VÔ THƯỜNG KHỔ HAY VUI?

Buổi Pháp thoại hôm nay tại thiền viện Trúc Lâm Chánh Thiện, chúng ta học bài pháp số căn bản, hay nói khác hơn là học căn bản trong Phật học. Chúng ta tu pháp này gọi là Tổ sư thiền hoặc nói khác hơn là thiền đốn ngộ hay thiền đại thừa. Hôm nay, trong ngày tu học hằng tháng, chúng ta học bài pháp mà Đức Phật dạy cho các Tỳ-kheo trong suốt mười hai năm đầu tiên. Chúng tôi muốn đại chúng hiểu rõ tinh thần Phật học trong thời nguyên thủy.
Vô thường là pháp ấn thứ nhất trong Tam pháp ấn của Đức Phật dạy. Ấn giống như một con dấu. Vào thời phong kiến, một vị quan được phong nhậm chức đến một vùng nào, nếu không có dấu ấn của vua thì vị quan đến đó làm việc không được. Gần đây có những giáo phái họ lấy giáo pháp của Đức Phật lồng vào. Đức Phật nói nếu có những người giảng dạy về giáo pháp của Đức Thế Tôn mà lìa Tam pháp ấn (vô thường – khổ – vô ngã) thì dù cho pháp đó rất là thù thắng, vi diệu thì cũng chưa phải là giáo pháp của Đức Thế Tôn. Cho nên hôm nay chúng ta học kỹ bài pháp ấn thứ nhất – Vô thường.
I. Vô thường khổ hay vui?
Vô thường thì chắc chắn sẽ có biến hoại. Nếu không học kỹ, chúng ta thấy cái gì cũng vô thường, cái gì cũng khổ, cái gì cũng vô ngã thì sẽ rất bi quan. Hỏi thật đại chúng, tinh thần đạo Phật là bi quan hay lạc quan? Đa phần chúng ta nói là lạc quan nhưng thật ra tinh thần của đạo Phật không phải bi quan, cũng không phải lạc quan. Hành giả đứng trên bờ sông sẽ thấy hai dòng nước, dòng nước thứ nhất là bi quan, dòng nước thứ hai là lạc quan. Đứng để mà ngắm nhìn dòng sông chớ không phải chết chìm trong dòng sông đó. Đạo Phật không phải là buồn cũng không phải là vui, chúng ta vượt thoát cảnh giới nhị nguyên đó. Cho nên tinh thần đốn ngộ ra đời. Nếu chúng ta không học pháp căn bản này thì chúng ta tưởng tượng ở trên mây.
Tu đến giai đoạn tứ quả: Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, nếu chứng quả tu thứ nhất Tu Đà Hoàn tức là bước vào dòng thánh thì ba đường khổ đóng bít, không còn vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh mà chỉ trở lại cuộc đời này bảy lần gọi là thất lai. Trở lại cuộc đời này không phải chịu sự thống khổ của cuộc đời mà có những nguyện lực, những đại nguyện đi trong cuộc đời này. Giống như một người cũng ở trong tù mà không khổ bởi vì làm cai ngục, còn người ở trong tù khổ vì là người tử tù. Các vị Bồ-tát ở trong cuộc đời này cũng như thế.
Chứng quả vị Tu Đà Hoàn rồi, thứ nhất là phá thân kiến. Sở dĩ mình khổ, buồn, ai động đến một chút mình bực tức chịu không nổi là do mình chấp vào cái thân này thật. Cho nên Đức Phật dạy pháp quán thứ nhất là quán thân vô thường.
Hôm nay chúng tôi muốn chia sẻ cho đại chúng những bộ kinh nguyên thủy. Kinh Tương Ưng Bộ Phật dạy:
Có một thầy Tỳ-kheo, khi quán thật kỹ về thân phận kiếp người, Ngài chứng nhập vào quả vị A La Hán. Ngài khẳng định và đến trình bạch Đức Thế Tôn như thế này: “Bạch Đức Thế Tôn, sắc là vô thường, cái gì vô thường là khổ.”
