SỨC MẠNH CỦA THIỀN

I. Dẫn nhập
Hôm nay chúng ta học bài pháp chuyên sâu về thiền tập. Trước khi đi vào phần chính, chúng tôi xin chia sẻ hai câu chuyện: chuyện thứ nhất là chuyện thời xưa, chuyện thứ hai là chuyện thời nay. Hai câu chuyện đều kể về năng lực, sức chịu đựng cũng như cách đối phó khi gặp cảnh khổ hoặc nghịch duyên của những người tu thiền.
Câu chuyện thời xưa:
Trong quyển Cái Dũng Của Thánh Nhân kể câu chuyện:
Chúa tể các vị Thần thấy tất cả các vị thần trên trời ai cũng cho mình là mạnh hơn cả, không ai chịu nhường ai, nên một hôm họp hết tất cả các vị thần để coi ai là người mạnh nhất. Một vị thần bước ra, ông vừa chỉ lên trời thì sấm chớp nổi lên ầm ầm, tất cả các vị thần khác đều hoảng sợ. Họ đinh ninh vị thần này có sức mạnh hơn hết. Bỗng vị thần khác bước ra, vừa chỉ xuống biển thì sóng nổi lên cuồn cuộn làm ai cũng sợ hãi và công nhận sức mạnh của vị thần này. Vị thần thứ ba xuất hiện, ông cũng chỉ tay lên núi làm những ngọn núi nổ tung rồi núi lửa phun lên.
Cả ba vị thần đều có sở trường của mình, ai cũng có sức mạnh và không thể phân định ai mạnh nhất. Thượng Đế ngồi trên cao nhìn xuống phát hiện ra có một người ngồi yên tịnh, sắc mặt không biến đổi khi sấm nổ, khi động đất, khi sóng thần cuộn đến. Thượng Đế nói vị thần này là người mạnh nhất, vì vị thần này có cái dũng của bậc thánh nhân.
Nên vua Lý Thánh Tông trước khi đi bình loạn giặc biên cương nói với Vương phi Ỷ Lan.
Vạn biến như lôi
Nhất tâm thiền định.
Cũng vậy, đại chúng nhớ lại năm 2012 người ta nói sẽ tận thế. Nhiều người nhốn nháo, sợ hãi nhưng những người chuyên sâu tu thiền họ bất động không hề lo sợ.
Tôi có người thân kể lại, khi qua Nhật du lịch ông ở một khách sạn nọ. Tối đêm đó có động đất, khách sạn rung lắc ai cũng lo sợ tìm chỗ nấp, nhưng có người nọ ngồi yên bất động. Khi cơn động đất đi qua, người ấy được hỏi sao vẫn bình tĩnh không sợ hãi, ông nói nhờ Zen. Zen tức là thiền.
Hôm nay chúng tôi muốn gởi cho quý Phật tử đề tài: Sức Mạnh Của Thiền.
Hỏi thật quý Phật tử, ở đây ai cũng nhận mình là đệ tử tông môn Hòa thượng Trúc Lâm, mà có ai thật tu đúng con đường của Hòa thượng chỉ không? Hay là mình xào một món ăn mình thấy hơi lạt, mình bỏ chút muối, chút tiêu, chút bột ngọt cho ngon.
Lục Tổ nói:
“Phật nói tất cả pháp để trị tất cả tâm, còn ta vô tâm thì không cần tất cả pháp.”
Pháp nào cũng của Phật dạy, mình chưa vô tâm thì mình cần phải tu tập một pháp nào đó trong tất cả các pháp mà Đức Phật đưa ra. Một pháp thôi không cần nhiều, mà mình chuyên sâu thì mới thấy giá trị của phương pháp vận dụng. Khi vận dụng tu tập thì có diệu lực từ bản thể. Đại chúng nên nhớ, một cú đấm trực diện có sức mạnh hơn là phải đi vòng. Mình muốn có năng lực, có sức mạnh của thiền để đối diện và vượt thoát các phiền não trong cuộc sống giữa đời thường thì mình phải chuyên sâu về thiền.
Người đời có câu: “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, một đời tinh xảo một nghề thì thân mình vinh hiển. Có ông Phật tử làm việc cho tôi. Ông làm thợ mộc, thợ hồ, thợ điện, thợ máy, nghề gì ông cũng biết mà đến nhà ông nhìn lên thấy sao trên trời! Nhiều nghề quá ông nghèo luôn.
Ở đây ai thích kim cương giơ tay lên? Hôm nào tôi cho quý Phật tử viên kim cương lớn, mà kèm theo điều kiện là không được đeo trên tay, phải gắn vô tròng con mắt. Ai dám nhận tôi cho liền. Cho nên có thiền sư nói, mạt vàng tuy rất quý nhưng rớt vào trong con mắt nó cũng xốn.
Một vị ở bên Úc có bằng tiến sĩ, bằng bác sĩ và đã tu pháp của Sư Ông Trúc Lâm từ năm 1980. Một hôm ông trình Sư Ông biểu đồ trên não của người tu thiền để Sư Ông chỉ dạy. Sư Ông chỉ nói một câu: “Bổn lai vô nhất vật”. Ông về đốt hết những tư liệu mà ông tìm tòi nghiên cứu ba, bốn năm trời. Mình đi sâu vào con đường thiền mới thấy giá trị tu tập của thiền định, chỉ cần một pháp thôi.
Lý Tiểu Long giỏi là nhờ chuyên tập chân đá. Ngày nào cũng tập trong suốt nhiều năm, nên đá là không ai đỡ được. Còn mình tập nhiều quá, đá rồi móc, tùm lum hết! Võ thuật, tu đạo cũng gần giống nhau thôi. Có duyên tu Tịnh độ thì về chùa ngồi niệm Phật, có duyên tu thiền thì về thiền viện ngồi thiền. Pháp nào cũng đều là của Phật. Để có sức mạnh thì chỉ một phương pháp duy nhất mình tu. Thực tập kiên trì và trường viễn thì mới thấy được giá trị của sự tu tập, chớ còn nay pháp này mốt pháp kia, rồi nói sao tu không có kết quả. Cây đem dùi lấy lửa, chuẩn bị có lửa thì bỏ đi vòng vòng, không thấy kết quả lại vô dùi tiếp. Phật tử Việt Nam mình bây giờ đang vướng vào tình trạng này.
