NHỮNG NGHỊCH CẢNH GIỮA ĐỜI THƯỜNG

I. Dẫn nhập
Quý Phật tử có biết tại sao mình cần phải chích ngừa? Chích ngừa không có gì lạ, chỉ là tiêm những con vi trùng vào cơ thể để có sức kháng cự lại bệnh tật. Sống giữa cuộc đời thường này, nếu quý Phật tử chưa trang bị một hành trang hay tư lương nào đó, nói khác hơn là chưa chích ngừa thì khi nghịch cảnh đến, một là tự tử, hai là sầu khổ dẫn đến bệnh thần kinh. Thành ra ngày hôm nay tôi cùng quý Phật tử, mỗi người chúng ta đều sẵn sàng tiêm một mũi thuốc ngừa để mình sống giữa cuộc đời này. Hôm nay chúng ta vào chủ đề “Những Nghịch Cảnh Giữa Đời Thường.”
Trong kiếp sống này, tất cả mọi người, dù là người khôn hay người ngu, người trí hay người dại, người giàu hay người nghèo, ai cũng mong muốn sinh ra đời được đẹp đẽ thông minh, giàu có, cha mẹ thuận hòa, sống trong gia đình thuận cảnh êm ấm.
Nhưng với con mắt nhà Phật, thuận cảnh hay nghịch cảnh đều là tiến trình của nhân và quả. Sống trong thuận cảnh hay nghịch cảnh đều do nhân ngày xưa đã gieo, ngày hôm nay gặt quả. Nhân quả có ba: hiện báo, sanh báo và hậu báo. Đời này quý Phật tử giúp đỡ người nào đó thì mai kia có những người khác giúp đỡ lại quý Phật tử. Có những lúc quả báo của thiện nghiệp hoặc ác nghiệp trổ rất nhanh trong kiếp này.
Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật kể câu chuyện:
Có một anh thợ săn rất ghét những vị Sa-môn vì anh cho là ngày nào gặp Sa-môn thì ngày đó anh không săn được. Một hôm trên đường đi anh gặp một vị Sa-môn tên Ty Sa. Nhìn thấy anh, vị Sa-môn lánh mặt nhưng anh không chịu buông tha mà xua chó ra cắn. Vị Sa-môn sợ quá trèo lên cây, bên dưới mấy con chó cứ đứng khịt khịt mãi. Bất ngờ cái y của vị Sa-môn rớt xuống phủ lên đầu anh thợ săn, mấy con chó tưởng anh thợ săn là Sa-môn nên nhào tới xé xác anh chết. Chúng ta thấy quả báo trổ ngay trong hiện đời.
Vị Sa-môn này sợ mình vô tình phạm vào giới sát sanh nên đến bạch với Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói: “Không phải lỗi ông, là lỗi của người thợ săn. Trong tâm ông ta đầy thù hận và giờ phút này ông ấy đang rơi vào cảnh giới địa ngục.”
Lúc này Đức Phật nói bài kệ:
Người ngu tưởng là ngọt,
Khi ác chưa chín muồi,
Ác nghiệp chín muồi rồi,
Người ngu thấy khổ đau.
Khi tạo ác nghiệp mà chưa trổ quả, người thợ săn thấy vui sướng, nhưng ác nghiệp chín muồi rồi thì người ngu mới cảm thấy khổ đau.
Câu chuyện thứ hai về quả báo trổ ngay trong kiếp này:
Khi Đức Thế Tôn còn tại thế, có hai vợ chồng nghèo đến nỗi chỉ có một cái khố duy nhất. Mỗi lần người vợ ra ngoài, người chồng phải ở nhà. Ngược lại khi người chồng đi làm mướn kiếm ăn thì người vợ phải nhường cái khố lại cho chồng.
Một hôm nghe tin trong làng có lễ trai tăng cúng dường Đức Phật và chư tăng, tất cả chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề, ai có vật dụng thì nên đến cúng dường. Hai vợ chồng này suy nghĩ, sở dĩ mình nghèo cùng khốn khổ là do nghiệp trước bỏn xẻn, ích kỷ, thành ra ngày nay không có quả báo tốt đẹp.
Nhưng hai người chỉ có chung một cái khố, nếu đem cúng dường thì lấy gì mặc để đi làm kiếm ăn, cho nên hai vợ chồng nghèo đấu tranh với nội tâm quyết liệt. Cuối cùng người chồng la lên “tôi thắng rồi, tôi thắng rồi!” Anh quyết định cúng dường cái khố cho Đức Phật. Câu chuyện đến tai vua Ba Tư Nặc. Biết được sự tình, vua thưởng cho anh một số vàng và phong anh chức thủ kho, tức là được thưởng 10 ấp nữa.
Chúng ta làm thiện hoặc làm ác, có những lúc quả báo trổ ngay trong đời này, cũng có những lúc trổ qua đời sau. Trường hợp hai vợ chồng nghèo này, quả thiện trổ ngay hiện đời. Quý Phật tử sanh ra cõi đời này mà được giàu sang, có tiền có của thì biết ngày xưa mình gieo nhân tốt nên ngày nay mới được quả thù thắng, tốt đẹp.
Trong sử 33 vị Tổ, có một vị Tổ tên là Cu Ma La Đa. Một hôm ngài đến miền trung xứ Ấn Độ, có một vị du khách tên là Xà Dạ Đa đến đảnh lễ ngài, ông nói cha mẹ ông rất kính tin Tam Bảo, thường làm việc phước thiện, bố thí cúng dường, nhưng làm việc gì cũng bị hư hao, nghịch ý. Ngược lại, người hàng xóm sát bên nhà rất ác độc, sát sanh, trộm cắp đủ hết mà vẫn khỏe mạnh, làm việc gì cũng thành tựu. Du khách Xà Dạ Đa xin Tổ giải quyết mối nghi này, ông cho rằng luật nhân quả không có thật.
Lúc này Tổ dạy, nhân quả phải trải qua ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Ngài nói:
“Bởi do đời trước tạo nghiệp lành nên đời này hưởng quả lành. Dù đời này có làm ác thì quả ác chịu ở đời sau.”
Mình thấy người nào đó làm ác mà họ vẫn hưởng quả lành, là bởi ngày xưa họ gieo nhân lành bây giờ họ gặt quả. Cũng như một thửa ruộng, mình thấy một người không làm ruộng gì hết mà có gạo ăn, bởi vì mùa trước họ đã làm thành ra ngày nay họ mới có. Còn mình chưa làm gì hết, bây giờ mình mới gieo làm sao có được.
“Cho nên có người đời này tuy làm lành mà đời này không hưởng được quả lành vì nghiệp ác đời trước mạnh hơn.”
Chẳng hạn như ngày hôm nay mình bố thí cúng dường, làm hết tất cả các việc phước thiện mà mình luôn gặt hái những điều bất như ý là do túc nghiệp ngày trước làm việc ác quá mạnh.
“Có người đời này tuy làm ác mà không chịu quả ác vì nghiệp lành đời trước mạnh hơn. Nếu do đời này không được quả lành rồi lại tạo ác thì đời sau ngày càng sa vào đường ác. Nếu do đời này được quả lành rồi lại tạo lành thì đời sau càng tiến trên con đường lành.”
Ngày hôm nay quý Phật tử sinh ra đời được gặp Tam Bảo, được gặp chánh pháp tu hành là quý Phật tử đang đi trên con đường lành. Sở dĩ ngày hôm nay mình được tiền của, được đầy đủ tất cả, mình biết rằng kiếp trước đã gieo nhân thù thắng. Phật không bao giờ nói dối, đời này mình được quả thù thắng, được ở một xứ sở đầy đủ vật chất mà không màng, ham học hỏi Phật pháp là biết đời trước mình đã gieo nhân rất lớn. Ngày hôm nay mình tiếp tục nữa, giống như kinh Nhân Quả nói là từ sáng mà vào sáng.
“Lại có người đời trước làm lành được nửa đời đổi sang làm ác, đến đời này nửa đời trước hưởng phước, nửa đời sau mắc họa.”
Có những người làm lành nửa đời, đến khoảng ba mươi tuổi tự dưng buôn xì ke ma túy, trộm cắp, sát sanh, tà dâm đủ thứ chuyện. Trong cuộc sống giữa đời thường mình thấy rất rõ, có những người mới lọt lòng rất là sướng, nửa đời sau gặp nhiều khổ đau, hoạn nạn. Cũng có những người nghèo xác xơ, đùng một cái giàu lên.
Cho nên Phật nói mình mang thân này gọi là thân tổng báo, thiện có, ác có đủ hết chớ không phải báo thân như Đức Phật. Quý Phật tử nghiệm lại cuộc đời mình, có khi nào quý Phật tử lâm vào cảnh nghèo đói không? Có lúc mình giàu có, cũng có lúc mình lâm vào cảnh nghèo đói khốn cùng, là biết rằng đời trước nửa đời làm lành, nửa đời sau đổi làm ác. Bây giờ quý Phật tử nhớ, mình từ sáng sẽ vào sáng luôn đừng có đi lòng vòng, tức là ngay giờ phút này chúng ta phải làm như thế nào để từ sáng mà vào sáng.
“Hiện nay cha mẹ ông và người hàng xóm, lẽ báo ứng thiện ác cũng giống như thế, bởi nghiệp đời trước chiêu cảm nên như vậy, đâu phải căn cứ trong hiện đời mà hiểu được.”
Du khách Xà Dạ Đa sau khi nghe Tổ dạy thì tan hết mối nghi ngờ. Quý Phật tử nghiệm lại cuộc đời mình giống y như vậy phải không? Bây giờ mình gia công tu tập thôi chớ không nghi ngờ gì nữa hết. Rồi ngài dạy thêm:
“Tuy ông đã tin nghiệp ba đời mà chưa rõ nghiệp từ hoặc sanh, hoặc nhơn thức có, thức y nơi bất giác, bất giác y nơi tâm.”
Tức là tuy ông tin nghiệp ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai mà ông chưa rõ nghiệp này từ “hoặc” sanh. “Hoặc” tức là mê lầm, nghiệp từ sự mê lầm mà sanh ra. Tại sao các ngài nói là “hoặc” nhơn thức mà có, thức thì y nơi chỗ bất giác mà có? Chẳng hạn như sự khổ đến với mình, tự nhiên mình bất giác. Mình bất giác là chưa thấu tột được lý nhân quả. Mình chửi trời mắng Phật, chửi cha mắng mẹ là bất giác nên duyên theo thức, mà không ngờ bất giác phải y nơi tâm vọng động của mình.
Nếu tỉnh táo, định tĩnh lại, mình thấy những nghịch cảnh, những khốn cùng đến với mình không phải do cha hay mẹ mình tạo ra; không do trời đất cũng không do Phật mà chính bản thân mình tạo ra thì tức khắc mình ở trong trạng thái định tĩnh, nghiệp tự nhiên tiêu. Mình định tĩnh tự nhiên nghiệp không còn tác động đến mình nữa. Chắc chắn điều đó.