Tinh thần đại thừa, nói khác hơn là tinh thần của thiền đốn ngộ, đặc biệt là: ngay cái khổ biến thành cái vui, ngay cái vui biến thành tịnh lạc, ngay tịnh lạc biến thành thiền duyệt vi thực, lấy chỗ vui đó làm thức ăn hằng ngày. Chẳng hạn như trưa nay mình đói bụng, xuống ăn một hai chén cơm, cơm đó là cơm của thế gian. Một ngày mình cho cái thân này ăn ba bốn lần mà mình chưa từng cho cái tâm mình ăn. Hồi sáng chúng ta ngồi thiền nửa tiếng chính là cho cái tâm mình ăn nửa tiếng, tức là lấy từ cái khổ đến cái vui, lấy từ cái vui đến tịnh lạc, từ tịnh lạc biến thành chất liệu sống.
Lão Tử nói: “Bậc hạ nghe nói về đạo cười to bỏ đi. Bậc trung nghe nói về đạo thoạt nhớ thoạt quên. Bậc thượng nghe nói về đạo thấm vào tứ chi phổ ra hành động.”
Quý Phật tử là bậc hạ, bậc trung hay bậc thượng? Đừng có khinh mình, quý Phật tử là bậc thượng. Thượng ở chỗ nào? Chiều nay về, chồng hoặc vợ hoặc người thân nói gì đó trái ý mình, ngày xưa là mình nổi sân, bực tức lên, bây giờ mình cười. Tại sao cười? Vì hồi sáng nghe pháp, ngồi thiền bây giờ thấm vào tứ chi, phổ ra cái miệng mình cười chớ không cãi lại hay chửi lại. Đức Phật nói, nghe giáo pháp giống như nước mưa thấm từ từ, mà khi thấm rồi thì tự nhiên chúng ta buông bỏ rất dễ.
Vào thời Đức Phật, sau khi nghe Đức Thế Tôn giảng về sự vô thường, bất tịnh của thân thể, các thầy Tỳ-kheo đã tự kết liễu mạng sống của họ. Đức Phật quở hành động này. Biết rằng thân này là vô thường, nhưng mượn thân này để tu, giống như qua sông, qua biển phải có thuyền. Có thuyền mà thuyền bị lủng, bị hư thì cũng không qua sông, qua biển được. Một chiếc thuyền không bị lủng, không bị hư đòi hỏi người hành giả phải đầy đủ thiện pháp. Nếu không đầy đủ thiện pháp thì chắc chắn chúng ta nghe pháp không được, tọa thiền cũng không xong, chớ không phải dễ đâu. Một ngày đến đây học hỏi Phật pháp là quý Phật tử có thiện pháp, không có nhiều hoặc ít. Chúng ta mượn pháp này tu học thì chắc chắn đời chúng ta bớt khổ.
Vào thời Đức Phật có trưởng giả Cấp Cô Độc trải vàng mua khu vườn lập Tinh xá cúng dường Đức Thế Tôn. Được cúng dường Đức Phật ông rất vui cho nên làm được bao nhiêu tiền ông cúng hết. Khi đã là Phật tử ông rất hiền, chính vì thế một số người thiếu nợ ông không chịu trả, lần lần tiền bạc hết, ông bị cạn kiệt.
Một hôm Đức Thế Tôn trên đường đi ngang qua nhà ông, khi đó cả nhà ông chỉ còn một chén cháo, nếu cúng dường Đức Thế Tôn chén cháo này thì chắc chắn gia đình ông sẽ chết đói. Phật hỏi:
– Ngay trong giờ phút này ông cúng dường cho Đức Thế Tôn hay là để gia đình ông dùng?
Ông nói:
– Con thà chết đói nhưng sẵn sàng cúng dường Đức Thế Tôn.
Khi ông nói như thế, ngai vàng trời Đế Thích bị chấn động, Đế Thích nhìn xuống, biết được sự việc, sai Tứ Thiên Vương, Dạ xoa tìm những kho báu nào chìm dưới biển mà không có chủ thì đem về kho cho trưởng giả; và tác động đến tâm thức của những người thiếu nợ để họ đem tiền đến trả.
