Tham vấn Giới Luật
Tham vấn Giới Luật
(trích “Thiền Tông Quyết Nghi – Tập 1) – Thích Đạt Ma Khế Định
– NXB Tôn Giáo
Câu 1: Con có nghe một vị thầy nói là thọ giới Bồ-tát thì sẽ không phát nguyện vãng sanh. Xin thầy chỉ dạy.
Đáp:
Chúng tôi đã đọc nhiều kinh sách nhưng chưa thấy kinh nào nói như vậy. Những vị Hòa thượng lớn như ngài Đại sư Ấn Quang, Tổ Thiện Đạo, Hòa thượng Thiền Tâm, các ngài đều thọ giới Bồ-tát và đều phát nguyện sanh về cõi Phật, phát nguyện được vãng sanh. Mình phải hiểu thọ giới để giữ tâm không buông lung, còn phát nguyện đi cõi nào thì không có liên quan. Vị thầy đó nói không đúng. Có những vị Bồ-tát cũng về cõi Phật tu tiếp, có những vị không nguyện về Tây Phương mà nguyện trở lại cõi ta-bà này để độ chúng sanh. Tùy theo nguyện lực chứ không liên quan đến giới.
Giới chia ra: năm giới, mười giới, hai trăm năm mươi giới, mười giới trọng, bốn mươi tám giới khinh. Giới giống như hàng rào ngăn ngừa các việc ác, là phòng phi chỉ ác chứ không liên quan đến chỗ phát nguyện. Mình thọ tất cả các giới là để giữ gìn ba nghiệp: nghiệp thân, nghiệp miệng và nghiệp ý. Ngày xưa ở vùng quê không có đèn điện mà người ta đốt đèn dầu. Ngọn đèn không có gió đứng yên một chỗ là định; nó soi sáng được căn nhà mình là tuệ. Nếu không có bóng đèn thì ngọn đèn bị gió thổi tắt. Gió gọi là ác pháp. Thọ giới là để ngăn ngừa ác pháp, để có định và tuệ chứ không dính gì đến chỗ phát nguyện.
Thọ năm giới, mười giới hoặc hai trăm năm mươi giới thì chỉ là lợi ích cho bản thân, còn thọ giới Bồ-tát là lợi ích cho những người khác. Cho nên trong giới Bồ-tát không cho mua bán rượu, không cho mua bán quan tài… Người thọ giới Bồ-tát phải thực hiện tứ vô lượng tâm: đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả. Bán quan tài hoặc bán đất nghĩa trang mà khởi niệm “sao hôm nay bán ế quá” tức là mình mong có người chết, trái với tâm Bồ-tát cho nên không được bán. Nghề thuốc cũng vậy, chỉ cần khởi niệm “sao không ai đến khám bệnh” hoặc “sao không ai mua thuốc” tức là mong muốn người ta bệnh. Thọ giới Bồ-tát tâm dấy niệm lên như vậy đã là phạm giới.
Giới Bồ-tát giống như mình làm vườn, đào xới lên trồng hoa quả, khi hoa quả chín mình đem phân phát cho tất cả mọi người. Làm lợi ích cho tất cả mọi người gọi là nhiêu ích hữu tình giới. Muốn vậy mình phải giữ gìn ba nghiệp thanh tịnh. Cho nên thọ giới Bồ-tát không được nuôi súc vật, vì Phật dạy mình khởi lòng thương, nuôi súc vật sợ nó ăn những con thú khác.
Câu 2: Thọ Bồ-tát giới một tháng phải tụng giới ở chùa. Vậy ở nhà tụng có được không?
Đáp:
Không thọ thì thôi, đã thọ thì phải y nơi vị luật sư nói. Trong giới Bồ-tát bắt buộc phải một tháng sáu kỳ đến thọ Bát Quan Trai, và một kỳ phải đến chùa để nghe về giới chứ không phải tự tiện làm ở nhà. Chư Tăng chúng tôi nửa tháng một lần đọc lại giới gọi là bố tát thì cư sĩ thọ giới cũng phải như thế. Bây giờ chùa nào cũng nửa tháng hoặc một tháng một lần đọc giới Bồ-tát cho cư sĩ cho nên mình phải đến đó. Ở nhà không có thành tựu bởi vì không có yết ma, không có vị giới sư, không có tăng đoàn.