“Song tâm vốn thanh tịnh, không sanh diệt, không tạo tác, không báo ứng, không hơn kém, lặng lẽ linh thông. Ông nếu vào pháp môn này có thể đồng với chư Phật. Tất cả thiện ác hữu vi, vô vi đều như mộng huyễn.”
Lý Phật dạy rất là hay mà tu thì hơi khó phải không? Ngài nói rất rõ, tâm thì vốn thanh tịnh, không nhơ không sạch, không sanh không diệt, hữu vi vô vi, thiện ác, báo ứng, nghiệp báo giống như mộng huyễn. Giống như nhìn ra trời thấy một áng mây, nghiệp cũng giống như áng mây, có sanh có diệt nhưng mà hư không vẫn bất động.
Mình định tĩnh được thì tức khắc cái nghiệp tan loãng. Có nghiệp đến, nhưng mà đối với mình thì giờ phút này tự nhiên mình dửng dưng; biết tại sao người đó chửi mắng mình, tại sao ngày hôm nay làm cái gì cũng bị ghét. Biết được rồi mình định tĩnh lại thì cái nghiệp không còn tác động đến bản thân mình nữa.
Vua nước Nam Ấn hiệu là Thiên Đức có hai vị hoàng tử. Hoàng tử thứ nhất tên là Đức Thắng, hay làm điều ác mà thân thể khỏe mạnh. Hoàng tử thứ hai rất hiền từ, hay bố thí cúng dường, làm tất cả các việc thiện pháp nhưng bệnh suốt. Vua đến hỏi Tổ Bà Xá Tư Đa nguyên nhân nào như thế. Tổ Bà Xá Tư Đa khẳng định rằng cái bệnh của hoàng tử là do công đức phát sanh. Quý Phật tử hiểu điều đó không? Nghiệp báo đúng ra phải đọa trong ba đường ác, hoặc bị những nghịch cảnh rất đau khổ, mà bây giờ chỉ bệnh chút xíu thôi, đó là do công đức phước thiện phát sanh ra. Thành ra chuyển trọng thành khinh, tức là chuyển nặng thành nhẹ.
II. Những nghịch cảnh giữa đời thường là chướng duyên hay thắng duyên?
Mạnh Tử nói:
“Khi trời muốn giao phó trọng trách cho một người nào đó thì trước hết làm cho khổ cái tâm trí, nhọc cái gân cốt, đói cái thể xác, cùng túng cái thân người ấy, động làm gì cũng nghịch ý muốn. Có vậy mới kích động cái tâm, kiên nhẫn cái tánh, khiêm ích cho những điều chưa làm được.”
Khi trời muốn giao phó cho mình trọng trách, tự nhiên nó kích động làm cho mình cùng túng cái thân, động làm gì cũng nghịch ý muốn. Có như vậy mới kích động cái tâm, kiên nhẫn cái tánh, khiêm ích cho những điều chưa làm được, để cho mình có một cái nhìn thẩm thấu vào cuộc đời này.
Ngày xưa mình bị nghịch cảnh đau khổ, cùng túng mà không biết vì sao. Chính vì ngày xưa bị nghịch cảnh đau khổ cùng túng như thế, ngày hôm nay mình mới được giao phó công việc đó. Có những việc mình chưa làm được nhưng nhờ nghịch cảnh, nhờ những chuyện xảy ra bất như ý trong cuộc đời, tự nhiên có một cái gì đó thấy suốt hơn ngày xưa sống trong cảnh nhung lụa. Mình tu rồi chiêm nghiệm lại bản thân, chiêm nghiệm trong cuộc đời, mình thấy Phật pháp quá lý thú, lý thú ở chỗ thực nghiệm ngay trong cuộc đời này.
Qua bài này chúng ta nhớ đến Hàn Tín luồn trôn Ác Hiểu ở đất Hoài Âm. Khi đó Hàn Tín rất nghèo đói, thường ra sông Hoài câu cá. Một bà lão giặt lụa ở bờ sông Hoài thấy ông đói khát nên cho cơm ăn hằng ngày. Ông cảm động nói sau này sẽ đền ơn. Bà nói ông còn chưa nuôi nổi thân mình, bà không mong ông báo đáp. Hàn Tín lấy làm xấu hổ và quyết chí phải làm nên sự nghiệp.
Một hôm ông câu được nhiều cá, đem ra chợ bán thì gặp một người tên Ác Hiểu. Ác Hiểu thấy Hàn Tín luôn đeo kiếm nên rất ghét muốn làm nhục. Y nói với Hàn Tín, nếu muốn là anh hùng thì hãy giết y, nếu hèn nhát thì phải chui qua háng y. Lúc này Hàn Tín nghĩ mình chưa có công danh sự nghiệp, nếu giết người thì phải đền tội nên ông im lặng chui qua háng Ác Hiểu.
Một vị thầy tướng đứng gần thấy Hàn Tín tuy phải chịu nhục như thế nhưng có quý tướng hiển lộ. Ông nói, chú em sau này sẽ được vinh hiển. Quả nhiên sau này Hàn Tín phò tá Lưu Bang tức là Lưu Bang Hán Cao Tổ để đánh lại Hạng Võ, khi thanh bình thì được phong chức Sở Vương.
Nhớ ơn bà lão ngày xưa, ông thưởng bà một ngàn lượng vàng, và gọi Ác Hiểu vào phong hầu. Ác Hiểu sợ bị trả mối thù xưa nhưng Hàn Tín nói: “nhờ cái nhục, nhờ nỗi đau ngày đó mà tôi ráng phấn đấu được như ngày hôm nay.” Thành ra có những người kích động cái tâm mình, họ làm cho mình tới khốn cùng, nhờ những phút giây đó mà cố gắng vươn lên.
Quý Phật tử có biết ngọc trai được hình thành như thế nào? Người ta mổ bụng con trai, bỏ hạt cát vô, nếu con trai này tiết ra chất nhờn bao bọc hạt cát thì chất đó biến thành ngọc trai. Nếu không chịu nổi, con trai chết thì ngọc trai không được tạo thành.
Câu chuyện này muốn nói rằng mình phải sẵn sàng chịu bị mổ xẻ, để bỏ một hạt cát nghịch cảnh vào. Nếu chịu đựng được thì trong con người mình tiết ra một chất, đó là chất thấy đúng như thật, thấy cuộc đời này là vô thường, là khổ, là không, là vô ngã thì tức khắc biến thành ngọc trai. Thành ra sống trong cuộc đời này chúng ta phải sẵn sàng bước qua những nghịch cảnh, thì mình thấy nghịch cảnh là thắng duyên chứ không phải là chướng duyên.
Trong quyển sách Nghệ thuật sống kể: Có một anh ngồi nhìn thấy con nhộng nhúc nhích, cố chui ra khỏi cái kén, anh tội nghiệp nên tới xé giùm, không ngờ nó rơi xuống cọ quậy một hồi rồi chết. Nhìn lại thấy nó có hai cái cánh cụt ngủn. Anh mới phát hiện rằng muốn chui ra khỏi kén để biến thành con bướm, nó phải cố hết sức, khi cố gắng thì bên trong tiết ra một chất nhờn mọc cánh bay đi.
Mình cũng phải giống như một con nhộng, phải tự chui ra, đừng có nhờ ai gỡ thì mình mới có chất liệu sống, mọc được hai cái cánh mà tung bay giữa cõi đời này, không bị cõi đời này làm cho sầu, ưu, bi, khổ, não. Có những người sống trong cảnh giàu sang nhung lụa mà tự tử chết. Còn có những người trải qua khốn cùng đau khổ thì khi sự khổ đến họ vẫn dửng dưng.
Trong Cổ Học Tinh Hoa kể: Cha nói với con: “Khi con hai mươi lăm tuổi con cho là con khôn hơn cha, nhưng đến bốn mươi tuổi thì con biết rằng con còn dốt hơn cha nhiều lắm, và khi con tám mươi tuổi, con mới hiểu rằng ông bà mình khôn hơn mình.”
Tôi thấm nhất điều này, ngày xưa vào chùa, có những chuyện bất như ý, tôi nghĩ: “Sao mấy ông thầy này lại như thế!” Nhưng sau khi tu tập một thời gian rồi ra làm Phật sự chút ít, mới thấy mình còn dốt lắm. Cho nên Lão Tử nói càng học càng thấy mình ngu. Càng học càng thấy thiếu sót, cả trên đường đời lẫn đường đạo. Có như vậy mình mới dừng bước lại, trong giờ phút thực tại đó bản ngã từ từ tiêu dung.
Có những người mới vô chùa cái ngã bằng hạt lúa, tu một thời gian cái ngã bằng trái bưởi! Đáng lẽ tu càng ngày cái ngã càng tiêu mà tu càng ngày cái ngã càng lớn, là tại vì chưa thấu suốt vấn đề nghịch cảnh trong cuộc đời. Nghịch cảnh đến tự nhiên chùn bước lại. Sự kiêu mạn của con người từ ba điều: một là sống lâu, hai là trẻ tuổi, ba là không tật bệnh. Khi bị bệnh nặng mình mới thương quý cuộc đời này và thương tất cả mọi loài chúng sanh, còn chưa bệnh thì mình chưa biết thương. Những người trẻ tuổi họ chưa thẩm thấu được vấn đề này.
Trong Luận Bảo Vương Tam Muội, Đức Phật dạy:
“Ở đời đừng cầu không hoạn nạn, vì không hoạn nạn thì kiêu sa nổi dậy.”
Mình ở đời cái gì cũng suôn sẻ, thì kiêu mạn luôn luôn nổi dậy.
“Xây dựng đạo hạnh thì đừng cầu không bị chông gai, vì không bị chông gai thì chí nguyện không kiên cường.”
Mình tu tập chuyện gì cũng suôn sẻ, không có chướng ngại nào đến thì chí nguyện không bao giờ kiên cường. Chẳng hạn hôm nay quý Phật tử đi thọ giới, ra đường thấy trời mưa, mình nói thôi để tháng sau thọ. Đó là chướng ngại, là chông gai. Mưa gió bão bùng lạnh lẽo mà sẵn sàng đi thọ giới để tu tập thì chí nguyện lúc này mới kiên cường, công đức cũng nhiều hơn những ngày tốt trời đi tu tập.
Có vị Phật tử kể, khi ông chưa tu, cuộc đời ông chuyện gì cũng suôn sẻ, ông sống rất yên ổn, thoải mái. Sau khi ông phát tâm quy y Tam Bảo và tu tập thì vợ ông chết để lại hai đứa con, ngày nào chúng cũng chửi ông, có lúc ông quẫn trí định uống thuốc độc tự tử.