Người thiếu nợ mà không muốn trả, không phải họ muốn giựt mà do tác động của nghiệp lực hoặc do tác động của ma Ba tuần. Hoặc chẳng hạn như có người đến gặp quý thầy hứa cúng dường, ngay trong giờ phút đó là họ hứa thật tâm nhưng về nhà họ quên, đó là do tác động về nghiệp lực, nhất là tác động của ma Ba tuần. Bởi vì ma Ba tuần không muốn thiên giới đông đúc chư thiên mà họ muốn ba đường khổ địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh thật nhiều thì quân họ mới mạnh. Chúng ta làm thiện thì ma Ba tuần không thích. Người làm ác nhiều chừng nào ma Ba tuần vui nhiều chừng đó. Vì như vậy lính họ càng đông. Sau khi Đức Phật thành đạo, ma Ba tuần tuyên bố như thế này: “Tôi phá ông không được thì khi ông nhập Niết-bàn rồi, hàng đệ tử của ông, tôi phá cho đến cùng.”
Tôn giả Tịch Thiên nói: “Không phải tự nhiên chúng ta khởi niệm về thiện pháp mà do năng lực của mười phương chư Phật, năng lực của mười phương chư đại Bồ-tát tác động đến hạt giống của mình.” Hạt giống của mình mới nảy mầm lên chút xíu mà mình không tiếp tục làm việc thiện pháp đó nữa thì bắt đầu hạt giống đó chết.
Chúng ta đến thiền viện tu học, nghe pháp, tọa thiền không phải tự nhiên mà được. Chẳng hạn một tháng mình đến thiền viện tu học một lần, nhưng do nghiệp lực, do chướng duyên, sáng nay chuẩn bị lên xe thì mình bị tiêu chảy, đành phải ở nhà. Hoặc Đạo tràng của mình lên Trúc Lâm cúng dường trường hạ nhưng sáng nay chuẩn bị đi mình trúng gió đi không được. Như vậy là mình bị nghiệp lực, nghiệp duyên cản lại. Cái thân của mình nếu không bị lủng, bị bể thì thiện pháp mình làm được, khởi niệm là làm, khởi niệm là tu, là sám hối.
II. Niềm vui khi làm thiện pháp
Trong cuộc sống giữa đời thường này, chắc không ai làm được như trưởng giả Cấp Cô Độc. Mình bố thí cúng dường thì cũng phải chừa lại để sống chớ đâu ai dám cúng sạch hết. Mà tại sao ông làm được? Đức Phật nói với Tôn giả A Nan: “Không phải chỉ đời này mà bảy đời quá khứ Cấp Cô Độc đã từng phát đại nguyện hộ trì Tam bảo, hộ trì Chánh pháp.” Khi cúng dường như thế, Phật nói ông rất vui. Khi vừa chết đi là ông có mặt trên cung trời Đâu Suất liền, làm một vị thiên tử đẹp nhất trong các vị tiên. Chư thiên trên đó khi họ ăn thì cái bình, cái ly giống nhau, nhưng thức ăn màu sắc thì khác, do phước lực khi họ còn ở nhân giới. Do ông bố thí cúng dường thù thắng như thế nên thân tướng ông rất đẹp.
Sau khi ông xuống đảnh lễ Đức Thế Tôn, các thầy Tỳ-kheo chưa chứng A La Hán hỏi Phật:
– Bạch Đức Thế Tôn, khi còn sống, ông tu tập, tạo các việc thiện pháp, con thấy mặt ông lúc nào cũng cười, ông rất là vui. Vậy khi ông chết đi rồi, ông có vui không?
Phật nói bài kệ:
Nay vui đời sau vui,
Làm phước hai đời vui,
Nó vui thấy làm phước,
Sanh cõi lành vui hơn.
Khi còn làm người, ông làm các thiện pháp ông rất vui. Rồi đời sau sanh làm thiên tử, ông cũng vui. Có nghĩa là mượn thân vô thường này tu chứ không phải là thấy vô thường rồi chán.
