Oai Nghi – Con Đường Của Sự Tỉnh Thức – Tập 1

VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC VIỆT NAM

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG THIỀN HỌC BẮC TRUYỀN

THÍCH ĐẠT MA KHẾ ĐỊNH

OAI NGHI

CON ĐƯỜNG CỦA SỰ TỈNH THỨC

NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO

TẬP 1

 

Mục lục
Lời Phi Lộ
Dẫn Nhập
1. Kính Bậc Đại Sa Môn
2. Phép Thờ Thầy
3. Theo Thầy Ra Đi
4. Nhập Chúng

Lời Phi Lộ

Bốn bộ luật tiểu Tỳ ni – Sa di – Oai nghi – Cảnh sách của Tổ Quy Sơn, Tổ Châu Hoằng,….Các Ngài là bậc long tượng trong thiền môn, vì thương hàng hậu học các Ngài chỉ thẳng phương pháp hóa giải tập khí của hàng xuất gia khi mới bước chân vào đạo, phải nói bốn bộ luật tiểu này được xem là khuôn vàng thước ngọc, là cẩm nang gối đầu giường của hành giả tu tập. Sách này không những là cơ sở cho giới cụ túc mà cũng là nền tảng cho giới Bồ-tát. Dung lượng của quyển sách này tuy khiêm tốn nhưng hiệu dụng của nó khi áp dụng hành trì thật lớn lao không ngằn mé. Vì người mới bước chân vào đạo nếu không có sự tỉnh thức thì làm sao đạt đến con đường của Giới – Định – Tuệ. Nếu không nhờ oai nghi phép tắc trợ duyên thì làm sao bước vào con đường vô lậu được? Xét thấy quyển sách này có hiệu dụng như thế, nên sau khi được Thầy chúng tôi cho xuất bản trong dịp đại giới đàn Pháp Loa. Chúng tôi cố gắng ghi lại từ băng giảng trong bốn bộ luật tiểu có tên đề: “Oai nghi – Con đường của sự tỉnh thức”.

Việc làm này chắc chắn không sao tránh khỏi những điều sai sót. Chúng con thành kính các bậc trưởng thượng chỉ điểm thêm, chúng con vô cùng tri ân.

Cuối cùng với việc làm này chúng con hồi hướng cho khắp pháp giới chúng sanh đồng phát Bồ-đề tâm, đồng thành Phật đạo.

Viết tại TV. Trúc Lâm Chánh Thiện

Thích Đạt Ma Khế Định

 

Dẫn Nhập

Bộ Sa Di Luật Nghi Yếu Lược nói Oai Nghi Môn có nghĩa là cửa oai nghiMôn là cửa, nhưng Thiền sư Vô Môn hiệu Tuệ Khai nói:

“Phật dạy lấy tâm làm Tông, cửa Không là cửa Pháp, đã là không cửa làm sao thấu qua được?”

Học oai nghi tức là học về “cửa”, song “cửa” đó là gì? Nhà thiền thường nói là cửa Không, mà cửa Không làm sao thấu qua được? Cửa này ở đâu biểu hiện ra? Biểu hiện ra ở mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Theo tinh thần nhà Thiền hay theo tinh thần Giáo Tông, một người tu mà không có oai nghi phép tắc thì có còn ra người tu nữa không?

Thiền sư Lâm Tế khai thị:

“Trong thân chúng ta có một vô vị chân nhân thường ra vào nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của chúng ta. Nói một cách khác, chúng ta khi thấy, khi nghe, khi nghĩ đều có cảm giác hoạt động mà không ai nhận biết. Hãy mở mắt tâm mà xem.”

Thiền sư Lâm Tế khai thị, trong thân mình có một vô vị chân nhân, nhưng làm sao nhận ra được? Nếu không nhận ra được thì sẽ như thế nào? Thì đi ra đường, mắt mình liếc ngó hai bên là không có chánh niệm, không phải thiền. Tay chân múa may, đi đứng không có chánh niệm bởi vì chưa nhận ra được vô vị chân nhân.

“Này các ông! Chỉ như người đang nghe pháp hiện nay, không phải là tứ đại của các ông mà hay sử dụng tứ đại của các ông. Nếu hay thấy được như thế mới là đi đứng tự do.”

Thiền sư Lâm Tế khai thị, người vô vị chân nhân chính là người đang nghe pháp hiện nay. Chẳng hạn như quý thầy lắng thần nghe là chính mình thấu tột được chỗ đó, thì lúc này mới gọi là đi đứng tự do. Một khi chuyển hóa thân tâm thì tự nhiên có một cách thấy, cách sống khác. Chẳng hạn trong cuộc sống tu hành, giới luật mình phải giữ, nhưng quý thầy nhớ kỹ là đừng chấp vào việc giữ giới, vì chấp sẽ thành bệnh.

Bồ-tát Long Thọ khẳng định:

“Giới luật là da; thiền định là thịt; trí huệ là xương; ngộ, tức là nhận ra được tri kiến, là tủy.”

Người tu thiền cần đến chỗ này. Người thấy được chỗ này có cách sống khác hơn người cứ chăm chăm giữ giới, vì chăm chăm giữ giới nhiều khi trở nên chấp ngã. Chẳng hạn như quý thầy thấy mình giữ giới được thanh tịnh trang nghiêm, từ đó phát sinh sự chấp ngã, không có năng lực diệu dụng bằng người ngộ được con người chân thật, con người đang nghe pháp. Người mà nhận ra con người chân thật rồi, mình thấy như là họ không có tu nhưng chính lúc đó họ tu đắc lực nhất, và sống rất bình ổn, an lạc. Khi đó mới là đi đứng được tự do. Nếu không mình sẽ bị trói buộc, trói buộc trong giới luật, trói buộc trong sự thấy mình đang giữ giới, và tự gò ép trong sự oai nghi nữa.

“Theo chỗ thấy của sơn tăng, không chán ghét pháp nào. Nếu ông mến Thánh thì Thánh chỉ là tên suông. Có một hạng người học, hướng trong Ngũ Đài Sơn tìm Văn Thù, sớm đã lầm rồi. Trong Ngũ Đài Sơn không có Văn Thù. Ông muốn biết Văn Thù chăng? Chỉ là chỗ dùng trước mắt các ông trước sau không khác, chỗ chỗ không nghi, đó là Văn Thù sống.”

Nghĩa là mình không nghi được chỗ tinh thần, năng lực của thiền mà chư Tổ, mười phương chư Phật đã chỉ dạy. Một khi phát minh được tâm địa, ngộ được chỗ đó rồi, thì không nghi nữa, mà chính chỗ không nghi là Căn Bản Trí, đó là Văn Thù sống.

“Một tâm niệm sáng suốt không sai khác của ông, nơi nào cũng là chơn Phổ Hiền. Một tâm niệm tự hay mở trói tùy chỗ giải thoát của các ông, đó là pháp chánh định của Quán Thế Âm, hỗ tương làm chủ, làm bạn, ra thì đồng thời ra, một tức là ba, ba tức là một. Hiểu được như thế mới nên cho xem kinh.”

Còn không hiểu thôi đừng xem kinh vô ích. Xem kinh mà chấp ngã: Chấp mình học nhiều, chấp thấy biết nhiều, rồi thấy người khác không học không tu gì hết, tự nhiên mình sanh tà kiến, không phải là tri kiến như thật nữa. Thấy được như thế, thì lúc này mở trói được tự tại, đây gọi là Quán Thế Âm Bồ-tát. Quán Thế Âm ra đời, ra từ đâu? Ra từ cửa lỗ tai.

“Đại đức tìm vật gì? Hiện nay đạo nhân không nương tựa, đang nghe pháp ở trước mắt rõ ràng phân minh, chưa từng thiếu thốn. Nếu ông muốn được cùng với Phật, Tổ không khác thì chỉ thấy như thế, chớ nên nghi ngờ.”

Nếu muốn cùng Phật, Tổ không khác thì mình phải thấu tột được chỗ đó. Thấu tột được: ngộ là phần tủy, còn phần da, phần thịt, phần xương chưa phải cứu cánh, chưa phải là chỗ tột.

“Tâm tâm không khác gọi đó là Tổ sống. Tâm nếu có khác thì tánh, tướng khác nhau. Tâm nếu không khác thì tánh, tướng không riêng biệt.”

Khi ngài dạy đến chỗ này, thì có một vị tăng đứng ra thưa hỏi: “Người chân thật không ngôi vị là gì?” Tức là thế nào là vô vị chân nhân. Ngài nắm ông tăng lại và nói: “Càn thỉ quyết!” Tức là que chùi phân. Ngài khẳng định như thế để quét sạch hết những tư tưởng đã học, đã biết, đã nghe. Nghĩa là mình giữ giới thanh tịnh, oai nghi phép tắc hơn người khác, khi học tinh thần Lâm Tế là phải quét sạch hết không chấp trước. Chấp trước thì không phải là oai nghi phép tắc nữa.

Đây là phần mở đầu rất quan trọng. Chúng ta học tinh thần oai nghi là tự giữ chính mình. Chứ giữ giới trang nghiêm thanh tịnh mà thấy người khác không giữ, mình sanh tâm thì đâu phải là người giữ giới thanh tịnh. Cho nên thiền sư Lâm Tế quét sạch, không để một tư tưởng nào trong đầu.

Trong Sa Di Học Xứ, Tổ Tuyên Luật Sư ghi:

“Oai nghi là gì? Oai là lấy đức để hiển bày, chẳng phải là oai thế lực.”

Ngài dạy rất rõ, oai là lấy đức để hiển bày, chẳng phải là oai thế lực. Chẳng hạn như trụ trì, phó trụ trì, tri sự, tri khố, các trưởng ban, trưởng liêu lấy đức để nhiếp người sau, chứ không phải là lấy oai lực.

Lấy đức để nhiếp chúng không phải chuyện đơn giản. Ngày xưa trong tùng lâm các vị chức sự đều ngộ đạo, nên có uy lực nhiếp chúng. Các ngài đã nhận ra được vô vị chân nhân, uy lực hiển bày qua sáu cửa. Từ nơi sáu cửa, đại chúng nhận thấy năng lực vi diệu của các ngài, tự nhiên họ phục. Chẳng hạn như ngài Tuyết Phong Nghĩa Tồn chuyên làm tri khố, do ngài ngộ đạo rồi, nên đi đến đâu chúng đều phục.

Sau này, quý thầy đủ duyên làm trưởng liêu hay trưởng ban, nếu phân công công tác mà chúng không làm, thì quý thầy phải ngẫm lại xem tại sao. Tại mình thiếu đức! Mà thiếu đức thì quý thầy phải thân hành làm, chẳng hạn quét dọn cầu tiêu hay lau nhà gì đó. Còn nếu mình dấy lên niệm ta người, thì mình bị tổn phước. Công việc này Thầy Tổ cắt đặt, mà mình chưa đủ đức làm. Biết mình chưa đủ đức, để người đó nghe lời. Mình cắt đặt nhưng họ không làm, thì phải đích thân mình ra làm. Ngay chỗ đó gọi là phiền não chướng, là chướng ngại trên đường tu. Phiền não chướng thì sanh vọng tình, chỉ cần mình thấu tột được thì chuyển thành đại bi, có công dụng. Quý thầy tự thân làm thì không còn là vọng tưởng, vọng tình nữa. Vọng tình chuyển thành đại bi, còn vọng tưởng là sở tri chướng, thì chuyển thành đại trí, tức là trí tuệ Bát-nhã.

Ngay đây quý thầy chưa phải là có thần thông, nhưng mà tự mình thầm thấu tột được nguyên nhân. Chẳng hạn như Trưởng liêu Tăng đường 1 hoặc Trưởng liêu Tăng đường 2, họ nói sao mà chúng nghe, còn mình Trưởng liêu Tăng đường 3, nói chúng không nghe, mình biết thiếu gì? Thiếu đức! Đức mình chưa hiển bày ra được. Nên ở đây, Ngài nói là oai nghi chứ không phải mình lấy cái oai thế lực của người đời. Muốn được như thế phải làm gì?

Trong Hoàng Long Thực Lục ghi:

Tử Tâm Bảo Trạm Đường:

“Người học đạo nếu người nào có tài trí, trung tín, tiết nghĩa thì đó là hạng người ở trên, tức là bậc thượng. Còn người tuy tài năng không cao nhưng lại cẩn thận và có cái tâm độ lượng thì đó là hạng người ở bậc giữa, tức là bậc trung.”

Một người, chẳng hạn như Hòa Thượng đường đầu, hoặc dưới nữa là Thầy Trụ trì, nếu đúng là bậc thượng thì phải có tài trí, trung tín, tiết nghĩa. Nghĩa là từ oai nghi hiển bày ra năng lực bên ngoài. Còn người dở, không có tài năng nhưng cẩn mật và có tâm độ lượng thì đó là bậc trung, những người này nếu được cắt đặt làm trụ trì hay làm việc lớn, họ cũng làm được. Bởi vì tuy không có tài, không có đức nhưng họ làm việc gì chín chắn việc đó. Tuy họ điều khiển ông thầy này hoặc Tăng đường này không được, nhưng mà họ rất cẩn mật, nói ra lời gì cũng đều cẩn ngôn. Trong cẩn ngôn đó, họ có tâm độ lượng thì đó là bậc trung.

“Còn có hạng người tâm mang thói tà xem xét mong ngóng dư luận thiên hạ, tùy theo thời thế mà thay đổi, thì đó quả thật là kẻ tiểu nhân. Nếu đem hạng người đó mà đặt ở địa vị cao thì tất nhiên họ sẽ làm bại hoại tùng lâm, và làm nhơ nhuốc chốn pháp môn vậy.”

Đây là hạng người bậc hạ. Những người mà đối với trên thì kính, dưới thì sẵn sàng chà đạp là không đúng tinh thần oai nghi. Nếu được cắt đặt ở địa vị cao, thì tất nhiên họ sẽ làm bại hoại tùng lâm và làm nhơ nhuốc chốn pháp môn vậy.

Trong cuộc sống tu hành, nhiều khi mình nghĩ nếu không chỉ lỗi huynh đệ thì trong tùng lâm làm sao yên ổn được. Nhưng quý thầy nhớ kỹ, chỉ lỗi chỉ có các vị chức sự, chẳng hạn tri khố, trưởng liêu, các trưởng ban đầu ngành. Nếu không chỉ, thì chúng làm sai, nhưng mà chỉ phải với tâm độ lượng, tâm thương xót thì mới đúng. Sau này quý thầy tu một thời gian mới thấy được, là ngày xưa mình chỉ lỗi huynh đệ không phải với tâm độ lượng mà là tâm ích kỷ, cho nên người ta không chịu nghe.

Trong Sơ Sơn Thực Lục, Thiền sư Thảo Đường nói:

“Người trụ trì không cần gì hơn mà chỉ cần răn giữ cẩn thận ở cái tệ nghe thiên lệch và tự chuyên. Đừng nên tự chủ ở lời nói vào tai trước tiên thì lời xiểm nịnh của kẻ tiểu nhơn, lời gièm pha của kẻ đón thời theo ý không thể làm mê hoặc được.”

Làm trụ trì là ở ngôi vị trên. Sau này quý thầy nếu đủ duyên làm trụ trì một phương nào đó thì không nghe theo tinh thần thiên lệch. Nghe theo tinh thần thiên lệch là mất oai nghi. Chẳng hạn như họ ghét người nào, họ nói ông thầy đó vậy vậy đó, nếu quý thầy nghe theo, thì tự mình mất đi chỗ đứng, đó là mất đi cái chỗ bậc thượng.

“Bởi lẽ tình của chúng nhân thì bất nhất, lời bàn chí công lại khó thấy nên phải thấu triệt những điều lợi hại, xét kỹ việc phải trái, rồi sau mới thực hành theo, như thế mới là được vậy.”

Tức là dùng tai mắt mà nghe khắp bốn phương, nghe như thế mới gọi là oai nghi trong nhà thiền.

“Nghi là dụng hạnh mà biểu thị, chẳng phải nghi giả vờ mà hiển bày.”

Oai tức là dùng đức hiển lộ ra, nghi là dùng hạnh mà biểu thị, chẳng phải nghi giả vờ mà hiển bày. Chẳng hạn như mình thấy chúng tăng hay là thấy Phật tử, thì giả bộ đi đứng rất nghiêm trang; nhưng không thấy người nào thì mình ca, múa, hát, nhảy,… thì đó là gì? Đó là giả vờ mà hiển bày ra, chứ hạnh đó không phải, không đúng.

Cho nên Lục Tổ dạy:

“Này thiện tri thức! Nếu ở tất cả chỗ, đi đứng, ngồi nằm ròng một trực tâm không dời khỏi đạo tràng liền thành tịnh độ, gọi là nhất hạnh tam muội.”

Không có người thấy, mình ở trong chánh định, mà có người thấy cũng ở trong chánh định, đó gọi là nhất hạnh. Mà ròng một trực tâm đó gọi là nghi. Dùng hạnh mà biểu thị ra, nghĩa là do từ công phu của người tu, người nào nhìn thấy thì tự nhiên người ta phát tâm tu liền.

“Nên Như Lai xử thế thâm đạt cơ cảm. Phàm chỗ thực hành ắt lấy oai nghi làm chủ. Trong tâm chứa đức sư tử ngồi, thân hiện oai tượng vương, trời người kính ngưỡng, long thần khâm phục. Thật là việc tinh yếu nhiếp vật lợi sanh vậy.”

Nghĩa là biết căn cơ của chúng sanh. Phật đi vào cuộc đời này phải dùng oai nghi phép tắc mới giáo hóa chúng sanh được. Kinh A Hàm có ghi, ba anh em Ca-diếp thờ thần lửa thấy tướng mạo tôn nghiêm của Thế Tôn liền đều kính phục và phát tâm xuất gia đầu Phật. Phật hàng phục độc long, rồi hàng phục voi say của vua A-xà-thế cũng đều lấy oai nghi mà nhiếp phục. Sử liệu có ghi thiền sư Mã Tổ đi như trâu, nhìn như cọp, đó là biểu hiện oai nghi phép tắc từ năng lực nhận ra được vô vị chân nhân, ứng tác ra bên ngoài.

Sa Di Học Xứ ghi:

“Oai nghĩa là oai có thể sợ, nhiếp phục chúng sanh, đây là do nghiêm trì giới hạnh, các đức oai nghiêm nên khiến người có thể sợ.”

Sở dĩ, người ta nhìn mình mà họ kính, sợ, nhiếp phục chúng sanh được là do nghiêm trì giới luật. Mình dạy thì rất hay, nói chúng đừng ăn chiều, phải giữ giới không ăn phi thời mà mình lại ăn chiều, ăn một tô, hai tô, như vậy làm sao chúng nghe và giữ được. Mình nói một đường lại làm một nẻo, chúng đâu có sợ. Nhiếp phục chúng sanh được là do nghiêm trì giới hạnh. Các đức oai nghiêm nên khiến người ta phải sợ.

Quý thầy thấy có những người muốn lên xin Thầy trụ trì việc gì đó, họ rất sợ, bởi vì Thầy nói được, làm được. Chúng chỉ sợ, thứ nhất là do hiển bày giới hạnh thanh tịnh từ cái đức, thứ hai là ở trong chúng lâu năm và tuổi hạ lớn. Uy lực, uy đức nhiều năm nhiều tháng ở trong tùng lâm thì nhiếp phục chúng sanh mới được. Còn tuổi hạ ngang nhau, mình nói họ khó nghe. Tu một ngày, hai ngày, một năm thấy không ra gì hết, nhưng quý thầy tu chừng cỡ mười năm, hai chục năm thì thấy khác. Năng lực biểu hiện bên trong ứng tác ra bên ngoài, mình thấy khác liền. Cho nên chúng sanh sợ. Đây gọi là nghiêm trì giới hạnh.

Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng ngộ đạo nơi Lục Tổ Huệ Năng, rồi về ở đất Dĩnh làm người mô phạm. Tức là Ngài đã ngộ đạo, đã thông suốt, thấu triệt các pháp tướng, rồi về giáo hóa người trong làng đó, thì phải dùng đức mô phạm mới giáo hóa được. Chứ không phải như mình nghĩ, Thiền sư ngộ đạo rồi không cần giữ giới luật, oai nghi phép tắc gì hết.

Thiền sư Lâm Tế sau khi thông suốt Kinh – Luật – Luận, Ngài nghĩ đây là phương thuốc cứu đời chẳng phải là yếu chỉ giáo ngoại biệt truyền, liền đi du phương, trước tới hội của Thiền sư Hoàng Bá. Trần Tôn Túc, là thủ tọa, thấy oai nghi phép tắc, nghiêm chỉ đức hạnh chu toàn của thiền sư Lâm Tế, khen: “Tuy là hậu sanh nhưng mà cùng chúng thì chẳng giống.” Ngài ở trong chúng biểu hiện lên giống như con phụng ở trong bầy gà, nhìn là biết người này có phép tắc, có oai nghi, có mô phạm. Cho nên Trần Tôn Túc đến thất của Hòa thượng thưa: “Là người đến mà thưa hỏi đạo lý thật đúng là pháp. Nếu khi đến từ giã Hòa thượng thì dùng phương tiện tiếp, về sau đục đẽo sẽ thành một gốc đại thọ che mát người trong thiên hạ.”

Bởi vì từ bên trong ứng tác ra mà thấy được. Các ngài thấy là biết, phải mài giũa người này để sau này trở thành bậc pháp khí. Đó là do oai nghi phép tắc, giới luật nghiêm minh. Cuộc sống tu hành là như thế.

Thiền sư Phật Nhãn Viễn nói:

“Cái dáng dấp tới chúng tất phải nghiêm nghị như ngày nhàn hạ, lời nói tiếp tân khách phải trang trọng như lúc riêng một mình. Đối với mọi người trong chốn thiền lâm, mỗi khi phát ngôn, làm việc, trù biện, thi hành, tất phải tính toán suy nghĩ trước rồi sau mới thực hành, chớ có hấp tấp làm càn. Hoặc có việc tự mình không thể dự biết và quyết đoán được, phải nên thỉnh vấn ở hàng kỳ cựu, hỏi ý kiến ở bậc tiên hiền, để rộng phần thấy nghe, bổ khuyết cho việc làm chưa thể tỏ rõ.”

Thiền sư Phật Nhãn nói cái dáng dấp tới chúng tất phải nghiêm nghị như ngày nhàn hạ có nghĩa là lúc làm việc phải nghiêm túc. Chẳng hạn như mình làm trưởng liêu hoặc trong ban chức sự mà mình giỡn, cười thì chắc chắn chúng không nghe. Do đó, lúc còn là Sa-di quý thầy phải thực tập, mai này được cắt làm chức sự nếu quen tật hay giỡn, cười, vui đùa thì không làm được.

Sa Di Học Xứ ghi:

“Nghi nghĩa là có nghi, có thể kính, nhiếp thọ chúng sanh. Đây là do động tịnh hợp nhất, tấn thoái an lành nên khiến người có thể kính. Nghĩa là thành tựu cái hạnh thanh tịnh là nhờ ở đạo nghi, thanh tịnh tròn đủ là nhờ ở giới phẩm.”

Tổ Tuyên Luật Sư nói nghi nghĩa là có nghi, có thể kính nhiếp tức là người giữ oai nghi phép tắc rồi, thì họ không cần dùng lời nói, ngôn giáo mà dùng hạnh giáo để nhiếp phục chúng sanh. Đây là vì do động tịnh hợp nhất, nghĩa là ở bên trong tịnh, dầu cho bên ngoài có động cách mấy cũng đều hợp nhất làm một, là một thể duy nhất, gọi là nhất hạnh tam muội. Mà thành tựu hạnh thanh tịnh này là nhờ đạo nghi, như chúng sanh nhìn Phật liền khiếp phục.

“Như Mã Thắng ung dung hành đạo mà cảm Tôn giả Xá-Lợi-Phất, do tín lạc mà xuất gia. Thu tử Xá-lợi-phất an lành đi khất thực nhiếp phục ngoại đạo từ tà mà trở về chánh. Nên nói oai nghi chính là lời dạy vô ngôn phát khởi tín tâm cho loài hữu tình.”

Trong sử ghi, sau khi thành tựu đạo nghiệp, Đức Phật độ cho năm anh em ông Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển. Trong năm anh em có một vị tôn giả tên là Mã Thắng. Sau khi năm anh em ông Kiều Trần Như ngộ đạo, tức là đã chứng quả vị A-la-hán rồi, Phật bảo mỗi người đi một phương để truyền bá Phật pháp. Mã Thắng đi đến một vùng rất xa và có nhiều ngoại đạo. Trên đường ngài đi khất thực, Xá-lợi-phất, lúc này chưa xuất gia, cũng còn là một vị ngoại đạo, trông thấy phong độ và tư thái của Mã Thắng thì cảm phục và nghĩ: “Đây chắc chắn là một vị du sĩ đã đạt đạo rồi nên mới có phong thái uy nghi như thế này.”

Ở Miến Điện có những người đạt đến những tầng thiền cao, dáng đi họ khác với người phàm. Mắt, tai, mũi, lưỡi họ đều thu thúc, gọi là tầm tứ. Họ bám sát vào đối tượng hay nói khác hơn là như lý tác ý vào đối tượng thì tự nhiên họ đi chiêm nghiệm chứ không phải liếc ngó trên trời trên mây. Quý thầy để ý xem một ông thầy tu đi ra đường mà nhìn cao, nhìn nhà lầu thì thấy kỳ không? Người có con mắt đạo, nhìn là biết người này không học oai nghi phép tắc trong nhà Phật. Còn dáng dấp người tu thì phải khác.

Sau khi thấy được đức tướng của tôn giả Mã Thắng, Xá-lợi-phất tha thiết xin ngài Mã Thắng chỉ dạy pháp yếu. Ngài Mã Thắng đọc bài kệ do Thế Tôn giảng:

Muôn vật từ duyên sinh,

Lại từ duyên mà diệt.

Bậc giác ngộ Sa-môn,

Đã từng thuyết như vậy.

Ngay tức khắc tôn giả Xá-lợi-phất kiến đạo, tức là bước vào dòng Thánh, được con mắt pháp nhãn thanh tịnh. Xá-lợi-phất về tìm Mục-kiền-liên nói lại bài kệ, Mục-Kiền-Liên cũng bừng sáng, ngay chỗ đó gọi là kiến đạo, thấy được pháp nhãn thanh tịnh. Sau đó hai tôn giả đều phát tâm xuất gia đầu Phật.

Tôn giả Mã Thắng không dùng lời nói mà dùng cái hạnh chơn chất, tức là oai nghi phép tắc đầy đủ.

“Lại nữa, oai nghi gọi là điều ngự, nghĩa là điều thân chẳng vọng động, miệng chẳng vọng ngôn, tâm chẳng vọng tưởng, như thị ba nghiệp đều thiện thì sáu căn tự nhiếp.”

Oai nghi rất là khó, đâu phải chuyện đơn giản. Ở đây, nêu ra để cùng nhau giữ, cùng nhau tu, chứ thật ra những bậc đã chứng quả vị vô sanh rồi, mới giữ được chỗ này. Oai nghi gọi là điều ngự, nghĩa là điều thân chẳng vọng động,nghĩa là đi đứng có khuôn phép chứ không phải đi lắc lắc, đi trườn, đi lết hay đi qua đi lại mất oai nghi. Tuy mình không chấp vào tướng, nhưng điều thân chẳng vọng động nằm trong nhân tướng học. Tôi làm nhà khách, tiếp xúc với những thanh niên ngoài đời, họ vừa nói chuyện vừa lắc lắc cái đầu vừa huýt gió, là biết tướng này ở đâu rồi.

Còn những người có nhân cách trong xã hội, phong thái họ, nhìn khác liền. Họ ngồi rất nghiêm trang, thân tướng không cử động, khi nói chuyện họ nhìn thẳng, mắt không liếc ngó hai bên, giống như người tu vậy. Theo tinh thần nhân duyên khởi của nhà Phật, trong quá khứ họ đã từng tu nên bây giờ mới được làm người như vậy.

Như thị ba nghiệp đều thiện thì sáu căn tự nhiếp. Như thị tức là đạt đến chỗ như thị. Các pháp đều như thị rồi, thì ba nghiệp đều thiện. Ba nghiệp thân, khẩu, ý đều thiện thì tự nhiên sáu căn thanh tịnh, dẫn đến lời nói, hành động, ý nghĩ đều thiện, sáu căn tự nhiếp phục.

Khi mới vào chùa, tại sao các ngài bắt buộc mình giống như khờ, như ngu, có mắt như mù, có tai như điếc? Bởi vì chỉ cần nhìn rõ một người hoặc thầy lớn hoặc thầy nhỏ, tự nhiên sáu căn mình không thanh tịnh, không được nhiếp phục. Chuyện này là chuyện của người lớn, của chư Phật, Tổ, còn chuyện của mình là tu. Mình tu, căn bản là tu cho mình, đi thẳng một đường thì ba nghiệp đều thiện, sáu căn tự nhiếp phục. Lo làm công việc của mình thôi, ngoài ra không biết chuyện gì hết, bởi vì không phải bổn phận của mình. Được vậy thì quý thầy tu rất thanh thản, an ổn.

Sở dĩ, tôi dám nói mạnh là vì tôi mới thấy được điểm này khoảng hơn một tháng nay, thấy được rồi, tự nhiên rất thanh thản. Tu mười mấy năm trời mà mới thấy cách nay có hơn một tháng, không phải chuyện đơn giản. Có một lúc nào đó, mình chợt nhận ra được, cho nên tôi khẳng định: ngộ là tinh thần cuối cùng của Bát-nhã. Ngày xưa mình chăm bẳm giữ giới, chăm bẳm để đạt được thiền định, đạt được trí huệ, đó là phần phụ trợ duyên mà thôi. Chính cái thấy được, chuyển biến được, đó là phần cuối cùng. Thấy được rồi, quý thầy sống rất an ổn.

Người này, người kia phạm giới là chuyện của họ, chuyện của mình là phải thu thúc chính bản thân thì tu rất là nhẹ, mà cứ tưởng là tu khó. Khó là vì vừa thấy, tự nhiên mình tiếp xúc, xúc tác. Sanh tâm niệm khởi thì đau khổ. Người ta có đau khổ không, mình không biết, nhưng mình đau khổ trước: “Trời! Ông thầy này sao vậy? Ổng phải giữ giới như mình chứ!”

Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên có ghi câu chuyện:

Thiền sư Ngưỡng Sơn đến Thiền sư Hồng Ân ở Trung Ấp Lãnh Châu hỏi:

– Làm sao thấy được nghĩa Phật tính?

Sư đáp:

– Ta vì ông, nói một thí dụ: Như một nhà có sáu cửa, trong đó có một con khỉ, ngoài có một con khỉ từ bên đông kêu ché ché, bên trong cũng kêu ché ché liền đáp, sáu cửa đều kêu đều đáp như thế.

Ngưỡng Sơn lễ tạ thưa:

– Vừa rồi nhờ Hòa Thượng thí dụ, con đều biết rõ. Lại có một việc, ví như con khỉ ở trong ngủ, con khỉ ở ngoài muốn gặp phải làm sao?

Sư bước xuống giường thiền nắm tay Ngưỡng Sơn múa nói:

– Ché ché! Cùng ông thấy nhau rồi.

Sở dĩ, mình thấy chuyện này chuyện kia là vì con khỉ mình thức. Chẳng hạn mình xuống hành đường mình thấy việc đó nó sao sao đâu, là con khỉ mình thức. Nếu trong giờ phút thực tại đó, con khỉ ngủ rồi, thì thôi chuyện anh làm là chuyện nhân quả của anh giải bày. Mọi việc đều nhân quả giải quyết hết.

Mình rất nhớ ơn Hòa thượng. Người ta đến cúng dường thức ăn, thức uống, tuy nói rằng cúng Hòa thượng, nhưng Hòa thượng phải nuôi quý thầy. Quý thầy đến đây học đạo, tu đạo, nợ đàn-na tín thí, quý thầy phải giải quyết. Nhân quả quý thầy phải gánh chứ Hòa thượng không thể nào gánh giùm được. Như vậy để thấy rằng, trong cuộc sống tu hành, giữ giới, giữ oai nghi phép tắc là giữ cho mình. Mà muốn được như thế thì con khỉ ở trong phải ngủ chút ít, chứ còn nhìn ra ngoài quá, thì quý thầy rất khó tu.

Tôi kể để quý thầy kinh nghiệm. Ngày xưa ở đây có một người, người này đi đâu cũng phiền não, cũng thấy người ta làm trái ý mình. Mà ý mình phải là Thánh chưa? Chấp vào ý kiến của mình, thì tự nhiên thấy ý mình là chân lý, còn ý người khác không phải chân lý nên sống không được. Một thời gian sau, người này tu không được phiền não quá bỏ đi cất thất ở đâu đó. Bây giờ hỏi ra, thì một vợ hai đứa con!

Trong lúc thực tập đường hướng tâm linh, mình sẽ lãng phí thời gian rất nhiều, do phóng ra hai con mắt, không thu thúc lại chính mình. Chiếu kiến gì đó chứ không chiếu kiến ngũ uẩn giai không. Cho nên, tự mỗi người phải phấn đấu. Người nào phấn đấu không được thì để Thầy Tổ giải quyết, mình đừng đụng vô. Được như thế, con khỉ mình ngủ tệ lắm cũng được năm mươi phần trăm.

Sa Di Học Xứ ghi:

“Bởi vì một thân oai nghi tức là tướng trạng của người xuất gia, trong làm khuôn phép cho Tăng đồ, ngoài làm lợi ích cho đàn-na. Đây là phương pháp tu trước thì tiến, sau là làm mẫu mực, chẳng phải chỉ có thọ giới thời mới tập học, cần yếu trọn đời phải hành trì mới gọi là bậc thiện.”

Nghiên cứu kỹ, tôi thấy học phần Oai Nghi hay và hứng thú hơn phần Tỳ Ni và Mười Giới. Phần Oai Nghi này, nếu học kỹ, quý thầy sẽ thấy rất rõ, bởi vì một thân oai nghi tức là tướng trạng của người xuất gia, của bậc trượng phu, chứ người đời không bao giờ làm được. Người đời họ mưu sinh, lo chuyện vợ con, nhà cửa, lo tất cả,… cho nên họ gần như không có cơ hội thu thúc tướng trạng oai nghi được. Còn mình được gì? Được túc duyên sâu dày, được đàn-na tín thí hỗ trợ cho mình tu, đi đứng chánh niệm, nói năng thu thúc được.

Trong thì làm khuôn phép cho Tăng đồ. Sau này quý thầy lớn lên, chúng nhỏ thấy quý thầy có đầy đủ oai nghi phép tắc thì tự nhiên họ theo, khỏi cần dạy. Mình làm được vậy là làm khuôn phép cho Tăng đồ, đức của mình được tăng trưởng. Quý thầy còn nhỏ mà cứ giỡn cười suốt, thì mấy đứa nhỏ sau vô chùa, nó hỏi: “Thầy đi tu mấy năm rồi?” Quý thầy gật gật đầu: “Hai mươi lăm năm.” “Ủa, hai mươi lăm năm sao kỳ vậy thầy?” Không sửa chút nào hết! Nhưng họ không dám nói ra. Không phải học oai nghi, là chỉ để nghe, rồi về muốn làm gì mình làm. Các ngài dạy: Học oai nghi không phải chỉ nghe suông, mà mình phải hành trì trọn đời.

Nên Luật nói:

“Sao gọi là oai nghi? Hạnh tùy thuận ấy gọi là oai nghi, chẳng tùy thuận phạm phi oai nghi. Thiền sư Bạch Vân Thủ Đoan nói: Phàm tất cả Phật pháp giữ gìn đức hạnh thì còn, bỏ thì mất. Song chẳng phải đạo đến với người mà chính là người đến với đạo.”

Không phải quý thầy ngồi đây, tự nhiên đạo chạy tới, mà chính mình đến với đạo. Đến như thế nào? Mình phải tập sự lúc đầu, đi đứng chánh niệm, nói năng như thế nào thì công đức lần lần được vun bồi, đạo tự nó thành hồi nào không hay. Oai nghi phép tắc là do mình thực tập, thực hành dung nghi đầy đủ.

Nhiều khi mình cười giỡn làm cho mấy đứa nhỏ vui, nhưng nó vui trước mặt, mà sau lưng khi dễ mình: “Ông thầy đó lớn vậy mà ổng giỡn cười, ca múa.” Tôi đã từng chứng kiến, tôi để ý thấy nó cười vui, nhưng sau lưng ông thầy thì nói xấu. Mấy đứa nhỏ mới vào, nó thấy đâu nói đó, thấy sao nói vậy. Nên nói chẳng phải đạo đến với người mà chính người đến với đạo.

Trong Sơn Đường Tiểu San có ghi:

Chơn Tịnh cử Quảng đạo giả làm Trụ trì chùa Ngũ Phong, dư luận cho rằng Quảng là người vụng về, không có tài ứng thế. Kịp tới lúc Quảng trụ trì thì tinh tấn để sửa mình, khoan hồng để xét chúng, chưa bao lâu mà hàng trăm việc đình trệ đều được tiến hành, kẻ nạp tử đi lại tấp nập, náo nhiệt tuyên truyền, thật là bậc thượng trong tùng lâm.

Lúc chuẩn bị đề cử, thì trong chúng hoặc Phật tử nói, ông thầy không có tài, có đức gì hết mà ứng thế vụng về lắm. Nhưng kịp lúc làm trụ trì thì tinh tấn để sửa mình, khắc cốt ghi tâm lời Thầy Tổ dạy, sửa mình đi đứng thu thúc và khoan hồng để mà xét chúng. Chẳng hạn như chúng đó ăn cắp tiền thì ngài xét rất khoan hồng, tha thứ bao dung. Từ đó về sau nạp tử học rất đông, thành ra tùng lâm hưng thịnh, chính là vì người đến với đạo chớ không phải đạo đến với người. Người đến với đạo là do cách mình sống, cư xử, hành động thì đạo từ từ đến.

Tôi nêu ra câu chuyện sau, để quý thầy thấy là mình đến với đạo, chớ đạo không đến với mình được:

Nhà bên cạnh có tiệc cưới rất lớn. Ông chủ sai người giúp việc đếm xem có bao nhiêu người đến dự tiệc. Người đầy tớ rất thông minh, đem khúc cây để trước cửa lúc trời tối, ai đi qua vấp phải đều chửi rủa. Cuối cùng có bà già đạp khúc cây bị té, bà bèn lượm khúc cây để qua một bên. Về nhà ông chủ hỏi bữa tiệc có bao nhiêu người, anh đầy tớ nói dạ có một người. Hỏi sao tiệc đông mà nói có một người, đầy tớ trả lời: Con để một khúc cây trước ngưỡng cửa, ai đi qua vấp xiểng niểng cũng đều chửi rủa, chỉ có một bà già không chửi rủa gì hết, bà lấy khúc cây để qua một bên. Chỉ có con người mới làm được như vậy, chớ mấy người trước đâu khác gì con cừu con nai nên không làm được chỗ này.

Quý thầy nghiệm đúng không? Câu chuyện mình thấy tầm thường nhưng đối với nhà thiền rất là chí lý. Chỉ có bà già mới ý thức được, mình té thì người sau cũng té. Hành động có ý thức trách nhiệm đó chỉ có con người, chỉ có bậc đại quân tử mới làm được. Trong cuộc sống giữa đời thường này, nếu vấp ngã chỗ nào thì quý thầy đứng lên dọn dẹp chỗ đó, đừng đổ thừa cái này, cái kia.

Đại Sư Tiết Kiệu nói:

“Học đạo như lên núi, một bước chẳng có thể trụ. Đổi được giày cỏ, trước người qua đỉnh núi đi.”

Kinh Hoa Nghiêm nói:

“Hộ trì đầy đủ oai nghi, giáo pháp hay khiến Tam bảo chẳng đoạn.”

Kinh Hoa Nghiêm Phật dạy, hộ trì đầy đủ oai nghi giáo pháp thì khiến Tam bảo không đoạn dứt. Còn có người giữ giới luật, oai nghi thì Tam bảo dừng trụ rất lâu.

Trong Luật Thập Tụng có ghi:

Siêng tu năm pháp thì chánh pháp chẳng đoạn:

1- Thứ nhất là tôn trọng chánh giáo. Nghĩa là các thầy Tỳ-kheo chỉ nương tựa chánh giáo tiến tu, xa lìa pháp tiểu thừa và các ngoại đạo nói tà lệch, tức là đoạn và thường, cho nên hay khiến chánh pháp chẳng đoạn diệt.”

Nghĩa là sau khi bước vào đạo, dừng trụ nơi tùng lâm, tinh tấn tu pháp Đại thừa để chuyển vọng tình thành đại bi, chuyển vọng tưởng thành đại trí là những người căn cơ bậc thượng.

2- Thứ hai, chỉ tức sân ác, dừng nghỉ việc sân ác. Nghĩa là các thầy Tỳ-kheo thường hành nhẫn nhục, chẳng sanh tâm sân hận, xa nghe đức mà ca tụng khiến mọi người đều qui ngưỡng, cho nên hay khiến chánh pháp chẳng đoạn diệt.

Tức là thường tu pháp nhẫn nhục và tha thứ, thương xót những người khác thì người ta nghe cái đức. Người ta đến với mình.

3- Thứ ba là kính sự Thượng tọa. Nghĩa là các thầy Tỳ-kheo đối với chỗ ở của các bậc Đại đức, Thượng tọa cung kính thuận việc, cần cầu pháp yếu, cho nên hay khiến chánh pháp chẳng đoạn diệt.”

Các thầy Tỳ-kheo đối với chỗ của bậc Đại đức, Thượng tọa mình phải cung kính thuận việc, phải hầu hạ đúng phép thì chánh pháp không đoạn diệt. Còn trò mà khinh thầy, thì sau chánh pháp chắc chắn sẽ bị đoạn diệt, bởi vì trò không ra trò nữa.

4- Thứ tư, ái lạc chánh pháp, vui với chánh pháp. Nghĩa là các thầy Tỳ-kheo đối với điều Thượng tọa nghe nói chánh pháp tin sâu vui thích, hoan hỉ phụng hành, cho nên hay khiến chánh pháp chẳng đoạn diệt.

Chẳng hạn như quý thầy vào học giờ của Hòa thượng, tai thì nghe mà mắt thì coi quyển kinh khác là chánh pháp đoạn diệt. Bởi vì mình không kính lời của bậc trưởng thượng nói. Tai thì mình nghe, mà mắt thì mình coi sách, hay coi cái gì khác, nhiều khi coi sách không đúng với chánh pháp nữa. Tuy mình thấy rất là nhỏ, nhưng kiếp sau bảo đảm quý thầy không gặp vị trưởng thượng này, mà cũng không gặp chánh pháp. Vì vậy, muốn chánh pháp không đoạn diệt thì phải vui thích nghe những lời bậc trưởng thượng nói, rồi ghi nhớ sâu để thực hành.

5- Thứ năm, hiện nói sơ tập và khéo dạy bảo các hàng mới phát tâm. Nghĩa là các thầy Tỳ-kheo đối với pháp Đại thừa phương tiện diễn nói khiến người sơ tâm học tập có chỗ nương tựa để tiến tu đạo nghiệp, cho nên hay khiến chánh pháp chẳng đoạn diệt.”

Quý thầy nhỏ mới vào chùa, quý thầy nhờ ai? Nhờ Hòa thượng, nhờ Thầy Trụ trì dạy mình mới biết các pháp thực hành. Ráng học, tu tập để sau này dìu dắt người sau. Lớp trên đi rồi lớp sau sóng lượn tiếp tục. Muốn được vậy, mình phải thực tập trước để sau này còn dạy đàn em.

“Phật dạy, Thầy Sa-di tuổi đủ hai mươi khi muốn thọ giới cụ túc, nếu ba thầy tức là Hòa thượng, Yết-ma, Giáo thọ hỏi phận sự Sa-di không thể trả lời cho đủ, thời không cho thọ giới cụ túc.”

Sau này quý thầy nếu đi thọ giới cụ túc, các vị Hòa thượng, Yết-ma, Giáo thọ sẽ hỏi như hỏi bài vậy. Chẳng hạn các ngài hỏi: Thế nào là Khu ô Sa-di, thì quý thầy phải trả lời đúng.

Tôi kể câu chuyện vui mà có thật. Ngày xưa tôi đi thọ giới, Thầy tôi hỏi một vị thầy lớn tuổi, khoảng trên năm mươi:

– Tứ Diệu Đế là gì?

Ông thầy lết tới gần Thầy tôi nói:

– Thầy! Con ở với Thầy ba năm mà Thầy không biết con sao?

Nghĩa là vị này không bao giờ thuộc được Tứ Diệu Đế là gì! Quý thầy đi thọ giới là phải học. Hỏi Tứ Diệu Đế là gì quý thầy phải trả lời đầy đủ là Khổ, Tập, Diệt, Đạo.

Có người còn cãi lại nữa. Hòa thượng hỏi:

– Y bảy là gì?

Thầy thọ giới trả lời:

– Uất-đầu-lam-phất!

Hòa thượng nói:

– Không phải, Uất-đầu-lam-phất là vị ngoại đạo dạy pháp đầu tiên cho Phật. Y bảy là Uất-đa-la-tăng.

Thầy thọ giới cãi:

– Thầy tôi dạy vậy mà, Thầy tôi dạy y bảy là Uất-đầu-lam-phất!

Hòa thượng liền rút ra quyển sách:

– Ông coi nè, Uất-đa-la-tăng.

Cho nên quý thầy thọ giới phải học, các vị Hòa thượng, Yết-ma, Giáo thọ hỏi rất là kỹ.

Bây giờ tôi hỏi một câu nữa, sau này quý thầy thọ giới sẽ gặp: Phật có con hay không? Có, mà là con trong Phật pháp, gọi là Pháp Vương Tử Đại Trí Văn-thù Sư-lợi Bồ-tát thì đúng. Quý thầy mà nói con là La-hầu-la thì trật. Các Hòa thượng hỏi nhiều chuyện rất ngặt nghèo, quý thầy không trả lời được thì cho về học lại kỳ sau thọ. Nên phải chuẩn bị.

Sa Di Học Xứ ghi:

“Phật dạy như trên, Sa-di tuổi đủ hai mươi nghĩa là niên hạn đã đủ, ấy là vị trượng phu thì kham nhẫn khổ lạnh, rõ việc Tỳ-kheo thì mới cho thọ giới được.”

Mười tám tuổi cũng không thọ được mà phải đủ hai mươi. Ngày xưa lúc Phật thành đạo trở về, thì tôn giả La-hầu-la xuất gia. Sau khi tôn giả La-hầu-la xuất gia, vua Tịnh Phạn sợ La-hầu-la ở một mình buồn, nên bắt buộc mỗi gia đình trong dòng họ Thích-ca phải cho một đứa con đi tu, để làm bạn với tôn giả. Trong kinh ghi rõ có năm trăm chú tiểu vào tu. Một buổi tối, Phật đang ngồi thiền, nghe tiếng trẻ con la khóc, Phật xả thiền ra hỏi tôn giả Xá-lợi-phất. Sau khi nghe kể, Phật thấy trẻ con không kham nhẫn được nóng lạnh và đói khát, cho nên Phật chế, bảo xin sữa, xin cháo lỏng cho mấy chú tiểu ăn buổi chiều. Nên tuổi đủ hai mươi, kham nhẫn được sự nóng lạnh mới cho thọ giới cụ túc.

Tuy tinh thần của luật nghi, của Phật pháp là tất cả chúng ta đều bình đẳng, nhưng Tỳ-kheo mới được gọi là sứ giả của Như Lai, đi làm Phật sự, đi chỗ này chỗ kia truyền bá giáo pháp. Lục Tổ Huệ Năng sau khi ngộ đạo phải thọ giới Tỳ-kheo, thọ giới Bồ-tát thì mới đi truyền bá Phật pháp được. Sa-di thì có một giới hạn nào đó thôi.

Quý thầy sau này muốn làm Phật sự lớn, muốn đi truyền pháp lợi sanh thì phải thọ giới Tỳ-kheo. Thầy Đức Trí muốn làm cựu Sa-di thì cũng được, nhưng làm Phật sự lớn không được. Cựu Sa-di sau này làm tri sự thì làm sao điều khiển hàng Tỳ-kheo được. Sa-di thì không có tư cách điều khiển, vì giới phẩm, hạ lạp mình không đủ mà điều khiển người đi trước là tổn phước. Mình chưa phải là bậc tái lai, cho nên phải thọ giới Tỳ-kheo để làm Phật sự, không thôi mình cứ ỷ lại, ở suốt trong Tùng lâm.

Đến các chùa Tịnh Độ, người ta hỏi quý thầy mấy hạ, vị nào ít tuổi hạ phải ngồi sau, chứ không đủ tư cách ngồi trước. Như vậy cũng có lý. Hai người xuất gia cách nhau ba năm nhưng cùng thọ giới một lúc, người nào thọ giới đàn trước thì người đó làm sư huynh. Chẳng hạn như tôi thọ giới đàn thứ ba, vị thầy kia xuất gia trước tôi ba năm mà thọ giới đàn thứ mười thì cũng là sư đệ tôi. Người nào tác pháp Yết-ma trước thì người đó làm sư huynh, rõ ràng như vậy.

Đó là do tích sau đây: Bảy vương tử xuất gia cùng một ngày trong đó có Đề-bà-đạt-đa, A-nậu-lâu-đà… Người nghèo khó nhất là thợ hớt tóc Ưu-ba-ly được đề nghị xuất gia trước làm sư huynh, để dẹp đi cái bản ngã huân tập vương tính còn trong dòng họ Thích. Cùng xuất gia trong một ngày, ai cạo tóc trước người đó là sư huynh, đủ tuổi thì thọ giới luôn, chớ không phải đợi hai ba năm như bây giờ.