Trong bài Tâm Quyết, Đại Đăng Quốc Sư nói:
“Tất cả 1.700 tắc công án hoặc là đề mục dành cho thiền sinh hiến cả thân mình chỉ cốt làm cho họ thấy được bản lai diện mục.”
Tức là dầu cho 1.700 tắc công án, những ngữ lục hay bất cứ gì Đức Phật nói ra, mục đích là nhận ra con người chân thật của mình gọi là bản lai diện mục.
Cho nên mình tu phải có thực tiễn và khoa học. Nắm rõ được yếu quyết của sự tu hành rồi thì chúng ta cứ đi. Mình tu phương pháp thiền, đặc biệt là không đợi ngộ, cứ gieo nhân Phật thì quả Phật sẽ đến. Vấn đề ngộ đạo không tính không gian và thời gian, vì không gian và thời gian là con đẻ của ý thức. Nhận được bản lai diện mục rồi thì vượt thoát không gian và thời gian, cho nên không tính một đời hay hai đời gì hết. Mà thử hỏi có ai mạnh dạn đi thẳng một con đường này.
Ngài nói tiếp:
“Đức Thế Tôn ngồi thiền trong núi tuyết sáu năm, nhìn thấy sao mai giác ngộ tức là thấy được bản lai diện mục.”
Tức là quy chiếu lại, không phóng ra ngoài tìm cầu.
Thiền sư Đạo Nguyên nói khi ngồi thiền là đang làm Phật. Mình nghe kinh là nghe lời Phật, giữ được năm giới là hạnh Phật, ngồi thiền là tâm Phật; trọn một ngày như vậy là quá đủ. Hiểu ra rồi mới thấy giá trị khi chúng ta được sanh làm người, được gặp chánh pháp, được tu học đúng con đường. Con đường này không phải Hòa thượng chỉ ra mà Ngài khơi nguồn, giống như khơi nguồn con sông hay con suối bị bít lấp.
Có một vị thầy khi giảng nói rằng, người ngồi thiền để cây đèn phía trước gọi là thiền đăng, nói ngược lại là thằng điên. Tôi nói với ông thầy đó:
– Ông nói như vậy không phải là ông chê những người tu thiền mà ông đang phỉ báng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngài tu thiền Ngài ngộ đạo, ông phỉ báng, ông đọa địa ngục.
Ông hoảng hồn:
– Vậy mà sao tôi nghĩ không ra.
– Nếu nghĩ ra thì ông đâu có nói. Đầu óc ông cạn lắm. Ông không nhìn xa là vị nào tu tập được con đường thiền này để thành tựu Phật quả rồi phương tiện thiện xảo chỉ dạy cho tất cả chúng sanh. Ông nói như thế là chết ông rồi, là ông phỉ báng Phật chớ phỉ báng ai!
Mình sinh ra làm người, có đầu óc để nhìn xa trông rộng. Khổng tử nói: “Người có cái nhìn xa thì không có cái buồn gần.” Buồn gần là gì? Là mình cứ trạo cử về một vấn đề, sao mà tu yên được. Ở đây ý chúng tôi muốn nói là khi mình thẩm thấu về một pháp nào rồi, có chỗ chứng nghiệm mới có quyền nói. Còn mình chưa tu lần nào thì đừng có nói, kể cả những người tu thiền, đừng nói qua những pháp môn khác mà mình chưa bơi lội trong đó.
Tại sao Đức Phật nêu bày cho các hàng ngoại đạo Phạm Chí? Vì Đức Phật đi qua hết. Không những đi qua mà Đức Phật còn chứng nghiệm vào cảnh giới, từ Sơ thiền đến Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, Tứ không, Bát định. Năm năm tầm đạo Đức Phật qua hết, sáu năm khổ hạnh Đức Phật qua luôn. Có nghĩa là mình muốn nêu bày một pháp nào đó, mình phải bơi lội trong giáo pháp đó, chứng nghiệm, uống tận đầu nguồn của nó thì mới dám bàn luận.
Khi Đức Phật ngồi thiền thấy sao mai mọc nhận ra được bản lai diện mục. Khi cổ nhân đại ngộ hay có một bùng vỡ lớn nghĩa là họ thấy được bản lai diện mục, tức là mặt mày xưa nay. Như vậy mặt mày xưa nay là gì? Ai chỉ ra được? Người xưa nói: Rất là gần mà cũng rất là xa. Chỉ cần khéo một chút thì chúng ta thấy rất là gần, mà không khéo thì con đường nó xa diệu vợi.
Ngài nói tiếp:
“Nhị Tổ đứng trong tuyết chặt cánh tay để cầu giác ngộ. Lục Tổ nghe một câu trong kinh Kim Cương rồi chứng ngộ. Ngài cũng tha thiết về đạo vô thượng, về đạo diệu thượng, về con đường thiền tu tập để cầu phương pháp nên ngài chặt cánh tay.”
Người xưa xả thân cầu pháp, còn mình xả chút ít thời gian. Bây giờ pháp thì có sẵn, phương tiện tất cả mọi cái đều sẵn sàng cho mình hết để mình tu thôi.
“Linh Vân chứng ngộ khi thấy hoa đào nở. Hương Nghiêm lúc nghe tiếng sỏi chạm vào bụi tre. Lâm Tế bị Hoàng Bá đánh. Động Sơn khi thấy hình mình in dưới nước, tất cả đều là bắt gặp vị chúa tể hay là chủ nhân ông.”
Cho nên khi các ngài nhận ra được rồi thì có người khóc, có người cười.
