng chịu ngủ suy tính trăm điều – họ luôn phóng tâm rong ruổi ra ngoài để sống với vọng thức phân biệt so đo tính toán, ta người năng sở, thì làm sao hưởng được những giây phút tự tại thong dong để hòa mình vào cái đẹp vĩnh cửu của trời đất?
Tâm ta ư? Có lúc nào được dừng nghỉ trong giây phút hiện tại để cảm nhận thời gian, không gian đang lắng đọng. Và thật là mầu nhiệm mà cũng là sự bí mật bất khả tư nghì – cái vẻ đẹp chân thật và huyền diệu này lại là kết hợp những biến hóa vô thường của thiên nhiên, cũng như của cuộc sống hằng ngày luôn luôn hiện hữu chung quanh ta. Nhưng do vô minh đắm nhiễm các pháp nên không thể hội lấy đại đạo được.
Vì thế Trang Tử nói: “Cá lội quên sông, người sống quên đạo”. Con người lúc nào cũng sống với thiền, chết cũng ở nơi thiền – thiền bao quanh ta mà ta chẳng lúc nào hay biết. Ôi! Biển thiền sâu thì cùng tận, rộng thì không ngằn mé; thu vào thì nhỏ đầu hạt cải, phóng ra thì trùm khắp pháp giới.
Thế nên, để hòa nhập với biển thiền vô cùng tận này, mỗi mỗi hành giả hãy xả bỏ những điều phân biệt nhỏ nhoi vị kỷ giữa mình và người, giữa thiện và ác, giữa vinh và nhục, giữa hơn và thua. Biến hận thù thành tình thương chân thật, chuyển tham sân si thành giới định huệ…thì tâm địa của hành giả cũng hóa rộng và sâu như biển thiền vô cùng tận, nào có khác gì đâu.
47. Một Niệm Bất Giác
Một hôm, ở trong pháp hội đầy đủ chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Ngài Phú-lâu-na liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch vai áo bên phải, nhiễu Đức Thế Tôn ba vòng, rồi thành tâm chắp tay cung kính mà bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Vì sao chân tánh xưa nay vốn thanh tịnh chợt sanh ra sơn hà đại địa và chúng sanh với vô số nghiệp chủng riêng biệt?”
Bình:
Tâm Phật cùng tâm chúng sanh vốn không sai biệt, bởi một niệm mê không gốc dấy khởi mà ta-bà hiện thành với chúng sanh ngập chìm trong bể khổ. Rồi tiếng khóc than sầu thảm kêu gọi hằng sa Chư Phật quá khứ để dìu dắt họ ra khỏi chốn bùn nhơ ngũ dục.
Thế nên, Thích-ca Văn Phật động mối từ tâm ứng hiện ra đời. Trải qua năm năm tầm đạo, sáu năm khổ hạnh, bốn mươi chín ngày đêm dưới cội Bồ-đề, bốn mươi chín năm trải dài đầy gian lao sóng gió, khô miệng đắng lời cốt khuyên bảo các ông: Thôi dừng lại chớ chạy rong tìm kiếm vô ích. Ngay tại đây và bây giờ, các ông chỉ cần dừng lại mọi loạn tưởng điên cuồng thì sơn hà trở về tự kỷ. Ngay đây, chỉ cần dừng lại thì cùng với Như Lai nào có khác gì?
Thế rồi, từ đây Chư Tổ lần lượt ra đời tiếp nối ánh từ quang Như Lai rộng truyền chánh pháp. Với tấm lòng nhiệt huyết hào hùng, các Ngài trải dài trong gian lao trong sóng gió, giẫm nát càn khôn, xoay chuyển Hoàng Hà, cốt chỉ một điều duy nhất là: “Khai thị cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Như Lai của chính mình”.
Vì thế bằng mối từ tâm vô lượng, Tổ Bồ-đề Đạt-ma suốt ba năm lênh đênh trôi giạt trên sóng nước từ Tây Trúc sang Trung Hoa, dẫu biết rằng mạng sống như ngọn đèn leo lét trước gió; rồi chín năm im lìm bất động tại Thiếu thất Tung Sơn. Người đời chẳng ai hay biết đồng gọi Ngài là “Bích quán Bà-la-môn”. Ngài ngồi đó đợi ai? Thần Quang chăng? Hay cho những con người đầy đủ niềm tin chánh pháp đến với Ngài? Không! Không! Không tất cả! Vì sao? Vì bước chân của Tổ Sư chưa từng lưu dấu vết thì làm gì có đến rồi đi?
Thế rồi, tâm từ giao cảm của Tổ Sư khiến cho vị kiếm khách học rộng hiểu nhiều từ miền xa xôi quảy gánh tìm đến. Dù cho Thần Quang thực hiện đầy đủ lễ nghi – tuyết lạnh chôn chân, chặt tay thành kính dâng lên Tổ, rốt cuộc cầu được cái gì? Chỉ một câu an tâm là xong tất cả.
Từ đây dòng Thiền Tổ Sư tuôn chảy khắp năm châu bốn bể, đem lại ánh sáng trí tuệ và niềm tin cho tất cả nhân loại rằng: Giữa cuộc đời ảo vọng điên cuồng này còn có cái gì cao siêu, mầu nhiệm luôn hiện hữu quanh ta. Tuy những đau khổ vô thường xảy đến, nhưng còn có một cái không bao giờ bị không gian và thời gian chi phối. Đó là:
Có vật trước trời đất,
Vô hình vốn lặng lẽ,
Làm chủ cả vạn vật,
Chẳng tàn theo bốn mùa.
Đó là vật gì? Thử đáp xem!
Một tiếng quát!
Dừng! Dừng lại! Dừng cái gì?
Đêm ba mươi trời tối!
