NĂNG LỰC CỦA SỰ PHÁT TÂM BỒ ĐỀ

I. Dẫn nhập
Hôm nay hội đủ duyên lành, chúng tôi lại tiếp tục chia sẻ một phần nhỏ giáo lý của Đức Phật cùng quý Phật tử tại Thiền Tự Tiêu Dao. Trước khi đi vào đề tài chính, tôi xin kể câu chuyện:
Có người mẹ đi làm mướn dắt theo đứa con. Trong lúc bà làm việc, đứa bé chơi ở một bụi cỏ, không may bị rớt xuống giếng sâu. Nhờ sự quyết tâm và tình thương của một người mẹ, bà có sức mạnh để xuống giếng sâu cứu được đứa con.
Trong cuộc sống giữa đời thường này, những người chẳng may bị khuyết tật, bị mù hay bị một tai nạn gì đó, nếu không có ý chí, không có quyết tâm thì họ phế bỏ cuộc đời. Nhưng người có ý chí, có quyết tâm, dù bị khuyết tật như thế nào, họ cũng vượt qua chướng ngại dễ dàng mà không tự ti mặc cảm.
Trên bước đường phát tâm tu học cũng vậy, có những lúc chúng ta gặp chướng ngại, chướng duyên chứ không phải là chuyện đơn thuần. Quý Phật tử đến chùa thắp một cây hương, rồi cầu xin chuyện này chuyện nọ thì tôi không dám bàn. Còn ở đây quý Phật tử đã dấn thân vào con đường giác ngộ giải thoát của Đức Phật, nếu không có tâm chân chính cầu đạo giải thoát, mà chỉ tu cho vui thôi, tinh thần nhà Phật nói tu như thế là uổng một kiếp người.
Đã dấn thân vào con đường giác ngộ giải thoát của Đức Phật, chắc chắn không nhiều thì ít chúng ta sẽ gặp những nghịch duyên, chẳng hạn như thân chúng ta bệnh tật hoặc những hoàn cảnh khốn cùng xảy đến, mà nếu không phát Bồ-đề tâm, chúng ta khó mà vượt qua được. Hoặc một thời ngồi thiền của chúng ta là một tiếng, một tiếng rưỡi, hay hai tiếng, nếu không dõng mãnh phát Bồ-đề tâm để thành tựu đạo giác ngộ, mình bị đau chân hay khó chịu thì tức khắc mình xả ra, không bao giờ ngồi cho hết thời được.
Bởi vì Bồ-đề tâm này có năng lực lớn vượt qua sự chướng ngại của bản thân và hoàn cảnh, giống như một dũng sĩ ra trận phải cần áo giáp, phải cần cung thiền định và kiếm trí huệ. Cho nên ngày hôm nay chúng tôi muốn chia sẻ cho quý Phật tử đề tài: Năng Lực Của Sự Phát Tâm Bồ Đề.
Năng lực có nghĩa là sức mạnh. Một khi cơ thể mình yếu đuối, mình nghĩ rằng chắc tu không được, nhưng khi phát Bồ-đề tâm rồi thì lạ một điều, mình có một sức mạnh giúp vượt qua khó khăn dễ dàng đơn giản.
Cho nên Tôn giả Tịch Thiên nói:
Trải nhiều kiếp tư duy,
Phật thấy tâm Bồ-đề,
Có công đức vô lượng,
Cứu vô số chúng sanh,
Thoát ra ngoài biển khổ.
Trải qua nhiều kiếp tư duy, Đức Phật thấy được việc phát Bồ-đề tâm có năng lực to lớn và sức mạnh vô biên. Nếu trong suốt bốn mươi chín ngày đêm ngồi dưới cội Bồ-đề mà Thế Tôn không phát Bồ-đề tâm thì bảo đảm không thành tựu được. Nghiên cứu lịch sử, quý Phật tử sẽ thấy Đức Phật nguyện như thế này: “Ngồi dưới cội cây này, dầu cho thịt nát xương tan mà chưa thành tựu đạo quả cuối cùng, ta quyết không đứng lên.” Đó gọi là phát tâm Bồ-đề.
Trải qua nhiều kiếp tư duy, Phật thấy tâm Bồ-đề này có công đức vô lượng. Quý Phật tử làm phước, cúng dường chỉ là trợ duyên trên bước đường đạo thôi chứ đó không phải là công đức mà chỉ là phước đức hữu lậu của cõi trời người. Công đức vô lậu chính là phát tâm Bồ-đề, đi dài con đường Phật đạo để thành tựu Phật quả cuối cùng.
Nhiều người khi kiếm được những đồng tiền phi pháp, sợ tội nên bố thí cho những người nghèo khổ hoặc cúng dường, cất chùa, thì Lục Tổ nói đây không phải là đạo chân chính. Một số người đến hỏi tôi, ngày xưa do không hiểu đạo nên buôn bán á phiện được rất nhiều tiền, bây giờ muốn chuộc tội nên bố thí cho những người nghèo khổ và xây chùa, đúc tượng, như vậy có phước hay không.
Có phước nhưng có như thế nào? Trong kinh Đức Phật dạy rất là rõ, đây gọi là luật nhân quả, gọi là luật bổ đồng. Mình tạo duyên xấu bởi vì làm cho những người khác đau khổ, rồi sợ tội mới bố thí cúng dường, thì cũng có phước, mai kia nhờ duyên đó tái sanh, nhưng sướng khổ đi đôi với nhau.
Cho nên, Lục Tổ nói:
Người mê tu phước chẳng tu đạo,
Chỉ nói tu phước liền là đạo,
Bố thí cúng dường phước vô biên,
Trong tâm ba ác xưa nay tạo,
Nghĩ muốn tu phước để diệt tội,
Đời sau được phước tội vẫn còn.
Tội vẫn còn cho nên mang thân thú. Còn chúng ta phát tâm Bồ-đề là chúng ta gạt bỏ những cù cặn xấu ác trong tâm thức, dấn thân vào con đường thiền định, tư duy về tính duyên khởi của các pháp, và tu tập. Nếu trong cuộc sống giữa đời thường này chúng ta đầy đủ duyên lành, sung túc về tiền bạc thì chúng ta bố thí cúng dường trợ duyên Phật pháp. Còn không có thì chúng ta tu, chứ đừng nghĩ rằng làm việc xấu ác đó, rồi đem tiền của đó để mà chuộc, thì đời sau được phước, nhưng tội vẫn còn.