“Thân là nhà và phải có một ông chủ. Chủ nhà được hiểu là bản lai diện mục.”
Mình mang thân ngũ uẩn là cái nhà, mà trong cái nhà này thì phải có ông chủ. Có một vị thiền sư tên là thiền sư Nhan. Ngài ngồi tu trên tảng đá, công phu nhàn lắm, thỉnh thoảng Ngài tự gọi: “Ông chủ!”, rồi ngài: “Dạ!” Ngài dặn: “Tỉnh tỉnh đừng để ai lừa.” Tự Ngài tự gọi, tự đáp.
Người tu thiền mà để mất ông chủ, như bỏ cái nhà trống, không có ông chủ thì một lúc nào đó người ta mượn nhà mình ở. Cho nên lúc nào cũng phải có ông chủ, tức là lúc nào cũng có cái rõ biết sáng suốt, tịnh cũng biết động đều biết, có cũng biết không cũng biết, cái biết của mình luôn luôn sáng suốt tức là có ông chủ.
“Biết được nóng lạnh, hay cảm thấy thiếu thốn, hoặc là có những ham muốn, tất cả đều là những vọng tưởng, không phải là chủ nhân thực sự của ngôi nhà.”
Tại sao Ngài nói, biết được nóng lạnh cũng là vọng tưởng? Bởi vì biết được nóng lạnh mà thêm cái biết nữa. Mình truy cầu, thèm khát, mong muốn thì đó là vọng tưởng. Chẳng hạn trưa nay ngồi ăn, bỗng mình khởi niệm thức ăn hôm nay nấu dở quá. Khi khởi lên niệm “nấu dở” thì ngay đó mình sanh tâm phiền não. Tâm phiền não ô nhiễm chính là vọng tưởng, không phải là chủ nhân. Còn mình biết rõ ràng thức ăn nấu dở nhưng bình thản cứ ăn, không dấy tâm động niệm trên tướng mà sanh tâm thì đó gọi là “nên không chỗ trụ mà có cái tâm hằng biết”. Đơn giản vậy thôi, đâu phải ngồi thiền mới tu. Đi đứng nằm ngồi chỗ nào cũng tu được.
“Những vọng tưởng này là một cái gì được thêm thắt vào và tan biến theo từng hơi thở lôi chúng ta xuống địa ngục và sáu nẻo luân hồi.”
Mình ngồi thiền mà cứ chạy theo vọng tưởng! Một vọng tưởng khởi lên mình chạy theo, đắm đuối theo nó, rồi mình thêm thắt, từ thêm thắt đó mình tạo những hạt giống, những hạt giống năng lượng này chính là con đường khi chúng ta từ bỏ cuộc sống thế nhân. Chính những vọng tưởng chúng ta nuôi hằng ngày sẽ dẫn dắt mình xuống ba đường sáu nẻo. Nơi nào nặng thì nơi đó nợ đến đòi trước. Tổ Quy Sơn dạy:
“Như lưới thủng chim bay, thức tâm theo nghiệp, nặng đâu thì sa đó.”
Cho nên người tu thiền khi còn sống đã thực tập phương pháp buông các vọng tưởng, không chạy theo nó chớ không đợi chết, chết là muộn rồi. Hiện diện trong cuộc đời này là chúng ta đang đối diện sanh tử. Chỉ có một lần thôi, ngay đương niệm, ngay sanh tức là tử, ngay tử tức là sanh chớ không phải đợi chết mới là tử. Khi ngồi thiền là chúng ta đối diện cái cảnh mà chúng ta chuẩn bị từ giã cuộc đời này.
“Tiếp tục tọa thiền càng sâu, càng sâu mãi thì chúng ta mới biết được căn nguyên của vọng tưởng là gì.”
Ngày xưa chúng tôi thắc mắc, nói Hòa thượng cho ngồi chi hai tiếng. Mà đúng là chúng tôi cảm ơn Hòa thượng, càng ngồi sâu, sâu mãi mình mới thấy được nguồn gốc của vọng tưởng là gì. Truy tận nguồn gốc nó không là gì hết, tức là tâm mình được an. Mình ngồi nửa tiếng: chuẩn bị vô khởi động hết mười phút rồi, hô thiền năm phút nữa chỉ còn mười lăm phút. Cho nên mình ráng cố gắng tạo điều kiện để tiếp tục tọa thiền. Chẳng hạn một cái thư viện sách lớn bây giờ chỉ cần một con chip là đủ, nhưng mình vào chỉ thấy con chip mà không thấy sách thì đây không phải thư viện, thư viện thì phải có sách. Tọa thiền cũng như thế. Đi cũng thiền, đứng cũng thiền, nằm cũng thiền mà hỏi mình tu thiền, biết ngồi thiền hay không? Mình không biết, vậy tu thiền cái gì?!
Tôn giả A Nan bạch với Đức Phật:
– Bạch Đức Thế Tôn, Thế Tôn đã thành tựu quả vị vô thượng bồ đề, phước lực vô biên, công đức sâu dày mà sáng, trưa, chiều lúc nào Thế Tôn cũng ngồi thiền làm gì?
Đức Phật nói:
– Như Lai ngồi thiền: thứ nhất để cho sức khỏe tăng trưởng, thứ hai là răn nhắc cho đời sau.
Tôi thấy phương pháp tu thiền mà mình tu kỹ rất là hay. Vừa rồi khi qua Úc mở khóa tu, tôi bị nhiễm lạnh, phần do di chuyển nhiều cộng với những năm tháng tôi ở Canada dồn lại. Tôi đi khám, bác sĩ nói:
– Thầy bị bệnh này lâu năm, người thường là chết rồi mà bây giờ thầy đi giảng vẫn bình thường, như vậy thầy thực tập phương pháp gì?
Tôi nói:
– Ngày xưa ở ngoài đời tôi có dạy khí công, khi vào thiền viện gặp Sư Ông tôi thực tập phương pháp thiền.
Bác sĩ nói:
– Phương pháp này cứu thầy.