Một hôm đang đi lang thang, có người đưa ông bài kệ và nói: “Khi bị chúng chửi, ông đọc bài này sẽ hết buồn.”
Một người thô lỗ chửi ào ào,
Sao mình thô lỗ như thế sao?
Có người hỏi sao ông hay vậy, bị con cái chửi vẫn bình thản ngồi uống trà. Ông đưa bài kệ ra nói: “tôi có hay gì đâu, tôi đọc bài kệ này. Tôi chửi lại thì tôi cũng như chúng nó thôi.”
Nhà Phật nói:
“Thắng ngàn vạn quân địch không phải là chiến công oanh liệt nhất, mà chiến công oanh liệt nhất chính là chiến thắng bản thân mình.”
Ông đọc tiếp:
Một đứa cộc cằn thêm đứa nữa,
Hai thằng khờ dại giống như nhau.
Từ ngày đọc bài kệ đó, ông thấy cuộc đời đơn giản không có gì rắc rối. Rắc rối hay không là do chính bản thân mỗi người chúng ta, do bên trong phóng ra, duyên theo trần cảnh bên ngoài mà thành rắc rối.
Các con của mình có đứa nghịch, cũng có đứa thuận. Nhà Phật nói đều là oan gia túc trái. Câu chuyện Cải Gia Vi Tự sau đây do cố Hòa thượng Thiện Hoa kể lại:
Có ông phú hộ, khi chưa có con ông toàn làm chuyện ác, buôn gian bán lận. Khi có hai đứa con trai, rồi thêm đứa con gái, tự nhiên ông phát tâm quy y. Sau khi quy y, thằng Hai lăn đùng ra chết, bực quá ông chửi Hòa thượng, chửi tăng chúng. Hòa thượng khuyên ông ráng tu tập, đó là duyên nghiệp mỗi người. Ông cũng nghe lời Hòa thượng, ráng tu tập tinh tấn, trì Kinh Kim Cang rất là thành kính. Một năm sau thằng Ba lại ra đi. Kỳ này ông dẹp bàn thờ Phật, trả lá phái quy y lại luôn. Ông hận tới độ treo cái bảng trước nhà ghi là “tăng tục vô duyên”, tức là tăng tục không còn có duyên gì nữa hết.
Ông còn cô con gái út, năm nay hai mươi tuổi rất đẹp người đẹp nết. Một hôm ông treo bảng kén rể, ông nói ông không cần gì hết, nhưng khi ông chỉ vào bất cứ cái gì mà người đó đọc lên được câu kệ thì ông sẵn sàng gả con gái.
Một hôm có chàng thanh niên rất đẹp người, nhưng vừa nhìn thấy anh, ông đã bực vì anh này mặc áo nâu sồng mà đầu thì cạo trọc. Ông giận tím người:
– Tao đề trên cửa là “tăng tục vô duyên” mà mày còn đến đây làm gì?
Anh thanh niên nói:
– Con không phải thầy chùa. Nhà con nghèo nên cha mẹ gởi con vô chùa. Trời nóng nực nên con cạo đầu cho mát, rồi mấy ông thầy thương cho áo nâu, chứ con không phải thầy chùa.
Ông nói:
– Thôi cũng được, bây giờ vô đây tao chỉ.
Ông chỉ món gì anh này cũng đọc ra những câu kệ trong kinh Phật. Ông phú hộ giận quá:
– Tao đã nói là “tăng tục vô duyên” mà mày đọc câu nào cũng trong kinh Kim Cang hết.
Thấy ông phú hộ giận, anh thanh niên nói:
– Con ở trong chùa lâu ngày, kinh Phật thâm nhiễm vào tâm nên con nói gì cũng trong kinh Phật hết, ông thông cảm cho con.
Ông phú hộ cũng hứa gả con gái nhưng sai gia nhân đánh anh thanh niên ba chục roi chảy máu rồi cho qua nhà hướng Đông ngủ tạm, chờ đủ duyên sẽ làm lễ cưới. Tối lại ông nằm thiêm thiếp thì thấy anh qua hỏi ông có muốn đi gặp hai đứa con đã mất không. Chàng rể tương lai dẫn ông đi qua cõi âm u mờ mịt, đang đi thì gặp thằng Hai cưỡi ngựa, ông khóc lóc chận lại:
– Từ ngày con đi cha rất là buồn khổ.
– Cha con gì ông. Ông nhớ thằng Hai tá điền ngày xưa không? Ông quịt của nó mấy trăm ngàn đồng rồi bỏ tù nó đến chết. Nói thiệt với ông, tôi quay lại chủ yếu đòi nợ cho nên tôi phá tài sản ông cho hết. Đúng ra tôi đòi ông thêm hai chục ngàn nữa nhưng thấy ông hồi tâm quy y nên tôi bỏ đi.
Đi một đoạn nữa thì ông gặp thằng Ba. Thằng Ba này rất có hiếu, ông được nhà cao cửa rộng là nhờ nó, làm có bao nhiêu tiền đều đưa cho ông hết. Gặp ông, nó nói:
– Ông nhớ thằng Ba tá điền không? Ngày xưa nó rất là nghèo, mẹ chết không có tiền mới đến vay ông tám chục ngàn. Chưa trả hết nợ thì thằng Ba chết, chết rồi nó phải quay lại trả nợ cho ông chứ cha con gì đâu.
Buồn quá ông quay sang người thanh niên thì thấy anh biến thành Bồ-tát Quan Thế Âm, Ngài nói:
– Bởi vì ông phát tâm quy y Tam Bảo chuộc lại lỗi lầm xưa nên ta xuống chỉ ông con đường này để cứu ông khỏi rớt vào ba đường ác.
Giựt mình dậy, ông biết là nằm mộng, một giấc mộng rất dài. Ông qua nhà hướng Đông thì người thanh niên không còn ở đó. Sau đó ông và cô con gái quy y và xuống tóc xuất gia. Câu chuyện “cải gia vi tự” có nghĩa là biến nhà thành chùa.
Nghiệm lại trong cuộc đời, mình thấy có những đứa con rất có hiếu, cũng có những đứa phá cho sạt nghiệp, đều là oan gia trái chủ đến với nhau, trong nhà Phật thấy rất rõ. Dưới con mắt giác ngộ của nhà Phật, tất cả chúng sanh đều là cha mẹ, đều là anh em, là thân bằng quyến thuộc với nhau, một là oán thù, hai là tự nhiên thương mà gặp nhau.
Một hôm Đức Phật đi đến kinh thành nọ khất thực, có hai ông bà già đến ôm chân Ngài khóc lóc nói sao con bỏ cha mẹ đi lâu quá vậy. Có người nói hai ông bà này thấy người sang bắt quàng làm họ. Phật nói: “mấy ông không biết, trong vô lượng kiếp về trước hai người này chính là cha là mẹ của ta, ngày hôm nay ta có nhân duyên lớn để giáo hóa hai người.” Phật ở lại một thời gian giáo hóa cho hai ông bà này chứng quả vị A La Hán rồi Ngài mới ra đi. Tức là có nhân duyên với nhau rồi ngày hôm nay mới gặp được, hoặc là cha, hoặc là con, hoặc là mẹ, hoặc là oán thù. Tất cả mọi người chúng ta sống trong cuộc đời này đều có tương tương báo báo, nhân duyên chằng chịt với nhau.
Trong Tăng chúng của Đại sư Trí Khải có một ông tăng, một đêm ông thức dậy khóc. Hỏi sao ông khóc, ông nói nhớ cha mẹ quá ông khóc. Đại sư Trí Khải quở tại sao ông không nhớ cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp mà chỉ nhớ cha mẹ hiện đời. Ngài dạy ông phải ráng tu tập chứng quả vị giác ngộ nào đó để dìu dắt tất cả chúng sanh trong đó có cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp của ông ra khỏi bể khổ này. Như vậy chính là đền ơn chư Phật.
Thiền sư nổi tiếng nhất nước Nhật là thiền sư Bạch Ẩn, sau khi ngộ đạo ngài không ở chùa nữa mà xuống thôn quê làm một người chăn bò mướn. Các ngài không trốn chạy mà sẵn sàng lao vào nghịch cảnh để kiểm tra lại tâm thức của mình khi những nghịch cảnh dồn dập đến.
Vị quốc sư nổi tiếng nhất ở Nhật là Quốc sư Đại Đăng sống ở gầm cầu với những người ăn mày hơn hai chục năm. Một hôm có người đệ tử nói muốn được ở gần thầy để làm thị giả cho thầy. Quốc sư biết đệ tử sống gầm cầu không nổi nhưng người này năn nỉ quá nên ngài cho sống thử một đêm. Đêm đó một người ăn mày bị bệnh hủi chết, người đệ tử dù ghê sợ cũng phải mang cái xác đi chôn. Hôm sau đệ tử muốn đi khất thực nhưng thầy nói còn bát cháo của người ăn mày chết hôm qua nên không cần đi. Quốc sư bình thản ăn bát cháo trong khi người đệ tử ói tới mặt xanh. Vị đệ tử này về sau cũng trở thành một vị quốc sư nổi tiếng, nhưng sống trong cảnh đời dưới gầm cầu như quốc sư Đại Đăng thì không sống được.
“Việc làm đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì lòng thường kiêu ngạo.”
“Với người đừng mong tất cả đều thuận theo ý mình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng.”
Mình làm gì cũng muốn người khác phải thuận theo ý mình, thì tâm mình có một cái ngã vi tế lồng ở trong, mình không thấy được. Mình cần gì có đó thì tự nhiên trong tâm sinh kiêu ngạo. Thành ra ngày xưa những vị tăng đi hành cước đến chùa học đạo, các ngài làm cho nhụt cái khí để tiêu trừ, quét sạch bản ngã, từ đó mới bước vào con đường thánh đạo được.
III. Những ngịch cảnh giữa đời thường của Đức Phật
Mình nghĩ chỉ có mình là gặp nghịch cảnh, còn Đức Phật thì không. Dòng tộc của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có một vị là Đề Bà Đạt Đa. Có những vị thánh đệ tử bạch Phật rằng:
– Bạch Đức Thế Tôn, Thế Tôn có nhất thiết chủng trí, nhất thiết trí, tam minh lục thông, Thế Tôn biết Đề Bà Đạt Đa vào chùa sẽ phá Phật, phá hòa hợp tăng mà sao Thế Tôn lại nhận?
Đức Phật nói:
– Nếu ta không nhận, Đề Bà Đạt Đa mà lên làm vua thì dân chúng chết hết.