48. Không Giữ Một Vật
– Tôi đã buông bỏ tất cả, trong lòng thanh thản đến đây.
– Thế thì buông xuống đi!
– Tôi nói ngay một vật cũng không có, vậy buông cái gì?
– Vậy hãy mang nó lên mà đi!
Bình:
Người đã đạt đến cảnh giới vô tâm rồi thì ứng tác tùy tâm thọ dụng. Đối với họ buông hay không buông cũng là việc nói hai đầu. Vì cớ sao! Vì họ thấy toàn thể pháp giới đâu ngoài tâm thể của chính mình. Vì tức vọng tức chơn, ngay sóng tức nước, có cái gì nữa mà buông cùng chẳng buông.
Bởi vậy, người còn có ý niệm ta không giữ một vật thì đã dính mắc trong ý niệm không và thời. Ý niệm đó cũng là con đẻ của vọng tưởng, là sản phẩm của ma vương nên người đạt đến chỗ rốt ráo rồi thì ý niệm chơn như hay Phật tánh, Pháp thân và Niết-bàn cũng phải buông bỏ thì mới đạt đến chỗ cứu cánh viên mãn.
Nên trong kinh Viên Giác nói: “Xa lìa không còn gì xa lìa nữa”. Vì thế một hôm có vị thiền khách đến hỏi Bố Đại Hòa thượng rằng: “Thế nào là Thiền?” Hòa thượng liền buông bao vải xuống. “Thế nào là sự hoạt dụng của Thiền?” Hòa thượng liền vác bị lên vai đi thẳng.
49. Sự Giác Ngộ Tối Thượng
– Tôi khổ quá! Những con sóng khác to làm sao! Còn tôi lại nhỏ như thế này! Họ sao mà sướng vậy! Tôi sao lại không được như thế!
• Chỉ vì bạn không thấy rõ diện mục chính mình nên mới đau khổ.
– Tôi không phải là sóng sao? Vậy thì tôi là gì?
• Sóng chỉ là tướng tạm thời của bạn thôi, thật ra bạn là nước.
– Là nước?
• Vâng, khi nào bạn nhận thức rõ ràng bạn là nước bạn sẽ không bị hình tướng sóng nước mê hoặc. Do đó không còn đau khổ.
– A! Tôi hiểu rồi! Tôi chính là bạn, bạn cũng chính là tôi, bạn và tôi đều cùng một cái tôi rộng lớn.
Bình:
Con người vốn thật là trung tâm của vũ trụ, là kho tàng công đức vô biên, là tự thể của vạn loài cùng chung cái tất cả. Nhưng do một niệm bất giác vọng động dấy khởi, họ quên đi cái cùng chung rộng lớn mà chỉ chấp lấy cái tiểu ngã nhỏ bé cho là chính mình. Họ đâu biết rằng mình là tất cả, tất cả cũng chỉ là mình.
Người thấy được như thế mới có được tình thương chân thật. Tình thương này không vị kỷ oán thân mà là tình thương hiểu biết, tình thương quán chiếu từ vùng sâu thẳm của tâm thức. Họ thấy trong thân của mình đây có cha mẹ mình, anh em mình, huynh đệ, thầy và tất cả vạn loại. Sự sống của mình là sự góp nhặt những yếu tố từ nhiều nơi tạo thành. Không chỉ con người cho ta cơm ăn áo mặc mà cả đất, nước, gió, lửa, và cả đến yếu tố không gian và thời gian đều là những ân nhân đặc biệt của chúng ta. Có những yếu tố cần thiết đó chúng ta mới có mặt trong cõi đời này.
Quán chiếu rõ như thế để thấy được rằng trong thân của người khác có thân ta, trong thân ta có thân người khác; làm đau khổ thân người khác chính là làm đau khổ thân mình. Nếu làm đau khổ thân mình thì vô tình hủy diệt thân cha mình, mẹ mình, thầy mình, và pháp thân chân thật của chính mình. Và thấy rõ rằng trong thân này có sắc, tướng, giả, chơn; trong sắc vốn là không, trong không vốn là sắc; thấy rằng thân này còn đó, nhưng sẽ mất đó; nó mất đó nhưng vẫn còn đó. Giống như ngay sóng tức là nước mà ngay nước tức là sóng, ngay như một đám mây bay phút chốc liền trở thành nước. Người quán chiếu sâu xa như thế thì mới có thể thương và hiểu nhau được.
50. Gương Đúc Thành Tượng
Có vị Đại Đức đến hỏi Thiền Sư Nam Nhạc:
– Như gương đúc tượng, sau khi tượng thành không biết cái sáng đi về chỗ nào?
Sư bảo:
– Như Đại Đức tướng mạo lúc trẻ thơ hiện thời ở đâu?
– Tại sao sau khi thành tượng không chiếu soi?
– Tuy không chiếu soi, nhưng dối y một điểm cũng chẳng được.
Bình:
Đa số những người dụng công tu hành đều thắc mắc, sau khi những tâm niệm lăng xăng phải quấy, tốt xấu, lành dữ… lặng hết, thì cái hằng biết đi về chỗ nào? Họ cứ tưởng sau khi vọng tưởng lặng rồi thì đối với các pháp lặng lẽ như ngu như ngơ không còn phân biệt gì cả. Nhưng nếu ngay khi đó không còn biết được gì, thì ai biết được động và tịnh? Động là vọng thức khởi, tịnh là vọng lặng. Cái động và tịnh đắp đổi sanh diệt đổi dời, nhưng cái biết được động và tịnh vẫn như nhiên chưa từng thiếu vắng.