“Cụ túc giới nghĩa là: Năm giới, tám giới, mười giới chưa phải là cụ túc, duy Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni giới mới gọi là cụ túc. Đây nghĩa là người tấn thọ để tâm tròn đủ mong cầu thiện pháp, ngay nơi tác pháp Yết-ma được tánh Tỳ-kheo.”

Túc tức là đủ. Cụ túc tức là tròn đủ hạnh nguyện. Mình xuất gia tu tập phải thọ giới cụ túc này. Ba lần tác pháp Yết-ma thì mới được gọi là tánh Tỳ-kheo: Tăng Tỳ-kheo hoặc Ni Tỳ-kheo thì mới tròn đủ tánh đức.

Trong Chuẩn Nhữ Định Luận có nói:

“Trong có bốn phần nghĩa nhiếp:

1- Thọ cụ túc: Nghĩa là người thọ giới được ban lời dạy bảo không lầm nên gọi là chẳng quên. Tâm chẳng tương ưng, liên tưởng biến khắp, trước thọ mười giới nay cầu cụ giới, tai nghe Yết-ma, niệm chẳng biết thường.

2- Tỳ cụ túc: Nghĩa là trong 250 giới tướng đều không có hỷ mốc.

3- Hộ tha tâm cụ túc: Nghĩa là trong bốn nghĩa cụ túc có một phần cụ túc oai nghi, hay làm tăng trưởng tín lạc cho người khác.

Tức là trong đó có một phần, gọi là cụ túc oai nghi. Người mà thọ, đắc được pháp này thì tự nhiên thần tướng lộ ra khiến ai cũng khiếp phục. Có những người vừa thọ giới xong, thì Tăng tướng họ lộ ra liền, ngay cả lúc đang còn là Sa-di.

4- Cụ túc thủ kỳ: Nghĩa là sau khi đắc giới rồi tận hình thọ trì trước sau không phạm.

Có bốn nghĩa này nên nói là giới cụ túc. Phàm làm thầy nên phải hỏi cho tường tận. Gốc của Sa-di là thọ mười tri giới tướng, chính là hai mươi bốn cửa oai nghi có thể từng hiểu rõ, đọc tụng, hành trì chăng? Như mờ mịt chẳng biết, lơ là chẳng học, chẳng có thể ứng đối thì chẳng có nên thọ trì. Vì sao? Nghĩa là Tăng bảo Tỳ-kheo tối tôn tối trọng, chẳng phải là cầu may có thể được.”

Không phải như mình đi thi mà cầu may. Quý thầy đi thọ giới không có chuyện đút lót tiền, hoặc nói mình thọ cầu may cũng không được. Sau này làm thầy, quý thầy phải hỏi cho tường tận: “Gốc của Sa-di là gì?”, “Tại sao ông đi tu?”, “Khu Ô Sa-di là gì?”, “Danh tự Sa-di là gì?”, “Ứng pháp Sa-di là gì?”, “Hình đồng Sa-di là gì?” Không phải mình khó nhưng phải hỏi cho kỹ, nhiều khi mấy người đi thọ cầu may chứ không học, không chịu hành trì. Trường hợp này cho rớt, phải khó như vậy mới được. Vì ngài nói: “Tăng bảo Tỳ-kheo tối tôn tối trọng, chẳng phải là cầu may có thể được.”

Chẳng hạn như quý thầy nếu không học, không tu, không hành trì mà khi đi một đoạn đường trên xe, gặp ngoại đạo hỏi về giáo lý Phật đà quý thầy trả lời không được thì bị mất gì? Nhà Phật nói mất hạt giống Bồ-đề của người ngoại đạo đó. Còn nếu mình nói thế nào, mà ngoại đạo tâm phục khẩu phục, thì mình cũng được tăng trưởng phước đức. Nên phải học, phải tu, phải hành trì. Nhiều khi họ thấy oai nghi, phép tắc của mình họ cũng kính nể.

Vào thời đức Phật, có thầy Tỳ-kheo đi đường mắc tiểu chạy vô bụi, không kịp ngồi mà đứng tiểu luôn. Lúc đó có ông cư sĩ đi ngang nói: “Ông Sa-môn này không có oai nghi phép tắc gì hết.” Tình cờ một người ngoại đạo lõa thể đi ngang qua nghe vậy giựt mình nghĩ: “Ông Tỳ-kheo này ổng chạy vô bụi đứng tiểu, có che lại mà cư sĩ còn chê, huống chi mình áo quần không mặc mà họ cũng không chê cười gì hết. Như vậy pháp của vị Sa-môn này chắc thù thắng, tối tôn, tối trọng, tối thượng lắm.” Từ đó vị ngoại đạo lõa thể này phát tín tâm đến gặp Phật xuất gia. Quý thầy thấy không? Mắc tiểu cũng phải ráng đi từ từ, chứ nhảy xuống xe mà chạy, Phật tử thấy họ nói liền: “Thầy kỳ cục.”

“Phải dạy rằng: Người là Sa-di song những việc làm của Sa-di chính ngươi không biết huống là bậc Sa-môn là việc lớn khó làm. Ngươi phải trở về học cho thuộc, thảy đều nghe biết mới được thọ giới cụ túc.”

Tức là đuổi về học lại lần nữa thì mới cho thọ. Nên bây giờ quý thầy phải học trước, học thuộc bốn cuốn luật nữa.

Chú: Sa-Di Học Xứ ghi:

“Sa-di tuy là tiểu chúng đều có thể nối dòng Tam bảo, lợi ích quần sanh.”

“Lại như cha gọi con. Nghĩa là Sa-di là hậu duệ của Tỳ-kheo.”

Tức là mình phải kính trên, nhường dưới.

Có một vị tướng quốc gọi thiền sư Nhất Hưu:

– Ông Sa-di đầu trọc!

Ngài không trả lời, tướng quốc lại tiếp tục gọi như thế. Lúc này thiền sư Nhất Hưu lần lượt cầm hai củ cải đưa lên, một lớn, một nhỏ hỏi tướng quốc:

– Củ này là củ gì?

Tướng quốc đều đáp:

– Củ cải.

Thiền sư Nhất Hưu hỏi:

– Tại sao lớn cũng kêu củ cải mà nhỏ cũng kêu củ cải?

Có nghĩa Hòa Thượng là Tăng bảo mà tôi cũng là Tăng bảo. Ông kêu Sa-di đầu trọc đâu có được.

“Chẳng biết chỗ thực hành của Sa-di, nên nói: Con làm Sa-di còn chẳng am hiểu chỗ thực hành của Sa-di, lại mong mỏi hành trì luật Tỳ-kheo ư? Việc lớn Sa-môn khó làm nghĩa là giới pháp Tỳ-kheo luật chế nghiêm cẩn rất khó hành trì.

Nên Kinh Pháp Hoa nói: Lại thấy giới cụ túc oai nghi không có khiết tịnh như bảo châu để cầu Phật đạo. Chớ xem thường dễ duôi! Bằng nay ba thầy trao cho giới cụ túc rồi người ta bảo Phật pháp dễ hành, Sa-môn dễ được, vì thế nên phải hỏi trước.

Những phép tắc, chương điều dưới đây được rút ra từ các Kinh: Sa Di Oai Nghi, Thanh Qui Xưa, Sa Di Thành Phạm Thời Nay. Lại Bộ Hành, Bộ Luật Nghi của Tuyên Luật sư tuy là để dạy cho hàng Tân Tỳ-kheo nhưng có những điều học chung được nên cũng rút ra. Bởi con người thời mạt pháp phần nhiều biếng nhác, nghe nhiều thì chán, do đó bỏ bớt những chỗ rườm rà, chỉ dạy những điều chính yếu và chia loại ra để tiện đọc học. Trong bài có chỗ còn thiếu theo nghĩa thêm một đôi câu.”

 

1. Kính Bậc Đại Sa Môn

Sa-môn là gì? Có phải Sa-môn là các thầy mới thọ giới Tỳ-kheo?

Sa-môn là những vị Hòa thượng bốn mươi tuổi hạ, chẳng hạn như Hòa thượng Trụ trì Thường Chiếu. Các ngài có đức độ, có con mắt pháp nhãn, độ chúng sanh rất nhiều mới dám tự đề mình là Sa-môn. Còn mình thọ giới mới có năm năm thì đề là Tỳ-kheo. Nhiều người không hiểu, tưởng Sa-môn cũng như Tỳ-kheo, nên thọ giới năm hạ hay mười hạ cũng đề: Dịch giả: Samôn… là trật!

Trong Thiền Sư Trung Hoa có ghi:

Một hôm sau thời thuyết pháp của thiền sư Bách Trượng có một ông già không chịu về. Hỏi tại sao, ông nói:

– Con không phải là người thường, ngày trước con trụ ở núi này, có một người đến hỏi con: Bậc đại tu hành còn rơi vào nhân quả không? Con nói: Không! Cho nên con bị đọa làm chồn năm trăm kiếp! Nhờ thiền sư chuyển ngữ một lời cho con được giải thoát.

Bậc đại tu hành là gì? Là bậc đại Sa-môn, chứ không phải là Tỳ-kheo nữa. Bậc đại Sa-môn có năng lực tâm linh rất lớn, rất vi diệu để điều phục chúng sanh. Nói Tỳ-kheo là bậc đại Sa-môn là trật.

Sa Di Học Xứ ghi:

“Kính là kính tín, nghĩa là tôn trọng, nghĩa là có nói ắt tin, có dạy ắt theo, chẳng dám khinh nhờn.”

Chẳng hạn như Hòa thượng dạy xuống điều gì, thà quý thầy không ở trong tùng lâm này, còn ở đây quý thầy phải tin chắc lời Hòa thượng dạy một trăm phần trăm thì quý thầy tu mới đúng, mới có lợi lạc. Nếu phỉ báng lời dạy của Hòa thượng, thì quý thầy đọa địa ngục chắc chắn luôn. Kính là kính tín. Mình tin điều Hòa thượng dạy, nghĩa là tôn trọngnghĩa là có nói ắt phải tin, có dạy ắt theo, chẳng dám khinh nhờn. Nhiều khi Hòa thượng dạy quý thầy cười, các ngài nói khinh nhờn những lời dạy của bậc Sư trưởng. Như vậy kiếp sau ra đời không bao giờ gặp Phật pháp, mà sanh vào trong biên địa hạ tiện, không thấy nghe được Phật, Pháp, Tăng.

Người xưa có câu: “Trọng Thầy mới được làm Thầy”. Chính chúng tôi chứng kiến, mỗi lần thị giả Thầy Thường Chiếu được báo năm hoặc mười phút nữa Hòa thượng Trúc Lâm sẽ điện lại để gặp Thầy Trụ trì bàn một số công việc, Thầy mặc hậu đàng hoàng, nghe điện thoại reng ba tiếng, Thầy xá một cái rồi mới nhấc điện thoại lên. Thầy mặc hậu kính cẩn đàng hoàng giống như đối diện trước Hòa thượng vậy. Tôn kính bậc Sư trưởng như vậy, nên bây giờ Thầy mới được làm Thầy của gần ba trăm chúng.

Thầy Trụ trì Trúc Lâm cũng vậy, tôi đi theo thấy, Hòa thượng dạy sao làm vậy, không dám trái, nhiều khi chúng nói Thầy cứ làm đi, Thầy nói: “Ông cụ còn sống, làm gì cũng phải thưa thỉnh.” Chính vậy mới được làm Thầy. Còn mình nói một người cũng không chịu nghe, chứng tỏ mình khinh nhờn lời nói của Thầy mình.

Phật dạy:

“Lòng tin là gốc của đạo, là mẹ các công đức, nuôi lớn hết thảy các pháp lành, giúp trừ lưới nghi, ra khỏi dòng ái, mở bày đạo Vô thượng Niết-bàn.”

Mình tin lời của bậc đại Sa-môn thì chính đó là gốc của đạo, là đạo đức khi mình bước vào đạo. Mình phải tin, còn không tin thì đi chỗ khác, chứ ở đây mà phỉ báng pháp môn hoặc lời Thầy dạy là chết mình luôn. Là mẹ của các công đức, nuôi lớn hết thảy các pháp lành, giúp trừ lưới nghi, ra khỏi dòng ái là cũng nhờ bậc Sư trưởng dạy dỗ cho mình.

Lại nói:

“Lòng tin hay tăng trưởng trí, công đức. Lòng tin hay đưa người đến địa vị Như Lai. Kinh nói: Lòng tin hay dứt hẳn gốc phiền não. Lại bảo lòng tin có khả năng làm cho người mau chứng được môn giải thoát.”

Hòa thượng Cao Phong Diệu nói:

“Bậc thượng như Phật, như Tổ vượt lên bờ bên kia, chuyển bánh xe pháp lớn, nhiếp vật lợi sanh. Không có một vị nào chẳng do từ trong một chữ tin này mà ra.”

Chư Phật, Tổ đều tin lời Thầy mình dạy, tin như thế mới hành trì được. Hành trì được rồi, thì mới nhiếp phục oai nghi phép tắc, giới luật. Chẳng hạn như Thầy Trụ trì ở đây dạy mình chiều chỉ uống sữa ăn bột thôi, mình phải tin chắc vào thanh quy tế thắng yết-ma thì mới được lợi ích. Còn mình nói: Ôi! Thầy nói thì nói, mình ăn thì ăn, uống thì uống quyền của mình thì không bao giờ mình gặt hái được đạo quả giải thoát, tu là tu cho vui qua ngày tháng thôi.

“Có Tỳ-kheo Thiện Tinh hầu Phật hai mươi năm chẳng rời, thế mà vì không có một chữ tin này chẳng thành Thánh đạo, lại bị rơi trong địa ngục.”

Không tin lời Phật dạy, chứng tứ thiền mà nói là đã chứng quả vị A-la-hán, sau khi hết phước không hiện ra tướng Niết-bàn. Phỉ báng Phật, nói là Phật dối, Phật không có thật, vừa nói vậy là đọa vào chốn địa ngục, đó là Thiện Tinh Tỳ- kheo.

Kinh Hoa Nghiêm có nói:

“Có tin mà không hiểu thì tăng trưởng vô minh.”

Nghĩa là mình rất tin, Thầy nói sao mình tin vậy, mà không hiểu gì hết. Chẳng hạn như Thầy mình đưa ra đường hướng, phép tắc gì đó mình đều tin, nhưng không hiểu thì cũng không có lợi ích gì. Hiểu thì mới có tâm hướng thượng, còn không hiểu thì tăng trưởng gốc vô minh mờ tối.

“Có hiểu mà không tin thì thêm lớn tà kiến.”

Hiểu mà không tin thì làm lệch, lệch theo ý của mình. Nhiều khi quý thầy hành trì chắc gì đúng phương pháp Hòa thượng dạy, thêm lớn tà kiến.

“Tin, hiểu, suốt thông mới là gốc của sự tu hành.”

Luận Trí Độ nói, Phật dạy:

“Nếu người có lòng tin thì có thể vào trong biển pháp lớn của ta, có thể được quả Sa-môn, không uổng cạo tóc, nhuộm áo. Nếu người không có lòng tin thì không thể vào biển pháp lớn của ta, như cây khô chẳng sanh ra hoa quả, chẳng đắc quả Sa-môn. Dẫu có cạo tóc, nhuộm áo, đọc các kinh điển, có khả năng hỏi, có khả năng đáp đi nữa, ở trong Phật pháp cũng chỉ vô ích, không được chi cả. Do vì nghĩa này nên trong Phật pháp trước hết phải khéo lấy lòng tin làm căn bản.”

Nghĩa là dẫu cho mình cạo tóc, nhuộm áo, đọc các kinh điển, ai nói gì mình cũng biết hết mà mình không tin, mình nói chắc gì ông thầy nói đúng. Như vậy thì cũng vô ích, không gặt hái được đạo quả giải thoát.

Chú:

“Tiếng Phạn gọi là Sa-môn, đây gọi là công lao. Nghĩa là tu đạo có công lao nhiều, nghĩa là cần tu thiện pháp, hạnh hướng đến con đường Niết-bàn thì tiếng Phạn gọi là Sa-môn.”

Ở Trung Hoa gọi là công laotu đạo có công lao rất là nhiều. Chẳng hạn như quý thầy vào đây được một năm, ngoài tu học còn làm xây dựng nhà cửa, chẻ củi, nấu cơm, làm hết tất cả các việc thiện pháp, thì người vào sau phải thua quý thầy một năm. Huống chi là bậc Đại Sa-môn, công lao các ngài rất nhiều, các ngài đã bỏ ra công sức nhiều đời nhiều kiếp. Tâm sức của các ngài đều hướng đến con đường Niết-bàn. Các ngài tu hành không những nhiều tháng, nhiều năm mà còn nhiều kiếp nữa. Nên nếu mình làm sai quấy, bị vị Hòa thượng nào đó quở nặng một tiếng là phước đức của mình bị tổn giảm và sẽ tu rất là khó.

Biện Chánh Luận nói:

“Hạnh xuyên thoát tục, tâm dạo ngoại trần gọi là Sa-môn,”

Nghĩa là hạnh thì ngoài thế tục, mà tâm thì dạo ngoại trần, tức là nhiếp phục chúng sanh, đi vào cuộc đời này để giáo hóa chúng sanh. Chẳng hạn như việc Hòa thượng lập rất nhiều thiền viện.

Trong Tương Ưng Bộ Kinh có ghi:

Lúc Đức Phật ở trong rừng Kỳ Đà, vườn ông Cấp Cô Độc thì một vị phi tử đến hỏi Phật:

– Phật có hoan hỉ không?

Phật nói:

– Này hiền giả! Ta được gì mà ta hoan hỉ?

Ở đây muốn nói bậc Sa-môn thì vượt thoát hoan hỉ, khen chê, sầu muộn. Phật đạt đến chỗ đó rồi và Ngài dạy lại các Tỳ-kheo. Người đạt đến bậc Sa-môn cũng thành tựu pháp này. Mà thành tựu pháp này, thì con đường đi đến Phật quả rất gần.

“Không được gọi tên và pháp danh bậc Đại Sa-môn.”

Ví dụ, ai hỏi quý thầy Hòa thượng ở đây tên gì, mình trả lời là Hòa thượng Trúc Lâm. Vì quí kính nên mình không dám gọi tên hay pháp danh của Ngài. Cũng không nói Hòa thượng thượng Thanh hạ Từ, sợ tổn phước đức, mà gọi là Hòa thượng Trúc Lâm hoặc Ôn Trúc Lâm; Hòa thượng Thường Chiếu, Thầy Trụ trì Trúc Lâm…

Sa Di Học Xứ ghi:

“Sa-di nên lấy năm sanh làm thứ lớp. Nếu năm sanh bằng nhau nên lấy xuất gia làm thứ lớp.”

Chẳng hạn như quý thầy vào đây có nhiều độ tuổi khác nhau: mười bảy có, mười tám, mười chín, hai mươi cũng có. Nếu thọ giới Sa-di cùng một lúc, thì người lớn tuổi hơn là sư huynh.

“Nên luận về giới lạp, Sa-di chưa vào tăng số, chỉ luận về năm sanh. Dầu cho Sa-di một trăm tuổi cũng nên lễ dưới chân tân Tỳ-kheo, nên trụ nơi cung kính, chẳng được ngã mạn cống cao, có thì trái với lời Phật dạy.”

Dầu cho quý thầy một trăm tuổi mà không chịu thọ giới Tỳ-kheo, hoặc dầu đáng cha, đáng ông mà mới xuất gia thì quý thầy cũng phải cung kính một tân Tỳ-kheo, không được cống cao ngã mạn cho là mình hiểu biết. Ngã mạn thì trái lời Phật dạy, không biết kính bậc đại Sa-môn.

Thiền sư Thừa Hạo ở Ngọc Tuyền khi đắc đạo được tam muội chánh định tự tại rồi, ngài viết các vị Tổ (33 vị Tổ) trên cái quần của ngài rồi mặc. Ngài nói rằng: “Chỉ có Văn Thù, Phổ Hiền mới so sánh chút ít.” Vì vậy trong tùng lâm gọi sư là Hạo Bố Côn tức là Hạo quần đùi vải.

Trong chúng có một thầy nhỏ Sa-di mới xuất gia thấy vậy bắt chước, cũng viết vào quần mặc đi chơi cho vui. Bữa đó vị Hòa thượng thấy được nói: “Ông được cái gì mà ông dám làm cái này?” Bảy ngày sau ông Sa-di hộc máu chết.

Đức mình chưa đủ, mà bắt chước Thầy mình làm như thế, như thế… thì không được.

Thêm một điều quý thầy cũng cần phải kinh nghiệm: cái bục gỗ Hòa thượng hay Thầy Trụ trì lớn giảng mà quý thầy leo lên chơi hoặc ai mời quý thầy cũng leo lên giảng là tổn phước. Âm đức, năng lực không đủ, mà mình bước lên pháp tòa của các bậc trưởng thượng, giảng là chết. Mình phải kêu chúng chuyền xuống một bậc rồi mới giảng.

Hạnh khiêm cung của toát ra từ năng lực có học, có tu. Còn không tu không học thì không biết. Có nhiều người đi ngang ngang với Hòa thượng, lại còn chắp tay sau lưng, như vậy cũng trật luôn. Phải học từng li từng tí mới được.

Tổ Tuyên Luật sư dạy:

“Người xưa thân cận Sư trưởng chẳng dám xưng danh cho nên trụ núi mà xưng tên, ấy gọi là tôn trọng, huống là Sa-di tiểu chúng ư?”

Chẳng hạn Hòa thượng ở đây gọi là Hòa thượng Phụng Hoàng hay Hòa thượng Trúc Lâm. Những vị gần Sư trưởng lâu năm lâu tháng còn chẳng dám xưng danh huống nữa mình là tiểu chúng. Nhiều khi quý thầy kêu trỏng tên của Hòa thượng hoặc Thầy Trụ trì là tổn đức của mình. Quý thầy sau này sẽ là bậc long tượng, là hàng pháp khí trong tùng lâm nếu thực hành đúng oai nghi này. Cũng không khó, nếu hiểu và học thuộc, từ từ thấm hồi nào không hay.

Luật nói:

“Tăng già cùng nhau tương kính, Tam bảo trụ thế lâu dài.”

Tăng già cùng nhau tương kính, có nghĩa tương kính những bậc đại Sa-môn thì Phật pháp trụ lâu đời.

Phật bảo các thầy Tỷ-kheo:

– Các thầy cùng nhau cung kính, vui mừng đón tiếp, thăm hỏi, nguồn gốc bắt đầu từ nơi đâu?

Các thầy bạch Phật:

– Mỗi thầy tự nói chí hướng của mình, hoặc nói dòng dõi cao sang, hoặc nói thần trí cao xa, hoặc nói dòng dõi thân thuộc với Phật, hoặc nói chứng đạo Thánh quả.

Sở dĩ vui mừng thấy nhau mà niềm nở vì gặp người dòng dõi cao quý hoặc thông minh trí huệ! Còn không phải vậy thì không quí kính, không thưa hỏi đón tiếp!

Phật bảo:

– Chỗ nói của các ông đều là tăng trưởng lòng ngã mạn, không có thể quán thấu. Phải thuận phép tắc lưu bố ở đời, đối với pháp luật của ta lại cùng nhau cung kính, Phật pháp có thể được lưu truyền rộng rãi. Thế Tôn từ bi thương xót chỉ dạy khiến cho phép tắc được lưu thông. Lễ độ, tôn kính, nhún nhường chẳng có thiếu sót thì Tam bảo có thể trụ lâu ở đời được.

Mình ở ngoài đời mà ỷ dòng tộc cao sang, hoặc làm giám đốc, kỹ sư gì đó, thấy bậc đại Sa-môn mình cứ đi tự nhiên thì chánh pháp đoạn diệt.

Phật bảo:

– Ta sẽ chỉ dạy cho các ông bốn phương pháp. Thực hành bốn phương pháp này, lễ độ, tôn kính nhún nhường chẳng có thiếu sót thì Tam bảo có thể trụ lâu ở đời.

Kính lễ đạo chẳng lễ tục có bốn:

1- Thứ nhất là Tăng chẳng lễ Ni thì chánh pháp mới cửu trụ được.

Quý thầy gặp Ni mà xá xuống một xá, là chắc chắn chánh pháp hoại diệt. Đây là lời Phật dạy, Tăng chẳng được lễ Ni. Mai kia, quý thầy nếu ở chùa nghèo mà gặp vị Ni trưởng giàu có, quý thầy đến y chỉ sư, y chỉ sư là phải xá lạy, rồi làm đệ tử luôn thì chánh pháp hoại diệt. Người này phá kiến các Tăng Ni và các vị thất chúng. Hoặc đến đảnh lễ để có tiền xây cất chùa chiền của quý thầy, như vậy gọi là không biết phép tắc oai nghi của nhà Phật. Phật dạy muốn chánh pháp cửu trụ lâu ở đời thì thứ nhất là Tăng chẳng được lễ Ni. Mình cứ đứng bình thường không có lỗi gì hết, không phải là ngã mạn.

Tuy nhiên Tăng không được lễ Ni là nói về những bậc Đại Tăng, còn Sa-di mới xuất gia chưa được gọi là sứ giả Như Lai thì vẫn lễ bình thường. Sau khi thọ giới, dù chỉ một ngày, tức là nằm trong bộ Tăng rồi thì không được lễ.

2- Thứ hai là người nghiêm trì giới luật chẳng được lễ người phạm giới luật.

Người giữ giới luật thanh tịnh xá người phạm giới, thì họ tổn phước. Mà tổn phước thì chánh pháp không cửu trụ ở đời.

3- Thứ ba là người thọ giới trước chẳng lễ người thọ giới sau.

Người thọ giới trước không được lễ người thọ giới sau thì chánh pháp mới cửu trụ lâu ở đời.

4- Thứ tư là từ hơn năm chúng còn mất và sai khác đều qui ước niên hạ, thứ lớp mà sắp đặt tôn kính.

Không phải người mới thọ hai tuổi hạ mà quý thầy sắp ngồi trước, mà phải sắp: năm hạ, bốn hạ, ba hạ, hai hạ, một hạ. Người ta nhìn vào là biết đạo tràng có oai nghi phép tắc, làm đúng lời Phật dạy, như vậy thì chánh pháp mới cửu trụ. Sau này quý thầy lớn lên sẽ thấy điều này.

Kinh nói:

“Cung kính nơi tháp miếu, khiêm hạ các thầy Tỷ-kheo, xa lìa tâm ngạo mạn của chính mình, thường tư duy trí huệ. Lại nói nếu có trí huệ thì không có tham chấp. Nay tham sân ngạo mạn mà chấp theo thì cái ngu đó chẳng có thể tính kể.”

Cung kính nơi tháp miếu. Đến các tháp thờ xá lợi Phật quý thầy phải đi nhiễu, đảnh lễ thật cung kính và phải khiêm hạ đối với các thầy Tỳ-kheo thì phước của quý thầy mới tăng trưởng. Còn mình lễ Phật sát đất, mà những vị đại Sa-môn, thầy Tỳ-kheo thọ giới trước, mình khinh dễ họ, cống cao ngã mạn thì lễ Phật vô ích.

Phật sống không chịu lễ, nhiều khi mình phải lễ lại chính mình, nghĩa là mình thấy được từng vận hành của tâm thức, thấy được tâm ngạo mạn của mình. Phải kiểm soát từng tâm niệm để chuyển hóa thì trí huệ tăng trưởng. Nếu chấp theo tình chấp của mình, thì cái ngu đó nhiều đời nhiều kiếp chẳng thể tính kể. Cái ngu ngày càng tăng trưởng thì không phát sinh trí huệ được. Thấy được tính chất đó, thì quý thầy sẽ không còn tham đắm nữa. Không tham đắm thì lúc này quý thầy khiêm hạ.

“Không được trộm nghe bậc đại Sa-môn thuyết đại giới.”

Theo tinh thần của kinh Nguyên thủy tức là tông phái Nam tông, bên Nguyên thủy cho cư sĩ hoặc Sa-di nghe luôn, nhưng bên Bắc tông lại không cho nghe. Nếu nghe là đồng với tội ngũ nghịch, tức là đồng với tội giết cha, giết mẹ, phá hòa hợp Tăng, làm thân Phật ra máu, giết A-la-hán.

Trong Kinh Đại Bảo Tích ghi rõ, lúc đang thuyết giới có đứa bé bò vô gần cửa, thần Kim Cang dùng chày đánh nát đầu đứa bé chết tại chỗ. Tôn giả A-nan bất bình hỏi Phật:

– Tại sao thần Kim Cang hộ pháp mà không thương xót đứa bé, nó nghe đâu có biết gì?

Phật nói:

– Tuy rằng không biết nhưng từng lời nói đại giới ghi vào trong tàng thức. Cho nên giết một đời còn hơn để nhiều đời nó sa đọa trong ba đường ác.

Nhưng cuối cùng Phật nói:

– Đứa bé này do từ năng lực, thần lực của Như Lai ứng tác ra để răn các thầy Tỳ-kheo.

Thật ra đứa bé là do đức Phật hóa sanh để răn các thầy Tỳ-kheo không được trộm nghe đại giới của bậc đại Sa-môn.

Mỗi kỳ thỉnh nguyện, Hòa Thượng cho Sa-di, Tỳ-kheo thỉnh nguyện chung. Trong khi bên Nam tông Tỳ-kheo bố tát xong rồi mới đến phần Sa-di. Bởi vì Tỳ-kheo đâu phải là Thánh, Tỳ-kheo có lỗi ra sám hối thì Sa-di sẽ khinh dễ, mà khinh dễ thì sa đọa. Nên họ không cho Tỳ-kheo và Sa-di bố tát chung.

Tuy nhiên mỗi bên đều có cái hay riêng. Hòa Thượng cho thỉnh nguyện chung, nếu Tỳ-kheo có lỗi sẽ bị Sa-di khinh, nên Tỳ-kheo phải ráng thu thúc lục căn, ráng tu, ráng học, ráng vươn lên.

Sa Di Học Xứ ghi:

“Phật chế Sa-di chẳng lãnh thọ lắng nghe. Nếu riêng đến trộm nghe thì cùng như phạm vào tội ngũ nghịch còn gọi là người tặc trụ chẳng được thọ cụ túc giới.”

Giới cụ túc này chính là chư đại Tôn giả, đại quyền thừa Bồ-tát phá giới cho nên Phật mới chế ra. Giới pháp này nếu mình đến nghe trộm thì gọi là tặc trụ. Tặc là trộm cướp, tặc trụ là những ông thầy trộm cướp ở trong tùng lâm.

Người tặc trụ chẳng được thọ cụ túc giới. Nhiều khi mình tưởng vì nghe trộm giới nên không cho thọ cụ túc. Không phải vậy, bởi vì mình nghe được giới rồi, thấy thầy Tỳ-kheo phạm mình khinh dễ cho nên tổn phước. Vì tổn phước nên sanh ra những biến tướng, chẳng hạn bị xe đụng gãy chân, hoặc cây đâm vào mắt bị mù, hoặc té xe chấn thương sọ não lúc tỉnh lúc không tỉnh. Không đủ lục căn thì làm sao thọ cụ túc.

Vì thế cấm quý thầy không được coi đại giới là có lý do. Bên Bắc Tông cấm luôn, còn bên Nam Tông tôi thấy cho cư sĩ và Sa-di coi luôn.

Nhưng nhớ kỹ một điểm, chừng nào quý thầy qua bên Nam tông thì được phép, còn đã tác pháp yết-ma bên Bắc tông, chấp nhận vào ngôi nhà này rồi, thì quý thầy phải tuân hành. Chừng nào quý thầy mặc áo Nam tông, tác pháp yết-ma bên Nam tông, bên Nguyên thủy thì khác.

“Cụ túc này chính là chư đại Tôn giả, lại vì thị hiện thỉnh Phật vì các thầy Tỳ-kheo mà chế giới. Song trong rừng chiên đàn từng không có gỗ tạp, trên hội Linh sơn há có phàm phu ư? Chỉ sợ người chưa thọ giới cụ túc mà nghe chẳng hiểu tâm từ bi của Phật, trở lại làm việc bất thiện mà phá đạo nội ngoại. Hoặc sợ giới pháp tinh nghiêm, hoặc khinh việc duyên khởi nhân đây mà thối mất thiện tâm, như dùng kiếm bén mà chặt đứt tín căn, thì huệ mạng Phật chủng tương lai sẽ mất nên nói đồng như phạm tội ngũ nghịch. Rất là cẩn thận vậy!”

Nghĩa là sau khi coi rồi quý thầy thấy 250 giới khó quá nên thối Bồ-đề tâm không dám thọ, nói thôi giữ giới Sa-di được rồi, chứ 250 giới rất khó giữ, đụng chuyện gì cũng phạm.

Nghe quý thầy kể lại, trong một thiền viện bên Miến Điện có cây xoài lớn có trái chín, một thầy Tỳ-kheo bên Việt Nam qua vừa đưa tay rờ trái xoài, thì vị thầy Nam tông nói:

– Ông phạm giới rồi.

Lần thứ hai, vị thầy Việt Nam thèm xoài quá rờ trái xoài lần nữa. Sáng hôm sau, vị trưởng lão Sư trưởng kêu hai cư sĩ đến chặt cây xoài, mà cây xoài đó rất quý, trồng mười mấy năm rồi mà đành chặt. Quý thầy Việt Nam đến hỏi tại sao chặt cây xoài, ông nói:

– Thà chặt cây xoài còn hơn để mấy ông phạm giới.

Vị thầy Việt Nam còn kể: Vào nhà cư sĩ, vừa kéo ghế ngồi thì vị cư sĩ nói:

– Thầy phạm giới rồi đó.

Thầy giựt mình:

– Sao phạm giới?

– Tôi chưa cho mà thầy ngồi là phạm giới. Nãy giờ thầy ngồi năm phút là phạm giới năm phút.

Đến giờ chiều thầy phải tác pháp yết-ma trước đại chúng sám hối: Ngồi cái ghế tín thí không cho năm phút. Thầy lại kể có một lần đến nhà một vị tín thí, thấy cây viết bút bi, lấy viết. Vừa viết xong, ông thầy kế bên nói:

– Thầy phạm giới rồi, thầy dùng cây viết của tín thí mà không xin là phạm tội trộm cắp.

Bên đó giữ giới luật tới mức độ như vậy. Cuối cùng thấy khó quá, nên thầy về Việt Nam. Bữa đó thầy lên Trúc Lâm nghỉ lại một đêm, kể chuyện rất là vui. Thầy nói, bên đó giới luật rất khó, đụng cái gì cũng phạm, ăn cái gì, làm cái gì cũng phải trình. Một hôm thầy bị táo bón, thầy ra sau vườn hái lá mát ăn. Vừa nhai thì tín thí đi ngang qua nói:

– Thầy phạm giới, thầy chưa xin ai hết mà thầy hái.

Thầy nói:

– Cỏ này mọc mà.

– Cỏ mọc cũng là pháp tự nhiên của pháp giới, thầy làm vậy là phạm giới.

Vào thời đức Phật có một thầy Tỳ-kheo bị cướp trói, nếu cựa quậy dây thừng sẽ đứt, thầy sẽ thoát được bọn cướp. Nhưng thầy nghĩ, nếu cựa quậy thì cỏ nó đau rồi chết, nên thầy nằm im luôn cho cướp nó làm gì thì làm.

Bên đó, họ giữ giới giống như thời Phật, Tỳ-kheo mà giậm lên cỏ là phạm giới giậm đạp lên cỏ non. Còn bên Bắc Tông lại khác, nên quý thầy học phải biết.

Theo Kinh Du Hành Trường A Hàm 3, Luận Đại Tỳ Bà Sa, Sa-môn được chia làm bốn:

1- Thắng Đạo Sa-môn:

Những vị có khả năng tự giác như Phật, hoặc những vị ra đời không gặp Phật chỉ dạy, mà các ngài quán thấu suốt các nhân duyên hay nói khác hơn là các pháp duyên khởi, tự chứng được gọi là Độc giác Phật, cũng gọi là Sa-môn.

2- Thị Đạo Sa-môn (còn gọi là Thuyết Đạo Sa-môn):

Chỉ cho người khéo giải nói đạo pháp, có khả năng thường theo Phật chuyển đại pháp luân như Ngài Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Ma-ha Ca-diếp cũng gọi là Đại Sa-môn.

3- Mạng Đạo Sa-môn:

Là những vị Sa-môn sinh hoạt theo đạo pháp, sống đúng với chánh pháp. Những vị này tuy còn ở địa vị hữu học nhưng đồng với địa vị vô học, học rộng nhớ dai, đầy đủ giới cấm thanh tịnh, truyền bá pháp thân huệ mạng của Phật cho đời như Ngài A-nan, thì cũng gọi là những vị Sa-môn lớn.

4- Ô Đạo Sa-môn:

Chỉ cho những Sa-môn làm những điều nhơ uế ảnh hưởng đến đạo, tuy mang hình tướng Sa-môn nhưng tâm thì tà vọng, trộm cướp tài vật của người khác như Tỳ-kheo Mạc-thác-lạc–ca.

“Hoặc thấy bậc Đại Sa-môn hai, ba ngài đồng ở trong nhà nói nhỏ chẳng được xông vào. Bằng có việc gấp phải đàn chỉ có tiếng vậy sau mới vào. Vì sao? Bởi sợ tiết lậu việc thị phi của người mà chuốc lấy sự tội lỗi và tán loạn chánh niệm của mình.”

Chẳng hạn như mình đi ngang qua phòng có ba, bốn vị Sa-môn trong đó đang nói nhỏ. Nhiều khi các ngài đang nói chuyện riêng tư, mình xông vào nghe được nên loạn tâm chánh niệm, về nhà ngồi thiền không được. Nên trước khi vào mình phải đàn chỉ ba tiếng. Hoặc quý thầy có nhân duyên lên phòng Thầy Trụ trì phải gõ ba cái, để bên trong Thầy biết, rồi có người vào mình mới vào, chứ không được tự ý xông vào.

“Không được ghé tai nói lỗi bậc Đại Sa-môn.’

Trong Sa Di Học Xứ, Tổ Tuyên Luật Sư có ghi:

“Tỳ-kheo có lỗi tự có đại Tăng cử phạt, Sa-di chẳng được nói lén sau lưng kia tốt, xấu.”

Mình không được nói thầy này tốt, thầy kia xấu. Nhưng đừng nghe vậy, rồi mai kia khi quý thầy mới thọ giới, có người chỉ lỗi cho, quý thầy lại nói, tôi là bậc đại Sa-môn, nói như thế thì không được. Nếu có lỗi, huynh đệ thọ giới bằng mình, có thể nói lỗi của mình để chỉ cho biết mình tránh. Ở đây muốn nói cho những thầy Sa-di mới xuất gia, chỉ nên lo bổn phận của mình.

Ở nhà trưng bày có bán ba con khỉ, con khỉ thứ nhất bịt miệng lại. Bịt miệng không phải không cho nói, mà có nghĩa là đừng nói lỗi bậc đại Sa-môn. Con khỉ thứ hai bịt hai con mắt lại, ý nói mình như đui không thấy gì hết, chỉ lo bổn phận mình tu thôi. Con khỉ thứ ba bịt hai lỗ tai lại, nghĩa là ai nói chuyện thị phi là quyền của họ, nhân quả họ chịu, mình không dính dáng gì hết. Như vậy, tu rất là dễ.

Truyện Khổng Tử có ghi:

Ngài Tử Cống, là đệ tử lớn của Khổng Tử, hay chê người này khen người khác, nói người này tốt, người kia xấu. Một hôm Khổng Tử kêu lên dạy: “Ông nên quán sát lại hành động của chính mình, đó là điều thứ nhất.” Tức là nên luôn luôn phản quan tự kỷ. Cổ Đức thường nói, chuyện người ta thì sáng mà chuyện mình thì tối mù. Muốn chuyện của mình sáng, thì phải quán chiếu lại mới thấy rõ được.

Trong Khóa Hư Lục của Vua Trần Thái Tông có bài kệ Vô Thường:

Ngày sáng mất rồi, đêm tối đến,

Đường đêm mờ mịt lại mịt mờ,

Uổng công đốt đuốc cho người khác,

Chẳng chịu mồi đèn chính nhà mình.

Chẳng hạn như huynh đệ ở bên cạnh trời tối chưa thắp đèn, bên mình cũng tối mà không chịu thắp đèn lên, lại chạy qua thắp đèn cho huynh đệ.

Cho nên trong Kinh Tam Bảo Giám có nói:

Nhơn nhơn tự tảo môn tiền tuyết,

Bất vị tha nhơn ốc thượng sương.

Nghĩa là:

Người người tự quét tuyết trước cửa,

Chẳng nghĩ sương đóng trên nhà người.

Nghĩa là mình lo quét tuyết trước nhà, còn sương đóng trên nhà người thì đừng lo. Mình lo chuyện người ta, nhưng chuyện của mình thì rất là tối.

Kính bậc đại Sa-môn, nghĩa là các ngài có lỗi gì mặc kệ, đã có đại Tăng cử phạt. Các bậc đại Sa-môn có lỗi thì trên có Hòa thượng, trên nữa thì có chư Phật, chư Tổ. Trên nữa còn gì? Còn sự tự vận hành của nhân quả.

“Cũng chẳng được đến chỗ khuất mắng lén bậc đại Sa-môn, hay cười giỡn trước mặt, nhái tiếng nói, bắt chước hình tướng và bộ đi.”

Mỗi người đều có nghiệp, nghiệp đó chiêu cảm trong đời quá khứ. Chẳng hạn như trong tùng lâm, có những Thầy lớn có giọng nói hơi thanh, mình bắt chước nhái lại là không được. Hoặc tướng đi của Thầy không đúng kiểu bậc môphạm, mình bắt chước nhái tướng đi, như vậy cũng không được.

Kinh Lăng Nghiêm có ghi:

Tỳ-kheo Kiều-phạm-ác-đề đã chứng quả vị A-la-hán nhưng khi ăn ngài nhai giống như trâu. Ngài sợ chúng sanh thấy rồi khởi niệm giỡn cười, mà giỡn cười bậc A-la-hán thì tội đọa địa ngục, nên ngài không sống ở cõi Ta-bà này mà lên cung trời thứ ba mươi ba ở và hành đạo trên đó. Ngài nói trong đời quá khứ ngài đã coi thường giỡn cợt các bậc đại Sa-môn nên đời đời kiếp kiếp mắc tật nhai lại như trâu, dù chứng quả vị A-la-hán rồi nhưng vẫn bị nghiệp quả đó.

Trong cuộc sống tu hành mình được phúc duyên tốt, tướng mạo sang trọng, rồi cười những người không được hảo tướng, coi chừng mình mắc nhân quả.

Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác nói:

“Hoặc phải, hoặc quấy người chẳng biết. Nghịch hạnh, thuận hạnh trời chẳng lường, như Chí Công ăn chim bồ câu, La Thập nhai kim.”

Có những bậc đại Sa-môn trong tùng lâm sống kiểu nghịch hạnh mà mình không biết:

Thiền sư Chí Công thị hiện cho chúng đệ tử thấy ngài ăn chim bồ câu, các đệ tử nói ngài phá giới không chịu tu theo ngài nữa, ngài há miệng cho hai con chim bồ câu bay ra. Đó là nghịch hạnh của các ngài thị hiện để nhiếp phục chúng sanh.

La Thập được vua Diêu Tần rất kính nể nên cho mười tám cung nữ theo hầu, các đệ tử ngài thấy vậy cũng bắt chước. Bữa nọ ngài dọn ra bàn, mỗi đệ tử ba cây kim, ngài thì một tô kim. Ngài ăn, nhai rất bình thường, còn đệ tử ba cây kim nuốt không nổi. Ngài nói: “Đó, mấy ông đâu có diệu dụng đâu mà bắt chước tôi.” Đó là những nghịch hạnh của các ngài.

“Chẳng có thể lấy cái thấy nhỏ hẹp mà thấu thoát đại dụng của các ngài.”

Trong nhà thiền, mình hay nghe các vị thiền sư nói: “Ông được đại cơ mà không được đại dụng.” Đại cơ là thấu thoát được bản tâm, tức là thấu thoát được từng cảnh giới vọng niệm, nhưng chưa có đại dụng thì làm việc Phật sự không được. Các ngài sở dĩ vào được quán rượu, lầu xanh, tửu điếm mà không động tâm, là vì các ngài đã đạt đến cảnh giới vừa đại cơ vừa đại dụng.

Thiền thoại có ghi:

Thiền sư Cảnh Hư ở Nhật Bản, một đêm nọ dắt một người con gái dáng rất đẹp về phòng. Được ba đêm, thì đệ tử thị giả của ngài là Mãn Không bực mình mở tung cửa phòng nói:

– Thầy là bậc mô phạm mà vậy đó. Thầy nói, Thầy là bậc mô phạm trời người mà bây giờ có người phụ nữ nằm trên giường.

Người phụ nữ quay mặt lại, Mãn Không mới biết người này bị hủi. Sẵn dịp Thiền sư nói:

– Bây giờ đến lượt ông, ông xức thuốc giùm.

Lúc này đệ tử mới quỳ xuống, xin sám hối.

Mật hạnh, nghịch hạnh của các ngài, mình không biết được. Căn cơ của bậc thượng căn, các ngài thị hiện trong cuộc đời này để dìu dắt chúng sanh, mình không thể thấu thoát được.

Tướng quốc Bùi Hưu có lần đến chùa Đại An thưa hỏi chúng Tăng rằng:

– Đức Phật có mười đại đệ tử, mỗi người đứng đầu một hạnh, La-hầu-la bậc nhất về hạnh gì?

Tất cả đều đáp:

– Lấy mật hạnh làm đệ nhất.

Mật hạnh là hạnh kín nhiệm bên trong, không biết được. Chẳng hạn như ở tùng lâm có những vị Hòa thượng đàng đầu lớn thường hay xuống quét cầu tiêu, dọn dẹp nhà bếp…, mà toàn làm ban đêm, một, hai giờ đêm các ngài xuống dọn dẹp. Những vị này lấy mật hạnh làm đệ nhất.

Bùi Hưu không vừa lòng câu trả lời này, nên hỏi:

– Ở đây có thiền sư không?

Lúc này thiền sư Long Nha Cư Đôn, đang trồng rau ở vườn sau thì được Tăng chúng mời ra. Bùi Hưu hỏi thiền sư:

– La-hầu-la đệ nhất về hạnh gì?

Thiền sư Long Nha đáp:

– Không biết.

Lúc này Bùi Hưu mới gật đầu nói:

– Đúng là thiền sư, còn mấy vị trước thì không phải.

Thấy mình còn mật hạnh, thì không phải là mật hạnh nữa. Còn ở đây không biết tức là vô tri. Bát-nhã nói:

“Bát-nhã vô tri nhi vô sở bất tri, Bát-nhã vô kiến nhi vô sở bất kiến.”

Nghĩa là Bát-nhã thì không biết nhưng không chỗ nào mà chẳng biết. Các ngài cái gì cũng biết nhưng mà giống như ngu như ngơ. Ai lỗi không thành vấn đề, mà các ngài lo cho chính bản thân mình.

Trong thiền thoại còn kể một câu chuyện:

Thiền sư Cảnh Sơn và thiền sư Vân Thanh là hai huynh đệ nhưng cách sống rất khác biệt. Một vị chuyên tu hạnh đầu đà, giới luật rất thanh tịnh, một vị thì chuyên uống rượu ăn thịt, hai huynh đệ sống chung với nhau mà khác nhau như thế. Một hôm thiền sư Vân Thanh mời thiền sư Cảnh Sơn uống rượu, thiền sư Cảnh Sơn nói:

– Sư huynh suốt ngày uống rượu ăn thịt, không lo tu hành gì hết.

Thiền sư Vân Thanh nói:

– Sư đệ đúng là không giống …

Thiền sư Cảnh Sơn nổi sân:

– Không giống gì?

Thiền sư Vân Thanh:

– Sư đệ không giống người mà giống Phật.

Những vị tu về mật hạnh hoặc tu nghịch hạnh, mà thấu thoát được tâm niệm thì các ngài không sân. Còn mình chấp giữ giới, làm việc này, việc kia, thanh tịnh, thì gặp những lúc nghịch, mình liền nổi sân.

Kinh Thiện Cung Kính nói:

“Báng Sư, hủy Sư là trong pháp đại ma.”

Chẳng hạn mình mắng chửi, hủy nhục Thầy mình đó là trong pháp đại ma.

Đại Luật nói:

“Người xuất gia có nói ra lời gì đều là lợi ích.”

Nghĩa là ẩn ác mà dương thiện. Chẳng hạn mình biết vị thầy này có lỗi gì đó, mình ẩn cái ác, xiển dương cái thiện của người đó lên thì đúng. Còn mình nói lỗi người này, người kia thì không được.

“Chẳng nên riêng giận và bàn luận việc của người. Luật nói: nếu đến nhà bạch y mà nói lỗi ác Tỳ-kheo, thời người thế gian kia đối trong Phật pháp đã không có tâm tín kính lại còn gây tội hủy báng, thêm gốc khổ cho họ.”

Chẳng hạn mình ghét vị thầy đó, chịu không được, mình đến nhà cư sĩ bạch y quen biết, kể ông thầy đó vậy đó, ông thầy đó mà tu cái gì… Tự nhiên người bạch y đó không còn kính tín Tam bảo nữa. Hoặc nếu quý thầy có đủ nhân duyên về thăm nhà, trong Luật có nói rất rõ mình về nhà gặp mẹ, mình ca ngợi chúng Tăng, ca ngợi Tam bảo để cho bà phát tín tâm, chứ không phải chuyện tốt xấu của Tăng chúng, mình kể ra hết làm cho mẹ mất tín tâm luôn, phá nát hạt giống Tam bảo của bà, tội lắm. Quý Thầy nhớ cho kỹ.

“Thà phá pháp, đốt tượng chứ không nên đến người thế gian nói tội lỗi của thầy Tỳ-kheo. Nếu ta nói lỗi thì hư hoại pháp thân ta vậy.”

Nếu nói lỗi các thầy Tỳ-kheo cho hàng bạch y nghe thì pháp thân bị hư, bị đốt cháy hết, công đức mất hết.