Câu 3: Ở Thiền viện Trúc Lâm Chánh Giác thì thọ sáu giới trọng và hai mươi tám giới khinh. Ở Thiền viện Trí Đức thì Phật tử cùng thọ với người xuất gia là mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh. Kính xin Thầy giải thích sự khác nhau? Trong lúc ở Chánh Giác con có nghe quý Thầy dạy khi thọ giới Bồ-tát thì khi chết giới không bị mất. Xin thầy giải thích thêm chỗ này?
Đáp:
Thọ mười giới trọng bốn mươi tám giới khinh đó là giới xuất gia thì dứt hạt giống dâm dục. Giới của người xuất gia có 4 giới nằm trong giới ba-la-di: sát, đạo, dâm, vọng. Thọ rồi thì không được dâm dục.
Cho nên chư Tổ đặt ra giới Bồ-tát của cư sĩ chỉ có sáu giới trọng, hai mươi tám giới khinh. Thọ giới này người cư sĩ được quyền lập gia đình nhưng tránh những ngày ba mươi, mùng một, mười bốn, rằm, tránh những ngày sóc vọng không gần gũi vợ chồng.
Giới mình thọ rồi sẽ không mất vì hạt giống đã ghi vào tàng thức, mai kia sanh ra đời tuy mình không nhớ nhưng hạt giống đó thôi thúc mình tiếp tục đi thọ giới, nên gọi là không mất.
Câu 4: Có người Phật tử quy y thọ giới còn nhậu, họ nói tùy duyên có đúng không hay là tùy nghiệp?
Đáp:
Cái này không phải tùy duyên. Khi chúng ta đã tu tập thì chỉ trừ trường hợp tùy duyên là để cứu người.
Bà Mạt Lợi phu nhân uống rượu ngay trong ngày thọ Bát Quan Trai nhưng được Phật xác nhận bà có công đức. Ông đầu bếp của vua Ba Tư Nặc nấu ăn mà để rớt một cọng tóc vào món ăn, vua tức giận ra lệnh chém đầu. Hoàng hậu biết được, bà đem giấu ông đầu bếp trong phòng, rồi tự tay nấu ăn và cùng uống rượu với vua Ba Tư Nặc. Vua vui quá nên quên chuyện chém đầu.
Sáng hôm sau vua sai cận thần bảo đầu bếp nấu ăn, ông cận thần nói: “Hôm qua bệ hạ sai chém đầu ông đầu bếp rồi.” Vua buồn khổ bởi vì người đầu bếp này nấu ăn rất ngon. Ông kể lại chuyện này cho Hoàng hậu, bà Mạt Lợi phu nhân nói: “Hôm qua hậu thấy bệ hạ giận quá nên đem giấu ông đầu bếp trong phòng và nấu đãi bệ hạ một bữa chay.”
Vua nghe hoàng hậu thọ Bát Quan Trai mà uống rượu nên lên bạch với Phật:
– Bạch Đức Thế Tôn, Hoàng hậu Mạt Lợi phu nhân trong ngày thọ tám giới mà uống rượu, như vậy có tội không?
Phật nói:
– Có công đức không có tội.
Thọ giới mà tùy duyên để cứu người thì không có tội, nhưng khi chúng ta uống mà cảm thọ, thấy ngon thì chúng ta có tội.
Câu 5: Con có một người bạn đã thọ giới Bồ-tát, gia đình làm nghề mổ heo nhưng bạn con không mổ heo mà chỉ bán thịt, vì sợ phạm giới nên bạn con muốn xả giới có được không? Nếu được thì làm cách nào xả giới, nếu không được thì xin thầy chỉ dạy làm cách nào để không phạm giới?
Đáp:
Khi chưa đi tu tôi làm ở một cơ quan rất đông, có khi công nhân lên tới hai trăm người. Ngày hai mươi chín Tết cơ quan làm một hay hai con heo để chia cho mọi người. Khi chuẩn bị đi tu thì tôi đã ăn chay trường, ông tổ trưởng của tôi cũng ăn chay nhưng ăn chay kỳ. Ngày ba mươi là ngày ông ăn chay, khi con heo được chở đến ông đè nó xuống rồi kêu anh công nhân thọc huyết. Anh công nhân sợ không dám làm, ông tổ trưởng cũng không dám vì ông ăn chay.