Chỉ hướng trong tâm trừ tội duyên,
Mỗi người tự tánh chân sám hối.
Có nghĩa là chỉ hướng trong tâm của mình, trừ những nghiệp duyên xấu ác, cọ rửa, chùi, một lúc nào đó nó sạch, đó mới gọi là tự tánh sám hối. Tự tánh sám hối là tự tâm có những niệm xấu ác, mình phải phát tâm Bồ-đề, từ đây cho đến ngày Phật đạo, tức là dứt trừ nghiệp ác, đem đến hạnh phúc cho mình và người. Còn chúng ta bố thí, cúng dường nhưng trụ vào phước bố thí cúng dường đó thì chưa phải là phát Bồ-đề tâm. Người phát tâm Bồ-đề rồi thì họ làm phước nhưng không có trụ. Làm phước không trụ thì phước lực mới được vô biên, từ phước đó chuyển thành công đức chân thật. Cho nên Thiền sư Huyền Giác nói:
Của cho trụ tướng phước trời hưởng,
Ví như tên bắn nhắm hư không,
Đà bắn hết, mũi tên rơi,
Kiếp sau hận cũ lại bời bời,
Sao bằng tự cửa vô vi ấy,
Một nhảy vào liền đất Như Lai.
Cúng dường mà trụ tướng thì cũng được phước, phước thì chúng ta hưởng. Chẳng hạn như cúng dường một chiếc xe hơi, mà nếu không phát Bồ-đề tâm, thì những hạt giống xấu ác một lúc nào đó dấy khởi lên, nhiều khi mình đến đòi lại cũng có.
Ở đây muốn nói là của mình bố thí cúng dường mà trụ vào đó, thì giống như tên bắn nhắm hư không vậy. Mình bắn lên hư không, đà hết rồi thì nó cũng rớt xuống thôi. Cho nên sự bố thí, sự cúng dường, với cặp mắt giác ngộ của nhà Phật, Phật nói không có dính dáng gì đến thành tựu giác ngộ. Phật ra đời chỉ cho chúng sinh phát tâm Bồ-đề đi thẳng vào tri kiến Phật là mục đích tối hậu.
Quý Phật tử nghiệm kỹ, mình bố thí cúng dường có phước, nhưng phước đó là hưởng phước cõi trời. Ở đây có ai bố thí cúng dường bằng vua Lương Võ Đế không? Ông cất bảy mươi hai ngôi chùa, đúc bảy mươi hai quả hồng chung, nhưng đến hỏi Tổ Bồ Đề Đạt Ma có công đức hay không, Tổ nói: không công đức. Ông hỏi một câu nữa: “Thế nào là công đức chân thật?” Tổ nói: “Trí thanh tịnh, thể vắng lặng.” Trí thanh tịnh, thể vắng lặng là chỉ có con đường thiền tập.
Quý Phật tử dù cho sau này trở thành triệu phú, tỷ phú mà muốn tâm mình được an ổn thanh tịnh, bỏ ra một tỷ đô cũng không ai bán. Vì cái đó ở đâu? Từ nơi thân của chúng ta. Từ nơi thân này là chỉ có phát tâm Bồ-đề dũng mãnh thiền tập, mà con đường thiền tập này chính là ở nơi tự thân, cho nên Phật mới dạy là kho báu nhà mình. Không tìm kho báu nơi chính mình mà chạy đầu này đầu kia thì luống cả cuộc đời.
Ở đây nói phát Bồ-đề tâm là đi vào con đường vô vi, tức là không tạo tác. Thiền sư Huyền Giác nói: Sao bằng tự cửa vô vi ấy, một nhảy vào liền đất Như Lai. Bây giờ mình được đầy đủ kiếp người rồi, tại sao không nhảy vào con đường đó? Đó chính là sức mạnh của Bồ-đề tâm.
II. Diệu lực của Bồ đề tâm
Tôn giả Tịch Thiên dạy:
Muốn thoát khổ của đời,
Trừ tai họa muôn loài,
Muốn được chân hạnh phúc,
Chớ rời tâm Bồ-đề.
Từ khi sanh ra đời, bây giờ lớn lên quý Phật tử thấy mình cười nhiều hay khóc nhiều? Khóc nhiều đến mức độ Đức Phật nói nước mắt chúng sinh nhiều hơn biển cả. Ở đây ai mà đi diện bảo lãnh thì sướng, ít khóc. Tôi nghe một số Phật tử kể chuyện những người đi vượt biên khóc rất là nhiều.
Như vậy trong cuộc đời này chúng ta thấy toàn là sự khổ, chúng ta khóc cha mình mất, mẹ mình mất, có khi khóc chồng, khóc con, khóc những nghịch duyên khốn cùng. Cùng mang thân phận kiếp người nhưng người nữ khóc nhiều hơn người nam. Có những Phật tử đến chia sẻ với chúng tôi họ khóc suốt, đã cực khổ vì con mà còn bị chồng uống rượu say về đánh đập, nhưng mà vẫn không bỏ được. Tại sao bỏ không được? Vì còn nợ cho nên ráng cầm cự.
Tôn giả Tịch Thiên dạy chúng ta, muốn thoát khổ của đời, tức là thoát những nghiệp chướng này, trừ tai họa cho mình và muốn được chân hạnh phúc thì chớ rời tâm Bồ-đề.
Đức Phật, chư Tổ sư nói rất rõ, một khi quý Phật tử đến trước tòa kim cương của Đức Phật, dũng mãnh phát tâm Bồ-đề thì bao nhiêu hạt giống xấu ác rơi rụng, bởi vì có một năng lực, mà năng lực này gọi là bất khả tư nghì.
Người người trong sanh tử,
Phát được tâm Bồ-đề,
Được gọi là con Phật,
Xứng đáng được tôn kính.