Kinh nói vào thời đức Phật có vị Tăng đến nhà đàn việt, nói xấu hai tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên. Phật bảo:“Ông phải thành tâm sám hối.” Vị này không chịu thành tâm sám hối, ba tháng sau trên người nổi ung nhọt lên rồi chết. Sau khi chết, thần thức cảm ở địa ngục A-tỳ. Phật nói: “Do ông ấy đến nhà đàn việt, nói lời xấu ác các vị đại Sa-môn đại đệ tử của Phật.”

“Không được ngồi thấy bậc Sa-môn đi qua chẳng đứng dậy, trừ có năm điều không đứng dậy không lỗi như là: Khi đọc Kinh, khi bệnh, khi cạo tóc, khi ăn cơm, khi làm việc cho chúng.”

Sa Di Học Xứ ghi:

“Bậc đại Sa-môn chính là hậu duệ của Phật Tổ, khinh mạn Sa-môn tức là khinh mạn Phật Tổ.”

Quý thầy mà coi thường Hòa thượng, thầy Trụ trì, nói khác hơn coi thường những thầy Tỳ-kheo lớn tuổi hạ, tức là khinh mạn Phật Tổ. Phật thì đã nhập Niết-bàn, còn giáo lý ai nói? Nghiên cứu kỹ trong những quyển Luận Đại thừa, Kinh Đại thừa, nếu không có những bậc đại Sa-môn khai pháp nhãn cho, thì mình không biết. Nên những bậc đại Sa-môn này chính là hậu duệ của Phật Tổ. Khinh mạn Sa-môn tức là khinh mạn Phật Tổ. Những vị đi tu học ngày xưa kể lại, bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám ngộ được tông chỉ rồi, trước khi dạy quý thầy, ngài đến đảnh lễ mỗi người ba lạy.

“Song bình thường thấy tôn trưởng đi qua còn nên đứng dậy hỏi thăm chỗ ở, huống nữa thấy đại Sa-môn đi qua há có thể ngồi yên chẳng đứng dậy.”

Chắc ở đây mình cũng bị lỗi. Bình thường mình thấy những bậc tôn trưởng, quý thầy lớn đi qua, mình phải đứng dậy chào, xá chứ không phải ngồi yên luôn. Những khi có các vị Thầy hay Hòa thượng đến Tùng lâm, quý thầy phải nhớ đến đảnh lễ để thêm phước, tăng đức và tâm lực cho mình.

Kinh Đại Bi có nói:

“Như Lai trong thời quá khứ, lúc hành đạo Bồ-tát, phàm thấy Tam bảo, tháp tượng xá lợi, sư tăng, phụ mẫu, trưởng bối, thiện hữu thảy đều nghiêng người khiêm hạ nên cảm quả Phật vị lai. Núi rừng, người, thú đều cung kính, ngưỡng mộ, qui kính đối với Phật.”

Phật nói, sở dĩ ngày hôm nay tất cả chúng sanh đều qui kính Ngài, vì trong thời quá khứ lúc hành đạo Bồ-tát, phàm thấy Tam bảo, tháp tượng, xá lợi, sư tăng, phụ mẫu, trưởng bối, thiện hữu ngài đều nghiêng người khiêm hạ đảnh lễ.

Trong thời quá khứ, lúc Phật hành đạo Bồ-tát, Ngài đã trải thân cho Phật Nhiên Đăng đi qua, còn thiếu một chút thì ngài trải tóc. Rồi Phật Nhiên Đăng thọ ký cho ngài đời vị lai sẽ thành Phật vào trong đời ngũ trược.

Bây giờ quý thầy tu, có nghĩ mình thành Phật không? Chắc chắn quý thầy tu sẽ thành Phật. Dù kiếp này không xong thì vô lượng kiếp cũng phải thành Phật. Phật rất là nhiều, đó là điều chắc chắn phải tin. Chứ chẳng lẽ thành ma? Mà dầu cho thành ma, thì sau cùng cũng thành Phật. Quý thầy lỡ phạm giới đọa địa ngục, đọa địa ngục lên, rồi cũng tu thành Phật.

Nói trải thân, trải tóc, quý thầy đừng hình dung là Phật trải thân lót đường cho Phật Nhiên Đăng đi qua, rồi Phật thọ ký. Ở đây ngầm một ý: Sâu trong tâm thức mỗi hành giả theo tinh thần Bồ-tát thừa, trải thân là làm hết tất cả các hạnh trong tùng lâm. Trong cuộc sống tu hành nếu có sức khỏe thì mình trải thân, nghĩa là mình làm hết các hạnh trong tùng lâm cho đại chúng: Nấu cơm, hành đường, trị nhật, tri khố…, đó là trải thân lo cho đại chúng.

Trong Kinh Hoa Nghiêm, Phật nói rất rõ, người nào tu các hạnh mà không phát Bồ-đề tâm là hạnh của ma. Ưa chỗ vắng lặng mà không phục vụ cho đại chúng, không phát nguyện độ hết tất cả chúng sanh cũng là hạnh của ma.

Tại vì không có sức khỏe, thí dụ như đau thần kinh tọa… rồi cắt đặt việc gì hơi nặng mình làm không nổi. Như tôi làm tri khách sáu tháng là thấy muốn oải rồi, làm nữa không nổi. Nhưng nếu có sức khỏe và năng lực, mình làm thấy nó khác. Tinh thần Bồ-tát đạo là phải đi con đường này. Mình trải thân lo cho đại chúng yên tu là năng lực mình có, kiếp sau ra đời tự nhiên người khác lo cho mình.

Bộ Hành Hộ nói:

“Thấy phải đứng dậy, ngồi phải nhường chỗ, lúc đi đường tình cờ gặp thì phải đứng vững bên đường đợi ngài đi qua mình mới đi. Ngài có dạy những điều lợi ích thì phải vòng tay đứng nghe rồi lễ tạ ơn. Nếu mình có lỗi bị quở trách không nên trợn mắt mà ngó, phải dịu lời xin tội, đem lỗi về mình.”

Quý thầy thấy có khó không? Chẳng hạn như mình có lỗi, một vị thầy nói: “Ông làm vậy không được.” Mình trợn mắt lên: “Ông là cái gì?” Hoặc bữa nay xuống nhà bếp, thầy tri khố nói lặt rau phải lặt bằng tay để biết cảm giác cái nào già hay non, nhưng mình không làm như vậy mà lấy dao rọc. Thầy tri khố nói: “Ông làm vậy không được.” Mình trợn mắt lên nói: “Ông xuống ông làm đi.” Như vậy là mình trật.

Ngày xưa vào trị nhật ở Thường Chiếu, chúng tôi cũng làm kiểu đó cho lẹ. Chẳng hạn cọng rau muống rọc xuống rột một cái là xong. Nhưng Thầy tôi dạy công phu rất hay, Thầy nói mình ngắt, để cảm xúc được nóng lạnh, đây chính là công phu. Tức là mình tiếp xúc vào pháp giới để biết đây là cái gì, non hay già. Trong lúc làm, có công phu trong đó. Từ đó về sau, chúng tôi lên đây làm trị nhật cũng đều làm y theo lời Thầy dạy.

Kinh Trang Nghiêm Bảo Vương nói:

“Nếu khinh dễ chúng Tăng, người ấy sẽ đọa sanh trong nhà bần tiện, tùy chỗ đầu thai, hình tướng sứt mẻ, lưng còm, thấp bé. Khi bỏ thân này rồi sanh về chỗ nào nhiều bệnh, ốm gầy, tay chân co rút, máu chảy đầy cùng thân thịt rời rã, tới trăm ngàn muôn năm chịu cái khổ báo này.”

Nếu khinh dễ chúng Tăng, khinh dễ bậc đại Sa-môn, hay nói khác hơn khinh dễ những bậc Thầy lớn thì khi chết mình sanh vào nhà bần tiện, nghèo cùng khốn khổ, không biết Phật pháp là gì. Rồi sao nữa? Hình tướng sứt mẻ, chẳng hạn sanh ra đời mà lé con mắt, sứt môi hoặc đi cà thọt, hoặc như cái còng làm sao đi tu, làm sao hoằng pháp lợi sinh được. Nhìn là người ta cười rồi, thì làm sao mình giảng pháp! Sở dĩ quý thầy Tăng tướng đầy đủ là nhiều đời nhiều kiếp quý thầy đã tán thán những bậc đại Sa-môn. Còn khinh dễ thì chắc chắn mình sẽ tái sanh vào những cảnh giới thấp, xấu.

– Tại sao khi đọc Kinh không cần đứng dậy?

Khi đang đọc Kinh mà quý thầy lớn đi qua mình cũng ngồi yên đọc.

Sa Di Học Xứ ghi:

“Lấy pháp làm trọng. Nghĩa là đối trước kinh điển như đối diện trước Phật. Miệng đọc, tâm tư duy, thâm nhập nghĩa lý nên chẳng cần đứng dậy.”

Mình đọc Kinh giống như đang đối diện trước Phật, hình dung Phật đang giảng pháp cho mình. Miệng đọc, tâm thức tư duy vào nghĩa lý sâu kín Phật dạy, lúc này thâm nhập nghĩa lý, xuất thần rồi, đâu có biết Thầy đi qua đâu mà đứng dậy.

Giống như vua Trần Thái Tông, đọc Kinh Kim Cang đến câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Ngài để cuốn Kinh xuống ngẫm nghĩ, thâm nhập tư duy về nghĩa lý trong Kinh thì ngộ nhập.

Ngài Thiền Tâm đời Tống, đọc Kinh Lăng Nghiêm đến câu:“Tri kiến lập tri tức vô minh bổn, tri kiến vô kiến tư tức Niết-bàn”, ngài chấm phết như thế này: Tri kiến lập, ngài phẩy một cái, tri tức vô minh bổn; tri kiến vô, phẩy một cái, kiến tư tức Niết-bàn, ngài đốn ngộ luôn.

Ngài biết được là cái thấy nếu lập thì gốc vô minh, cái thấy biết mà Không thì đó là Niết-bàn. Ngài thâm nhập được, đốn ngộ luôn. Lúc đó mà mười đại Sa-môn đi qua, Ngài cũng không biết nên không cần đứng dậy chào.

Đại sư Trí Khải tụng Kinh Pháp Hoa đến câu:“Diệu Pháp Liên Hoa Kinh”, Ngài nhập định luôn bảy ngày, rồi Ngài ra giảng chữ Diệu bảy ngày liên tục mà không hết nghĩa lý của chân kinh. Như vậy mới đúng là đọc Kinh không cần đứng dậy, vì lúc này đã thể nhập vào Kinh tạng rồi.

Còn mình đọc mà không thâm nhập nghĩa Kinh, thấy rõ ràng quý Thầy đi qua thì phải đứng dậy. Chớ nghe nói đang đọc Kinh không cần đứng dậy, mình thấy quý Thầy đi qua, mà ngồi nghinh nghinh là trật.

– Tại sao khi bệnh không cần đứng dậy?

Sa Di Học Xứ ghi:

“Nghĩa là bốn đại chẳng điều hòa, thân khổ bệnh nặng nên chẳng cần đứng dậy.”

Có nghĩa là lúc này mình bệnh nặng, không thể đứng dậy chào được.

– Tại sao lúc cạo tóc không cần đứng dậy?

Sa Di Học Xứ ghi:

“Nghĩa là thọ trì kệ chú, dao bén trên đầu, động thì sợ bị dao rạch nên chẳng cần đứng dậy.”

Trong lúc cạo tóc, mình đọc bài kệ chú, dao để trên đầu nếu động đậy thì rách đầu, nên không cần đứng dậy.

– Tại sao khi ăn cơm không cần đứng dậy?

Sa Di Học Xứ ghi:

“Nghĩa là tam đề ngũ quán như pháp thọ thực nên chẳng cần đứng dậy. Lại nữa Phật chế nhất tọa nhất thực.”

Quý thầy đang ăn cơm mà ra chào, vào ăn lại là phi thời. Trong Sa Di Học Xứ, Tổ Tuyên Luật Sư dạy: Phật chế nhất tọa nhất thực, một khi ngồi ăn mà đứng dậy là không đúng pháp Phật.

– Tại sao khi làm việc trong chúng không cần đứng dậy?

Sa Di Học Xứ ghi:

“Nghĩa là lấy việc chánh thường trụ làm trọng, đứng dậy thì tổn hại công phu nên chẳng cần đứng dậy.”

Trong lúc nhổ cỏ lặt rau, quý thầy dồn hết lực vào công phu, nếu đứng dậy thì nó mất. Việc chánh là trong lúc làm mình có chánh niệm tỉnh giác, nên không cần đứng dậy.

Bộ Hành Hộ nói:

“Năm hạ sắp lên tức là vị A-xà-lê, mười hạ sắp lên tức là vị Hòa thượng. Tuy việc của Tỳ-kheo nhưng Sa-di cũng cần giữ biết.”

Sa Di Học Xứ ghi:

“Hạ tức là hạ lạp, nghĩa là sau khi thọ giới cụ túc rồi chuyên tinh giới luật tu trì, đã trải qua hạ lạp như thế, giới phẩm kiên cố, khai giá rõ ràng, đảm nhiệm làm Thầy, tiếp vật lợi sanh.”

Quý thầy sau khi thọ giới Sa-di, đủ năm đủ tháng, Thầy Tổ cho mình đi thọ giới cụ túc. Thọ giới cụ túc là giới phẩm kiên cố, khai giá rõ ràng, đảm nhiệm làm Thầy, tiếp vật lợi sanh.

“Đại thể mà nói nếu chẳng am tường giới pháp như trên còn phải y chỉ đối với người, huống nữa là có năng lực làm Thầy ư?”

Nghĩa là nếu có vị thầy được mười hạ mà giới luật không biết gì, giáo pháp cũng không biết, nhưng vị thầy này sống rất đạo đức thì quý thầy cũng cần nên y chỉ. Không được nói lỗi người đó, huống nữa là vị thầy đó có năng lực, phải kính đến bực nào. Chẳng hạn quý thầy mà xúc tác tâm ô nhiễm đến Hòa thượng hoặc Thầy Trụ trì, thì quý thầy bị nhân quả. Chính chúng tôi ở trong chúng chứng kiến, có những người hay đi nói xấu, nói những lỗi nhỏ của Thầy Trụ trì, sau này đều bị mắc nhân quả rất nặng, tu hành không được, dụng công cũng không được. Quý thầy để ý coi, lấy trái banh quăng vào vách tường, thì nó dội về đâu? Dội về mình chứ về đâu.

Trong đại chúng, có những người nói: Thầy mình vậy chứ so ra có người tài giỏi hơn. Sự thật mình thấy trong chúng có nhiều người có năng lực hơn Thầy, cái gì cũng giỏi, cái gì cũng biết, nhưng tại sao họ lại đến xin quy y với Thầy hoặc xin quy y với Hòa thượng? Hòa thượng đâu có bằng tiến sĩ, mà tại sao có những vị tiến sĩ, thạc sĩ, bác sĩ đến quy y thọ pháp với Hòa thượng, với Thầy Trụ trì? Quý thầy biết tại sao không?

Trong Khổng Tử truyện có ghi:

Khổng Tử được thiên hạ tôn làm Vạn Thế Sư Biểu, tức là vị Thầy của muôn đời. Ngài rất giỏi nên nhiều bậc lỗi lạc đến học với ngài. Có một người tên Tử Hạ, sau một thời gian nhập môn, ông ngạc nhiên, thắc mắc tại sao nhiều huynh đệ tài giỏi như rồng như phượng, biện tài vô ngại hơn hẳn Khổng Tử mà lại xin đến học với ngài. Một hôm, chịu hết nổi, ông quỳ trước Khổng Tử nói:

– Bạch Thầy! Thầy thấy Nhan Hồi thế nào?

Khổng Tử hiểu ý cười bảo:

– Y nhân nghĩa hơn ta.

– Tử Cống là người như thế nào?

– Y lanh lẹ và biện tài hơn ta.

– Vậy Tử Lộ như thế nào?

– Y dũng cảm hơn ta.

– Còn Tử Trường?

– Y đối với người trân trọng hơn ta.

– Đó chính là chỗ con nghĩ mãi không thông, con thấy các sư huynh rõ ràng tài hơn Thầy mà vì sao họ phải theo học với Thầy?

Khổng Tử đáp:

– Nhan Hồi quả rất là nhân nghĩa nhưng y không biết quyền biến, uyển chuyển. Tử Cống có biện tài hùng biện hơn ta nhưng thiếu sự từ tốn và khiêm cung. Tử Lộ dũng cảm có thừa song chỉ biết tiến mà không biết lùi. Tử Trường đối với người trân trọng hơn ta nhưng lại sống không có hòa hợp. Những môn sinh này mỗi mỗi đều có sở trường riêng nhưng họ không biết và không nhận ra sở đoản của mình, nên buộc phải đến đây cầu ta chỉ cho những khuyết điểm đó để sửa lại cho thành người toàn bích.

Nhiều khi mình nghĩ, mình có tài hơn Thầy, nhưng nhìn lại có những khiếm khuyết mà Thầy chỉ cho mình, trong nhà thiền gọi là điểm phá. Chẳng hạn còn tật gì đó mà Thầy mình nhìn biết nên điểm phá cho mình, điểm phá một thời gian mới thành ngọc:

Ngọc bất trác bất thành khí,

Nhơn bất học bất tri lý.

Nghĩa là ngọc mà không mài giũa thì không dùng được. Người mình cũng giống như là ngọc, mà muốn được thành người pháp khí sau này phải đến Hòa thượng, đến Thầy Trụ trì để được mài giũa, một thời gian mới thành ngọc. Muốn mài được như vậy mất bao nhiêu năm? Mười năm, hai chục năm, ba chục năm, bốn chục năm, dài lắm, có khi kiếp này không xong, kiếp sau nữa.

Xá Lợi Phất Kinh nói:

“Phàm là người xuất gia bỏ nhà cha mẹ sanh tử vào trong cửa Phật, thọ pháp vi diệu vốn là nhờ sức của người Thầy nuôi lớn pháp thân, tăng trưởng tài bảo công đức, hun đúc cái pháp thân huệ mạng, công rất là lớn.”

Phàm là người xuất gia bỏ nhà cha mẹ sanh tử vào trong cửa Phật, thọ pháp vi diệu vốn là nhờ sức của Thầy. Nếu Thầy mô phạm, có năng lực lớn thì quý thầy học được cái hạnh từ Thầy mình rất là nhiều. Ở với vị Thầy có đạo đức, có năng lực thì tự nhiên khi đến với người khác, mình ở không được. Cuối cùng, mình cũng tìm lại chỗ vị Thầy ngày xưa đã nuôi nấng, hun đúc cho thành pháp khí, pháp vi diệu.

Vào trong cửa Phật, thọ pháp vi diệu vốn là nhờ sức của Thầy kềm kẹp. Nhờ sức của Thầy mài giũa kềm kẹp, mình mới thành người tài giỏi. Thủ thuật nhà thiền gọi là kiềm chùy, là móc, nhổ, kềm kẹp, đánh mình, la mắng mình. Chính đó, mới thành người giỏi, còn để mình xìu xìu thì không thành pháp khí.

Chẳng hạn Thầy ở đây nói, tối ngồi thiền không được đi ra bờ hồ, bị bắt gặp thì một là phải sám hối, hai là đuổi luôn. Mình nói, Thầy khó quá, mà thiệt ra đó là Thầy mài giũa cho mình. Muốn thành pháp thân huệ mạng, mà tối mình bỏ sám hối, ngồi thiền để ra bờ hồ nói chuyện thì đâu có đúng. Thầy khó thì sau này mình mới cám ơn, chứ Thầy dễ là mình hư hết.

Thầy ở đây, bây giờ đã dễ cũng năm mươi phần trăm rồi, bởi vì Thầy ra tiếp xúc ngoài đời, nhận thấy mấy đứa nhỏ ở đây chịu yên như vậy là quá giỏi rồi, nên bây giờ Thầy nới. Chớ ngày xưa Thầy rất là khó, buổi chiều xả thiền rồi là không ai dám bước ra cửa. Chính nhờ cái khó hun đúc như thế, nên khi qua bên kia làm việc tôi không dám rong chơi, chỉ chuyên hoằng pháp lợi sanh và tu học thôi. Nhờ cái khó ở Trúc Lâm mài giũa mới thành được như vậy.

“A-xà-lê là gì? Tiếng Phạn gọi là A-già-lị-gia, đây nói là truyền thọ, nhà Đường gọi là Quỹ Phạm Sư, nghĩa là có năng lực làm khuôn phép cho người hậu học. Nam Sơn Sự Sớ có nói: năng lực là uốn nắn chánh hạnh cho đệ tử.”

Người Thầy có năng lực nghĩa là uốn nắn chánh hạnh cho đệ tử để thành bậc pháp khí.

Đại Luận nói:

“Hòa thượng như cha, mà A-xà-lê thì như mẹ.”

Cha thì nghiêm nhưng mẹ thì từ ái, từ bi. Chẳng hạn Hòa thượng đưa lệnh xuống thì Thầy Trụ trì, quý Thầy lớn chỉ dạy cho mình.

“Do dứt bỏ cha mẹ thế tục, cầu cha mẹ xuất thế, nếu bỏ Hòa thượng, A-xà-lê tức gọi là xả giới.”

Nghĩa là quý thầy không cần cầu pháp học của Hòa thượng, của vị Thầy A-xà-lê, tự cho là mình đủ lực, đủ sức rồi, như vậy giống như mình bỏ giới, xả giới. Vì chưa thành tựu pháp thân huệ mạng, mà đã rời Hòa thượng đi, thì giống như người xả giới, bỏ pháp thân huệ mạng không thành tựu được, chứ không phải xả giới là hoàn tục.

“Lại nữa, trong Tứ Phần Luật nói rõ năm nghĩa A-xà-lê:

– Thứ nhất là thế độ nương Thầy được xuất gia, gọi là A-xà-lê.

Thầy cạo tóc, truyền mười giới, gọi là bậc A-xà-lê. Hòa thượng hoặc Thầy Trụ trì cũng gọi là bậc A-xà-lê.

– Thứ hai là thọ giới tác Yết-ma cũng gọi là A- xà-lê.

Quý thầy thọ 250 giới, có những vị gọi là Yết-ma A-xà-lê, Giáo thọ A-xà lê thì cũng gọi là A-xà-lê.

– Thứ ba là Giáo thọ giáo giới oai nghi A-xà-lê.

Những vị này oai nghi mô phạm, mình thấy bắt chước được, thì cũng gọi là A-xà-lê.

– Thứ bốn là thọ Kinh, theo học Kinh, nếu nói nghĩa cho đến bốn câu kệ thì cũng gọi A-xà-lê.

Mình không hiểu, không biết bài pháp đó nói gì, đến nhờ một vị Thầy nói cho mình hiểu, vị đó gọi là A-xà-lê.

– Thứ năm là y chỉ cho đến y chỉ dừng trụ một đêm cũng gọi là bậc Thầy A-xà-lê.”

Thiền sư Huyền Giác đến nương Lục Tổ có một đêm gọi là nhất túc giác, một đêm cũng gọi là vị Thầy A-xà-lê nói pháp, truyền pháp cho mình.

Phẩm Pháp Cự Đà La Ni Pháp Sư nói:

“Phàm đã là vị Pháp sư, thường phải có lòng từ mẫn, lời nói nhu hòa và nhún nhường. Nếu ôm lòng ganh ghét, tâm còn hơn thua thì chuốc lấy tội báo rất là nặng. Bằng thuyết pháp với tâm từ bi thì được công đức rất là lớn và có thể tiêu hết các đồ cúng dường ở thế gian.”

Sau này, quý thầy mà đủ năng lực làm giáo thọ A-xà-lê, khi lên thuyết pháp, hướng dẫn cho Tăng chúng, mà có tâm tật đố, ganh ghét, hơn thua thì chuốc lấy tội báo rất nặng, đọa địa ngục luôn chớ không có lợi ích gì hết. Vì vậy, phải có tâm từ mẫn.

“Giả sử đem bảo tòa sư tử cao to, y phục vô giá dâng lên Pháp sư cũng chưa có đủ đền ơn. Mà vị Pháp sư kia tuy thọ nhận đồ cúng dường nên hết lòng hổ thẹn, chớ khởi lòng tham chấp và chẳng được ngã mạn.”

Quý thầy đem tất cả y phục, những tòa sư tử cao lớn dâng cúng Hòa thượng, Thầy Trụ trì cũng chưa đền được ơn lớn Hòa thượng, Thầy Trụ trì đã chỉ một bài pháp, để mình hiểu rõ được pháp tu tập mà mình chưa biết. Quý thầy sanh ra đời có biết học Phật pháp không? Không biết! Nhưng nhờ vào đây, nhờ Hòa thượng, nhờ Thầy Trụ trì chỉ cho mình biết phải tu như thế nào. Công đức này rất lớn, mình trả ơn không hết được.

 

2. Phép Thờ Thầy

Thờ thầy thì phải làm gì? Phải dậy sớm.

Thiền sư Đạo Giản núi Vân Cư ở Nam Khang, triều Tống, ban đầu tham kiến Thiền sư Đạo Ưng. Đạo Ưng đàm thoại với ngài ba ngày đã tán thán căn khí của ngài, bảo ngài nên khắc khổ nhẫn nại phục vụ đại chúng. Từ đó ngài gánh nước, bửa củi, giã gạo, nấu cơm, lo liệu các việc trong chùa mà trong chúng không ai hay biết.

Phép thờ thầy, trong đây ngầm ý sâu nữa là phép thờ đại chúng luôn. Ngài làm hết tất cả các hạnh, cả những lúc tham thiền luận đạo, bàn luận cổ kim, mọi người vẫn không ai biết ngài là một vị tăng tài kiệt xuất ẩn giấu trong tùng lâm. Ngài hầu hạ thầy rất cung kính.

“Muốn vào cửa, trước phải khảy móng tay ba lần. Bằng có lỗi, Thầy Hòa thượng, Thầy A-xà-lê dạy răn đó chẳng được nói trả lại.”

Sa Di Học Xứ ghi:

“Người học có thầy cũng như cây mà có gốc.”

Chẳng hạn, quý thầy ra làm Phật sự, Phật tử hỏi: Hồi xưa thầy xuất gia ở đâu? Quý thầy nói tôi không xuất gia ở đâu hết! Như vậy là Sa-môn gì? Gọi là cư sĩ trọc hay cư sĩ chim chuột, nghĩa là hễ thấy chim thì xòe, gặp chuột thì úp cánh lại. Gọi ông thầy chim chuột là không có gốc, có ngọn gì hết.

Chỗ mình có vị Hòa thượng đàng đầu, ngài có năng lực lớn, có tâm hạnh Bồ-tát lớn. Ai hỏi mình xuất gia ở đâu, mình nói: Tôi xuất gia ở Trúc Lâm, thọ pháp với Hòa thượng. Lời mình nói người ta tin chừng hai mươi phần trăm thôi, nhưng nhờ ở với thầy, mà thầy mình có năng lực lớn thì người ta tin thêm tám mươi phần trăm nữa là đủ, mình nói người ta nghe. Chúng tôi làm Phật sự nên biết, có những người học có bằng cấp, nói rất hay nhưng hỏi ra không biết nguồn gốc ở đâu thì người ta cũng không tin nhiều.

Người học có thầy cũng như cây có gốc. Chẳng hạn như Hòa thượng truyền xuống Thầy Trụ trì, Thầy Trụ trì truyền xuống cho quý thầy, quý thầy truyền xuống cho đệ tử, đâu đó có lớp có lang, có tổ có tông. Có ai hỏi:

– Thầy xuất gia ở đâu?

Đáp:

– Tôi xuất gia ở… với Thầy…

– Ờ, Thầy đó giỏi, răn dạy đệ tử rất kỹ, thầy ở đó rất là có phước.

“Song đại trí đã thành lại hay thành tựu tiểu trí, giống như cội cây sanh con, con lại sanh cội cây, chuyển chuyển cùng nhau mà sanh, chủng loại chẳng mất. Nên Tác Trì nói: Thầy dùng mở đường trở lại để mài giũa, pháp khí thế gian và xuất thế gian hoàn toàn trở lại nhờ Thầy, nên phải kính trọng.”

Nhờ Thầy, mình mới được thành tựu nên phải kính trọng thầy. Người xưa hay nói: Nhứt tự chi sư, bán tự chi sư. Một chữ là thầy mà nửa chữ cũng là thầy. Hay nói: Nhứt nhựt vi sư, chung thân vi phụ. Một ngày làm thầy thôi là trọn đời mình xem như cha mẹ vậy. Phải kính trọng Thầy như vậy mới đúng, mới không tổn phước. Bị thầy rầy mà trợn mắt lên hay là nói xấu, nói lỗi của Thầy là trật.

Kinh A Nan Vấn Sự Phật Kiết Hung có nói:

“Chẳng nên có ác ý với thầy. Phật bảo: Này A-nan! Phàm làm người phải nên yêu thích đức độ của người khác, vui mừng điều lành của người khác, chẳng nên ganh tị.”

Chẳng hạn, Phật tử thỉnh quý thầy nói một bài pháp thoại. Lựa huynh đệ trong chúng không ai nói pháp được, hoặc quý thầy cử ra ai đó mà nói không trúng đường nào hết thì có phải Phật tử khinh dễ mình không? Còn nếu cử vị thầy nào mà họ nói đúng, có bài bản, lớp lang, khai thị cho người ta ngộ nhập được bài pháp thì cũng hãnh diện. Đối với người có đạo đức, có năng lực mà mình ganh tị là trật. Đây mới nói đạo làm người chứ chưa đến bậc Hiền, bậc Thánh. Mà tu là tu đến con đường Hiền, đến con đường Thánh. Cho nên, thấy trong chúng người nào có năng lực, diệu lực, có sức sống mà nói về thiền thì quý thầy phải hoan hỉ. Như vậy bản thân mình tạo phước điền lớn lắm.

“Có ác ý đối với thầy, với người có đạo đức chẳng khác nào có ác ý đối với Phật.”

Ganh tị với người có đạo đức thì cũng giống như ganh tị với Phật. Chiều nào quý thầy cũng lên sám hối, lạy Phật. Lạy thì lạy mà ganh tị không bỏ cũng như không.

“Hãy thử lấy muôn hòn đá lắp vào nỏ bắn vào thân xem có đau không? Ngài A-nan đáp: Bạch Đức Thế Tôn, rất đau. Người mang ác ý đối với người có đạo đức, đối với Thầy của mình đau đớn kịch liệt như bị nỏ bắn vào thân.”

Phật đưa ví dụ nỏ bắn vào thân thì rất đau. Ganh tị với người có đạo đức, có ác ý với thầy thì cũng đau như vậy. Bây giờ, có những người ở với thầy lại đi ra nói xấu thầy. Phật nói những người này không có đạo đức.

“Phận làm đệ tử chẳng nên khinh mạn Thầy mình, chẳng nên có ác ý với người có đạo đức. Phải xem người có đạo đức như Phật, chẳng nên ganh ghét và chê bai.”

Kinh Trường A Hàm ghi:

“Đệ tử kính thờ sư trưởng có năm điều:

1- Hầu hạ cung cấp đồ cần dùng.

Thầy cần gì, mình cung cấp cho đầy đủ. Nhiều khi thầy bệnh cần dùng món gì đó, mình nói: Thầy tu mà không khổ hạnh gì hết. Chẳng hạn bắt ăn muối không hay ăn xì dầu không, thì không được. Phải hầu hạ và cung cấp đồ cần dùng trong tinh thần lục hòa, gọi là “Lợi hòa đồng quân.” Nhưng nên nhớ, lợi hòa đồng quân trên tinh thần của lý nhân quả. Chẳng hạn, mình mới xuất gia, phước đức chưa có, năng lực, công đức cũng không . Lại chưa dìu dắt người nào hết thì cái mùng hay cái mền mình dùng hơi cũ một chút cũng được. Bắt buộc phải lợi hòa đồng quân giống như Thầy Trụ trì thì không ổn. Các ngài tu nhiều năm, dìu dắt không biết bao nhiêu người mà phải đồng như mình là trật rất xa.

Quý thầy có túc duyên, vừa thọ giới xong được học luật, học oai nghi liền nên tránh được những lỗi lớn. Nhiều vị lớn tuổi không chịu học, vào tu là thọ giới liền, không biết luật, không biết cái gì hết rất dễ bị sa đọa trong ba đường ác.

2- Lễ kính cúng dường.

3- Tôn trọng và chiêm ngưỡng.

4- Thầy có dạy bảo điều gì, kính thuận chẳng có trái.

Chẳng hạn mình không có năng lực làm tri khố, thầy bảo làm tri khố, nếu trái lời thầy dạy thì mất phép oai nghi và phạm luật. Ngày xưa, Thầy chúng tôi mới có ba mươi mấy tuổi mà Hòa thượng cắt làm trụ trì ở Thiền viện Thường Chiếu là phải kính thuận, vâng lời làm tới bây giờ luôn. Cô Như Đức cũng vậy, mới hai mươi mấy tuổi bảo làm trụ trì Thiền viện Viên Chiếu là phải làm, không dám trái, không dám cãi. Hòa thượng cắt chúng tôi làm Phật sự tại nước ngoài, biết mình chưa đủ năng lực mà Hòa thượng cắt nên phải đi. Làm không được rồi về thì không có tội. Còn cãi lại nhất định không đi thì lại khác.

Hòa thượng Hư Vân đến tùng lâm chùa Cao Mân, chùa cắt ngài làm tri sự, ngài không làm bị đánh tám chục hèo chảy máu miệng. Sau biết ngài bệnh nên tha không đánh nữa. Pháp tùng lâm mạnh lắm, chỉ xuống là phải làm liền. Không làm không được, tác pháp Yết-ma cử tội. Pháp tùng lâm bây giờ hơi dễ. Hồi xưa trong tùng lâm có bốn vị trưởng lão, dưới có bảy vị nữa. Năng lực đại chúng rất lớn, cắt cử mà không làm là tác pháp Yết-ma cử tội. Khó lắm chứ không phải dễ.

5- Theo Thầy nghe pháp ghi nhớ chẳng quên.

Này Thiện Sanh! Phận làm đệ tử phải thực hiện năm pháp này, phải kính thờ Sư trưởng thì Sư trưởng mới được an ổn.”

Chẳng hạn Thầy Trụ trì bị bệnh, Thầy cử người làm tri khố, tri khách hay thư ký… mà không ai chịu làm thì Thầy có an ổn được không? Còn nếu có người hy sinh chịu làm thì sư trưởng mới được an ổn, tự tại.

“Kính thờ sư trưởng thì sư trưởng được an ổn. Sư trưởng cũng phải thực hiện năm điều để chăm nom đệ tử:

1- Theo pháp mà điều phục, chế ngự.

Theo pháp mà điều phục, chế ngự là phải có thầy. Chiều lại mà thấy Thầy Trụ trì đi tăng đường, nhà bếp, đó là đi tuần liêu để kiểm soát chúng, là dùng pháp điều phục, chế ngự. Muốn làm cái gì đó mà nhìn thấy hình dáng sư trưởng là mình sợ. Đó là pháp điều phục từ năng lực của thầy.

2- Dạy điều đệ tử chưa biết.

Quý thầy nhỏ phải tu, phải học, phải có kinh nghiệm trong pháp hành, mai kia làm thầy mới dạy đệ tử được. Nhận đệ tử cho đông mà đệ tử hỏi mình không biết gì hết. Chẳng hạn hỏi:

– Thế nào là Phật?

– Mày nhỏ mày biết gì mà Phật, Phật! Đi!

Hoặc hỏi:

– Bạch thầy! Tại sao Tổ xách một chiếc dép?

– Mày biết cái gì? Tổ gì? Một chiếc dép gì? Còn một chiếc ổng bỏ túi đó!

Đại khái vậy. Có người kể tôi nghe những trường hợp như vậy. Đệ tử hỏi mà ông thầy không biết gì hết. Không học, không biết làm sao chỉ dạy.

3-Tùy theo chỗ hỏi mà khéo giải nghĩa.

4- Chỉ cho bạn lành.

Thầy nhìn, biết người nào đệ tử không nên thân cận. Chỉ cho đệ tử biết bạn lành có học, có tu, nên đi theo để học hỏi.

5- Dạy hết những điều mình biết không chút xan tiếc.

Biết tới đâu dạy hết tới đó.

Này Thiện Sanh! Sư trưởng đối với đệ tử như thế thì đệ tử mới được an ổn, không có lo sợ.”

Kinh Tạp A Hàm ghi:

Phật trụ ở thành Vương Xá trong vườn trúc của ông Ca-lan-đà. Lúc bấy giờ có người chủ tụ lạc chuyên môn tập ngựa đến chỗ Phật cung kính thăm hỏi, lui qua ngồi một phía. Phật hỏi ông chủ rằng:

– Có bao nhiêu phương pháp điều phục ngựa?

– Bạch Cù Đàm! Có ba phương pháp: thứ nhất là dịu dàng, thứ hai là cứng rắn, thứ ba là vừa dịu dàng vừa cứng rắn.

Phật nói:

– Nếu áp dụng ba phương pháp này mà ngựa chẳng chịu khuất phục thì làm sao?

Người chủ ngựa nói:

– Giết nó đi.

Ông chủ này cũng lại hỏi Phật:

– Bạch Cù Đàm! Trong pháp của Phật dùng bao nhiêu pháp để điều phục?

Phật cũng nói:

– Ta cũng có ba phương pháp: thứ nhất là dịu dàng, thứ hai là cứng rắn, thứ ba là vừa dịu dàng vừa cứng rắn.

Ông chủ ngựa nói:

– Nếu dùng ba phương pháp này điều phục chúng sanh không được thì sao?

– Đem đi giết!

Ông chủ tụ lạc giật mình liền nói:

– Trong pháp của Cù Đàm chẳng cho sát sanh, sát sanh là bất tịnh, sao ngài lại nói không điều phục được thì giết đi?

Phật nói:

– Đúng như lời ông nói, trong pháp Như Lai sát sanh là bất tịnh, Như Lai chẳng nên sát sanh. Này chủ tụ lạc! Nhưng ta dùng ba pháp điều ngự trượng phu mà họ chẳng điều phục thì chẳng cùng họ nói chuyện, chẳng còn dạy bảo họ, chẳng răn nhắc họ nữa, không phải giết là gì?

Ở trong chúng thầy dịu dàng dạy bảo: “Con đừng đi chơi game nữa nha, ráng tu, ráng ngồi thiền, tụng kinh.” Không nghe, thầy cứng rắn: “Kỳ này không nghe là thầy đem ra nhà khách đó.” Mình sợ, mình tu khá khá chừng một tháng rồi xuống trở lại. Thầy thấy dạy không nghe nên bỏ không dạy nữa, muốn làm gì thì làm, như vậy cũng giống như giết mình rồi; đại chúng gặp mình bỏ đi chỗ khác không nói chuyện. Ở trong chúng mà bị Thầy Tổ, bạn bè bỏ rơi thì rất đau khổ.

Kinh Pháp Cú nói:

“Người thực hành lễ phép thường kính bậc trưởng lão, bốn phước tự nhiên tăng: đẹp, mạnh, thọ và an.”

Quý thầy mà thực hành lễ phép, kính dường bậc sư trưởng, kính dường Hòa thượng, Thầy Trụ trì, những bậc thầy lớn, đừng nói xấu gì hết thì bốn phước tự nhiên tăng trưởng hồi nào không hay.

– Thứ nhất là đẹp: Quý thầy kính dường Hòa thượng, các bậc Thầy lớn, đừng nói xấu gì hết, lâu ngày con người mình trở nên thanh thoát, thoát tục, người ta nhìn thấy khác liền.

– Thứ hai là mạnh: Mạnh ở đây không phải sức mạnh thân thể mà có sức mạnh về năng lực tiềm tàng bên trong.

– Thứ ba là thọ.

– Thứ tư là an ổn.

Phật kể câu chuyện đầu rắn và đuôi rắn:

Trong khu rừng nọ có một con rắn đang bò. Đuôi rắn suy nghĩ rồi nói với đầu rắn:

– Bữa nay anh phải cho tôi đi trước dẫn đường, lâu nay anh toàn đi trước.

Đầu rắn nói:

– Tôi phải đi trước. Anh không có mắt, có mũi, làm sao anh đi trước được.

Đuôi rắn không chịu bèn quấn vô gốc cây. Cái đầu không đi được, không đi được thì đói, đành phải nhường cho cái đuôi đi trước. Cái đuôi không thấy đường bò nên toàn thân rắn rớt xuống hố chết.

Phật nói mình cũng giống như vậy. Mình tưởng mình hay hơn thầy, nhưng lọt hầm lọt hố chết hồi nào không biết. Nhà thiền phân tích rất sâu: trong thế giới đang bình ổn, thanh tịnh, mình khởi niệm đây là đầu rắn, đây là đuôi rắn. Cũng như đang tu học an ổn, bình yên, tự nhiên mình khởi niệm: Thầy này không đủ năng lực dạy dỗ mình nữa, thôi mình đi cất cốc, hoặc đi tu học ở đâu đó. Chưa đủ năng lực, chưa đủ phước đức là rớt, phạm giới ra đời hoàn tục. Có rất nhiều người bị như thế. Chính điểm đó giống câu chuyện đầu rắn và đuôi rắn.

Phật dạy:

“Đệ tử cũng vậy, nói Thầy già cả thường ở trước, tôi là người trẻ tuổi phải nên dẫn đầu. Người tuổi trẻ giới luật còn sơ sài, còn phạm nhiều lỗi, do đó kéo dắt nhau vào địa ngục.”

Trong kinh Bách Dụ Phật kể rất rõ. Đệ tử thấy thầy đã già, nghĩ mình phải dẫn đầu mới được: Thầy già rồi thầy nghỉ đi, chuyện này phải tôi làm mới được. Nhưng Phật nói người trẻ tuổi thì giới luật còn sơ sài và rất dễ phạm, phải nhờ rất nhiều vào kinh nghiệm của thầy. Tu một năm thì có kinh nghiệm một năm, tu hai năm có kinh nghiệm hai năm. Cho nên người càng nhiều tuổi đạo thì càng có nhiều kinh nghiệm. Tuy nhiên, có kinh nghiệm mà phải có tu, có học nữa.

Sa Di Học Xứ ghi:

“Vả lại còn có tâm kiêu mạn thì một đời phước huệ tiêu diệt.”

Chẳng hạn mình có tâm ngã mạn, mình nghĩ: Thầy này không có bằng cấp, không có học lực như mình. Khởi tâm kiêu mạn thì một đời phước huệ tiêu hết. Phước và huệ không còn thì kiếp sau không gặp Phật pháp, không gặp thầy nữa. Cho nên phải răn nhắc như vầy:

“Như Thường Đề bán tim gan mà học Bát-nhã. Thế Tôn vì cầu nửa bài kệ mà buông xả toàn thân.”

Bồ-tát Thường Đề, tiếng phạn gọi là Bồ-đà Ba-lô, vì cầu đại pháp Bát-nhã nên khóc lóc suốt bảy ngày bảy đêm. Chư thiên hiện thân xuống hỏi Bồ-tát cần cầu cái gì. Bồ-tát nói muốn bán tim gan để cần cầu học Bát-nhã.

Cho nên phải xả thân cầu pháp. Ý nghĩa sâu trong nhà thiền: Bồ-tát Thường Đề bán thân, bán tim gan, nghĩa là không còn chấp ngã thì mới học Bát-nhã được. Đến với thầy, mình phải kính trọng và buông cái ngã, còn ngã mạn cống cao thì không được.

Đức Phật khi còn làm Bồ-tát, vì cầu có hai câu kệ mà phải hy sinh thân. Lúc đó Bồ-tát ở trong một hang động trên núi, trời Đế Thích thấy cái ghế nóng lên, biết ngài phát nguyện lực lớn nên hiện ra thân hình quỷ dạ-xoa và đọc hai câu kệ:

Chư hành vô thường

Thị sanh diệt pháp.

Các hành là vô thường, là pháp sanh diệt, mọi pháp hữu vi đều sanh diệt. Bồ-tát ngồi trong động nghe thấy hay quá nên đi ra xem, gặp quỷ dạ-xoa ngài hỏi:

– Bài kệ vừa rồi có phải ngài đọc không?

Quỷ dạ-xoa nói:

– Phải, chính tôi.

Ngài nói:

– Bài kệ hay quá. Nhưng một bài kệ phải có bốn câu, xin ngài đọc tiếp hai câu sau, tôi sẽ cảm tạ.

Quỷ dạ-xoa nói:

– Tôi bị đói mấy ngày, bây giờ không có hơi để đọc.

Ngài hỏi:

– Ông ăn thức ăn gì?

– Ăn máu tươi, thịt sống. Nếu ông có thể hy sinh cho tôi ăn thì tôi đọc cho ông nghe.

Ngài nghĩ nếu hy sinh cho quỷ ăn thì làm sao nghe, nên nghĩ ra một cách và nói với quỷ dạ-xoa:

– Tôi sẽ lên tảng đá cao trên kia, ông ở dưới này viết trên đá hai câu kệ cuối. Tôi ở trên cao buông thân xuống. Như vậy ông được ăn, còn tôi cũng được đọc hai câu kệ.

Ý nghĩa ở đây là phải buông xả chấp ngã, không còn tâm kiêu mạn nữa thì mới học Phật pháp được. Hai câu kệ sau là:

Sanh diệt diệt dĩ,

Tịch diệt vi lạc.

Nghĩa là sanh diệt mà dứt hết rồi thì tịch diệt, lặng lẽ là vui nhất.

Kinh Hoa Nghiêm nói:

“Phàm phu vô trí chấp trước nơi ngã, lại chấp ngã kiến, kiêu mạn cống cao, chẳng hổ thẹn không trí, vọng tưởng tự tôn tự đại.”

Có nghĩa là mình vọng tưởng mình hơn thầy chứ thiệt ra mình không hơn. Trang Tử nói: Không thể nói về biển với ếch nằm ở đáy giếng. Nhiều khi mình tự tôn tự đại, tự cho mình là hơn chứ thiệt ra mình giống như ếch nằm đáy giếng vậy. Tu một thời gian mình sẽ thấy Thầy hơn mình mọi mặt. Đức hạnh, giới pháp, giới phẩm Thầy đều hơn mình. Không thể nói về tuyết với ve sầu. Ve sầu đến mùa đông là chết hết. Không thể nói về đạo với kẻ hẹp hòi, chấp ngã.Những người cống cao ngã mạn không thể tiếp thu và thâm nhập được đạo lý vô thượng.

“Thấy thiện chẳng theo, che đậy răn nhắc, đối với bậc Hiền chẳng thân nên trái đạo rất xa. Luật nói: Đệ tử theo Hòa thượng phải đủ bốn tâm: thứ nhất là thân ái, thứ hai là kính thuận, thứ ba là sợ khó gặp, thứ bốn là tôn trọng.”

– Thứ nhất là thân ái.

– Thứ hai là kính thuận.

– Thứ ba là sợ khó gặp.

Kiếp này nếu mình không tu, xuất chúng rời tùng lâm thì làm sao gặp. Không gặp kiếp này, kiếp sau làm sao gặp. Hôm nay quý thầy được túc duyên gặp Hòa thượng, gặp bậc tôn trưởng thì phải tôn trọng, hầu hạ, cung dưỡng như việc quân thần, phụ tử. Nhà nho nói: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung.” Vua kêu chết cũng phải chết. Ngày xưa vua đã vậy, huống chi bậc tôn trưởng là bậc xuất thế gian, mình mà cãi thì bị tổn phước. Phép thờ thầy rất khó, chẳng hạn thầy bảo mai đi nhận chùa là mình phải đi. Hoặc không biết làm thư ký, bảo ra làm thư ký cũng phải làm, làm không được tính sau. Như vậy thì đúng pháp tùng lâm, đúng phép thờ thầy.

Mạc Đĩnh Chi được cử đi sứ sang Trung Quốc vào đời nhà Nguyên. Vua Nguyên ra câu đố, nếu trả lời được mới cho về nước: “Thuyền chìm, trên thuyền có ba người: vua, cha và thầy. Trong ba người này cứu ai trước?” Nếu cứu vua thì bất hiếu với cha và bất nghĩa với thầy. Cứu thầy thì bất trung với vua và bất hiếu với cha. Cứu cha thì bất trung và bất nghĩa. Mạc Đĩnh Chi trả lời: “Khi bơi ra sông, thấy người nào trước thì cứu người đó trước.”

Đây là trong tinh thần quyền biến phương tiện. Thầy cắt làm việc mình biết làm không được nhưng mình vẫn nhận. Sau đó mình gặp thầy: “Xin Thầy cho con sám hối, năng lực con không đủ, con làm thử nhưng không được.” Đó là quyền biến phương tiện, như vậy không có lỗi.

“Coi thầy Hòa thượng và thầy A-xà-lê cũng như Phật.”

Năm hạ trở lên gọi là A-xà-lê.

Sa Di Học Xứ ghi:

“Chư Phật đã quá khứ, vị lai còn chưa đến. Hiện tại nói pháp làm khuôn mẫu dạy chúng trong ba cõi, thay Phật diễn nói chánh pháp, sanh giới thân huệ mạng cho ta, nuôi huệ mạng cho ta chỉ có Hòa thượng và thầy A-xà-lê, nên ta kính trọng coi cũng như Phật.”

Phật đã quá khứ, nhập Niết-bàn rồi. Phật vị lai là Bồ-tát Di Lặc chưa ra đời. Người dạy giáo pháp của Phật, chỉ đường đi nước bước, khuôn mẫu cho mình chính là Hòa thượng và thầy A-xà-lê. Cho nên phải kính các ngài như kính Phật.