Đây là yếu chỉ của Tổ Huệ Khả: “Bặt hết các duyên, rõ ràng thường biết, nói không thể đến”. Lại như tướng mạo khi còn bé tuy không thấy, nhưng sự hiện diện của thân từ bé đến lớn đâu ngoài ai khác? Vì thân tâm dời đổi niệm niệm không ngừng – như Vua Ba-tư-nặc xem nước sông Hằng y nhiên, lúc già lúc trẻ không từng đổi khác. Đối cảnh rõ ràng, đâu cần khởi tâm phân biệt, xanh ra xanh, vàng ra vàng, trắng ra trắng….Cho nên biết tánh giác diệu minh của chúng sanh chỉ ngay trước mắt, đâu luống nhọc tìm. Nhưng giai đoạn khởi tu tạp niệm lăng xăng phải nhờ trí dụng chiếu soi. Đến lúc vọng lặng thì trí thể luôn luôn hiện tiền, đâu nhờ soi chiếu? Tuy không soi chiếu mà tánh biết hằng nhiên, nên một điểm dối y cũng chẳng được!
51. Pháp Tánh Hằng Nhiên
Có ông Sa-di Hy Thiên đến, Sư Hành Tư hỏi:
– Ngươi phương nào đến?
Hy Thiên thưa:
– Con từ Tào Khê đến.
– Đem được cái gì đến?
– Chưa đến Tào Khê cũng chẳng mất.
– Mặc tình dùng đi, đến Tào Khê làm gì?
– Nếu không đến Tào Khê đâu biết chẳng mất.
Bình:
Từ Phật Oai Âm Vương về trước, tánh diệu tịnh minh của chúng sanh và Phật cội nguồn, nhưng do một tâm bất giác quay ngược đồng nguồn nên phải đành xa lìa bản giác. Nếu không nhờ bậc thiện hữu tri thức chỉ dạy, hàng cao minh tiền bối dẫn đường thì làm sao hàng hành giả biết được cái chưa từng diệt.
Nên Hành Tư nói: “Mặc tình dùng đi, đến Tào Khê làm gì?” Quả là một nhát kiếm mạnh đánh vào chỗ ách yếu của Hy Thiên: Mặc tình sống với nó, chớ ông đến Tào Khê làm gì cho nhọc sức. Phải là kiếm khách tài tình mới lách nổi đường kiếm lợi hại này: “Nếu không đến Tào Khê đâu biết chẳng mất.” Đành rằng tất cả chúng sanh ai ai cũng có Phật tánh sáng suốt, song do ở lâu trong mê nên tâm đã thành tượng. Nếu không nhờ bậc cao minh sáng mắt chỉ đường, thì đường trở về quê xưa thật non xa ngìn dặm.
Nên trong kinh Pháp Bảo Đàn Lục Tổ có dạy: “Này Thiện tri thức! Mỗi người tự quán nơi tự tâm, tự thấy bản tánh. Nếu tự chẳng ngộ, phải tìm những bậc đại thiện tri thức, người hiểu được giáo pháp tối thượng thừa, chỉ thẳng con đường chánh; ấy là thiện tri thức có nhân lớn – gọi là hóa đạo khiến được thấy tánh. Tất cả những pháp lành nhân nơi thiện tri thức mà hay phát khởi”.
Qua lời dạy của Tổ, chúng ta thấy rõ tuy mỗi người ai ai cũng có tự tánh diệu tịnh minh thể, nhưng do bụi vô minh trần cấu nhiễm nhơ nên phải nhờ bậc đại thiện tri thức chỉ đường mới thấy rõ được. Ví như tấm gương soi lâu ngày bụi đóng thành lớp, phải dùng khăn lau sạch bụi – mặt gương dụ cho tánh giác, khăn lau sạch bụi dụ cho thiện tri thức chỉ đường. Nhưng phải nhớ kỹ khi gương hết bụi thì khăn lau phải dẹp luôn – lúc đó không còn bụi không còn khăn thì mặt gương mới sáng hoàn toàn.
Nên trong kinh Kim Cang Phật dạy: “Pháp Phật dụ như chiếc bè sang sông, qua sông rồi thì phải buông bỏ chiếc bè”.
52. Chưa Từng Thiếu Tường Muối
Một hôm, Đạo Nhất thượng đường, có vị tăng bước lên hỏi:
– Làm cái gì?
Mã Tổ nói:
– Từ loạn Hồ sau ba mươi năm chưa từng thiếu tương muối.
Bình:
Nếu không phải là con người sáng mắt, trong hai mươi bốn giờ hằng sống với thể chân thật của mình, thì đã bị nhát kiếm của vị tăng chém đứt. Nhưng đã sống với cái ấy rồi thì còn có gì phải sợ; nên Ngài liền đáp: “Chưa từng thiếu tương muối”. Xác chứng cho mình thấy rằng dù các pháp sanh diệt loạn động, nhưng Ngài vẫn an nhiên bất động – luôn luôn sống với cái bản thể chân thật, chưa phút giây nào thiếu vắng.
53. Vô Tâm Tức Thị Đạo
Một hôm, có thiền sư Quang Đình tha thiết hỏi đạo Thiền sư Bổn Tịnh:
– Phật với đạo nghĩa ấy thế nào?
Sư bảo:
– Nếu muốn cầu Phật, tức tâm là Phật. Nếu muốn hội đạo, không tâm là đạo.
– Thế nào tức tâm là Phật?
– Phật nhơn tâm mà ngộ, tâm do Phật được bày. Nếu ngộ không tâm thì Phật cũng chẳng có.
– Thế nào không tâm là đạo?
– Đạo vốn không tâm, không tâm gọi là đạo. Nếu rõ không tâm thì không tâm tức là đạo vậy.
– Quang Đình đảnh lễ tin nhận.