Mình tự giết con heo thì trong nhà Phật gọi là tự sát. Như ông tổ trưởng ăn chay không dám giết mà kêu người khác giết là tha sát. Phương tiện sát tức là tìm cách làm cho người ta bị ở tù, bị khốn đốn đến nỗi chết trong tù. Tùy hỷ sát là vui khi người khác chết.
Lúc tôi ở Canada, khi lãnh tụ Iraq chết, Phật tử họ mừng vì nghĩ rằng ông này ác. Nhưng dù là kẻ thù mình chết, mình cũng đau buồn bởi vì chúng sanh này bị vô minh che lấp chứ ai cũng muốn làm con người thánh thiện. Họ ác với người này nhưng thiện với người khác, thiện ác lẫn lộn mà mình không hiểu cho nên mình tùy hỉ, mình sống trên sự đau khổ, mình vui với cái chết của người ta.
Đời nhà Trần khi tướng giặc chết, vua Trần Nhân Tông đích thân cởi áo bào bọc lại, thương cảm vì điều kiện cuộc sống mà người này phải như vậy. Chỉ có bậc thánh nhân mới làm được điều này.
Nếu Phật tử đã thọ giới mà cảm thấy giữ không được, sẽ bị tổn hại thì đến một vị giới sư nào đó hoặc đến trước một người hiểu được tiếng nói của mình, mình nói tên của mình, thưa là bây giờ vì không giữ được giới đó nữa nên xin xả.
Đa phần Phật tử rất thích thọ giới Bồ-tát bởi vì ai cũng muốn làm Bồ-tát, không ai muốn làm súc sanh, ngạ quỷ. Thọ giới thì phải cố gắng gìn giữ giới pháp. Vì gia cảnh, vì cuộc sống không giữ được thì thôi mình giữ năm giới là đủ.
Trong giới Bồ-tát không được nuôi súc vật, không được bán rượu, không được bán quan tài, cũng không được làm nghĩa trang vì không khéo sẽ bị phạm giới. Bán quan tài mình than ế tức là trông người ta chết. Bán thuốc than ế là mong người ta bệnh. Bán đất nghĩa trang mà cả tháng không bán được thì cũng trông người ta chết.
Người chứng sơ quả, nhị quả, tam quả, tứ quả thì Đức Phật nói giống như người tay không có vết thương, cầm nắm thuốc độc cũng không sao. Còn mình phản chiếu lại mình chưa được, chẳng hạn bán thịt mà hôm nào ế thì buồn khổ, hôm nào người ta mua thịt nhiều thì vui thích.
Phật dạy, mình giữ giới nào thì giải thoát giới đó, gọi là biệt giải thoát giới. Giữ giới không trộm cướp mà bố thí cúng dường thì đời sau giàu có. Giữ giới không tà dâm thì đời sau gia đình trinh bạch. Giữ giới không uống rượu thì trí tuệ viên mãn. Trong năm giới đã thọ mình giữ được bốn giới nhưng phạm giới sát sanh vì cộng nghiệp trong gia đình thì đời sau mình giàu, cái gì mình cũng có mà bệnh hoạn liên tục do tạo nghiệp sát quá nặng.
Có bà nọ một ngày làm thịt mười lăm con heo sữa. Tiền rất nhiều nhưng bà chỉ xài mười ngàn. Mỗi khi mệt bà đem tiền ra đếm là bà cảm thấy khỏe. Bà dặn con gái khi bà mất đem tiền này cúng dường các nơi cầu siêu cho bà là bà yên ổn. Tôi nói với con gái bà: “không đúng đâu, nói mẹ con chuyển nghề đi.”
Mình phải khéo chánh kiến, chánh tư duy, chánh nghiệp, chánh mạng. Làm nghề này gọi là tà nghiệp, tà mạng. Con đường này cắt đứt sanh mệnh chúng sanh, làm cho chúng sanh đau khổ thì chắc chắn mình sẽ gặp những quả khổ về sau. Trong cuộc sống gọi là ngũ thú tạp cư địa, rất phức tạp. Mình may mắn được là Phật tử, mình cũng phải kiếm lời sống nhưng phải bằng con đường chánh nghiệp như buôn bán gạo, trái cây, … để tránh bớt nghiệp sát.
Phật tử này muốn xả giới thì đứng trước một vị giới sư, trước Phật Tam bảo, nói con tên gì, hôm nay con phát nguyện chỉ giữ năm giới. Mình đừng thọ nhiều giới mà lại giữ giới không được.