Ai đã đi qua Ấn Độ đến tinh xá Kỳ Viên, thấy còn cái nền đất nhỏ của ông Cun Đa, ông này làm nghề đồ tể, ở gần tinh xá Đức Thế Tôn mà suốt năm mươi năm trôi qua ông chưa từng đến cúng dường Đức Thế Tôn một muỗng cơm. Bảy ngày trước khi chết ông rên khóc, than thở rất là khổ. Đức Phật nói, trong năm mươi năm ông tạo ác pháp quá nhiều cho nên ông rớt xuống địa ngục chịu khổ. Các thầy Tỳ-kheo hỏi Phật:
– Bạch Đức Thế Tôn, khi ông còn sống chúng con thấy trên khuôn mặt ông lúc nào cũng buồn khổ, như vậy khi ông chết thì cũng khổ chăng?
Phật nói bài kệ:
Nay sầu đời sau sầu,
Làm ác hai đời sầu,
Nó sầu nó u não,
Sanh cõi dữ sầu hơn.
Hôm qua nhân mùa Phật đản, có một số người đến thăm các chùa, các thiền viện. Khi họ đến thăm, chúng tôi chia sẻ như thế này: Năm ٢٠١٢, có tin đồn là trái đất này hủy diệt, mà tại sao đến nay trái đất không hủy diệt? Tôi nói thẳng, chừng nào ở trên trái đất này không có những người tu, không có những người trì năm giới thì chừng đó trái đất này mới hủy diệt. Nơi nào có những người tu, nơi nào có những người tọa thiền, các ông phải nên ủng hộ hết mình, bởi vì được mùa màng, không có những trận động đất sóng thần lớn là do có nhiều người tu.
Thì như vậy chúng ta ngồi thiền, nghe pháp không có uổng.
Có người cho rằng nghe pháp, ngồi thiền là khổ, ăn uống nhậu nhẹt là sướng mà không thấy rằng sướng xong rồi khổ sẽ đến, vì nhậu say về nhức đầu, ói mửa chưa kể là tổn giảm thọ mạng. Người xưa có câu:
Vui trong tham dục, vui rồi khổ,
Khổ để tu hành, khổ hóa vui.
Chúng ta ngồi thiền đau chân, nhưng ngồi một năm đến mười năm hết đau, mà khi hết đau chân thì thiền duyệt vi thực đến. Lúc này không cần ăn uống gì nhiều nữa mà lấy hơi thở của thiền làm mạng sống của mình, lấy pháp âm vi diệu của Đức Phật làm hơi thở của mình. Mình tu mình thấy rất an ổn. Như chúng tôi sáng có gì ăn đó, trưa là chính, chiều lấy gì ăn? Hít vào thở ra là một chén cơm, hít vào thở ra là hai chén cơm. Quý Phật tử ăn nhiều cách mấy cũng không bằng chúng tôi, một hơi thở tôi tính là một chén cơm, hai hơi thở là hai chén cơm. Như vậy mình ngồi một tiếng mình ăn bao nhiêu chén cơm? Một trăm chén cơm, hai trăm chén cơm. Cho nên việc Phật sự chúng tôi làm rất nhiều mà tại sao sức khỏe vẫn có? Vì một hơi thở là một chén cơm, vậy thôi. Dễ không? Dễ hay khó?
Khi đại chúng hiểu rồi thì mình ngồi nghe pháp, ngồi tu học mình có hướng đi. Hòa thượng Làng Hồng có quyển sách: Con Đã Có Đường Đi. Nói thẳng một điều, dầu cho quý Phật tử sống chung với chồng mình, với vợ mình, ngồi chung một cái ghế, nằm chung một chỗ nhưng cũng đường ai nấy đi. Mỗi người có suy nghĩ khác nhau chớ đâu có ai hai người mà suy nghĩ giống nhau, dầu người đó là chồng mình, là vợ mình. Hai tư tưởng khác nhau rồi thì chúng ta khẳng định một điều cuối cùng là cũng đi một mình:
Thường độc hành, thường độc bộ,
Đạt giả đồng du Niết-bàn lộ.
Có lúc tôi thấy những Phật tử tu an ổn cười một mình. Tôi hỏi tại sao cười, họ nói con nghĩ rằng con đã chọn đúng con đường đi cho nên vui quá con cười.