Bình:
Đa phần ai ai học đạo đều mong muốn an trụ nơi Phật đạo, nhưng ý niệm an trụ càng cách xa Phật đạo. Vì Phật đạo lấy tâm làm gốc, tâm là đầu mối của đạo mà cũng chính là đầu mối của luân hồi. Nên trong Kinh Lăng Nghiêm có nói chơn tâm và vọng tâm. Song xét cho thấu đáo chơn tâm không thật tánh, do đó chơn và vọng đối lập nhau mà hiển bày chánh lý. Từ nhất chơn pháp giới mà vọng thấy có tối và sáng, nơi cửa vô sanh mà vọng thấy có năng và sở, sáu căn không nhất thể vì do duyên động và tịnh, năm ấm buộc ràng là do vọng chấp có thật.
Vì vậy suốt ngày ở trong Phổ quang minh trí của Như Lai mà vọng thấy bị buộc ràng. An trụ nơi Niết-bàn tịch tịnh diệu thường mà không hề hay biết hằng ngày đi đứng nằm ngồi đều không rời tâm Phật. Tất cả đều ở trong vô sanh mà vọng thấy sanh diệt, nên sanh tử tiếp nối không dừng. Song sự tiếp nối sanh tử không dừng đứng đầu là tâm vọng. Vì vọng duyên phân biệt bởi do thấy nghe, tánh thể tịnh minh vốn an nhiên nhưng gá nơi căn nên có phân biệt tốt xấu. Tâm vốn chẳng vọng, nhơn vì sắc che đậy. Thấy sắc thì tâm dao động, nghe tiếng thì tâm phân biệt. Đồng nơi tâm này mà phân chia có phàm và Thánh. Phàm thì đối cảnh sanh tâm, Thánh thì đối cảnh xoay về. Chỉ một cái xoay về thì Niết-bàn trong gang tấc, Phật đạo viên thành; còn tâm phan duyên theo ngoại cảnh thì Niết-bàn ngăn cách.
Niết-bàn chỉ tại tự tâm nên nói tức tâm tức Phật. Phật đây chỉ cho tâm giác – vì tâm giác nên thị hiện chưa rời cung Đâu-suất mà dạo khắp mười phương; chưa rời thai mẹ mà độ vô số chúng sanh là nghĩa này vậy.
Lại nữa, Phật nhơn tâm mà ngộ, tâm do Phật được bày. Nếu tâm này không hiển bày chánh lý thì dạo khắp bốn cửa thành đâu rõ sanh, già, bệnh, chết. Nếu không hiển bày Phật tâm thì bốn mươi chín ngày đêm đâu phát minh đại sự. Nếu không hiển bày tâm chơn thì bốn mươi chín năm thuyết pháp đâu chưa từng nói một chữ.
Đạt-ma Sơ Tổ tỏ ngộ cũng là tâm này; Huệ Khả tỏ ngộ cũng là ngộ tâm này; Tăng Xán, Đạo Tín, Ngũ Tổ tỏ ngộ cũng là ngộ tâm này. Song có mấy người đảm đương thừa kế tâm này. Đến như Lục Tổ ngộ đạo còn phải thốt lên năm lần đâu ngờ:
“Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh.
Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt.
Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ.
Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động.
Đâu ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp.”
Qua đó chúng ta thấy, Lục Tổ sau khi chứng ngộ còn ngạc nhiên thốt ra lời ấy – huống hồ tình phàm làm sao lãnh hội. Song ngộ được tâm này thì Phật cũng không, huống là thiền là đạo. Vì sao? Vì tánh chơn thường vốn lặng lẽ không hình, không tướng. Vì có chúng sanh nên có Phật, vì có vọng nên nói chơn. Nếu chơn vọng đều không thì chánh lý tự hiển bày đâu cần dựng lập.
Nên Võ Đế hỏi Tổ Sư Đạt-ma: “Thế nào là Thánh Đế đệ nhất nghĩa?” Đạt-ma đáp: “Rỗng rang không Thánh”. Tổ Đạt-ma quả là một tay cự phách lia nhát kiếm chặt đứt ngôn ngữ phàm thánh – đúng là tâm lão bà thương con đáo để: chỉ thẳng con đường tắt. Song Võ Đế chưa thể lãnh hội được chỗ này. Vì sao? Vì tâm còn phàm thánh, thì làm sao lãnh hội chỗ uyên áo của Tổ. Nên buột miệng nhơn ngã thốt lên: “Đối trẫm là ai?” Tổ Đạt-ma từ bi đáo để lại một phen hý lộng đưa Võ Đế về hiện thực, lại nhằm Võ Đế nói: “Không biết”. Liền đó Võ Đế sửng sốt chẳng biết chỗ nào.
Ngay đó liền nhận, suy nghĩ liền cách xa trời đất, đã lầm qua rồi đâu mong gì kéo lại. Bởi vậy Võ Đế ngơ ngác, Đạt-ma tạ từ. Lại nữa, người ngộ được vô tâm này tức là Đạo. Sao gọi là vô tâm? Vô tâm là không có tâm phân biệt phải quấy, hơn thua, ta người, năng sở…mà vẫn biết rõ ràng. Nên nói: “Nếu rõ không tâm thì không tâm tức là đạo”.
Nên một hôm có vị tăng đến hỏi Thiền sư Bá Trượng:
“Thế nào là hữu tình không Phật tánh, vô tình có Phật tánh?”