Sau khi Đức Thế Tôn xuất gia, rồi A Nan Đà và dòng tộc Đức Phật xuất gia hết, còn một mình Đề Bà Đạt Đa ở ngoài. Phật biết túc nghiệp Đề Bà Đạt Đa rất nặng cho nên Ngài dắt vào chùa để giảm bớt ác nghiệp. Đề Bà Đạt Đa phạm đủ điều: làm thân Phật xuất huyết, cho voi say chà Phật, rồi lăn đá, gây nhiều nghịch cảnh đối với Phật nhưng Phật vẫn dửng dưng và dùng tâm từ rải đến ông.
Nghịch cảnh thứ hai là nghịch cảnh đối với dòng tộc Đức Phật. Ba lần Ngài ngăn cản bước chân của vua Lưu Ly muốn tàn sát dòng họ Thích Ca, lần thứ tư Ngài biết túc nghiệp của dòng họ Thích phải chịu nên Ngài không cản nữa. Cuối cùng vua Lưu Ly vào thành giết dòng họ Thích Ca.
Ngài Mục Kiền Liên tuy đã được Phật nói về túc duyên không thể tránh, nhưng vì nóng lòng nên Ngài dùng thần thông thu năm trăm người bỏ vào bình bát rồi dùng thần thông để trên mây. Sau khi trận chiến kết thúc, Ngài mở bình bát ra thì thấy toàn là máu. Phật nói nghiệp thành quả rồi thì không thể nào chuyển được.
Vậy Đức Phật có thể chuyển nghiệp cho dòng họ Thích được không? Chuyển được! Nhưng chuyển lúc nào?
Sau khi Đức Thế Tôn thành đạo, do thần túc, Đức Phật thấy dòng họ Thích Ca sẽ chịu những ác nghiệp, Ngài khuyên mọi người nên xuất gia. Nhờ công đức xuất gia, năm trăm vị xuất gia với Đức Phật thì thoát nạn bị tàn sát nhưng chịu nghịch cảnh đau khổ trong suốt ba ngày, Đức Phật thì bị đau đầu.
Phật kể vào kiếp quá khứ xa xưa, có một làng chài, trong làng có một hồ cá lớn. Một ngày nọ dân làng bắt cá lên ăn, trong đó có một con cá lớn. Lúc đó có một đứa trẻ ăn chay, nhưng vì nghịch ngợm đã dùng gậy gõ đầu con cá lớn ba cái. Con cá lớn đời trước chính là vua Lưu Ly bây giờ, những người trong làng, hiện nay là người dòng Thích Ca bị giết, đứa trẻ không ăn cá nhưng gõ đầu cá ba cái chính là Đức Phật.
Vào ngày thọ Bát quan trai, nếu mình ở nhà không đến chùa thọ giới, gặp lúc quả báo ác đến thì mình phải chịu. Nhưng mình đến chùa thọ Bát quan trai giới, tu một ngày thanh tịnh thì quả cũng đến nhưng sẽ nhẹ, không gặp những nghịch cảnh lớn.
Nghịch cảnh thứ ba của Đức Phật là do Tôn Đà Lỵ, một người con gái rất đẹp gây ra. Sau khi giáo pháp Đức Thế Tôn thịnh hành, tất cả mọi người đều đến quy hướng với Ngài, những người Bà-la-môn thù ghét nên tìm cách hãm hại. Họ nhờ Tôn Đà Lỵ độn bụng đến vào lúc Đức Phật đang thuyết pháp:
– Này ông Sa-môn! Ông nói phải tu thế này tu thế kia mà ông làm tôi mang thai, bây giờ ông tính sao?
Đức Phật nói:
– Ngay đây chỉ tôi biết, cô biết.
Đức Phật vừa nói xong thì trên cung trời Đao Lợi, ghế ngồi của vua Đế Thích nóng rực lên. Biết có chuyện lạ, Đế Thích nhìn xuống thấy tình huống như vậy, Ngài dùng thần lực làm cho cục gỗ độn trong bụng Tôn Đà Lỵ rớt xuống, lúc này mọi người mới biết cô này vu oan Đức Thế Tôn. Trên đường về, đất tự nhiên lún xuống, nứt ra chôn sống Tôn Đà Lỵ. Chỗ đó bây giờ thành cái đầm sen, quý Phật tử qua Ấn Độ sẽ thấy một chỗ rào lại gọi là chỗ chôn Tôn Đà Lỵ. Tội phỉ báng một vị thánh tăng thì sẽ rơi vào hỏa ngục rất đau khổ.
Qua câu chuyện của Tôn Đà Lỵ, lúc này A Nan mới đến bạch Phật:
– Bạch Đức Thế Tôn, sao Thế Tôn lúc đó dửng dưng không có một niệm nào hết mà sắc mặt cũng không thay đổi? Nếu là con, chắc con chạy trốn, hoặc là con phải bắt cô đó nói lại đúng sự thật.
Phật nói:
– Ta đã thấu tột được lý nhân quả. Trong vô lượng kiếp về trước ta làm vua, trong kinh thành đó mọi người rất là kính tín Tam Bảo. Một hôm có vị Sa-môn vào cung điện, tất cả quan đại thần đang họp với vua đứng dậy xá chào. Vua hỏi tại sao các ông xoay lại xá vị Sa-môn vậy. Các quan đại thần nói vị Sa-môn này có tài mà đức độ, tu hành rất thanh tịnh. Lúc này vua nói: “cái áo không thể nào làm nên thầy tu, canh ngày ông tu vậy, canh đêm ông làm bậy bạ sao mà biết.” Do khẩu nghiệp mà hôm nay chịu quả báo bị người phỉ báng.
Phật thấu tột được chỗ nhân duyên và nhân quả cho nên Ngài mới dửng dưng không đổi sắc mặt. Qua câu chuyện này Đức Phật dạy chúng ta đừng tạo khẩu nghiệp, đừng nói ra những lời vô ích đến người khác, nói xấu người khác thì mai kia quả báo sẽ đến với mình.
Người thứ tư gây nghịch cảnh cho Đức Phật là một cô gái đẹp nhất kinh thành thời đó. Có một ông giỏi tướng số muốn tìm người rể xứng đáng. Một hôm gặp Đức Thế Tôn trên đường đi khất thực, thấy được ba mươi hai tướng tốt của Phật, ông rất vừa lòng, ông nghĩ nếu ở thế gian người này sẽ làm chuyển luân thánh vương. Ông vội về báo với vợ và dẫn bà đến gặp Phật. Hai ông bà nói:
– Chúng tôi có một đứa con gái đẹp người đẹp nết, xin gả cho Ngài. Nếu Ngài đồng ý chúng tôi trao hết gia tài, Ngài khỏi đi ăn xin.
Đức Phật đáp:
– Ông nói con gái ông đẹp, nhưng dưới mắt người tu chúng tôi, tất cả mọi người dù đẹp hay xấu cũng chỉ là đãy da hôi thúi không có giá trị gì.
Người con gái nghe được câu này rất tức giận, từ trước đến nay chưa có ai dám khinh chê cô, nay vị Sa-môn này dám chê cô là một đãy da hôi thúi, cô thề sẽ trả thù. Sau đó cô làm thứ phi vua nước Kosambi. Một hôm Đức Phật đi giáo hóa đúng vào xứ cô ở. Nghe tin Ngài đến, cô mướn những người hung dữ trong vùng ra vây quanh chửi mắng Phật. Đức Phật vẫn thản nhiên nhưng Ngài A Nan chịu không nổi nên thưa với Phật đi qua xứ khác. Phật nói: “người bệnh nặng cần được bác sĩ chữa trị, dân chúng ở đây là những người bệnh nặng nên có những hành động bất thường, chúng ta nên giáo hóa họ chớ không nên bỏ họ.”
Đức Phật gặp nghịch cảnh Ngài vượt qua tất cả, còn mình nghịch cảnh đến chỉ biết khóc, chạy trốn, vì mình chưa thấu tột lý nhân quả, chưa thấu tột được ngày trước đã gây tạo những gì. Nghe bài pháp này rồi, nếu nghịch cảnh đến với mình, thì mình vẫn an nhiên tự tại, vui sống trong cuộc đời này và chiêm nghiệm lại cuộc sống, ngày hôm nay mình phải như thế nào chớ đừng có tự tử.
Trong Tứ Hạnh của Tổ Đạt Ma dạy:
1- Báo Oán Hạnh
“Người tu hành khi gặp cảnh khổ phải tự nghĩ rằng, ta từ xưa đến giờ ở trong vô số kiếp bỏ cái gốc mà theo cái ngọn, cho nên trôi lăn trong các cõi nên phần nhiều khởi lòng oán ghét căm hận vô hạn. Đời này tuy rằng không có phạm những tội lỗi ấy nhưng đều do cái họa ương đời trước. Nghiệp ác nó đã chín thì không phải trời, không phải người tạo ra cho mình. Như vậy thì phải cam nhận chịu, trọn không có oán trách nên gọi là báo oán hạnh.”
Nghĩa là khi mình sống trong cuộc đời này, những nghịch cảnh, những đau khổ khốn cùng đến, mình vẫn dửng dưng, vì biết trong vô lượng kiếp bỏ gốc theo ngọn, bỏ thiện làm ác. Ngày hôm nay tuy mình không có phạm, rất hiền lành, cái gì cũng tốt, mà quả nghịch cảnh khốn cùng đến với mình, thì biết chắc chắn rằng trong vô lượng kiếp mình đã tạo, cho nên gọi là báo oán hạnh.
Bà Liên Hoa Sắc đẹp như một bông sen. Bà lấy chồng sanh được một đứa con gái. Một hôm bà phát hiện mẹ chồng và chồng ăn ở với nhau. Bà buồn khổ bỏ nhà ra đi, một thời gian sau bà gặp người chồng thứ hai. Người chồng này mua một người thiếp về, người thiếp lại chính là con gái của bà với chồng trước.
Quá đau khổ, bà làm đủ thứ chuyện để phá hoại cuộc đời, kể cả chọc ghẹo mê hoặc ngài Mục Kiền Liên. Nhờ đạo lực ngài thuyết phục được bà quay về nẻo thiện và hướng dẫn bà đến bái yết Đức Thế Tôn. Liên Hoa Sắc được Phật cho phép xuất gia, bà chứng quả A La Hán và trở thành vị thần thông đệ nhất bên Ni. Chứng được quả vị A La Hán rồi, bà biết rằng trong vô lượng kiếp về trước bà đã tạo nghịch cảnh, tội lỗi rất lớn thì ngày hôm nay gặt quả lại chớ không có gì lạ.
2- Tùy Duyên Hạnh
“Chúng sanh không có ngã, tùy duyên nghiệp mà chuyển, khổ vui đồng thọ đều từ nơi duyên sanh mà ra. Nếu được quả báo thù thắng, những việc danh dự ấy là thuở quá khứ do nhân lành đời trước của chúng ta mà có, cảm nên, nay mới được như vậy, khi duyên hết rồi cũng trở thành không. Như vậy đâu có gì mà mình phải mừng, cho nên gọi là tùy duyên hạnh.”