Chúng ta sống trong cuộc đời này gọi là ở trong vòng sanh tử luân hồi. Được sinh ra làm người, nếu tạo thiện thì được sinh lên cõi trời, hết nghiệp trời lại xuống làm người. Nếu làm ác thì đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A Tu La. Nhưng khi chúng ta phát tâm Bồ-đề thì ngay trong giờ phút thực tại này, chúng ta mới được gọi là con của Phật, sanh từ miệng Phật, từ pháp thân của Phật. Nhiều khi nói mình là Phật tử, thật ra chưa phải nếu chúng ta chưa một lần phát tâm Bồ-đề dũng mãnh, làm lợi ích cho mình và cho người.
Nếu không phát tâm Bồ-đề, dù cho quý Phật tử làm các điều thiện pháp thì cũng là con của ma. Tôi có quen một số người họ làm từ thiện rất nhiều, nhưng họ có bệnh sân, đụng chuyện gì cũng sân hết. Làm Phật sự là việc của Phật mà nổi sân, nóng nảy với người khác thì đó gọi là ma sự.
Cho nên trong kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật dạy:
“Làm tất cả các việc thiện pháp mà không phát Bồ-đề tâm, đó là hành động của ma.”
Vì trong lúc làm phước mình thấy có ta có người tức là nhân ngã, thấy có đồ vật mình đem đến cúng và thấy người khác thọ nhận, mà người thọ nhận này họ không làm cho mình vui thích thì mình nổi sân, phiền não. Đó là hành động của ma, cũng có phước nhưng là phước hữu lậu.
Còn phát Bồ-đề tâm là chúng ta tu tập đạt đến con đường Phật đạo, khởi lòng từ tức là đại bi, đại hỉ, đại xả. Thấy được tính duyên khởi của các pháp thì thấy mình không có, người đến nhận không có và của cũng không luôn, tức là tam luân không tịch. Phát được tâm Bồ-đề thì mới xứng đáng là con Phật, mới xứng đáng được tôn kính.
Nước phát tâm Bồ-đề,
Sẽ biến thân ô trược,
Thành thân Phật vô giá,
Hãy giữ Bồ-đề tâm.
Thân năm uẩn gồm có: sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn. Phật quán sát thấy thân bất tịnh do chín lỗ chảy ra, thân này là thân mang nhiều tội lỗi xấu ác, nhiều sự khổ đau, là thân mang những ác nghiệp từ quá khứ dồn đến thân hiện tại. Nhưng chỉ cần quý Phật tử phát tâm Bồ-đề thì thân ngũ uẩn này sẽ biến thành thân Phật vô giá.
Cái gì biết được quý Phật tử phát Bồ-đề tâm? Bảo người chết phát tâm Bồ-đề có được không? Không được! Còn chúng ta trong giờ phút thực tại này, nghe pháp rõ ràng từng tiếng, biết sám hối, biết tụng kinh, biết tọa thiền, thì rõ ràng là trong thân ô trược mỏng manh tạm bợ này có một ông chủ. Thân này, khi chúng ta phát tâm Bồ-đề thì biến thành thân Phật vô giá, ý Đức Phật muốn nói là phải nhận ông chủ bên trong.
Chúng ta ngồi thiền mà tâm được khinh an, được an ổn, tự nhiên mình thấy cái gì cũng đẹp. Mình thấy Thiền tự Tiêu Dao bữa nay sao đẹp quá, thấy cõi này như cõi tịnh độ. Hôm nào tâm bị trạo cử, loạn động, chúng ta ngồi thiền không yên thì mình nhìn gì cũng thấy xấu. Đến đây tu tập ba ngày, mới một ngày đã muốn về, bởi vì tâm chúng ta không được khinh an, không được an ổn.
Hôm nào mình đến công xưởng làm việc, được ông giám đốc khen thưởng, được lãnh lương tháng mười ba, về nhà mình thấy chồng con, nhà cửa, tất cả cái gì cũng đẹp. Đây là nói về các pháp thế gian, huống chi là các pháp xuất thế gian với tâm thức lắng đọng. Những người công phu sẽ chứng nghiệm được chỗ này.
Những người công phu đến chỗ này thấy cuộc đời thế tục không còn ý nghĩa gì nữa hết, chỉ có một con đường đi sâu vào công phu, để đến điểm đích thôi. Muốn được như thế thì chúng ta phải phát Bồ-đề tâm, bởi vì trong thân ô trược có một ông Phật. Thiền sư Lâm Tế nói rất rõ điểm này, trong thân ô trược có một vô vị chân nhân. Vô vị chân nhân ở đâu? Chính là người đang nghe pháp, có nghĩa là phải có một ông chủ bên trong mới nghe rõ ràng từng tiếng. Nghe tiếng đó mà chúng ta chạy theo tiếng thì chúng ta mất ông chủ. Có chút xíu đó thôi, quý Phật tử phải nghiệm.
Có một ông Tăng đến hỏi Thiền sư Triệu Châu:
– Thế nào là Phật?
Sư bảo:
– Ở trong điện.
Ông Tăng nói:
– Trong điện đâu không phải là bùn đất đắp thành tượng?
Sư nói:
– Phải.
Ông Tăng hỏi thêm:
– Thế nào là Phật?
– Ở trong điện.
Thiền sư nói “ở trong điện”, mình chạy vào chánh điện coi ông Phật là không đúng. Điện ở đâu? Trong thân năm uẩn của mình. Tuy rằng thân này cấu tạo bởi đất nước gió lửa, mà phải chính ngay nơi thân năm uẩn. Lìa thân năm uẩn này tìm Phật không ra.
Trong kinh A Hàm Đức Phật dạy rất rõ và tương ưng với pháp đốn ngộ:
“Này các thầy Tỷ-kheo! Ngay nơi thân năm uẩn của các thầy, gồm có sắc, thọ, tưởng, hành, thức, thế giới, sự sanh khởi của thế giới và con đường đưa đến sự đoạn diệt của thế giới.”
Thế giới này tồn tại, sanh khởi, biến diệt và con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân năm uẩn. Nhưng cái gì thấy được nó thành tựu, biến hoại rồi đi đến đoạn diệt? Tức là phải có ông chủ bên trong thấy từng niệm sanh diệt, từng niệm biến hoại.
Vua Ba Tư Nặc đến trình Phật, ông tưởng rằng thân này chết rồi hết. Phật hỏi:
– Lúc ông ba tuổi ông thấy sông Hằng, bây giờ sáu mươi tuổi ông có thấy không?