Theo tôi, ngày Đức Phật Đản sanh, chúng ta không nói là về Chánh Thiện hay về đâu hết, mà nơi nào tổ chức ngày Phật Đản sanh là mình phải đến, bởi vì ơn pháp nhũ của Phật lớn quá. Cho nên ngày Phật Đản sanh là ngày vui chúng ta không thể ở nhà. Gần Thường Chiếu thì đi Thường Chiếu, gần Trúc Lâm đi Trúc lâm, gần Linh Chiếu đi Linh Chiếu, gần Chánh Thiện đi Chánh Thiện. Bởi vì nếu không có Đức Phật ra đời thì làm gì mình ngồi cười một mình, làm gì có giáo pháp mình tu.
Khi chúng ta thấm nhuần giáo pháp rồi, chúng ta mới sẵn sàng mượn thân này để tu học. Khi mới bắt đầu ngồi thiền thì đau chân, hôn trầm, tán loạn đủ hết, cho nên:
Khổ để tu hành khổ hóa vui.
Nếu biết có vui là có khổ,
Thà rằng đừng khổ cũng đừng vui.
Mong sao trong tánh đừng vui khổ.
Mới thoát ra ngoài cảnh khổ vui.
Đạo Phật không bi quan cũng không lạc quan, mà đạo Phật giống như người hành giả đứng trên đất liền ngắm dòng sông trôi chảy. Kiếp phận con người Đức Phật nói ngắn lắm, chúng ta nắm bắt cơ hội để chuyển hóa, đến một lúc nào đó giống như cá biến thành rồng mà không đổi vảy. Mình tu giống như những con cá chép đến tháng chín vượt vũ môn.
Mình tu mà không có thực tập thì không được, cho nên muốn biến thành rồng thì chúng ta phải có những cuộc thi. Những cuộc thi ở đâu? Là những người thân sống gần gũi với mình, mà mình thường nói là những bài tập. Không có những bài tập này mình không biết mình là như thế nào. Cho nên thiền là ngay nơi cuộc sống. Cảm nhận được hạnh phúc rồi quý Phật tử thấy cuộc đời này không là cái gì hết. Nếu không nhờ vô thường, không nhờ khổ đau thì lấy gì mình biết hạnh phúc.
Quý Phật tử ngồi dưới này chắc cũng đã khổ nhiều rồi, không phải chỉ kiếp này mà vô lượng kiếp chúng ta đã từng khổ. Đức Phật nói trong vô lượng kiếp chúng ta khóc nhiều hơn cười, khóc cho chồng, khóc cho con, khóc cho người thân, nhất là người nữ rất hay khóc. Nhờ khóc nhiều như thế mà chúng ta cảm nhận được giáo pháp, cảm nhận được rồi thì chỉ có một con đường tiến tu thôi, không có con đường thứ hai:
Nếu không có khổ đau,
Biết đâu là hạnh phúc.
Nhờ mộng mị hôm nào,
Ta tìm về tỉnh thức.
(Sư Minh Niệm)
Nếu quý Phật tử không mộng mị thì chắc chắn không có đến đây. Rất nhiều sự chướng duyên đến với mình, nhờ những mộng mị đó mà tỉnh thức. Có cô giảng viên ٣٨ tuổi bị ung thư chết. Trước khi chết cô để lại những lời dặn dò tâm huyết. Cô dặn đừng thức khuya, lo toan tính toán thức khuya nhiều nên sanh bệnh. Cũng đừng ăn nhiều, nhất là ăn thức ăn chiên xào cũng sanh bệnh ung thư. Cô ước là ngày xưa cô đừng bôn ba nhiều quá, chỉ cần một căn nhà nhỏ và một việc làm đủ sống.