Khi Đức Phật chưa ra đời đã có phương pháp thiền, nhưng họ ngồi với mục đích để có sức khỏe và có tâm mong cầu. Còn phương pháp nhà Phật là Vô sở cầu, ngồi để kiểm soát từng tư tưởng không cho nó manh động, không cho nó dính mắc. Mình tu thiền được thì mình có năng lực, có sức mạnh để đối diện cuộc sống thời đại ngày hôm nay.
Tôi để ý thấy một người tu thiền và một người không tu về con đường thiền này, khi họ đi ngoài đường mà gặp đèn đỏ thì thái độ, phản ứng của hai người khác nhau. Người không tu thiền thì bồn chồn, nôn nóng; còn người tu thiền bình thản. Dầu cho mình nôn nóng cách mấy thì cũng đúng giờ đèn xanh mới có. Người tu thiền bình thản, hít sâu thở nhẹ, mỉm cười với tất cả. Tất cả vạn pháp này mình sai sử nó được chớ không phải để vạn pháp sai sử mình. Muốn được như thế mình phải có sức mạnh về con đường thiền. Tu thiền có giá trị lợi ích mình mới bỏ công ngồi tu, chớ không được gì hết thì ngồi tu làm chi.
Một ông quan, chức Tả ty đến hỏi thiền sư Nguyên Không:
– Pháp này chẳng phải là chỗ suy nghĩ đo lường hiểu được thì phải làm sao đạt đến?
Thiền sư nói:
– Toàn thân vào đống lửa.
Chẳng hạn mình bỏ một vật gì đó vào đống lửa, phút chốc nó tiêu hết. Mình đi sâu vào phương pháp mà thiền sư Đạo Nguyên chỉ dạy gọi là chỉ quán đả tọa là đi sâu, đi sâu mãi, toàn thân rơi rụng hết.
Hôm qua khóa tu ở thiền viện tôi, tôi nói Phật tử một tháng đến đây có một ngày, mà hai mươi chín ngày mình lo cho vợ chồng , cho con, cho người thân thì một ngày này mình phải dành riêng cho mình. Riêng cho mình là làm gì? Là bỏ điện thoại đi, đừng xài nữa, một ngày dành cho mình ráng buông đi. Chính cái buông đó là toàn thân vào đống lửa. Mình phải quyết liệt như thế. Suốt một ngày mình lo chuyện mình, đừng nhớ chuyện ngoài mình, đừng nhớ nhà, đừng nghĩ gì hết. Đến thiền viện mình ngồi thiền thì phải đặt hết hùng tâm hùng lực cho buổi tọa thiền.
Cái gì cũng phải đánh đổi. Người muốn lấy bằng bác sĩ họ đánh đổi bảy năm học. Muốn lấy bằng tiến sĩ phải đánh đổi mười hai năm học. Để trở thành một vị võ sư giỏi phải bỏ ra công sức hai chục năm. Mình muốn thành Phật thì mình bỏ bao nhiêu? Ngày xưa tôi đi tập võ thuật còn gian khổ gấp trăm lần tọa thiền, bây giờ ngồi thiền bỏ công sức đâu có bao nhiêu. Những cái học tập kia là còn hình tướng chạy theo bên ngoài, còn việc tọa thiền này chỉ cần quy chiếu về nơi tâm, gần gũi mình quá. Điều này chúng tôi thực hiện được, tôi mới mạnh dạn nói. Cho nên mình đến đây một buổi, mình chặt đứt một buổi, một buổi này dành riêng cho mình bởi vì hai mươi chín ngày mình đã lo cho gia đình rồi. Ngày cuối cùng ai lo cho mình? Con mình có lo cho mình được không?
Bạch Cư Dị xin xuất gia, ông nói sống chết gần kề rồi. Các con ông khóc lóc nói:
– Ba đi xuất gia chi, để tụi con lo.
– Còn sống thì tụi con lo được, lỡ ba chết thì sao mà lo.
– Ba đừng có lo, ba chết tụi con cũng lo luôn.
Một hôm ông giấu cái ấn rồi khóc, nói lỡ làm mất cái ấn vua ban, mà mất ấn là bị xử trảm. Ông hỏi mấy người con:
– Đứa nào chết thay Ba thì đến gặp vua để trình bày.
Ai cũng lắc đầu:
– Mất thì Ba chịu, ai mà thay thế Ba được.
Cho nên ông phát tâm vô chùa ở. Không ai lo được cho mình, chỉ mình lo cho mình thôi, như ngài Huyền Giác nói trong Chứng Đạo Ca:
Thường độc hành thường độc bộ,
Đạt giả đồng du Niết-bàn lộ.
Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ có một câu mà chúng tôi tâm đắc nhất:
“Một lần buông xuống một lần lên.”
Mình ráng buông một ngày hay một buổi thôi.
Chúng tôi tham dự ở các chùa ở Miến Điện, Thái Lan, hoặc Campuchia, đến dù một ngày, một buổi họ đều tịch thu điện thoại. Những người trẻ tuổi ban đầu nói chịu không nổi, đến ngày thứ tư thứ năm họ mới thấy đúng là quá giải thoát, được năm ngày giải thoát không bị ràng buộc gì hết.
Tôi may mắn hay có những khóa tu ở nước ngoài ba tuần, một tháng, rất là đặc biệt. Tôi qua đó giống như nhập thất, mình không liên hệ gì bên Việt Nam mà cũng không ai liên hệ mình. Chính điều đó mình thấy rằng cực chẳng đã có những việc Phật sự, cực chẳng đã là con đường ngày hôm nay chúng ta phải đi nó là như thế. Còn khi quý Phật tử đến chùa, đến thiền viện dự những khóa tu thì buông hết.
“Rốt cuộc làm sao hiểu được?”
Thiền sư nói:
“Cứ đi thẳng.”
Phật tử ngồi thiền đi thẳng hay đi cong cong quẹo quẹo một chút? Ngồi đây mà mình nghĩ chỗ này, chỗ nọ, chưa đi thẳng, quẹo chút chơi rồi mới đi!