Sau này quý thầy lớn lên, được mười hay mười lăm hạ gì đó, chúng Sa-di làm trái, mình nói: Ông phải coi tôi giống như Phật vậy! Được không? Như vậy là mình ngã mạn rồi, giống ma chứ không phải Phật. Hòa thượng và A-xà-lê ởđây nói là những người có khuôn phép, giới hạnh tinh nghiêm. Còn không có, chúng xá mình phải tránh chứ không mặc tình ngồi yên cho xá là tổn phước. Cho nên học Phật pháp mình phải kỹ những điểm này.

Thiên Qui Kính chép:

“Nên biết sơ tâm của đàn hậu tiến hẳn phải nương tựa vào Sư trưởng và bạn lành. Nay phải nương tựa về Tam bảo, luôn thích gần gũi.”

Đại Trí Độ Luận chép:

“Nếu hàng Bồ-tát chưa vào được pháp vị, xa lìa chư Phật e sẽ bị hư hoại các căn lành, đắm chìm trong phiền não. Mình không thể độ được thì đâu hay độ người.”

Có nghĩa là quý thầy nếu chưa kiến tính, kiến đạo thì khoan rời tùng lâm. Ráng ở năm, mười, mười lăm hay hai chục năm. Kiến đạo rồi, thấy được chân thật từng tâm niệm của mình rồi thì quý thầy vào núi tu, nhập thất cũng được. Nếu chưa kiến đạo mà ra thì có khi hư nát hết các căn lành. Có những người, ra ở thất một thời gian tự nhiên nhiễm theo thế tục ăn thịt uống rượu giống như người thế tục vậy. Nói là đã thành tựu rồi, bây giờ thõng tay vào chợ. Đó là thõng tay vào chảo chứ không phải thõng tay vào chợ. Chảo gì? Chảo nước sôi! Nhờ đại chúng, làm gì sai đại chúng thấy nhắc nhở, cho nên pháp lành tăng trưởng không bị hư hoại.

“Vì thế không được xa lìa chư Phật, ví như con thơ không thể xa lìa cha mẹ, như người đi đường không thể thiếu lương thực, như gặp trời nóng không thể thiếu gió, như lúc trời rét không thể thiếu lò sưởi, như qua sông không thể lìa thuyền, như bệnh nặng không thể lìa thuốc.”

Lúc nào cũng phải nương tựa, qua sông phải cần thuyền. Nương sư trưởng, nương thầy cũng vậy.

“Bởi thế Bồ-tát thường không lìa xa chư Phật. Vì sao? Vì cha mẹ, thân hữu, người trời, vua chúa, các người ấy không thể đem lợi ích cho ta vượt khỏi biển khổ. Chỉ có chư Phật, Thế Tôn mới có thể khiến cho ta ra khỏi biển khổ sanh tử. Vì thế thường nghĩ không nên xa lìa chư Phật.”

Các bậc Hòa thượng, A-xà-lê cũng giống như Phật đã khai thị cho mình, nên phải luôn luôn gần gũi những bậc này. Vì sao? Cha mẹ, vua chúa không đem mình ra khỏi biển khổ sanh tử, mà chỉ có Hòa thượng, vị Thầy A-xà-lê mới dìu dắt mình ra khỏi biển khổ này, cho nên mình không được xa lìa.

Kinh Trung Tâm nói:

“Thành đạo mới biết ơn thầy. Thấy thầy liền hầu hạ, chẳng thấy thì nghĩ đến lời răn nhắc của thầy như đứa con chí hiếu nhớ cha mẹ.”

Sau này quý thầy thành tựu đạo nghiệp, ra làm Phật sự mà có được năng lực lớn, được người ta kính tín, lúc này mình mới biết ơn thầy. Nói khác hơn, ngộ đạo rồi mình mới nhớ ơn Thầy. Còn bây giờ thì chưa biết đâu. Nhiều thầy giận, xách gói đi không cần xin tiền, thậm chí không thưa trình gì hết, đó là chưa thành đạo. Thầy Trụ trì Thường Chiếu, thầy Trụ trì Trúc Lâm, rồi những vị thầy lớn luôn luôn kính thuận Hòa thượng vì các ngài đã thành tựu đạo nghiệp.

Như câu chuyện, Thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn hỏi một đáp mười, hỏi mười đáp trăm, hỏi trăm đáp ngàn, nhưng Tổ Quy Sơn hỏi một câu không biết. Tổ hỏi: “Giờ đây thử nói một câu khi cha mẹ chưa sanh xem?” Ngài mờ mịt, không đáp được nên cầu xin Tổ Quy Sơn nói phá nhưng Tổ không nói. Sau khi ngộ đạo, ngài tắm gội, thắp hương, nhắm hướng núi Quy đảnh lễ, ca tụng rằng: “Hòa thượng từ bi ơn như cha mẹ, khi trước nếu vì con mà nói thì làm gì có ngày hôm nay.”

Người thấy được đạo rất kính Thầy. Trong luật, trong kinh nói, thờ thầy đúng mức thì tự có phép tắc, oai nghi, người ngoài nhìn là biết. Còn khinh dễ, kiêu mạn thì không đúng phép thờ thầy.

Trong Thiên Thành Phạm có nói:

“Sa-di ở với thầy thường có tâm kính sợ.”

Không có tâm kính sợ thì tu không tiến. Chẳng hạn tối nay mình mệt, muốn nghỉ sám hối nhưng vì có tâm kính sợ nên không dám nghỉ. Hoặc muốn bỏ ngồi thiền mà vì sợ thầy nên không dám bỏ.

Sa-di mới xuất gia xác định ai là bổn sư của mình? Hòa thượng hay thầy Trụ trì? Nhiều khi mình ỷ lại, nói Hòa thượng mới là bổn sư của mình, còn thầy Trụ trì không phải nên mình không có tâm kính sợ.

Năm 1994 Hòa thượng Trúc Lâm chưa nhận người vào tu, chỉ tuyển chọn các thầy ở Thường Chiếu hoặc các Chiếu gởi lên. Sau này có một số cư sĩ phát tâm công quả xin xuất gia, Hòa thượng nói người nào xuất gia ở đây, tuy để tôi là bổn sư nhưng đều là đệ tử của thầy Trụ trì hiện tại, là Thầy thượng Thông hạ Phương. Thầy luôn gần gũi, nhắc nhở và nâng đỡ mình. Coi Thầy như là bổn sư thì mình mới có tâm kính sợ, như vậy tu mới tiến.

Thuận theo ý của thầy, thường biết xấu hổ, lo đền bốn ơn, cứu giúp ba cõi.”

Lo đền bốn ơn: Ơn thầy Tổ, ơn cha mẹ, ơn đàn-na tín thí, ơn tổ quốc. Rồi cứu giúp ba cõi: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Thành tựu đạo nghiệp thì mới cứu giúp được. Thường biết xấu hổ thì mới lo đền bốn ơn, cứu giúp ba cõi.

Kinh nói:

“Nói xấu thầy, chê bai thầy, hủy nhục thầy, ghét hại thầy, tật đố với thầy, ấy là trong pháp đại ma, là hạt giống của địa ngục.”

Không thích hầy, mình đi chỗ khác nói xấu thầy, mình nói thầy không tu, thầy khó…, rồi chê bai, hủy nhục, ghét hại, tật đố với thầy, như vậy là mình gieo hạt giống địa ngục. Những chủng tử này nằm trong tàng thức, khi chết, những hạt giống này đẩy mình đến những cảnh giới xấu hoặc sanh nơi biên địa, hoặc sanh trong gia đình không biết Phật pháp.

Trong Quản Luật ghi:

“Tiết đường nói: Người học mà khí thắng chí là tiểu nhơn, chí thắng khí là đoan nhân chính sĩ, khí với chí ngang nhau là Hiền Thánh đắc đạo. Người cứng cỏi chẳng chịu tuân theo qui củ và lời can gián đó là bị khí nó sai khiến.”

Có nghĩa là phép tắc, nội qui, thanh qui trong tùng lâm không theo, ai dạy cũng không chịu nghe. Cứng cỏi, chẳng chịu tuân theo qui củ của thiền môn, đó là bị khí sai khiến.

“Kẻ sĩ đoan chánh dẫu có bị cưỡng bách làm việc bất thiện thì dẫu chết cũng chẳng hai lòng, đó là chí nó đưa đến như thế vậy.”

Kinh Hoa Nghiêm dạy:

“Coi thầy Hòa thượng, thầy A-xà-lê như thiện tri thức vậy. Cần cầu thiện tri thức thân tâm đừng sanh mệt mỏi.”

Thiện tri thức là gì? Chữ Hán thiện là khéo, nghĩa là người này khéo biết được tâm niệm và năng lực của mình. Người đó nhìn biết đường đi nước bước mình đến đâu, cho nên giúp ích mình, dạy dỗ mình, đưa mình đến con đường đạo. Vì vậy cần cầu thiện tri thức thân tâm đừng sanh mệt mỏi.

Thấy thiện tri thức đừng sanh lòng nhàm chán.”

Học hỏi với thiện tri thức đừng sợ khó nhọc, gần gũi thiện tri thức đừng thối lui, cúng dường thiện tri thức đừng cho gián đoạn, tùy thuận theo lời dạy dỗ của thiện tri thức mà đừng có chống trái.”

Ngày xưa khi còn ở ngoài đời, quý thầy có xem kinh sách của Hòa thượng, đọc những lời dạy của Hòa thượng. Bây giờ vào đây tu, mình gặp Hòa thượng, gặp thầy Trụ trì, mình biết chắc đây là thiện tri thức. Các ngài dùng năng lực tháo đinh nhổ chốt cho mình, thì phải thuận theo lời dạy dỗ của thiện tri thức đừng có chống trái.

“Những công đức của thiện tri thức đừng sanh lòng nghi, khi thiện tri thức diễn nói phải quyết định mở cửa lòng ra mà nghe.”

Hòa thượng giảng, mình phải lắng lòng nghe. Chứ giảng ở trên mà dưới coi sách coi vở, hay coi gì đó là trật. Cần cầu thiện tri thức là như thế. Để mai này ra làm Phật sự, quý thầy giảng dạy người khác mới nghe. Nhân quả rất rõ.

“Nhân thấy thiện tri thức tùy thuận theo hạnh phiền não đừng sanh lòng hiềm quái.”

Thầy Trụ trì thấy quý thầy ngồi uống trà, nói chuyện thị phi nên sanh phiền não rầy la. Thấy vậy mình nói: Thầy Trụ trì sao cũng còn phiền não! Mà không biết đó là thiện tri thức tùy thuận theo hạnh phiền nãoĐừng sanh lòng hiềm quái, nghĩa là đừng nghi kỵ. Đó là nộ về đạo để dìu dắt chúng sanh, cho nên mới thị hiện ra phương pháp đó.

“Đối với thiện tri thức phải lòng tin vững chắc, đừng biến đổi. Tại sao? Vì Bồ-tát nhờ thiện tri thức mà được học hỏi các hạnh Bồ-tát, do đó mới được thành tựu tất cả công đức của Bồ-tát và được xuất sanh đại nguyện cùng là trí huệ quang minh rực rỡ. Này thiện nam tử, Bồ-tát nhờ sự giúp đỡ của thiện tri thức mà chẳng sa đọa vào ác thú.”

Nhờ tu học mới biết sám hối, tọa thiền, biết làm các việc thiện pháp. Có năng lực lớn nên không sa đọa vào những ác thú, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Đó là nhờ bậc thiện tri thức chỉ dạy.

Nương nhờ sự thành tựu của thiện tri thức mà được tự tại thọ sanh, nương nhờ sức mạnh của thiện tri thức mà phá tan nghiệp báo, nhờ mặc áo giáp nhẫn nhục của thiện tri thức mà chẳng bị một lời nói xấu ác, và nương nhờ sự sanh trưởng của thiện tri thức mà tiêu diệt được các tội lỗi kiêu mạn vậy.”

Quý thầy nghiên cứu kỹ kinh Hoa Nghiêm sẽ thấy rất rõ, trong kinh toàn nói về việc thiện tri thức nâng đỡ, giúp đỡ mình. Bởi các ngài có năng lực rất lớn, nhờ gần gũi thiện tri thức nên mình có sức nhẫn nhục lớn. Như Hòa thượng, nếu không có sức nhẫn nhục thì làm Phật sự không được. Noi theo công hạnh của các ngài, từ đó mình ra làm Phật sự mà có chướng ngại, nghịch cảnh đến thì theo gương đó quyết tiếp tục tu hành và làm các việc Phật sự lớn. Cho nên nói là nương nhờ sự sanh trưởng của các thiện tri thức mà tiêu diệt được các tội lỗi kiêu mạn.

Hoặc thầy sai đổ đồ bất tịnh không được khạc nhổ, không được sân hận.”

Không hẳn là thầy Trụ trì bệnh rồi mình đổ đồ bất tịnh mà có khi, những vị thầy lớn hoặc huynh đệ bị bệnh nằm một chỗ không đi được, mình đến nuôi bệnh, đổ đồ đại tiện hoặc tiểu tiện thì đừng khạc nhổ, đừng khởi tâm sân hận. Tâm sân hận nổi lên thì mình không có phước nữa.

Sa Di Học Xứ ghi:

“Thế nào là đồ bất tịnh? Đồ đại tiện, đồ tiểu tiện, ống nhổ. Thế nào là không được khạc nhổ? Không nên sanh tâm nhờm gớm mà khạc đờm, nhổ nước miếng. Phải nghĩ rằng thân tứ đại này là một kho chứa các đồ dơ bẩn, dù thánh hay phàm, ta và người khác không ai là không khỏi có cái chỗ đó hết.”

Có nghĩa là chúng ta quán chiếu, tư duy (lúc này dùng quán chứ không dùng chỉ nữa) để nhớ rằng thân và thân của các vị thánh; của ta và người không ai là không có cái bất tịnh này. Quán chiếu tư duy sâu sắc như thế tự nhiên mình không còn nhờm gớm nữa.

Trừ được cái bất tịnh này tức là trừ được chấp ngã, ba độc phiền não, có nghĩa là tham, sân và si. Nếu hay tư duy chắc thật như thế thì mình, người đều tịnh. Ấy là đồ bất tịnh mà sanh ra cái pháp chơn chánh vậy.”

Ngay chỗ bất tịnh đó tự nhiên chuyển hóa thành pháp chơn chánh. Như trường hợp Tế Công Hòa thượng, ai bệnh ngài khạc cục đờm, nhổ vô mặt tự nhiên hết bệnh. Ngay chỗ không khởi niệm, không dấy tâm mà thành pháp chơn chánh.

Thiền thoại có ghi:

Thiền sư Quang Đạo là bậc chơn tu đắc đạo, lập hạnh đầu đà, chuyên ở trong hang động. Một hôm có vị thiền khách tên là Tề Quân đến tham kiến. Hang động rất chật, lúc này Thiền sư đang nấu cháo. Cháo chín, nhìn qua nhìn lại không thấy tô chén gì hết, thấy cái sọ người, ngài múc cháo vào rồi đưa Tề Quân. Tề Quân đang chần chừ chẳng dám nhận thì ngài nói: “Ông đem tâm nhơ sạch, thương ghét đến đây cầu đại pháp làm sao mà kham nhận được.”

Đổ đồ bất tịnh mà không sanh tâm gớm ghiếc, sân hận thì ngay chỗ đó là chỗ công đức, phước điền cho người nuôi bệnh. Vừa khởi tâm thương ghét, có không, phải quấy thì lúc này cầu đại pháp không được. Mà chính trong giờ phút thực tại này đó là đại pháp, là chánh pháp, đó là chơn chánh của người xuất gia. Khó quá phải không? Phải quán chiếu tư duy rất sâu, những hạt giống thương ghét, có không, ta người, chủ khách không còn nữa mới được. Hiện tại, mình chưa chắc gì được đâu. Ở đây, mình học cho biết thế nào là: Không được khạc nhổ và sanh tâm sân hận.

Nếu lễ bái, thầy tọa thiền không nên lễ, thầy kinh hành không nên lễ, thầy ăn cơm, thầy giảng tinh, thầy đánh răng, thầy tắm rửa, thầy ngủ nghỉ đều không nên lễ. Thầy đóng cửa không nên đứng ngoài lễ vào, muốn vào phòng để lễ nên gõ cửa ba tiếng, thầy không đáp nên lui.”

Trong Sa Di Học Xứ, Tổ Tuyên Luật Sư nói Tông Thiên Thai dạy như sau:

“Pháp tứ nghi thì gọi là lễ, thân nghiệp cung kính gọi là bái.”

Đứng xá một cái thì gọi là lễ, chứ không phải là bái. Thân nghiệp cung kính có nghĩa là đắp y, mặc hậu đảnh lễ, năm vóc gieo xuống đất gọi là bái. Thân nghiệp không cung kính không gọi là bái.

Như câu chuyện trong kinh Pháp Bảo Đàn:

Tăng Pháp Đạt đến lễ Lục Tổ mà đầu không sát đất. Tổ nói:

– Ông lễ mà đầu không sát đất chi bằng đừng lễ. Như vậy trong tâm ông ắt chứa vật gì.

Nghĩa là lúc này thân nghiệp không cung kính. Mà thân nghiệp không cung kính là do ý nghiệp tác động đến. Lễ Phật mà đầu không sát đất, tâm không cung kính thì không có phước. Thân nghiệp phải cung kính thì mới gọi là bái.Cho nên Tổ quở:

– Lễ vốn chặt cờ ngã mạn, sao đầu không sát đất? Có ngã tội liền sanh, quên công thì phước vô tỉ.

Lúc này thiền sư Pháp Đạt nói tụng kinh 3.000 bộ!

Sở dĩ ông lễ mà không có thân cung kính tức là có cái gì bên trong. Hoặc đến lễ mà trong tâm mình chất chứa sự nghiệp lớn thì lễ là lễ vậy thôi chứ thân và tâm không cung kính.

– Tại sao thầy tọa thiền không nên lễ bái?

Sa Di Học Xứ ghi:

“Sợ loạn công đức thiền định nên không lễ bái.”

Lễ bái sợ loạn tâm thầy nên không cần lễ, lễ cũng không có phước gì. Không chỉ thầy Tổ của mình mà huynh đệ ngồi thiền yên tịnh, có chuyện gì cũng không được kêu, sợ làm loạn tâm thiền định. Người ngồi thiền, tâm hướng về làm Phật nên mình không được phá. Chẳng hạn quý thầy làm tri sự, công việc nhiều quá mà chúng đang ngồi thiền ở thiền đường, quý thầy kêu là tổn phước. Phải chờ hết giờ, xả thiền xong mới được đến nhờ.

Thầy chúng tôi kể, Hòa thượng Trí Tịnh đi đâu xa về mà thấy chúng đang ngồi thiền, ngài bỏ cái đãy xuống, nhẹ nhàng ngồi kế bên, không dám động đại chúng. Đại chúng đang tọa thiền là đang làm Phật. Phá những người đang tọa thiền, đang chiêm nghiệm về thánh thái của Phật là pháp của ma, gọi là ma Ba Tuần.

Kinh A Hàm có ghi câu chuyện:

Sa-di Thông Trí theo thầy là tôn giả Xá-lợi-phất đi khất thực. Trên đường đi ngài thấy người ta vét mương để dẫn nước vào ruộng, rồi thấy người uốn cung tên, thấy thợ mộc đẽo những thanh gỗ để làm bánh xe. Ngài nghĩ những vật vô tri như nước, cung tên, gỗ mà người ta có thể uốn nắn để sử dụng theo người ta. Vậy tại sao mình không uốn nắn tâm mình để đến được con đường Niết-bàn.

Nghĩ như vậy ngài xin phép thầy về trước không đi khất thực nữa. Ngài quyết định trong ngày hôm nay phải chứng quả A-la-hán. Đức Phật biết được, sợ rằng nếu tôn giả Xá-lợi-phất khất thực về kêu chú Sa-di này ra mở cửa thì quả vị không đến được, nên Đức Phật ra đón và hỏi chuyện, mục đích ngăn tôn giả Xá-lợi-phất vào phòng để không làm gián đoạn công phu của Sa-di Thông Trí.

– Tại sao thầy đi kinh hành không nên lễ?

Sa Di Học Xứ ghi:

“Sợ trở ngại chánh niệm nên không lễ bái.”

Thầy đi kinh hành luôn luôn thu thúc sáu căn, chánh niệm. Nếu lễ bái thì thầy ngó lại, mất chánh niệm của Thầy cho nên không cần lễ bái.

Kinh A Hàm Phật dạy có năm lợi ích của việc đi kinh hành:

1- Người đi kinh hành sẽ có sức chịu đựng bền bỉ để đi đường xa.

Vào thời Đức Phật, các ngài vừa đi khất thực vừa đi kinh hành luôn. Hiện giờ có một vị sư ở Thiếu Lâm Tự, đã chín mươi lăm tuổi mà vẫn còn giống như bốn mươi tuổi vậy. Hỏi ra thì biết hằng ngày ngài đều đi kinh hành. Các vị khất sĩ lớn tuổi, có kinh nghiệm khi đi khất thực thường các ngài mang bình bát đi một đoạn đường, rồi cất bình bát vô đãy. Đi một đoạn xa mới lấy bình bát ra. Đi kinh hành rất lợi ích, quý thầy muốn ít bệnh phải đi kinh hành.

2- Người đi kinh hành sẽ có sự chịu đựng bền bỉ trong khi hành thiền.

Đi kinh hành thường xuyên thì ngồi thiền dẻo dai hơn những người không đi kinh hành.

3- Sự quân bình giữa đi và ngồi, giúp có sức khỏe tốt.

4- Thiền hành cũng giúp cho sự tiêu hóa được dễ dàng.

Vừa ăn cơm xong mà nằm ngủ liền thì nguy hiểm, dễ sinh bệnh đau dạ dày. Nhiều người nói sao tu mà bệnh dữ vậy. Tìm hiểu nguyên nhân là do không chịu đi kinh hành, không chịu tập thể dục, dẫn đến sinh bệnh.

5- Kinh hành tạo nên sự định tâm bền vững.

Các thiền sư nói thân mình giống như chiếc xe, chuẩn bị chạy thì xe phải khởi động. Trước khi ngồi thiền, đi kinh hành một vòng để tâm an ổn rồi vào ngồi thiền rất dễ định tâm.

– Tại sao thầy ăn cơm không được lễ?

Sa Di Học Xứ ghi:

“Sợ tạp loạn đối với pháp quán nên không có lễ.”

– Tại sao thầy nói kinh không được lễ?

“Sợ đoạn dứt pháp nghĩa nên không được lễ.”

Chẳng hạn thầy đang nói tinh cho Phật tử nghe, mình đến xá một cái, thầy phải xoay qua thì mất cái nghĩa lý trong lúc đang nói.

– Tại sao thầy đánh răng không nên lễ?

“Sợ bỏ dở kệ chú nên không có lễ”

Đang đánh răng thầy thầm đọc chú mà mình lễ, thầy ngó lên nhiều khi quên mất chánh niệm.

– Tại sao thầy tắm rửa không nên lễ?

“Sợ hình nghi không tề chỉnh nên không lễ.”

Ngày xưa nhà tắm không kín như bây giờ, mà chỉ ngang nửa người, nhìn vào là thấy. Thầy đang tắm mà xá thì không lịch sự. Mình học để biết, chứ bây giờ nhà tắm kín, không phải như ngày xưa.

– Tại sao thầy ngủ nghỉ không nên lễ?

“Sợ kinh động giấc nên không có lễ.”

“Thầy cạo tóc, thầy rửa chân hoặc có việc không rảnh, thầy đóng cửa không nên đứng ngoài mà lễ vào. Muốn vào phòng để lễ nên gõ cửa ba tiếng.”

Chẳng hạn như Hòa thượng Trúc Lâm, ngài rất bận, hoặc có khi bệnh nên không cho vào. Có những vị, tôi nghĩ là không có học oai nghi, đứng ngoài lễ vào. Theo tinh thần oai nghi, đứng ngoài cửa mà lễ là không thành tâm cung kính. Nếu không vào được thì thôi, không được làm như thế. Cho nên học, biết oai nghi phép tắc rồi mình nhớ đem ra thực hành. Oai nghi rất cần cho người tu sĩ.

“Đem thức ăn cho thầy phải dâng hai tay. Thầy ăn xong thu dọn bát đĩa phải chậm rãi từ từ.”

Đây là cho những thầy thị giả.

Sa Di Học Xứ ghi:

“Hầu hạ thầy ăn uống đồng như là cúng Phật.”

Thức ăn dâng Thầy không phân biệt ngon dở gì, rau luộc cũng được nhưng phải sạch sẽ, phải có tâm cung kính thì mới tăng trưởng phước đức. Còn làm cho có thì không được.

Bộ Thành Phạm nói:

“Nấu đồ ăn cho Thầy không luận ngon hay dở đều phải sạch sẽ và vừa ý Thầy. Phàm dâng nước trà chẳng được nhúng ngón tay vô trong chén. Phải hai tay co bốn ngón, dùng sáu ngón, bợ hông chén bằng phẳng cho Thầy. Thầy dùng xong như pháp trước mà rước lấy.”

Trong Kinh Chi Bộ có ghi:

Tôn giả Mục-kiền-liên một hôm du hành trên hư không thì thấy một con quỷ thân hình gầy ốm, lửa bốc lên ngùn ngụt. Hỏi nguyên nhân thì nó nói, ngày xưa vào thời Đức Phật Ca-diếp, nó làm thị giả cho một vị Hòa thượng, hầu Thầy mà ăn bớt thức ăn của Thầy, cho nên bây giờ tái sanh làm quỷ đói.

Nấu thức ăn hầu Thầy phải sạch sẽ và đúng như pháp. Đúng như pháp là không ăn hớt của Thầy. Đem thức ăn cho Thầy thấy ngon quá bốc ăn trước, kiếp sau thành quỷ đói. Quý thầy làm trực nhật, hành đường cũng vậy, ăn trước cũng thành quỷ đói.

“Hầu Thầy không được đứng đối diện, không được đứng chỗ cao. Không được đứng quá xa để Thầy nói nhỏ nghe được, khỏi hao sức Thầy. Đứng đối diện, chỗ cao đều mất vẻ cung kính.”

Thiên Thành Phạm nói:

“Chẳng được đứng trong bóng thầy.”

Đi với thầy chẳng được đứng trong bóng thầy. Nhưng những vị thị giả phải đi kế bên để dìu Hòa thượng, nếu đi vào canh trưa thì chắc chắn bị đạp bóng thầy. Trường hợp đó mình phải làm sao?

“Chẳng được đứng trên gió.”

Tại sao chẳng được đứng trên gió? Nhiều khi chột bụng đánh hơi thì tổn phước. Hoặc có khi hai, ba ngày chưa tắm, thân không được sạch sẽ, thanh tịnh.

“Chẳng được xoay mình, cúi đầu nói nhỏ, giỡn cười. Phải thân tâm nghiêm kính. Đứng bên thầy chẳng được đứng xụi hai tay.”

Phải đứng cung thủ, cũng không đứng xụi lơ.

“Ở trước mặt thầy không được cào, gãi đầu, chà mặt. Chẳng được mang giày, rửa chân trước thầy. Chẳng được hiện tướng mỏi mệt, cũng chẳng được như người tục rũ tay mà đứng. Ở trước mặt thầy chẳng được nói lời vô ích.”

Nói những lời có ích thì được chứ nói chuyện thế gian, chuyện hình sự… thì không được. Nói lời gì để thầy nhắc nhở cho sự tu hành của mình. Cho nên được hầu thầy rất có lợi. Chẳng hạn khi tôi đi gần Hòa thượng một đoạn đường, Hòa thượng chỉ dạy Phật pháp rất nhiều điều có ích. Nhưng nếu không hiểu, mình nói những lời vô ích, thầy hoặc Hòa thượng quở thì mình tổn phước. Những lời quở trách của một vị thầy, một vị Hòa thượng, hay vị A-xà-lê, của bậc thiện tri thức đều là những lời có ích. Các ngài thương mới rầy. Còn các ngài bỏ rồi là thôi, không nói tới nữa.

Thiền thoại có ghi:

Đại sư Ngộ Tân, trụ trì chùa Vân Nham, hay lớn tiếng trách mắng người xuất gia đến chùa tham học. Do đó một số người tham học rất là nể sợ, thường kính nhi viễn chi. Kính mà xa không dám gần. Trong chúng có một vị thị giả là thiền sư Huệ Phương thấy thế nên nói:

– Làm một vị thiện tri thức thì phải hành đại đạo của Phật Tổ, hiệu lệnh đưa ra trời, người tuân theo. Đáng lý phải xem người học như con đỏ, lấy tâm từ bi để mà cư xử với họ và phải thường an ủi, chứ đâu mà động một chút lại nổi giận chửi mắng giống như oán cừu đã chất chứa như biển sâu không khác.

Đại sư nghe xong nói:

– Kiến giải của ông như vậy thì tương lai, nếu hoằng pháp ở một phương sẽ chỉ mị để phụng sự những người có quyền thế. Cẩu thả, dựa vào bọn cường hào mua bán đại pháp của Như Lai và dối gạt bọn phàm phu tục tử. Ta không nhịn nổi bọn người ngu si theo đời, không phát tâm dõng mãnh, không rõ Phật đạo này. Do đó phải dùng lời nặng nề để khích lệ họ cho họ biết liêm sĩ, tự mình sửa đổi lỗi lầm hầu mong làm sư phạm cho trời, người. Đây mới là tâm từ bi chân chánh, lo lắng và bảo bọc thương yêu chân chánh.

Thầy la mắng mình chính là mài giũa cho mình. Mài giũa tâm kiêu mạn, bản ngã chấp trước, thì tự nhiên mình có năng lực lớn. Sau này chúng ta ra làm Phật sự sẽ thấy rất rõ.

“Nếu thỉnh hỏi nhân duyên Phật pháp phải sửa y lễ bái, quỳ gối chắp tay. Thầy có dạy trăm lần nghe kỹ, nhớ in sâu vào.”

Lắng nghe gọi là văn huệ, tư duy là tư huệ, thâm nhập là tu huệ.

Khổng Tử nói:

“Có ba bậc nghe pháp: Dùng thần nghe pháp tức là bậc thượng. Dùng tâm nghe pháp gọi là bậc trung. Dùng tai nghe pháp là bậc hạ.”

Đến nghe pháp với tâm mệt mỏi, chán chường thì không có phước đức gì hết, mà cũng không biết thầy nói chuyện gì.

Lão Tử nói:

“Bậc thượng mà nghe pháp là thấm vào tứ chi, phổ ra hành động.”

Những lời thầy Tổ dạy thấm vào tứ chi là thấm vào thân thể, ngũ uẩn của mình rồi phổ ra hành động. Học oai nghi, phép tắc, học về đường hướng của thầy Tổ chỉ dạy mà làm đúng như vậy, đó gọi là bậc thượng.

“Bậc trung nghe pháp thì thoạt nhớ, thoạt quên.”

Nghe thì nghe chứ về nhà không biết thầy nói gì, đó là bậc trung.

“Bậc hạ nghe pháp thì cười to bỏ đi. Nếu không như thế thì đâu còn gọi là Đạo nữa.”

Bậc hạ nghe pháp cười to bỏ đi, là không cần nghe thầy dạy gì hết. Nếu không như thế thì đâu còn gọi là Đạo nữa, nghĩa là Đạo rất khó nghe, khó thâm nhập.

Sa Di Học Xứ ghi:

“Phàm muốn cầu pháp phải chiết phục tâm chấp ngã.”

Muốn cầu đại pháp phải bẻ gãy tâm chấp ngã, lúc đó đại pháp mới vào tâm thức được. Khi thâm nhập vào Phật pháp rồi thì những hạt giống phiền não, cù cặn trong tâm thức của mình cũng được chuyển hóa.

Bây giờ kinh sách, băng giảng rất nhiều. Ngày xưa các ngài chỉ cần nghe một câu là tâm thức rúng động, chuyển hóa ngay. Bởi các ngài nghe với tâm mong mỏi cầu pháp, chiết phục tâm chấp ngã. Thành ra quý thầy đừng nghĩ mình biết tiếng Anh, tiếng Pháp gì đó rồi mình có tâm ngã mạn. Tôi có người em đang tu học bên Ấn Độ, biết rất nhiều thứ tiếng: Anh, Pháp, Trung Quốc, Nhật, Ấn Độ. Tôi hỏi, tôi học một thứ tiếng không nổi sao ông học được nhiều vậy? Em tôi nói, học được tiếng Anh hay tiếng Pháp rồi thì mấy thứ tiếng khác học rất nhanh. Tại mình không đủ duyên để học chứ thực ra ai học cũng biết hết. Phải chiết phục tâm chấp ngã của mình. Tâm ngã mạn cống cao phải dẹp hết thì đại pháp mới rót vào tâm thức được.

“Tư duy thánh đạo, chịu bỏ cái khí tiết của mình. Thấp mình mà lễ, kính vị sư trưởng, nghĩa là tôn sư trọng đạo thì lúc này mới gọi là chân chính học đạo.”

Người chân chính học đạo phải thấp mình thưa hỏi, kính vị sư trưởng. Sư trưởng thời này, có những vị học không bao nhiêu mà ta kính các ngài là kính gì? Kính đạo đức, kính oai nghi phép tắc mô phạm. Một người tu sĩ mà có tâm ngã mạn các ngài nhìn biết liền. Đây tôi giấu tên, ngày xưa có một vị Ni sư học lấy được hai, ba cái bằng về khoe Hòa thượng, là Thầy của Ni sư ngày trước, Hòa thượng cầm cái bằng ném ra. Ngài biết vị Ni sư này có tâm ngã mạn. Vừa học vừa tu để dẹp tâm chấp ngã. Mà dẹp tâm chấp ngã thì đạo mới vào được.

Trong Pháp Uyển Châu Lâm, quyển thứ 24 ghi:

Có năm trường hợp hỏi mà không nên đáp:

1- Hỏi thử: Do tâm kiêu mạn nên họ dùng sự hiểu biết để hỏi thử xem mình có biết hay không.

Tôi làm nhà khách hay gặp trường hợp này. Hỏi xong là tôi biết liền, tôi cười không trả lời gì hết. Hỏi thử là do cái tâm kiêu mạn. Hỏi pháp mà khởi tâm kiêu mạn, quý thầy nhìn vào khuôn mặt họ là biết. Trong chúng cũng vậy, họ gặp mình hỏi giống như hỏi thử là không bao giờ đáp.

2- Không thắc mắc mà hỏi.

Cũng không trả lời. Phải rất là kính, phải chiết phục tâm ngã mạn thì mình mới trả lời.

3- Không quỳ sám hối lỗi đã phạm mà hỏi.

Tức là có phạm tội đối với giới luật mà không sanh tâm sám hối lại đặt ra câu hỏi. Phạm tội trộm cắp, rồi nói tôi ăn cắp mà ai thấy, ai biết, ai nghe? Đặt vấn đề, đưa ra nghi vấn mà chưa sám hối thì cũng không trả lời.

4- Hỏi vặn.

Đã biết không có khả năng trả lời mà cố tình cật vấn, hỏi tới, cũng không trả lời.

5- Không để ý nghe mà hỏi. Đã nghe nói rồi mà không để ý lại hỏi nữa.

Như trong giờ thầy Trụ trì giảng, họ nghe qua rồi quên hay gì đó, đứng lên hỏi thì cũng không trả lời.

“Phàm muốn cầu đại pháp phải chiết phục cái tâm chấp ngã, tư duy thánh đạo, chịu bỏ cái khí tiết của mình, thấp mình mà lễ.”

Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên có ghi:

Thiền sư Huệ Nam ở Hoàng Long, phủ Long Hưng. Sư họ Chương, quê ở Tín Châu, theo thiền sư Trừng tại Lạc Đàm chiêu đồ giáo hóa, tiếp độ chúng tăng. Ngài giáo hóa đồ chúng rất đông, tiếng tăm vang dội bốn phương. Nhưng khi gặp thiền sư Duyệt ở Vân Phong, thiền sư nói:

– Tuy ông hiểu vậy nhưng cái thiền đại pháp ông chưa chứng ngộ. Muốn chứng ngộ được thì nên đến tham vấn thiền sư Từ Minh.

Ngài đến gặp thiền sư Từ Minh, thiền sư biết Huệ Nam có tâm chấp ngã rất lớn vì đã từng đi giáo hóa, là pháp sư nổi tiếng, nên hỏi gì thiền sư cũng không trả lời. Huệ Nam khẩn cầu tha thiết, khóc lóc suốt ba, bốn ngày liên tục. Lúc này Từ Minh mới bảo:

– Thầy học thiền Vân Môn ắt khéo biết yếu chỉ của Vân Môn. Như nói tha Động Sơn ba gậy là có phần ăn gậy hay là không phần ăn gậy?

Sư đáp:

– Có phần ăn gậy.

Từ Minh nghiêm sắc mặt bảo:

– Từ sáng đến chiều ông nghe quạ kêu, chim hót đều nên ăn gậy.

Lúc này thiền sư Từ Minh mới chấp nhận cho lễ bái. Từ Minh lại hỏi:

– Triệu Châu thường nói bà già ở Đài Sơn bị ta khám phá. Hãy thử chỉ ra chỗ khám phá xem.

Sư mồ hôi xuất hạn không thể đáp lời nào. Hôm sau Sư lại đến thì bị Từ Minh mắng chửi. Sư nhìn đồ chúng hai bên và nói:

– Chính vì không hiểu nên mới cầu để giải quyết nghi. Còn mắng chửi thì đâu phải là quy củ từ bi thí pháp.

Ngài Từ Minh nói:

– Ông hiểu là mắng chửi ư?

Ngay câu ấy Sư liền đại ngộ.

Câu chuyện này cho thấy, tuy ngài Huệ Nam đi hoằng pháp lợi sanh rất nhiều, nhưng chưa ngộ nhập đại pháp của thiền nên phải đến khẩn cầu, lễ bái thiền sư Từ Minh. Từ Minh biết người này còn chấp trước sự nghiệp giảng pháp nên khi nêu ra chỗ ăn gậy hay không ăn gậy, ngay chỗ có và không thì Huệ Nam mắc kẹt.

Trong sử 33 vị Tổ, Thiền sư Thần Quang đến cầu pháp Tổ Bồ-đề Đạt-ma mà Tổ không xoay lại là có lý do. Bởi Thần Quang là một tay kiếm khách học rộng nghe nhiều, giỏi lý diệu huyền. Học, nhiều khi mình không hiểu, rồi chặt tay như ngài thì không được. Đứng trong tuyết lạnh mà chặt tay cầu đại pháp là chặt cái tay của tâm chấp ngã, tâm phiền não, tâm kiêu mạn, bởi vì học biết quá nhiều rồi.

Cho nên Đại sư Liên Trì nói:

Tổ thứ hai được trao truyền tâm pháp là ngài tâm thành đến cực điểm, cơ duyên đã thành thục, giống như nam châm hút sắt, một cái là hợp, một điểm là không, không nhất định là phải chặt cánh tay đâu. Những người ngu si muốn bắt chước Thần Quang không biết học tinh thần ấy mà chỉ tính chuyện chặt tay. Ôi! Nếu truyền pháp mà cứ phải chặt tay thì các Tổ sư ai cũng cụt một tay hết! Muốn làm Phật mà phải thiêu mình vậy thì tiên, thánh, hậu, hiền không ai còn sống!”

Ngài bình rất là hay. Trong Kinh Pháp Hoa diễn tả hai vị Bồ-tát thiêu thân là Bồ-tát Dược Vương và Bồ-tát Dược Thượng. Hai vị thiêu mình là thiêu phần tưởng ấm. Hòa thượng dạy rất rõ. Mà nghe nói chặt tay, thiêu mình rồi cũng chặt, cũng thiêu. Ngày xưa có một thầy định thiêu, nói để cúng dường chư Phật. Hòa thượng Trúc Lâm quở, làm vậy là không đúng.

Ngài bình tiếp:

“Chân thật chặt tay là chặt cánh tay phiền não.”

Bình rất là hay. Ngài nói muốn chặt tay là phải chặt cái phiền não chấp trước, ngu si, ngã mạn của mình. Chặt cái đó thì đúng, còn chặt cánh tay là không đúng.

Thiêu thân là đốt cái thân vô minh của mình. Mong chư vị thiền giả phải lấy điểm này nhắc nhở nhau.”

Chẳng hạn như Hòa thượng Sư cố (HT. Thiện Hoa), trên trán Sư cố đâu có đốt liều, mà ngài làm Phật sự hết mình. Từ khi xuất gia, hiểu đạo rồi ngài làm Phật sự suốt quãng đời của ngài. Rồi đến Hòa thượng Trúc Lâm, ngài có đốt liều gì đâu mà làm Phật sự không ai bằng. Có những người thiêu thân, làm đủ thứ chuyện mà không hiểu điểm này. Có những trường hợp các ngài thiêu thân vì những mục đích khác thì không bàn đến, nhưng ở đây mình phải biết chặt tay, đốt thân là chặt tay phiền não, đốt thân vô minh. Đó là theo tinh thần của Đại sư Liên Trì, ngài giảng giải rất rõ.

Tại sao chúng ta cầu đại pháp với Sư trưởng lại tâm thành đến thế?

Trong Sa Di Học Xứ có ghi lời thiền sư Vĩnh Gia dạy:

“Chánh đạo lặng lẽ tuy có tu mà khó hội. Tà đồ ồn náo, tạp loạn chính là không tập mà dễ thành.”

Chánh pháp đại thừa rất khó thâm nhập. Phải cần cầu đại pháp, phải thành tâm cung kính thì mới thâm nhập được. Trong bài Sám Hối Sáu Căn, Nghiệp Căn Tai:

Ghét nghe chánh pháp, thích lắng lời tà,

Mê mất gốc chơn, đuổi theo ngoại vọng.

Sáo đàn inh ỏi, bảo khúc long ngâm,

Văng vẳng mõ chuông, coi như ếch nhái.

Nhiều vị tu lâu thì lâu chứ hôm nào xuống phố, đi trên xe có mở nhạc nghe vẫn thấy thích. Họ nói, pháp Hòa thượng nghe suốt, bây giờ đi tham quan phải mở băng cải lương hay ca nhạc gì đó thì mới vui.

Cho nên, chánh đạo yên tịnh rất khó thâm nhập, còn cái ồn náo, tạp loạn thì rất dễ. Lúc nào thử học bài Chứng Đạo Ca xem. Chắc cũng phải năm hoặc ba ngày mới thuộc. Còn bài hát nào hay, học chừng nửa tiếng là thuộc hết. Kinh điển hỏi thì ít ai nhớ, nhưng bài hát, hỏi bài nào cũng thuộc!

Đến sư trưởng cần cầu đại pháp là có mục đích, có lý do. Xa xôi, lặn lội lên cầu pháp của Hòa thượng thì phải cung kính, và phải bẻ gãy tâm ngã mạn của mình.

“Bằng hỏi việc thường trong chùa chẳng buộc lạy, quỳ. Chỉ đứng vững bên Thầy cứ thật tình mà thưa. Hoặc Thầy thân tâm mỏi mệt, dạy lui phải lui, chẳng nên tâm tình chẳng vui hiện bày sắc mặt.”

Chẳng hạn thầy tri khố hay thầy tri sự lên xin thầy tiền bạc, hoặc thưa trình việc gì, khỏi cần quỳ lạy, chỉ đứng thưa thật tình thì đúng pháp oai nghi. Nếu thầy nói thôi bây giờ tôi mệt quá, xuống đi, để mai tính. Nghe vậy rồi bực bội, sắc mặt thay đổi, hiện nét không vui là không đúng, là mình bị tổn phước.

Luật Ngũ Phần Thập Tụng ghi:

“Làm đệ tử thường mến đức của thầy, chớ nên soi mói lỗi nhỏ.”

Ở với thầy phải mến đức thầy mới ở được. Còn soi mói từng lỗi nhỏ thì lúc nào đó sẽ thấy lỗi của thầy. Có những lỗi không đáng cũng moi ra được, thầy chưa chứng quả vị A-la-hán mà. Làm vậy là bị chướng ngại rất nhiều và rất khó tu, gặp thầy ở đâu mình cũng tránh. Không thích thì sao mà ở được. Cho nên, đệ tử phải coi thầy giống như cha mẹ thì mới ở suốt đời được. Còn không mình ở chừng một, hai hay ba năm rồi cũng kiếm đường nhảy.

“Thuận theo thì được lợi ích, mà tìm lỗi thì vướng khổ đau.”

Rất là rõ. Thuận theo lời dạy của thầy thì được lợi ích, tìm lỗi thì vướng khổ đau. Vướng khổ đau về cho mình! Thầy không tổn gì hết mà mình tổn trước, tu không được, ngồi thiền không được. Lúc ngồi thiền, hình ảnh đó hiện ra, rất là khó tu, vậy là vướng khổ đau về cho mình!

Kinh Pháp Luật Tam Muội ghi:

“Người ngu si ở thế gian chỉ thấy người khác ác mà chẳng tự biết mình ác.”

Người ngu thấy người khác ác mà thấy mình lúc nào cũng thiện. Thấy lỗi người mà không thấy lỗi mình.

“Chỉ thấy mình thiện chẳng thấy người khác thiện. Kẻ tự xưng mình là người trí đều chẳng phải là trí, người tự cho mình sáng suốt là kẻ rất u mê. Người nói tôi biết Kinh cũng là lầm vậy. Người nói tôi biết đại pháp mà chẳng phụng sự Sư trưởng thì chẳng thể tin được.”

Nói ngộ đạo, ngộ thiền gì không biết, mà đối với bậc sư trưởng, đối với bậc thầy có tâm khinh thường thì đó là nói dối.

“Trí Phật rộng lớn chẳng thể đo lường. Người thấy nghe được chút ít cho là đủ rồi sanh lòng cống cao, là người trí được ư?”

Kinh Xuất Diệu Phẩm Quán thứ 24 ghi:

Khéo xét lỗi của mình, lỗi mình chẳng lộ ra; người khác tự có lỗi, như bụi nhỏ tung bay.”

Mình không có, mình lúc nào cũng thiện, cũng tốt hết. Còn lỗi người thì như bụi nhỏ tung bay, cũng thấy hết.

“Nếu tự xưng không lỗi, hai việc đều cùng đến, tức là chẳng thấy lỗi mình mà thấy lỗi người. Hễ thấy lỗi của người, hằng ôm lòng nghi hại, thấy xa chẳng thấy gần.”

Kinh Thiện Cung Kính Phật dạy:

“Đệ tử ở chỗ thầy chẳng đặng nói lời thô. Có lỗi, thầy quở trách chớ nên nói trả lại. Thầy không mở lời hỏi chẳng được vội nói. Phàm thầy sai khiến chớ nên trái mạng. Bằng ở chỗ thầy không có tâm cung kính và nói tốt xấu của sư Tăng, người ngu thế đó phải y pháp trị tội. Hoặc thầy có lỗi còn không nên nói huống chi thầy không có lỗi. Tuy không ở với thầy nhưng không cung kính cũng phải bị đọa làm thân bốn đầu trong địa ngục Trì phát, toàn thân phát ra lửa dữ, tợ như đống lửa đốt mãi không ngừng. Ở nơi ngục ấy lại bị trùng độc nhỏ nhọn như móc câu thường mổ vào lưỡi. Ra khỏi địa ngục sinh làm súc sanh ăn phân cứt. Hết thân súc sanh, tuy được làm người nhưng sinh vào nơi biên địa, màu da đen, người chẳng giống người, luôn bị khinh dễ phỉ báng lăng nhục, xa Phật xa Pháp, mê ám ngu si. Sau khi mạng chung lại đọa địa ngục, chịu vô lượng vô biên khổ nạn.”

“Nếu lỡ phạm giới không được giấu diếm, mau đến trước thầy cầu xin sám hối. Thầy tha thứ rồi tha thiết phát lộ, chân thành hối cải, lại được thanh tịnh. Sám nói đủ là sám-ma nghĩa là nhẫn, tức là mong được người khác tha tội. Hối nghĩa là trung chi hối, hối quá, tức là hối hận tội ở quá khứ, tỏ bày lỗi lầm của mình trước Phật, Bồ-tát, Sư trưởng hay đại chúng với mục đích mong được diệt tội gọi là sám hối.”

Nếu lỡ phạm giới, bất cứ tội gì: trộm cướp, tà dâm, nói dối, vọng ngữ…, không được giấu diếm mà phải mau đến trước Thầy và đại chúng tha thiết cầu sám hối.

Theo Kinh Kim Quang Minh Văn Cú quyển ba, có ba loại sám hối:

1- Tác pháp sám hối:

Sám hối được thực hành theo tác pháp Phổ Luật Nghi. Chẳng hạn phạm giới Tăng tàn, nếu đã thọ giới Tỳ-kheo thì phải đến trước hai chục thầy Tỳ-kheo thanh tịnh sám hối thì tội mới hết. Hoặc phạm tội đột-kiết-la thì quý thầy phải đến trước bốn vị thầy thanh tịnh, gọi là tác pháp sám hối.

2- Thủ tướng sám hối:

Quý thầy phạm tội mà sợ quá không dám đến trước Thầy, cũng không dám đến trước đại chúng thì phải dùng pháp thủ tướng sám hối, là pháp quán tưởng tướng hảo của Phật để diệt tội. Nghĩa là quý thầy phải như lý tác ý vào hình tượng của Phật, 32 tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp.

Như khi Hòa thượng hay quý Thầy lớn bệnh, quý thầy ngồi thiền để hồi hướng công đức. Phải như lý tác ý, lúc này không đoạn trừ vọng tưởng mà tâm thức duyên theo đối tượng, gọi là như lý tác ý vào đối tượng muốn hồi hướng công đức tu tập.

Ngày xưa bà Thanh Đề bị đọa địa ngục, các ngài phải dùng phương pháp như lý tác ý, dùng năng lực mà các vị đã chứng quả A-la-hán rồi tác động đến, thì lúc đó bà mới tỉnh ngộ chuyển hóa.