Sư đáp:
“Từ người đến Phật là tình chấp thánh, từ người đến địa ngục là tình chấp phàm. Chỉ như hiện nay đối hai cảnh phàm, thánh có tâm nhiễm ái gọi là ‘hữu tình không Phật tánh’. Hiện nay đối hai cảnh phàm thánh và tất cả pháp có không…trọn không có tâm lấy bỏ, cũng không cái hiểu biết không lấy bỏ, ấy là ‘vô tình có Phật tánh’. Chỉ không có tình ràng buộc, nên gọi vô tình. Không đồng với loài vô tình như cây, đá, hư không, hoa vàng, trúc biếc, mà cho là có Phật tánh. Nếu loài vô tình có Phật tánh, tại sao trong kinh không thấy thọ ký thành Phật? Chỉ cái giác chiếu soi hiện nay không bị hữu tình thay đổi dụ như trúc biếc, ứng cơ biết thời tiết dụ như hoa vàng. Lại nếu bước lên nấc thang Phật thì vô tình có Phật tánh, chưa bước lên nấc thang Phật thì hữu tình không Phật tánh.” (Thiền Sư Trung Hoa tập 1 – 144.145 – HT Thanh Từ dịch)
Lời chỉ dạy của Thiền Sư Bổn Tịnh cho chúng ta thấy rõ muốn cầu Phật, muốn tìm Phật, chỉ ngay tức tâm tức Phật. Tâm này là tâm chơn, chớ nào phải tâm vọng; Phật này là Phật giác chớ nào phải Phật ngoài. Nên nói “Phật tức tâm, tâm tức Phật”. Vì vậy, Vua Trần Thái Tông lên núi gặp Quốc Sư Phù Vân cầu làm Phật, Sư bảo: “Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong tâm. Tâm lặng mà biết gọi là chơn Phật. Nay bệ hạ nếu ngộ tâm này thì tức khắc thành Phật, không nhọc tìm cầu bên ngoài”.
Qua câu chuyện đối đáp giữa Vua Trần Thái Tông và Quốc Sư, chúng ta thấy rõ Quốc Sư chỉ thẳng không giấu chút nào. Vua mong muốn cầu làm Phật, mà Phật ở đâu? Phật không ở trên núi mà ngay nơi tâm. Tâm lặng mà rõ biết đó là chơn Phật. Nhận được tâm này tức khắc liền thành Phật – Phật này là Phật giác tâm, chớ không phải Phật đầy đủ ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp.
Đây cũng là chỗ yếu chỉ của Thiền Tri vọng: Trong lúc dụng công tu tập lâu ngày dài tháng, vọng có phần thưa dần. Rồi đến giai đoạn vọng không còn dấy niệm nữa mà trí thể lúc nào cũng hiện tiền, đó là tâm lặng mà rõ biết, gọi là chơn Phật. Ngay đây hành giả chớ có lầm lẫn là diệt vọng để cầu chơn – mà bản tánh luôn tự tịnh, tự định. Chỉ vì khi mê thì tâm giác trở thành vọng, khi giác rồi thì vọng tức là chơn. Cũng như sóng tức là nước, nước tức là sóng vậy. Khi thấy được như thế thì sự công phu của hành giả rất nhẹ nhàng chớ không còn đè nén và gượng ép như xưa nữa. Ví như bệnh nhặm hết thì hoa đốm hoại hư không thanh tịnh chớ chẳng phải diệt hoa đốm. Hoa đốm dụ cho “vọng”, hư không dụ cho “chơn”. Xét kỹ hoa đốm đâu rời hư không, chỉ vì khi bệnh nhặm thấy có hoa đốm từ trong hư không sinh ra, đến khi hết bệnh thì hoa đốm hết – chớ có dẹp, có bỏ ở đâu được.
54. Hạnh Trực Đâu Cần Tu Thiền
Tổ Tào Khê dạy:
“Nầy Thiện tri thức! Tâm bình thường không nhọc trì giới. Hạnh thẳng đâu cần tu Thiền.”
Bình:
Qua lời chỉ thẳng của Tổ, nếu đi không khéo cũng dễ mắc phải sai lầm. Vì sao? Vì chúng ta mặc sức tha hồ phóng túng buông xả. Ngay đây chúng ta thấu suốt được thì quả là một câu chỉ dạy đầy đủ. Vì sao? Vì Tổ chỉ dạy tâm bình thường thì khỏi cần trì giới chi cho nhọc. Mà bình là bình như thế nào? Đó là câu hỏi mỗi mỗi chúng ta phải tự xét lại coi trong tâm mình có bình đẳng hay chưa.
Nếu đối duyên xúc cảnh tâm không nhiễm các pháp, như như bất động, dù cho kẻ thù coi cũng như người thân, không sát hại lẫn nhau, nên giữ giới “sát” chi cho nhọc. Ngược lại nếu tâm còn ta người, thiện ác, tốt xấu, phải quấy, hơn thua….thì phải giữ miên mật. Vì sao? Vì tâm có giới mới có định, tâm có định trí huệ mới phát sanh.
Lại nữa, nếu gặp người khác phái, mình không còn phân biệt tướng nam tướng nữ, thì còn đâu dâm loạn – nên đâu cần giữ giới “dâm” chi cho nhọc. Ngược lại, trong tâm thấy cảnh, trên cảnh sanh tình, dục tâm dấy khởi, nên cần phải giữ giới. Vì sao? Vì trong Kinh Di Giáo Đức Phật có dạy: “Tỳ-kheo các ông! Sau khi ta nhập diệt phải tôn trọng quý kính Ba- la-đề-mộc-xoa (Giới luật) như đêm tối gặp ánh sáng, như người nghèo gặp của báu. Phải biết pháp này là thầy của các ông, dù ta có trụ ở đời cũng không khác pháp này vậy”.
Nên người xưa cũng thường ca tụng về sự trì giới: “Giới là phao nổi để vượt qua bể khổ sanh tử, là ngọc anh lạc để trang nghiêm pháp thân.”
“Giới là đèn sáng lớn
Hay thiêu tối đêm dài.
Giới là gương thật báu
Soi khắp pháp thế gian.
Giới là thuyền bè lớn
Đưa người qua bể khổ.
Giới là ao thanh lương
Tắm gội trừ nhiệt não.