“Một tư tưởng thì không có bất cứ hình thể tướng mạo nào, nhưng vì tin chắc những tư tưởng này tồn tại ngay cả sau khi chết nên ta rơi vào địa ngục với nhiều đau thương khổ não trong thế gian này.”
Tức là một vọng tưởng khởi lên không có tướng mạo mà mình cho là tướng mạo có thật nên khi chết nó dẫn mình xuống. Ví dụ mình khởi lên một niệm thương người nào đó, nó không có thật nhưng mà mình vẫn đắm đuối, vẫn dính mắc. Hoặc mình khởi niệm ghét người nào đó, nó cũng không có thật mà nó đeo đẳng mình mãi. Chính những niệm này khi mình chết nó có sức mạnh, có những năng lực dẫn mình xuống ba đường sáu nẻo. Còn đằng này mình quyết định buông nó, không đắm đuối trên cái niệm đó, dùng hết toàn thân năng lực hùng tâm thì khi mình chết nó không làm gì mình được hết.
Cho nên thiền sư Tông Mật nói:
Làm việc có nghĩa
Là tâm tỉnh ngộ.
Làm việc vô nghĩa
Là tâm cuồng loạn.
Cuồng loạn theo tình niệm
Lâm chung bị nghiệp lôi
Tỉnh ngộ không theo tình
Lâm chung hay chuyển nghiệp.
Nên khi chúng ta ngồi thiền là chúng ta đang đối diện những niệm tưởng sinh diệt, để chuyển hóa những niệm tưởng này. Chúng ta phải có sự tỉnh giác trong đương niệm vì pháp tu thiền đốn ngộ là không diệt niệm mà ngay niệm tức vô niệm.
Nên thiền sư Huyền Giác nói:
Vô minh thật tánh tức Phật tánh
Huyễn hóa không thân tức pháp thân.
“Lúc tư tưởng dấy khởi hãy buông đi. Bạn chỉ cần dốc hết sức mình quét sạch mọi tư tưởng tức là thành tựu tọa thiền.”
Tọa thiền là làm thế nào đó để chuyển hóa những vọng tưởng, vọng tâm tức là thành tựu phương pháp tọa thiền.
“Khi tư tưởng được buông bỏ, bản lai diện mục hiện tiền. Tư tưởng giống như những đám mây, khi mây tan vầng trăng hiện, vầng trăng chân thường đó chính là bản lai diện mục.”
Vọng tưởng của mình ngài nói giống như những đám mây, buông bỏ, buông bỏ mãi đừng dính mắc thì mây tan. Một lúc nào đó vầng trăng hiện lên, vầng trăng đó chính là bản lai diện mục. Mình ngồi thiền mỗi lần tư tưởng khởi lên mình phải buông xả đừng theo nó, đừng lấy cũng đừng bỏ. Không lấy không bỏ, đặc biệt là trên niệm đó đừng tác ý, cho nên niệm niệm là Bát-nhã, thảy đều là Chân tâm, lúc nào cũng có Ông Chủ. Nãy giờ quý vị ngồi nghe nếu không có ông chủ làm sao nghe? Đặc biệt là cái nghe và cái bị nghe đồng thời có mặt trong giờ phút thực tại này mà siêu thoát cái chỗ nghe và bị nghe chính là ông chủ hiện tiền. Ngay giờ phút đó công đức mình được viên mãn, được đầy đủ.
Ở đây tôi xin thưa một điều nữa, nếu không nói ra sau này quý Phật tử nói tôi biết mà không nói. Hỏi thật quý Phật tử, các bài pháp từ quý Hòa thượng lớn đến những vị thượng tọa, đại đức mà những vị đó nói ra là pháp của các ngài hay là pháp của Phật? Dù là Tổ Đạt-ma hay chư Tổ, dù phương tiện thiện xảo cách mấy cũng không ra ngoài những lời Đức Phật nói. Đức Phật đã nhập Niết-bàn, bây giờ ai nói pháp này? Chỉ có Tăng thôi. Vị Tăng nào ngồi trên pháp tòa dù nói hay, nói dở cũng là trùng tuyên lại pháp của Đức Phật.
Cho nên có những cái nhỏ mà không nhắc cũng không được. Quý Phật tử vô đây ngồi nghe pháp bỗng nhiên điện thoại reng. Trong giờ phút này mình không thấy gì hết, nhưng trong Luật nói như vậy là mình khinh thường về Pháp, đời sau không được gặp Pháp. Vì vậy tôi khuyên quý Phật tử một điều, khi nghe Pháp mình để điện thoại chế độ rung. Bởi vì Pháp này là của Phật, chư Tăng chỉ có một điều là trùng tuyên lại những lời Phật dạy. Chia sẻ những kinh nghiệm về công phu tu tập cũng không ngoài lời của Đức Phật nói. Quý Phật tử ráng cố gắng thực hiện khi mình đến bất cứ pháp hội nào.
Tôi mở khóa tu bên Úc, người ta đến dự rất đông nhưng khi nghe pháp, con ruồi bay cũng nghe. Mình phải đặt dấu hỏi tại sao ở Việt Nam mình làm không được. Bên đó họ có những khóa tu tôi thấy có kết quả. Ai đến tu học phải chấp hành quy chế của khóa tu đó, bảy ngày sau tự nhiên họ thành tựu.
“Tự tâm chính là Phật, kiến tánh nghĩa là nhận ra tâm Phật của mình. Buông bỏ tư tưởng một cách liên tục rồi sẽ thấy Phật tại nơi tâm. Nếu cho rằng không thể nhận ra chân tánh trừ khi ngồi thiền là một lầm lẫn lớn, bởi vì Tổ Huyền Giác nói: ‘Đi cũng thiền, đứng cũng thiền, ngồi cũng thiền, nói nín động tịnh thảy an nhiên’.”