Phương pháp thủ tướng sám hối cũng vậy, mình như lý tác ý vào hình tượng Phật, tự nhiên thấy hình tượng Phật khác hơn ngày thường. Ngài hiện ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp rõ ràng. Quý thầy quán chiếu thì những hạt giống phiền não, cù cặn rơi rụng hết gọi là đắc pháp nhẫn, lúc này tội chướng mới trừ được.

Quý thầy phạm tội nhỏ, như làm bể ly, bể tách thì đến sám hối với Thầy. Còn phạm trọng tội, chẳng hạn như tội Tăng tàn, thì nhiều khi Thầy không đủ năng lực nên không dám chứa mình. Nhưng mình tha thiết được ở trong chúng, thành ra thực hành thủ tướng sám hối là biến khắp mười phương thế giới thì tội mới dứt, rồi phải nhớ là không được tái phạm.

Phương pháp thủ tướng sám hối rất thù thắng, nếu đủ duyên vào thất là quý thầy phải dùng phương pháp sám hối này. Quán tưởng về đức Phật, về công hạnh của các Ngài, sẽ thấy tại sao công đức của các Ngài lớn như thế, tâm hạnh và đại nguyện của các Ngài rộng như thế mà mình lại quá nhỏ bé, hẹp hòi. Lúc này tâm thức quý thầy sẽ phát triển rộng ra.

Tuy nhiên phương pháp sám hối này phải ngủ nằm mộng thấy hảo tướng của Phật, hoặc thấy Phật xoa đầu, thấy mười phương chư Phật, hoặc ngồi trên hoa sen, bay lên hư không, thấy điềm lành, điềm lạ thì mới hết tội, đây gọi là tội Ba-la-di.

Kinh Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật có nói ai mà thành kính sám hối, tối nằm mộng thấy đi qua một cái cầu lớn là biết mình đã diệt tội một vạn kiếp. Đêm thứ hai, thấy trời mưa là cũng hết tội, rồi thấy được người cho trái cây ăn thì tu hành sẽ thành tựu đạo nghiệp. Rồi mộng thấy, đi vào hội chúng toàn là Bồ-tát thì lúc này mới biết chắc chắn mình được diệt tội.

Phân tích tinh thần sám hối, giống như ra khơi. Đi trên một chiếc thuyền không có buồm thì không đi được. Có buồm thì gió thổi thuyền chạy rất nhanh. Phương pháp sám hối này tiêu biểu cho cái buồm, muốn đi nhanh đến đích là phải cần sám hối.

Ngày xưa, thấy người ta sám hối tôi nói tu thiền cần gì sám hối. Sau này lớn lên, tu một thời gian, bệnh tật, nghịch cảnh, nghịch duyên đến thì thấy rất cần sám hối. Tôi làm nhà khách, nghỉ một ngày, sám hối một ngày, cho nên tôi tranh thủ mười giờ rưỡi sáng lên thiền đường nhà khách sám hối nửa tiếng.

Có lúc đang sám hối tôi phát minh: cái thân ngũ uẩn của mình rất dơ, phiền não, sân si từ vô lượng kiếp, phải dùng nước sám hối súc thì nó mới sạch. Cũng như cái ly dơ phải rửa sạch thì mới rót nước uống được. Cái bình ngũ uẩn được súc sạch rồi thì chánh định, chánh thọ và đại định, đại pháp mới rót vào được. Tôi thấy vậy nên khuyên quý thầy phải cần sám hối. Sám hối rồi thân tâm nhẹ nhàng, an ổn. Tuy nhiên, phải biết phương pháp chứ không phải lên sám mà không biết gì. Phương pháp sám hối nó có tướng, nhưng từ tướng nó đi vào cái vô tướng chứ không phải như thiền định.

3- Vô sanh sám hối:

Là pháp sám hối bằng cách quán lý thật tướng, nhớ nghĩ tướng của tội là vô sanh:

Tánh tội vốn không do tâm tạo,

Tâm nếu diệt rồi tội sạch trong.

Tội trong tâm diệt cả đều không,

Thế ấy mới là chơn sám hối.

Tức là quán chiếu đến mức độ tánh tội đều là rỗng không thì tội dứt. Cần phải sám hối phương pháp này cho thuần thục. Mỗi ngày tụng kinh xong quý thầy nên bỏ ra khoảng 10 đến 15 phút thực tập phương pháp sám hối này. Quán chiếu sâu sắc “Tánh tội vốn không do tâm tạo” để khi hấp hối, những tội từ vô lượng kiếp không hiện ra, không tạo tác, không đưa quý thầy đến cảnh giới dữ, không đọa vào ba đường ác. Dù cho quá khứ chúng ta phạm giới mà nhờ phương pháp này, tương lai cũng được sạch tội, bởi vì tội nó vốn không, giống như đám mây vậy. Tuy nhiên phải nhớ, sám hối rồi không được tái phạm chứ sám, mà vẫn tạo là không được.

Trong Kinh Tịnh Nghiệp Chướng có ghi:

Vào thời quá khứ rất xa xưa có một Tỳ-kheo tên Dõng Thi, vô tình phạm bốn trọng tội căn bản trong giới cấm của Phật là sát sanh, trộm cắp, dâm dục và nói dối. Ngài biết chắc chắn sẽ đọa địa ngục nên đem ba y treo lên tích trượng rồi kêu lên:

– Tôi phạm trọng tội, ai vì tôi mà sám hối?

Ngài xướng như thế nhưng không ai dám sám hối cho.

Mình đừng nghĩ, có tội gì cũng đứng trước thầy trình hết, để rồi thầy tha. Thầy nghe vậy hoảng luôn không dám chứa nữa. Người mà đứng ra sám hối cho mình toàn là những bậc đại Bồ-tát.

Ngài đến tinh xá gặp một vị tôn giả tên là Tỳ-cúc-đa-la, tôn giả nói:

– Truy tìm tánh của tội trọn không thể được.

Tỳ-kheo Dõng Thi hoát nhiên suốt thân đại ngộ, liền qua thế giới phương Nam thành Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác hiệu là Bảo Nguyệt Như Lai cho đến mãi ngày hôm nay.

Tại sao ngài không sanh về phương Bắc, phương Tây, phương Đông mà lại về thế giới phương Nam? Phương Nam tiêu biểu cho cung Ly, Ly thuộc Hỏa, Hỏa thuộc về tâm, nhận ra được tâm thức thì xong. Sau khi ngộ được tâm thức của mình, tìm lại “Ba thuở tìm tâm, tâm chẳng được; Tấc lòng kiến vọng, vọng hoàn không” thì đúng. Tìm lại thì không thấy mà ngay lập tức ngộ đạo, chứ không phải bay về phương Nam thành Phật.

Thường xuyên sám hối như thế, khi cận tử nghiệp đến phải nhớ. Phạm bốn trọng tội mà khi ngộ được tâm thức, nhìn lại tìm nó không có, không có thì hết tội. Mà phải là người đại dõng mãnh, đại tinh tấn mới được.

Như câu chuyện Ngài Duy-ma-cật khai thị:

Có hai thầy Tỳ-kheo đi khất thực, một người vào rừng đang nằm ngủ thì bị cô gái đốn củi đi ngang thấy vậy đến hành dâm.

Ngày xưa, coi đến đoạn này tôi không tin. Sau này tôi có người em tu bên Khất sĩ biết, mặc cái y hạ mà giở lên là thấy hết.

Thầy Tỳ-kheo bị cô gái đến hành dâm rồi giựt mình dậy thấy đồ bất tịnh dính trên người nên kể cho thầy Tỳ-kheo bạn vừa về nghe. Người này nghe xong bèn rượt theo cô gái, cô sợ quá rớt xuống hố chết. Hai thầy đến ngài Ưu-ba-ly trình thì Ưu-ba-ly nói:

– Một ông phạm tội dâm, một ông phạm tội sát, sẽ đọa địa ngục, tôi không dám sám hối.

Ngài Duy-ma-cật quán sát căn cơ hai Tỳ-kheo này tu tập đại thừa đã lâu, đâu đem nước biển cả mà đựng vào dấu chân trâu được, cho nên ngài khai thị:

 Xét cùng tột thì tánh của tội hoàn toàn không thể tìm được, không ở trong, không ở ngoài, không ở chặng giữa. Mé trước chẳng đi, mé sau không lại, mé giữa không dừng, truy tìm trong ba khoảng thời gian hoàn toàn không thể được.

Ngay tức khắc hai vị Tỳ-kheo ngộ nhập được tri kiến Phật và phát tâm đại thừa dũng mãnh, sau này thành Phật.

Qua câu chuyện này, quý thầy thấy người ngủ như vậy có phạm tội không? Tại cô gái đốn củi đi ngang qua thấy, rồi vào chứ thầy Tỳ-kheo có rủ rê gì đâu. Rồi người rượt theo chỉ muốn hỏi cho ra sự tình chứ đâu có nói là rượt cho chết, không ngờ cô gái sẩy chân chết. Theo tinh thần của Nguyên thủy thì chắc chắn một người phạm tội dâm và một người phạm tội sát, nhưng mà tìm tột cái tánh tội thì không có. Đây là phương pháp vô sanh sám hối.

Theo Tứ Phần Luật Yết Ma Sớ, sám hối chia làm ba loại:

1- Chúng pháp sám hối:

Thực hành sám hối trước Tăng chúng từ bốn vị trở lên.

2- Đối thú sám hối:

Thực hành sám hối trước một vị Sư trưởng.

3- Tâm niệm sám hối:

Thực hành sám hối trước Bổn Tôn, tức là trước hình tượng Phật.

Theo Kinh Đại Thừa Lục Tình Sám Hối, Phật dạy:

“Sám hối trước hình tượng Phật phải niệm công đức chư Phật không thể nghĩ bàn, thường tư duy thật tướng thì tiêu trừ chướng nghiệp.”

Đến trước tượng Phật Thích-ca Mâu-ni phải niệm công đức chư Phật, người ta xin mắt cho mắt, xin đầu cho đầu, xin cái gì cho cái nấy. Tất cả công đức lành của chư Phật làm, quý thầy phải biết, phải nhớ. Lúc này quán chiếu công đức của chư Phật không thể nghĩ bàn. Rồi tư duy thật tướng của Phật, mà tư duy thật tướng thì thể nhập vô tướng, thể nhập vô tướng thì tiêu trừ chướng nghiệp.

“Quy mạng phổ khắp lục đạo chúng sanh không bờ mé, quy mạng mười phương vô lượng chư Phật. Chư Phật chẳng khác mà cũng chẳng một, một tức tất cả, tất cả tức là một.”

Có nghĩa là như lý tác ý, là quán tưởng một vị Phật, rồi thấy hằng hà sa số chư Phật trước mặt, trong hằng hà sa số mới nhập lại thành một. Đây là quán chiếu về sự.

“Tuy không có chỗ trụ mà thảy đều trụ, tuy không có chỗ làm mà thảy đều làm. Mỗi mỗi tướng hảo, mỗi mỗi lỗ chân lông biến khắp vô biên cõi tận đời vị lai, không chướng, không ngại, không có sai khác, giáo hóa chúng sanh không có dừng nghỉ.”

Quán chiếu từng lỗ chân lông của đức Phật, thấy những lỗ chân lông của Phật biến chiếu ra khắp tam thiên đại thiên thế giới.

“Vì cớ sao? Vì mười phương thế giới một trần một niệm, sanh tử Niết-bàn không hai không khác. Đại Bi, Bát-nhã chẳng thủ chẳng xả, được thì chẳng cùng pháp tương ưng. Nay đối với chỗ này là thế giới Hoa tạng, Phật Lô-xá-na ngồi trên đài Liên Hoa phóng vô biên ánh sáng, nhóm vô lượng chúng sanh, chuyển bánh xe pháp đại thừa mà không có chỗ chuyển, đại chúng Bồ-tát biến khắp mười phương cảm thọ vui thích chánh pháp đại thừa mà không có chỗ cảm thọ.”

Mình rúng động, có một sự cảm thọ trong lúc sám hối mà không chấp vào đó thì đúng tinh thần thủ tướng sám hối.

“Các tội như thế chẳng có thể biết hết. Chư Phật, hiền thánh vì con chứng biết, các tội đã làm thật tâm sám hối, chỗ chưa làm lại không có dám làm. Các tội này thật không có chỗ có, các duyên hòa hợp giả danh làm nghiệp.”

Sau khi quán chiếu thật tướng về sám hối rồi, những tội mình đã làm bây giờ không tiếp tục tạo nữa, mới dứt hết tâm sám hối.

“Thầy nói chưa xong không được nói, nghĩa là thầy nói chưa xong không được cắt ngang để nói ý mình. Bởi ấy thầy không dạy nữa mình mất lợi ích, lại mất sự tôn kính. Cũng không được nói lý tranh hơn thua.”

Nghe qua thấy đơn giản, nhưng trong Kinh Tạp Thí Dụ Phật kể:

Trong Tăng Đoàn có một thầy Tỳ-kheo hay cướp lời các vị trưởng lão. Chẳng hạn trưởng lão Xá-lợi-phất, trưởng lão Mục-kiền-liên đang nói Phật pháp thì vị thầy đó cướp lời. Nhân đó Phật kể câu chuyện:

Ngày xưa ở vương quốc nọ, có một vị tể tướng hay cướp lời vua nên vua rất phiền lòng. Một hôm, vua đi vào rừng, gặp một chú bé bị liệt hai chân nhưng có tài búng sỏi rất chính xác. Vua thấy hay quá nên mời về cung. Vua sắp xếp một buổi họp quan trọng, bảo chú lấy phân dơi và dặn:

– Khi nào Trẫm đang nói chuyện mà quan tể tướng chen vào, thì cho phép nhà ngươi búng một cục phân dơi vào miệng vị tể tướng.

Quả tình, khi vua đang nói thì quan tể tướng cướp lời. Vừa mở miệng, chưa kịp nói thì bị chú bé núp sau cái màn, bí mật búng một cục phân dơi vào miệng. Vị tể tướng rất đỗi ngạc nhiên, sau buổi họp đến thưa với vua:

– Hôm nay không hiểu tại sao mỗi lần thần mở miệng định nói thì có một vật gì rất nhỏ bay vào họng.

Vua cười nói:

– Vì khanh hay nói hớt lời, nên ta mới bí mật làm như thế, như thế…

Người hay nói hớt lời người khác thì không được lợi ích như những người lắng thần nghe, giống như vị quan tể tướng, chẳng những không được lợi ích mà còn đau khổ. Có người nói chuyện mà mình lắng thần nghe, dù người ta nói hay, nói dở gì, tự mình cũng có một cái pháp an lạc riêng của mình.

Bữa nọ tôi dắt thầy Công Phúc đi mổ mắt, vào bệnh viện gặp một vị cư sĩ. Vị này nói về Phật giáo, về thiền rất hay, cũng có nghiên cứu sách của Hòa thượng. Như ngày xưa, họ vừa nói là tôi muốn nói theo, còn bây giờ tôi lắng thần chiêm nghiệm. Cho dù mình biết chắc rằng người đó công phu chưa có gì, nhưng họ nói về Phật pháp, về chánh pháp, về chỗ thấy của họ thì mình đừng chen vào, đừng nói gì hết, chỉ lắng thần nghe thì cũng được lợi ích trong cuộc sống tu hành. Còn hay tranh cãi là không lượm lặt được những pháp hành của người cư sĩ, không biết họ hành như thế nào để rút tỉa kinh nghiệm và truyền đạt cho người khác.

Nếu có người bạn đồng tu đến chia sẻ giáo pháp với mình, quý thầy cứ chịu khó lắng nghe. Gặp người có chiều sâu tâm thức, hoặc hay hơn, hoặc không hay hơn thì mình cũng chịu khó thực tập và sửa chữa. Còn người ta vừa nói, mình đã muốn cướp lời, về nhà họ phiền não, rồi mình cũng biết sai nên luôn bị trạo cử hối hận. Cho nên lắng thần nghe thì mình được lợi lạc, huống chi là nghe thầy Tổ của mình.

Tinh thần của Bồ-tát Quán Thế Âm là tinh thần lắng nghe. Có người nào đó đến tâm sự, mình phải tập như Bồ-tát Quán Thế Âm, lắng nghe nỗi niềm đau khổ của chúng sanh. Quý thầy một khi làm trụ trì phải tập phương pháp này. Hoặc làm nhà khách mà không lắng nghe, không chia sẻ nỗi khổ của người khác thì không thể nào làm tròn được. Qua thời gian nhập thất, rồi làm Phật sự, làm nhà khách tiếp xúc rất nhiều người, bây giờ tôi có chỗ thấy khác hơn ngày xưa. Chịu chịu khó lắng thần nghe, và nghe trong chiều sâu thẳm của tâm thức, có cái chiếu diệu vào thì tu rất nhẹ nhàng, an ổn.

Thiền thoại có ghi:

Thiền sư Nam Lợi lúc còn là Sa-di, đến cầu thiền sư Mạc Lôi chỉ về công án Tiếng Vỗ Một Bàn Tay. Đây là công án của thiền sư Bạch Ẩn, một vị thiền sư rất nổi tiếng. Bởi vì ngài thấy chư Tăng ngày nay học hỏi rất nhiều, chính cái học hỏi đó là kiến thức, là ý thức sanh diệt. Ý thức sanh diệt thì chia chẻ, phân biệt, là khái niệm, trừu tượng mà không đạt đến chỗ tâm thức của ngộ. Thiền đòi hỏi phải ngộ, phải thấu suốt chiều sâu tâm tức, hoặc thân, hoặc tâm hoặc pháp giới. Mà bây giờ học nhiều quá, đó là chướng ngại cho đường công phu. Cho nên ngài đưa ra công án Tiếng Vỗ Một Bàn Tay. Một bàn tay làm sao vỗ?

Vị Sa-di này tức là ngài Nam Lợi đến thỉnh thiền sư Mạc Lôi:

– Bạch Hòa thượng! Cho con một công án.

Thiền sư Mạc Lôi nói:

– Ông hãy về lắng thần nghe tiếng vỗ của một bàn tay.

Chú Sa-di mới mười ba, mười bốn tuổi nhưng có căn khí rất cao, lúc đang ngồi thiền chú phát hiện ra điều gì, vui mừng đến gặp thiền sư:

– Bạch Hòa thượng! Con đã nghe được tiếng vỗ của một bàn tay.

– Ông nghe cái gì?

– Bạch Hòa thượng! Con nghe tiếng nhạc khí diễn tấu.

– Không phải.

Chú Sa-di về công phu tiếp, ba tháng sau lại đến gặp thiền sư:

– Bạch Hòa thượng! Con biết rồi, con hiểu rồi.

– Ông hiểu như thế nào?

– Bạch Hòa thượng! Con nghe tiếng nước suối chảy.

Thiền sư cũng nói không phải. Sau đó chú Sa-di tiếp tục đến trình: nghe tiếng gió, tiếng dế, tiếng mèo gào…, nghe tiếng gì chú cũng đều cho là tiếng vỗ một bàn tay, gần ba năm liên tục như thế. Tất cả các tiếng thiền sư đều lắc đầu. Đến năm mười tám tuổi, chú Sa-di quyết định rời tất cả, rời Thầy Tổ, huynh đệ vào ẩn sâu trong núi tu. Một hôm chú siêu việt tất cả âm thanh và chợt nhiên đại ngộ. Ngài nói: “Té ra âm thanh của thế gian đều là vô thường, chỉ có âm thanh mà không có tiếng mới thật là tiếng vỗ của một bàn tay.”

Đến trình thì thiền sư gật đầu:

– Đúng! Đó là tiếng vỗ của một bàn tay.

Té ra âm thanh của thế gian đều là vô thường. Lời của thầy, của huynh đệ mình nói ra, hoặc khen, hoặc chê, quý thầy nghiệm xem có đúng là vô thường không? Nhưng mà vừa khen hay chê là ý thức nắm bắt liền. Cái ý thức nắm bắt đó nó có tướng, chính cái tướng đó làm chúng sanh chìm đắm trong ba cõi tham, sân và si. Đó là cảnh của Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.

Ở đây, ngài nghe được trong cái âm thanh đó, hoặc tiếng khen hoặc tiếng chê, tiếng suối chảy hoặc tiếng gió, tiếng dế, tiếng trùng… đều là vô thường. Chỉ có âm thanh không có tiếng mới thật là tiếng vỗ của một bàn tay. Một vị thiền sư người Nhật nói: “Trong các thứ âm thanh, chỉ có âm thanh im lặng là vi diệu nhất.”

Có lúc nào đó, quý thầy ngồi lắng thần chiêm nghiệm, cái nghe, cái bị nghe đồng thời có mặt trong giờ phút thực tại, là lúc mình cảm nghiệm: “A! Trong thế giới này có một cái vi diệu vượt bực” thì đúng tinh thần thiền. Mình tu, mình tin chắc rằng có lúc nào đó chợt nhận ra được. Chư Phật chư Tổ chỉ cho mình biết là của nơi mình chứ không đâu khác hết, cho nên gọi là chợt nhận ra. Chợt nhận ra thì khác ngộ ra. Ngộ ra là cái gì bên ngoài, còn chợt nhận ra được, là nó có sẵn.

Không có vọng tưởng, không phân biệt gì hết thì cảnh giới rất an ổn. Chính cái yên lặng là vô niệm, mà vô niệm luôn luôn có sẵn. Đa niệm thì bên ngoài, là phóng tâm. Thiền nguyên thủy quán sát rất tường tận, khi đóng cửa biết đang đóng mạnh hay nhẹ, tâm thức duyên vào, quán chiếu, biết đang thực tập. Cửa mà đóng cái rầm thì trong giờ phút thực tại đó đang phóng niệm. Phóng niệm liên tục thì không bao giờ ngộ được chỗ tiếng vỗ của một bàn tay. Cho nên, công phu oai nghi thấy đơn giản, nhưng toàn bộ đều nằm trong cảnh giới thực tập quán niệm về thân, quán niệm về tâm.

“Chẳng được ngồi chơi chỗ thầy, cùng mặc áo mão của thầy.”

Sa Di Học Xứ ghi:

“Đệ tử thọ học phải tôn kính chỗ của thầy, hoặc dùng cái tâm đùa giỡn mà ngồi thì tội lỗi chẳng ít. Kính chỗ ngồi của thầy tức là kính thầy vậy. Phàm thân cận với sư trưởng phải ôm lòng tôn kính.”

Đây là chỗ thị giả cần phải học. Kính thầy, phải kính cả chỗ ngồi của thầy. Ghế của những vị tôn túc ngồi quý thầy dám ngồi lên không? Ghế hoặc võng của Hòa thượng, của thầy Trụ trì mình ngồi lên thì mất sự tôn kính. Hòa thượng đâu có quở mình, nhưng vì các ngài luôn luôn có những vị hộ pháp theo, trong những đó có ông thiện và ông ác. Ông thiện thì bỏ qua nhưng ông ác thì không chịu.

Chính chúng tôi chứng kiến, và để ý theo dõi, ngày xưa ở Thường Chiếu có một thầy đố như thế này:

– Đố ai dám ngồi ghế Hòa thượng?

Một thầy khác nói:

  • – Ngồi thì ngồi chứ sợ gì!

Nói rồi vị thầy này leo lên ngồi. Thấy rất đơn giản, nhưng trong giờ phút thực tại đó có cái gì chen vào? Có cái ngã! Nếu vô tình ngồi lên ghế thầy Trụ trì thì đâu có gì, nhưng nghe thách đố mà ngồi là có cái ngã mạn nằm trong đó. Chính cái ngã mạn nó chiêu cảm quả báo xấu. Một thời gian sau vị này tu không được phải ra đời. Ra đời rồi khổ nên lại đến một ngôi chùa ở thành phố xin làm công quả để sau này xuất gia. Sân thượng của ngôi chùa này nhìn qua cái sân banh. Một hôm trong lúc xem đá banh trên sân thượng, vị cư sĩ này vỗ tay la lên rồi rớt từ sân thượng xuống đất chết! Ba năm sau mới chiêu cảm quả khổ này, còn lúc mới làm thì không ai thấy hết.

Cho nên kính thầy là phải kính cả chỗ ngồi của thầy.

Thiền thoại có ghi:

Thiền sư Phật Quang khi thuyết pháp khai thị đồ chúng thường ngồi trên bảo tòa. Bảo tòa tượng trưng cho pháp, tiêu biểu cho ngộ, do đó bảo tòa còn gọi là pháp tòa. Một hôm Thiền sư đi vắng, pháp tòa trống trải không ai ngồi. Vị thị giả vào thấy thầy tri khách, thầy tri sự, thầy duy-na, thầy hương đăng, rồi thầy y bát, thầy điện chủ đến ngồi trên pháp tòa nói cười, đùa giỡn. Vị thị giả không vui nói:

– Tại sao các ngài vào đây ngồi?

Các vị này trả lời:

– Thiền sư vắng nhà thì ngồi chứ có gì đâu!

Thị giả nói:

– Thiền sư không có ở nhà, vậy thì các thầy thay mặt thiền sư làm Trụ trì, trước hết mời các thầy khai thị tiếp tâm cho tôi.

Lúc này các thầy không đáp được.

Qua câu chuyện này mình thấy: pháp tòa của một vị Hòa thượng đàng đầu, của một vị Trụ trì, cho dù sau này đủ duyên tiếp tâm độ chúng, cũng không được lên pháp tòa ngồi cái ghế của các ngài, huống nữa là ngồi trên đó nói chuyện.

Áo mão của thầy cũng không được mặc, ly nước của Hòa thượng đàng đầu cũng không được cầm uống. Cái bát, cái quạt, cái nón, cái khăn, bất cứ vật dụng nào của các ngài cũng đều tiêu biểu cho pháp, tiêu biểu cho ngộ, để mà thờ kính chứ không được dùng. Khi các vị thị giả đem cho đồ dùng của các vị Thầy lớn, chẳng hạn đôi giày hoặc cái y, cái áo của Hòa thượng… người nhận chỉ đem về thờ thôi chứ không dám mang, không dám mặc. Như vậy mới đúng là kính dường bậc sư trưởng. Mình không biết mình mặc, mình mang… đều bị tổn phước. Cho nên tinh thần Hai Mươi Bốn Oai Nghi, quý thầy làm thị giả cho những bậc tôn túc cần phải học kỹ.

“Thầy dạy đem thơ tín chẳng được riêng mình mở coi, cũng chẳng được cho người khác coi. Đến khi có hỏi đáng trả lời thì cứ thật tình mà trả lời, không đáng trả lời thì khéo lời mà lui. Người cầm không được ở lại, phải một lòng nhớ Thầy mà trông về.”

Bây giờ thư bỏ bưu điện nên không có chuyện này. Nhưng ngày xưa toàn đi bộ, có khi phải đi cả năm. Thầy dạy đi đưa thư thì không được mở ra xem, điều này oai nghi không cho phép. Hoặc trên đường đi có người chận lại hỏi, mình nói đem thư của thầy, người ta tò mò đòi xem, mà mở ra cho xem là không đúng. Các ngài đưa thư, có trường hợp là nhờ đạo hữu khai thị cho đệ tử, hoặc xem người đệ tử đó đã ngộ nhập được chưa. Các ngài biết, nhưng muốn để người bạn mình khám phá nữa.

Trong Thiền Sư Trung Hoa Tập Một có ghi câu chuyện:

Khi Thiền sư Thanh Nguyên sai thiền sư Hy Thiên đem thơ sang thiền sư Hoài Nhượng, ngài dặn:

– Ngươi giao thơ xong về thật nhanh, ta có một chiếc búa nhỏ để cho ngươi ở núi.

Hy Thiên đến Thiền sư Hoài Nhượng, chưa trình thơ đã nói như thế này:

– Khi chẳng mộ chư Thánh, chẳng trọng tánh linh mình thì thế nào?

Thiền sư Hoài Nhượng đáp:

– Ngươi hỏi tột cao xanh, sao không hỏi trở xuống?

Thiền sư Hy Thiên trả lời:

– Thà chịu vĩnh kiếp trầm luân chứ chẳng mộ chư Thánh giải thoát.

Thiền sư Hoài Nhượng gật đầu, nói người này đã ngộ, được quyền ở núi.

Thiền sư Thanh Nguyên sai đem thơ là để Thiền sư Hoài Nhượng kiểm nghiệm đệ tử của mình. Qua câu chuyện đối đáp này, mình thấy đâu có gì mà sao nói ngộ? Thiền sư Hy Thiên nói: “Khi chẳng mộ chư Thánh, chẳng trọng tánh linh mình thì thế nào?” Nếu mình chưa phải là chủ, mà chỉ là khách tăng hay thiền khách, chưa ngộ thì mình sẽ trả lời như thế này như thế nọ. Nhưng Thiền sư Hoài Nhượng đã gài bẫy Thiền sư Hy Thiên: “Ngươi hỏi tột cao xanh, sao không hỏi trở xuống?” Hỏi tột cao xanh là cao, sao không hỏi trở xuống là thấp. Nghĩa là giữa cái cao, cái thấp mình phải siêu việt, phải tột đến cảnh giới này. Thiền sư Hy Thiên trả lời: “Thà chịu vĩnh kiếp trầm luân chứ chẳng mộ chư Thánh giải thoát” thì vượt thoát, mà vượt qua cảnh giới đó thì Thiền sư Hoài Nhượng gật đầu.

Thiền sư Hy Thiên về đến chùa, Thiền sư Thanh Nguyên hỏi:

– Ngươi đi không lâu, đem thơ đến chăng?

Thiền sư Hy Thiên đáp:

– Kinh cũng chẳng thông, mà thơ cũng chẳng có đến.

Ngài đưa thơ rồi mà nói như vậy, ở đây là cảnh giới gì? Là cảnh giới của Kim Cang Bát-nhã: “Vô sở tùng lai diệc vô sở khứ cố danh Như Lai.” Có nghĩa là chẳng từ đâu đến, chẳng đi về đâu, đó là người đem thơ chân chánh. Người được Thầy sai đưa thơ không phải tầm thường, mà thầy muốn người bạn gạn lại đệ tử của mình xem cái cảnh giới đó đệ tử đến như thế nào, tột như thế nào.

Hy Thiên thuật lại việc gặp Thiền sư Hoài Nhượng cho Thiền sư Thanh Nguyên nghe, và thưa:

– Khi đi nhờ Hòa thượng hứa cho chiếc búa, tiện đây xin nhận lấy.

Sư liền duỗi một chân, Hy Thiên lễ bái và từ đó từ giã về núi tu.

Thấy duỗi một chân mình ngạc nhiên: “Con xin Thầy chiếc búa mà Thầy duỗi chân chi vậy?” thì trật rồi. Nhưng ở đây vừa duỗi một chân lễ bái liền.

Qua câu chuyện này, nhớ chuyện lúc Thế Tôn nhập Niết-bàn rồi, tôn giả Ma-ha Đại-ca-diếp vừa đến lễ lạy thì Thế Tôn duỗi chân ra, đâu khác gì đưa cành hoa sen lên. Tức là cái thấy chiếu diệu vào trong cảnh giới Bát-nhã. Trong cảnh giới này cũng chính là tiếng vỗ của một bàn tay.

Vừa duỗi chân ra lễ bái liền, đó là công nhận ông ngộ rồi, có quyền ở núi. Bây giờ quý thầy mới tu chừng một, hai năm gì đó tự nhiên cất cốc ở núi rất là nguy hiểm. Ngày xưa ngộ nhập vào chỗ tri kiến Bát-nhã rồi, các ngài thấy tột được rồi mới dám cho ở núi. Còn chưa ngộ mà ở núi thì sanh tâm sân hận và chìm đắm trong dục lạc.

Kinh Thập Giới nói:

“Phải đi ngay về thẳng, phải nhớ lời thầy dặn, và cũng phải nhớ lời người nói để về thưa lại với thầy.”

Thiền thoại có ghi:

Thiền sư Tông Nguyên được Thầy là Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo sai đi đưa thơ cho vị quan thượng thư. Ngài buồn không muốn đi và than:

– Tham học hai mươi năm chưa ngộ, bây giờ còn phải đi xa nữa.

Thiền sư Đạo Khiêm nói:

– Ông cứ đi đi, tôi sẽ đi theo ông. Trên đường đi nếu cần làm việc gì tôi sẽ làm thay, nhưng ngoại trừ năm điều tôi không làm thay được: thứ nhất là mặc áo, thứ hai là ăn cơm, thứ ba là đại tiện, thứ tư là tiểu tiện, thứ năm là bước đi. Ngay trong giờ phút đó thiền sư Tông Nguyên đại ngộ, ngài vui vẻ bình thản ra đi. Ngài đi đưa thơ năm tháng trở về, từ xa Thiền sư Tông Cảo Đại Huệ nhìn khuôn mặt người đệ tử biết là đã đại ngộ, đã trút được gánh nặng rồi.

Thiền sư Đạo Khiêm khai thị: Tôi làm gì cũng được nhưng mặc áo anh phải tự mặc. Mặc áo biết đang mặc áo, ăn cơm, đại tiện, tiểu tiện, bước đi đều theo dõi tiến trình tâm niệm của tâm thì tu rất có kết quả.

Ngày xưa, bên Trung Quốc, chiều lại người đệ tử vào thất Hòa thượng trình kiến giải một ngày tu tập. Thầy hoặc đánh, hoặc hét, khai thị thì mới ngộ được. Bây giờ, vào thất dù chỉ hai mươi mốt ngày cũng phải trình để cho thầy chỉ, mà trình công phu tức là có tu. Dầu cho công phu dở cách mấy cũng phải trình. Ngày xưa chúng tôi nhập thất ba tháng, mà nửa tháng phải ra trình Hòa thượng rồi: “Công phu con đến giai đoạn này tự nhiên bế tắc, xin Hòa thượng chỉ giùm.” Hòa thượng chỉ, rồi tu rất là tiến.

Năm 1998, lúc đó vào thất như phong trào vậy, người nào cũng hồ hởi. Vào thất là công phu hết cỡ chứ không phải vào mà ăn rồi ngủ. Ai vô thất rồi ra đều thấy mình được tu giống như mười năm, hai mươi năm, con người tự nhiên chuyển đổi. Tuy ở ngoài lăng xăng, lộn xộn, nhưng vào thất chuyển hóa được rất nhiều. Những niệm tham dục, sân hận, ích kỷ, tật đố… ở ngoài bận rộn không thấy nhưng vào thất ngồi yên lặng nên thấy rất rõ. Lúc đó mới đứng vững và chuyển hóa nội tâm của mình.

Có một thầy nhập thất ba tháng xong ra nói: “Mình ngày xưa ở ngoài do không biết nên làm việc nhiều quá rồi đụng rất nhiều người. Bây giờ ra đây mình thấy ngày xưa mình sai rất nhiều.” Bao nhiêu đó thôi là đã ngộ rồi. Ngộ ra được tình người, hoặc nói, ngộ ra được pháp giới tánh, nó phải là trong trạng thái như thị. Đó là ngộ rồi, đâu cần nhiều.

“Thầy nói chuyện với khách, ta đứng chỗ thường là hoặc bên thầy hoặc sau thầy, phải cho tai mắt tiếp nhau hầu thầy khi cần dùng.”

Sa Di Học Xứ ghi:

“Bình thường hầu thầy phải hết lòng cung kính để trọn hiếu đạo.”

Bộ Thành Phạm ghi:

“Phàm thấy khách đến phải sanh tâm cung kính, đừng sanh tâm biếng lười và khinh dễ. Phải lau ván, nấu trà và các việc.”

Các vị thị giả phải nhớ chỗ này.

Thiền sư Từ Thọ Thanh có ghi:

Dưới hiên gặp Tăng cần hỏi thăm,

Trước cửa gặp khách mời gọi nhau,

Xuất gia hình thái nên khiêm nhượng,

Chớ học người ngu lễ số không.

Quý thầy làm nhà khách, tri khách hoặc làm thị giả, nếu gặp một vị tăng hay vị khách nào đó đến Thiền viện, mình phải xá xuống hỏi: “Thầy ở đâu đến? Đến đây cần chuyện gì? Thầy ăn cơm chưa?” Tiếp đón niềm nở thì mình tăng trưởng công đức. Có một hôm khoảng mười hai giờ rưỡi trưa, tôi gặp bốn vị thầy ở Sài Gòn lên, tôi xá xuống hỏi quý thầy ở đâu đến, dùng cơm chưa. Quý thầy nói chưa, tôi lật đật dọn bốn phần cơm mời quý thầy. Hỏi ra mới biết quý thầy là những vị có năng lực lớn trong tăng đoàn hiện nay.

Mình tiếp duyên, mình ân cần thăm hỏi tự nhiên họ có cảm tình. Còn mình không tiếp đón niềm nở, thứ nhất mình tổn đức, thứ hai họ chê trách Thiền viện, cho là Hòa thượng hay Thầy Trụ Trì dạy thế nào mà quý thầy không có oai nghi phép tắc, lễ nghĩa gì hết.

Xuất gia hình thái nên khiêm nhượng. Không phải mình xá, mình hỏi thăm, mời cơm rồi người ta cúng dường. Đừng nghĩ như thế. Đem tâm khiêm nhường, tâm học hỏi, tâm vì lợi ích chung ra tiếp người thì trước hết mình có phước đức. Không phải một bữa cơm mà họ cúng dường, họ thấy tâm mình ân cần, niềm nở, khiêm nhường nên tự nhiên họ có tâm với mình. Họ đến xin cúng dường tôi, tôi nói quý thầy lên cái chuông ở Tam bảo, cúng dường bao nhiêu tùy hỉ.

Chớ học người ngu lễ số không. Lễ Phật lễ Tổ thành kính lắm mà không chịu thực tập thì cũng như số không thôi, không được gì hết. Tu mới là quan trọng, rất quan trọng!

“Thầy có tật bệnh, mọi việc hết lòng nuôi dưỡng: phòng nhà, mền nệm, thuốc thang, các việc điều trị.”

Thầy có bệnh phải hết lòng săn sóc. Như lúc Hòa thượng bệnh, không chỉ Thiền viện Trúc Lâm mà tất cả các Thiền viện: Thường Chiếu, Viên Chiếu, Linh Chiếu, Phổ Chiếu… đều lo hết. Vì sao?

“Thầy chính là cha mẹ của pháp thân.”

Cha mẹ mình sanh ra thân này nhưng thầy Tổ sanh ra pháp thân.

“Con trẻ ở thế gian chẳng có thể một ngày mà không có cha mẹ.”

Thầy bệnh mình cũng rất lo, mình tưởng mình thương Thầy chứ thật ra mình thương chính mình. Mới xuất gia mà thầy ra đi thì ai nuôi mình? Chắc gì sư huynh nuôi mình bằng thầy. Người xưa nói mình chỉ ở được với thầy thôi, chứ đến tá túc với sư huynh, sư đệ không chắc được đâu, ở cho vui một hai năm rồi cũng ra đi. Còn với thầy ở cả đời cũng được. Bị bất cứ lỗi nhỏ nào, thầy cũng bỏ qua. Chẳng hạn mình ăn cắp, thầy kêu lên rầy rồi thôi, vì thầy có lòng thương, bây giờ đuổi nó biết đi đâu. Nhưng mà sư huynh thì không bỏ qua đâu. Mình ở với Hòa thượng, với thầy Trụ Trì được, nhưng nếu sư huynh hay sư đệ lên làm trụ trì thì có chắc mình ở được hay không. Chừng đó khó lắm, tôi kinh nghiệm bản thân rồi.

Ngày xưa trong chúng có một số người lớn tuổi, chùi cầu tiêu không được, quét sân không được, mà cũng không chịu học, không chịu tu. Tôi nói thầy ráng tu, ráng học đi, tuy không làm gì được nhưng kiến thức có, tu tập có, ngồi thiền hai tiếng được, rồi thầy sẽ đôn lên. Lớn tuổi đời, năm mười tuổi đạo rồi mà hỏi đạo pháp không biết, ngồi thiền hai tiếng cũng ngồi không nổi. Nhìn xuống đàn em mình ngồi thiền hai tiếng khỏe re, hỏi Phật pháp, kiến giải gì nó cũng biết hết nên buồn tủi ra đi.

Cho nên Thầy chính là cha mẹ của pháp thân. Con trẻ ở thế gian chẳng có thể một ngày mà không có cha mẹ. Mình rất cần Thầy. Tôi làm nhà khách, người ta đến cúng dường lúc nào cũng cúng dường Hòa thượng hoặc thầy Trụ trì để nuôi chúng, chứ không bao giờ cúng dường cá nhân. Cho nên phải nhờ Thầy, mình mong Thầy sống lâu để mình nương cho tới trưởng thành.

“Mà con trẻ xuất thế chẳng có thể một ngày không có Pháp sư trưởng.”

Luôn luôn phải nhờ thầy nhắc nhở. Tôn kính thầy nên thầy nói mình mới nghe, còn sư huynh sư đệ nhắc nhở thì không nghe đâu.

“Nên kính thuận Pháp Sư trưởng như vị cha mẹ, nếu có bệnh tật phải dụng tâm điều trị. Hoặc trong lúc Thầy bệnh có trách mắng cũng phải vui vẻ mà nhận chịu. Thủy chung phụng sự chớ sanh chán bỏ. Phải niệm thân là gốc khổ, có thân thì phải khó thoát khỏi cái bệnh tật này. Phải quán niệm như thế thì mới hầu Thầy chu đáo.”

Ngài Liên Trì kể:

Pháp sư Trúc Pháp Quảng ở núi Thế Thanh, nhà Tấn, người Hạ Bì, xuất gia với Pháp sư Đàm Ấn, có lần Thầy ngài mắc trọng bệnh thập tử nhất sinh, ngài thành tâm lễ bái liên tục bảy ngày đêm, sám hối ngồi thiền hồi hướng công đức cho Thầy. Đến đêm thứ bảy Hòa thượng Đàm Ấn thấy tia sáng năm màu từ hư không phóng qua cửa phòng sáng rực, Hòa thượng cảm thấy nhẹ nhàng, an ổn, từ đó về sau hết bệnh. Tâm thành cảm đến mức độ như vậy.

Hôm hay tin Hòa thượng bệnh, tất cả các Chiếu đều ngồi thiền. Ngồi thiền hồi hướng có năng lực chứ không phải là không có. Trong lúc ngồi thiền có năng lực, tự nhiên người thân của mình cũng cảm thấy được an ổn, nhẹ nhàng.

Trong “Gương Sáng Người Xuất Gia”, Đại sư Liên Trì kể:

Thiền sư Thiện Ngộ trụ trì chùa Vân Cư nhà Tống, mỗi khi nghe có người mắc trọng bệnh bị đưa đến Diên Thọ Đường là ngài lo lắng mãi giống như chính mình mắc bệnh. Sớm tối đến thăm hỏi, tự thân lo liệu ăn uống, sắc nấu thuốc thang. Khi nấu thuốc ngài luôn nếm trước, không có độc tính hoặc tác dụng phụ mới an tâm đưa cho người khác uống. Trời hơi lạnh ngài liền hỏi một cách âu yếm: Áo mặc có ít quá không? Trời nóng, quan sát sắc mặt hỏi: Có nóng quá không? Khi bệnh nhân chết, bất luận họ giàu hay nghèo, Tăng thường trụ hay Tăng thập phương đều lo liệu hậu sự cho thật là chu đáo.

Ở Thường Chiếu có thầy Tỉnh Cần, là sư huynh của tôi, mỗi lần sắc thuốc cho Thầy tôi xong là sư huynh uống trước một chút, ngồi một tiếng đồng hồ, thấy không có phản ứng gì mới đưa Thầy tôi uống. Sau đó rửa, cất kỹ để mai nấu tiếp. Mai nấu xong cũng uống thử, chờ một tiếng. Ngày nào cũng vậy, bất cứ thuốc gì cũng đều uống thử trước như thế. Sư huynh tôi không bao giờ đội nón, không mang dép, ngủ không mắc mùng, bố thí cho muỗi mà không bị bệnh gì hết; cảm, sổ mũi, nhức đầu cũng không có. Tôi rất phục. Hầu Thầy phải đúng như vậy sẽ cảm ứng.

Trong Truy Môn Cảnh Huấn nói:

“Trong các thứ khổ, chỉ có bệnh khổ là nặng hơn hết; và trong các thứ việc tác phúc, chỉ có việc chăm sóc bệnh nhân là quý hơn hết. Thế nên cổ nhơn cho người có bệnh là thiện tri thức, và khuyên người lấy việc nuôi bệnh nhân là phúc điền.”

Huống chi người bệnh là thầy của mình. Thầy bệnh khó ăn, nếu ai nấu nướng riêng cho thầy thì phải tùy hỉ chứ đừng sanh tâm tật đố sao thầy không ăn chung với mình, như vậy mình tổn phước. Phải lo liệu, chăm sóc cho thầy khỏe thì mới đúng.

Trong Thiền Sư Nguyệt Đường có ghi:

Thiền sư Hoàng Long Huệ Nam lúc ở Tích Thúy bị bệnh rất nặng, ba tháng không bước ra đến cửa. Thiền sư Chân Tịnh Khắc Văn là người coi sóc viện, lo quá nên làm đủ mọi cách: ban đêm tha thiết cầu đảo, đốt đèn trên đỉnh đầu, đốt tay, ngửa mặt cầu cứu âm tướng, trì chú, tụng kinh… để cầu cho ân sư mình bớt bệnh.

Sau khi Hoàng Long Huệ Nam bớt bệnh, nghe như vậy ngài trách:

– Sanh tử của ta hẳn nhiên là có phần, ông tham thiền mà chẳng được cái lý đó ư?

Thiền sư Chân Tịnh Khắc Văn đối trước mặt Hòa thượng nói:

– Tùng lâm có thể không có Khắc Văn, chẳng có thể không có Hòa thượng.

Tùng lâm này mà thiếu Hòa thượng, thiếu Thầy trụ trì mình thấy sao?

Người xưa bảo hộ chánh pháp. Chẳng hạn, trong Thiếu Lâm Tự, các vị hộ pháp sẵn sàng chết để Hòa thượng sống. Hồi vào đạo tôi cũng có tư tưởng hộ pháp như thế. Mỗi lần Hòa thượng Tôn sư đi giảng xa, thầy Trụ trì Thường Chiếu kêu chúng tôi đi theo, ở gần pháp tòa Hòa thượng giảng. Tôi có tâm niệm nếu lỡ có chuyện gì mình phải sẵn sàng ra chết thế để Hòa thượng sống. Hòa thượng sống để làm lợi ích chúng sanh, chớ cái mạng của mình có lợi ích gì! Đi hộ pháp, hộ vệ cho những vị Hòa thượng lớn là mình phải có tư tưởng đó. Quý thầy đừng sợ, việc làm này đúng, bảo đảm chết tức khắc sanh về cảnh giới lành vì đây là người chơn chánh hộ pháp.

Lúc Thầy tôi mổ thận, tôi đang nhập thất. Ở trong thất mà hay tin Thầy bệnh, phải thành tâm sám hối để hồi hướng công đức lành này cho Thầy. Ở đây quý thầy Trụ trì nào bệnh tôi cũng thường mua chim, cá về phóng sanh. Tuy đây là pháp thế gian nhưng nó trợ duyên cho người bệnh. Tôi cũng phóng sanh, hồi hướng phước lành đến Hòa thượng. Âm thầm làm thôi chứ không phổ biến.

Quý thầy ra làm Phật sự, phải sẵn sàng hy sinh bảo vệ tùng lâm để cho người khác tu. Chẳng hạn, chiều ai cũng ngồi thiền mà cắt quý thầy ra làm bảo vệ trật tự, cứ hy sinh bảo vệ trật tự đi, đó là lập hạnh đại nguyện Bồ-tát đi vào cuộc đời này. Khi đủ duyên vào thất, quý thầy tu hành có kết quả hơn một người trốn chui trốn nhủi không chịu làm gì hết. Người hy sinh cho đại chúng tu tập sẽ có năng lực lớn hơn, họ đi vào chiều sâu tâm thức nhanh hơn. Còn trốn không chịu làm gì hết, khi vào thất sẽ bị chướng ngại rất nhiều. Ở đây tôi nói những người lớn chứ không phải mới xuất gia. Mới xuất gia không làm Phật sự, phải ráng tu thôi.

Quý thầy lớn mà được cắt làm Phật sự, cứ hy sinh đi, tự nhiên có kết quả. Chẳng hạn một thầy được giao làm tri khố ba tháng hoặc sáu tháng, nghĩ làm nhiều vậy chắc tu không được. Nhưng do năng lực lúc làm việc tạo tác phước điền, nên khi vào thất tu có kết quả nhanh hơn, theo bản thân chúng tôi kinh nghiệm.

Nghe câu chuyện này, các bậc thức giả trong thiền môn chẳng những không chê trách mà nói rằng: “Thiền môn nói Chân Tịnh kính thầy, trọng pháp thành tâm chí thành như thế, ắt sau này phải thành bậc đại pháp khí.”

Quả thật sau khi ngài Hoàng Long tịch, ngài Chân Tịnh lên làm trụ trì, tùng lâm rất hưng thịnh, độ một ngàn mấy trăm chúng. Dưới trướng ngài năm mươi mấy người ngộ đạo. Ngài thành bậc đại pháp khí trong tùng lâm bởi vì ngài có tâm hạnh lớn, tâm hạnh Đại thừa Bồ-tát đạo đi vào cuộc đời.

Trong những bộ Đại Tạng, Phật kể những câu chuyện nhỏ, thấy rất đơn giản nhưng đều tạo công đức phước điền trong tùng lâm, tạo năng lực hạt giống cho mình sau này. Chẳng hạn, buổi chiều cho chó, cho cá ăn, thấy rất đơn giản nhưng sau này nó lên làm đệ tử, nói gì nó cũng nghe. Còn mình không kết duyên nhiều khi nó cãi lại.