Mọi công đức lành này
Đều từ đây phát sanh.”
Qua hai điều giới trên, chúng ta thấy tại sao Phật khuyên răn hàng đệ tử phải chuyên cần giữ giới; ngược lại Tổ bảo tâm bình đâu nhọc giữ giới, đây là Tổ chỉ thẳng vào nội tâm chớ không dùng phương tiện. Đọc đoạn này chúng ta mới thông cảm lời chỉ dạy sâu sắc của Tuệ Trung Thượng Sĩ. Một hôm, Vua Nhân Tông hỏi Ngài: “Chỉ như gìn giữ giới hạnh trong sạch, không chút xao lãng lại thế nào?” Thượng Sĩ cười không đáp. Vua lại thỉnh cầu, Ngài liền nói kệ để ấn định:
“Giữ giới cùng nhẫn nhục
Chuốc tội chẳng chuốc phước.
Muốn biết không tội phước
Chẳng giữ giới nhẫn nhục.”
Lại nữa:
“Như khi người leo cây
Trong an tự cầu nguy.
Như người không leo cây
Trăng gió có làm gì?”
Qua lời chỉ dạy của Tổ và Tuệ Trung Thượng Sĩ về hành pháp giữ giới, mới nghe thấy như Thượng Sĩ và Tổ nói ngược lại lời của Phật, nhưng kỳ thật rất hợp ý của Phật dạy. Vì sao? Vì khi chúng ta tập nhẫn nhục thì vẫn còn sân hận. Nếu hết sân thì khỏi phải nhẫn nhục – xét cho thấu đáo thì còn tập nhẫn nhục tức là còn sân, còn sân là còn tội. Nên nói chuốc tội chẳng chuốc phước. Khi nào tâm trong ta bình thản đối trước các pháp thì lúc đó không còn tu nhẫn nhục nữa. Đây là tinh thần giữ giới mà không còn thấy mình giữ giới. Vì sao? Vì đến chỗ này, tâm luôn luôn thanh tịnh thì làm gì có phạm có quấy, nên đâu cần giữ giới chi cho nhọc.
Đến bài kệ thứ hai chúng ta mới thấy Ngài chỉ thẳng về nội tâm giữ giới. Ngài dạy, như người đang đứng bình an trên mặt đất, bỗng leo lên cây gió mạnh nên mới sợ té. Đây là người ở chỗ bình an lại chuốc lấy sự khổ. Cũng vậy, tâm thể vốn xưa nay thanh tịnh, không động niệm; tự khởi niệm tội phước, ta người, thiện ác, sanh tử Niết-bàn…nên cần phải giữ giới. Ngay đây, nếu không khởi niệm tham sân, không khởi niệm tội phước, thì đâu cần nhọc giữ giới, đâu cần phải nhẫn nhục. Ngược lại trong tâm còn động niệm sanh tình thì chúng ta phải dè dặt giữ giới cẩn thận. Nên rốt sau Ngài nói nhỏ với vua: “Chớ bảo cho người không ra gì biết”.
Còn hạnh trực, có nghĩa là hạnh thẳng, là do tâm bình lặng mà có. Trước sau không động niệm thiện hay ác, vinh hay nhục, năng hay sở; là hạnh không còn điên đảo, vọng động, đó mới thật là hạnh trực. Nên trong Kinh Duy Ma nói: “Trực tâm là đạo tràng, trực tâm là tịnh độ”.
Tóm lại, chỗ chỉ dạy của Tổ và Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ đều nhắm vào hàng thượng căn, thượng trí. Vì sao? Vì tâm là đầu mối của giải thoát và cũng là đầu mối sanh tử – ngay đây chỉ dừng lại không rong ruổi theo ngoại cảnh; ngay đây chỉ dừng lại tâm loạn cuồng, thì đâu cần nhọc giữ giới, đâu cần nhọc tu Thiền. Đó là chỗ chỉ dạy tột cùng rốt ráo không cần qua phương tiện thứ lớp.
55. Vô Minh Từ Đâu?
Sư Bất Không cùng Vua Đường Đại Tông đang bàn luận Phật pháp thì quan hầu Ngũ Triều Ân xen vô hỏi:
– Phật bảo tất cả chúng sanh đều là Phật thì vô minh từ đâu ra?
Sư gạt ngang:
– Ông không được phép hỏi câu đó.
Triều Ân giận đỏ mặt. Thiền Sư mỉm cười tiếp:
– Vô minh từ đó mà ra.
Bình:
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Ngay lúc giác ngộ Ngài đã bất chợt kêu lên: Kỳ diệu thay! Tất cả chúng sanh đều có đức tướng trí tuệ cùng với Như Lai không khác. Song vì tâm con người bị vướng kẹt trong vọng niệm nên không nhận ra điều ấy”.
Lời tuyên bố của Ngài khi sao mai lấp lánh trên bầu trời phương đông là tiếng sấm vang rền đánh ngã gục tất cả những người còn đang bám víu vào cái tôi, chấp nhận mọi cái trên cõi đời này là vĩnh cửu, và không bao giờ dám tin nhận chắc chắn mình và Như Lai không khác. Vâng, kỳ diệu thay, tất cả loài người dù thông minh hay ngu độn, nam hay nữ, đẹp hay xấu, cũng đều có đức tướng trí tuệ Như Lai không khác.
Như thế có nghĩa là bản tánh của con người vốn hoàn hảo không tỳ vết, bản tánh này cùng với mười phương Chư Phật đồng nhiên thinh lặng. Nhưng tại sao bản tánh nơi Chư Phật thì trong lặng như hồ thu yên gió, còn nơi tất cả chúng ta thì vẩn đục như nước hồ thu vùng vẫy sóng cồn? Mặc dù ta và chư Phật không sai khác – đó là đứng trên bản thể vô sai biệt, nhưng ta và chư Phật thì cách xa trời đất. Nên Cổ Đức nói:
“Như nhau dọc mũi ngang mày
Lòng phàm dạ Thánh cách nhau nghìn trùng.”