Đức Phật sau khi thành đạo, Ngài trở về thành Ca Tỳ La Vệ thì dòng họ Thích Ca ai cũng có con cho đi xuất gia. Ngài A Nậu Lâu Đà, em chú bác của Đức Phật, xin mẹ đi xuất gia nhưng bà không cho. Ngài năn nỉ mãi, cuối cùng bà ra điều kiện: bà sẽ đồng ý cho Ngài xuất gia nếu Ngài thuyết phục được quan tổng trấn Bác Đa La cùng đi. Bà nghĩ rằng vị quan này quyền lực rất lớn lại giàu có, chắc chắn không bao giờ từ bỏ sự nghiệp của cải mà đi tu. Nhưng bà đã lầm. Khi biết tâm nguyện của A Nậu Lâu Đà, Bác Đa La vì thương bạn cũng đồng ý xuất gia nhưng hẹn bảy năm để ông sắp xếp công việc. A Nậu Lâu Đà thất vọng, Ngài sợ trong vòng bảy năm đó tuổi thọ chấm dứt thì mất duyên lành được giải thoát. Bác Đa La thấy bạn buồn quá, cuối cùng ông giảm xuống còn bảy ngày để ông sắp đặt việc nhà trước khi xuất gia.
Sau khi xuất gia, tôn giả Bác Đa La tinh cần tu tập. Một hôm đang ngồi dưới gốc cây, cảm nhận được niềm phúc lạc vô biên, ông thốt lên ba lần: “Ôi! Hạnh phúc của tôi!” Các vị Tỳ-kheo hành thiền gần đấy nghe được, sáng hôm sau đến trình với Đức Phật:
– Bạch Đức Thế Tôn, tôn giả Bác Đa La khi ngồi thiền thốt lên ba lần như thế làm cho những người xung quanh bị động tu không được, con nghĩ Bác Đa La nhớ lại hạnh phúc khi mình còn làm quan Tổng trấn, nhớ nghĩ cảnh trần tục khi ở tại gia nên thốt lên ba lần như thế.
Lúc này Đức Thế Tôn nhóm họp đại chúng, gọi là cử tội thầy Tỳ-kheo đó. Phật hỏi Thầy Tỳ-kheo Bác Đa La:
– Có phải thế không, này Bác Đa La? Đêm hôm qua, trong lúc đại chúng đang ngồi thiền thanh tịnh, ông đã thốt lên ba lần: “Ôi! Hạnh phúc của tôi!” làm động tâm niệm đại chúng, có một số người phiền não tu không được. Ông hãy trình bày trước đại chúng tại sao ông lại thốt lên những lời như thế.
– Bạch Đức Thế Tôn, ngày xưa khi còn làm quan Tổng trấn đầy đủ quyền lực, mỗi khi bước ra cửa, con phải nhìn trước nhìn sau, con sợ người ta giết con. Khi ăn món gì đó hay uống một ly nước, con sợ người ta bỏ thuốc độc. Không có lúc nào con ngồi yên, không có lúc nào con ngủ yên, lúc nào con cũng sợ người ta giết con. Tiền của thật là nhiều mà thưa Đức Thế Tôn, ăn không được, ngủ không được. Bạch Đức Thế Tôn, đêm hôm qua ngồi thiền con thấy sao thanh tịnh quá, hạnh phúc quá! Ngồi một mình giữa rừng sâu mà con không sợ ai giết con, không sợ người nào ăn cắp của con, mà bạch Đức Thế Tôn, chỉ có ba y và bình bát, có gì nữa đâu mà ăn cắp. Bạch Đức Thế Tôn, khi con ngồi yên con mới cảm nhận được rằng trên đời này chỉ có việc ngồi thiền mới đem lại hạnh phúc.
Phật không quở mà tán thán trước đại chúng:
– Này Bác Đa La, cảnh giới của ông, chư thiên, Phạm thiên, Đế Thích, Tứ thiên vương, tất cả những vị trời lớn còn thèm khát. Như Lai tán thán ông, chưa có một vị tỳ kheo nào mới bước chân vào đạo mà nếm được mùi hạnh phúc khi thiền tập như Thầy.
Như vậy khi mà chúng ta bỏ chút ít tiền xe đến thiền viện Chánh Thiện tu học nhưng mình gặt hái rất nhiều thành tựu, mà là thành tựu phi vật chất.