– Vẫn thấy. Vua Ba Tư Nặc nói.
– Thân ông nay già nhưng tánh thấy không có già, tại sao ông nói chết rồi hết?
Thiền sư Triệu Châu khai thị chúng:
“Phật vàng không độ được lò đúc, Phật gỗ không độ được lò lửa, Phật thật ngồi ở Bồ-đề Niết-bàn, Chân như Phật tính trọn là ngay sau lớp y phục đắp vào thân, cũng gọi là phiền não.”
Có nghĩa là chúng ta lột sạch hết những tri kiến, những kiến giải của chúng ta thì lúc này Phật mới hiện thành.
Tổ Đạt Ma dạy:
“Phật ở trong tâm như hương thơm trong cây, phiền não nếu không thì Phật từ tâm mà hiện.”
Chỉ cần chúng ta gột sạch hết những phiền não cấu nhiễm thì tức khắc Phật hiện khởi.
Ví dụ có người tặng cho quý Phật tử một hòn đá. Quý Phật tử đem về kê cánh cửa để gió khỏi đập vào, hoặc thấy đẹp thì để trên bàn trưng bày cho vui. Nhưng cũng hòn đá này, nếu đưa cho một nhà điêu khắc tài ba thì với cặp mắt của ông, ông nhìn thấy có Phật ngồi trong đó. Muốn Phật hiện ra thì ông phải đẽo gọt hay là mua xi măng đắp vô? Ông không đắp mà ông đẽo góc bên này một chút, góc bên kia một chút thì dần dần Phật hiện ra.
Cũng như thế, Đức Phật thấy ngay nơi thân năm uẩn của chúng sanh có Phật, cho nên Đức Phật nói, nếu trong thân ngũ uẩn của chúng sinh không có Phật tính, thì Ngài không thị hiện trong cuộc đời này. Nếu không có tính Phật thì dạy cách mấy cũng không được, không chuyển hóa được. Có tính Phật thì từ ác chuyển thành thiện, từ tham sân si chuyển thành giới định tuệ.
Nhà điêu khắc đẽo hòn đá thì Phật hiện lên, còn quý Phật tử khi ngồi thiền mình cũng đẽo: niệm tham sân si, tật đố, ích kỷ, ác pháp hiện lên, đẽo cho nó rớt xuống. Đẽo có nghĩa là không chạy theo niệm nữa, một thời gian thì Phật của mình hiện.
Lúc này mình nhìn bằng cặp mắt khác ngày xưa. Ngày xưa nhìn gì cũng phiền não, nhìn gì cũng sân hận, tật đố, ích kỷ, bây giờ nhìn chỉ là nhìn thôi, thì lúc đó Phật hiện rồi, là mình tu có tiến chứ không phải không. Ba ngày ở Thiền tự Tiêu Dao mình đẽo rất nhiều, Phật hiện ra thiệt. Nhưng ở đây ba ngày đẽo hai chục ký, về nhà mình đắp bốn chục ký thành ra chúng sanh hoài. Có nghĩa là chúng ta tu tiến nhưng không có liên tục như các ngài.
Thiền sư Duy Tắc nói: một là quyến thuộc ràng buộc, hai là thân thể ràng buộc, ba là của cải ràng buộc, cho nên Phật tiếp tục chìm. Về nhà gặp con, gặp cháu, ai mà sống thọ thì còn có chắt, chít! Nuôi con lớn rồi bây giờ nó gửi cháu nội cháu ngoại không lẽ không giữ dùm. Có cô Phật tử ở Sydney cũng muốn lên đây dự khóa tu nhưng mà bận giữ hai đứa cháu làm sao đi! Kế đến là thân thể ràng buộc, muốn tu lắm nhưng bị bệnh! Ngay trong giờ phút đó mà quý Phật tử phát Bồ-đề tâm, buông rất là yên ổn.
Cho nên pháp của Phật rất vi diệu nhưng mình tu chưa đến mức. Do đó Tổ Đạt Ma dạy, chỉ cần chúng ta muốn ông Phật mình hiển lộ, trở về chân như giác tính của mình. Muốn như thế, chúng ta cần phải biết cái gốc tâm vô minh này từ đâu. Bây giờ đi lần vào chỗ công phu. Người xưa nói phải biết trộm thì chúng ta mới bắt được trộm, chúng ta phải biết trộm nằm ở đâu, núp ở đâu. Có ông Tăng hỏi Tổ Đạt Ma:
– Trên có nói rằng hết thảy công đức của chơn như Phật tánh đều lấy biết làm gốc, vậy thì gốc của tâm vô minh là gì?”
Tổ đáp:
– Tâm vô minh tuy có tám vạn bốn ngàn phiền não, tình dục và hằng sa các điều ác, nhưng đều do ba độc là nguồn cội.
Ba độc này là gì? Là tham, là sân, là si. Ở đây nói rất rõ, tâm vô minh tuy có tám vạn bốn ngàn phiền não và hằng sa các điều ác, nhưng chủ đích của những cội nguồn ác độc này không ngoài tâm tham, tâm sân, tâm si của mình tức là tam độc.
Tổ dạy tiếp:
– Tâm ba độc này chứa đầy hết thảy các ác, giống như cây lớn, rễ tuy chỉ có một mà sinh ra vô số cành lá. Rễ tam độc kia mỗi mỗi rễ sinh sản trăm ngàn vạn ức lần nhiều gấp hơn không thể thí dụ.
Chúng ta tu tập như thế nào đó, chỉ cần bứng cái rễ của nó thôi chứ không bắn tỉa nữa. Nếu quý Phật tử tu không khéo, không biết cách tu thì giống như chúng ta vào một khu rừng gặp cây cổ thụ lớn, muốn cây này chết nhưng chỉ lặt lá chặt cành, ba tháng sau mưa xuống thì cây sống lại vì rễ vẫn còn.
Còn pháp môn đốn giáo thượng thừa này là đi thẳng vào trung tâm giác ngộ của Phật tâm, tức là bứng từ nơi gốc. Tất cả những niệm xấu ác khởi lên không trốn tránh cái niệm biết, gọi là vô niệm mà niệm, tức là niệm chân như, là không dấy niệm nhưng bao nhiêu niệm khởi lên không ngoài ánh sáng của tánh biết.
Cho nên các ngài khẳng định rằng, trong giờ phút này không sợ vọng tưởng nữa mà chỉ sợ giác chậm thôi. Bao nhiêu vọng tưởng khởi lên mình biết. Biết gì? Biết nó không có tự tánh, biết nó không thật, thì nó không làm gì được hết, không quyến rũ, không dẫn dắt mình được. Thiền sư Mã Tổ, một mũi tên ngài bắn được một bầy, chỉ cần một cái biết ngài bắn một bầy vọng tưởng, một bầy tham sân si.
Biết được rồi thì chúng ta không còn đau khổ nữa. Nhiều khi biết điều đó đem đến cho mình sự đau khổ, mà cái biết chúng ta yếu quá, chúng ta cũng bị nó dẫn. Chẳng hạn như sau cơn sân sẽ xảy ra vô số việc rắc rối nhưng mình không dừng được. Chỉ cần biết cái sân sẽ đem đến sự đau khổ cùng cực thì bảo đảm lúc đó mình dừng liền.
Hồi sáng quý Phật tử xay trái cây mời tôi uống, nhưng tôi không uống. Sau đó Sư cô trụ trì mời tôi nữa, tôi nói không uống. Mấy cô nói Thầy uống cho khỏe, tôi cũng nói không uống. Tại sao tôi không uống? Tại tôi biết bệnh của tôi uống vào sẽ bị tiêu chảy. Tôi biết không uống được, đằng sau ly nước này sẽ bị đau khổ cho nên ép cách mấy tôi cũng không uống.
Việc tu tập cũng vậy, biết cái này tác hại mình dừng liền thì không ai ép mình được hết. Mình biết nếu sân, phiền não thì sẽ tác hại rất nhiều đến đời sống của chồng vợ, con cái. Nhiều người chỉ một niệm sân thôi mà đi đến con đường ly dị, bỏ con cái khổ. Biết được như thế thì tức khắc dừng lại.
Tôi xin kể một câu chuyện vui. Ở miền Tây có một cô, sáng sớm thức dậy đói bụng, cô xuống nhà bếp mở tủ lạnh thấy có một trái xoài chưa chín, gọt ăn. Cô biết ăn trái xoài này trong lúc bụng đói thế nào cũng bị tiêu chảy nhưng vẫn ăn. Do gì? Do cái biết yếu quá. Ăn xong sẵn có ly nước lạnh uống luôn. Sau đó bị tiêu chảy, uống thuốc không cầm lại được cho nên chồng cô chở đến bệnh viện. Bác sĩ hỏi:
– Sáng nay bà ăn gì?
– Tôi ăn một trái xoài, uống một ly nước lạnh.
Bác sĩ bảo cô nằm lên giường để điều trị. Ông đến tủ thuốc lấy chai thuốc nhỏ mắt, nhỏ vào mắt cô. Cô ngạc nhiên:
– Tôi tiêu chảy sao ông lại nhỏ mắt?
– Tôi nhỏ cho sáng con mắt của bà. Sáng sớm bụng đói bà ăn trái xoài, uống ly nước lạnh sao mà không bị tiêu chảy!
Có một ông Tăng đến hỏi Thiền sư Triệu Châu:
– Con chó có Phật tánh hay không?
– Có!
– Có mà sao còn vào đãy da hôi thối chi nữa?
– Biết mà cố phạm!
Biết sân hận, phiền não là xấu ác, nếu phạm là chết nhưng vẫn phạm! Là vì không dừng được những niệm này.
Thiền sư Lâm Tế nói:
“Chưa khởi vọng tưởng thì đừng cho nó khởi, đã khởi vọng tưởng thì đừng có theo, còn hơn ông đi hành cước ba chục năm.”
Hồi sáng một số Phật tử, kể cả Sư cô Trụ trì nói: “Thầy uống đi, khỏe lắm, bảo đảm chiều Thầy giảng không ho.” Tôi cũng vọng tưởng định uống nhưng tôi dừng liền, quyết định không uống. Pháp nhà Phật hay lắm, thấy từng niệm khởi rõ ràng luôn, nó nói: “uống đi, khỏe lắm, ngon lắm”, nhưng mà vừa dấy niệm, tôi nói: “Không được, uống là chết!” Pháp nhà Phật rất vi diệu, chỉ cần thấy được niệm là dừng hết.
Cho nên Tổ dạy tiếp:
“Tâm ba độc đó từ trong bản thể ứng hiện ra sáu căn gọi là sáu giặc tức là sáu thức, do sáu thức này ra vào các căn, tham trước các cảnh tượng, mà tạo thành nghiệp ác che khuất bản thể chân như.”
Căn tiếp xúc với trần cảnh mà không có thức thì chúng ta không có tạo ác. Vì thức phân biệt được đây là đẹp, đẹp thì tham nên sanh ra trộm cướp, sanh tâm tham ái cho nên phạm giới tà dâm, muốn chiếm đoạt cho nên sanh tâm nói dối.
Còn với cặp mắt chân như nhìn thẳng vào thì cái ly chỉ là cái ly thôi cho nên không có dấy niệm, rõ là do thức. Không có thức chen vào thì cuộc đời này rất yên ổn bình lặng.
Câu chuyện Bà Già Đốt Am:
Bà già cất một cái thất cho một vị Tỳ-kheo nhập thất. Bà dặn cô cháu gái xinh đẹp, khi ông thầy này ra thất thì đến ôm ngang hông và hỏi ông thấy thế nào. Cô làm theo lời bà dặn, ông thầy nói:
Khô mộc ỷ hàn nham,
Tam đông vô noãn khí.
Nghĩa là giống như cây khô mọc trên đá, rễ không bám, ba mùa đông này không một chút hơi ấm. Nghe cô cháu gái về thuật lại, bà cho đốt thất và đuổi vị Tỳ-kheo. Bà nói uổng công ba năm ông tu hành.
Ra đi một thời gian, ông đến xin bà cho nhập thất lại. Sau khi nhập thất ba năm, bà cũng bảo cô cháu gái đến thử thầy như lần trước và hỏi: “Ngay bây giờ thì thế nào?” Thầy Tỳ-kheo đáp: “Tôi biết, cô biết nhưng đừng cho bà già biết.” Cô cháu gái về trình, bà nói bây giờ ông tu đúng pháp.
Đoạn đầu là sao? Là ông chìm sâu trong cái định, chìm mất luôn không có diệu dụng. Không có diệu dụng thì Phật nói giống như đoạn chết hạt giống Như Lai, tức là không phát khởi Bồ-đề tâm đi vào cuộc đời này làm lợi ích chúng sinh.
Còn lần này ông thấy biết rõ ràng. “Tôi biết” là căn, còn “cô biết” là trần, nhưng đừng cho “bà già biết” tức là đừng cho thức nó dính vào. Đó là tinh thần của nhà thiền. Còn chúng ta tu chưa đến mà nói “tôi biết, cô biết” là không được. “Tôi biết, cô biết” tức là căn trần cho giao thoa, nhưng nhớ một điều là không dấy niệm, dấy niệm là trật.
“Nên gọi là sáu thức. Sáu thức này làm mê loạn thân tâm, chìm đắm trong sanh tử, luân hồi trong sáu nẻo, chịu các khổ não. Giống như do những suối nguồn nhỏ chảy về không ngớt, tạo nên những con sông lớn vạn dặm sóng cả. Nếu có người dứt được suối nguồn, các con nước sẽ ngưng.”
Nếu các vọng niệm đến, chúng ta dùng cái biết không theo nữa thì một thời gian suối nguồn tự ngưng. Đây là phần công phu để cho quý Phật tử thấy. Sở dĩ thân năm uẩn chúng ta sống được là nhờ nuôi bằng thực phẩm: cơm, bánh mì, bún… Chiếc xe chạy được là nhờ nuôi bằng xăng. Mình coi phim hành động, phim bạo lực là mình tưới tẩm cho hạt giống ác pháp, sự sân hận của mình ngày càng lớn.
Có người gặp chuyện gì cũng sân. Chẳng hạn quên ổ khóa ở đâu đó tìm hoài không được là nổi sân. Tôi thấy có một ông khởi động máy bơm nước, ông giật cái mô tơ vài lần mà không chạy là ông đá nó xuống mương luôn. Có nghĩa là một chút xíu gì cũng sân. Rồi một hôm sân quá ông đốt nhà luôn. May là chòi lá không đáng bao nhiêu tiền. Hạt giống sân ngày nào cũng tưới tẩm thì nó lớn và trưởng thành.
Nên ở đây nói, sau khi thấy những suối nguồn sân hận phiền não, nếu có người nào dứt được ngọn ngành này, dứt được suối nguồn này, thì các con nước tự nhiên ngưng không tiếp tục nữa. Sân hận, phiền não, tật đố của chúng ta cũng như thế, chúng ta biết được nó xấu ác chúng ta ngưng, ngưng thì một thời gian nó hết.
“Người cầu đạo giải thoát nên chuyển ba độc thành ba tụ tịnh giới tức là giới định tuệ, chuyển sáu thức thành sáu Ba La Mật, tự nhiên vĩnh viễn rời khỏi hết thảy các khổ. Vì nghiệp báo trong ba cõi chỉ do tâm mà sanh ra. Nếu như vô tâm, thì ở ngay trong ba cõi mà thoát khỏi ba cõi.”
Ở ngay trong đời ngũ trược này mà chúng ta vô tâm, vô sự, thì các pháp không làm gì mình, không quấy nhiễu gì được hết, giống như con chim bay đến hót với người gỗ thì không dính dáng gì.
“Ba cõi tức là ba độc, do ba độc này tạo nghiệp nặng nhẹ thọ quả báo cũng không đồng nhau, chia làm sáu xứ nên gọi là sáu đường.”
Tức là chúng ta đi bằng nghiệp lực.
Bậc Đạo sư thấy rõ,
Tâm Bồ-đề quý báu,
Muốn vượt thoát ba cõi,
Phải giữ vững tâm này.
Ba cõi là dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Phật nói “tam giới vô an, du như hỏa trạch” tức là ba cõi này giống như nhà lửa hừng hực thiêu đốt chúng ta. Đức Phật thấy rõ tâm Bồ-đề rất quý, muốn vượt thoát ba cõi thì phải giữ vững tâm Bồ-đề này. Một khi chúng ta phát Bồ-đề tâm thì giữ được miên viễn không thối thất.
Làm lành như cây chuối,
Quả hết rồi héo khô,
Tâm Bồ-đề to lớn,
Như đại thụ xum xuê,
Luôn sinh quả tươi tốt.
Chúng ta làm lành, làm phước thì giống như cây chuối, quả hết rồi thì nó cũng héo khô, chỉ có tâm Bồ-đề như đại thụ xum xuê luôn sinh quả tươi tốt.
Cho nên Bồ-tát Long Thọ nói:
Phước dù đến tận trời xanh,
Gió vô thường đến cũng thành rỗng không.
Tích chứa tài sản rất nhiều nhưng bị động đất, sóng thần hay bị chuyện gì tác động đến thì cũng biến thành rỗng không. Chỉ có tâm Bồ-đề chúng ta phát khởi lên thì nó không mất, bởi vì là tự tâm của mình. Quý Phật tử phát khởi tâm Bồ-đề thì nó theo mình từ đời này qua kiếp khác, sóng thần, động đất không làm gì được.
Người đời phạm tội nặng,
Nhờ thế lực chở che,
Biết sự nghiệp đã tạo,
Sao chẳng tìm chỗ nương?
Người đời phạm tội nặng nhờ thế lực che chở cho nên được an ổn, mà biết sự nghiệp đã tạo này có còn có mất thì sao chúng ta chẳng tìm chỗ nương? Chúng ta nương tựa với cha mẹ mình giỏi lắm là hai ba chục năm. Sau này quý Phật tử có gia đình rồi nương tựa với chồng, với con giỏi lắm năm chục năm rồi cũng buông. Nhưng có một nơi nương tựa vững chắc từ đời này qua kiếp khác, đó là nương tựa Phật, nương tựa Pháp, nương tựa Tăng.
Tại sao chúng ta nương tựa Phật? Vì Phật là bậc sáng suốt giác ngộ, thấy con đường nào đúng, con đường nào sai. Phật chỉ cho mình chứ Phật không phải là một người ban phước giáng họa cho chúng ta. Bởi vì Phật đi suốt qua vô lượng kiếp, Phật thấy tâm Bồ-đề này rất quý báu nên chỉ dạy để chúng ta thực hành và chứng nghiệm.
Phật nhập Niết-bàn rồi thì chúng ta nương nơi Pháp tu học, chuyển hóa. Mà Pháp là một chân lý chết, không sống động cho nên chúng ta phải nương tựa Tăng. Tăng không phải một người, phải bốn người mới thành một Tăng đoàn thanh tịnh.
Ở đây nói là chúng ta tìm chỗ nương tựa Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo. Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo này chính là tướng tâm Bồ-đề từ nơi tự thân của mỗi người. Nhờ nương tâm Bồ-đề này chúng ta vượt thoát những khổ nạn, vượt thoát những nghịch duyên.
Đức Di Lặc đã giảng,
Cho Thiện Tài biết rằng,
Tâm Bồ-đề kỳ diệu,
Như lửa thời hoại kiếp,
Đốt tan bao tội nặng,
Chỉ trong một sát-na.
Bao nhiêu nghiệp chướng trần sa nhiều đời nhiều kiếp tan biến hết là do chúng ta luôn luôn khởi tâm Bồ-đề dũng mãnh đi vào cuộc đời này. Do đó Đức Bồ-tát Di Lặc nói cho Thiện Tài biết rằng tâm Bồ-đề rất vi diệu, như lửa thời hoại kiếp đốt tan bao tội nặng chỉ trong một sát-na thôi. Trong một khoảng sát-na mà chúng ta phát khởi tâm Bồ-đề dược thì thân ô trược này thành thân Phật.
Đức Phật nói chỉ cõi người mới phát được tâm Bồ-đề, còn những cõi khác phát tâm Bồ-đề không được. Chư thiên quá sung sướng, địa ngục thì quá khổ cho nên họ không bao giờ phát tâm Bồ-đề. Cõi súc sanh, cõi ngạ quỷ đói khát cũng không phát tâm Bồ-đề được. Chỉ cõi người có khổ có vui, có nghịch có thuận, có vô thường, có những biến chuyển trong cuộc đời nên thức tỉnh phát Bồ-đề tâm. Đó là lý do hôm nay chúng tôi chia sẻ cùng quý Phật tử về sức mạnh của tâm Bồ-đề.
Nãy giờ nghe chúng tôi nói về phát Bồ-đề tâm, quý Phật tử nào có duyên, về nhà đến trước bàn thờ Phật phát nguyện:
Hôm nay ngày … tháng … năm …, con tên …, Pháp danh …
Kể từ nay cho đến khi thành Phật đạo, chúng con nguyện luôn phát tâm Bồ-đề, sám hối những ác nghiệp trong vô lượng kiếp chúng con đã tạo tác qua thân khẩu ý.
Kể từ nay cho đến khi thành Phật đạo, chúng con nguyện luôn phát tâm Bồ-đề, đem đến hạnh phúc an lạc cho tất cả chúng sinh và chấm dứt những ác nghiệp mà trong đời hiện tại chúng con đã tạo tác qua thân khẩu ý.
Kể từ nay cho đến khi thành Phật đạo, chúng con nguyện luôn phát tâm Bồ-đề, vượt qua những chướng ngại trong lúc tu tập, để hoàn thành bi nguyện đem đến hạnh phúc cho mình và cho người.
Đó gọi là phát Bồ-đề tâm. Đứng trước bàn thờ Phật, thực hiện ba lần. Phát một nguyện lực là từ đây cho đến khi thành Phật luôn, gọi là phát Bồ-đề tâm viên mãn.
Hỏi: Người tu thiền phải dùng tự lực, người tu tịnh có tha lực. Xin Thầy giải nghi.
Đáp: Chúng ta thường nói những người tu pháp môn Tịnh độ thì có tha lực chứ họ không dùng tự lực, còn những người tu thiền thì tự lực chứ không cần tha lực. Nhưng mà tôi hỏi thật quý Phật tử, trong lúc niệm Phật, mình niệm Phật hay là Phật, Bồ-tát niệm thay cho mình? Mình niệm gọi là tự lực, nhưng tại sao mình biết pháp môn niệm Phật? Tại sao mình biết pháp môn Thiền định, pháp môn Trì chú? Ai chỉ ra cho chư Tổ, chư Bồ-tát, các thiện hữu tri thức? Là Phật chỉ.
Cho nên trong giờ phút thực tại chúng ta ngồi thiền, chúng ta phát Bồ-đề tâm bằng tự lực của mình với tâm định tĩnh, sung mãn, khinh an thì chư Phật hiện diện ngay trong giờ phút thực tại đó, bởi vì tâm thanh tịnh, vắng lặng thì tương ưng với các cõi. Giống như đào giếng mà nước đục quá, thì dù cho đêm này là đêm rằm, mặt trăng cũng không hiện lên được. Nước giếng trong rồi thì không mong cầu, mặt trăng cũng hiện.
Cho nên nói:
Nước trong ánh trăng hiện,
Tâm sạch Phật hiện tiền.
Phát Bồ-đề tâm là tự lực phấn đấu để vượt qua những chướng duyên, nhờ nhớ lại ngày này tháng này mình phát tâm Bồ-đề cho nên vượt qua được những chướng duyên mà không bị cản trở.
Trong tự lực có tha lực, đây không có mê tín dị đoan. Tôi đưa một ví dụ dễ hiểu. Chẳng hạn quý Phật tử hứa ngày mai sẽ lên Thiền viện Trúc Lâm thăm tôi, nhưng mai quý Phật tử ngủ quên, rồi nghĩ: “Thầy Khế Định mà, khỏi lên cũng được.” Rồi tình cờ quý Phật tử gặp Thầy Thường Chiếu hoặc Thầy Trụ trì Trúc Lâm, quý Phật tử cũng hứa mai sẽ ghé Thường Chiếu hoặc lên Trúc Lâm thăm Thầy. Mai đón xe không được, quý Phật tử nghĩ: “Không thăm cũng không sao.” Nhưng quý Phật tử hứa với Sư Ông thì bằng mọi cách quý Phật tử phải đi, không dám thất hứa vì sợ tổn phước.
Cũng như thế, tại sao chúng ta quy y Tam Bảo? Tại sao chúng ta phát Bồ-đề tâm? Có người nói: “tôi làm thiện không cần quy y, tôi tu tập không cần phát Bồ-đề tâm cũng thành tựu”, nhưng nếu không phát Bồ-đề tâm, không quy y Tam Bảo thì có những việc ác chúng ta làm. Còn đằng này chúng ta đến trước Phật, hứa với Phật rồi, cũng như quý Phật tử hứa trước Hòa thượng thì không dám bỏ lời hứa.
Cũng vậy, hồi xưa tới giờ mình chỉ ngồi thiền khoảng nửa tiếng, mình nghĩ đi cũng thiền, đứng cũng thiền, nằm cũng thiền rồi nằm ngủ luôn. Nhưng một hôm mình đến trước Phật hứa: “Ngày này tháng này năm này, con tên …, pháp danh …, con phát nguyện một Bồ-đề tâm lớn, nếu ngồi đến nửa tiếng mà con nói ‘đi cũng thiền, đứng cũng thiền, nằm cũng thiền’ rồi con ngủ là con chết tại chỗ, thần thức con xuống địa ngục”, thì khi ngồi được nửa tiếng mình muốn xả lắm mà sợ đọa địa ngục nên ráng vượt qua.
Tha lực là gì? Là trong lúc mình đứng trước Phật phát tâm Bồ-đề mà tâm rỗng rang, thanh tịnh, khinh an thì tự nhiên cảnh giới Phật liền tương ưng. Điều này không phải mê tín. Chẳng hạn như quý Phật tử muốn gọi điện thoại số 07822… mà lại bấm số 07829 … thì đầu dây bên kia không nhận được.
Ngày xưa mình vượt qua chướng duyên không được, nhưng một khi phát Bồ-đề tâm rồi, vừa dấy niệm tật đố với người khác là mình sợ: “phải dừng ác nghiệp này không thôi đọa địa ngục, chìm đắm trong ba đường khổ”, tự nhiên ngay đó mình vượt qua một cách an ổn dễ dàng, nhờ áo giáp phát Bồ-đề tâm.
Quý Phật tử nghiệm kỹ, có ai chưa từng tạo điều ác? Cho nên Phật nói trong cuộc đời này có hai hạng người tôn quý: người chưa từng phạm giới, chưa từng tạo ác và người tạo ác nhưng biết sám hối. Đức Phật nói hai hạng người này đều có sức mạnh.
Trong giờ phút thực tại này nếu người đó biết dừng tức là không tiếp tục tạo nữa, thì dù nhân quả có đến nhưng nhờ thức tỉnh biết sám hối, nhờ biết tu tập chuyển hóa, biết làm các điều thiện pháp, chẳng hạn như mở trại cai nghiện xì ke ma túy giúp đỡ những người gia đình tan nát vì chích xì ke, những người đang ở trong cảnh khốn cùng, thì nhân quả có đến cũng nhẹ hơn chứ không phải nói không có nhân quả.
Muốn thoát kiếp súc sinh thì phải mở ra một con đường mới là mình khuyên dạy người ta đừng đi trên con đường này nữa, con đường này không an ổn, không hạnh phúc, con đường này toàn là chông gai, toàn sự trắc trở thì tức khắc chuyển được nghiệp. Giống như Ương Quật Ma La giết rất nhiều người nhưng sau khi biết được Phật pháp ngài chuyển, ba tháng sau chứng A La Hán. Đức Phật nói một người làm ác giống như mặt trăng bị mây che phủ kín, một khi biết ăn năn sám hối thì giống như mây bị gió thổi tan, trăng hiển lộ. Người đời làm điều ác, một khi biết dừng, biết ăn năn, cải hối thì Phật tán thán, khen ngợi.
Ba La Mật là tiếng Phạn, dịch nghĩa là Đáo Bỉ Ngạn. Mình thường nói bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ phải đầy đủ lục độ Ba La Mật.
Bố thí Ba La Mật có nghĩa là bố thí mà không chấp trước vật bố thí, không thấy mình bố thí, không thấy người nhận và vật bố thí thì gọi là đủ Ba La Mật. Hoặc nói khác hơn, bố thí hết tất cả tiền của tài sản hay là cái thân của mình luôn mà mình không thấy gì hết, giống như trong thời quá khứ Đức Phật còn hành Bồ-tát đạo gọi là bố thí đủ Ba La Mật.
Chúng ta trì giới mà không thấy mình trì giới, không thấy có những người phạm giới đó gọi là đủ Ba La Mật. Mình giữ giới là chỉ bản thân vươn lên và hướng thượng thôi chứ không chỉ trích ai hết. Giữ giới nhưng không thấy mình đang hành trì giữ giới, mà giới luôn luôn giữ lại mình thì tròn đủ Ba La Mật.
Nhẫn nhục cũng như vậy.
Chúng ta ngồi thiền rất tinh tấn, nhưng một hôm nhìn qua bên kia thấy người bạn đang ngủ gục, mình nói một bài kệ trong kinh Pháp Cú:
Tinh tấn giữa những người buông lung,
Tỉnh táo giữa những người mê ngủ,
Ta giống con ngựa hay,
Bỏ sau lưng những con ngựa gầy hèn.
Tức là mình có chấp trước, chưa phải là Ba La Mật. Bài kệ này nói cho tự thân phấn đấu lên, còn đằng này thấy người bạn đang ngủ gục mình nói như thế là không được.
Tinh tấn là đạt đến chỗ mục đích cứu kính giác ngộ giải thoát cuối cùng, mà không thấy tinh tấn gì hết. Tu mà không thấy mình tu, tu giống như vô tu, chứng mà không thấy mình chứng, là đủ Ba La Mật.
Thiền định, trí huệ cũng vậy. Có người đến hỏi quý Phật tử ngồi thiền để làm gì, quý Phật tử trả lời sao cho đủ Ba La Mật? Ngồi thiền mà đã chứng cái này cái kia là chưa phải Ba La Mật. Ba La Mật có nghĩa là tròn đủ.