Vì cớ sao? Vì chúng ta lầm nhận các tướng hư ảo phù phiếm cho là thật, chấp thân tứ đại giả hợp cho làm thân mình, nên sanh ra hai thứ Thương và Ghét. Cũng vì hai thứ này mà dẫn dắt ta mãi vào chốn trầm luân khổ đau trong vô lượng kiếp. Vì sao? Vì trong khi chúng ta tiếp xúc với sáu trần bên ngoài, tai nghe lời khen thì đắm mến, mắt thấy sắc thì sanh tâm, được thì vui cười hớn hở ưa thích, mất thì chán ghét thù hằn. Đó là đầu mối vô minh tạo tác, cũng vì lẽ đó mà ta và chư Phật khác nhau, vì chư Phật nghe khen hoặc chê tâm đều nhất như bình đẳng. Nhưng muốn được như chư Phật, chúng ta phải làm cho những cơn gió vọng niệm lặng xuống. Một khi gió lặng thì sóng im, bùn vô minh lắng đọng thì chúng ta sẽ thấy ngay rằng: Trăng chân lý chưa từng không chiếu sáng. Giây phút chợt nhận ra như thế gọi là kiến tánh, tức là tự ngộ bản tâm chân thật của chính mình. Đây không phải là những khái niệm luận lý, mà chính là tự thân tác chứng, tự thân thể nhập với vạn pháp vô sanh. Đến đây thì chúng ta mới thật sự yên ổn và hằng sống vĩnh viễn trong giây phút hiện thực. Đó là hình ảnh:
“Muốn đến đó bạn dừng tâm dấy niệm,
Niệm hơn thua chìm lắng biển tâm mình.
Đến đó rồi hạnh phúc khó thưa trình,
Chỉ luôn nở nụ cười khoe sắc thắm.”
56. Thiền Trong Hiện Tại
Teno là một Thiền Sư, hạ sơn sau mười năm khổ luyện công phu. Sư đến yết kiến Thiền Sư Nanin – một đại Thiền Sư nổi danh thời ấy. Vừa gặp mặt Nanin đã hỏi:
– Lúc nãy, Thầy bỏ chiếc dù bên phải hay bên trái đôi guốc trước khi vào thất của ta?
Teno bối rối thú nhận rằng đã không nhớ rõ, và đành ở lại xin thọ giáo với Sư Nanin. Một lần khác Nanin lại hỏi:
– Khi nãy Thầy bỏ dép trước khi vào thất, thầy đã bỏ dép ở chân nào trước?
Teno cũng không trả lời được. Nhiều năm trôi qua Nanin vẫn không dạy dỗ gì thêm ngoài chuyện dù dép. Cho đến một hôm tự thấy mình đã hoàn toàn hành thiền được trong bốn oai nghi, Teno đến từ giã thầy ra đi. Nhưng lại thêm một lần rủi ro nữa. Thầy mở cửa hơi mạnh tay khiến nó vang lên một tiếng động nhỏ, điều này chứng tỏ thầy đã dụng một sức lực quá mức cần thiết. Teno lại phải ở bên thầy thêm vài năm để học về cách đóng cửa…và sau 6 năm ở với Nanin, Sư trở thành một Thiền Sư lừng danh của nước Nhật.
Bình:
Thiền là gì?
Thiền là sự tĩnh lặng của nội tâm để hợp nhất với thực tại, trong cái thực tại miên viễn nhiệm mầu, thiền luôn luôn có mặt. Bởi cho là thiền quá cao siêu cùng tột, nên ta không bao giờ tiếp xúc được với sự mầu nhiệm đó. Thế nên người tu theo tinh thần thiền là phải rọi vào hố thẳm của tự tánh. Thiền không nhìn bên ngoài, không rong tìm mà chỉ đạt tới chiều sâu của thực tại, trong đó mỗi cá thể đều có lý tánh tuyệt đối của mình. Muốn đạt được lý tánh uyên nguyên của chính mình, thì đòi hỏi mỗi người chúng ta phải luôn tiếp xúc với giây phút hiện tại. Trong giây phút tĩnh lặng đó, thiền luôn luôn hiện hữu.
Người ta cứ ngỡ rằng muốn đạt đến chỗ uyên thâm của thiền định thì phải có đầy đủ thần thông diệu dụng. Nhưng họ có ngờ đâu trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày – lúc ăn cơm, lúc mặc áo, lúc làm việc, lúc đại tiểu tiện…đều thể hiện đầy đủ thiền vị. Vì vậy, một hôm Bà-la-môn đến hỏi Phật:
– Nghe nói đạo Phật là đạo giác ngộ, vậy phương pháp của đạo Phật thế nào? Các Ngài làm gì mỗi ngày?
– Chúng tôi đi, đứng, nằm, ngồi, tắm, giặt, ăn, ngủ…
– Phương pháp đó nào có chi đặc biệt đâu! Ai lại không đi, đứng, nằm, ngồi, tắm, giặt, ăn, ngủ!
– Đặc biệt lắm chứ. Thưa Ngài, khi chúng tôi đi, đứng, nằm, ngồi, tắm, giặt, ăn, ngủ…thì chúng tôi biết là chúng tôi đi, đứng, nằm, ngồi, tắm, giặt, ăn, ngủ…Còn khi những người khác đi, đứng, nằm, ngồi….thì họ không ý thức được là họ đang đi, đứng, nằm, ngồi.