Tức là đi, đứng, nằm, ngồi đều có thiền, chớ không phải đợi ngồi mới có thiền.
II. Sức mạnh của thiền định
Phật dạy:
Con nít lấy tiếng khóc làm sức mạnh. Phụ nữ lấy sắc đẹp làm sức mạnh. Sa-môn lấy thiền định làm sức mạnh.
Bên Mỹ có hai người cùng bị bệnh ung thư dạ dày. Một người khi phát hiện bệnh về nhà suốt ngày lo nghĩ buồn khổ, một tháng sau thì chết. Một người về nhà thấy vợ con ra mừng, nhìn lại ba đứa con nhỏ, vợ còn trẻ, cuộc sống còn dài, ông đến thiền viện gặp một vị thiền sư, ngài chỉ dạy cho ông thực tập thiền phát triển tâm Bồ-đề, ông phát triển liên tục nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm, khi khám lại thì hết bệnh. Nhờ thiền tập, phương pháp trị liệu đặc biệt, ông lấy sức mạnh của thiền hóa giải bệnh duyên của mình.
Do đó thiền sư Bạch Ẩn nói chúng ta không phải chết vì bệnh tật mà chết vì vọng tưởng. Có những người phát hiện bệnh nhưng họ bình thản, càng đi sâu về con đường thiền, buông bỏ những tạp niệm, tức khắc thành tựu. Còn mình lo nghĩ suốt không biết mai chết ra sao, rồi nhà cửa làm sao, chính điều đó giết mình. Cho nên ngài nói bệnh không sợ, sợ nhất là vọng tưởng.
Đại chúng đừng nghĩ quý thầy không có bệnh, chuyện sanh già bệnh chết là lẽ đương nhiên, ai cũng có bệnh nhưng khi bệnh đến mình bình thản. Đại chúng thấy tôi bị bệnh ho nặng mà tôi vẫn giảng bình thường, vẫn trị liệu, vẫn tu tập, vẫn hướng dẫn. Nếu mình sợ hãi ngồi ở nhà nghĩ không biết bệnh này sẽ ra sao, sống làm sao, mình chết cái chùa để cho ai, thì nó giết mình luôn.
Vừa rồi tôi qua bên Úc giảng có ông huynh trưởng kể lại, ngày xưa ông ngồi thiền, tu học nhưng không hề có một niệm nào thấy giá trị của việc ngồi thiền. Khi bị bệnh tim phải phẫu thuật, đáng lẽ phải truyền thuốc giảm đau nhưng ông không dùng. Những người bệnh phải phẫu thuật như ông mỗi khi ngưng truyền thuốc thì họ la khóc còn ông thì bình thản. Bác sĩ hỏi tại sao ông không truyền thuốc giảm đau mà bình thản như thế. Ông nói “cái đau này nhẹ hơn khi tôi ngồi thiền hai tiếng, ngồi hai tiếng đau gấp trăm lần”. Ông nói bây giờ mới thấy giá trị của con đường mà Hòa thượng Trúc Lâm chỉ dạy. Khi còn mạnh khỏe chúng ta tu tập, làm chủ được thân thì khi bệnh đến chúng ta làm chủ được. Sức mạnh của thiền là như thế.
Cho nên trong Luận Đại Thừa Khởi Tín, Bồ-tát Mã Minh nói:
“Người nào chuyên tâm tu tập về thiền thì hiện đời có được mười công đức lớn, đây là sức mạnh của tọa thiền.”
Những gì là mười?
1- Được mười phương chư Phật và Bồ-tát thường hộ niệm.
Khi đi đứng nằm ngồi mình chưa thấy gì hết, càng đi sâu thì mình mới đối diện được lời Phật nói là gì, con đường Bồ-tát đạo đi như thế nào thì đó gọi là chư Phật và Bồ-tát thường hộ niệm. Quý Phật tử về cứ thử đi, đừng ngại. Bây giờ mình còn mạnh khỏe thì chưa thấy gì nhưng khi đối duyên xúc cảnh, khi cái khổ đến mình mới thấy được giá trị mình đã bỏ công sức bao nhiêu năm tu tập, tọa thiền.
Một vị ở Canada kể khi còn trẻ ông đi làm đóng thuế rất nặng. Nhưng khi bệnh nằm bệnh viện, ông nói tiền đóng thuế rất là có giá trị. Bởi vì khi vào bệnh viện, nhà nước lo hết từ A đến Z, không tốn đồng bạc nào, từ tắm rửa, ăn uống họ lo hết, gia đình không cần chăm sóc. Muốn được như thế thì khi mình còn mạnh khỏe mình phải bỏ tiền vào. Phương pháp tu cũng như thế, chờ nước chảy đến chân thì sao chạy kịp, bây giờ phải lo đắp đập ngăn đê trước.
Nên Tổ Quy Sơn nói:
Đợi đến khát đào giếng sao cho kịp. Pháp tu thiền cũng như thế, giống như người ăn cơm, ăn nhiều lần mới no đủ.
2- Không bị các ma quỷ khủng bố.
Ma quỷ đây mình đừng tưởng là ma quỷ hiện hình. Ma quỷ là gì?
– Bệnh ma: Mình tu được rồi thì khi bệnh đến mình không sợ hãi.
– Tử ma: Khi cái chết đến mình không sợ hãi.
Có một điều chắc chắn là mình không biết khi nào mình chết. Quý Phật tử có tu chút ít rồi, một hôm nào đó bác sĩ nói mình còn một tháng nữa chết, mình biết chỉ còn sống một tháng nữa thì mình chuẩn bị hậu sự, hoặc là buông hết để tu chẳng gì sợ hãi. Giống như cái nhà mục nát mình chuẩn bị xây căn nhà khác, hoặc xe cũ quá hư hoài thì mình mua chiếc xe khác. Đây là nói về những người có tu chút chút.