Câu 6: Bạch Thầy, có phải ăn thêm ngoài hai bữa ăn chính là buổi sáng và buổi trưa trước giờ ngọ thì phạm giới ăn phi thời? Xin Thầy giảng cho chúng con được rõ hơn.
Đáp:
Chúng ta giữ giới có hai phần: một là giới của Phật, hai là giới của Tổ sư Bách Trượng, gọi là khai.
Chẳng hạn buổi chiều mình ăn cháo hoặc thức ăn nhẹ trong các chùa thường dùng gọi là dược thạch. Dược là thuốc, mình ăn mà xem như uống thuốc để trị thân bệnh, giống như xe cần có nhớt cho trơn, có xăng dầu để chạy. Mình ăn buổi chiều không dám ngẩng mặt nhìn lên, hổ thẹn với Phật Tổ vì đã hứa trước Tam bảo là giữ được giới này. Bây giờ thân thể không chịu đựng được nên mình ăn mà xem như uống thuốc thì đó là giữ giới của Tổ sư.
Trong mười hai hạnh đầu đà có một hạnh gọi là nhất tọa nhất thực, một lần ngồi một lần ăn, đứng lên là không được ăn nữa. Vào thời Đức Phật có vị tỳ-kheo là đệ tử của tôn giả Xá-lợi-phất, ông bị nghiệp hành, chuẩn bị ăn thì đau bụng phải đi vệ sinh. Đứng lên rồi thì không được ngồi lại ăn cho nên ông phải nhịn đói.
Tôi giữ thói quen chỉ ăn một lần ngồi từ lúc tôi dạy bốn bộ luật. Ăn xong đứng lên thì không được ăn gì nữa gọi là không ăn phi thời. Phi thời nghĩa là trái giờ. Dù là buổi sáng khoảng chín, mười giờ mà miệng mình nhai thì cũng không được. Buổi sáng mình ăn nhẹ, như tôi ăn hai muỗng yến mạch, buổi trưa là chính còn buổi chiều thì từ xưa tới giờ tôi không ăn.
Trong Dịch lý học nói, buổi sáng mình ăn là cho bạn mình, buổi trưa ăn là cho chính mình, buổi chiều ăn là cho kẻ thù của mình. Nói kẻ thù là vì ăn buổi chiều dễ chứa nhóm bệnh tật, khó tiêu, nhất là những người ăn nhiều dầu mỡ.
Nhà Phật thì nói buổi sáng là chư thiên ăn, buổi trưa là chư Phật dùng, buổi chiều ăn là súc sanh, buổi tối ăn là ngạ quỷ. Buổi chiều, buổi tối trong tùng lâm không khua chén bát, vì khua động chén bát khiến loài ngạ quỷ thèm khát sự ăn uống mà cổ bị lửa đốt. Nơi nào chỉ ăn buổi sáng và buổi trưa, buổi chiều không ăn thì toàn chúng rất nhẹ. Người tu đúng chuẩn lấy thiền duyệt làm thức ăn quan trọng hơn, tức là khí, là hơi thở mà bây giờ khí, hơi thở ô nhiễm nhiều quá.
Mình ở trong môi trường tu tập có niềm vui với đạo thì mình ít để ý đến thức ăn, có cũng được không cũng được, nhưng phải tập một năm đến hai năm, khi quen rồi thì chiều không muốn ăn gì hết. Đại chúng hôm nào ăn buổi chiều nhiều thì trong nhà thiền thường gọi là thuyền bị chìm. Ví dụ mình ăn một tô cơm hay một tô bún gì đó là giống như chiếc thuyền mình chở khẳm quá qua sông chắc chắn sẽ bị chìm, tức là ngủ luôn.
Câu 7: Người Phật tử đã quy y Phật nếu gặp trường hợp nguy hiểm như gặp kẻ cướp, rắn độc tấn công thì có nên đánh trả hay không và có phạm tội sát sanh hay không?
Đáp:
Tất cả mọi người chúng ta có mặt trên cuộc đời này, mình dẫm chân lên con rắn, nó mổ chân mình thì mình có nhân có duyên với nó, ra đường mình gặp ăn cướp cũng là có nhân có duyên. Cái gì cũng có nhân quả hết.