Mình sanh trong cuộc đời này cái gì cũng được thuận cảnh thì nên nhớ một điều, tùy duyên nghiệp mà chuyển, khổ vui đồng thọ đều từ nơi duyên mà sanh, tức là cảm cái quả báo thù thắng do túc nghiệp đã làm. Ngày hôm nay nếu con mình làm bác sĩ, kỹ sư hay tiến sĩ, mình cũng đừng khinh khi người khác. Vì sao? Ấy là thuở quá khứ do nhân lành đời trước cảm nên. Khi duyên hết rồi cũng trở thành không, như vậy thì có gì đâu mà mừng, có gì đâu mà khinh khi những người khác.
Có những người không biết Phật pháp, sống trong cảnh giới tăm tối, phàm phu ngu muội, họ thấy họ được sung sướng, họ thấy con họ làm bác sĩ, làm kỹ sư, dược sĩ v.v.. rồi khởi lên tâm niệm khinh khi những người khác. Nhiều lúc họ dấy niệm, sao người nọ người kia làm gì cũng bị nghịch cảnh, chắc kém phước hơn mình. Chưa chắc! Có những người bị nghịch cảnh vậy đó, nhưng là người vĩ đại, phấn đấu vươn lên. Mình khinh khi, ngạo mạn, khi hết duyên rồi thì quả báo cũng trở thành không, không có thực thể.
Đó là pháp tùy duyên hạnh, sống trong cuộc đời này làm gì cũng phải tùy duyên. Chẳng hạn con mình đỗ bác sĩ, kỹ sư, tiến sĩ là mình biết do túc nghiệp tốt mới cảm đến những người con này. Mình đừng khinh khi những gia đình sống trong cảnh giới tối tăm làm gì cũng hư chuyện, hoặc trai thì trộm cắp gái làm lầu xanh, do quả báo mà cảm nên thôi. Quả báo này do mê lầm mà có chớ không có gì lạ. Chỗ bất sinh bất diệt mình thấy được rồi thì không bao giờ khinh khi những người khác. Cho nên Bồ-tát Thường Bất Khinh nói “tôi không dám khinh các ngài vì các ngài sẽ thành Phật.”
Quý Phật tử nhớ một điều, chưa chắc ai giỏi hơn ai, sở dĩ người đó thua kém mình bởi vì phúc duyên của họ không được như mình. Nếu họ có phúc duyên như mình chưa chắc mình hơn họ. Quán sát sâu sắc thì mình không bao giờ khinh khi một người nào hết. Sống trong cuộc đời này chúng ta phải thẩm thấu như vậy thì mới không bị cuộc đời làm cho đau khổ.
3- Vô Sở Cầu Hạnh
“Người đời hằng ở trong mê, mỗi chỗ mỗi chỗ đều có tham trước nên gọi đó là cầu. Người trí ngộ được cái chơn cho nên cái lý sẽ khác, ngược với người thế tục, an tâm vô vi tùy hình vận chuyển. Vạn hữu đều là không, không có cái gì mà mong thích. Công đức thầm lặng thường thầm theo nhau. Ba cõi như nhà lửa, có thân đều là khổ. Cái gì mà được an vui? Rõ suốt được chỗ này cho nên bỏ cái hữu, dứt cái tưởng, không có mong cầu. Kinh nói có cầu đều là khổ, không cầu mới an vui, đâu biết không cầu thật là đạo hạnh nên gọi là vô sở cầu hạnh.”
Người đời hằng ở trong mê, mỗi chỗ mỗi chỗ đều có tham trước nên gọi đó là cầu. Chẳng hạn mình ngồi thiền cũng mong cầu sở đắc gì đó, hoặc làm gì cũng mong cầu cho mau thành tựu thì đó là tham chấp, trong nhà Phật gọi là cưỡng duyên. Quý Phật tử nên nhớ một điều, vạn pháp tùy duyên mà vận hành giống như một dòng nước chảy, chảy một hồi cũng sẽ đến với mình thôi. Tất cả vạn pháp đều luân lưu mà chuyển động, cuộc đời chúng ta cũng như thế thì không có gì mong cầu hết.
Người trí ngộ được cái chơn nên cái lý nó sẽ khác, ngược với người thế tục, an tâm vô vi tùy hình mà vận chuyển. An tâm ở trong cảnh giới đó, bữa nay ăn một dĩa rau muống chấm nước tương cũng vui, tùy hình mà vận chuyển chứ đừng có mong cầu phải có một đĩa thịt bò hay một con gà luộc, là mong cầu thái quá. Trong túc nghiệp, mình vẫn vô vi tùy hình vận chuyển.
Vạn hữu đều là không, không có cái gì mà mong thích. Quý Phật tử có thấy vạn hữu là không, không có gì mà mong thích? Trong cuộc đời này mình mong thích đủ thứ, mong thích đẹp, mong thích con học giỏi… Bây giờ mình nói ngược lại: “nếu thầy nói vậy thì bỏ bê hết tất cả các pháp?” Quý Phật tử nhớ, Tổ nói tùy hình mà vận chuyển có nghĩa là mình vẫn cho con cái ăn học, nhưng tùy hình vận chuyển, nếu túc nghiệp tốt thì tự nhiên nó học đến nơi đến chốn. Có những người cha mẹ dốt mà con vẫn đỗ đạt. Túc nghiệp tốt thì tất cả mọi chuyện đến đều tốt. Muốn được như vậy thì bản thân phải làm gương. Chẳng hạn mình dạy con đừng hút thuốc, đừng uống rượu đánh bài, mà mấy thứ đó mình làm hết thì sao con nghe.
Có câu chuyện: Một bà già có đứa con ghiền chơi kiểng tới mức muốn sạt nghiệp. Bà dẫn nó đến một vị Hòa thượng, nhờ Hòa thượng khuyên nó bỏ chơi kiểng. Hòa thượng bảo hai mẹ con về mười lăm ngày sau quay lại. Nửa tháng sau bà và đứa con trở lại, Hòa thượng chỉ nói một câu:
– Con ráng bỏ đừng có chơi nữa, tiền này là tiền mồ hôi nước mắt của cha mẹ con.
Bà tức quá:
– Con nói thiệt là con rất nể Hòa thượng, Hòa thượng biết là đường xá xa xôi, sao Hòa thượng không nói sớm mà bắt con nửa tháng sau phải quay lại?
Hòa thượng nói:
– Tôi nói thiệt với bà ngày xưa tôi còn ghiền chơi kiểng hơn nó nữa, mà tôi ghiền hơn nó thì sao tôi dạy được. Tôi nói bà đợi nửa tháng là để tôi ráng bỏ, bỏ được rồi tôi mới dám chỉ.
Quý Phật tử thấy giống mình không? Muốn chỉ dạy ai bỏ cái gì thì mình phải biết bỏ, mới chỉ dạy được, không bỏ được mười thì cũng bỏ được năm sáu. Như chúng tôi chưa có được gì trong đạo hết, nhưng sở dĩ thay thế các vị Hòa thượng đọc những câu kinh câu kệ cho quý Phật tử là chúng tôi tệ lắm cũng ăn chay, ở hơi xa thành phố một chút. Có người lên đây chừng bày tám ngày hay nửa tháng chịu không nổi. Có người xin ở bảy ngày, mới ba bốn ngày là dọn đồ về. Ngày về tôi thấy họ mừng ra mặt. Cho nên các ngài nói mình ở chỗ rừng sâu núi thẳm là phải có túc duyên, muốn gắn bó với núi rừng thì mình mới ở được.
Công đức thầm lặng thường thầm theo nhau. Nếu tu tập được như vậy, tức là không mong cầu, không mong thích thì công đức thầm lặng luôn luôn theo. Trí thanh tịnh, thể vắng lặng đó là công đức chân thật của quý Phật tử. Chẳng hạn mình ngồi yên lại, buông hết, không mong cầu chứng đắc, không mong cầu sự nghiệp gì hết thì công đức này theo mình, mai kia đưa mình đến cõi lành.
Ba cõi như nhà lửa. Đây là lấy trong kinh Pháp Hoa, tam giới vô an, du như hỏa trạch, tức là ba cõi không an giống như nhà lửa. Ba cõi dục giới, sắc giới và vô sắc giới giống như một cái nhà lửa vậy, dầu cho quý Phật tử sanh lên cõi trời rồi cũng khổ.
Có thân đều là khổ. Nhức răng, chóng mặt, nhức đầu chuyện gì cũng khổ. Lão Tử nói: “ta có cái hoạn lớn vì ta có thân, nếu ta không có thân này thì lấy gì là khổ.” Cho nên người mới sanh ra đời khóc lên ba tiếng: khổ khổ khổ, nhà Phật gọi là dukkha. Sự khổ của con người nhà Phật nói có tam khổ và bát khổ.
Bây giờ nói về bát khổ: sanh, lão, bệnh, tử khổ, oán tắng hội khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ. Oán tắng hội khổ, tức là không thích nhau mà ra vô gặp mặt hoài. Chỉ cần định tĩnh lại thì không còn khổ nữa, tức là có khổ về thân nhưng không khổ về tâm. Có những người khổ về thân mà cũng khổ về tâm luôn.
Ngày xưa ở Linh Chiếu thường tổ chức châm cứu, có bà già châm cứu đau bà la bà chửi, khi rút kim ra rồi bà vẫn chửi. Cô châm cứu cho bà nói, nãy giờ tôi rút kim ra cũng hai chục phút rồi sao bà còn chửi. Bà nói, rút kim ra sao không nói cho bà biết! Mình thấy rõ ràng là do tâm tưởng. Phật nói chúng sanh luôn luôn sống trong cái tưởng, thành ra khổ là do sự tưởng tượng của tâm.
Cái gì mà được an vui? Rõ suốt được chỗ này cho nên bỏ cái hữu, dứt cái tưởng, không có mong cầu. Tức là bỏ hết tài sắc danh lợi, và dứt cái tưởng, không có mong cầu.
Kinh nói, có cầu đều là khổ, không cầu mới an vui, đâu biết không cầu thật là đạo hạnh nên gọi là vô sở cầu hạnh. Tức là có cầu là khổ mà không cầu mới được an vui. Mong cầu mà không được toại ý là khổ. Chính không có mong cầu đó gọi là đạo hạnh. Nãy giờ tôi nói, tùy duyên nó đến với mình thôi không có mong cầu.