– Phiền não ma:
Phiền não ma là những tâm bị ô nhiễm bởi sự nhục mạ và mắng nhiếc. Song người tu thiền quán chiếu thấy rõ những lời nói là những vọng tưởng không có tự thể thì phiền não được chuyển hóa.
Nên thiền sư Huyền Giác nói:
Mặc ai biếm, mặc ai dèm,
Châm lửa đốt trời nhọc xác thêm.
Ta nghe như uống cam lồ vậy,
Tan hết vào trong chẳng nghĩ bàn.
Xét lời ác ấy công đức,
Đó mới chính là thầy ta thực.
Chớ vì báng bổ khởi oán, thân,
Sao tỏ vô sanh, nêu nhẫn lực.
– Thiên ma: Mình tu thiền có sức mạnh thì những loài ma này không quấy nhiễu được.
3- Không bị chín mươi lăm thứ ngoại đạo làm mê hoặc.
4- Xa lìa những việc phỉ báng chánh pháp và dần dần mỏng ít các tội chướng nặng nề.
Mình tu thiền có sức mạnh về tọa thiền thì công đức phát sinh, giáo pháp nào mình cũng coi là từ kim khẩu Đức Phật nói. Ngoài Đức Phật không ai có trí tuệ siêu phàm nói về những bộ kinh Lăng Già, Lăng Nghiêm, một trăm thứ ngoại đạo cũng không nói được. Tin chắc như thế rồi thì mình không phỉ báng chánh pháp, các tội chướng dần dần mỏng ít.
5- Diệt hết các nghi ngờ và những thấy nghe tội lỗi.
6- Đối với các cảnh giới chư Phật lòng tin tăng trưởng.
Tức là càng đi sâu có một lúc nào đó rớt trong cảnh giới vô sở đắc, chứng nghiệm vào dòng giáo pháp thì bắt đầu lòng tin tăng trưởng.
7- Xa lìa các điều ăn năn lo lắng và đối với việc sanh tử tâm không còn khiếp sợ nữa.
Tức là mình có con đường đi được dọn sẵn, có tư lương, có thiện pháp đủ hết cho nên việc sống chết không còn sợ hãi nữa, nhờ vậy ngày ra đi mình được an ổn, được tự tại chút ít.
8- Tâm được nhu hòa, bỏ tánh kiêu mạn, chẳng bị người khác làm não hại mình nữa.
Tâm mình càng ngày càng nhu hòa giống như ly nước lóng xuống, người ta nhìn mình thấy an ổn tươi mát tức là nhờ sức mạnh tu thiền. Quý Phật tử ráng thực tập sẽ thấy con người mình đổi khác rất nhiều mặt.
9- Dù chưa chứng được định song trong tất cả thời, tất cả cảnh, hành giả có thể làm phiền não tổn giảm.
10- Nếu được tam muội thì không bị các âm thanh của trần gian và các ngoại duyên làm chao đảo.
Mười công đức, sức mạnh lớn là nhờ hằng ngày quý Phật tử ngồi tu tập, tọa thiền.
Qua bài pháp này chúng tôi muốn chia sẻ cho quý Phật tử bốn điều:
– Thứ nhất: Điều cốt yếu của người tu thiền là phải tọa thiền.
– Thứ hai: Điều cốt yếu của người tu thiền là phải một lần nào đó uống tận đầu nguồn giáo pháp của thiền. Phải uống chớ không phải mình chỉ đến nhìn con sông rồi đi về là không được.
– Thứ ba: Khi tu tập về con đường thiền thì tâm mình càng ngày càng nhu hòa không còn cống cao ngã mạn nữa, tâm mình khiêm tốn thì biết rằng mình tu đúng.
– Thứ bốn: Khi tu thiền thì chúng ta có một sức mạnh từ nội tại mà sức mạnh đó chính là kiệm lời để nuôi đức. Tự nhiên thôi, tự nhiên có sức mạnh, tự nhiên lời của mình kiệm lại. Ngày xưa gặp gì cũng nói mà bây giờ bắt đầu có sức tự chủ, tức là làm chủ ba nghiệp thân khẩu ý, không cho chúng tạo tác để gây nghiệp.
Lợi ích của tu thiền rất lớn. Một vị bác sĩ người Mỹ nói, phương Đông có một hòn ngọc vô giá mà người phương Đông chưa khai thác hết. Người ta hỏi ông hòn ngọc là gì, ông trả lời chính là con đường thiền. Ngay nơi tự thân mình có đầy đủ mà mình chưa khám phá hết. Các thiền sư ngộ đạo rồi các ngài nói:
Vô nhất vật trung vô tận tạng,
Hữu hoa, hữu nguyệt, hữu lâu đài.
Trong kho tàng vô tận có hoa, có trăng, có lâu đài đủ hết. Kho tàng vô giá mà mình chưa khơi nguồn hết. Muốn khơi nguồn dòng suối vô tận này, muốn đào xới kho báu vô tận này chỉ có con đường duy nhất là tọa thiền thì chúng ta mới nhận được giá trị đích thực, kiếp người không uổng khi chúng ta hiện diện trong cuộc đời này. Chúng ta may mắn gặp được giáo pháp, gặp được con đường thiền tập, mà không những một vị Phật mà ngàn ngàn vị Phật cũng từ con đường này mà thành tựu quả vị vô thượng bồ đề.
Tin chắc như thế, đó là sức mạnh của tọa thiền.
Hỏi: Nhờ thầy phân tích cho chúng con tánh không và tướng không.
Đáp: Tướng không và tánh không khác nhau như thế nào, Hòa thượng đã dạy trong bài Giải Nghi Bát-Nhã, quý Phật tử về chịu khó nghe lại rõ ràng hơn, còn tôi thì chia sẻ thêm.
Tại sao gọi là tướng không? Tướng không của các pháp là gì? Không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch… Như vậy cái gì thấy được tướng không là không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch? Nhận ra được tánh không thì mới thấy tướng không đó, còn chưa nhận thì không thấy. Muốn giữa tánh và tướng viên dung thì chúng ta phải nhận ra được ông chủ, tức là ở trên cái bản thể phóng ra các pháp, các pháp đều trong một trật tự.