Khi Đức Phật còn làm nhân địa Bồ-tát, trên một chiếc thuyền có năm tên ăn cướp, chúng rủ nhau tối nay giết năm trăm thương nhân để lấy của cải. Ngài nghĩ nếu để năm tên cướp giết năm trăm thương nhân này thì chắc chắn sẽ đọa địa ngục, chi bằng mình ra tay trước mình giết nó, không những mình cứu năm trăm thương nhân này mà mình chặt đứt con đường nó rớt xuống địa ngục. Nhưng ngài phát nguyện sau này ngài thành Phật thì ngài độ họ đầu tiên.
Khi mình ra tay sát hại tức là có nghiệp với những người đó, nhưng mình cứu những người khác cho nên cuộc sống của mình có thương có ghét lẫn lộn. Ví dụ chư tăng làm ruộng xịt thuốc, nói không tội thì cũng không đúng. Nhưng mình làm chuyện này vì lo cho đại chúng, ngay trong giờ phút đó mình phải phát nguyện: Nếu có chúng sanh nào chết dưới bàn tay của tôi, nếu có chúng sanh nào chết dưới những việc tôi làm thì việc đầu tiên sau khi thành tựu đạo quả là tôi độ các ông.
Một hôm trên đường đi trời tối, con rắn nằm ngay ngã ba đường mình tưởng sợi dây thừng mình bóc lên ném vô tường nó bể đầu chết, mình không mang tội sát, mà mình tức giận người thân hoặc người bạn của mình, mình về lấy dao đâm lên cái gối nói: “tao giết mày” là mang tội sát vì tác ý. Ông khủng bố Bin Laden chết mình mừng vỗ tay thì mang tội tùy hỉ sát, thấy người ta chết mình vui. Tại sao người cùng cực ác nhất mà Đức Phật cũng thương? Thương họ vô minh cho nên mới khủng bố, ăn cướp, giết người. Phật thương là thương chỗ họ vô minh, ngu si; còn mình là người phàm mình vỗ tay mừng theo là tùy hỉ sát. Khi mình không thích, không ưa người đó mình tìm cách nói cái gì đó cho người đó ở tù, ở trong tù người ta bị bệnh chết thì gọi là phương tiện sát. Xúi người ta giết gọi là tha sát.
Thiền sư Thông Huệ một hôm ngồi giữa pháp tòa nói: “Đợi người xưa đến rồi trả nghiệp.” Ông quan tướng quốc họ Trương đi ngang mặt hầm hầm, cầm cây đao vào định chém đầu thiền sư:
– Không hiểu sao nhìn Hòa thượng là con muốn giết.
Thiền sư nói:
– Đâu có gì lạ, ba mươi năm về trước khi tôi làm sa-di đi ngang qua hàng chợ, bỗng một con cá nhảy vào thùng nước, tiện tay tôi đánh chết, con cá đó chính là ông. Ba mươi năm tôi đợi lâu rồi.
Tướng quốc họ Trương cũng là người tu, lúc này ông nghĩ “Oan oan tương báo bao giờ mới dứt”, đang đứng ông tịch luôn. Thiền sư cũng ngồi tịch.
Oan oan tương báo nhiều đời nhiều kiếp, nhưng khi chúng ta hiểu được rồi thì chúng ta phải cân nhắc. Khi quý Phật tử thấy mình không có nghiệp với những người đó, với chúng sanh đó thì họ không làm gì được mình. Tổ Đề Bà để cho ngoại đạo đến mổ bụng, tại sao ngài để cho mổ bụng? Vì ngài biết đời trước vay mượn. Vua Kế Tân chém đầu tổ Sư Tử, các đệ tử nói:
– Thầy biết trước rồi tại sao thầy không đi?
Tổ nói:
– Đời trước tôi nợ mạng của ông này, bởi vì đời trước tôi bỏ thuốc độc cho ông uống ông chết nên đời này tôi trả cho xong.
Câu 8: Giữ năm giới, tu mười điều lành như vậy đã giải thoát chưa hay tu như thế nào mới được giải thoát?
Đáp:
Phật dạy giữ được năm giới thanh tịnh thì đời sau làm người tốt lành hơn. Ví dụ nếu quý Phật tử đời này bố thí cúng dường rất tốt, giữ giới không trộm cướp thì đời sau giàu có và không ai trộm cướp của mình. Giữ giới không trộm cướp mà giới uống rượu mình không giữ thì đời sau cũng được giàu có nhưng thiếu trí huệ không được thông minh, sáng dạ.