Bộ Thành Phạm nói:

“Sắp đặt nhà kín, kỵ gió, kỵ ẩm thấp. Giường nệm cho dày và êm. Coi nhan sắc thầy. Lúc ra lúc vào phải dìu đỡ đúng phép. Nêm canh, nấu cơm, sắc thuốc. Thầy có hơi bớt thì sanh tâm vui mừng. Thường đem tâm hiếu thảo và sắc mặt cho vui kính thờ thầy. Khách đến thăm viếng, khéo thế lời Thầy mà nói chứng bệnh, và bớt hay không cho khách biết khỏi phải bận rộn thầy. Cần nên nghiêm tịnh và yên lặng. Bằng thầy mệt, bệnh quá nặng, định tâm nghĩ đến Phật và tìm phương cứu chữa, chớ nên khóc lóc. Rủi thầy viên tịch chớ nên trái lời thầy dạy, trối trước khi. Phải mỗi mỗi y lời dạy mà vâng làm.”

Chẳng hạn như Lục Tổ nói:

– Các ông ở lại mà vui. Sau khi tôi diệt độ chớ làm theo thế gian mà khóc lóc như mưa. Nhận lễ vật cúng dường, điếu tang, thân mặc hiếu phục, chẳng phải là đệ tử của tôi, cũng không phải là chánh pháp.

Trước khi viên tịch ngài đã dặn, nhưng trong chúng ai cũng khóc, các ngài Pháp Hải, Pháp Đạt, Thạch Sương đều khóc. Chỉ có ngài Thần Hội không khóc. Lúc này Lục Tổ nói:

– Các ông ở trong núi hai, ba mươi năm mà thua tiểu sư đệ. Tiểu sư đệ thần tình bất động không than khóc gì hết.

Sư sai cạo tóc xong, đắp y bảo đánh chuông giã từ chúng rồi ngồi yên mà tịch. Đại chúng khóc lóc mãi không dứt, Sư chợt mở mắt bảo:

– Người xuất gia tâm chẳng dính mắc nơi vật là tu hành chân chính, sống nhọc tức chết, thương xót có lợi ích gì. Mà mấy ông khóc là khóc cho ai? Nếu tôi không biết đường thì tôi không báo trước. Tôi biết trước tôi báo rõ ràng có nghĩa là tôi biết nhà cửa tôi ở đâu rồi tôi mới báo. Mấy ông khóc phải là khóc cho mấy ông hay không?

Nếu Thầy nói bây giờ Thầy không biết đi đâu, đường trước mờ mờ mịt mịt, thì mình khóc rõ ràng là thương Thầy. Còn Thầy báo ngày mấy, tháng mấy Thầy tịch là Thầy đã biết trước ở đâu rồi thì mình phải mừng. Mình khóc thì Phật, Tổ quở.

Thiền thoại có ghi:

Thiền sư Bảo Phước nói với đại chúng:

– Bây giờ tôi yếu rồi không còn khí lực nữa, tôi sắp lìa cõi đời này rồi.

Đại chúng khóc lóc, ai cũng muốn chết theo Thầy. Lúc này có một vị đệ tử nhỏ, mới Sa-di thôi, bước ra nói:

– Nếu thời hạn đã đến thì Thiền sư đi cũng tốt, ở lại cũng tốt. Mà đủ duyên thì đi!

Thiền sư cười lên ha hả nói:

– Lòng ta muốn nói mà không ngờ bị ngươi trộm nghe hồi nào.

Nói xong bắt chân kiết già thị tịch. Trong tùng lâm có những bậc kỳ đặc như thế.

“Phàm hầu thầy, thầy chẳng dạy ngồi chẳng dám ngồi.”

Chẳng hạn, lên gặp Hòa thượng hoặc thầy Trụ trì, mình xá mình thưa chuyện mà thầy không nói gì hết thì mình phải đứng, chứ mình sà xuống ghế để Thầy mời khách ngồi là không đúng. Chừng nào Hòa thượng nói: “Thôi chú ngồi xuống” thì mình mới ngồi. Còn không nói gì hết thì đứng suốt luôn mới đúng phép hầu thầy.

“Thầy chẳng hỏi chẳng dám thưa, trừ mình có việc cần muốn thưa mới hỏi. Phàm đứng hầu chẳng nên nương vách, dựa ghế. Phải vững mình bằng chân, đứng một bên.”

Bộ Ngũ Thập Tụng có ghi:

“Chẳng nên ở trước thầy thân hiện tướng mỏi mệt, co ngón bẻ lóng tay kêu lách cách, dựa cột, tường vách, và không nên đạp ngạch cửa, đứng dang tay.”

Kinh Bồ Tát Tùng Đâu Suất Há Sanh có ghi:

Thị giả hầu Thầy phải cần đủ tám pháp:

1- Tín tâm kiên cố.

Phải tin Thầy, thương và kính Thầy lắm mới làm thị giả được.

2- Tâm tìm học tấn tu.

Hầu thầy chắc chắn gặp những vị khách Tăng đến thưa hỏi về đạo lý. Mình phải lắng thần nghe khách hỏi thế nào, Thầy giải thích thế nào. Ai đủ duyên, biết được làm thị giả lâu năm cần có cuốn sổ để ghi lại pháp ngữ, thiền ngữ của thầy. Tôi không làm thị giả nhưng mỗi lần đưa khách vào đảnh lễ Hòa thượng, tôi đều ghi lại hết. Hồi xưa tôi ở Thường Chiếu, nhiều lúc khách đông, tôi đứng bảo vệ kề Hòa thượng. Có một người mới xuất gia hỏi:

– Bạch Hòa thượng, Hòa thượng chỉ con làm thế nào tu thành Phật nhanh trong một đời này.

Hòa thượng hỏi lại:

– Hằng ngày chú làm gì?

Bao nhiêu đó thôi, tự trả lời. Tôi ghi lại hết, người đó ở đâu, ngày mấy, tháng mấy. Ghi lại để sau này Hòa thượng tịch mình dồn lại thành một cuốn gọi là Pháp Ngữ Của Hòa Thượng. Lời Hòa thượng dạy rất là hay, mình bỏ qua không ghi lại rất uổng!

Bây giờ có sách học, đều là nhờ những vị thị giả ngày xưa ghi lại hết. Vào thời Đức Phật thì nhờ ngài A-nan, rồi thị giả của ngài Hám Sơn, Ngài Hư Vân đều ghi lại pháp ngữ của các ngài. Sau khi các Ngài tịch, pháp ngữ được in ra thành những quyển sách dày.

3- Thân không có các bệnh.

4- Phải tinh tấn.

5- Đủ tâm thương Thầy.

6- Tâm không kiêu mạn.

Ỷ mình làm thị giả cho Hòa thượng hoặc Thầy Trụ trì rồi coi quý thầy ở dưới không ra gì là sai, phải có tâm thương huynh đệ. Chẳng hạn như sáng Hòa thượng chống gậy ra nhà khách đi dạo, Hòa thượng hỏi: “Chú thấy ông thầy đó sao?” Mình phải nói: “Dạ, thầy đó tốt lắm, siêng lắm” thì cái phước mình nó tăng trưởng. Còn mình nói: “Con thấy thầy đó trốn đi chơi, đi karaoke” là chết người ta luôn. Chính cái tâm này nó giết mình. Học oai nghi phép tắc, rồi học trong luật mình thấy cần phải có tâm thương chúng, thương huynh đệ.

7- Tâm bình tĩnh và định đoạt.

8- Có đủ trí mà nghe.

“Phàm muốn kính lạy, bằng thầy bảo thôi nên nghe lời thầy chớ lạy. Phàm thầy cùng khách đàm luận câu chuyện liên quan đến đạo có ích thân tâm đều phải nhớ lấy.”

Trong Oai Nghi có nói rõ, muốn lạy, Thầy nói thôi đừng lạy mà quý thầy ráng lạy là không có đức, không có phước mà còn bị tổn. Đó là không kính lời Thầy dạy. Mình xá xuống, Hòa thượng nói thôi đừng có lạy thì đứng lên liền. Rồi phàm hầu Thầy mà có khách đàm luận về đạo có ích cho bản thân mình thì phải lắng thần nghe.

Thiên Thành Phạm nói:

“Hoặc thầy hỏi khách đáp, hoặc khách hỏi thầy trả lời, chớ nên nghe lời quái lạ kinh sợ, cũng chẳng được thấy mà cười.”

“Phải biết ý tứ câu nói và lời đúng tôn chỉ để tâm ngẫm nghĩ. Bằng có chỗ kiến giải hay, phải đến thưa thầy chứng nhận hoặc chỉ lại những chỗ sai lầm.”

Chẳng hạn, Hòa thượng nói chuyện với khách mà quý thầy nghe, phát minh được tâm địa thì phải trình Hòa thượng liền: “Hồi nãy Hòa thượng nói với vị khách đó, con thấy tột được chỗ này.” Nếu Hòa thượng thấy chỗ đó sai, ngài sửa lại cho. Đúng thì Hòa thượng chứng nhận: “À, cái pháp đó ông cứ đi đi, tiến đến sẽ tốt cho đường đạo của ông.”

Cho nên khi có khách đến hỏi Hòa thượng về đạo pháp, quý thầy phải lắng thần nghe. Nhiều khi vị khách đó không ngộ mà chính bản thân mình ngộ.

Trong Sa Di Học Xứ ghi:

“Phàm thầy cùng khách đàm luận thảy đều là cơ duyên của Phật pháp. Muốn biết sự thâm diệu trong đó phải quán lời nói đạo lý tầm thường nhựt dụng hằng ngày, ấy là lời nói có đạo, tức là pháp ngữ. Song chấp lao phục dịch ấy là thêm lớn phúc điền. Nghe pháp ghi nhớ chính là tươi mát tâm địa, nên nói có ích cho thân tâm.”

Ở đây Tổ Tuyên Luật Sư nói hằng ngày làm trị nhật, hành đường là chỉ có phước điền thôi, Nghe pháp, ghi nhớ là thêm lớn cho thân tâm, là tưới mát cho tâm địa. Tâm mình tham dục, sân hận dẫy đầy, bây giờ nghe pháp giống như là tưới nước lên vậy. Thầy cùng khách nói chuyện, có khi nói chuyện đời, nhưng chính đó là đạo lý.

Thiền thoại có ghi:

Thiền sư Viên Ngộ tham vấn Thiền sư Ngũ Tổ Pháp Diễn. Nhân có một vị quan đến bàn luận với Ngũ Tổ Pháp Diễn, Ngũ Tổ đọc hai câu thơ:

Tần hô Tiểu Ngọc nguyên vô sự,

Chỉ yếu đàn lang nhận đắc thinh.

Nghĩa là:

Luôn kêu Tiểu Ngọc nguyên không việc,

Chỉ cốt anh chàng nhận được tiếng.

Ngay đó, Viên Ngộ ngộ được yếu chỉ của thiền.

Hai câu thơ trên trong tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng. Tần cô nương có tình ý với một chàng trai gần nhà. Một hôm chàng lân la đến nhà cô, ý muốn dò tìm xem phòng cô ở nơi nào, nhưng không biết nên đi lảng vảng bên ngoài. Cô tiểu thơ ở trên gác nhìn thấy mà không dám kêu vì sợ bị lộ. Ngay lúc đó cô nhanh ý gọi người hầu tên Tiểu Ngọc: “Tiểu Ngọc, đi lấy cái bình cho Cô.” Nghe như vậy là anh chàng kia biết cô ở phòng nào rồi.

Tu thiền là vậy, kêu đây nhưng ý đằng kia, ngay chỗ đó ngộ được yếu chỉ của thiền, mà chỉ là chuyện sinh hoạt hằng ngày thôi chứ không có gì lạ hết.

Thiền sư Đức Thiều tham vấn năm mươi bốn vị thiện tri thức mà pháp duyên chưa hợp nên ngài chán nản. Sau cùng ngài đến yết kiến ngài Pháp Nhãn. Do đi khắp Tùng lâm tham vấn mỏi mệt quá nên ngài không cùng chúng thưa hỏi nữa. Một hôm có một vị Tăng đến hỏi Thiền sư Pháp Nhãn:

– Thế nào là một giọt nước ở nguồn Tào?

Thiền sư Pháp Nhãn đáp:

– Là giọt nước ở nguồn Tào.

Vị Tăng ấy mờ mịt, nhưng ngay trong giờ phút đó, Thiền sư Đức Thiều hoát nhiên đại ngộ, đến trình kiến giải với Thiền sư Pháp Nhãn.

Vị Tăng muốn hỏi thế nào là yếu chỉ tâm yếu của Lục Tổ Huệ Năng, Thiền sư đáp lại câu đó, ngài Đức Thiều ngay tức khắc ngộ đạo. Có những câu chuyện mà giữa hai người đối đáp không dính dáng gì mình hết mà chính mình ngộ đạo.

“Thầy có sai khiến phải kịp thời làm xong, chớ nên trái trễ. Phàm ngủ nghỉ chớ nên trước thầy.”

Sa Di Học Xứ ghi:

“Nghĩa là ngồi trên sàn gọi là thùy, nhắm mắt gọi là miên. Ngũ ấm phiền não, đây là đệ nhất.”

“Phàm người hỏi tên húy của thầy phải nói trên chữ, dưới chữ. Phàm đệ tử phải lựa minh sư gần gũi thật lâu, chớ nên lìa thầy quá sớm. Bằng thầy không thật hiểu Phật pháp, phải rời riêng cầu ông lương đạo.”

Chẳng hạn, ai đến hỏi thầy Trụ trì tên gì, hoặc ông là đệ tử của ai, mình phải nói Hòa thượng thượng Thanh hạ Từ hoặc thầy thượng Thông hạ Phương.

Xưa Thiền sư Đoan Nhai dạy chúng rằng: “Ta thân cận Hòa thượng Cao Phong hai, ba mươi năm, thường thường đã chịu cốt nghĩ chưa từng khởi một tâm niệm xa lìa, người xưa tâm hạnh như thế.” Thiền sư Đoan Nhai hầu Thiền sư Cao Phong hai, ba chục năm mà chưa từng khởi một niệm bỏ chúng ra đi, luôn luôn hầu thầy và học hỏi thầy.

Tuy nhiên, nếu thầy không thật hiểu Phật pháp thì không nên nấn ná, phải rời đi để hầu thầy khác có tâm đạo pháp, có con mắt pháp nhãn.

Trong Kinh A Hàm Phật dạy:

“Thân cận Sư trưởng có bốn thứ:

1- Có pháp, có thực gọi là vui mà trụ.

2- Có pháp, không thực gọi là khổ mà trụ.

3- Có thực, không pháp, sám hối mà đi.

4- Không pháp, không thực, chẳng từ biệt mà ra đi.”

Chẳng hạn, ăn uống đầy đủ, có Phật pháp thầy Tổ dạy nữa thì mình vui mình ở. Lỡ ở chỗ nào có pháp mà không có thức ăn thì khổ cũng phải ráng mà ở. Còn có ăn mà không có pháp thì phải đắp y sám hối thầy Trụ trì rồi ra đi chớ đừng có bỏ ngang, bởi vì thầy cũng lo lắng cho mình. Không pháp, mà cũng chẳng có thức ăn thì quý thầy tự động ra đi không có lỗi.

Trong Sa Di Học Xứ, Tổ Tuyên Luật Sư nói cổ đức dạy:

“Chim dừng ở ắt chọn rừng, người cầu đạo ắt lựa chọn thầy. Vì thầy là người mô phạm, mô phạm đoan chánh ắt sản sinh ra bậc pháp khí thượng thừa.”

Ngày còn là cư sĩ, nếu đọc được đoạn này chắc chúng tôi không phải đi lang thang, ba chìm bảy nổi rồi mới gặp được Hòa thượng, gặp được thầy Trụ trì Thường Chiếu. Đúng ra, cư sĩ mới phát tâm cầu đạo cũng cần được học Hai Mươi Bốn Oai Nghi chứ không phải chỉ chư Tăng mới cần.

Đệ tử phải lựa chọn minh sư, tức là vị thầy sáng mắt mà gần gũi cho thật lâu, chứ không phải mới xuất gia một hai năm gì đó rồi buồn buồn cất thất tu một mình.

Có một thầy xuất gia khoảng năm năm, nói rằng lớn tuổi rồi nên ra cất thất gần biển tu. Nhập thất hai tháng đầu rất là tinh tấn, đến tháng thứ ba đang ngồi thiền mới nửa tiếng xả ra, cho rằng ngồi cũng thiền, đi cũng thiền. Đi một hồi tự nhiên khởi niệm đi Sài Gòn chơi, rồi đi Sài Gòn thật. Rốt cuộc tu không được. Cuối cùng chịu không nổi, thầy phải xin ra Trúc Lâm Yên Tử nhập chúng tu học. Lớn tuổi cũng bị vọng tưởng nó lừa như thường.

Đừng nghĩ mình lớn tuổi, chán ngán việc đời rồi, thôi bây giờ cất thất tu. Muốn cất thất tu ở yên một mình, giống như Quốc sư Huệ Trung, là phải đạt đến trình độ kiến tính, tức là nhận ra được bản thể của mình. Các ngài ngồi thiền là luôn luôn ở trong cảnh giới tam muội, tức là ở trong cảnh giới chánh định. Các ngài lấy cảnh thiền duyệt làm vui, là tự thân thọ dụng. Thọ dụng pháp chánh định thì các ngài ngồi yên mới được. Còn ở chúng mà có nhiều lúc còn bỏ ngồi thiền, huống chi là ở một mình trong thất!

Lựa thầy sáng mắt để mình gần gũi học hỏi, bắt chước cung cách và cuộc sống của thầy. Thầy mô phạm thì chắc chắn mai kia mình cũng trở thành mô phạm. Chẳng hạn, thầy Trụ trì giữ giới luật rất tinh nghiêm, mình muốn xin đi đâu cũng khó. Có như thế mình mới dồn hết năng lực vào việc tu hành, sau này mới thành bậc pháp khí. Bậc pháp khí là bậc làm lợi ích cho Tam bảo, làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.

Lúc mới phát tâm tu hành, tự túc duyên của quý thầy thôi thúc phải lên Trúc Lâm gặp Hòa thượng xin tu? Nếu do quý thầy tự tìm đến chứng tỏ túc duyên quý thầy sâu lắm, rất tốt. Còn như chúng tôi, đi lang thang đầu này đầu nọ rồi có người giới thiệu thì chỉ là bậc hạ thôi, chưa phải bậc thượng. Quý thầy tu học rồi mà muốn kiếp sau gặp Hòa thượng nữa, gặp một vị thầy sáng mắt dìu dắt cho mình thì phải tu hành như thế nào, chớ không phải có túc duyên tốt rồi tu xìu xìu thì chắc chắn kiếp sau cũng khó mà gặp được.

Nên Thiền sư Pháp Nhãn nói:

“Phàm là người tham học đã vào tùng lâm phải chọn lựa thiện tri thức, kế là phải gần gũi bạn lành. Bậc tri thức quan trọng là ở chỗ chỉ đường, bạn lành quý ở nơi mài giũa cho mình.”

Nếu mai kia không còn ở trong tùng lâm nữa, đi chỗ khác, mình phải chọn lựa thiện tri thức. Chọn lựa thiện tri thức chỉ là phần đầu, người mài giũa cho mình thành tựu bậc pháp khí là phải nhờ bạn. Chẳng hạn sáng, trưa, chiều, tối bạn rủ đi uống trà, đi ăn bánh ngọt rồi nói chuyện này chuyện kia thì làm sao thành bậc pháp khí? Bạn tốt họ chỉ mình: “Nè, sư huynh! Sư huynh sáng không tu, rồi trưa, chiều, tất cả mọi thời sư huynh đều không tu, suốt ngày sư huynh uống trà nói dóc thì sao thành bậc pháp khí được?”

Được bạn thẳng thắn mài giũa cho thì mới thành được bậc mô phạm, không thì chìm đắm mãi trong dục lạc. Cho nên nói, bạn lành quý là ở nơi mài giũa cho mình, mà thành tựu sau này cũng đều là nhờ nơi bạn.

“Chỉ muốn rảnh rang thân mình thì lấy gì mở mang cho hậu học, phát huy tông giáo, tiếp vật lợi sanh, ý để chỗ nào?”

Rảnh rang nghĩa là không chịu tu, không chịu học, không chịu mài giũa. Tối mình bỏ tụng kinh, bỏ ngồi thiền thì khỏe lắm, sướng cái thân lắm, nhưng như vậy lấy gì để chỉ cho người sau, cho đàn em của mình? Rồi lấy gì mà phát huy tông giáo, tiếp vật lợi sanh? Phải tu, phải học, phải mài giũa tập khí. Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ nói, chừng nào tập khí hết, trí huệ Bát-nhã vô lậu mới phát huy được. Còn không thì phải sám hối, tụng kinh, ngồi thiền, làm đủ hết.

Ở đây có câu chuyện xa Thầy quá sớm. Ngũ Đăng Hội Nguyên có ghi:

Hòa thượng Ngổ Quang ở Tuyền Châu lúc còn làm thị giả cho Thiền sư Đức Sơn, một hôm cùng Đức Sơn vào núi đốn củi. Thiền sư Đức Sơn bưng một chén nước đưa cho Sư, Sư tiếp lấy liền uống. Đức Sơn hỏi:

– Hội chăng?

Sư thưa:

– Chẳng hội.

Hôm nào đi với Hòa thượng mà Hòa thượng rót nước đưa mình uống là mình biết Thầy khai thị cho mình. Nhưng ở đây vị này chẳng hội.

Trong Thiền Sư Trung Hoa Tập 1 có câu chuyện:

Thiền sư Sùng Tín Long Đàm đến học với Thiền sư Đạo Ngộ ba năm mà không chỉ dạy gì hết. Một hôm, Thiền sư Sùng Tín Long Đàm đến thưa với Thầy:

– Con vào đây tu học, đinh ninh rằng thầy sẽ chỉ dạy tâm yếu cho con, nhưng đến giờ đã ba năm rồi mà chưa từng được chỉ dạy.

Thiền sư Đạo Ngộ nói:

– Ngươi dâng trà lên, ta vì ngươi mà tiếp. Ngươi bưng cơm đến, ta vì ngươi mà nhận. Ngươi xá lui, ta vì ngươi mà gật đầu, chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu?

Ngay tức khắc Thiền sư Sùng Tín Long Đàm ngộ nhập được. Có nghĩa là đưa ra thì cái gì biết tiếp, biết nhận, biết gật đầu nếu không có chỗ đó?

Thêm một câu chuyện nữa:

Thiền sư Hư Vân đi hành cước, lúc bị kiết lỵ thì gặp Văn Cát, Văn Cát cho uống thuốc rồi đưa ly nước lên hỏi: “Hội Chăng?” Thiền sư Hư Vân mờ mịt. Sau khi ngộ đạo, ngài nói trong quyển Ngữ Lục: “Giá mà ngay trong giờ phút này thì ta đá bay ly nước.”

Tại sao đoạn đầu không đá mà đoạn này ngài dám đá? Có những giây phút nào đó tâm chúng ta tĩnh lặng, tự nhiên ngộ nhập được chỗ này. Có chỗ sống thực sự rồi thì đá cái ly là không nằm trên bình diện nhân quả. Bởi dùng tâm Phật tiếp tâm Phật, dùng tâm Không tiếp tâm Không, ngay trong thực tại dùng vô ngã tiếp cái vô ngã. Cho nên các ngài mới khẳng định rằng hạt cải chứa đựng núi Tu-di, núi Tu-di thì nhét trong hạt cải. Tâm Phật tiếp tâm Phật, tâm vô ngã tiếp vô ngã, dùng tâm Không tiếp tâm Không thì tội ở chỗ nào?

Câu chuyện tịnh bình của Thiền sư Bá trượng:

Thiền sư Bá Trượng đưa cái tịnh bình lên nói:

– Không được gọi là tịnh bình, vậy gọi là gì?

Thiền sư Hoa Lâm nói:

– Không thể gọi là cây lủng.

Tiếp đó Bá Trượng yêu cầu Linh Hựu trả lời. Linh Hựu không nói gì, lấy chân đá đổ tịnh bình rồi đi.

Thiền sư Bá Trượng dùng thuật ngữ “đây là cái gì”, “cái gì” đó thì còn nằm trong bình diện tâm hữu, tức là có cái tâm để phán xét. Nhưng Thiền sư Quy Sơn lấy chân đá đổ tịnh bình, ngay đó dùng tâm Không mà tiếp Tổ nên không bị nhân quả, mà được làm chủ núi Quy.

Đức Sơn lại đem một chén nước nữa đưa cho sư, sư tiếp lấy liền uống. Đức Sơn hỏi:

– Hội chăng?

Sư thưa:

– Chẳng hội.

Đức Sơn bảo:

– Sao không cởi bỏ mà thể nhận lấy cái chẳng hội đi?

Sư thưa:

– Chẳng hội lại cởi bỏ cái gì?

Đức Sơn bảo:

– Ông giống hệt cây cọc sắt.

Tức là nói sao y vậy chứ không phát huy được năng lực thiền bên trong.

Về sau, Sư trụ trì Tuyết Phong tìm đến thăm hỏi Sư Ngổ Quang về câu chuyện trong lúc uống trà. Tuyết Phong hỏi:

– Khi ấy ở tại Đức Sơn, nhân duyên đốn củi ra sao?

Sư đáp:

– Tiên sư khi ấy chấp nhận cho tôi.

Qua câu chuyện quý thầy thấy có chấp nhận chưa? Chưa chấp nhận mà Sư ra trụ trì, nói là ngày xưa tôi đã ngộ bên ngài Đức Sơn rồi.

Thì Tuyết Phong nói:

– Hòa thượng xa Thầy quá sớm!

Tức là chưa ngộ nhập được tri kiến mà vội đi trụ trì rồi. Quý thầy thấy giống mình không? Tu mới có năm năm, ai thỉnh mình đi trụ trì, nhận cái chùa nào tốt tốt, đẹp đẹp là lên đường đi trụ trì.

Ngay lúc đó trước mắt chợt thấy một chén nước, Tuyết Phong bảo đem nước đến, Sư bèn đưa nước cho Tuyết Phong, Tuyết Phong nhận liền tạt đi. Ngay đó Sư cũng không khế nhập được.

Ở đây Thiền sư Tuyết Phong khai thị thêm một bước nữa mà Sư cũng không nhận được. Bởi vì ngày xưa lầm chấp đã ngộ nhập rồi thì bây giờ cũng lầm chấp ngay chỗ đó. Cho nên ngài Tuyết Phong mới nói “Hòa thượng xa Thầy quá sớm.”

Chúng ta học cũng vậy. Đến ở với Hòa thượng, với Thầy Trụ trì, tệ lắm cũng phải mười năm, hai chục năm, tốt nữa thì ba chục năm, đừng có đi sớm. Đi sớm nhiều khi mình tưởng rằng mình ngộ đạo rồi chứ thật ra chưa ngộ.

“Dẫu có lìa thầy nhưng cũng nhớ lời thầy dạy, chẳng nên luân tình tự ý theo người thế tục làm việc bất chánh.”

Chẳng hạn, ở trong chúng mà bị phiền não hay bức xúc với huynh đệ, mình bỏ đi qua tùng lâm khác. Cũng phải luôn luôn nhớ lời thầy dạy, chẳng nên luân tình tự ý theo người thế tục làm việc bất chánh.

Đại sư Liên Trì kể câu chuyện:

Pháp sư Pháp Ngộ ở chùa Trường Sa, Kinh Châu, triều Tấn, là học trò lớn của Pháp sư Đạo An, sau trụ trì chùa Trường Sa ở Giang Lăng. Đệ tử theo học với ngài rất đông, có đến hơn bốn trăm người. Một hôm trong chúng có một thầy uống rượu, ngài chỉ phạt nhẹ, không có đuổi đi. Thiền sư Đạo An ở xa nghe được, liền gửi đến cho ngài một cây roi bỏ trong ống tre. Pháp sư Pháp Ngộ mở ra thấy cây roi bèn nói: “Đây là do việc vị tăng uống rượu nên mới xảy ra việc này.” Ngài gióng chuông tập họp đại chúng và mang cây roi để ngay trước mặt, đốt hương chí thành và nằm xuống khóc lóc rồi lệnh cho thầy duy-na cầm roi đánh ba roi vừa khóc vừa trách mình.

Quý thầy thấy không? Trụ trì một phương xa rồi nhưng vẫn kính lời của Thầy. Khi Thiền sư Đạo An gửi cây roi đến, ngài biết rằng Thầy trách mình đã không xử phạt nghiêm minh, nên nằm xuống sai thầy duy-na đánh ba roi, vừa khóc vừa tự trách mình. Người xưa tu hành kín nhiệm hơn mình nhiều lắm.

Câu chuyện thứ hai cũng do Đại sư Liên Trì kể:

Thiền sư Hoài Trí người Kim Hoa, triều nhà Tấn, thời trẻ học pháp giảng kinh hoằng dương chánh pháp. Nhờ sự kích phát của thiền giả, Thiền sư đã ngộ, bỏ việc giảng kinh rồi đi tứ phương tham thiền học đạo. Sau đến đạo tràng Động Sơn gặp được Thiền sư Chơn Tịnh mà ngộ đạo, theo hầu Thiền sư Chơn Tịnh khá lâu. Một hôm khi ngài sắp rời Thiền sư, Thiền sư bảo: “Thiền học của ông tuy là hơn đời nhưng ông không có nhân duyên độ chúng, nếu sau này ông miễn cưỡng độ chúng, chỉ dẫn đến sự chửi mắng, ngược lại còn tạo nghiệp.” Ngài vâng mạng bái biệt khắc ghi trong lòng.

Đừng nghĩ rằng ráng tu để mai kia trụ trì cái chùa lớn. Có những bậc thiền giả tu ở núi mà tôi từng tiếp xúc, cơ phong của các ngài, cái thấy biết, cái tri kiến, kiến giải của các ngài rất là sâu kín, nhưng các ngài nói rằng không có duyên độ chúng. Mà miễn cưỡng ra độ chúng là chúng họ chửi.

Quý thầy có tin, chúng mà chửi thầy không? Có ông thầy hồi xưa cũng ở Trúc Lâm, sau này về Đồng Tháp nhận một cái chùa và hai đệ tử. Hai đệ tử bỏ thầy đi mà còn chửi thầy. Chửi mà thâu băng gửi về cho ông thầy. Không có nhân duyên độ chúng mà miễn cưỡng độ là chúng chửi. Chửi rồi tức, chửi lại thì tạo nghiệp xấu, thầy trò cùng đi xuống.

Trong Cao Tăng Truyện có kể:

Có một vị thiền tăng rất giỏi, được thầy dặn là sau khi thầy tịch thì muốn ở với sư chú, sư bác, sư huynh, sư đệ gì cũng được nhưng nhất định đừng nhận trụ trì. Sau khi thầy tịch, ngài ở với sư huynh. Cơ phong của ngài rất cao, kiến giải, thiền pháp của ngài cao vút. Sau khi sư huynh tịch, trong chúng đưa ngài lên làm trụ trì, ngài không chịu. Rồi đến sư cháu tịch mà ngài vẫn còn sống, nên đại chúng, kể cả các quan trong triều đều đề nghị ngài. Cuối cùng ngài phải bỏ pháp hội đó mà đi. Đến một tỉnh khác, vị thừa tướng ở đó quá mến mộ thiền phong của ngài nên cất chùa. Thỉnh ngài sáng ra làm lễ khánh thành, thì tối đó cái chùa cháy mất!

Đến Viên Châu, tín đồ mời ngài trụ trì chùa Dương Kỳ, ngài không làm nhưng không được. Sau du lịch đến Hồ Nam, dãy Cương Giang, Mục Dân Trạch Châu thỉnh ngài trụ trì chùa Thượng Phong hoặc chùa Hóa Thiền nhưng ngài đều cự tuyệt không nhận, bèn ở trong am tranh ở Hành Sơn hai mươi năm. Ngài có bài kệ rằng:

Muôn sự tỏ rõ,

Muôn duyên buông bỏ,

Không tranh với người,

Ngơ ngơ ngáo ngáo.

Vui chơi trong rừng sâu,

Làm bạn cỏ cây, chim thú,

Áo không cần thay,

Tựa tay làm gối.

Những năm cuối đời đại sư tham bái thiền sư Long An Chiếu. Thiền sư Chiếu sắp đặt ngài ở cung An Lạc trong chùa, sư y mệnh đó cho đến khi viên tịch.

Qua bài này, thấy người xưa luôn khắc ghi lời Thầy dạy.

Trong tông môn, Hòa thượng Phước Hảo cũng không có nhân duyên độ chúng. Ngài ở Huệ Nghiêm rồi lên Chơn Không. Đêm nọ, Thầy Đắc Pháp, Thầy Đắc Huyền, Thầy Trụ trì Thường Chiếu nói với Thầy Phước Hảo: “Đại huynh chưa có đệ tử, mai này không biết ai mà nhờ, thôi nhận mấy đứa này đi.” Tôi còn nhớ rõ, đó là năm 1984, năm cư sĩ, gồm có tôi và bốn người nữa chuẩn bị sáng mai được cạo tóc xuất gia thì tối đó người ta đuổi xuống hết không cho ở Chơn Không nữa! Rốt cuộc Thầy không có ai là đệ tử hết.

Túc duyên của Hòa thượng rất sâu, nên dưới trướng của ngài một ngàn mấy trăm đệ tử xuất gia. Hoặc như Thầy Trụ trì Thường Chiếu, bây giờ là ba trăm đệ tử, không phải chuyện đơn giản.

Đại sư Liên Trì nói:

Người đệ tử thời xưa khi Thầy mất rồi niềm tin càng kiên định, càng không trái lời Thầy. Người đệ tử thời nay, Thầy vẫn còn đó, niềm tin đã lung lay, biến đổi. Nguyên nhân do đâu? Quả thật do khi mới xuất gia không thật sự muốn nương tựa bậc có chánh tri kiến để thoát ly sanh tử, mà chỉ nhất thời hay vô tình bái làm Thầy mà thôi.”

Ngài nói người xưa ở với Thầy, nếu Thầy mất thì vẫn luôn nhớ lời Thầy dạy. Còn đệ tử thời nay mặc dù Thầy còn đó mà niềm tin đã lung lay: “Không biết ông thầy này ngộ đạo chưa mà ở?” Rồi kiếm đường đi. Do đâu? Do nhất thời hay vô tình bái làm Thầy, cho nên thấy danh lợi hoặc gặp bạn xấu rủ rê, liền bỏ Thầy lập tức.

Chẳng hạn đang ở với Hòa thượng, với Thầy Trụ trì, có người rủ: “Ông đi với tôi, ông làm phó trụ trì hay trụ trì cũng được, nghe đâu Phật tử đông lắm.” Nếu trong giờ phút đó, mình không biết cách chận, không biết cách chuyển, thì niệm danh lợi sẽ phát khởi: “Ở đây mình chỉ là chúng thường, ra đó làm phó trụ trì oai hơn.”

“Hoặc sai trái điều gì Thầy trách cứ hay đánh đập, hận Thầy bỏ đi nơi khác.”

Bỏ ngồi thiền, bỏ tụng kinh hoặc làm điều gì đó mà giờ thỉnh nguyện, thầy trách một hai câu, chiều cuốn gói liền. Ở một thời gian mới thấy trong đại chúng có nhiều người như vậy. Thầy nói nhẹ thôi nhưng cũng hận mà bỏ Thầy ra đi.

“Thậm chí có kẻ không theo bạn lành, chơi theo bạn ác, giống như từ trên cao mà đi xuống vực vậy, càng đi càng xuống dốc. Cũng không được ở nơi ồn náo như chợ búa, giếng nước.”

Cổ đức nói bậc hạ tu chùa, bậc trung tu chợ, bậc thượng tu trong triều đình, làm quan, làm tướng. Nghe vậy, bỏ chúng ra chợ tu, được không? Báo Giác Ngộ số 398 trang 30, tác giả Đinh Tấn Phước kể: Trong một chương trình ca nhạc ở Sài gòn, ông thấy cô ca sĩ mặc áo quần không kín đáo. Từ xa nhìn lên ông thấy bốn, năm người giành ngồi hàng ghế đầu, ông ngạc nhiên đến gần thì thấy bốn thầy Tỳ-kheo giành cái ghế đẩu để ngồi gần sân khấu! Rồi ông kể trong một lần ông ra Đà Nẵng, ông thấy ba bốn thầy chơi bi da vào lúc mười một giờ đêm! Ông tự hỏi, ở chùa ba giờ rưỡi sáng phải dậy công phu, bây giờ mười một giờ đêm còn thụt bi da thì giờ nào mới dậy để công phu? Ông đem thắc mắc này đăng lên báo Giác Ngộ!

Đọc bài viết này mà thấy đau. Một vị tu sĩ tuy, không biết ở chùa nào nhưng có hành động như thế thì cũng ảnh hưởng đến mình. Người này gọi là phá kiến chúng sanh, tội nặng hơn phá giới, quý thầy nhớ điểm đó.

Cho nên quý thầy còn trẻ mà xuống thành phố tu một thời gian, nếu không có môi trường tốt mà gặp bạn ác nữa thì bảo đảm đi coi hát suốt ngày. Có những vị thầy tôi hay gặp, hễ đi học về tối cỡ chín giờ là đi hát karaoke. Môi trường ở thành phố khó tu lắm, phải là bậc trung căn, thượng căn mới dám ở. Còn tiểu căn, thôi ở rừng núi hay hơn.

Trong Sa Di Học Xứ, Tổ Tuyên Luật Sư nói:

“Ở trong chợ ồn náo tạp loạn nên gọi là chỗ huyên náo, nếu chẳng phải là bậc đại lực lượng thõng tay mà vào, vào mà chẳng có trôi giạt thì mới được vào.”

Tổ Tuyên Luật Sư nói, chỗ ồn náo nếu chẳng phải là bậc đại lực lượng thõng tay mà vào, gọi là thõng tay vào chợ, thì bậc trung căn, tiểu căn không thể vào được.

Như câu chuyện của Đại Đăng Quốc sư, ngài đi đâu các đệ tử không ai biết. Tìm kiếm mười năm trời, vị trưởng tử mới phát hiện ngài sống dưới gầm cầu với những người ăn mày. Ở lại với Thầy, đêm đó người đệ tử phải cùng Thầy đào hố chôn người ăn mày bệnh hủi chết. Quốc sư Đại Đăng vẫn bình thản, nhưng vị đệ tử thì không chịu nổi. Sáng hôm sau người đệ tử đề nghị đi khất thực, Quốc sư nói có chén cháo còn dư của người ăn mày mới chết, hôm nay không cần đi kiếm ăn. Vị đệ tử không thể sống nổi như thế, nên từ giã Thầy ra đi.

Bậc đại lực lượng mới vào được. Sống dưới gầm cầu với những người ăn mày mười năm, ngài thử xem tâm mình còn dấy niệm phân biệt hay không. Tổ Huệ Khả thì vào quán rượu để thử lại tâm mình. Người xưa thử tới mức độ như vậy, còn mình thì thử không được.

Thiền sư Phổ Chiếu, dạy thử tâm bằng cách duyên theo một cảnh nào đó để xem còn niệm hay không. Chẳng hạn hôm nay muốn xuống núi, mình để hình ảnh một cô thiếu nữ trước mặt, rồi duyên thử xem tâm còn động niệm hay không. Nếu còn khởi dục niệm thì ráng ở núi tiếp năm năm nữa. Chừng nào không còn khởi gì thì hãy xuống núi, vì hạt giống tham ái đã. Hạt giống tham ái không còn thì vô công dụng hạnh, tức là ngay trong giờ phút não cũng đều sống trong cảnh giới vô niệm.

Nhiều thầy đã thử như thế mà thấy vẫn còn niệm, nên không dám xuống núi. Nếu thấy đỡ đỡ rồi, quý thầy thử thêm một bước nữa là xuống Thiền viện Tuệ Quang, ở thử một tháng hay mười ngày xem sao. Gần Thiền viện họ hát karaoke, rồi mấy cô bán cà phê đi qua đi lại mà mình không thấy gì hết thì xuống được. Còn khởi niệm liên tục thì biết mình không phải là bậc đại lực lượng, phải chạy liền, chạy lên Trúc Lâm tu tiếp.

Ngày xưa, có một số thầy không muốn ở Trúc Lâm nữa, vì bệnh hay không chịu lạnh được. Tuy nhiên, không dám xin xuất chúng liền, mà xin đi trị bệnh một thời gian. Xuống núi một, hai tháng, đi chỗ này chỗ nọ thử tâm mình, thấy không xong thì chạy lên tu tiếp. Còn nếu xin xuất chúng rồi mà trở về thì Hòa thượng không nhận.

Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo dạy:

“Trần lao thế gian như lửa cháy hừng hực biết đến bao giờ mới tắt, phải ngay trong chỗ náo động mà chẳng quên việc trên ghế chúc bồ đoàn. Trước kia để tâm nơi chỗ tĩnh lặng thì nay ở chỗ náo động phải đem ra dùng. Nếu ở chỗ náo động chẳng đắc lực thì có khác nào chưa từng đã dụng công phu ở nơi tĩnh lặng.”

Ngài dạy trong lúc hạ thủ công phu, ngay chỗ tĩnh lặng mà được bao nhiêu thì ra chỗ náo động, phải đem hết năng lực mà dùng.

“Nếu cho rằng chỗ tĩnh lặng là phải, chỗ náo động là chẳng phải, ấy là hoại tướng thế gian mà cầu thật tướng.”

Chỗ tĩnh lặng mình nói tu được, chỗ náo động mình nói chẳng phải tu được thì hoại tướng thế gian. Theo tinh thần Thiền tông, Thiền Tổ sư là ngay tướng phải nhập vô tướng chớ không phải diệt cái tướng đó, ngay chỗ náo động phải tu, phải chuyển hóa.

Ngày xưa các ngài tu ở núi một thời gian thật lâu rồi các ngài mới xuống núi để thử tâm mình. Còn mình nói ngồi thiền yên tịnh rồi ra chỗ ồn náo nó dậy khởi mình tu không được thì trật, là mình hoại cái tướng thế gian. Tất cả các pháp đều nằm trong thân ngũ uẩn của mình, ngay chỗ tiểu vũ trụ đó là đại vũ trụ, mà ngay chỗ đại vũ trụ đó tức là tiểu vũ trụ.

Theo tinh thần Thiền Tổ sư, các ngài ngay chỗ tướng thế gian mà thể nhập cái vô tướng, cho nên các ngài không bỏ thế gian này. Nếu nói chỗ tĩnh lặng mới tu được, vậy hành đường, trực nhật ồn náo làm sao tu? Một ngày ngồi thiền bốn tiếng đồng hồ mình nói mình tu, còn bao nhiêu buông lung hết thì không được.

Quý thầy mới xuất gia không được ra nhà khách thường xuyên là đúng, nhưng tu năm năm, mười năm bắt buộc phải ra nhà khách thử lửa. Ra để nhìn lại tâm, coi thử cái tâm mình tiếp xúc, chuyển hóa như thế nào. Các Thiền sư nói, ngay tuyết mà thêm sương là trật, cho nên các ngài dạy phải luôn luôn nhìn lại tâm mình. Tâm mình vui mình biết, tâm mình buồn cũng biết, tâm mình khổ…, tất cả các thứ tâm chỉ có một cái tri kiến duy nhất để tìm cách mình chuyển hóa. Chẳng hạn, trong giờ phút thực tại, nhìn cảnh thấy mình còn thèm muốn, thì tối lên bồ đoàn quý thầy phải tìm cách chuyển hóa.

“Lúc thích tĩnh lặng, ghét náo động chính là lúc dụng công tốt nhất.”

Ngay chỗ trạo cử, lăng xăng, dục nhiễm, ngay chỗ tâm thức phát động thì dụng công rất đắc lực. Trải qua sáu tháng ở nhà khách, tôi thấy rất rõ, tại sao ở trong chúng không có mà ra đây lại có cái này? Biết chắc chắn những hạt giống tham ái này vẫn còn thì đừng nên rời Thiền viện. Phải tiếp tục công phu, tiếp tục chuyển hóa. Nhờ hoàn cảnh, nhờ môi trường mình thấy: “À, thì ra mình vẫn còn!” Mình tưởng hết rồi nhưng thiệt ra nó không hết, không hết thì tiếp tục mài giũa. Vào thất bốn mươi chín ngày hoặc ba tháng, quý thầy thấy tâm rất yên, mà tại sao ra đụng đại chúng, đụng huynh đệ? Như vậy, cần tìm cách cách chuyển hóa. Một thời gian, tự nhiên quý thầy thấy rất là nhẹ, thì lúc này công phu tiến.

“Bỗng nhiên ở trong chỗ náo động mà được cái đắc lực của lúc tĩnh lặng, sức mạnh ấy hơn lúc ngồi trên ghế chúc bồ đoàn gấp nghìn vạn lần. Hãy nghe lời tôi, chắc chắn không lừa gạt các ông đâu.”

Quý thầy ở trên bồ đoàn tĩnh lặng được một tiếng, nhưng ra làm việc mà tĩnh lặng được mười phút thôi, thì sức tĩnh lặng đó mạnh hơn gấp trăm gấp ngàn lần. Thiền sư Bạch Ẩn khẳng định, trong chỗ náo động mà dụng công được thì sức mạnh gấp nghìn, vạn lần lúc ngồi tĩnh lặng. Vừa làm việc cho chúng, vừa tu được thì công đức nó tác động, phát huy được năng lực. Tuy nhiên rất là khó, đòi hỏi mình phải từng ở lâu trong chúng.

Ngài dạy tiếp:

“Thường thường người lợi căn thượng trí được nó chẳng phí sức nên sanh tâm khinh dễ, chẳng chịu tu hành.”

Bậc thượng căn túc trí đối với thiền rất nhạy bén, nghe hiểu liền, tu được liền. Nhưng lại nghĩ: đi, đứng, nằm cũng tu được nên bỏ cái ngồi. Như vậy thì không được.

“Họ phần nhiều bị cảnh giới cướp đoạt đem đi, làm chủ không được. Lâu ngày chầy tháng mê muội không phản tỉnh, đạo lực không thắng được nghiệp lực.”

Thấy ở chỗ động mình tu cũng được nên không cần nhập thất, cũng không cần ngồi thiền. Lâu ngày chầy tháng mê muội, phản tỉnh lại không được. Nhiều người, ở trong chúng thì rất hay, nhưng đi ra làm trụ trì, phó trụ trì, hoặc đi làm Phật sự một thời gian lại nghe tin người đó ra đời hoặc phạm giới gì đó. Đó là do đạo lực không thắng được nghiệp lực.

Đạo lực là hiểu đạo, hiểu thiền và có công phu. Rồi nghiệp lực đến, chẳng hạn như Ngài A-nan gặp Ma-đăng-già. Vì nhiều đời nhiều kiếp đã có túc duyên là vợ chồng, nên Ma-đăng-già nhìn thấy A-nan là thương liền. Đây là nghiệp lực. Trong vô số người khác phái, đâu biết được ai là người đã từng là vợ của mình trong kiếp trước. Có nhiều người rất đẹp nhưng nhìn vẫn dửng dưng, còn có người không đẹp, thậm chí xấu, tại sao mình lại thương? Vì có túc duyên nhiều đời nhiều kiếp, tự nhiên nhìn thấy là khởi niệm đó liền. Khởi niệm rồi về trằn trọc ngủ không được, ăn cũng không được. Quý thầy ở trong đại chúng thì không có nhưng ra ngoài sẽ gặp.

Chẳng hạn, hằng ngày có người đó thường đến cúng dường, quý thầy không thấy gì. Nhưng mười ngày, hai mươi ngày người đó ở nhà không đến, quý thầy thấy có cái gì thiếu thiếu là biết mình có túc duyên gì đó, phải chạy liền, ở lại một thời gian là chết!

Đạo lực không thắng được nghiệp lực là chỗ đó. Mình hiểu hết, tu cũng có công phu, nhưng công phu ít, công phu không miên mật thì nghiệp lực đến là bó tay. Chỗ này phải lưu ý.

Như một vị Hòa thượng ở Khánh Hòa, hôm nào ngài giảng pháp mà có cô đó nghe thì ngài giảng rất hay. Một hôm nhìn xuống không thấy cô đó nữa, ngài quên đầu quên đuôi giảng không ra gì hết. Ngài biết rồi, bèn giải tán pháp hội vào núi tu liền.

Có một thầy ngày xưa tu ở Thường Chiếu, giỏi lắm mà rất đẹp người. Sau ra làm Phật sự, cuối cùng lấy một bà đã có bảy người con. Mà thầy là trai mới lớn! Phải là nghiệp lực không? Đạo lực thì hiểu rất rõ: “Vào đó là khổ!” Bây giờ thì chặt củi, đốt than nuôi bảy người con cho bà vợ này!

Nghiệp lực đó chuyển hóa như thế nào? Quý thầy nhớ rằng, không ai lừa dối được mình hết, chỉ có chính mình biết thôi. Như trên tôi nói, thấy động niệm một chút là chạy liền, bất cứ giá nào cũng phải bỏ của chạy lấy người, đừng có ham cái gì hết thì thắng. Đó là mình chuyển hóa nghiệp lực.

“Ma có cơ hội thuận tiện khuấy phá, nhất định họ bị ma nắm lấy sai khiến, đến lúc mạng chung cũng không có đắc lực. Lý thì đốn ngộ, nên vọng tưởng do nơi ngộ mà đều tiêu. Sự phải tiệm trừ, nên tập khí phải theo thứ lớp dần dần mới hết.”

Một người, sau khi ngộ nhập vào tri kiến Bát-nhã rồi thì vọng tưởng lắng. Vọng tưởng lắng, mà tưởng mình được rồi là thua. Sự phải tiệm trừ thì tập khí dần dần mới hết. Cần phải ở trong chúng mài giũa lâu năm thì những tập khí mới hết, tập khí hết rồi thì nghiệp tập, chủng tử cũng hết theo luôn. Khi đó, xuống núi không sợ ai theo nữa. Mà nếu họ có nghiệp lực chăng nữa thì cũng chỉ đến hộ pháp thôi, chứ không có dùng năng lực, quyền lực hay cái gì đó quyến rũ quý thầy được nữa. Vậy là thầy trở thành bậc pháp khí thượng thừa trong tông môn, mà nhờ cái gì? Nhờ ở trong tùng lâm, ở lâu với thầy.