Cho nên người xưa nói tất cả các pháp đều vô sự mà vì mình đa sự cho nên sanh sự. Mình đa sự không? Chiều về mình điện thoại cho bà Bảy nói tôi thấy bà Tám qua chùa không làm gì hết mà ăn suốt. Bà Tám điện lại nói tôi có ăn của nhà bà không mà bà nói. Mình nhiều chuyện quá cho nên sanh sự, rồi tối ngồi thiền có yên không?
Cho nên khi thể nhập được tánh không rồi mình nhận thấy được tất cả các pháp biến hiện theo duyên khởi, trong duyên khởi đó từ vô niệm thấy tất cả các pháp bình lặng không cao, không thấp, không nhơ, không sạch. Tướng của nó là như thế.
Trong Kinh Pháp Hoa:
Chư pháp tùng bổn lai,
Thường tự tịch diệt tướng.
Tức là các pháp từ xưa nay tướng thường tự vắng lặng. Tướng thường tự vắng lặng là phải nhận được trong tánh không, nhận được thì tướng tự vắng lặng, còn chưa nhận được thì thấy cao thấp, thấy nam nữ, thấy đủ hết. Nhận ra được rồi thì không có nam nữ chủ khách mà rõ biết. Nam là gì? Là ngôn từ vay mượn, nữ cũng là từ vay mượn, tạm đặt ra là nam nữ, tạm đặt ra là âm dương. Cho nên muốn siêu việt tướng không thì phải trở về tánh không, tức là bản thể rỗng suốt vô niệm.
Hỏi: Trong công phu tọa thiền con thở theo phương pháp 3 thì được không?
1- Hít vào êm – đều – nhẹ – rõ ràng thường biết – lặng lẽ – thanh tịnh.
2- Nín thở nhẹ bụng – rõ ràng – thường biết – lặng lẽ – thanh tịnh.
3- Thở ra đếm – êm – đều – nhẹ – rõ ràng thường biết – lặng lẽ – thanh tịnh.
Đáp: Nếu ngồi thiền mình làm như vậy thì hơi ngộp. Mình phải nhớ kỹ bài kệ của thiền sư Huyền Giác:
Tỉnh tỉnh lặng lặng – phải,
Hôn trầm lặng lặng – sai;
Lặng lặng tỉnh tỉnh – phải,
Lặng lặng vọng tưởng – sai.
Hít thở bình thường mà tỉnh, mà lặng thì phải. Mình hít vào thật sâu, thở thật nhẹ rõ biết chớ không có khởi niệm là hít vào êm – đều – nhẹ – rõ ràng thường biết – lặng lẽ – thanh tịnh. Cũng đúng nhưng mà nhiều quá.
Thiền sư Huyền Giác ngài để lại nhiều bài kệ ứng dụng tu rất là hay:
Khéo khéo lúc dụng tâm,
Khéo khéo không tâm dụng,
Không tâm khéo khéo dụng,
Thường dụng khéo khéo không.
Tức là trong công phu mình khéo dụng tâm, nhưng mà không tâm để mà dụng. Bởi vì bản thể là tự tánh tự định không thêm gì hết mà do mình bị kết tụ vọng tưởng từ nhiều đời quá rồi, bây giờ chỉ cần dẹp đi là nó hiện tiền, không cần thêm bớt gì hết. Cho nên hít thật sâu, thở thật nhẹ, rõ ràng thường biết không chạy theo niệm, không trụ trên niệm mà sanh tâm, tác ý là đúng.
Hỏi: Thưa Thầy, con đọc trong Kinh Lăng Nghiêm có một ẩn dụ mang tính triết học nói về Diễn Nhã Đạt Đa. Nhân vật Diễn Nhã Đạt Đa nhìn trong gương thấy bóng của cái đầu. Khi anh ta úp gương xuống, anh ta nói mình mất cái đầu rồi và anh ta điên lên. Sau nhiều năm nghiên cứu con thấy câu chuyện này mang tính ẩn dụ triết học, nói về cái giả. Chúng ta bị mất đi cái giả mà chúng ta tưởng mất đi cái thật nên chúng ta điên lên, chúng ta đau khổ và phiền não. Có phải như vậy không thưa Thầy?
Đáp: Trong tất cả các kinh điển Phật giáo, từ kinh Pháp Hoa, kinh Lăng Nghiêm hoặc kinh Lăng Già đều có một triết lý về con người, về vạn pháp, về cái như thật mà Đức Phật đưa ra những ẩn dụ, chỉ khi chúng ta dụng công chúng ta mới thấy.
Chuyện Diễn Nhã Đạt Đa chỉ cho người tu thiền của mình, chẳng hạn một hôm nào đó có người la lên họ mất đầu thì mình chụp lại mình kí đầu họ cái cốp: “đầu ông còn đó đâu có mất.”
Một hôm có một bà già đến gặp thiền sư Nột, bà nói:
– Bạch Hòa thượng, già này có nuôi một con trâu mà hồi hôm bị ăn trộm bắt mất rồi. Nhờ Hòa thượng bói dùm con một quẻ, coi giờ con trâu ở đâu.
Thiền sư nhìn thẳng vào mặt bà kêu:
– Bà già!
– Dạ!
– Trâu bà còn đó đâu có mất.
Diễn Nhã Đạt Đa là gì? Mình ngồi thiền khi vọng lặng rồi mình vẫn rõ biết đâu phải mất đầu. Ông có mặt, không vọng ông biết, có vọng ông cũng biết. Nhiều khi vọng lặng mình chới với “ủa đâu mất rồi?” Cái gì biết không có mình? Rõ ràng mình còn đó. Ý nghĩa Đức Phật dạy mình như thế. Có nghĩa là những tâm niệm sanh diệt, vọng tưởng nó lặng hết rồi thì cái rõ ràng thường biết sáng suốt vẫn hiện hữu.