Khi chúng ta giữ tròn đủ năm giới thì đời sau chúng ta làm người lành, người tốt mà biết tu chứ chưa giải thoát. Mười điều thiện mà chúng ta giữ, miệng không có bốn lỗi: không nói lời độc ác, không nói lời thị phi, không nói lời xiểm khúc, không nói đâm thọc; giữ ba điều nơi thân: không sát sanh; không trộm cướp; không tà dâm; giữ ba điều nơi ý: bớt tham, sân, si thì sanh cõi trời dục giới hoặc là sắc giới mà phải kèm theo sự tu thiền thì sanh về cõi trời chứ chưa được giải thoát.
Mình tu tập như thế nào giống như ông Bàng Long Uẩn, giống các vị thiền sư đốn ngộ vào tự tánh, phá dẹp vô minh, chuyển tham sân si thành giới định tuệ, chuyển phiền não thành cội gốc Bồ đề thì gọi là giải thoát. Muốn được giải thoát như vậy thì phải giữ năm giới, tu mười điều lành kèm ngồi thiền với sức bổn nguyện, sức thệ nguyện thì khi chúng ta chết chắc chắn được giải thoát. Do bổn nguyện lành đó mười phương cõi nước chư Phật hiện tiền thì chúng ta đi rất dễ dàng, không bị cảnh ràng buộc. Giống như ông Bàng Long Uẩn, ông cũng giữ giới, nhưng khi ông ngộ đạo rồi ông đem của cải đổ hết xuống sông rồi vào núi tu. Chỉ có con đường buông xả mới được giải thoát.
Ông tiên Hắc Thị Tu thuyết pháp rất là hay, ông lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp cho Trời Đế Thích. Một hôm ông đang thuyết pháp thì Trời Đế Thích khóc. Ông tiên hỏi:
– Sao ông khóc?
Trời Đế Thích trả lời:
– Ngài thuyết pháp rất hay mà chỉ còn bảy ngày nữa ngài chết.
Ông tiên Hắc Thị Tu sợ quá hỏi:
– Có ai cứu không?
– Có, ở nước Ma Kiệt Đà, thành Tỳ Xá Ly có Đức Phật Thích-ca-mâu-ni ra đời, ngài đến hỏi đạo đi.
Hắc Thị Tu nghĩ muốn diện kiến Đức Phật phải có cái gì cúng dường. Trên đường đi, nhìn thấy hai cây ngô đồng ông bẻ rồi kẹp nách phi hành đi. Khi gặp Đức Thế Tôn, Thế Tôn bảo: “Buông!” Ông buông xuống. Thế Tôn lại bảo: “Buông!” Ông cũng buông xuống. Ngài tiếp tục nói: “Buông!” Ông tiên nói:
– Bạch Đức Thế Tôn, lần thứ nhất Thế Tôn kêu con buông, con buông cây ngô đồng thứ nhất, lần thứ hai Thế Tôn kêu buông con buông cây ngô đồng thứ hai, lần thứ ba con không còn gì để buông.
Phật nói:
– Lần thứ nhất ta kêu ông buông sáu căn, lần thứ hai là ta kêu ông buông sáu trần, lần thứ ba là ta kêu ông buông sáu thức.
Ngay tức khắc ông ngộ đạo.
Còn mình thì căn trần tiếp xúc, thức phân biệt sanh đủ thứ chuyện. Ví dụ nhìn cái ly, là căn tiếp xúc trần, mình đừng phân biệt. Nhưng mình nghĩ không biết Thầy uống nước gì, sâm hay nước lạnh… đó là thức chen vô nên không được giải thoát. Nhìn cái ly chỉ biết là cái ly, nhìn hoa hồng chỉ biết là hoa hồng, căn trần tiếp xúc đừng cho dấy niệm thì tức khắc giải thoát.
Tổ Mã Minh nói “Sở dĩ chúng sanh tu khó là do huân tập vô minh”. Huân tập vô minh nhiều đời trái với tánh giác cho nên rất khó. Khi chúng ta hiểu rồi thì ráng chăn trâu, có một lúc nào đó mình sẽ ngộ.
Thiền sư Đại An ở núi Quy Sơn tuyên bố: “Đại An này ở núi Quy không ăn cơm núi Quy, không tu thiền núi Quy, không uống nước núi Quy mà chỉ coi chừng con trâu. Ngày xưa con trâu màu đen mà bây giờ nó trở thành màu trắng sờ sờ trước mặt đuổi mãi không đi.” Đó gọi là ngộ đạo, mà phải tới ba mươi năm hoặc bốn mươi năm.