“Cũng chẳng được ở chỗ miếu ông thần.”

Tổ Tuyên Luật Sư dạy:

“Thần là lấy rượu thịt làm cúng tế, thì Tăng Ni há dừng ở chỗ người khinh chê. Nên người xuất gia lúc Phật ở đời nương Phật mà trụ, sau khi Phật diệt độ thì nương nơi tượng Phật mà trụ. Cho nên người trì giới chẳng nên lễ quỷ thần. Vả lại quỷ thần thâm kín, nếu trụ ở miễu quỷ thần thì quỷ thần khinh mạn.”

Lúc xa thầy, cũng không được ở chỗ miếu quỷ thần. Ngài nói, phàm là người xuất gia, lúc Phật còn ở đời thì nương Phật mà trụ. Sau khi Phật diệt độ thì nương nơi tượng Phật mà trụ. Có nghĩa là đến tùng lâm, ở chùa chiền hay ở nơi đâu đều phải thờ tượng Phật. Không được ở miếu, cũng không được đảnh lễ những vị thần.

Cổ đức nói:

Tăng ở thành đô Phật Tổ rầy,

Chư Hiền đều ẩn chốn am mây,

Non cao suối chảy về hạ thế,

Trong vắt y nguyên hóa đục nhầy.

Tăng ở thành đô Phật Tổ rầy, có nghĩa là mình ở chỗ ồn náo, ở chỗ miếu quỷ thần thì Phật, Tổ rất lo và rầy mắng. Chư Hiền đều ẩn chốn am mây, là ở núi cao rừng thẳm. Non cao suối chảy về hạ thế, trong vắt y nguyên hóa đục nhầy. Cái tâm chân thật của mình nếu ở chỗ tốt thì nó tốt, mà ở chỗ xấu một thời gian nó cũng đục, cũng nhơ.

“Chẳng được ở nhà dân, chẳng được ở chùa cô Ni.”

Kinh Pháp Cú kể chuyện ngài A-na-luật trên đường đi gặp lúc trời tối, ngài xin ở nhà tín thí. Cô này thấy ngài tướng hảo nên làm đủ cách để gạ gẫm, ngài phải dùng thần thông bay lên nóc nhà.

Ngay trong giờ phút, đó nếu không có thần thông thì quý thầy làm sao? Tông cửa? Cửa sắt khóa hết làm sao tông? Phật nói, đời hậu thế sau này không có thần thông như ngài A-na-luật thì sao?

Cho nên Phật chế giới không được ở nhà dân. Mà ngủ chỗ nào thì phải có hai thầy trở lên mới được. Tổ Tuyên Luật Sư dạy, thứ nhất là tiêm nhiễm tình sanh, thứ hai là khiến người đời chê bai. Đi trị bệnh mà không có bà con ở thành phố thì tìm đến chùa ngủ. Nếu có nhà người thân trong gia đình, ngủ ở phòng riêng biệt thì không sao.

Tôi kể thêm để quý thầy kinh nghiệm. Có vị thầy ở Sài gòn được một cô Phật tử thỉnh về nhà làm lễ an vị Phật, thầy cũng thiệt tình đến. Vừa đến thì cô này khóa cửa lại hết. Thầy sợ quá nhưng cũng lanh trí nói: “Khoan, mở cửa để thầy ăn sáng xong rồi tính.” Cô này vừa mở cửa là thầy bỏ xe, bỏ đồ chạy luôn. Lúc này phải dùng trí chứ đừng nói là tông cửa!

Người xưa nói “khôn ba năm, dại một giờ”. Trong lúc hạ thủ công phu thì nghiệp nó không đến, nhưng khi nó đến chỉ trong tích tắc. Nghiệp đến mà ở trong chúng thì mới chuyển hóa được. Chẳng hạn cái nghiệp mà ngày này, tháng này, năm này sẽ bị, nhưng nhờ duyên tốt đưa quý thầy vô thất. Trên thì có Hòa thượng, dưới có thầy Trụ trì, chung quanh là đại chúng, tất cả năng lực đó đều phóng ánh hào quang thì làm sao nghiệp đến được.

Tôi biết một vị thầy nhập thất mười hai năm, năm thứ mười ba mở cửa thất chạy xuống làng phạm giới. Tại sao nhập thất mười hai năm không bị mà đến năm thứ mười ba lại bị? Năm thứ mười ba, tự nhiên thầy ngồi nhớ lại cô Phật tử dưới phố ngày xưa. Nhớ suốt chịu không nổi, phải mở cửa thất xuống làng, phạm giới rồi hoàn tục luôn. Đạo lực có nhưng chưa đủ nên không thắng nổi nghiệp lực!

Gặp trường hợp này phải chuyển hóa như thế nào? Phải nhờ huynh đệ, hoặc phải can đảm, lấy dây xích khóa cửa ba vòng, nhốt mình trong đó không cho thấy cảnh vật gì ở bên ngoài, chuyên tu thiền định. Ngồi thiền xuyên suốt, có một lúc cái nghiệp này nó lắng xuống thì vượt qua được, thường phải mất khoảng nửa tháng hoặc một tháng.

Tu mà có dụng công một thời gian sẽ trải qua cảnh giới này, nếu đang ở trong thất thì càng khủng khiếp. Phải tìm cách chuyển hóa chứ không được bước ra khỏi thất, bước ra gặp bất cứ tình huống nào cũng phạm được. Nghiệp lực nó đến, đạo lực không thắng được mà phải nhờ đại chúng, nhờ thầy Tổ. Ở trong thất hai mươi mốt ngày, bốn mươi chín ngày hoặc ba tháng mà được yên ổn là nhờ năng lực hộ niệm của Hòa thượng, của thầy Trụ trì và của đại chúng, rõ ràng như vậy. Chứ tu một mình, nghiệp nó đến chắc không qua được.

“Chẳng được cùng Thầy đồng ở mà làm tất cả các việc ác trong thế gian. Thứ nhất là vì lợi buôn bán, giao kết tới lui. Thứ hai là học tập nghề, hay hát xướng, đóng tuồng. Thứ ba là đi sứ bốn phương đều gọi là việc ác.”

Bài Phép Thờ Thầy cần học để biết phải tu tập và thờ thầy như thế nào cho đúng oai nghi, đúng phép.

 

3. Theo Thầy Ra Đi

“Chẳng được trải qua nhà người khác. Tức là phải đi chánh niệm, thu thúc sáu căn.”

Sa Di Học Xứ, Tổ Tuyên Luật Sư dạy:

“Nghĩa là sư trưởng xuất hành, đệ tử phải đi theo chẳng được trải qua nhà người khác.”

Đi với Thầy mà mình tách ra đi thăm người khác thì không được.

“Nghĩa là chẳng được sư trưởng ở một nhà, đệ tử lại đi qua nhà người khác. Mất cái đạo tương trợ cùng đi.”

Tại sao thầy lại dắt đệ tử đi theo? Đệ tử coi ông thầy, ông thầy coi đệ tử chứ không có gì lạ. Chẳng được sư trưởng ở một nhà, đệ tử lại đi qua nhà khác. Phải ở hầu thầy, nhiều khi thầy đau bụng, trúng gió gì đó thì quý thầy cạo gió chứ nhờ ai? Rất nhiều trường hợp có thể xảy ra với Thầy, đệ tử cần phải ở cùng Thầy để chăm sóc.

Ngày trước, khi ở nước ngoài, đi giảng bất cứ nơi đâu, tôi đều nhờ một Phật tử nam thân tín đi theo. Một mình một ngựa mà đi là chết!

“Dẫu cho qua nhà cha mẹ, đàn việt, nếu thầy chẳng ghé cũng chẳng được vào.”

Thầy không cho, thầy nói ở với thầy đừng đi thì không được đi. Hôm nào đi theo thầy Trụ trì về Sài gòn, nhà quý thầy cũng ở Sài gòn. Quý thầy xin ghé về nhà thăm cha mẹ mà thầy nói không được, ở lại với thầy mà quý thầy đi là phạm giới.

Luật nói:

“Chẳng được đi xa khiến chẳng thấy nhau, phải cùng nhau mà đi như duỗi một cánh tay. Nếu trước có voi ác, trâu ngựa… phải hướng về thầy mà nói, trước tránh qua một bên.”

Đi như vậy, lúc nào cũng thấp, đi sau Thầy, duỗi cánh tay là gặp Thầy liền. Đi đường nhiều khi gặp trâu, ngựa… Thầy lớn tuổi mình phải dắt Thầy đi.

“Chẳng được đứng bên đường cùng người nói chuyện. Chẳng được liếc ngó hai bên, phải cúi đầu theo sau thầy.”

Thầy đi trước, quý thầy đi sau liếc ngó tùm lum, người ta nhìn vào nói: “Thầy dạy đệ tử kỳ vậy, mắt liếc tới liếc lui”. Cho nên lúc nào cũng thu thúc chánh niệm, đi sau Thầy.

Tổ Tuyên Luật Sư dạy:

“Trong ba ngàn oai nghi, hạnh là đệ nhất. Tỳ-kheo giữ hai trăm năm mươi giới.”

Sa-di giữ mười giới và hai mươi bốn oai nghi, hạnh là đệ nhất tối thượng. Người ta quý kính mình cũng nhờ cái hạnh.

“Đến nhà người đàn việt phải đứng một bên thầy, thầy dạy ngồi mới ngồi. Đến chùa, am khác, thầy lễ Phật hoặc mình lễ, chẳng được tự nhiên đánh khánh, đánh chuông. Hoặc thầy đi núi phải đem đồ ngồi cho thầy.”

Đến chùa nào khác nếu tự động gõ khánh, gõ chuông là Thầy Trụ trì ở đó biết mình chưa học oai nghi phép tắc gì hết.

“Hoặc đi đường xa chẳng được cách thầy xa lắm. Hoặc lội nước phải cầm cây dò thử sâu hay cạn. Mang bình, cầm tích trượng, còn nhiều việc hầu thầy đủ như trong luật, văn nhiều nên ở đây không chép. Hoặc tình cờ chia ra đi, hẹn chỗ nào nhóm, chẳng được tới sau.”

Có nghĩa là phải luôn tới trước thầy.

Câu chuyện Trương Lương trả hận nước Hàn:

Nước Hàn bị nước Tần đánh, một hôm Trương Lương buồn đi lang thang, gặp một ông lão trên cầu Hạ Bì. Từ xa đi tới, ông lão cố ý làm rớt chiếc dép xuống dưới cầu, bảo Trương Lương nhặt lên. Trương Lương ngạc nhiên bởi giọng điệu khó nghe của ông lão, nhưng thấy ông đã lớn tuổi nên cũng lội xuống sông nhặt lên và xỏ dép vào chân cho ông. Sau đó ông lại làm rớt xuống lần nữa, Trương Lương lại nhặt lên, ba lần như thế, ông lão biết người này dạy được nên hẹn Trương Lương năm ngày sau vào lúc sáng sớm, quay lại chỗ này để gặp ông.

Năm ngày sau, trời vừa tờ mờ sáng, Trương Lương đã đến nơi hẹn, không ngờ ông lão đã có mặt ở đấy từ lúc nào. Ông lão đuổi Trương Lương về, hẹn năm ngày sau nữa. Qua năm ngày, lúc gà vừa gáy sáng, Trương Lương đã đến bên đầu cầu, nhưng ông lão cũng đã có mặt ở đó, ông lại đuổi Trương Lương về và nói năm ngày sau nữa hãy tới. Lần thứ ba thì Trương Lương không dám trễ nữa, nửa đêm canh ba đã đến bên cầu đứng đợi. Ông lão thấy dạy được rồi nên mới trao cho Trương Lương bộ “Thái Công Binh Pháp.” Trương Lương đem về học, sau này phụ với Hán Cao Tổ.

Sách xưa ghi rất rõ, đệ tử phải luôn tới trước Thầy.

“Thầy chứng trai phải đứng hầu mà xuất sanh. Trai xong phải đứng hầu thầy mà cất của cúng. Xuất sanh gọi là niệm, xong cúng dường, phụng trì giáo huấn của Như Lai, trước xuất một phần ăn thí các quỷ thần, chúng sanh. Trong Viễn Hương Khổng Ký Minh có nói, thị giả tống thực phải trước tịnh khí an ổn chỗ tịnh, trì chú và quán tưởng,”

Thầy chứng trai phải đứng hầu mà xuất sanh. Trong lúc cúng chim đại bàng phải thành tâm, chánh niệm thu thúc lục căn thì chim đại bàng mới đến. Vào thời đức Phật cũng vậy, những vị trì chú, quán tưởng thì có công đức lớn. Tâm thức không được yên ổn, nhớ đâu nghĩ đó thì chim đại bàng chạy mất.

Trai xong phải đứng hầu thầy mà cất của cúng, bỏ vào đãy đem về chia cho huynh đệ ăn nữa, chứ không phải người ta cúng dường bánh trái rồi ra sau ăn hết.

“Ăn xong rửa bát nói một thời pháp. Tại gia thực hành tài thí, mà xuất gia thì thực hành pháp thí.”

Vào thời đức Phật, ăn xong dọn chén bát hết, rồi thuyết một bài pháp ngắn. Bây giờ cũng vậy, đến nhà Phật tử, sau khi ăn xong, người ta cúng dường, quý thầy phải nói một bài pháp ngắn, biết gì nói nấy, chẳng hạn nói: “Ở Thiền viện quý thầy sáng ba giờ rưỡi ngồi thiền, ngồi thiền rất là miên mật. Biết tại sao phải ngồi thiền không…,” cũng là một bài pháp trả nợ công ơn tín thí. Chứ ăn xong, quý thầy đứng dậy đi liền là không được, mình thì thiếu nợ mà tín thí không được lợi ích gì hết.

Vào thời đức Phật, có vị sư lớn tuổi, sau bữa ăn sư được tín thí mời giảng, sư khổ tâm vì không biết thuyết pháp nên than: “Mình ngu si thật là khổ!” Dưới pháp hội nghe vậy, tưởng sư dạy rằng kẻ nào ngu si là khổ nên chứng đạo hết.

 

4. Nhập Chúng

“Là chẳng được tranh chỗ ngồi, chẳng được ngồi chỗ cao xa, kêu nhau nói cười. Trong chúng có sơ thất oai nghi phải giấu kỹ, bày cái pháp lành.”

Trong chúng lỡ mất oai nghi, thì phải giấu kỹ, chứ không được nói cho cư sĩ biết. Chẳng hạn về nhà cư sĩ hay về nhà cha mẹ, quý thầy kể: “Ông thầy đó hay ngồi chồm hổm, ngồi rung đùi…” là không được, phải giấu. Ngồi chồm hổm là mất oai nghi, người ta coi thường.

Sa-di Học Xứ ghi:

“Phàm muốn vào chúng phải đầy đủ năm pháp: Thứ nhất là nên dùng từ tâm, thứ hai là tâm phải khiêm cung thấp mình xuống. Thứ ba là phải biết pháp tọa khởi, thứ tư là ở trong Tăng kia chẳng bị tạp loạn, thứ năm là nếu thấy trong Tăng có việc chẳng có thể nhẫn nên im lặng.”

1– Thứ nhất là nên dùng từ tâm.

Phải dùng từ tâm thương xót đại chúng.

2- Thứ hai là tâm phải khiêm cung thấp mình xuống.

Lục Tổ dạy:

“Trong tâm khiêm hạ là công, bên ngoài hành lễ phép là đức. Nếu người tu công đức, tâm tức không có khinh, thường hành khắp kỉnh. Tâm thường khinh người, ngô ngã không dứt tức là không công, tự tánh hư vọng không thật tức là tự không đức. Vì ngô ngã tự đại thường khinh tất cả.”

Vào trong chúng luôn giữ tâm khiêm hạ, thấp mình thì ở chỗ nào cũng được.

Thiền thoại có ghi:

Học tăng trong thiền viện Long Hổ họa bức tranh rồng đấu với hổ mà vẽ mãi không thành. Tuy sửa đổi nhiều lần mà những chi tiết trong tranh vẫn chưa ổn. Chợt gặp Thiền sư Vô Đức từ ngoài vào, học tăng thỉnh ngài chỉ dạy. Thiền sư xem xong nói: Rồng đang công kích tới trước, đầu phải thụt lùi ra sau, hổ muốn chồm lên thì đầu phải mọp xuống. Rồng thụt đầu ra sau thì cổ càng lớn, đầu hổ càng sát đất thì nhảy vọt càng cao.”

Nhân cơ hội này Thiền sư Vô Đức chỉ dạy: “Làm người xử sự với nhau và đạo lý tham thiền tu đạo cũng giống như thế, lùi lại một bước về sau thì khả năng tấn công về trước càng xa; phản tỉnh khiêm hạ thì năng lực vươn lên lại càng cao.”

Cũng như các thế võ Thiếu Lâm Tự, muốn đánh là phải lùi bước, lùi bước thì tấn đến mới nhanh. Càng thụt lùi thì đối phương càng sợ, vì không biết mình đang thủ cái thế gì. Đó là người có võ. Còn người không võ mà thụt lùi là chuẩn bị chạy. Trong ba mươi sáu thế, thế cuối cùng là bỏ dép chạy!

Phương pháp tu đạo cũng vậy, phải khiêm nhường. Khiêm nhường là lúc đang tiến lên. Áp dụng như thế sẽ có năng lực làm Phật sự sau này. Ngày xưa, nếu tôi học kỹ chỗ này thì làm Phật sự không thất bại. Cương quá thì tự nó gãy, đổ vỡ hết.

Ngài nói bài kệ:

Tay cầm mạ non cấy xuống ruộng,

Cúi đầu nhìn thấy trời trong nước,

Thân tâm thanh tịnh mới là đạo,

Lùi bước chính là đang tiến lên.

Cúi xuống nhìn mặt nước thấy bầu trời, thấy trăng sao, thấy đủ thứ hết. Cấy lúa phải đi lùi, nếu đi tới thì giẫm đạp lên lúa. Mà đi lùi thì thấy sanh trưởng, chỗ nào cũng màu xanh hết. Lùi bước chính là đang tiến lên.

Tại sao mình tu mà còn cống cao ngã mạn? Ngài Trí Chiêu Luật Sư có dạy:

“Tiếng Phạn gọi là bhiksu, Trung Hoa dịch là khất sĩ, tức có nghĩa là người xin ăn. Nghĩa là bên trong thì xin giáo pháp của mười phương chư Phật để trị tâm, bên ngoài thì xin cơm của đàn việt để nuôi thân. Cũng phải giã từ, trước nhất là tóc râu, cái mà người đời quý trọng cũng phải cạo bỏ hết; giàu sang của bảy báu tràn đầy cũng vứt bỏ đồng như cỏ rác; tôn quý quyền uy nhất phẩm mà cũng xem đó khác gì mây khói. Chán ngấy thân vô thường, xét cùng tột đến gốc rễ nguyên chơn, muốn cho chí khí thanh cao hẳn phải dẹp thân giả tạm.”

Theo ngài, sở dĩ tu mà không khiêm nhường, lại còn cống cao ngã mạn là vì xét không thấu đáo cội nguồn. Phải nghiệm lại mình là ai. Là khất sĩ! Khất là xin, khất sĩ là người ăn xin thôi chứ gì đâu. Trên thì xin giáo pháp mười phương chư Phật, dưới xin của đàn-na tín thí để nuôi cái thân này. Là khất sĩ tại sao còn ngã mạn? Xét đi xét lại cho thấu tột cội nguồn thì tâm ngã mạn chìm xuống, tâm khiêm cung sẽ lấn át lên và có năng lực thù thắng.

“Cầm tích trượng giống như cầm gậy khô, kẻ ăn mày mang bình bát nào khác mang chén mẻ. Vai khoác cà-sa xem như mặc áo rách, tay mang túi đãy xem đồng như túi cói. Phải trong sạch nuôi mạng sống, giữ mình tắm nhuần trong tám Thánh đạo.”

Ngài nói rất rõ, phải xét cội nguồn coi mình như người ăn mày ăn xin. Coi được như thế thì vào trong chúng làm bất cứ chuyện gì cũng được, mà luôn luôn khiêm nhường. Ngài nói khiêm nhường là năng lực của đạo.

Kinh Tiểu Tạp Thí Dụ quyển Hai có kể câu chuyện:

Ở nước nọ, có vị thầy chuyên tụng chú để cảm hóa rồng. Thầy tắm rửa sạch sẽ, đem bình đựng đầy nước đến bên ao rồng tụng chú. Khi ấy, rồng ở trong ao thấy lửa từ đáy ao phọt lên rồi lan ra khắp ao, chỗ nào cũng đều có lửa. Rồng quá sợ hãi, ngước đầu nhìn lên núi, lại thấy lửa lớn đốt cháy núi rừng. Không thấy chỗ nào để nương tựa, khắp nơi đều bị lửa đốt cháy, không có nơi nào làm đất dung thân, chỉ còn lại bình nước mát là nơi có thể vào đó tị nạn. Muốn vào bình nước mát đó, phải dẹp bỏ thân lớn biến thành thân hình nhỏ gọn mới có thể vào được.

Phật ví ao rồng như là cõi dục. Ngước nhìn lên núi ví như cõi sắc, cõi vô sắc, tức là ba cõi đều bị lửa dục thiêu đốt. Thầy tụng chú cảm hóa rồng ví như Bồ-tát. Dùng chú thuật ví như pháp phương tiện. Lửa lớn đốt cháy ví như hiện cảnh vô thường. Rồng có thân to ví như lòng kiêu mạn. Thân hình nhỏ ví như lòng khiêm tốn. Muốn đạt đến chỗ chánh định, chánh thọ, phải thu thúc, biến thành hình nhỏ thì mới vào được tam muội này.

Qua bài này, quý thầy thấy rằng ở trong chúng không được có tâm kiêu mạn. Muốn vào được nước chánh định, ngộ nhập được tri kiến Bát-nhã phải luôn có tâm khiêm hạ.

3- Thứ ba là phải biết pháp tọa khởi.

“Sa-di tiểu chúng thấy người thọ cụ túc giới trọn nên khởi đứng dậy.”

Thấy người thọ giới trước, thì đứng dậy xá chào.

“Nếu thấy thượng tọa chẳng nên ngồi yên.”

Chẳng hạn mình đang lặt rau hay làm bất cứ công việc gì mà quý thầy lớn như thầy Trụ trì, Thầy cố vấn đi qua mình phải đứng dậy.

“Nếu thấy hạ tọa chẳng nên khởi đứng.”

Người nhỏ hơn mình, không đứng dậy không có lỗi.

4- Thứ tư là ở trong Tăng kia chẳng bị tạp loạn.

Tổ dạy, ở trong Tăng chúng chẳng theo người đàm tiếu việc đời. Trong tăng đường, người ở đơn kế bên nói chuyện, nhất là những chuyện ngoài đời, nếu không tỉnh giác, chánh niệm thì mình dễ chạy theo, dễ bị vọng tưởng dẫn.

5- Nếu thấy trong Tăng có việc chẳng có thể nhẫn nên im lặng.

Nghĩa là việc nào nhẫn được trong nói năng thì nhẫn trong nói năng, chẳng thể nhẫn trong nói năng thì nên nhẫn trong im lặng.

Luận Đại Trí Độ nói:

“Đệ tử Phật Thánh trụ trong hòa hợp có hai thứ pháp: thứ nhất là nói năng như Hiền Thánh, thứ hai là im lặng như Hiền Thánh.”

Hồi xưa, tôi hiểu nói năng như Hiền Thánh là nói Phật pháp. Nói Phật pháp tức là nói về Kinh Phật. Nói về Kinh Phật mà như cãi lộn thì giống Hiền Thánh chưa? Chuyện này trong Tăng chúng hay vấp phải. Mới đầu thì cũng nói Phật pháp, nhưng sau đó thì tranh luận Phật pháp! Như trong bài Sám Hối sáu Căn: “Kinh luận tranh giành, cùng nhau công kích.” Như vậy không phải là Hiền Thánh nữa.

Sau này được Hòa thượng, rồi quý thầy lớn chỉ dạy, mới giật mình về điểm này. Nói Phật pháp mà giống như công kích, hơn thua với nhau, các ngài gọi là nói năng như La-sát, chứ không phải như Hiền Thánh. Rồi giận, mà không nói nữa, các ngài gọi là im lặng như A-tu-la! Vì im lặng mà bên trong bực bội!

Phật nói pháp là vì chúng sanh phá chấp. Chư Tổ cũng vậy. Chẳng hạn có người hỏi: “Có định nghiệp hay bất định nghiệp không?” Thì quý thầy nói có cũng được mà nói không cũng được. Có một vị Tăng đến hỏi Lục Tổ Huệ Năng: “Phật tánh là thường hay vô thường?” Rõ ràng Phật tánh là thường hằng, tất cả Kinh Phật đều nói thế nhưng Tổ nói vô thường, bởi phá cái chấp thôi. Vì chấp cái gì cũng là thường nên Tổ nói vô thường để phá.

Biết được như vậy rồi ai nói gì thì nói, mình im lặng, đó gọi là im lặng như Hiền Thánh. Lục Tổ nói rằng, nói với người đồng kiến, đồng hành để cho họ hiểu, tu là nói năng như Hiền Thánh, trong chúng cũng cần như thế.

Hiểu sâu hơn nữa, nói năng như Hiền Thánh không hẳn là chỉ nói chánh pháp. Lúc nào cũng đưa Phật pháp ra, nhiều khi người ta không thích mà còn giận mình nữa. Như vậy, nói cho đúng tinh thần là tùy theo hoàn cảnh mà nói lời nhu nhuyến, thanh tịnh, cởi trói cho họ là nói năng như Hiền Thánh.

Còn có những trường hợp không nói gì mà dùng sự im lặng mở trói cho họ, thì đó là im lặng như Hiền Thánh. Điều đó mới quan trọng, chứ không phải tranh cãi, công kích, luận bàn, cho dù luận bàn Phật pháp thì cũng không đúng.

Sa Di Học Xứ ghi:

“Chẳng được tranh chỗ ngồi. Nói chẳng có từ tốn, mà ngồi còn chẳng có thích nghi, huống nữa là tranh ư? Song trong tùng lâm, vị trí chỗ ngồi mỗi mỗi có thứ lớp. Sa-di lấy giới pháp thứ lớp mà ngồi. Nếu có tranh thì mất pháp độ tùng lâm.”

Ngồi ăn cơm, ngồi thỉnh nguyện, bất cứ sự việc nào cũng đều lấy giới pháp làm trọng. Sa-di xuất gia cùng một lượt thì lấy tuổi đời làm mốc. Còn Sa-di xuất gia trước, cho dù một tháng, hai hay ba tháng cũng ngồi trước cho dù mình nhỏ tuổi hơn. Đây là Sa-di lấy giới pháp làm thứ lớp mà ngồi.

Trong Kinh A Hàm có câu chuyện:

Vào thời Đức Phật, một hôm Phật báo đại chúng là hôm nay đi du hành xa. Trong chúng lúc này có lục quần Tỳ-kheo đi theo. Họ tranh chỗ ngủ, để Tôn giả Xá-lợi-Phất ngủ ngoài hiên. Sáng hôm sau Phật biết được, ngài kể câu chuyện: Con voi, con khỉ và con két chơi với nhau rất thân. Một hôm, chúng tìm hiểu thì biết được con két lớn tuổi nhất, nên lúc nào cũng nhường két đi trước.

Phật nói, pháp Phật bình đẳng về tánh Phật nhưng cũng phải có thứ lớp. Người thọ giới trước đi trước, thọ giới sau đi sau thì mới đúng pháp độ tùng lâm. Chẳng hạn, có vị Tỳ-kheo nào đến, quý thầy phải hỏi vị đó được bao nhiêu hạ để sắp xếp chỗ ngồi hay ngủ nghỉ. Phải lấy pháp độ tùng lâm làm chính.

“Chẳng được ngồi chỗ cao xa, kêu nhau nói cười.”

Người học oai nghi phép tắc, rồi chịu khó áp dụng một thời gian sẽ rất là thuần, cho dù tuổi nhỏ. Còn những người ỷ mình đã thọ giới cụ túc, hoặc nghĩ mình lớn rồi, không cần học oai nghi phép tắc thì người ta nhìn biết liền: “Thầy này tuy thọ giới Tỳ-kheo nhưng chắc không học oai nghi.”

Sa Di Học Xứ ghi:

“Đây như các Bà-la-môn tụ họp không khác, chẳng thành Tăng thể. Nếu có việc cần, phải đàn chỉ khiến biết, nói nhỏ khiến nghe. Nếu ở xa kêu nhau nói cười coi như không người, làm mất oai nghi động chúng, lỗi chẳng phải nhỏ.”

“Trong chúng có mất oai nghi phải ẩn ác, dương thiện, nghĩa là ẩn cái ác của người, nêu bày cái thiện của người. Ẩn ác thì tự thêm lớn công đức, dương thiện thì khiến chúng thêm xán lạn. Diễn Tổ nói: Người xưa vui cái nghe lỗi của mình, vui đối với việc làm thiện, thêm lớn đối với sự đùm bọc thân sơ, coi trọng đối với việc ẩn ác, lấy sự khiêm tốn giao hữu, lấy việc tinh cần giúp chúng, chẳng dùng hai tâm được mất, cho nên ánh sáng to lớn chiếu khắp huy hoàng xưa và nay.”

Trong chúng mà có mất oai nghi thì cũng đừng nêu cái xấu của chúng ra. Chẳng hạn có một thầy nào đó hay giỡn, hay cười làm mất oai nghi phép tắc thi cũng đừng có kể ra: “Thầy đó như thế, như thế…” Phải ca ngợi công đức của tùng lâm cho cha mẹ, người thân biết để họ phát khởi tín tâm. Đó gọi là ẩn ác, dương thiện. Ẩn cái ác của người thì tự thêm lớn công đức, phát huy được tâm bao dung và tha thứ. Nêu cao cái thiện, tùng lâm được cư sĩ Phật tử, người thân mình biết đến, nên khiến chúng thêm xán lạn.

Người xưa tu họ rất coi trọng chỗ này, tức là luôn luôn ẩn ác. Còn mình, mới nghi thôi chứ chưa thấy chính xác, đã đi đầu này đầu kia nói cho mọi người biết. Người tu bây giờ thấp hơn người xưa rất nhiều, cho nên đạo rất là xa. Nhiều khi nói, tu bây giờ sao không ngộ đạo giống như người xưa. Sao mà ngộ được, không chịu ẩn ác dương thiện, tự tánh bị che lấp, ngày càng lu mờ nên không bằng người xưa.

Thiền sư Linh Nguyên nói:

“Phải khéo ở trong Phật pháp mà dụng tâm, ở trên trần cảnh mà dẹp tình. Dưới lớp áo cà-sa sợ mất thân người thật là khổ nên phải ẩn ác dương thiện.”

Muốn chắc chắn kiếp sau được làm người, mặc áo cà-sa nữa là luôn phải ẩn ác dương thiện.

“Chẳng được khoe sự nhọc để rõ công lao của mình. Phàm ở đâu ngủ không nên ngủ trước người, dậy không nên dậy sau người.”

Quý thầy làm việc cực nhọc, ban điện, ban nước hoặc ban gì đó mà đi chỗ nào cũng nói: “Không có tui thì không có điện nước xài, hoặc không có tui thì không có đậu hủ ăn…” Đi đâu cũng khoe sự nhọc thì không có công đức, cũng không có phước đức.

Nhiều khi mình tưởng làm những việc này là cho Hòa thượng, cho thầy Trụ trì, cho đại chúng, thật ra mình làm cho chính mình. Đi tu, ai cũng muốn thành tựu quả vị Phật, mà hành Bồ-tát đạo thì phải làm tất cả mọi việc mới thành tựu quả vị Phật được. Thấy được như thế thì từ việc lớn tới việc nhỏ, quý thầy đều làm hết sức mình, làm trong chánh niệm, trong an lạc thảnh thơi chứ không phải làm mà gượng ép.

Sa Di Học Xứ ghi:

“Không ngủ trước và dậy sau có hai việc: thứ nhất là mình khỏi giải đãi, thứ hai là khỏi động niệm chúng.”

Điều này quan trọng nhất. Chúng dậy hết rồi, súc miệng, rửa mặt chuẩn bị ngồi thiền mà mình vẫn còn ngủ, thí dụ trong Tăng đường có mười chín người, thì mười tám người khởi niệm. Mà khởi niệm thì khó tu. Hễ mình ngủ thì chắc chắn họ khởi niệm.

Nên thiền sư Kiến Nguyệt Lão Hòa thượng khai thị chúng rằng:

“Mình dậy sớm là được cái sức tinh tấn. Tinh tấn là bảo vật tu đạo. Phật Tổ do đây mà thành, phiền não nhân đây mà đoạn. Là Thích tử há có thể giải đãi ư?”

Thành Phật, tác Tổ là do sức tinh tấn mà thành. Phiền não nhân đây mà đoạn, tức là bệnh tật, phiền não chướng, sở tri chướng, những cái chướng nạn của mình nhân nhờ sự tinh tấn mà đoạn trừ.

Một hôm Phật bảo tôn giả A-nan đọc cho Phật nghe Thất Bồ-đề Phần, đến đoạn Tinh Tấn Như Ý Túc, Phật ngồi dậy liền dù ngài đã lớn tuổi và bị đau lưng. Tôn giả A-nan bạch Phật:

– Bạch Đức Thế Tôn, tại sao đọc đến đoạn “Tinh tấn như ý túc”, Thế Tôn lại ngồi dậy?

Phật trả lời:

– Bài này không chỉ Như Lai nói mà mười phương chư Phật đều nói như vậy.

Kinh Di Giáo Phật dạy:

“Tỳ-kheo các ông nếu chuyên cần tinh tấn thì không có việc gì là khó. Thế nên các ông phải chuyên cần tinh tấn, thí như giọt nước chảy luôn có thể soi thủng phiến đá. Nếu như tâm của hành giả thường thường biếng nhác bỏ bê, chẳng khác nào kéo lửa chưa nóng mà ngưng, tuy muốn được lửa, lửa cũng khó được. Ấy là công đức tinh tấn.”

Phật dạy rất là rõ, ngày xưa không có hộp quẹt gas, muốn có lửa phải dùng hai cây tre cọ xát liên tục cho nóng thì lửa mới phựt lên. Còn ở đây quý thầy cọ cọ một lát rồi bỏ. Tại sao thời nay tu khó chứng đạo hơn ngày xưa? Nghiên cứu sử, tôi thấy các ngài chứng đạo nhanh hơn, vì các ngài luôn khắc khoải ưu tư về vấn đề sanh tử, việc sanh tử luôn đặt lên hàng đầu: Tại sao mình sanh ra trong cõi đời này? Mình có mặt trong cuộc đời này để làm gì? Chết đi về đâu? Sanh tử sự đại vô thường tấn tốc luôn thúc các ngài nên các ngài tu tiến.

Người tu bây giờ chấp nhận hoàn cảnh, hoàn cảnh sao cũng mặc kệ để y như vậy chứ không phấn đấu vươn lên. Sáng ngồi thiền cũng được, không thì trưa hay chiều, cái gì cũng được, cho nên tu không bao giờ tiến.

Có lỗi, bị quý thầy lớn rầy, mình buông hai câu: “Bất quá tôi cởi áo hoàn tục, ra đời là xong!” Tư tưởng như thế nên đạo rất xa. Quý thầy đừng để cái niệm đó xảy ra trong tâm thức của mình. Chắc gì ra đời rồi tu được nữa, hoặc kiếp sau chắc gì gặp Phật pháp nữa.

Cho nên trong Kinh Bột Sao Phật nói:

Người muốn làm việc gì,

Như đào giếng lấy nước,

Phải đào mãi không thôi,

Chắc chắn sẽ được nước.

Làm việc cũng giống như đào giếng. Đào xuống nửa chừng, gặp cục đá rồi bỏ, thì cái pháp tinh tấn nó không có nữa. Các ngài gặp bất cứ việc gì cũng đều gắng sức. Đi tu rồi thì trên đầu chỉ nhớ một chữ tu chớ đừng nghĩ gì khác. Đừng nghĩ phải ráng học để lấy bằng cấp, rồi mai kia không biết làm trụ trì ở đâu. Bỏ hết, chỉ nghĩ tu thôi. Tu mà thành tựu, đủ sức rồi thì tự nhiên có người mời, thậm chí thỉnh mình đi. Còn chưa đủ đức thì phải ráng tu cho được thành tựu.

Sa Di Học Xứ ghi:

“Phàm rửa mặt chớ nên hao nhiều nước, một là phòng ngừa người sau thiếu nước, hai là phải tích chứa phước mình.”

Tôi chứng kiến nhiều người trong chúng, mở hết cái vòi nước, kê mặt vô rửa, chà suốt. Mà phước mình bao nhiêu không biết. Người xưa không phải như vậy:

Nhiệt thủy dụng nhơn thiêu,

Lãnh thủy dụng nhơn khiêu,

Nhược bất giải tu hành,

Túng hữu hà sa phước diệt tiêu.

Nghĩa là:

Nước nóng công người nấu,

Nước lạnh công người gánh,

Nếu không hiểu tu hành,

Hằng sa phước đức cũng tiêu tan.

Ngày trước không có bình nước nóng như bây giờ mà phải nấu, tắm rửa cũng phải nấu. Bây giờ nước nóng dùng điện. Tiền điện hàng tháng, cũng là nước nóng công người nấu, cứ xả xài thoải mái luôn! Rồi gì nữa? Nước lạnh công người gánh, máy bớm, cũng tiền điện, tiền nước. Tiền của đàn-na tín thí. Nếu không hiểu tu hành, hằng sa phước đức cũng tiêu tan. Đó là Cổ đức nói.

Kinh Tạp Thí Dụ quyển Hai có ghi: A-nan bạch với Đức Phật:

– Bạch Đức Thế Tôn, ngài sinh trong vương cung, xuất gia tìm đạo, sáu năm khổ hạnh, sau đó ngồi dưới gốc cây Bồ-đề mà được giác ngộ thành Phật. Như vậy quả Phật có phải là dễ được không? Thành tựu rất là dễ phải không?

Phật không trả lời mà kể câu chuyện:

– Ngày xưa, có vị trưởng giả giàu có biết rằng ở vùng biển phía Bắc có một giống sò, nếu chúng ăn máu thì tiết ra một loại quý. Ông cùng nhiều người đến vùng biển đó, trích lấy máu trong thân, đựng trong túi đặt dưới đáy biển. Con sò nghe mùi máu tanh sẽ đến và tiết ra chất ngọc quý. Lựa chọn suốt ba năm mới được hạt ngọc bội châu. Trên đường về, một số người muốn giành hạt ngọc nên xô ông xuống giếng rồi lấp lại. Không ngờ, dưới giếng có một cái hang nên ông thoát được trở về. Về nhà, ông tố giác những người hại ông nên họ phải trả ngọc lại cho ông.

Một hôm, người con lớn hỏi:

– Ngọc châu này từ đâu mà có?

Đứa nhỏ trả lời:

– Nó sanh từ trong túi của em.

Đứa lớn nói:

– Không phải, nó được sanh và được cất giữ trong túi nhà mình.

Ông trưởng giả cười nói với vợ:

– Hai đứa nhỏ không biết gì hết.

Rồi ông kể cho hai con nghe, để có được viên ngọc này ông đã rất cực khổ, suýt nữa là mất mạng. Có được viên ngọc không phải là dễ.

Ông trưởng giả ví dụ cho Đức Phật, hai đứa nhỏ ví cho chúng sanh. Chúng sanh tưởng quả vị Phật dễ lắm, tu một thời gian là thành tựu.

Phật nói:

“Muốn thành tựu đạo quả, phải phát tâm tu theo lục độ vạn hạnh của Bồ-tát, tích chứa công đức trong nhiều kiếp, chớ chẳng phải chỉ làm một việc, tu một hạnh, xả bỏ một thân mà có thể thành tựu đạo quả.”

Phật trải qua vô lượng kiếp, tích chứa rất nhiều, làm tất cả các việc phước thiện và tu tất cả lục độ vạn hạnh của Bồ-tát thì mới thành tựu được. Cũng vậy, muốn tu thành tựu quả vị cuối cùng thì phải tích chứa phước. Quý thầy xài hết phước, một thời gian tu không được nữa phải ra đời rất là khổ.

Tôi chứng kiến, một người cùng tôi đi làm Phật sự mà xài nước rất phí. Mỗi lần rửa mặt, xả nước chừng nào xong mới vặn lại, nhiều khi quên, tôi phải vào tắt. Người này tu cũng tinh tấn, nhưng một thời gian hoàn tục ra đời, tu không được. Cho nên mình xài phước phải kỹ.

Trong số những người tu không được mà hoàn tục, cũng có người sung sướng chớ không phải ai cũng khổ. Nhưng tôi nghiệm kỹ, những người đó lúc còn ở trong chúng, họ xả thân làm việc phục vụ cho đại chúng. Họ tu không được nữa họ ra đời nhưng phước họ vẫn còn. Phát tâm xuất gia nhưng mình xài phước phung phí, làm hao tổn của Tam bảo, phá phách trong tùng lâm, không kính những bậc trưởng thượng đi trước, bảo đảm những người này ra đời sẽ rất khổ. Quý thầy nhớ lưu ý điểm này mà gắng tu.

Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên có ghi:

Thiền sư Động Sơn xuống nhà bếp thấy tăng chúng làm đổ bún gạo, ngài khởi niệm quở trách thì lúc này thổ địa bước ra đảnh lễ, nói là ba mươi năm tìm ngài suốt mà không gặp, hôm nay nhờ ngài khởi niệm quở đại chúng nên con mới thấy.

Đừng nghĩ các thiền sư ngày xưa hiểu thiền, hiểu đạo rồi không quý của Tam bảo, mà các ngài quý trọng từng hạt thóc, hạt gạo, hạt cơm của Tam bảo.

Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên ghi:

Thiền sư Khánh Chư đến pháp hội Qui Sơn làm tri khố, một hôm sư đang sàng gạo, Qui Sơn bảo:

– Vật của thí chủ chớ để rơi rớt.

Sư thưa:

– Chẳng dám rơi rớt.

Qui Sơn lượm ngay trên đất một hạt gạo lên hỏi:

– Ông nói chẳng rơi rớt, đây là cái gì?

Sư im lặng, Qui Sơn lại bảo:

– Chớ xem thường một hạt gạo này, trăm ngàn hạt đều từ một hạt này sanh.

Ở đây ngầm hai ý, một là Hòa thượng Qui Sơn khai thị, thứ hai là phải tiết kiệm của Tam bảo, tiết kiệm của tùng lâm. Chớ xem thường một hạt gạo này, trăm ngàn hạt đều từ một hạt này sanh. Nghĩa là từ cái nhỏ nhiệm nhất, từ một niệm không ra gì nhưng từ nó phát sinh vô số các niệm khác. Cũng vậy, một giọt nước, một điều nhỏ nhặt nhưng sau này không tu được, không thành tựu được là do cái ban đầu này.

Cho nên Hòa thượng Tôn sư hoặc Sư phụ Thường Chiếu đều rất kiệm phước. Hòa Thượng đi trên đường thấy một cây đinh, Ngài cũng kêu lượm đem xuống kho. Hòa thượng Thường Chiếu đi ngang chỗ nào thấy một chút rác, thôi ngài cũng cúi xuống lượm bỏ thùng rác để tùng lâm được sạch sẽ. Các ngài kiệm phước lắm. Hòa thượng đi xuống nhà khách, thấy nước nhỏ giọt giọt là ngài kêu tắt. Nước nhỏ từng giọt một thời gian rồi cũng đầy tràn. Hòa thượng dạy phải tiết kiệm của Tam bảo, tiền này là của tín thí hùn góp lại.

Sư thưa:

– Trăm ngàn hạt từ một hạt này sanh, chưa biết hạt này từ đâu sanh?

Quý thầy biết hạt này từ đâu sanh không? Thôi để quý thầy tự giải đáp.

Qui Sơn cười to ha hả, trở về phương trượng. Đến chiều Qui Sơn thượng đường bảo đại chúng:

– Trong gạo có sâu, các ngươi hãy tới xem.

Thiền thoại ghi:

“Nên khi xưa Hòa thượng Trạm Đường bình sanh lấy luật buộc ràng nơi thân. Tuy lãnh chúng hoằng pháp, chẳng khác ở trong tăng chúng. Sáng sớm sau khi thức dậy, múc một ít nước rửa mặt lại rửa chân, sau mới lấy nước tưới vào rau quả. Tích phước như thế chẳng dám phế bỏ.”

Hòa thượng Trạm Đường cơ phong cao vút, mà lúc ở trong chúng ngài lấy giới luật làm trọng. Sau này, ngài lãnh chúng, hoằng pháp lợi sanh nhưng ngài sống cũng giống như lúc còn ở trong chúng. Quý thầy thấy không, ra hoằng pháp lợi sanh rồi mà không dám xài nhiều.

“Xỉa răng, nhổ nước phải cúi đầu, đem nước xuống chẳng nên phun nước nhằm người. Chẳng nên hỉ mũi và khạc nhổ lớn tiếng. Chẳng được ở trong chùa, ở trên điện và tháp, cùng nhà sạch, đất sạch, trong nước sạch hỉ mũi, khạc nhổ. Phải hỉ, khạc nơi chỗ khuất.”

Quý thầy mà khạc, hỉ lớn tiếng là Hòa thượng sai thị giả xuống nói liền. Các ngài học luật rất kỹ.

Sa Di Học Xứ ghi:

“Điện, Tháp là chỗ cúng dường tượng Phật, xá lợi. Nếu hỉ mũi, khạc nhổ thì thần Hộ Pháp giận.”

Quý thầy ở trên chánh điện, hoặc sáng sớm đi ngang qua, quét sân quét rác gì đó, tự nhiên có cục đờm nổi lên, chịu không nổi mình khạc trước chánh điện là bị tổn phước, thần Hộ Pháp giận lắm. Nói chung, đất sạch trong già lam là không được khạc nhổ, tiểu tiện.

“Nhà sạch, đất sạch, chỗ tọa thiền, kinh hành, nếu hỉ mũi, khạc nhổ thì mắc người chế giễu, động tâm người khác.”

Quý thầy lớn tuổi hoặc lớn tuổi hạ mà gặp đâu cũng khạc nhổ chứng tỏ chưa từng học oai nghi, tai hại lắm. Thứ nhất là tổn với già lam, Long thần Hộ pháp, kế là phá kiến cho người sau mất tín tâm Tam bảo. Mấy vị nhỏ tuổi có học luật, học oai nghi họ cười chế giễu: “Ông thầy lớn vào tùng lâm lâu mà không học luật, không học oai nghi phép tắc gì hết.” Quý thầy học, phải nhớ kỹ để làm gương cho người sau.

“Nước sạch để cúng dường, để dùng cúng Phật, cúng Tăng. Hỉ mũi, khạc nhổ làm ô uế, hao tổn phước đức, chuốc họa vào thân.”

Tổ Tuyên Luật Sư kể:

Xưa có một vị Tăng, ban đêm ngồi bên Tháp của Phật, tình cờ ông khởi niệm khinh thường: “Trong luật dạy vậy chớ chắc gì có.” Vừa khởi niệm ông khạc cục đờm, vừa khạc ra ông thấy dưới ánh đèn có một vị Hộ Pháp hiện thân lên đưa cánh tay hứng lấy cục đờm của ông. Vị Tăng kinh ngạc và sợ hãi, từ đó trọn đời thúc liễm thân tâm, ẩn náu chốn núi rừng sâu, không ra độ chúng.

Vị Tăng này có phước lực nên thần Hộ Pháp đưa tay đón lấy, còn mình không có phước lực, thần Hộ Pháp không hiện ra thì mình dính nhân quả.

Hồi tôi làm nhà khách, có người dắt một đứa nhỏ đến trước chánh điện, ngay chỗ cây tùng rồi xi cho bé đi cầu. Tôi lật đật đem cái xô nhựa nhỏ chạy ra kê bên dưới. Xong đâu đó rồi tôi khuyên họ lên lễ Phật sám hối. Phải thật thành tâm không thôi là bị nhân quả. Họ nói họ không biết, nhưng không biết thì bị cái trí si mê, không gặp được thiện tri thức chỉ dạy.

Quý thầy nhớ dạy hàng cư sĩ bạch y, đến chùa thì phải biết những gì không được làm. Ngày qua Canada, tôi cũng dạy một số cư sĩ, nhiều khi họ không biết, họ đi vòng vòng rồi họ tiểu, nam cũng có, nữ cũng có. Tôi kêu lại, tôi nói tiểu như vậy thì bị… Từ đó về sau họ rất sợ, đau tiểu thì phải vào nhà tiểu, không dám tiểu bậy ở trong già lam.

Ở trong già lam đất Phật đều có Long thần Hộ pháp. Những vị này toàn là những bậc quyền thừa Bồ-tát thị hiện. Phật thọ ký các ngài sau này phải thủ hộ già lam, chứ không thì già lam dễ gì yên ổn tu hành.

Kinh Tạp Bảo Tạng Viễn Nam có ghi:

Cõi trời Đao Lợi có một vị thiên nữ đầu đội tràng hoa, ánh sáng rực rỡ hơn các vị tiên khác. Trời Đế Thích rất đỗi ngạc nhiên mới hỏi:

Ngươi tạo phước nghiệp gì,

Thân sáng như vàng ròng,

Sắc sáng như hoa sen,

Lại có oai đức lớn,

Thân chiếu sáng vi diệu,

Mặt tươi như hoa nở,

Sắc vàng chiếu rực rỡ,

Do làm gì mà được,

Xin hãy nói ta nghe.

Trong kinh diễn tả, phước nghiệp của chư thiên không phải ai cũng giống ai. Do ở dưới này cúng dường, tạo phước nghiệp như thế nào mà thác sanh lên cung trời được thân sắc tướng hơn những người khác. Thiên nữ đáp:

Xưa tôi lấy vòng hoa,

Cúng tháp Phật Ca-diếp,

Đời này sanh cõi trời,

Được công đức vượt trội,

Sinh ở nơi giữa trời,

Quả báo thân kim sắc.