Phật dạy “những gì vô thường và khổ ắt là sẽ có sự biến hoại.” Tuổi năm mươi, sáu mươi thì thân sắc chắc chắn biến hoại theo thời gian. Cho dù mình đi thẩm mỹ viện bơm cho đầy đặn lên thì giỏi lắm được vài năm nó cũng chảy xệ xuống. Bởi vì mượn cái bên ngoài nhiều quá, đến khi nó không nhận nữa thì nó trả lại. Còn quý Phật tử tu tập, lấy cái tự tánh bên trong phổ ra bên ngoài, sáu bảy mươi tuổi vẫn sáng rỡ. Người có công phu mặt họ lúc nào cũng sáng, cũng vui. Dầu chúng ta làm gì thì bảy mươi năm hay tám mươi năm nó cũng biến hoại. Nếu chúng ta không khéo chuyển hóa để gìn giữ pháp thân huệ mạng thì Phật nói rất uổng một kiếp người.
Ở thành Tỳ Xá Ly có cô kỹ nữ đẹp đến nỗi ai muốn ngắm cô phải bỏ ra một ngàn đồng tiền vàng. Một hôm có thầy Tỳ-kheo đi khất thực, bất thình lình nhìn thấy khuôn mặt cô kỹ nữ. Ông về ông đổ bệnh, cầm bình bát không nổi, ngày đêm nhớ cô kỹ nữ. Ông bạch Phật:
– Bạch Đức Thế Tôn, chắc con chết quá!
– Sao con chết? Phật hỏi.
– Bạch Đức Thế Tôn, sáng nay đi khất thực, con gặp cô kỹ nữ thành Tỳ Xá Ly đẹp quá, lúc nào con cũng nhớ cô, chắc con tu không nổi.
Nhưng cái duyên của ông thật thù thắng, tối hôm đó cô kỹ nữ trúng gió chết. Đức Phật sai tôn giả A Nan đến nói với vua Ba Tư Nặc là khoan chôn cất mà cứ để cô nằm đó, rồi rao lên rằng ngày xưa ai muốn ngắm cô kỹ nữ phải bỏ ra một ngàn đồng tiền vàng, bây giờ ai đem cô ấy về nhà sẽ được tặng một ngàn đồng tiền vàng. Ai cũng lắc đầu. Vị Tỳ-kheo chứng kiến thân xác cô kỹ nữ biến hoại từ ửng hồng tới xanh rồi vàng, cuối cùng da thịt nứt nẻ, máu mủ chảy ra, ông chứng quả A La Hán. Ngay sự biến hoại đó, chúng ta quán chiếu để bớt chấp thân và tạo các việc thiện pháp.
Ông thưa với Phật:
– Con không còn nghi ngờ về vấn đề này nữa, do đó con không có lòng tham, con không còn lòng dục, không còn lưu luyến đối với các sắc. Bạch Đức Thế Tôn, thọ tưởng hành thức cũng lại như thế.
Tức là năm dòng sông ngũ uẩn của mình không có thật, nó trôi chảy liên miên. Khi người tu thiền quán chiếu như thế rồi thì lúc này mình mới mạnh dạn ngồi thiền, mạnh dạn làm các việc thiện pháp, mạnh dạn đi con đường chúng ta chọn.
Thấy được như thế phải nhờ phương pháp tọa thiền, nhờ phương pháp tu học chúng ta mới quán chiếu được. Chứ còn chúng ta lăng xăng trong suốt một đời thì như Ngài Hám Sơn nói:
Một mai vô thường đến,
Mới hay mộng huyễn thân,
Muôn việc đem chẳng được,
Chỉ nghiệp theo thức thần.
Một mai nằm trên giường bệnh mình bắt đầu hối hận đủ chuyện. Mà khi hối hận chúng ta cười hay khóc? Đố quý Phật tử tại sao các thiền sư chuẩn bị chết các Ngài cười? Bởi vì bộ phim chiếu lại các Ngài vừa làm từ thiện, vừa tu tập, vừa làm lợi ích cho người khác nên các Ngài vui cười. Còn nhìn lại sao mình sống dở quá! Tại sao mình gây lộn bà Bảy, bà Tám làm chi, sao không để bả yên cho bả tu… bao nhiêu đó mình đọa địa ngục chớ vãng sanh sao được! Cho nên tinh thần niệm Phật là trở về vô lượng thọ, vô lượng quang, vô lượng công đức, tức là trở về Phật tâm. Mà khi trở về Phật tâm là phổ ra hành động, chúng ta sống có ý nghĩa thì nhìn lại quãng đời mình thấy không uổng.