Tôi kể câu chuyện vui. Ở quê tôi có một bà, nhà nghèo thành ra lúc nào bà cũng mong cầu trúng độc đắc để cuộc đời bớt khổ. Một hôm bà nghe có cái đền rất linh, bà đến vái thần mà linh cho bà trúng số, bà sẽ cạo đầu. Sáng hôm sau bà trúng số, mà trúng giải bảy thôi. Trúng số thì phải cạo đầu, giải bảy trúng năm ngàn mà cạo cái đầu hết bảy ngàn! Bởi vì bà sơ ý không nói trúng độc đắc, chỉ xin cho con trúng số, thì trúng giải bảy, giải tám giải mười gì cũng là trúng, thành ra bà cạo cái đầu lỗ hai ngàn! Sáng sớm bà đi ăn bánh canh người ta hỏi “ủa sao chị cạo đầu vậy?” Bà kể ra ai nghe cũng cười. Cho nên cầu tức là khổ mà không cầu là vui, không có mong cầu mới gọi là đạo hạnh.
4- Xứng Pháp Hạnh
“Lý tánh tịnh gọi đó là pháp. Tin hiểu được lý này, các tướng đều là không, không nhiễm, không trước, không đây, không kia. Kinh nói rằng pháp không chúng sanh và lìa cái cấu của chúng sanh, pháp không có ngã và lìa cái cấu của ngã. Người trí hay tin hiểu lý này nên nói phải xứng với pháp mà hành. Pháp thể không có xan tham cho nên đối với thân mạng tiền của mình thực hành hạnh bố thí. Tâm không có tiếc lẫn, thấu suốt được ba cái lẽ không, không có nương, không có mắc, chỉ là dẹp bỏ những cái cấu nhơ để mà xứng hợp. Giáo hóa chúng sanh mà chẳng có chấp tướng, đây là tự hành lại hay làm lợi ích cho kẻ khác, cũng hay trang nghiêm được đạo Bồ-đề. Bố thí đã như vậy, đối với năm cái khác: trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ cũng như vậy. Vì trừ vọng tưởng, tu hành lục độ mà không có cái sở hành ấy gọi là xứng pháp hạnh.”
Xứng pháp hạnh tức là làm hết tất cả các pháp, mà không chấp trước vào tất cả các pháp, vì pháp đó không có chúng sanh, không có cấu, không có nhiễm, không có này không có kia, để xứng với pháp mình tu thôi, chỉ là dứt vọng tưởng mà tu hành lục độ Ba La Mật. Quý Phật tử bố thí nhưng không chấp bố thí; trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ, tất cả mọi cái thực hành hết nhưng mà xứng với cái pháp tánh của mình chứ không có chấp trước thì mới gọi là xứng pháp hạnh.
Mình trì giới mà trong tâm mình nói, bữa nay tôi trì giới rất là thanh tịnh, thì trong tâm mình có một cái ngã rất vi tế. Thấy người nào đó có lúc họ phá giới, tức là mình thấy mình làm cái gì cũng tốt, thấy có những cái họ làm không tốt như mình. Cho nên các ngài nói phải xứng với pháp mà tu, mà pháp đó thì không có chúng sanh, không cấu, không nhơ, không nhiễm.
Mình thấy mình nhẫn nhục cũng không được. Nhẫn một lần, nhẫn hai lần, rồi mình nói “tôi nhẫn ba lần rồi nha, kỳ này là chết với tôi”, tức là mình sẵn sàng ra tay!
Chữ nhẫn, ở trên là chữ nhận, giống như một cây đao đâm vô trái tim của mình, nếu chịu đựng được, hóa giải được gọi là nhẫn. Phật nói trong các hạnh, nhẫn đứng đầu. Nhà Nho nói trong các đức, nhẫn đứng đầu. Nhẫn quan trọng nhất. Nếu mình nhẫn, chịu đựng được, thì mới ôm ấp được nỗi khổ của chúng sanh, mới gọi là xứng pháp mà tu hành.
Tinh tấn quan trọng lắm, nếu không có xứng pháp thì thấy người nào ngồi thiền ngủ lên ngủ xuống mà còn ngáy, mình đọc thầm bài kệ: “Tinh tấn giữa những người buông lung, tỉnh táo giữa những người mê ngủ, giống như con tuấn mã bỏ sau lưng những con ngựa gầy hèn.” Mình đọc thầm trong bụng vậy đó, là thua rồi, là chưa xứng pháp tu. Xứng với pháp, mình tu là mình không thấy ai hết. Vì sao? Vì không có chúng sanh, không có cấu, không có nhiễm. Mình đọc bài kệ như vậy tức là mình khởi niệm: “vô đây ngồi thiền mà còn ngáy”, là mình có cái ngã lồng trong đó.
Tôi kể câu chuyện có thật. Có ông thầy ngồi thiền trong thiền đường Thường Chiếu, ông mới vừa ngồi thì trong thiền đường mọi người nghe tiếng la: “ăn trộm, ăn trộm!” Ông kể, mới kéo chân lên thì ông mơ thấy đi bắt ăn trộm. Rồi có một ông thầy nữa đang ngủ gục, một thầy khác nhìn người này ngủ như thế nào, nhìn một hồi ông cũng ngồi ngủ luôn.
Ngày xưa tôi thấy vậy, bây giờ tôi kể lại cho quý Phật tử, như vậy là biết lúc đó tôi cũng có cái ngã lồng bên trong. Phật dạy để mình ráng phấn đấu lên, chứ không phải để đọc với tâm thái thích thú. Tâm thái thích thú thì gọi là chưa xứng với pháp hạnh. Không cấu, không nhiễm; không chúng sanh, không ta; không đây, không kia, thì mới gọi là xứng pháp hạnh.
Thiền định, trí huệ cũng như vậy. Vì trừ vọng tưởng, tu hành lục độ mà không có cái sở hành ấy gọi là xứng pháp hạnh. Lục độ để dẹp trừ vọng tưởng, tức là làm hết tất cả mà không có cái để làm, tu hết tất cả mà không có cái gì để tu, đó mới gọi là người thật tu và chơn tu.
IV. Nghịch cảnh là chất liệu sống
Sống giữa cõi đời này nếu không có sự chuẩn bị sẵn thì khi nghịch cảnh đến, chúng ta chới với. Chúng ta phải tiêm thuốc ngừa vô người, đó gọi là chất liệu sống. Có một cô Phật tử, chồng mất sớm để lại cho cô một đứa con gái. Cô này thường đi chùa lễ Phật tụng kinh, mà không bao giờ cô dắt con gái đi chùa học Phật pháp gì hết. Cô rất thương con, ông bà cũng rất thương đứa cháu, thành ra đứa con ăn chơi, muốn gì có nấy. Khi lớn lên, người con gái thương một anh thanh niên chích xì ke. Gia đình không chịu nên cô gái này nhảy xuống cầu Bình Lợi chết.
Sở dĩ người con gái này tự tử chết là vì chưa tiêm vô người mũi thuốc ngừa, nói khác hơn là chất liệu sống giữa cuộc đời này. Như có người bị bồ cạp cắn, sau đó bị kiến vàng cắn thì người đó chịu đựng dễ dàng. Còn người chưa từng bị con gì cắn thì khi kiến vàng cắn sẽ la lên như trời sập vậy. Những người từng gặp nghịch cảnh khốn cùng, cuộc đời họ đầy phong ba bão tố thì chuyện gì xảy đến họ cũng dửng dưng.
Theo quan niệm của người xưa, có ba mức độ ở ẩn: tiểu ẩn, trung ẩn và đại ẩn.
Tiểu ẩn chỉ cho những người tu hành trong thiền viện như chúng tôi. Chúng tôi như những người nằm trong bệnh viện, là người bị bệnh nặng. Quý Phật tử như những người đi ngoài hành lang, là người nuôi bệnh chớ không có bệnh.
Những người ở trong thiền viện tu tập, trên có Tổ, có thầy; dưới có huynh đệ, họ sống không biết gì thế giới bên ngoài, ngày này qua ngày khác, nhiều người thấy nhàm chán nên xuất chúng. Ra ngoài một thời gian bị sóng gió dập vùi, hoảng quá chạy vào lại. Những người như vậy là chưa có tiêm thuốc ngừa nên chịu không nổi phải chạy vào thiền viện lại. Còn người nào túc duyên hơi kém thì xin hoàn tục luôn. Mình thấy một chiếc thuyền để trên bờ, cho rằng chiếc thuyền này tốt. Chưa chắc! Phải xuống biển ra khơi mới biết thuyền có chịu được sóng gió hay không.
Đức Thế Tôn sau khi ra đời có hai dòng nước, một nóng một lạnh do tám con rồng phun nước tắm cho Ngài, chịu đựng được thì mới thành Phật. Hai dòng nước đó là thuận và nghịch, phải và trái, có và không. Tám con rồng phun nước là: lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc phun vào mình mà mình không có chuyện gì xảy ra thì họa may mới xưng danh là Phật. Còn mình một dòng nước chịu cũng không nổi! Mình xem kinh sách phải đâm thủng vấn đề: tại sao sự việc đó xảy ra, hiện tượng đó là thế nào, thì mới thấy biểu tượng của các pháp này là chỉ cho một vị Phật ra đời.
Có một bức tranh thủy mặc tôi xem mà thấy tâm hồn thổn thức. Trong tranh vẽ một người hành khất, người này xoay mặt lại phía trước vẽ một con đường dài, tượng trưng một con đường sanh tử liên miên. Cũng như một vị thi sĩ nói:
Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một lát,
Nào ngờ đâu xuống mãi đến hôm nay.
Cứ ngỡ xuống trần chơi một chút rồi lên lại, nhưng nhìn lại không ngờ vẫn có mặt đến ngày hôm nay. Chư Phật chư Tổ thành tựu hết rồi mà mình vẫn còn lang thang trong ba đường sáu nẻo. Ngày hôm nay quý Phật tử ngồi đây yên ổn tu hành chắc cũng duyên may tám đời. Hồi nãy quý Phật tử ngồi một tiếng thấy yên không? Mưa gió bão bùng nhưng tự nhiên tâm hồn chúng ta lắng đọng xuống, các pháp dù cho biến chuyển thiên thu, nhưng mà tâm hồn mình vẫn lắng đọng trong giờ phút thực tại. Vậy còn đòi hỏi gì nữa? Hơn tỷ phú rồi!
Mã Tổ nói với thiền sư Huệ Hải:
– Kho báu nhà mình chẳng đoái hoài, lo chạy tìm bên ngoài, tìm cái gì?
Thiền sư Huệ Hải thưa:
– Cái gì là kho báu của con?
– Chính ngay ông hỏi ta là kho báu đầy đủ tất cả.
Quý Phật tử ngồi yên xuống là nhận ra kho báu đầy đủ hết tất cả, đó là công đức. Thiền sư Đạo Nguyên nói chỉ cần một người ngồi tịnh tâm một phút thôi là hơn người cúng dường bảy báu khắp tam thiên đại thiên thế giới. Công đức của người tịnh tu chỉ cần một giây thanh tịnh thôi, thì mười phương chư Phật cũng không đo được. Bởi vì đạt đến chỗ vô tướng. Không có tướng làm sao đo? Giống như hư không thênh thang không một vật có thể được. Thành ra chỗ này công đức đạt đến chỗ vô tướng.
Trung ẩn là đời sống tục gia cư sĩ. Cư sĩ như quý Phật tử sống giữa cảnh nghịch, cảnh thuận, đủ thứ chuyện đến, mà mình tu tập được thì gọi là trung ẩn. Cuộc đời này đầy đủ vật dục nhưng mình buông xả hết tất cả, tu được thì mới giá trị.
Đại ẩn là những người ở trong quan trường như thừa tướng, tể tướng, và những người có chức phận danh vọng cao mà sẵn sàng bỏ để tu tập thì gọi là bậc đại ẩn.
Cuộc đời nếu không có những nghịch cảnh làm chất liệu sống thì quý Phật tử thấy sao? Tôi đọc bốn câu thơ sau đây của một thi sĩ, quý Phật tử nghiệm xem có thích nghịch cảnh hơn là thuận cảnh hay không:
Không đau khổ lấy chi làm chất liệu,
Không buồn thương sao biết chuyện con người,
Không nghèo đói làm sao thi vị hóa,
Không lang thang sao biết gió mưa nhiều.
Không đau khổ lấy chi làm chất liệu. Chiếc xe muốn chạy phải cần chất liệu xăng, dầu và nhớt. Con người chúng ta nếu không có chất liệu nghịch cảnh thì cuộc đời thấy cũng vô vị. Mình ra bờ biển ngắm những ngọn sóng gợn lên thấy hứng thú hơn là ngắm mặt biển phẳng lặng. Khi ra biển tắm ai cũng thích giỡn sóng hơn là nằm yên một chỗ. Vậy tại sao những ngọn sóng nghịch cảnh đến mình lại trốn chạy? Mình phải giỡn sóng, vui đùa với sóng để chiêm nghiệm cuộc đời này như thế nào. Nghịch cảnh đến thì tự nhiên con người trưởng thành lớn mạnh hơn, và bản ngã lúc này mới tiêu trừ được trong ánh sáng giác ngộ của mỗi con người chúng ta.
Không buồn thương sao biết chuyện con người. Không có buồn thương thì không cảm được con người. Bồ-tát Long Thọ trước khi xuất gia, ngài và hai người bạn học được thuật tàng hình, thường vô cung vua vui đùa. Sau khi hai người bạn bị bắt giết, cảm thấy cuộc đời vô thường ảo vọng, ngài xuất gia tu hành. Trong cuộc đời này có buồn thương mới cảm nghiệm được cuộc đời, thẩm thấu được con người và có sức sống mạnh, sẵn sàng lăn xả vào cuộc đời này cứu vớt chúng sanh.
Có vị đạo diễn tìm người đóng vai một cô gái nghèo khổ đi lang thang mà không ai đóng đạt. Một cô gái giàu có nhận đóng vai này và cô đóng thật xuất sắc. Đạo diễn hỏi vì sao cô giàu có, sang trọng quý phái mà đóng vai này đạt như thế, cô nói từ nhỏ cô sống trong cảnh mồ côi cha mẹ, lúc nhỏ đi xin ăn. Khi đóng vai này cô nhớ lại cảnh khổ ngày xưa nên diễn rất nhập tâm.
Có những vị Bồ-tát khi vào đời các ngài cũng sống trong cảnh giới cơ hàn khổ cực, từ đó các ngài phát tâm xuất gia học đạo rồi mới phấn phát lên trên con đường giác ngộ và giải thoát cho những người khác đừng có cùng cảnh ngộ như mình.
Không nghèo đói làm sao thi vị hóa, không lang thang sao biết gió mưa nhiều. Ngày xưa tôi có quen một người làm việc trong trường sĩ quan, ông kể có một người mới đi lính, trên tay xăm câu: “làm trai không sợ gì sương gió, chỉ có sợ đời thiếu gió sương.” Hôm sau ông bắt anh chàng ra bổ củi nấu cơm làm đủ thứ chuyện, chừng bảy ngày sau anh chàng khóc và nói bây giờ anh biết gió sương rồi.
Khi tôi làm Nhà Khách Thường Chiếu, có một anh cư sĩ ở dưới Châu Đốc lên, nghe anh nói chuyện mà nếu mình không có kinh nghiệm trong sự tu tập, không có kinh nghiệm trong cuộc đời thì dễ bị lầm. Anh nói pháp thân Niết-bàn, nói toàn chuyện trên trời trên mây. Nhiều người nói nếu nhận người này vô, họ giỏi quá mình khó dìu dắt. Tôi nói không sao để tôi làm việc cho. Chiều lại chúng tôi cho xuống dọn củi, mà ở Thường Chiếu công quả là làm ngày làm đêm. Sáng hôm sau anh lên: “dạ thôi con không dám ở nữa.” Một ngày một đêm dông tuốt, pháp thân Niết-bàn mất hết.
Một thiền sư người Nhật nói, mình nói chuyện mình tu đạt đến cảnh giới này cảnh giới kia, lướt gió tung bay rất dễ, mà đi sát mặt đất thì rất khó. Nói pháp thân Niết-bàn, cảnh giới này cảnh giới kia thì dễ, nhưng hòa nhịp trong cuộc sống này để khi nghịch cảnh đến mà dửng dưng, bình thản, chuyện đó là chuyện khó của người hành giả.
Quý Phật tử vào Thường Chiếu, tu chứng ở đâu không cần biết, vô đó là biết mình chứng hay không chứng, công quả người nào giỏi lắm ba tháng là chạy. Hồi xưa tụi tôi công quả nên biết, làm ngày làm đêm luôn, làm để tiêu trừ bản ngã. Cái lò Thường Chiếu ai cũng sợ hết. Thầy đào tạo ở Thường Chiếu một thời gian nếu cứng cáp tu học đàng hoàng mới đưa lên Trúc Lâm.
Thành ra không lang thang làm sao mình biết được gió mưa nhiều. Những người ở Thường Chiếu một thời gian sau này lên Trúc Lâm, Hòa thượng cho ra dìu dắt tức là lãnh chúng thì người đó mới cảm thông được đồ chúng. Mình có buồn vui sướng khổ lúc ở trong chúng thì mới thông cảm được những người đến với mình. Còn mình sống chỗ sung sướng thì không bao giờ thông cảm được.
Khổng Tử nói có ba hạng: bậc thượng, bậc trung và bậc hạ. Bậc hạ là biết nghịch cảnh qua sách vở. Bậc trung nghe người khác kể lại. Bậc thượng là tự khám phá lặn sâu vào cuộc đời này.
Câu chuyện trong Nghệ thuật sống: Người con gái than phiền với cha về cuộc sống nhiều nghịch cảnh làm cô mệt mỏi không còn muốn sống. Cha cô, một đầu bếp giỏi, dắt cô vào bếp. Ông nấu ba ấm nước sôi, bỏ một củ cà rốt vào một ấm, một quả trứng vào ấm thứ hai và một ít cà phê vào ấm còn lại. Khoảng 20 phút sau, ông vớt cà rốt, trứng đặt vào hai cái bát khác nhau và rót cà phê vào một cái bát khác. Cà rốt vốn cứng, nhưng bỏ vào nước sôi thì mềm nhũn. Trứng giòn và dễ vỡ, bên trong mềm yếu, nhưng sau khi ngâm trong nước sôi, bên trong lại trở nên cứng chắc. Cà phê thì làm cho nước có mùi thơm đặc biệt.
Người cha hỏi: “Khi gặp nghịch cảnh, con sẽ phản ứng thế nào? Con trở nên mềm yếu như cà rốt, trở nên cứng rắn ở bên trong như quả trứng hay con làm thay đổi những hoàn cảnh ấy, như những hạt cà phê?”
Có những người bề ngoài trông cứng cáp nhưng khi nghịch cảnh đến thì họ mềm nhũn như củ cà rốt nấu trong nước sôi. Hạng người thứ hai như quả trứng, ở trong nước sôi thì bên trong trở nên cứng chắc. Bậc thượng thì giống như những hạt cà phê, càng gặp nghịch cảnh hay những ngọn lửa thế gian thị phi phải quấy thì càng tỏa hương thơm đặc biệt.
Bồ-tát Duy Ma Cật khẳng định một ngày một đêm tu hành ở thế giới này bằng tu ở cõi trời Chúng Hương một ngàn năm. Các vị Bồ-tát không tin, Ngài nói ở cõi này chúng sanh rất cang cường khó độ. Chẳng hạn quý Phật tử đi thọ Bát Quan trai phải năn nỉ mấy đứa con mới cho đi. Nhưng phải coi những nghịch cảnh đó như là bạn của mình. Có những Phật tử họ nói càng tu thì càng gặp quỷ với yêu tinh. Tôi hỏi quỷ, yêu tinh ở đâu, họ nói ông chồng là quỷ, bởi vì càng tu, càng tụng kinh ổng càng phá; mấy đứa con quậy quá là yêu tinh.
Mình tu một thời gian, thấy ai cũng quỷ với yêu tinh, mà không ngờ chính tâm mình là quỷ là yêu tinh mới thấy ra như vậy. Còn tâm thái thanh tịnh tự nhiên, mình thấy tất cả pháp đều là thanh tịnh. Tức là tùy theo tâm, hoàn cảnh mình thấy rõ, nhờ những người như vậy tự nhiên công phu của mình tiến triển.
Cho nên Phật nói tịnh độ có nghĩa là tự tâm thanh tịnh. Bồ-tát muốn được tịnh độ thì phải tịnh tâm mình, tâm tịnh tức Phật độ tịnh. Quý Phật tử nhớ, lỡ nghịch cảnh đến hãy cám ơn người đã cho mình một chất liệu sống trong cuộc đời.
Xưa có một ông vua tổ chức cuộc thi tìm ra người nào vẽ được bức tranh yên tĩnh nhất. Nhà vua chọn được hai bức tranh ông thích nhất, nhưng ông phải chọn ra một bức để trao giải nhất. Bức tranh thứ nhất vẽ mặt hồ tĩnh lặng, nước trong vắt thấy bóng trăng trên trời soi xuống. Bức tranh thứ hai vẽ cảnh sóng gió cuồn cuộn, chính giữa là hòn đảo, có con chim mẹ bình thản đang gắp mồi cho chim con. Nhà vua chọn bức tranh thứ hai. Ngay chỗ động mà thường tịnh, đó mới là yên tĩnh nhất.
Cho nên, tại sao Bồ-tát Quan Thế Âm tượng trưng cho người nữ mà không phải người nam. Người nữ chịu đựng mọi phong ba bão tố, nhẫn nhục hết tất cả thì mới gọi là Quan Thế Âm Bồ-tát. Hình ảnh con chim mẹ giữa sóng gió ba đào vẫn gắp mồi cho con, có những người mẹ vì thương con cũng sẵn sàng như vậy, chịu đựng sóng gió ba đào, sẵn sàng bỏ qua tất cả.
Nguyễn Công Trứ làm quan đến chức tể tướng, sau một thời gian ông phạm lỗi, bị đày xuống làm lính thú tức là lính gác cổng rất là khổ. Có người hỏi ông:
– Bị đưa xuống làm lính thú ông cảm thấy nhục không?
– Lúc ta lên ngôi tể tướng ta không thấy là vinh, thì bây giờ xuống làm lính thú ta cũng không cảm thấy nhục.
Quý Phật tử khi giàu có sung sướng mà khinh khi người khác, thì khi không còn giàu có như xưa mới cảm thấy nhục. Còn mình lên chỗ tột đỉnh coi như bình thường thì lúc xuống vẫn thấy bình thường. Bình thường tâm thị đạo, nếu không thấy là vinh thì cũng không cảm thấy là nhục. Còn cảm thấy vinh, thấy nhục vì chưa an ổn trong giờ phút thực tại.
Cho nên ông có một câu bất hủ:
Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc,
Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn.
Biết đủ thì ngay đó là đủ, không biết đủ thì đợi bao giờ mới đủ. Ngay chỗ nhàn là nhàn, đừng có đợi bao giờ nữa. Chẳng hạn ngày hôm nay ngồi lại yên ổn thì thấy nhàn rồi, đừng nói để mai để kia, không có mai hay kia, mà thiền luôn luôn trong giờ phút thực tại. Yên ổn, nhàn hạ là thiền.
Trong hội pháp môn niệm Phật của ngài Tuệ Uyển, sau khi tổ chức một ngày một đêm, ngài Tuệ Uyển cho mỗi người trình một bài kệ. Có một vị tăng trình: Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô A Di Đà Phật, v.v.. Ngài chấm người này, bởi vì thực tập như thế nào rõ biết như thế ấy, tức là người này luôn luôn an trú trong giờ phút thực tại. Còn những người làm thơ, làm kệ là chưa được.
Những khoảnh khắc nghịch cảnh đến, nên cười hay nên khóc? Hòa thượng nói:
“Ngày nay bạn thương mến tôi, vâng tôi cám ơn bạn, nhưng ngày mai tôi không dám nghĩ đến. Thế gian dành cho ta những điều bất như ý, khi chúng đến ta chỉ nên cười không nên khóc, vì đó là quy luật của cuộc đời.”
Hòa thượng cảm thấy cuộc đời này như thế đó. Có những giây phút mình được người ta thương, mình cám ơn chứ không phải bỏ qua, nhưng ngày mai mình không dám nghĩ đến. Thế gian luôn dành cho mình những điều bất như ý chứ không có thuận theo ý mình, thì khi chúng đến chỉ nên cười chớ không nên khóc vì đó là quy luật của cuộc đời.
Phật khẳng định rằng chúng sanh rất vô ơn, tại sao Phật khẳng định như vậy? Thí dụ mình trú mưa ở hiên nhà ai đó, chủ nhà đem cho một cái dù hay ly nước, hoặc có khi ai đó cho bát cơm, ly sữa hay tách trà, mình khen người này tốt quá và nhớ ơn suốt đời. Còn người sanh ra mình, cho mình cái thân ngũ uẩn này, nuôi từ nhỏ đến lớn, cho học đạo mà mình không nhớ ơn. Có những người vì một chút danh lợi, sẵn sàng bỏ hết tất cả để chạy theo danh và lợi, tài và sắc, mà không nhớ đến người sanh ra huệ mạng của mình. Cho nên Phật nói chúng sanh rất vô ơn. Quý Phật tử thấy đau không? Chính bản thân mình là như vậy đó. Thông qua các bài pháp mình cảm, nhưng mà nhìn lại, cha mẹ đã vắng bóng trong cuộc đời này rồi. Quý Phật tử có hối hận không?
“Thế nên trong cuộc sống đời thường này có những phút giây tĩnh lặng, ta phải đối diện với nghịch cảnh của cuộc đời, chứ không trốn chạy cuộc đời.”
Những nghịch cảnh đến ta không nên trốn chạy mà phải chuyển hóa. Nhà Phật nói khổ đau để cho ta chuyển hóa khổ đau, nói vô thường để ta nhận ra cái chơn thường, chứ không phải để ta trốn tránh vô thường và trốn chạy khổ đau, nghịch cảnh.
Một thi sĩ nói:
Tự do là ung dung trong ràng buộc,
Hạnh phúc là tự tại giữa đau thương.
Có ông tăng đến thiền viện, ông nói:
– Thiền là tự do, là phóng khoáng mà vô thiền viện này phải “nói năng như chánh pháp, im lặng như chánh pháp”, cái gì cũng không được tự do.
Thiền sư nói:
– Anh bị tự do trói anh rồi. Trong sự ràng buộc của giới luật mà mình vẫn tự do thì người đó gọi là đại tự do.
Ngay chỗ đau thương khốn cùng mà tìm được hạnh phúc thì mới là chân hạnh phúc.
V. Thuận cảnh hay nghịch cảnh là hạnh phúc?
“Tuy nghịch cảnh là một bài học thiết thực cho con người, song ai ai cũng muốn mình được hạnh phúc, luôn luôn sống trong môi trường thuận cảnh. Nhưng mỗi con người quan niệm hạnh phúc khác nhau.”
Ai cũng muốn gặp thuận cảnh và hạnh phúc, nhưng mỗi người quan niệm hạnh phúc khác nhau. Một triết gia Tây phương nói:
“Hạnh phúc là khi bạn đuổi bắt thì nó vuột khỏi tầm tay, nhưng khi bạn dừng lại thì nó cùng với bạn.”
Hạnh phúc là cái khi mình mong muốn thì nó không có mặt, nhưng khi mình dừng lại, mình buông xả hết thì tự nhiên nó đến.
Nhà thiền nói:
“Buông tất cả là được tất cả.”
Thí dụ khi uống nước, tay thả ra thì mới cầm được cái ly, nắm lại thì không thể nào cầm được.
Truyện cổ tích Việt Nam: Có ông nhà giàu ham vàng bạc, một hôm vào rừng ông gặp một vị thần cho ông một điều ước. Ông ước tay ông chạm vào cái gì là cái đó biến thành vàng. Ông được như ý nguyện, về nhà cầm cái ly, cái chén, v.v.. cho đến cơm, nước tất cả biến thành vàng nên không còn gì để ăn. Cảm thấy cuộc đời quá đau khổ, ông đến năn nỉ vị thần hóa giải điều ước của ông.
Qua câu chuyện này chúng ta thấy rằng có những điều tha thiết mong cầu, nhưng khi được rồi không thấy hạnh phúc nữa.
Trong cuộc đời này, cái chết đến với gia đình một cách trật tự cũng là hạnh phúc.
Truyện cổ tích của Lào kể: Có ông già bảy mươi hai tuổi, một hôm khi vào rừng đốn củi ông ngửi được mùi thơm phảng phất. Ông đi lần tới thì thấy cây đào tiên, trên cây có một quả đào tiên rất lớn. Ông định hái ăn thì có một vị thần khỏe mạnh đẹp người tên là Trường Sinh hiện ra ngăn lại:
– Ông đừng ăn trái đào này, một trăm năm nó mới có một lần. Người nào ăn vào sẽ được trẻ lại nhưng phải chịu đau khổ suốt đời.
– Tôi sắp chết rồi, tôi muốn trường sinh, tôi phải ăn trái đào này để trẻ và khỏe mạnh trở lại.
Vị thần dặn:
– Ông ăn trái đào này, nếu ông sống không hạnh phúc thì hãy đến tìm tôi, tôi sẽ giúp ông.
Ông già ăn xong trái đào thì trẻ lại thành chàng thanh niên hai mươi lăm tuổi khỏe mạnh. Mừng quá về nhà, ông gặp người vợ sáu mươi lăm tuổi! Đau khổ bắt đầu! Ông sống mãi, hết đời vua này đến đời vua khác, chôn hết con tới cháu, tới chít, chắt. Khổ quá chịu không nổi, một hôm ông tìm thần Trường Sinh năn nỉ làm sao cho ông được chết.
Có ông phú hộ ngày mùng một Tết đến xin một vị Hòa thượng câu liễn để mừng cho gia đình. Hòa thượng viết: “Ông chết, cha chết, con chết, cháu chết.” Trong gia đình người già chết trước, người trẻ chết sau theo thứ tự là hạnh phúc. Con cháu mà chết trước cha mẹ ông bà là cái chết đau khổ.
Đức Phật khuyên những người dân Kamala:
“Hãy dùng trí tuệ như tấm gương soi lại chính mình xem còn tham lam, sân hận hay không. Khi tham lam, sân hận không còn trong tâm ta thì niềm hạnh phúc an lạc hiện bày.”
Phật nói hạnh phúc là trong tâm thái vắng bóng tham, sân, si. Đức Phật khẳng định rằng:
“Con người không thể chiến thắng lòng ham muốn dục lạc, trừ khi và cho đến khi tự thân người ấy thực nghiệm hỷ lạc phát sanh do kết quả của thiền định.”
Đức Phật khẳng định rằng hạnh phúc là khi nào quý Phật tử thiền định mà phát sinh hỷ lạc, còn tiền tài danh vọng là hạnh phúc tạm bợ giả dối vô thường. Muốn được hạnh phúc miên viễn là khi nào chúng ta ngồi thiền, phát sinh tâm hỷ lạc mới gọi là hạnh phúc chân thật.
“Thế nên đạo Phật không chủ xướng con đường hạnh phúc là người ấy đầy đủ tài sản đồ sộ, mà hạnh phúc ở đây Đức Phật khẳng định người hành giả phải đạt đến trạng thái vô nhiễm.”
Muốn được hạnh phúc miên viễn thì chúng ta phải đạt đến cảnh giới vô nhiễm, và đạt đến trạng thái hỷ lạc trong lúc thiền định. Đó mới là hạnh phúc chân thật.
Qua đề tài “Những Nghịch Cảnh Giữa Đời Thường” , chúng ta học được điều gì?
1- Nhờ sóng gió ba đào, ta có một cái nhìn thấu suốt cuộc đời này và thẩm thấu con người của chính mình.
2- Nhờ nghịch cảnh, mới cảm nghiệm được cuộc đời và biết phải sống như thế nào để hòa điệu vào cuộc đời này.
3- Nhờ nghịch cảnh mà con người trưởng thành. Ngày xưa gặp nghịch cảnh, ta ứng xử theo cách không biết Phật pháp. Ngày hôm nay được học Phật pháp, ta biết cách vượt qua nghịch cảnh để cuộc sống được yên ổn, hạnh phúc.