Qua hình ảnh đối đáp giữa Đức Thế Tôn và vị Bà-la-môn, chúng ta thấy muốn hội thiền, thể nhập được đạo lý, thì trong từng phút từng giây chúng ta làm việc gì biết việc ấy. Lại có người cho rằng khi làm phải biết rõ ông chủ, đó là lầm lớn. Vì sao? Vì đầu lại thêm đầu, đuôi lại thêm đuôi. Sao lại như vậy? Vì khi làm ai biết làm, khi đi ai biết đi, khi ăn cơm, tắm giặt ai biết tắm giặt, ăn cơm? Ví như khi mình rõ biết vọng, thì cái gì biết được vọng?
Nhưng đến được chỗ này, đòi hỏi hành giả buông bỏ tất cả mọi dấu vết. Ngã ái và hữu ái bị đè bẹp, trí lực rời khỏi chấp trước phân biệt năng và sở. Bấy giờ mọi khổ cầu, mọi vọng động mới chịu dừng lại, sự tôi luyện được hoàn thành, lúc ấy ánh sáng trí tuệ mới xuất hiện. Đến đây thì tâm cơ như mặt trăng phản chiếu từ lòng sâu của dòng nước chảy xiết, mặt nước tuy trôi chảy mà mặt trăng chân lý vẫn y nhiên bất động.
Thế nên, Thiền không phải là những khái niệm luận lý suông mà là một sự thực sống động. Sự thực liên hệ mật thiết với chính sự sống, ngay khi làm việc, nói năng hành động…đều thể hiện một cuộc sống trầm tĩnh và yên lặng – trong đó không có sự tương phản giữa ta và người, giữa năng và sở, thiện và ác.
Nên người ta bảo: phải nhìn vào tâm linh sống động của cổ nhân; mỗi lời nói, mỗi việc làm các Ngài đều thể hiện tính chất bình thường và dung dị nhưng trong đó hàm chứa và ẩn tàng sâu kín cả một kho tàng pháp giới mênh mông vô tận.
Vì vậy, một hôm có vị Tăng đến hỏi Tổ Trúc Lâm:
– Thế nào là gia phong Hòa Thượng?
Ngài đáp:
“Áo rách che mây, sáng ăn cháo,
Bình xưa tưới nguyệt, tối uống trà.”
Đẹp thay! Đó là hình ảnh bình thường của Ngài, mà chứa đựng cả kho tàng pháp giới hoa tạng của Như Lai. Ngài thấy rõ mình và pháp giới không còn riêng biệt nữa, tất cả đều chung cùng cái một, mà cái một đó tỏa khắp tất cả – trong đó không có sự khác biệt giữa ta và vũ trụ.
Tóm lại, chỗ thấy của Ngài là sáng mặc áo rách, ăn cháo, tưới kiểng, tối uống trà – nghĩa là trong sự sinh hoạt hằng ngày: lao động, uống trà… các Ngài vẫn giữ tâm bình thường. Đó là yếu chỉ của Thiền vậy.
Nhưng đến được chỗ đó, chúng ta phải như thế nào? Phải sống thế nào? Thử đáp xem!
Gió lặng trăng tà soi bóng trúc,
Đường về quê cũ vốn không xa.
Chỉ cần dừng lại niềm mong ước,
Pháp giới vô sanh thảy thảy đồng.
Mục Lục
Lời Tựa
1. Một Bông Hoa Bất Diệt
2. Có Tự Thuở Nào
3. An Tâm Tại Vọng Tình
4. Tội Tánh Vốn Không
5. Đâu Có Xa
6. Quên Mình Theo Vật
7. Khổ – Còn Có Khổ Của Chúng Sanh
8. Đạp Đổ Tịnh Bình
9. Con Trâu Của Quy Sơn
10. Không Ai Nhường Ai
11. Đâu Có Mất
12. Thánh Đế Không Làm
13. Phật Tánh Không Nam Bắc
14. Bầy Vịt Trời Mã Tổ
15. Chỉ Thẳng Tâm Yếu
16. Hạt Châu Ngài Địa Tạng
17. Hạt Châu Trong Hư Không
18. Thế Nào Là Lục Thông
19. Yếu Chỉ Thiền Tông
20. Rao Bán
21. Con Ngỗng Của Lục Hoàn Công
22. Nước Con An Ổn
23. Kho Báu Nhà Mình
24. Cưỡi Trâu Mà Tìm Trâu
25. Núi Sông Vẫn Là Núi Sông
26. Ông Chủ
27. Sống Trong Hiện Tại
28. Thiên Đường và Địa Ngục
29. Đứng Để Mà Đứng
30. Chén Trà Triệu Châu
31. Chừng Nào Cây Bách Thành Phật
32. Thiền Cửa Miệng
33. Cây Cầu Đá Của Triệu Châu
34. Vô Tâm Thị Đạo
35. Chẳng Phải Như Lai
36. Pháp Thân Luôn Hiện Hữu
37. Tâm Bình Thường Là Đạo
38. Mưa Hoa
39. Hòn Đá Quảng Châu
40. Dọn Cháo
41. Đầu Sào Trăm Trượng
42. Chén Trà Nam Ẩn
43.Ta Không Vào Địa Ngục Thì Ai Vào?
44. Thiền Không Thể Nói
45. Ba Cân Gai
46. Tu Như Thế Nào Mới Phải?
47. Một Niệm Bất Giác
48. Không Giữ Một Vật
49. Sự Giác Ngộ Tối Thượng
50. Gương Đúc Thành Tượng
51. Pháp Tánh Hằng Nhiên
52. Chưa Từng Thiếu Tường Muối
53. Vô Tâm Tức Thị Đạo
54. Hạnh Trực Đâu Cần Tu Thiền
55. Vô Minh Từ Đâu?
56. Thiền Trong Hiện Tại