Cho nên tôi khuyên quý Phật tử, kể cả tôi, cố gắng như thế nào đó khi mình mới sanh ra đời, cha mẹ, anh em, người thân của mình mừng một sinh linh bé nhỏ mới gia nhập vào gia đình, người ta mừng và cười, còn mình khóc. Làm như thế nào đó khi ngày cuối cùng mình ra đi người ta thương mình người ta khóc còn mình thì cười, vì lúc đó mình rất là thấm:
Người ngu tưởng là ngọt,
Khi ác chưa chín mùi,
Ác nghiệp chín mùi rồi,
Người ngu thấy khổ đau.
Người thiện tưởng là khổ,
Nghiệp thiện chưa chín mùi,
Thiện nghiệp chín mùi rồi,
Người thiện thấy an vui.
Vậy là mình cười rồi đi. Dễ tu không? Đâu có gì khó. Bây giờ bỏ túi những bài kinh Pháp Cú để đọc tới đọc lui. Ngày xưa chúng tôi ở Trúc Lâm với Hòa Thượng, cứ buổi chiều Hòa Thượng chống gậy xuống dò bài. Ngày xưa tôi nhớ Hòa thượng dò bài Chứng Đạo Ca:
Quân bất kiến,
Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân,
Bất trừ vọng tưởng, bất cầu chân,
Vô minh thật tánh tức Phật tánh,
Huyễn hóa không thân tức Pháp thân.
Nhờ Hòa Thượng nên thuộc rất là nhiều. Mình nhớ và được thấm từ từ những bài kinh bài kệ của Đức Phật. Muôn việc đem theo không có được đâu mà chỉ cái nghiệp, cái thần thức của nó theo, đẩy đưa. Nói về thân, Đức Phật thấy sâu hơn nữa. Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương:
Một hôm Đức Thế Tôn nhóm họp các thầy Tỳ-kheo, Đức Phật nói:
– Này các thầy Tỳ-kheo! Mạng người sống trong bao lâu?
Thầy Tỳ-kheo thứ nhất nói:
– Bạch Đức Thế Tôn, mạng người sống trong sáu, bảy mươi năm.
Phật nói:
– Ông chưa thấy đạo.
Thầy Tỳ-kheo thứ hai nói:
– Bạch Đức Thế Tôn, mạng người sống trong bữa ăn.
– Ông chưa thấy đạo.
Thầy Tỳ-kheo thứ ba nói:
– Bạch Đức Thế Tôn, mạng người sống trong hơi thở.
Phật xác chứng:
– Ông đã thấy đạo, chứng nghiệm vào dòng giáo pháp của Như Lai.
Chỉ cần thấy hơi thở thôi.
III. Tóm kết
Như vậy, chúng ta thấy được rằng vô thường khổ hay là vui?
Khổ hay vui do người có tu tập hay không có tu tập, người có tu tập thấy thân này vô thường biến hoại, tạm mượn thân vô thường làm lợi ích cho mình cho người, đó là niềm vui chân thật bất biến. Vậy thì? Nếu bạn sống một ngày nữa, bạn sẽ làm gì? Nếu bạn sống một năm nữa, bạn sẽ làm gì? Nếu bạn sống một trăm năm nữa, bạn sẽ làm gì? Bạn sẽ chín chắn quán sát thật kỹ như lời Phật dạy.
Ai sống một trăm năm
Ác giới không thiền định
Tốt hơn sống một ngày
Trì giới tu thiền định.
(Kinh Pháp cú 110)
Ai sống một trăm năm
Ác tuệ không thiền định
Tốt hơn sống một ngày
Có tuệ tu thiền định.
(Kinh Pháp cú 111)