Thiền sư Nhan tu không ngồi thiền như mình, ngài ngồi trên mõm đá gọi:
– Ông chủ!
– Dạ!
– Đừng để ai lừa nha.
Quốc sư Huệ Trung tu trên núi bốn mươi hai năm, thừa tướng Lư Cung Phụng đến hỏi:
– Hòa thượng ở bốn mươi hai năm trên núi làm gì?
Ngài gọi đứa nhỏ lại xoa đầu:
– Tỉnh tỉnh hẳn vậy tỉnh tỉnh, rõ ràng hẳn vậy rõ ràng. Đừng để người khác lừa nha.
Câu 9: Cư sĩ chúng con tu và biết rõ đường lối tu. Vậy có thể ngồi giảng pháp cho huynh đệ được không?
Đáp:
Nói về giới luật của nhà Phật, khi đại chúng thọ năm giới, tám giới, mười giới hay hai trăm năm mươi giới thì mình có thể đứng trước Phật mình thọ, với điều kiện là trong mười cây số không có chùa chiền, không có quý thầy thì giới đó mới thành tựu. Nếu gần đó có chùa, thiền viện hay tịnh xá mình không chịu đến thọ mà mình thọ trước bàn Phật một mình thì giới không đắc. Trong luật khai ra, với điều kiện vào thời chiến tranh loạn lạc, chùa chiền bị đổ nát, cách mình mười hoặc hai mươi cây số không có vị thầy nào.
Cũng vậy, ngày xưa bên Canada, có anh huynh trưởng rất giỏi. Khi Hòa thượng chưa đưa chúng tôi qua anh có thể giảng pháp, với điều kiện anh ngồi, đại chúng vây xung quanh. Anh nêu ra một câu hỏi trong kinh rồi đại chúng hỏi đáp qua lại thôi chứ không phải là giảng.
Hiện đời cư sĩ giảng pháp cũng có, chẳng hạn bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám ngài cũng giảng cho các các vị Hòa thượng. Trước khi giảng cho chư tăng học, ngài mặc áo tràng đảnh lễ hết các vị Thầy rồi ngài mới lên giảng mà ngài giảng rất là khiêm tốn.
Cư sĩ giảng cũng được chớ không phải không nhưng là vào thời đó các vị cao tăng thạc đức rất là hiếm. Bây giờ Hòa thượng vẫn còn, quý thầy lớn các nơi vẫn còn, thì thôi mình có nói chuyện thì mình ngồi lại xung quanh, không cần lên pháp tòa, bởi vì pháp tòa đại diện cho một tăng đoàn, đại diện cho Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo. Mình là cư sĩ nên khiêm tốn, dù gì giới đức của mình cũng còn nhỏ. Có những người bắt buộc thiền sinh đảnh lễ thì hơi quá, làm như thế bị tổn giảm âm đức.
Tôi đi giảng bất cứ nơi nào người ta đảnh lễ tôi không cho. Khi nào họ tha thiết thỉnh khay lễ thì mình đi theo vậy thôi chớ cũng không cho đảnh lễ. Cho nên mình phải khéo giữ, người cư sĩ phải ráng giữ để kiệm giới đức. Lên ngồi trên pháp tòa mà mình chưa xong việc thì cái ngã của mình tăng trưởng.
(Còn cập nhật)
🌿 Quý Phật tử thương mến, Sư ông Trúc Lâm có dạy:
“Bố thí TÀI chỉ giúp người bớt khổ trong giai đoạn hiện tại. Còn bố thí PHÁP chẳng những giúp người hết khổ trong hiện tại mà mãi về sau cũng không còn khổ nữa, đó là điểm sâu xa.”
🙏 Nếu thấy những lời pháp nơi đây mang lại lợi lạc, xin mời quý vị cùng nhau chia sẻ như một cách bố thí pháp – gieo duyên lành cho nhiều người.
🙏 Nếu được lợi ích trong việc tu tập, nguyện công đức này xin hồi hướng lên Nhị vị Hòa Thượng Tông Sư bệnh duyên dứt sạch, thân tâm tự tại cửu trụ nơi đời, làm bóng cây che mát cho hàng hậu học chúng con.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo