THIỀN – CON ĐƯỜNG KHAI PHÁ MẢNH ĐẤT TÂM
I. Dẫn nhập
Kinh Hoa Nghiêm có đoạn diễn tả khi Đức Phật thành tựu quả vị Vô thượng Bồ-đề, Ngài nhìn tất cả chúng sinh, xem thử họ có nghiệp lực, nhân duyên như thế nào. Khi dùng con mắt Phật nhãn nhìn khắp đại địa, Ngài bỗng thốt lên:
“Lạ thay, lạ thay, tất cả chúng sinh cũng có đầy đủ các đức tướng trí huệ Như Lai không khác.”
Tức là Như Lai có cái gì thì chúng sanh có cái đó. Như Lai có đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, tứ vô lượng tâm, thập bát bất cộng pháp… thì chúng ta cũng có. Nhưng sao mình không có năng lực như Phật? Là do một niệm gọi là niệm bất giác vọng động, từ vọng động đó mình đắm đuối, chạy theo vọng tưởng cho nên đi trong ba đường sáu nẻo rồi quên mất luôn.
Như Lai nói:
“Ta sẽ dùng vô số phương tiện thiện xảo, để khơi lại cái trí tuệ đức tướng Như Lai.”
Nói khác hơn là Đức Phật dùng vô số phương tiện để cho chúng ta khai phá mảnh đất tâm của mình. Như vậy chúng ta thấy rằng nếu tâm không có Phật, thì tu ngàn đời ngàn kiếp cũng không thành. Lúc trước tôi giảng ở Sài Gòn, có một người đứng lên hỏi: Thường thường trong bài tán của quý thầy lúc tụng kinh xong, có câu “Tình dữ vô tình, đều thành Phật đạo.” Tình là hữu tình, vô tình là cỏ cây. Như vậy cỏ cây chừng nào thành đạo?
Một hôm có ông tăng đến hỏi Thiền sư Pháp Nhãn:
– Bạch Hòa thượng, chừng nào cỏ cây thành Phật?
Thiền sư Pháp Nhãn nói:
– Chừng nào trời sập.
Ông tăng hỏi:
– Như vậy chừng nào trời sập?
– Chừng nào cỏ cây thành Phật.
Thiền sư trả lời rất hay, chặt thẳng luôn, không phải dài dòng.
Bởi vì sao? Bởi vì vô tình là pháp tánh, hữu tình là Phật tánh. Khi chúng ta trở về với bản thể thì thấy tình và vô tình đều có Phật, một bên là pháp tánh một bên là Phật tánh. Phật thấy mỗi chúng sanh đều có tâm Phật cho nên Phật mới hiện xuống trong cuộc đời này để tìm mọi cách độ chúng sanh.
Một hôm có ông tăng đến hỏi Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ:
– Chúng sanh đã là Phật rồi thì Phật xuống đây làm gì nữa?
Thiền Sư Vĩnh Minh Diên Thọ nói:
– Vì có Phật cho nên Phật mới xuống.
Mình có tâm Phật cho nên tu mới thành Phật. Nói khác hơn, tâm Phật của mình bị vùi lấp sâu quá rồi, phải có một phen chuyển hóa lớn mới thành tựu như Phật.
Đại sư Khuông Việt dòng Vô Ngôn Thông khi sắp tịch ngài gọi các đệ tử lại, nói một bài kệ:
Trong cây vốn có lửa,
Có lửa lửa lại sanh,
Nếu bảo cây không lửa,
Cọ xát làm gì sanh.
Ngày xưa làm gì có quẹt ga giống như bây giờ, người ta dùi cây lấy lửa bằng cách cọ xát cho nóng lên, lửa phựt cháy. Còn mình bây giờ cũng cọ xát, chẳng hạn như ba ngày nay mình đến đây dùi cây lấy lửa, mình ngồi thiền liên tục thì nó nóng thật, về nhà không ngồi nữa nên nó tắt. Một năm sau quý Thầy ở Việt Nam qua mở khóa tu bảy ngày hoặc ba ngày, mình lại đến dùi cây, rồi lại về ngủ! Cứ vậy đó, dùi cây lấy lửa mà sắp nóng, lửa sắp phựt lên thì bỏ.
Trong thiền thoại kể câu chuyện:
Có một anh chàng ra chợ, thấy viên đá đẹp quá nên mua về. Mua được viên đá đẹp, anh nhìn ngắm khoảng chừng một tháng, thấy cũng không có gì nên đem viên đá để ngay chỗ rửa chân, hằng ngày anh đứng trên đó rửa chân. Một hôm anh có người bạn là nhà điêu khắc tài giỏi đến nhà, nhìn thấy viên đá ông này giật mình vì phát hiện trong sâu thẳm của viên đá có viên ngọc vô giá nằm bên trong. Ông năn nỉ mua viên đá nhưng được anh bạn chủ nhà tặng luôn. Với tài điêu khắc giỏi, về nhà ông đẽo gọt, qua tháng năm tự nhiên hiện lên ông Phật ngọc, Phật ngọc nằm trong đá chẳng tìm đâu xa.
Phật nằm sẵn trong thân ngũ uẩn của mình nên khi ngồi thiền, một niệm xấu ác vọng tưởng khởi lên mình sẽ làm gì? Mình đẽo gọt cho nó rớt xuống, buông đừng có dính mắc là đẽo gọt. Đẽo gọt lâu ngày chày tháng tự dưng mình thành ông Phật hồi nào không hay. Mà mình đến thiền đường, đến thiền viện mình đẽo gọt khoảng mười ký, về nhà đắp vô hai chục ký, kể như không luôn!
Đức Phật nói chúng sanh dầu cho trải qua vô số kiếp sinh tử nhưng mà tâm Phật không mất, đi đến đâu có tâm Phật đến đó. Thiền sư Thiên Cơ nói, ví dụ như mình rớt xuống cảnh khổ, đang bị cảnh khổ bức ngặt, chỉ cần mình quay ngược lại: “Cái gì biết khổ?” Chỉ cần biết cái gì biết khổ là mình siêu thoát luôn. Ngặt nỗi mình bị nó bức ngặt sâu quá, quay không được. Ngài nói:
“Đang uống nước đồng sôi, nuốt hoàn sắt nóng, nghe đến giác tức liền sanh tịnh độ.”
Cho nên phải luôn luôn thực tập hằng ngày, phải có sức chuyển hóa lớn trong mỗi con người của chúng ta, đó là cuộc cách mạng lớn trong tự thân của mỗi chúng sanh.
Trong Kinh Tiểu Bộ kể câu chuyện bà Liên Hoa Sắc. Bà đi xuất gia sau đó chứng quả, một hôm trên đường đi khất thực gặp mấy cô thiếu nữ bà rủ đi tu, mấy cô thiếu nữ nói con không dám đi tu đâu. Hỏi tại sao, nói con còn ham ăn, ham ngủ lắm mà tu, thọ hưởng của tín thí sợ chết đọa địa ngục. Bà nói không sao đâu, xuống địa ngục thọ khổ hết nghiệp địa ngục lên tu tiếp.
Câu nói này của bà rất hay. Có nghĩa là một lần mình kết duyên tức là mình gieo hạt giống Phật, lỡ rớt xuống ba đường sáu nẻo tâm Phật không mất, hết cái nghiệp đó đủ nhân đủ duyên rồi lên tu tiếp.
Để làm niềm tin cho phần này tôi xin kể cho quý Phật tử câu chuyện Cô Lái Đò và Chàng Sĩ Tử:
Ngày xưa trong một ngôi làng có nhiều người sinh sống, một hôm ông trưởng làng nói sở dĩ làng chúng ta khổ mãi, không cất đầu lên được là vì thất học nhiều quá. Bây giờ mỗi gia đình hùn lại một số tiền rồi chọn anh nào trong làng dễ coi, thông minh, cần cù học hỏi thì cho ăn học. Dân làng đều đồng ý và chọn ra được một anh thanh niên. Học được ba năm, anh thuộc làu Tứ Thư Ngũ Kinh, Bách Gia Chư Tử.
Khi nhà vua mở hội ứng thi, anh khăn gói lên đường, hy vọng đậu được Trạng Nguyên, làm nở mặt nở mày làng xóm. Đi khoảng nửa tháng gặp một dòng sông nước sâu và rộng không qua được, bỗng có cô gái lái đò chèo đến hỏi anh đi đâu. Anh nói tôi lên kinh ứng thi. Cô lái đò hỏi anh có năng lực gì, học tới đâu mà đòi lên kinh ứng thi. Anh kể anh học ba năm rồi, Tứ Thư Ngũ Kinh, Bách Gia Chư Tử thuộc làu hết. Cô lái đò ra điều kiện, nếu muốn cô đưa sang sông thì cô ra câu đối, đối đáp chuẩn thì không những cô đưa anh sang sông mà còn giúp anh một số tiền làm lộ phí. Anh này nghĩ không lẽ học ba năm mà thua cô gái lái đò nên nhận lời. Cô lái đò ngâm như thế này:
Hỏa tại thạch trung,
Trầm tích thủy,
Thiên niên bất tuyệt.
Nghe rồi anh nghiền ngẫm mãi mà đối không được rồi ngồi bệt xuống ngay bên bờ sông. Dân làng thấy anh từ sáng đến tối không ăn uống gì, họ mang đồ ăn cho anh mà anh cũng không ăn. Câu “Hỏa tại thạch trung, trầm tích thủy, thiên niên bất tuyệt” cứ xoáy trong đầu anh, trong nhà thiền gọi là đại nghi. Bảy ngày bảy đêm không ăn uống gì anh gục xuống chết. Anh chết hiển linh, cứ chạng vạng tối khoảng bảy, tám giờ anh đi trên bờ sông vừa đọc vừa khóc: “Hỏa tại thạch trung, trầm tích thủy, thiên niên bất tuyệt.” Dân làng sợ quá nên lập miếu thờ, gọi là miếu của chàng sĩ tử.
Một hôm có vị thiền khách đi ngang qua, thấy ngôi làng vắng vẻ như không có người ở, hỏi thăm biết được câu chuyện, thiền sư thương cảm nên quyết định ở lại một đêm để cứu anh này. Quả tình đến tám giờ đêm, trời thanh vắng, mưa rỉ rả tí tách thì anh xuất hiện, vừa đi vừa đọc:
Hỏa tại thạch trung,
Trầm tích thủy,
Thiên niên bất tuyệt.
Lúc này thiền sư đọc lên:
Nguyệt tại thiên không,
Chiếu nhân gian,
Vạn cổ trường tồn.
Nghe câu đó anh siêu thoát liền.
Lửa nằm trong đá,
Chìm dưới suối sâu,
Ngàn năm không mất.
Thân ngũ uẩn có tâm Phật mà lỡ chìm dưới ba đường khổ, ngàn đời ngàn kiếp không mất, đủ nhân đủ duyên lên học pháp ngộ đạo.
Câu đối rất là hay:
Trăng ở trời cao,
Chiếu xuống nhân gian,
Muôn thuở vẫn còn.
Trăng lúc nào cũng sáng, sở dĩ không thấy có mặt trăng là vì mây che. Tâm Phật lúc nào cũng sáng. Phật nói, do mây phiền não vô minh che thôi, chỉ cần gạt cái lớp đó tự tâm sáng liền. Lần lần tôi sẽ chia sẻ cho quý Phật tử thấy càng tu thiền thì tâm càng sáng, lòng sẽ rộng lớn, có thể dung nhiếp hết tất cả đại địa. Bây giờ lòng mình dung nhiếp không được là vì tâm chưa mở ra. Tâm mở nhiều bao nhiêu thì lòng rộng lớn bao la bấy nhiêu.
Đức Phật ví mảnh đất tâm của mỗi người giống như một cánh rừng hoang sơ, một bãi sa mạc hoặc là một đồng cỏ hoang dại. Bây giờ muốn trồng lúa, hoặc là trồng hoa màu thì phải làm gì? Thứ nhất là phải dọn cỏ, thứ hai là phải cày xới, thứ ba là phải bón phân và sau đó là gieo hạt. Đó là tiến trình con đường Bồ-tát đạo.
Tiến trình con đường Bồ-tát đạo là trồng hoa màu xong, gặt hoa màu đó rồi đem phân phát cho chúng sanh. Tiến trình đi đến Phật quả bắt buộc chúng ta phải qua con đường Bồ-tát đạo này. Còn tiến trình của các hàng A-la-hán là dọn dẹp cỏ, trồng hoa màu, hưởng lợi riêng thôi chứ không còn đời sau đời trước nữa, là nhập Niết-bàn luôn.
Như vậy ở đây nói dọn cỏ là gì? Là dọn những tâm niệm xấu ác. Đành rằng tâm Phật có sẵn mà bị sanh tử từ vô lượng kiếp kết tập nhiều niệm xấu ác. Có những lúc ngồi lại, những dòng tư tưởng mình suy nghĩ ra mình còn giật mình. Thiền sư Bạch Ẩn nói có những vọng tưởng của chúng ta còn ghê gớm hơn là cọp beo và chó sói. Có những lúc thấy mình giống Phật, có những lúc tâm mình biểu hiện như cọp beo.
Bàng Am nói:
Một niệm tâm thanh tịnh
Phật ở điện ma vương
Một niệm tâm ác sanh
Ma vương trong điện Phật.
Cho nên đối với nhà thiền chỉ ngay nơi đương niệm, niệm mê là chúng sanh, niệm ngộ tức Phật. Phật và chúng sanh chỉ ngay nơi đương niệm. Phật tâm có sẵn, song cần phải tham cứu tu tập thì Phật tâm mới hiển lộ.
Nên Thiền sư Đại Nghĩa nói:
Chớ bảo rằng đạo chẳng cần tham,
Thánh xưa rành rẽ làm chỉ nam.
“Tham” tức là tham cứu, đừng nói tự nhiên mà có. Các bậc thánh không có vị nào sanh ra đời mà tự nhiên thành Phật hết. Ngài Thiên Cơ có nói, nếu bảo không học mà thành tựu, không tu mà được quả, thì giống như là Di Lặc trời sanh, Thích Ca tự nhiên. Có khi nào Di Lặc trời sanh, Thích Ca tự nhiên có không? Không! Đức Phật Thích Ca phải tu vô lượng kiếp.
Dầu sanh ở bất cứ loài nào, Đức Phật đều có tâm hướng thượng đi lên. Khi Đức Phật biết được cái sai là Ngài bỏ; biết tu pháp này không đúng, không chuẩn, Ngài bỏ để thăng tiến. Ngài tu với Uất Đầu Lam Phất đến cảnh giới phi phi tưởng xứ mà Ngài cũng bỏ, biết ở đây chưa đưa đến kết quả cứu cánh giải thoát.
Trong tiền kiếp lâu xa Ngài là con của người thương buôn. Vì người cha đi buôn bị chết nên bà mẹ rất sợ, ngăn cản không cho Ngài đi buôn. Ngài xô mẹ ngã xuống rồi bước qua đầu mẹ mà đi. Tâm niệm và hành động bất hiếu như thế nên khi chết, Ngài rớt xuống hỏa ngục đội cái vòng lửa. Ngài hỏi người cai ngục chừng nào cái vòng lửa trên đầu ngài mới mất, người cai ngục nói chừng nào có người bất hiếu giống như Ngài xuống thay thế thì Ngài mới được thoát vòng lửa. Như mình chắc mong cho có người xuống sớm thế vòng lửa cho mình, nhưng Ngài ngửa mặt lên rồi nguyện đời đời kiếp kiếp mang cái vòng lửa này, đừng có người nào giống như Ngài. Vừa nói xong, Ngài sanh lên Cung Trời Đâu Suất liền.
Tinh thần khai thị chỉ cần một niệm, nhích một cái thôi. Cái này gọi là chứng nghiệm vô chỗ công phu, nói bằng lời không được mà bằng tâm chứng, nếu không có tu tập thì nói mãi cũng bằng không. Một ngàn, một tỷ học giả cũng không biết được chỗ này.
Cho nên tôn giáo học là phi triết học, triết học là con đẻ sau này. Ai nói Phật giáo là triết học? Phật giáo phi triết học, phi hết tất cả, bởi vì thế giới này gọi là thế giới tâm thức, là thế giới nằm sâu trong cái thân thước bảy của mình, khai phá là có đầy đủ hết tất cả. Việc học là sự huân tập không có dính dáng, ở đây là mình tạm nghe để dùng hạ thủ công phu thôi. Khi dụng công phu tới đó mình mới có niềm tin lớn.
Ngũ Đăng Hội Nguyên ghi:
Thiền sư Pháp Thường ở núi Đại Mai, Minh Châu, Sư họ Trịnh, quê ở Nhượng Dương, xuất gia theo thầy ở chùa Ngọc Tuyền, Kinh Châu. Ban đầu tham vấn Mã Tổ, Sư hỏi:
– Thế nào là Phật?
Tổ đáp:
– Tức tâm là Phật.
Sư liền đại ngộ, bèn ở ẩn núi sâu. Mã Tổ nghe tin mới bảo tăng đến thăm hỏi:
– Hòa thượng gặp Mã Đại sư được cái gì mà đến ở núi này?
Sư đáp:
– Đại sư nói với tôi: “Tức tâm là Phật”, tôi bèn về ở núi này.
Tăng nói:
– Gần đây Phật pháp của Đại sư có khác.
– Khác thế nào?
– Ngài nói: “Phi tâm phi Phật”.
– Cái lão già ấy làm mê hoặc người chưa có ngày thôi. Mặc cho ông “phi tâm phi Phật”. Tôi chỉ biết “tức tâm tức Phật”.
Tăng về thuật lại sự việc với Mã Tổ, Tổ bảo:
– Trái mai đã chín!
Thiền sư Đại Mai tin chắc tâm mình là Phật, dù cho Mã Tổ nói phi tâm phi Phật, Ngài vẫn tin chắc tâm mình chính là Phật. Tin này không phải là niềm tin mà chính là sự chứng nghiệm vào tâm Phật của Ngài trong suốt 30 năm huân tập và tham cứu.
Dọn và sửa những tâm niệm xấu ác gọi là Thánh xưa rành rẽ làm chỉ nam. Thánh xưa là gì? Là các vị thiền sư. Chẳng hạn như thiền sư Khánh Chư ngồi thiền hai chục năm rách bảy cái bồ đoàn mới sáng được việc lớn. Còn thiền sư Tuyết Phong ba lần lên Động Sơn, bốn lần xuống Đầu Tử mới sáng được việc lớn.
Dù rằng gác cũ nhàn điền địa,
Một phen gầy dựng thật gian nan.
Dầu rằng có tâm Phật sẵn rồi mà bây giờ dọn dẹp những tâm niệm xấu ác là cả một vấn đề. Từ sáng giờ mình ngồi thiền tức là dọn. Cày xới là gì? Là kích thích nội tâm, dụ như làm các việc thiện pháp, phát tâm Bồ-đề. Khi làm các thiện pháp là tâm mở ra. Phát Bồ-đề tâm, phát đại nguyện, dấn thân vào cuộc đời này thì đó là kích thích nội tâm. Thường nghe chánh pháp, tụng đọc kinh điển Phật giáo tức là bón phân.
Bây giờ mình phát nguyện bứng gốc cây ác pháp của mình bỏ một bên, trồng cây thiện pháp vào. Ngồi thiền, tụng kinh, sám hối là tưới tẩm. Gieo hạt tức là con đường thiền tập. Ngày xưa mình cũng tưới nước nhưng mà tưới tẩm nước vô minh, nước phiền não, nước cấu nhiễm; bây giờ mình tưới tẩm nước nghe chánh pháp, tụng đọc kinh điển Phật giáo. Thiền tập là cày xới đất tâm lên. Dọn cỏ sạch sẽ, đủ nhân đủ duyên tức khắc bước vào mảnh đất tâm, sáng được việc lớn. Tôi đã nói với quý Phật tử, quý Phật tử cứ tu tập rồi có một lúc nào đó tự nhiên rõ biết, mà điều này không nói bằng lời được.
Trong Kinh Tương Ưng Bộ tập một có một đoạn nhân duyên: Có vị Bà-la-môn Ka Si rất là giàu có, ruộng nương đầy khắp hết. Một buổi sáng khoảng tám chín giờ, khi ông đang dắt gia nhân cày ruộng gieo hạt thì gặp Đức Phật, ông đến nói với Đức Thế Tôn:
– Này Sa-môn Gotama! Tôi có bò, có cày, có hạt giống, có nhân công, làm ba tháng hoặc sáu tháng tôi thu hoạch lúa về có ăn. Còn này Sa-môn Gotama! Ông không có cày, không có bò, không có hạt giống, không có tưới nước, thì ông làm gì có ăn?
Đức Phật ngày xưa đi hoằng hóa không phải dễ. Xem trong bốn bộ A-hàm thấy Ngài đi hoằng hóa rất khó khăn. Có câu chuyện khi Đức Phật đi khất thực đến một làng nọ, ông trưởng làng không thích Đức Thế Tôn, dân trong làng ai cúng dường Ngài là bị phạt bốn đồng tiền vàng. Khi Đức Thế Tôn đi xuống cuối đường làng thì gặp một bà lão, bà không biết ông trưởng làng thông báo chuyện đó. Nhà bà nghèo nên bà chỉ có một bát cơm đạm bạc, khi bà để cơm vào bình bát cúng dường Đức Thế Tôn, Ngài chú nguyện: “nhờ công đức lành bà cúng Như Lai một bữa cơm này, trải dài chín mươi mốt tiểu kiếp bà sanh ở cõi trời, hết nghiệp cõi trời bà tu tập được chứng quả.”
Khi Đức Phật nói như thế thì ông trưởng làng đứng sau lưng, ông nói:
– Sa-môn Gotama vì một miếng ăn chút xíu mà nói không có thật.
Đức Phật hỏi ông trưởng làng:
– Hồi nãy khi đi từ cổng vào làng, ông thấy gì?
– Tôi thấy có những cây xoài.
Đức Phật nói:
– Khi ông gieo một hạt xoài xuống thì khi hạt nảy mầm tăng trưởng, cây xoài sẽ cho ra rất nhiều quả xoài, mùa này qua mùa khác, mà cây xoài có thể tồn tại vài chục năm. Công đức lành mà bà lão này cúng dường Như Lai, với tuệ nhãn, Như Lai thấy được rằng bà sẽ trải qua vô số kiếp thọ hưởng như thế. Cuối cùng bà tu tập sẽ chứng quả.
Nói xong Đức Thế Tôn cho thấy lưỡi dài rộng, ông trưởng làng liền quỳ xuống quy y, bởi vì Bà-la-môn họ tin rằng người nào có lưỡi dài thì ba đời không nói dối.
Trở lại câu chuyện Bà-la-môn Kasi, Đức Thế Tôn nói tiếp:
– Này Bà-la-môn, lòng tin là hạt giống, khổ hạnh là mưa móc, trí tuệ là cày và ách mang, tàm quý là cán cày, ý căn là dây cột. Chánh niệm là lưỡi cày gậy đâm, đưa ta tiến dần đến an ổn khỏi ách nạn, đi đến không trở lui, chỗ ta đi không sầu, như vậy cày ruộng này đưa đến quả bất tử.
Ông Bà-la-môn nói ông có bò, có ruộng, có cày thì Đức Thế Tôn đáp:
“Này Bà-la-môn, lòng tin là hạt giống.” Có niềm tin với chánh pháp, niềm tin vào sự tu tập, niềm tin tu pháp môn này chắc chắn sẽ thành Phật, là gieo hạt giống xuống. Mình vừa khởi phát tín tâm khi gặp Tam Bảo, gặp Sư Ông Trúc Lâm, gặp con đường thiền tập này chính là mình gieo hạt giống xuống. Hạt giống này phải ngày đêm tưới tẩm, đừng để nó khô, đừng để bị mốc, đừng để bị hư, đừng để bị những con thú khác tha đi.
“Khổ hạnh là mưa móc.” Có niềm tin đến con đường thiền này rồi mà chỉ ngủ không thì chết! Khổ hạnh là thiền tập. Một khi ngồi thiền tức là tưới một gáo nước vào hạt giống niềm tin.
Có nhiều người cũng đến xin quy y Sư Ông. Họ biết mình là đệ tử Sư Ông, họ hỏi mình: “sao tôi ngồi thiền, chỗ này trên chân nhức quá!” Mình trả lời: “tôi là đệ tử nhưng có ngồi đâu mà biết.” Như vậy, Ngài cho thuốc mà mình không uống thì không bao giờ hết bệnh.
Quy y có nghĩa là quay trở về con đường Tam Bảo. Y là nương tựa, quy là quay về, quay về nương tựa Tam Bảo, nương tựa Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo. Khi quy y vị Hòa thượng đó rồi. Ngài chỉ phương pháp nào, dù khổ cực, khó khăn đến mấy, dù muốn hay không mình phải thực tập, năm mười phút cũng được, phải nếm mùi vị đó, cho nên gọi là khổ hạnh. Khổ hạnh là mưa móc, mưa móc là tưới tẩm. Ai mới ngồi thiền cũng đều bị đau chân, cho nên phải tưới tẩm hằng ngày, gọi là khổ hạnh, là mưa móc.
“Trí tuệ đối với ta là cày và ách mang, thấy đúng như thật các pháp.” Bản chất các pháp là gì? Phật giáo Nguyên Thủy nói: bản chất các pháp là vô thường, khổ, không, vô ngã. Còn Phật giáo Đại thừa phát triển nói: bản chất các pháp là thật tướng như thị, thấy cái gì cũng trong như thị.
Sở dĩ bây giờ còn quen những âm hưởng của tôn giả A Nan vì Ngài nghe trong như thị, mà nghe pháp trong như thị thì mới được công đức. Chẳng hạn quý Phật tử nghe tôi nói pháp, thì tôi nói là cái nghe, quý Phật tử là cái hay nghe. Cái nghe và cái hay nghe đồng thời có mặt trong giờ phút thực tại đó thì mới tăng trưởng công đức, đó mới là con đường Niết-bàn. Còn mình nghe mà nghĩ trên trời dưới biển thì không có công đức, nghe chơi vậy thôi. Cho nên thấy được thật tướng như thị tức là cày và ách mang.
“Tàm quý là cán cày.” Tàm là hổ, quý là thẹn. Tàm quý là hổ thẹn. Mình làm việc gì sai mà người ta nhắc nhở thì mình hổ thẹn, ăn năn sám hối là cán cày.
“Ý căn là dây cột. Chánh niệm đối với ta là lưỡi cày, gậy đâm, đưa ta tiến dần đến an ổn khỏi ách nạn, đi đến không trở lui, chỗ ta đi không sầu. Như vậy cày ruộng này đưa đến quả bất tử.” Mình ngồi thiền, tụng kinh, sám hối là đang cày ruộng. Thiền sư Vô Đức nói chỉ cần ông thắp ba nén hương mà thanh tịnh, đủ tiêu một ngày một vạn vàng ròng; ông thắp hương mà không có chánh niệm thì ngày đó ông bị lỗ vốn.
Quý Phật tử đừng nghĩ cúng dường quý Thầy, quý Thầy ăn coi chừng nợ. Đối với tôi, tôi không sợ chuyện đó, với điều kiện là ngay trong giờ phút tôi ăn, tôi phải chánh niệm là tôi tiêu dung. Còn tôi không chánh niệm là tôi mắc nợ. Cày ruộng trong thế giới tục đế thì có lúa, nhưng đây đang cày ruộng trong thế giới chơn đế, chắc chắn đưa đến quả bất tử.
Chỗ này gọi là phi tục phi chơn, mà cái gì thấy được phi tục phi chơn? Đó là tánh biết vô sanh của mình. Chẳng hạn bây giờ mình làm ăn buôn bán, đang ở trong thế giới tục đế, mà trong thế giới tục đế này mình chánh niệm tỉnh giác, đó là chơn đế. Chỗ này gọi là phi tục phi chơn tức là thánh đế đệ nhất nghĩa, là tối thượng. Nhưng đến Tổ Đạt Ma hỏi:
Thế nào là thánh đế đệ nhất nghĩa?
– Rỗng rang vô thánh.
Xưa nay không một vật làm gì có phàm thánh, bởi vì cái này sẵn có nơi mình. Chẳng hạn mình quên điện thoại tưởng là mất, rồi có người tìm được trả lại, thì không phải là mình mới có, mà chỉ là mới tìm lại được. Cũng vậy, trở về đất tâm, mình cày ruộng như thế này thì chắc chắn sẽ đưa đến quả bất tử.
Quý Phật tử ráng cố gắng về ngồi thiền là cày ruộng, sám hối là cày ruộng, tụng đọc kinh điển Phật giáo, làm các việc thiện pháp là cày ruộng, thì chắc chắn sẽ đưa đến quả bất tử. Nhưng có người cày ba tháng, sáu tháng, một năm, có người mười năm hai chục năm, có người trăm năm, có người kiếp sau, chắc chắn sẽ được quả bất tử tùy theo nhân duyên.
Đức Thế Tôn nói tiếp với Bà-la-môn Kasi:
“Sau khi cày ruộng này mọi đau khổ được giải thoát.” Ông Bà-la-môn nghe như thế liền quỳ xuống lạy. Ông nói:
– Bạch Đức Thế Tôn, bây giờ con sẵn sàng cúng dường Đức Thế Tôn bữa cơm.
Đức Thế Tôn nói:
– Như Lai không nhận bởi vì Như Lai nói pháp mà ông cúng dường cho Như Lai ăn thì giống như bán pháp.
Như Lai dứt khoát không nhận và tiếp tục đi.
II. Thiền – Một vị thầy vĩ đại
Đức Phật đã nhập Niết-bàn, kinh điển nếu không có những vị thiền sư, không có những vị thầy lớn nói cho mình hiểu thì mình cũng không biết. Thiền sư hay các vị thầy lớn nói cách mấy cũng chỉ là chuyện của họ, mà chuyện của mình là gì? Ông thầy vĩ đại của mình là gì? Là tu tập về con đường thiền. Vì sao tôi dám nói như thế? Là vì:
– Thiền chính là trở về nội tại khám phá chủ nhân của chính mình.
Lục Tổ nói:
“Đời sau ai mà kiến tánh để thành Phật thì phải rõ chúng sanh, không rõ bộ mặt chúng sanh thì không bao giờ thành Phật.”
Có nghĩa là thấy được những tâm niệm sanh khởi, sanh rồi diệt, thấy tột nó, thấy được tận cội nguồn của vọng tưởng, thấy mà không chạy theo, không đắm đuối, không bị chết chìm trong vọng tưởng này, thấy một cách giống như đang nhìn ngắm một dòng sông, quy chiếu lại tức là ông Phật của mình.
Khi Sơ Tổ Trúc Lâm thành đạo, đầu tiên Ngài xuống núi lập pháp hội. Khi Ngài đang chuẩn bị giảng pháp thì có ông tăng bước ra thưa:
– Tôn giả tu hành ở núi 5 năm chứng được mấy thông?
Tổ nói:
– Chứng được sáu thông.
Ông tăng nói:
– Năm thông kia gác qua một bên, con chỉ hỏi một thông thôi. Thế nào là tha tâm thông?
Sơ Tổ Trúc Lâm liền nói:
– Đầy cả quốc độ, có bao nhiêu thứ tâm Như Lai đều biết, Như Lai đều thấy.
Tu thiền là vậy đó, quốc độ của mình bao nhiêu thứ tâm mình biết hết. Như Lai là bản thể, Như Lai đều biết Như Lai đều thấy không sót. Đó là tha tâm thông của nhà thiền. Còn tha tâm thông của các vị Phạm Chí ngoại đạo thời Đức Phật không có dính dáng gì tới đạo Phật.
Khi Quốc Sư Huệ Trung từ trên núi trở về được vua Đường Đại Tông phong làm Quốc sư, một hôm vua đến nói:
– Hôm nay có một vị tăng từ Thiên Trúc đến, gọi là Đại Nhĩ Tam Tạng, chứng được tha tâm thông, xin Quốc sư đến diện kiến, coi vị ấy chứng đến cảnh giới nào.
Quốc sư Huệ Trung đến gặp:
– Nghe nói ông chứng được tha tâm thông phải không?
– Chẳng dám.
Người có tha tâm thông thì mình ngồi đây suy nghĩ chuyện trên trời dưới biển gì người đó cũng biết. Lúc này Quốc sư ngồi yên, Ngài hỏi:
– Hiện bây giờ ông thấy lão Tăng ở đâu?
– Hòa thượng là Thầy một nước, sao lại đứng trên cầu Tây Xuyên xem đò đua?
Ngài hỏi tiếp:
– Hiện bây giờ ông thấy lão Tăng ở đâu?
– Hòa thượng là Thầy một nước, sao lại ở trên cầu Thiên Tân xem khỉ giỡn?
Quốc sư lại hỏi:
– Hiện bây giờ ông thấy lão Tăng ở đâu?
Vị tăng kia tìm hoài không thấy. Ngài quở:
– Dã hồ tinh! Giờ này tha tâm thông nằm ở đâu?
Vị tăng hoảng sợ vội bỏ đi mất. Tại sao hai lần, một lần thấy Quốc sư xem đò đua, lần thứ hai thấy xem khỉ giỡn? Bởi vì Ngài duyên vọng tưởng, cái thức vọng đến chỗ đó, ông kia thấy, mà thấy cái gì? Thấy cái bóng thôi. Đến lúc Quốc sư hiện ra hình của Quốc sư thì ông không thấy. Người tu thiền chính thống chỉ cần đến nắm lỗ mũi, kéo mạnh, Quốc sư “à” một tiếng, hiện tiền! Rõ ràng Quốc sư ngồi sờ sờ đó mà không chịu thấy.
Đến cảnh giới bặt hết vọng tưởng rồi thì ngài Dược Sơn Duy Nghiễm nói ngàn thánh cũng không thấy. Các ngài còn nói mạnh hơn nữa: mắt Phật xem cũng không được.
Kim Bích Phong hết hạn tuổi thọ trên dương trần, Diêm Vương sai quỷ sứ đến bắt mà tìm ngài không ra. Hỏi ông thổ địa thì thổ địa nói:
– Thiền sư Kim Bích Phong này quý cái bát ngọc lắm, chỉ cần đến khua cái bát là ngài xuất định.
Quỷ đến khua bát kêu leng keng. Sư nghe tiếng cái bát động liền xuất định. Quỷ sứ vỗ tay:
– Xin ngài theo tôi.
Thiền sư Kim Bích Phong biết do tâm tham ái cái bát làm mất đi huệ mạng, ngài liền đập vỡ cái bát, nhập định trở lại. Trước khi nhập định, ngài nói bài kệ:
Nếu người muốn bắt Kim Bích Phong,
Trừ khi sắt luyện khóa hư không.
Nếu hay khóa được hư không ấy,
Trở lại bắt ta Kim Bích Phong.
Khám phá chủ nhân của chính mình là chỗ đó, còn những cái bên ngoài chỉ là bóng dáng phù phiếm.
Trong kinh Nguyên Thủy, Tôn giả A Nậu Lâu Đà sáng sớm gặp Tôn giả Xá Lợi Phất nói:
– Buổi sáng em nhìn thấy một ngàn tiểu thiên thế giới, hai ngàn tiểu thiên thế giới, ba ngàn tiểu thiên thế giới.
Tôn giả Xá Lợi Phất nói:
– Đó chỉ là vỏ cây thôi.
– Thế nào là lõi cây? Tôn giả A Nậu Lâu Đà hỏi.
Tôn giả Xá Lợi Phất khai thị:
– Khám phá ra bộ mặt xưa nay của mình, nhận ra ông chủ của chính mình, hay nói khác hơn là chuyển tham sân si thành giới định tuệ.
Mục đích tu của mình là gì? Để nhận ra ông chủ. Đó là con đường thiền tập.
– Con đường hiểu biết và thương yêu cũng phải bắt đầu bằng thiền tập.
Khi có thiền tập, bắt đầu mình mới có tâm thông cảm với người và có tâm tha thứ cho người khác. Mình hiểu người đó có mong muốn điều gì thì mới thương họ, còn mình không hiểu mình không thương.
III. Vị thầy vĩ đại của chính mình chính là bạn ngồi yên nhìn rõ bản chất của tâm mình.
Dầu cho người nào nói hay cách mấy, nói cái gì đi nữa, cũng là nửa đường thôi. Ông thầy của mình chính là ngồi yên lại ngắm nhìn năm dòng sông ngũ uẩn của chính mình.
– Khám phá nội tâm không phải đợi trốn chạy mà là một cuộc cách mạng chuyển hóa lớn.
Mình chuyển hóa nội tâm, chuyển hóa những tập khí xấu ác của mình không những đời này mà nhiều đời nữa. Cho nên cần phải có sự nỗ lực, tinh tấn và chuyên cần.
Sở dĩ chúng ta tu thiền là vì nội tâm của chúng ta giống như một nhà kho chứa đựng đủ thứ tạp dụng.
Trong thân ngũ uẩn của mình giống cái nhà kho chứa đủ hết: buồn, thương, giận, ghét, tật đố, ích kỷ, xan tham. Mình tu như thế nào đó để chuyển hóa nó, đào thải ra, đến một lúc nào đó gọi là Không Như Lai Tàng tức là cái kho trống không. Cái kho trống không thì khi chết, lấy gì dẫn mình đi được nữa.
Cho nên bài học đích đáng nhất của kiếp người là khi chúng ta còn sống biết được Phật pháp để vận hành, hóa giải nội tâm, hóa giải những tập khí xấu ác, để một ngày nào đó chúng ta từ giã cuộc đời này ra đi, thì những thứ này không bám víu mình được nữa, vì xong xuôi hết rồi. Mình đến trong cuộc đời này giống như đến một cái quán trọ vậy thôi, hoặc nói khác hơn giống như đi nghỉ mát. Người giàu đi nghỉ mát thì ở khách sạn năm sao, vừa vừa thì bốn sao, ba sao, còn người nghèo thì ngàn sao, tức là ngủ giữa trời, cũng xong một kiếp người!
Khi chúng ta ở trong quán trọ này rồi thì chúng ta phải biết đâu là ngôi nhà thật sự, biết quán trọ này là gì, ai đến quán trọ này trú ngụ và chúng ta đến đây để làm gì. Chỉ cần nhiêu đó là chúng ta thức tỉnh và đoạn đường này chúng ta sẽ đi.
– Mục đích tu thiền là chuyển hóa mọi cá nhân.
Khi chuyển hóa mọi cá nhân tức là chuyển hóa vạn loại, nếu chuyển hóa mình được. Vừa rồi có cô Phật tử chia sẻ với chúng tôi là cha cô mất, các vị Hòa thượng lớn nói muốn hồi hướng cho ông là phải nhập thất. Đúng chứ không phải sai. Bởi vì khi mình bị thiếu nợ thì việc đầu tiên là nhớ đến người con nào giàu có để nó có thể giúp mình. Cũng vậy, khi chúng ta tu tập về thiền định, nếu người thân chưa siêu thoát mà còn gá vào thân trung ấm trải dài bốn mươi chín ngày, theo tinh thần hệ Đại thừa, thì khi chúng ta thiền tập, thần thức của người thân đến. Nếu mình tu tập mà có tâm lượng lớn thì ngay trong giờ phút đó phát ra năng lực, người đó cảm thụ được năng lực này, họ phát khởi tín tâm, có niềm vui tịnh tín tức là siêu thoát.
Trong sử có ghi, khi vua Hương Chí mất, những người anh khóc lóc còn Tổ Bồ Đề Đạt Ma ngồi ngay chỗ quan tài. Gần đây có những vị Hòa thượng tịch, mà theo tinh thần của thiền phái, thì những vị đệ tử không có tụng kinh nhiều, chỉ ngồi thiền xung quanh quan tài, đó là chuyển hóa mỗi cá nhân.
– Nhờ thiền tập, càng ngày ta càng nhận rõ chính mình.
Nhờ thiền tập, những tật xấu, những tâm niệm không tốt hiện khởi ra hết, như hiện trên màn hình tivi lớn, nhìn thấy rõ để chuyển hóa. Mà chỉ nhờ thiền tập thôi, không có con đường nào khác. Không phải tôi tu thiền tôi khuyến khích quý Phật tử, mà nó là như thế.
Có một cô Phật tử hỏi tôi như vầy:
– Thưa Thầy, có những lúc nỗi buồn khủng khiếp ở đâu ập đến, con muốn về Việt Nam, bỏ hết tất cả, thậm chí có lúc con muốn chết cho xong. Cũng có những lúc niềm vui đến mà con không thể tưởng tượng. Thưa Thầy như vậy do nguyên nhân gì?
Tôi nói:
– Con người mình đi bằng nghiệp lực, khác với Phật và Bồ-tát đi bằng đại nguyện lực. Đi bằng con đường nghiệp lực thì mang cái thân là tổng báo trong đó có thiện và ác. Tôi đã từng cứu một số người tự tử mà họ nói không biết vì sao họ lại nhảy xuống sông. Là vì mang cái thân tổng báo này có thiện có ác. Từ vô lượng kiếp trải dài trong sanh tử, có lúc làm thiện, có lúc làm ác. Nhân làm ác bây giờ quả chín muồi rớt đúng cái nhân cái duyên, ngày tháng năm đó tự nhiên mình buồn. Còn niềm vui đến là do nhân thiện mình gieo, bây giờ quả thiện chín muồi, rụng ngay thời điểm đó.
Ngộ đạo cũng phải đúng thời tiết nhân duyên mới đến. Đúng thời tiết nhân duyên thì giống như khát được uống, đói được ăn. Thời tiết nhân duyên là gì? Là ngày tháng năm trước đó đã tạo nghiệp thiện pháp, cái duyên của người này, đúng giờ khắc này, họ tọa thiền hoặc là bắt gặp hoa hồng, hoa đào gì đó, tâm chợt lóe lên – bùng vỡ – ngộ.
Tôi hỏi quý Phật tử, bây giờ mình ngồi ở đây, xe hơi có vào tông mình được không? Ngồi đây xe không tông được, nhưng chu kỳ nghiệp đến thì mình ngồi đây cũng gặp nạn. Ngồi đây mà như ngồi trên đống lửa, tâm tư khó chịu dằn vặt, hối hận về việc gì đó. May mắn nhờ tu tập, ngồi thiền ở thiền đường, mình trả nghiệp bằng tâm thức. Còn có những người ngồi đây cảm thấy được an ổn, được khinh an, nhận diện ra được mặt thật xưa nay của họ là gì thì đó là cái duyên, cái quả thù thắng chín muồi đến, chỉ đơn giản vậy thôi.
Cho nên phương pháp thiền tập này là gì? Ngồi yên ngắm nhìn năm dòng sông ngũ uẩn để chuyển hóa nghiệp lực. Tổ Đạt Ma nói: “tâm tịnh, nghiệp tự tiêu”. Khi còn sống nghiệp mình tiêu thì khi chết nghiệp không đến, vì trả rồi, hóa giải xong hết rồi. Thọ mạng dài chừng nào mà biết tu thì tốt chừng đó, bởi vì con đường còn dài, tu một năm đỡ một năm, tu hai năm đỡ hai năm.
– Nhờ thiền tập, sự kiêu ngạo giảm dần và lòng từ bi từ từ hé mở.
Mình thấy trên đời này không ai bằng mình, thấy mình là bác sĩ, kỹ sư, tiến sĩ… Nhưng thiền tập một thời gian, mình thấy mình nhỏ bé. Phải đạt đến chỗ không còn ngã nữa, và lòng từ bi hé mở ra.
– Nhờ thiền tập, tâm trí ta trở nên tĩnh tại và bình thản, cuộc sống của chúng ta giống như một dòng sông trôi chảy.
Tức là không mắc bên này, không mắc bên kia, tự tại. Nhờ tu thiền tâm được bình thản, không có chuyện gì phải gấp rút lo lắng, mọi chuyện từ từ làm rồi cũng xong. Thí dụ, đang đi gặp đèn đỏ nhiều người rất nôn nóng, mà nôn nóng cách mấy cũng phải chờ đủ thời gian mới đến đèn xanh, vậy nôn nóng chi cho mệt. Người biết tu thiền ngay trong giờ phút đó sẽ hít thật sâu thở thật nhẹ, bình thản, an ổn là tu rồi.
– Thiền tập đúng pháp giúp chúng ta đối diện những thăng trầm của đời sống.
Quý Phật tử khám phá đời sống thăng trầm nghịch duyên lên xuống cũng rất hay, thuận duyên cũng vui mà nghịch cảnh đến cũng vui, đó là nhờ tu thiền.
– Nhờ thiền tập ta có chánh niệm trong từng bước đi, từng hơi thở, từng lời nói, từng công việc tỉnh thức hơn ngày xưa.
Người tu thiền một thời gian từng tướng đi, từng hơi thở ra vào đều ở trong trật tự. Mình sống ở trong trật tự thì khi chết cũng đi theo chiều hướng trật tự, tức là không đi lầm đường. Đó là nhờ thiền tập.
IV. Tỉnh thức, thiền tập là chìa khóa mở tung những kho tàng vô tận trong tâm ta
Tỉnh thức có năng lượng soi sáng vạn vật muôn loài. Tỉnh thức ví như ánh nắng mặt trời, cây không có ánh mặt trời cây sẽ chết. Khi chúng ta tỉnh thức, giống như năng lượng mặt trời soi hết tất cả để không lầm đường lạc hướng. Tỉnh thức ví như muốn nấu cơm phải có lửa, nấu nồi cơm điện phải có điện, máy bay hay phi thuyền bay được phải có xăng. Năng lượng tu thiền giúp ích cho chúng ta đến trong cuộc đời này và ra đi được bình thản an ổn.
Trong bài kệ Ma Ha Diễn, Phật dạy:
Thiền là kho trí huệ,
Ruộng phước của công đức.
Lục Tổ nói tự tánh thường sanh trí huệ, tức là phước điền.
Tu thiền trí huệ sanh,
Bỏ thiền trí huệ diệt.
Ai sống một trăm năm,
Ác tuệ không thiền định,
Tốt hơn sống một ngày,
Trì giới tu thiền định.
Một ngày một đêm thôi không cần nhiều. Như vậy quý Phật tử đến đây tu tập ba ngày ba đêm lời chưa? Quá lời rồi! Mình sống chỉ một ngày một đêm mà có giới tu thiền định thì tốt hơn người sống một trăm năm không có trí tuệ mà chỉ có ác tuệ, tức là suy nghĩ việc này việc kia toàn là vọng tưởng.
Cho nên thiền là kho trí tuệ, ruộng phước của công đức; thiền như nước trong sạch, công năng rửa sạch bụi. Tâm Phật của mình bị che bởi bụi phiền não, bụi cấu nhiễm, chỉ có nước thiền định mới rửa được.
Kinh Tương Ưng Bộ kể:
Có ông Bà-la-môn Tịnh Thí Hành sáng trưa chiều ai cũng thấy ông xuống sông Hằng tắm. Một hôm Đức Phật hỏi tại sao ông xuống sông Hằng tắm đều đặn như thế. Ông nói nếu buổi sáng ông làm ác thì buổi chiều ông xuống tắm, buổi chiều mà làm ác thì buổi tối xuống tắm cho hết tội.
Phật nói:
Chánh pháp là ao hồ,
Giới là bến nước tắm,
Trừ cấu uế trong tâm,
Được người lành tán thán,
Đời này và đời sau.
“Chánh pháp là ao hồ”, nghĩa là nghe thấm những lời dạy trong kinh điển từ ngàn xưa Đức Phật để lại, gọi là văn, tư, tu. Biết đây là con đường chánh pháp, tức là đang bơi lội trong chánh pháp, đang uống tận đầu nguồn của giọt nước chánh pháp.
“Giới là bến nước tắm”, nghĩa là mình giữ năm giới, mười giới, hai trăm năm mươi giới. Nhờ nghe chánh pháp, nhờ tu thiền định mới rửa hết những cấu nhiễm, chứ tắm không bao giờ hết. Tắm chỉ hết đất dơ trên thân thể thôi, còn muốn rửa tâm dơ là phải nhờ đến thiền định.
Thiền như nước trong sạch,
Công năng rửa sạch bụi,
Thiền là giáp kim cương,
Ngăn chặn tên phiền não.
Có người nói, người tu tịnh độ có xâu chuỗi, còn tu thiền không có gì hết. Tôi nói có chớ: cung thiền định, kiếm trí tuệ.
Tuy chưa chứng vô vi,
Quả Niết-bàn có phần.
Tuy là chưa chứng nhưng mà chắc chắn quả Niết-bàn có phần.
Được kim cang tam muội,
Đập tan núi kiết sử,
Chứng được lục thần thông,
Độ chúng sanh vô lượng.
Bụi trần che vầng dương,
Mưa lớn đều trôi sạch,
Gió giác quán động tâm,
Thiền định ngăn lặng gió.
Giác quán cái thấy biết, thấy biết trên cái thấy biết nhưng nhờ thiền định mình ngăn lại được cái thấy biết đó. Ở đây nói “được kim cang tam muội, đập tan núi kiết sử” nhờ thiền định. Tam muội tức là chánh định chánh thọ. Đạt được chỗ chánh định chánh thọ sẽ được năng lực tự tha thọ dụng thân. Được cái đó rồi phá được núi kiết sử, cho nên trong chỉ có quán, trong định có tuệ. Xuyên suốt định và tuệ đó gọi là tam muội, gọi là tự tha thọ dụng thân, là lên hàng Thập địa Bồ-tát. Tu thiền có túc duyên nào đó mình lọt vào được một lần thôi thì phá tan núi kiết sử.
Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ nói:
“Một lần buông xuống một lần lên.”
Đây gọi là được kim cang tam muội. Tam muội là chánh định, chánh thọ; kim cang là cứng chắc mới đập tan núi kiết sử. Bản ngã của mình đập biết bao giờ mới hết, biết bao giờ mới xong. Sử là sai khiến, cột trói; sai khiến mình làm việc này làm việc nọ, ý nghĩ lung tung.
Chứng được lục thần thông, độ chúng sanh vô lượng. Mình có nhân có duyên với chúng sanh vùng đó, xứ sở đó, mình nói họ mới nghe, còn không có duyên nói không nghe. Khi đạt đến chỗ này rồi thì bắt đầu mới thi thiết các phương tiện thiện xảo, bắt đầu độ chúng sanh. Độ chúng sanh không phải chỉ là giảng pháp mà rất nhiều phương tiện thiện xảo, làm như thế nào đó để bứng cái gốc khổ của họ, đưa họ vào con đường thiền định, làm cho họ bớt khổ được an vui, đó là trách nhiệm của các vị Bồ-tát. Nhưng phải có nhân có duyên với những người đó, gọi là nhân duyên độ sanh.
Bụi trần che vầng dương, mưa lớn đều trôi sạch. Bụi trần che vầng dương tức là che tâm Phật của mình, nhờ tu thiền giống như một trận mưa lớn dội xuống trôi sạch hết. Cho nên tôi khuyến khích quý Phật tử về nhà cố gắng ngồi thiền nửa tiếng, giỏi hơn nữa thì ngồi 45 phút hoặc một giờ, hai giờ. Mình phải có thời khóa, tối sáng công phu tu tập như thế nào. Có những người nói con bận bịu quá. Bận bịu chẳng lẽ không có nửa tiếng hoặc mười lăm phút để ngồi thiền?
Quý Phật tử ráng cố gắng trân trọng!