Do nhân duyên đến trước tháp Phật Ca-diếp cúng dường chỉ một vòng hoa mà tái sanh lên cung trời Đao Lợi được thân sắc thù thắng. Hôm nào, đi ngang qua tháp của Đức Phật Thích-ca, quý thầy cúng dường vòng hoa hay cúng gì đi nữa mà tâm hoan hỉ, kính tín thì được phước quả thù thắng, phải tin tưởng như thế.

Thích Đề Hoàn Nhơn nói bài kệ tán thán:

Lạ thay ruộng công đức,

Đã nhổ hết cỏ xấu,

Hạt giống nhỏ như vậy,

Được quả báo thù thắng.

Hạt giống rất nhỏ, có một vòng hoa mà được quả báo thù thắng.

Ai mà không cúng dường,

Cung kính thân vàng tía,

Ai không cúng dường Phật,

Ruộng công đức vi diệu,

Mắt ngài thấy tất cả,

Giống như hoa sen xanh,

Ngươi nên đến cúng dường,

Bậc vô thượng thứ nhất,

Tạo một chút công đức,

Được nhan sắc như vậy.

“Khi uống nước trà chẳng nên một tay tiếp người. Chẳng được hướng trước tháp xỉa răng và trước vị Hòa thượng, vị thầy A-xà-lê.”

Sa Di Học Xứ ghi:

“Nghĩa là tháp gồm có Thánh tượng, Hòa thượng, A-xà-lê, Trưởng lão, Thượng tọa và tôn khách. Song khoảng giữa xỉa răng có uế khí. Vả lại chẳng có thể đối với người thường, huống nữa là đối trước tháp Phật và Hòa thượng, thầy A-xà-lê ư?”

Tam Thiên Oai Nghi nói:

“Chẳng được hướng về Phật, cũng chớ xoay lưng về Phật. Chẳng được hướng về Hòa thượng, các thầy A-xà-lê, cũng chớ xoay lưng về phía Hòa thượng.”

Biết Hòa thượng đi trước, hoặc đi đằng sau, cũng không được xoay lưng mà xỉa răng, luật hay phép tắc oai nghi không cho phép.

“Phàm nghe tiếng chuông chắp tay thầm tưởng bài kệ rằng:

Nghe tiếng chuông, phiền não nhẹ,

Trí huệ lớn, Bồ-đề sanh,

Lìa địa ngục, khỏi hầm lửa,

Cầu thành Phật độ chúng sanh.

Án dà ra đế da tá ha.”

Tổ Tuyên Luật Sư dạy, nghe tiếng chuông là phiền não lắng nhẹ.

Sau này, đến phần Học Tập Kinh Điển, quý thầy nhớ không được đem kinh sách Phật ra giỡn, nếu giỡn thì mất phước, sau khi chết đọa địa ngục, trong kinh dạy rất rõ. Sau khi đọa địa ngục lên làm người ngu điếc không biết gì về Phật pháp, tái sanh ở phương nào cũng vào trong nhà tà kiến.

Nghe tiếng chuông phiền não nhẹ là Tổ dạy, là lời của Phật mà tôi thấy có người đọc: Nghe tiếng chuông phiền não nặng, rồi cười khà khà lên, rất tổn phước, kiếp sau ra đời không bao giờ gặp chánh pháp. Đây là lời của Phật, lời của Tổ, từ kim khẩu của các ngài chứng đắc tự thân chứ không phải là nói suông. Cho nên kinh điển mà đem ra giỡn cười là phạm giới. Giới này nhớ giữ kỹ.

Sa Di Học Xứ ghi:

“Nghe tiếng chuông chắp tay là biểu thị thành kính, nghĩa là trong tâm đã thành, bên ngoài ắt kính.”

Đây là Tổ Tuyên Luật Sư dạy. Nghe tiếng chuông chắp tay lại, đứng im chánh niệm, phước lực nhiều lắm. Thỉnh chuông có phước lực rất nhiều, quý thầy học lần lần sẽ thấy. Phàm nghe tiếng chuông phải chắp tay chí thành tụng kệ chú.

Xưa Hòa thượng Chí Công giúp đạo nhãn cho vua Lương Võ Đế. Vua thấy tướng khổ dưới địa ngục thì hỏi Hòa thượng:

– Khổ ấy làm sao mà dứt được?

Hòa thượng Chí Công đáp:

– Chỉ nghe được tiếng chuông, khổ kia tạm dứt.

Đế Vương liền chiếu chỉ cả trong thiên hạ, các chùa, am gióng chuông tiếng ngân chậm rãi.

Dưới địa ngục họ đang tra tấn người nào đó mà nghe tiếng chuông thì sự tra tấn tạm dừng lại. Cho nên thỉnh chuông tâm mình phải rất thành kính mới được.

Kinh Phú Pháp Tạng ghi:

“Tiếng ngân cho thật lâu mới thỉnh tiếng khác.”

Tiếng chuông ngân xa rồi dứt thì mới đánh tiếng thứ hai. Chứ đánh liên tiếp thì không đúng.

Thiền thoại Tinh Vân ghi, Thiền sư Tinh Vân dạy chúng:

Chuông là hiệu lệnh trong tùng lâm Phật giáo. Tiếng chuông buổi sáng là trước nhanh, sau chậm để cảnh tỉnh đại chúng một đêm dài đã qua, chớ có buông lung mê ngủ. Tiếng chuông buổi tối là trước chậm sau nhanh để nhắc nhở đại chúng tỉnh giác con đường tối tăm mê muội.”

Đây là lời Hòa thượng Tinh Vân dạy chúng ở Phật Quang Sơn.

Một hôm, Thiền sư Dịch Thượng xả thiền xong thì nghe tiếng chuông ngân nga trầm bổng, ngài sai thị giả đến hỏi:

– Bữa nay ai thỉnh chuông mà sao khác hơn ngày thường?

Thị giả đáp:

– Bữa nay có một Sa-di từ xa đến tham học thỉnh tiếng chuông này.

Hòa thượng kêu vị Sa-di đó lên hỏi:

– Sáng nay ông dùng tâm nào thỉnh chuông?

Sa-di đáp:

– Bạch Thầy, không có tâm đặc biệt nào cả, con thỉnh chuông chỉ là biết thỉnh chuông mà thôi.

Hòa thượng nói:

– Không phải, khi thỉnh chuông nhất định tâm ông nghĩ về một điều gì vì hôm nay ta nghe âm thanh tiếng chuông vang dội rất là cao quý.

Sa-di suy nghĩ kỹ rồi thưa:

– Bạch Thầy, thật ra không có gì cả. Chỉ là khi con chưa xuất gia tham học, Thầy ở quê thường dạy con khi thỉnh chuông phải nghĩ chuông tức là Phật, cần phải chí thành trai giới, kính chuông như kính Phật, dùng như tâm thiền, như nhập định và dùng tâm lễ bái mà thỉnh chuông.

Nghe xong Thiền sư dạy:

– Kể từ ngày hôm nay, ông nên luôn dùng tâm này để làm tất cả mọi việc.

Sa-di nghe như vậy, từ đó nuôi thành một thói quen, làm việc gì cũng luôn dùng tâm thiền, tâm kính cẩn. Về sau, vị Sa-di này nối pháp cho Hòa thượng. Ngài là vị Thiền sư nổi tiếng dùng tâm Phật thỉnh chuông, kính chuông như kính Phật.

Quý thầy làm việc cũng vậy, chẻ củi hay làm bất cứ việc gì cũng dùng tâm kính cẩn, chánh niệm thu thúc thì việc nào cũng là việc Phật, việc nào cũng là việc Pháp hết.

Kinh Tăng Nhất A Hàm ghi:

“Hoặc khi thỉnh chuông, nguyện tất cả khổ trong đường ác đều được đình dứt. Hoặc ai nghe tiếng chuông mà khen ngợi bài kệ trừ được năm trăm ức kiếp tội nặng trong sanh tử.”

Nghĩa là nghe tiếng chuông, mình ca ngợi, tán thán.

Tổ Tuyên Luật Sư dạy:

“Nói nghe tiếng chuông đây là mượn sự để mà hiển bày lý.”

Oai Nghiêm Sớ nói:

“Nghĩa lớn của Bồ-tát cần yếu là ở trên sự mà tột lý. Sự lý viên dung mới thâm nhập vào sự sự vô ngại pháp giới.”

Các ngài dùng sự để hiển bày cái lý tuyệt đối. Chẳng hạn nói diệt trừ năm trăm ức kiếp tội nặng sanh tử, nghĩa là trong giờ phút này, tâm thức mà rung động thì chuyển được nghiệp.

Kinh Tạp Thí Dụ ghi:

Văn chung ngọa bất khởi,

Hộ pháp thiện thần sân,

Hiện tại duyên phước bạc,

Lai thế thọ xà thân.

Có nghĩa là:

Nghe chuông nằm chẳng dậy,

Hộ pháp thiện thần sân,

Hiện đời phước quá ít,

Đời sau kiếp mãng xà.

Chúng tôi thuộc nằm lòng bài kệ này, sợ lắm! Làm việc nhiều khi mệt, nằm mà nghe tiếng chuông là bật dậy liền. Mệt mỏi quá, chịu không nổi thì cũng phải ráng ngồi cỡ một tiếng hoặc dứt tiếng chuông mới nằm. Không phải trực nhà, nghe tiếng chuông rồi mình nằm luôn. Nghe tiếng chuông nằm chẳng dậy thì Hộ pháp thiện thần sân. Các vị Hộ pháp ở trong chùa, thấy người tu không dậy họ bực lắm, chịu không được. Nhiều khi kiếp sau mình thành mãng xà, rất là sợ!

Phải tin lời của Phật, đây là lời từ kim khẩu Ngài nói ra. Các ngài nói đều ứng tác từ nơi tâm Phật, thấy bằng con mắt Phật, cho nên các ngài nói đâu là có đó.

“Nghe tiếng chuông phiền não nhẹ… Tông chỉ quán nói, phiền não là pháp tối tăm, là não loạn tâm thần chẳng có thể nghĩ phát Bồ-đề. Nay được nghe tiếng chuông, tụng kệ, thiện pháp tăng trưởng thù thắng nên được nhẹ.”

Đây là theo tinh thần của Ngài Trí Khải Đại Sư. Ngài dạy: Do mình bị phiền não che lấp, nghe tiếng chuông tâm thức rung động, thiện pháp tăng trưởng thì tức khắc được nhẹ nhàng và người mất cũng được siêu thoát.

“Trí huệ lớn, Bồ-đề sanh… Thấu tột lý gọi là trí, phân biệt gọi là huệ, Bồ-đề gọi là giác thể, nhân bị vô minh che lấp mà thành bất giác. Nay do phiền não nhẹ sạch, trí huệ tăng trưởng mà Bồ-đề lớn.”

“Nguyện thành Phật độ chúng sanh… Kinh A-hàm nói, chúng sanh nếu chẳng phát nguyện, trọn chẳng có thể thành Phật đạo được.”

Câu kệ thứ tư phát nguyện thành Phật. Làm việc gì trong đại chúng mình đều phải phát nguyện, phát nguyện thì mới thành tựu.

Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ nói:

“Phát đại nguyện đó là nhân của vạn hạnh hay trưởng dưỡng lòng từ bi, chẳng đoạn mất hạt giống Phật. Đại sự thành tựu, việc làm trọn nên thành đạo làm lợi ích chúng sanh đều do nguyện lớn.”

Phát đại nguyện để thành tựu quả vị Phật, đó là nhân của vạn hạnh hay trưởng dưỡng lòng từ bi.

“Thế nên có hạnh mà không có nguyện, hạnh ấy ắt trơ trọi.”

Chẳng hạn mình lập hạnh bố thí, hạnh cúng dường hay hạnh làm việc cho đại chúng mà không có nguyện lực đi theo thì không trọn vẹn.

“Có nguyện mà không có hạnh, nguyện ấy trở thành nguyện suông.”

Chẳng hạn, phát nguyện từ đây trở đi con nhẫn nhục, nhờ nhẫn nhục này con thành Phật, mà ai nói gì quý thầy chửi lại thì nguyện đó là nguyện suông. Hoặc phát nguyện thành tựu quả vị Phật, phải phát tâm bố thí cúng dường, mà ai đến xin cuốn sách quý thầy cũng không cho thì nguyện ấy không thành tựu.

“Hạnh nguyện theo nhau, mình và người đều được lợi ích thì đúng.”

Kinh Hoa Nghiêm nói:

“Chẳng phát đại nguyện là việc làm của ma. Ưa ở nơi lặng lẽ đoạn trừ phiền não là việc làm của ma. Dứt hẳn sanh tử là việc làm của ma. Bỏ hạnh Bồ-tát là việc làm của ma. Chẳng giáo hóa chúng sanh là việc làm của ma.”

Kinh Hoa Nghiêm tiêu biểu cho Pháp giới Hoa tạng, từ nơi tự tánh của Bát-nhã. Chẳng phát đại nguyện là việc làm của ma, làm tất cả các việc mà không phát nguyện dễ sinh chấp ngã. Chẳng hạn, mình cho huynh đệ một cuốn sách, không nghĩ ngợi gì hết. Nhưng cái niệm sâu kín quý thầy không thấy được. Lúc nào đó, người huynh đệ này họ trở chứng, mình nói, tôi cho cuốn sách mà vậy đó. Bởi vì trong lúc cho, niềm thao thức của mình không có.

Đã phát nguyện cầu phúc lực để thành tựu quả vị Phật, thì dù người làm cho mình đau khổ mấy cũng bỏ qua được. Vì nguyện lực lớn lao, nguyện lực đi trước, còn mục đích bố thí cúng dường chỉ là để trợ duyên cho thành tựu quả vị Phật, chứ không phải cầu sanh thiên hay cái gì khác.

Chẳng hạn lúc nấu cơm, mình nguyện nhờ phước duyên trợ lực này, kiếp sau thành một vị đại trí huệ như ngài Xá-lợi-phất hay Bồ-tát Long Thọ… chắc chắn được thành tựu, bởi vì hạnh và nguyện đi đôi, thực sự mình có nấu cơm cho đại chúng. Hoặc khi chẻ củi, mình phát nguyện kiếp sau có tài biện luận để dìu dắt những người ngoại đạo tà kiến. Đang chẻ củi mà phát nguyện, hạnh và nguyện đi đôi thì sẽ thành tựu.

Ưa ở nơi lặng lẽ đoạn trừ phiền não là việc làm của ma. Dứt hẳn sanh tử là việc làm của ma. Tinh thần Pháp giới Hoa tạng luôn luôn khuyến khích mình đi về con đường Bồ-tát đạo, chứ không cho đi vào con đường khác.

Thiền sư Man An nói:

“Nếu hành giả muốn nhanh chóng liễu ngộ được chân lý và giải thoát khỏi mọi phiền não không gì hơn là quán tâm trong mỗi hành động.”

Muốn giải thoát và ngộ được chân lý giải thoát sâu kín, không gì hơn là làm việc gì cũng đều rõ tâm thức của mình.

“Cổ đức dạy rằng, kẻ đại trí cần thâm nhập đến chỗ vi diệu của đạo huyền từ chỗ lao xao biến động của thế giới trần tục.”

Có nghĩa là phải phát đại nguyện, và hạnh nguyện phải đi đôi.

Luận Đại Trí Độ nói:

“Làm phước mà không có nguyện không thể dựng lập được gì.”

Làm tất cả việc nặng nhọc cho đại chúng, phải có nguyện lực đi theo thì làm mới không biết mệt.

“Nguyện là thầy dẫn đường có thể đạt được thành tựu. Lại nói, nếu có thể phát tâm một lần nói rằng: Nguyện tôi sẽ thành Phật diệt trừ đau khổ cho tất cả chúng sanh. Dù chưa dứt phiền não, chưa làm được việc khó, nhưng do tâm nguyện mạnh mẽ nên hơn tất cả chúng sanh.”

Hôm nào lên chánh điện phát nguyện thành Phật để độ tất cả chúng sanh, tuy mình chỉ là phàm phu chay nhưng cũng thành tựu. Dù chưa dứt phiền não, chưa làm gì hết nhưng hơn tất cả chúng sanh ở cõi Diêm Phù Đề này do năng lực phát nguyện của mình.

Luận Đại Trang Nghiêm nói:

“Thanh tịnh cõi Phật là việc lớn. Thực hành công đức của một hạnh không thể thành tựu, cần phải có nguyện lực. Ví như trâu có sức kéo xe nhưng cần phải có người đánh xe mới có thể đi đến nơi. Làm thanh tịnh cõi Phật do nguyện dẫn đến thành tựu. Bởi nguyện lực nên phước đức tăng trưởng. Vì chẳng mất chẳng hoại nên thường thấy Phật.”

Ví như trâu có sức kéo xe nhưng cần phải có người đánh xe mới có thể đi đến nơi. Cho dù trâu có mạnh cách mấy mà không có người điều khiển cũng không được. Dù cho cái hạnh tốt đến đâu mà không có nguyện lực đi theo thì quả vị Phật cũng không thành tựu.

Trong vô lượng kiếp hành Bồ-tát đạo, đức Phật đều phát nguyện thành tựu quả vị Phật để giáo hóa chúng sanh. Chỉ một nguyện lực thành tựu quả vị Phật, ngoài ra không quả vị nào khác. Bởi nguyện lực nên phước đức tăng trưởng, làm việc cũng hưng phấn. Nguyện lực này luôn đi theo mình, học Kinh sách cũng phải phát nguyện lực: “Tôi học bài Kinh này không phải để cãi lại huynh đệ hay để hơn thua, mà để mai kia tôi thành tựu quả vị Phật giáo hóa chúng sanh, giáo hóa những người đau khổ” thì phước đức tăng trưởng.

“Chẳng nên cười nhiều hoặc cười to cùng ợ ngáp, phải lấy tay áo che miệng.”

Sa Di Học Xứ ghi:

“Cười nhiều cười to chẳng phải si tức là cuồng, làm mất chánh niệm, phạm phi oai nghi, cùng ợ ngáp là cái tướng lười biếng, nghĩa là thần khí tản mác, chìm mất cái ý chí.”

Thầy chúng tôi nói, ngáp mà há miệng ra là tướng lười biếng. Người tu ngáp phải ngậm lại, ém, nuốt xuống chớ không há miệng ngáp. Người ngáp lớn tiếng, quý Thầy lớn nhìn thấy là biết người này làm không được việc. Ợ ngáp như vậy thần khí nó tản hết không còn tụ nữa. Khí tản là dìm mất ý chí. Tuy mình nói tinh-khí-thần nhưng khí làm chủ, không thở là chết liền. Khí tụ lại thì thấy tướng rất hùng dũng, như các vị võ tướng ngày xưa. Người tu còn hơn cả võ tướng.

“Xưa Thiền sư Pháp Vân bình thường ở chỗ dừng làm, nhìn thẳng chẳng nháy mắt. Ba mươi năm đến chưa từng khinh phát một tiếng cười.”

Coi trong sử, thấy mình tu không bằng người xưa. Các ngài nói chuyện là nhìn thẳng không nháy mắt. Ba mươi năm chưa từng khinh phát một tiếng cười. Nghe vậy, về tăng đường quý thầy im hết khỏi cười luôn. Cần cười thì cười chứ, nhưng đừng cười lớn, đừng cười như si, như cuồng.

“Phàm chỗ ở thấy có Thánh tượng liền đứng chẳng có ngồi.”

Kinh Tỳ Ni Mẫu nói:

“Có hai thứ hơi, một là hơi trên, hai là hơi dưới. Hơi trên khi muốn ra đừng ngay trước người há miệng cho ra. Hơi dưới khi muốn ra chớ cho ra trong chúng.”

Thở ra giống như hoa sen thì được, còn đằng này mình thở ra miệng, người ta chạy hết. Đừng thở ra ngay trước mặt người ta, phải xoay mặt đến chỗ không người.

Ngày xưa mỗi lần vào thiền đường, tôi để ý một thầy ngồi bồ đoàn phía trước, mỗi lần thầy nhổm lên khỏi bồ đoàn là vị ngồi sau né qua một bên. Lần sau tôi đổi chỗ ngồi thử, thầy phía trước vừa nhổm lên là hơi dưới ra dính vô mặt tụi tôi hết. Tổn phước lắm. Quý thầy coi trong Kỷ Yếu 5 Năm, thầy Thông Quang viết bài “Một tiếng rắm trong thiền đường”, đó là câu chuyện này.

Tôi có nghe một thầy ở nhà khách kể lại, thầy lên thiền đường nhà khách có những lúc phải đeo khẩu trang, vì một số vị trong đó, buổi chiều uống sữa đậu nành hay ăn cái gì không biết mà hạ phong rất nhiều, tự tiện thoải mái luôn. Bởi vì thọ cụ túc giới quá sớm mà chưa từng học oai nghi.

“Cho nên hơi dưới ra chẳng nên ở trong chúng mà ra. Phải tìm phương chước ra ngoài tới chỗ không có ai thì mới cho ra. Vậy sau mới vào, đừng để chúng chê ghét và nhờm gớm.”

Nhất là trong thiền đường, có người đánh rắm rồi cười ha hả nữa, tổn phước lắm chớ không phải chuyện đơn giản.

“Khi vào điện, tháp, chẳng nên cho ra hơi dưới, nhất là trong chánh điện.”

Ráng nín, nếu chịu không nổi quý thầy xá một cái đi ra.

“Chẳng những điện, tháp mà trước vị Hòa thượng, vị Đại đức, vị Thượng tọa cũng chẳng nên cho ra hơi dưới có tiếng. Bằng trong ruột có bệnh gắt phải ra ngoài cho ra, đừng để người sanh tâm nhờm gớm.”

Học oai nghi mình thấy hay từng chút, từng chút vậy. Nếu chịu khó thực tập, học một thời gian thấm rồi, mình giữ được.

Đại Luật nói:

“Bằng hơi dưới mà gấp rút cũng phải ngăn lại. Bằng nín không được phải chực bên đường dưới gió cho ra chứ đừng có đứng trước gió.”

Mình tránh xa rồi đánh rắm, gió nó bay vô mặt người ta cũng vậy thôi, cho nên đừng đứng trước gió. Học kỷ luật thấy rất hay. Giữ đúng oai nghi phép tắc thì có phước chứ không bị tổn.

“Hoặc ở trong nhà thiền khi nhảy mũi chẳng được tự do nhảy mũi lớn tiếng. Hoặc khi sắp nhảy mũi phải nín, lấy tay đè sống mũi mà nhảy, đừng cho mũi dãi tuôn ra.”

Từng chút, từng chút vậy đó.

“Chẳng được đi mau. Chẳng được đem đèn bàn Phật riêng để mình dùng. Hoặc thắp đèn lúc đương cháy phải lấy lồng chụp lại đừng để trùng vướng ngã vào.

Sa Di Học Xứ ghi:

“Phàm chỗ động tịnh phải phòng hộ oai nghi, lúc giở chân phải coi dưới đất chớ hại trùng kiến. Người xưa nói, đi nhanh thì bước đi không tốt, oai nghi trọn chẳng trông lại, thức giả ở hai bên nhìn xem làm sanh sợ hãi.”

Tổ Tuyên Luật Sư dạy:

“Đèn Phật tức là vật Phật trong giới cấm thứ hai. Đã là vật Phật, chẳng được dùng riêng, nếu lìa trước Phật tức thành nghiệp trộm.”

Tổ Tuyên Luật Sư dẫn chứng trong Trí Độ Luận nói:

“Trộm dầu trước đèn Phật phải đọa trong địa ngục hắc ám, sau làm người mù. Xưa A-na-luật-đà thời quá khứ trộm đồ cúng khí cụ. Trước Phật, nhân đèn mờ tối, trước ánh đèn phất phơ thấy Phật oai nghiêm tướng hảo, tâm trộm liền dứt, sám hối mà đi. Do công đức này cảm được quả báo được thiên nhãn đệ nhất.”

Tôi tra cứu rất nhiều nhưng không thấy tích này. Đọc quyển Sa Di Học Xứ, Tổ Tuyên Luật Sư trích đoạn này, dịch ra tôi mới biết. Trong thời quá khứ, tôn giả A-na-luật vào chánh điện trộm đồ cúng khí cụ. Trước Phật, nhân đèn mờ tối, Phật hiện ra tướng hảo oai nghi rực rỡ, ngài sụp xuống sám hối, tâm trộm liền dứt. Do công đức sám hối này, vô lượng kiếp về sau ngài ra đời gặp Đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Bị Phật quở vì ngủ gục trong lúc Phật thuyết pháp, từ đó ngài thệ nguyện thức luôn không ngủ nữa, cho nên bị mù mắt. Được Phật dạy phương pháp Kim Cang chiếu minh tam muội, ngài tu một thời gian được thiên nhãn đệ nhất.

Kinh Lục Độ Tập quyển Sáu có ghi:

Xưa có một vị Sa-môn tu hành rất kỹ, giữ giới hạnh rất tinh nghiêm mà không thông văn học. Một số người cho ngài là không có trí, nghiêng về kính lễ, thiếu trước hụt sau, đi xin dầu mè để cúng dường Phật.

Một vị Tỳ-kheo cúi đầu lễ dưới chân Phật thưa:

– Bạch Đức Thế Tôn, vị Tỳ-kheo già đó tuy ít trí huệ nhưng giới đủ hạnh cao, thắp đèn cúng dường Phật, về sau được phước đức như thế nào?

Phật Ca-diếp nói:

– Lành thay lời hỏi của ông, vị Tỳ-kheo già đó trải qua vô số kiếp sẽ thành bậc Như Lai Vô Sở Chánh Đẳng Chánh Giác, cổ có hai vầng hào quang, sẽ dắt dẫn ba cõi chúng sanh được độ không kể xiết, Phật hiệu là Định Oai Như Lai.

Vị Tỳ-kheo này không biết kinh điển nhiều, không giảng pháp nhưng giới hạnh tinh nghiêm, nhờ đi xin dầu thắp trước tượng Phật mà được thành tựu quả vị Phật.

Kinh Tạp Bảo Tạng quyển Năm có ghi: Thiên Đế Thích dùng kệ hỏi một vị thiên tử:

Xưa ngươi tạo nghiệp gì

Thân như khối vàng ròng

Lại có đại oai đức

Dung mạo thật quang minh?

Thiên tử đáp:

Bậc cứu tế tam giới,

Đèn lớn soi ba cõi,

Trí tâm mắt Phật quán,

Bậc tối thắng của pháp,

Vì ngài đốt đèn sáng,

Đèn sáng diệt tối tăm.

Đèn Phật trừ các ác,

Thấy đèn như trời sáng,

Sinh lòng tin chân thật,

Thấy đèn sáng rực rỡ,

Vui mừng đảnh lễ Phật.

Vị thiên tử có thân sắc vàng ròng nhờ cúng dầu thắp đèn trước Phật. Không có tiền thì thôi chớ đừng trộm đèn dầu cúng Phật, sẽ bị quả báo xấu đến với mình.

“Bông cúng Phật lựa bông nở tròn đủ, tươi đẹp, chẳng được ngửi trước. Bỏ bông héo phải cúng bông tươi. Bông héo chẳng nên bỏ dưới đất giẫm đạp, phải để chỗ vắng.”

Tổ Tuyên Luật Sư dạy là bông nở tròn thì tinh thần no đủ, sắc diện rõ ràng. Chẳng được ngửi trước là biểu thị cái chí thành kính. Mua bông về cúng Phật, không được ngửi trước.

Kinh Yếu Dụng Tối có ghi:

“Mũi ngửi vị hương, do bớt cái mùi thơm của hương, không có phước đức, mắc đọa trong địa ngục Ba-đầu-ma đời đời đổ mũi, không biết mùi hương.”

Chư Kinh Tập Yếu có ghi:

“Tán hoa cúng Phật chẳng được giẫm đạp. Phật bảo Văn Thù: Hoa này nếu bốn chúng hay kính tín tu hành, nên phải sáng sớm thức dậy súc miệng tắm rửa sạch sẽ, niệm công đức Phật, cung kính hoa này chẳng lấy chân giẫm đạp, chẳng nhảy trên hoa, như pháp chấp thủ an trí tịnh khí, trị mọi thứ bệnh.”

Tán hoa cúng Phật phải thành tâm để cúng. Hoa đó không được bỏ thùng rác mà phải bỏ dưới gốc cây, quý vị làm hương đăng chắc biết rồi.

“Kinh nói nếu có chúng sanh phụng thí hương hoa được mười thứ công đức.”

Tức là cung kính cúng dường Phật hương hoa. Bây giờ Phật nhập Niết-bàn rồi thì còn tượng Phật. Cúng dường hoa được mười thứ công đức:

1- Chỗ ở như hoa.

Sanh nơi nào cũng rực rỡ hoa thơm cỏ lạ.

2- Thân không hôi thúi.

Ai nói không có tiền mua hoa? Bữa nào thấy thầy hương đăng cắm hoa, mình tùy hỉ theo là coi như có tiền mua hoa rồi.

3- Phước hương, giới hương biến khắp các phương.

4- Tùy chỗ sanh, các tỷ căn chẳng hoại.

5- Siêu việt thế gian, đại chúng qui ngưỡng.

Sanh ra được thân tướng sáng rực, mọi người qui ngưỡng, kính tín.

6- Thân thường thơm mùi thanh khiết.

7- Vui thích chánh pháp, thọ trì, đọc tụng.

Nghĩa là thích chánh pháp, thích Kinh điển Đại thừa nhờ cúng dường hoa cho Phật. Người tu sĩ hay sợ làm phước nhiều rồi quên tu, nhưng thật ra mình biết Phật pháp, biết nhân quả rồi thì làm phước lực thù thắng hơn cư sĩ. Bởi vì mình biết làm gì thì được phước gì, phải tu tập như thế nào, điều gì nên tránh, nên bỏ…

8- Đầy đủ đại phước báu.

9- Mạng chung sanh thiên.

10- Mau chứng Niết-bàn.

Ấy gọi là phụng thí hương hoa được mười thứ công đức.

“Chẳng được nghe thầy kêu không đáp. Phàm nghe kêu đều phải đáp câu ‘Mô Phật’ thế lời. Phàm lượm của rơi liền phải đưa cho thầy tri sự cất.”

Sa Di Học Xứ ghi:

“Phải niệm Phật mà ứng chính là chẳng quên gốc.”

Chẳng hạn, thầy Trụ trì hay bất cứ thầy nào kêu mình, mình không “Dạ” như người thế tục mà phải đáp “Mô Phật”. Tại sao? Bởi vì khi “Mô Phật” thì hạt giống Phật đó ghi trong tàng thức của mình.

“Lại khác, đối với người tục nghĩa là cha mẹ sanh thân chẳng có thể khiến ta ra khỏi biển khổ sanh tử. Chỉ có Đức Phật đại từ bi độ cho ta xuất gia được thành Tăng tướng. Cho nên thời thời khắc cốt ghi tâm, niệm ân đức của Phật.”

Hằng ngày quý thầy Mô Phật biết bao nhiêu lần, ăn cơm niệm Phật, tụng kinh, xả thiền, tất cả mọi nơi, mọi thời đều nhớ Phật, tưởng niệm công đức của Phật. Thầy lớn kêu mình cũng Mô Phật. Hạt giống này đều ghi vào tàng thức, mai kia sanh ra đời tự nhiên gặp bậc thiện tri thức dẫn dắt.

Trong Đại Trang Nghiêm Kinh Luận quyển Mười có ghi:

Thuở xưa, có một vị Bà-la-môn dòng Phạm Chí đến Tinh xá Kỳ Hoàn xin Phật xuất gia, nhưng hôm đó Phật đi vắng. Ông nghĩ Phật đi vắng thì chỉ có đại tướng chánh pháp là ngài Xá-lợi-phất mới có đủ năng lực độ ông xuất gia, nên ông đến xin xuất gia với tôn giả.

Tôn giả Xá-lợi-phất nhập định để xem ông có căn lành không. Quán sát một đời không thấy, nhập định nữa quán trăm ngàn đời cũng không thấy ông có gieo chút căn lành nào hết. Ông buồn khóc đến xin ngài Mục-kiền-liên. Ngài nhập định cũng không thấy ông có căn lành gì hết. Cuối cùng ông đến xin ngài A-nan. Ngài A-nan nói hai vị kia là đàn anh của tôi, là thầy thuốc giỏi mà người ta bỏ thì tôi làm được gì, thôi ông về đi.

Ông buồn quá, ra đến cổng ông nói bài kệ:

Giống như nước trong sạch,

Tất cả đều uống được.

Dù cho chim Đà-la,

Cũng đều được xuất gia.

Trong Phật pháp như thế,

Không chịu thâu nhận tôi.

Tôi không được toại nguyện,

Vậy còn sống làm gì?

Ông cầm dao định đâm vào tim để tự tử thì Phật xuất hiện, ngài nói:

– Này Xá-lợi-phất, vì sao ông không cho ông Bà-la-môn này xuất gia?

Xá-lợi-phất thưa:

– Bạch Đức Thế Tôn, con quán sát nhân duyên một trăm ngàn kiếp về trước mà không thấy ông có căn lành nào hết.

Phật dạy:

– Này Xá-lợi-phất, thầy chớ nói như thế.

Rồi Thế Tôn nói bài kệ:

Ta thấy các căn lành,

Thật rất là nhỏ nhiệm,

Như cát đá trong núi,

Nung chảy cho ra vàng.

Thiền định và trí huệ,

Như ống bể lò rèn,

Ta dùng công đức thổi,

Ắt sanh ra vàng ròng.

Người này cũng như vậy,

Lành nhỏ như vàng kia.

Lúc này Tôn giả Xá-lợi-phất sửa y, bạch xin Phật cho biết nguyên nhân Phật thấy như thế nào. Tôn giả nói kệ:

Bậc hơn hết trong luận,

Cúi xin nói con nghe,

Ngọn đèn trí huệ lớn,

Xua tan các bóng tối.

Trong bao lâu người kia,

Trồng được căn lành này,

Làm được ruộng phước nào,

Nẩy mầm rất mau chóng?

Phật bảo, nhân này rất nhỏ nhiệm, không phải cảnh giới mà hàng Bích Chi Phật có thể thấy được, huống chi các ông là A-la-hán. Chỉ có Như Lai mới thấy được.

Rồi Phật kể, thuở xưa vị Bà-la-môn này là một người nghèo khổ vào núi đốn củi. Bị cọp rượt, ông sợ quá niệm ba lần “Mô Phật”. Tiếng Mô Phật đó đã ghi trong chủng tử tàng thức. Phật nói, tôn giả Xá-lợi-phất chỉ nhập đại định tới một trăm ngàn kiếp là dừng nên không thấy. Cái nhân nhỏ nhiệm này hàng Bích Chi Phật cũng không thấy được huống chi là A-la-hán. Phật quán tiếp kiếp kế nữa, thì thấy ông này nhờ niệm Phật mà được nhân giải thoát. Rồi Phật nói kệ:

Chỉ thấy họ xưng Phật,

Cho đó là nhỏ nhiệm,

Nhờ đó giúp mé khổ,

Như thế là tốt lành.

Dốc lòng qui mạng Phật,

Chắc chắn được giải thoát,

Được quả giống như vậy,

Thật không có ai bằng.

Phật độ cho vị Bà-la-môn đó xuất gia, đích thân ngài giáo hóa, đúng ba tháng sau người này khai ngộ, chứng quả vị A-la-hán.

Vị Bà-la-môn này một trăm ngàn kiếp không gieo căn lành gì khác, chỉ nhờ ba câu niệm Phật mà được nhân giải thoát. Huống chi bây giờ quý thầy chẻ củi, hành đường, trị nhật đều niệm Phật, nhớ công đức Phật suốt ngày thì chắc chắn quả vị Phật sẽ thành tựu.

“Chẳng được ba y khiếm thiếu. Chẳng nên sắm nhiều y phục, bằng có dư nên cho. Chẳng được sắm dây lưng tốt đẹp và đồ chơi, trang điểm giống như giang hồ làm trò cười cho người thức giả. Chẳng được mặc đồ ngũ sắc và y phục giống người thế tục. Chẳng được tay không sạch mà đắp y.”

Đây là nói về hàng Tỳ-kheo, ba y là y ngũ điều, thất điều, cửu điều. Chẳng nên sắm nhiều y phục, có ba bộ là vừa rồi, có nhiều hơn thì nên san sẻ cho những người khác. Chẳng được sắm dây lưng tốt đẹp và đồ chơi, trang điểm giống như giang hồ. Quý thầy có dịp đi thành phố sẽ thấy, có những thầy mặc đồ giống như cư sĩ vậy.

Kinh Pháp Diệt Tận có ghi lời Phật:

“Sau khi Như Lai nhập Niết-bàn, khi giáo pháp bắt đầu suy yếu, trong đời ngũ trược ác thế ma đạo sẽ rất thịnh hành. Ma quỷ biến thành Sa-môn, nó sẽ xuyên tạc và phá hoại giáo pháp của ta, nó mặc y phục của hàng cư sĩ, ưa thích y phục đẹp đẽ và giới y thì may bằng loại vải có màu sặc sỡ.”

Tôi làm nhà khách tôi thấy, có những thầy mặc áo màu trắng như cư sĩ, hoặc áo màu sặc sỡ và mỏng, thấy đồ bên trong hết. Là hiện tượng đã có rồi!

“Nó uống rượu, ăn thịt, giết hại các sinh vật khác, hoặc tham đắm thọ hưởng cao lương mỹ vị. Nó không có lòng từ bi và thường mang lòng sân hận, đố kỵ lẫn nhau.”

Bởi vì không có tu! Sống trong chúng mà có một niệm sân hận hoặc đố kỵ với huynh đệ thì biết chính là ma. Một tâm niệm xấu ác, tật đố, rồi ích kỷ, đó là ma, phải chuyển hóa liền.

“Phàm lên chánh điện phải buộc ống quần, chẳng được lung ý tự tiện.”

Không biết hình thức này, bên Ấn Độ thời Đức Phật có chưa hay qua Trung Hoa mới có. Nên học đoạn này cho kỹ.

Sa Di Học Xứ ghi:

“Nghĩa là chỗ đại điện chính là Thánh Hiền vân tập, phải chỉnh y thúc đáy mà lên. Phải buộc là sợ hạ thân có vật dơ rơi sót trên đất.”

Tổ Tuyên Luật Sư dạy, chỗ đại điện chính là Thánh Hiền vân tập. Mắt thường chỉ thấy có chư tăng không thôi nhưng mà có Long thần, Hộ pháp, Bồ-tát rất nhiều.

“Phàm chỗ có Phật, Bồ-tát đều nên buộc ống quần, nếu phóng ý tự tiện thì không có tâm kinh sợ. Song Tây quốc có cái quần không khố nên quần trở thành nội y. Nay văn nói ra chính là thuận nghi đất này.”

Nay văn nói ra chính là thuận nghi đất này, có nghĩa là không phải Ấn Độ mà qua Trung Hoa mới có hình thức này. Mặc cái y như quý sư bên Nam tông, nếu lên chánh điện buộc ống quần thì làm sao lạy.

Nhưng trong Sa Di Học Xứ có một đoạn dẫn chứng Kinh A Hàm:

“Kinh A Hàm nói: Một Tỳ-kheo chẳng mặc y hạ, âm mao rơi xuống đất, thần Hộ pháp dời đi ngoài bốn mươi dặm, có thể chẳng thận trọng ư?”

Luật nói trong Kinh A Hàm nhưng lục tìm trong Kinh A Hàm thì không thấy.

Ngày xưa tôi làm hương đăng thiền đường, cứ ba ngày tôi hút bụi một lần, xong rồi xổ ra âm mao rất nhiều, quý thầy phải cẩn thận.

“Chẳng được đi chơi, chẳng được nói nhiều.”

Sa Di Học Xứ ghi:

“Chẳng được đi chơi là sợ ngăn ngại thiền định và tụng kinh. Người xưa trải qua năm tháng rất quý thời gian. Người xuất gia thọ của đàn việt cúng dường nên phải nỗ lực hành đạo, thời khắc miên mật, chẳng có thể phóng túng, há có thể để ngày tháng trôi suông ư? Phật pháp như biển lớn, học một phần có một phần thọ dụng.”

Chư Tổ khuyến khích và răn nhắc mình, thời gian trôi qua rất nhanh mà Phật pháp thì như biển lớn. Có những lúc, mình đọc kinh điển thấy không nhớ gì nhưng nó đều ghi trong tàng thức. Chúng tôi làm nhà khách, có những mẩu chuyện tự nhiên mình nhớ rồi giải thích rõ ràng cho người thức giả. Không phải cái gì cũng nói tôi tu, mà phải có kiến giải chân chánh. Trích dẫn ở đâu, xuất phát từ nơi nào khách họ mới tin. Cho nên học một phần thì có một phần thọ dụng.

“Huống nữa Sa-di còn là bậc sơ cơ, đạo nghiệp chưa thành, ngày tháng như nước chảy, như vậy có công phu đi chơi ư?”

Tổ dạy rất là rõ.

“Chẳng được ngồi ngó đại chúng làm việc nhọc mà trốn lánh trộm yên. Phật dạy công việc của chúng tăng phải tận lực mà làm. Cho nên chư Phật, Bồ-tát từ ở trong cửa hạnh mà ra. Song chỗ ăn đã chia đều, chỗ làm cũng phải chia đều.”

Quý Thầy lớn kể lại, Hòa thượng Tôn sư không phải chỉ học rồi tu, rồi giáo hóa, mà lúc lên Chân Không ngài phải bẫy đá, rồi bứng những bụi tre rất cực. Hòa thượng Thường Chiếu cũng làm việc rất nhiều. Còn có những vị thầy, đời này thấy không làm nhiều nhưng biết đâu trong thời quá khứ các ngài đã làm rồi. Chẳng hạn như thầy Trụ trì Trúc Lâm, chỗ nào xây dựng đâu đó hết rồi thỉnh thầy về Trụ trì, mà Thầy đi đến đâu chúng yên ở đó, chứng tỏ thời quá khứ Thầy đã từng xây dựng, từng làm rồi. Còn đời này thì chưa có gì mình phải tận lực mà làm.

Song chỗ ăn đã chia đều, chỗ làm cũng phải chia đều. Lên bàn thấy bốn miếng đậu hủ chia đều bốn người, có mình nữa mà. Chẳng lẽ mình trộm, trốn không chịu làm?

Cho nên Thiền sư Bách Trượng lúc bảy, tám mươi tuổi vẫn làm việc. Các đệ tử lớn thương ngài, đem giấu dụng cụ không cho làm thì hôm đó ngài nhịn đói. Ngài nói một câu nổi tiếng trong tùng lâm: “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”, tức là một ngày không làm một ngày không ăn.

“Ngồi ngó thì không biết hổ thẹn, trốn lánh thì tổn phước mắc tội.”

Nếu bệnh thật, mình báo với thầy Tri sự thì không bị tổn phước. Còn mình dối bệnh để không làm thì tổn phước.

Thiền sư Dương Kỳ nói:

“Trên dưới trộm an là pháp môn đại hoạn.”

Có nghĩa là trên thì thầy lớn không muốn làm, mà ở dưới thầy nhỏ cũng không làm luôn thì một thời gian, tùng lâm giải thể.

Cao Tăng Truyện có ghi:

Pháp sư Đạo An rất giỏi, lúc còn là chú tiểu, một ngày ngài thuộc một vạn câu kệ. Cơ phong ngài rất cao, nhìn liền biết đây là bậc pháp khí thượng thừa. Một hôm ngài nằm mộng thấy một vị Thánh tăng nói với ngài: Ông đối với sự hiểu biết và tu hành không ai bằng, nhưng phước ông rất ít. Nếu ông có thể phụng sự chúng Tăng, sở nguyện ắt được thành tựu. Từ đó ngài làm việc rất nhiều, đích thân ngài hành đường, trị nhật. Ngài còn nhận đồ chúng và nuôi chúng, giảng pháp, hoằng pháp lợi sinh.

Trong Phó Pháp Viện có ghi:

Sa-môn Cầu Đa quán sát, một người trong đại chúng không có phước nên không thể đắc đạo. Ngài khuyên, cần phải đi giáo hóa, cúng dường chư tăng, phụng sự Tam bảo. Quả tình người đó vâng làm một thời gian thì đắc quả A-la-hán.

Người hy sinh làm việc cho đại chúng họ có một năng lực riêng. Từ năng lực, từ cái phước đó họ vượt qua được nghịch cảnh và tu hành dễ hơn. Còn trốn việc, không muốn làm gì hết thì tu dễ bị chướng ngại. Có đủ năng lực làm việc, phục vụ cho đại chúng thì phước lực nhiều hơn tu ở am cốc, ở chùa tư.

Kinh Đại Báo Ân nói:

“Nếu chúng sanh dùng tâm thanh tịnh cúng dường chúng tăng, quét tháp Như Lai, lúc mạng chung sanh về cõi trời Ý Lạc. Tư duy nghĩa lý sâu xa của các pháp, ưa thích tu tập pháp lành, cúng dường cha mẹ, Hòa thượng, Sư trưởng, những bậc có đức hạnh. Nếu đi trên đường gặp tháp Phật, phòng tăng nhơ, sỏi đá, gai gốc ngổn ngang thì liền dọn dẹp, do nhân duyên ấy mà được một tướng lông xoay về bên phải trong ba mươi hai tướng tốt của đức Phật.”

“Cho đến thăm bệnh, cúng dường phương tiện cho chư tăng tắm rửa, đào giếng, dựng nhà xí công cộng, giúp nguy, cứu gấp, cứu tế kịp thời đều là tâm đại Bồ-tát, trở thành hạnh chẳng thể nghĩ bàn. Đã làm lợi ích rộng rãi mọi người thì được quả báo rộng lớn, hoặc mãi thọ thân hình kiên cố bất hoại, hoặc thường được thân thể tướng hảo thanh tịnh.”

Trong huynh đệ, có ai bị bệnh mà quý thầy chịu khó nấu một nồi cháo hay một nồi nước xông thì đây là tâm đại Bồ-tát. Vì tâm đại Bồ-tát, phát xuất từ những hạt giống trong vô lượng kiếp, bây giờ nó ứng tác, mà trở thành cái hạnh chẳng thể nghĩ bàn. Chỉ có mười phương chư Phật mới thấy chỗ này, chỉ lại cho mình.

Trong Đại Trang Nghiêm Kinh Luận có kể câu chuyện:

Ngày xưa, ở một nơi xa xôi có vị thầy thuốc rất giỏi được mời trị bệnh cho nhà vua. Sau khi lành bệnh, vua cho người đến nơi ở của ông thầy thuốc, cất một biệt thự lớn, và cấp cho ông một đàn voi, một đàn trâu và một đàn ngựa. Tuy nhiên trước khi về, vua chỉ ban cho ông một con ngựa gầy ốm. Ông bực mình, cho rằng thưởng như vậy không xứng với công khó ông trị bệnh cho vua.

Trên đường về, thấy người lùa một đàn ngựa, hỏi thăm mới biết đàn ngựa đó là vua thưởng công cho ông. Về đến nhà ông càng bất ngờ hơn khi thấy nhà cửa, kho báu, voi, trâu… Lúc đó ông mới biết vua thưởng cho ông rất nhiều.

Phật ví như người biết bố thí, cúng dường, biết phụng sự Tam bảo thì công việc tuy ít nhưng quả phước mai sau rất thù thắng. Trong cuộc sống tu hành cũng vậy, phải phụng sự Tam bảo. Khi chướng duyên nghịch cảnh đến, mới biết rằng nhờ làm việc cho Tam bảo, phụng sự chúng tăng mà quý thầy vượt qua được những cảnh giới này.

Chúng tôi kinh nghiệm, ở trong chúng có những người tu hành rất miên mật, nhưng đối với việc làm nhỏ nhặt thì lại bỏ qua, hoặc xài phí của Tam bảo. Một thời gian tu không được do không kiệm được phước. Kiệm phước là hay phụng sự Tam bảo, giúp ích chúng tăng.

“Chẳng được riêng lấy của chiêu đề như tre, cây, hoa quả, rau cải, tất cả đồ ẩm thực và tất cả đồ đạc. Chú: Chiêu đề Trung Hoa gọi là vật tứ phương tăng chẳng phải một thứ. Nghĩa là một tre, một cây, một hoa, một quả và rau cải ẩm thực đều là vật của đại chúng. Nếu lấy riêng tức là phạm tội trộm. Nếu muốn lấy phải bạch với thầy tri sự hoặc thầy tri khố thì không có tội.”

Muốn lấy bất cứ cái gì trong nhà kho thì phải xin.

Trong Luật có kể:

Thiền sư Tăng Chiếu là một bậc khổ hạnh đệ nhất. Ngài tụng kinh Pháp Hoa và hành Pháp Hoa Tam Muội, cảm được Bồ-tát Quán Thế Âm đến thuyết pháp cho nghe, được vô ngại biện tài. Lại thấy Bồ-tát Phổ Hiền cỡi bạch tượng phóng quang chứng minh.

Nhưng trước, ngài có lấy của chúng tăng một nắm muối làm trai phạn mà không báo cho thầy tri sự hay thầy tri khố gì hết, vì cho rằng không có bao nhiêu nên không để tâm. Sau ngài hành Phương Đẳng Sám Pháp bỗng thấy tướng muối hiện lên, sau ba năm muối tăng đến mấy chục đấu. Ngài bèn cấp tốc bán y mua muối trả lại, lúc ấy tướng muối mới hết.

Quý thầy thấy không, một chút xíu vậy thôi. Cho nên học kỹ oai nghi lợi ích rất nhiều.

Kinh Tạp Bảo Tạng có ghi:

Phật và tôn giả Mục-kiền-liên du hành trên hư không, thì Tôn giả nhìn thấy một con ngạ quỷ toàn thân bị lửa bốc cháy và trong thân nuốt bảy hoàn sắt nóng. Mục-kiền-liên hỏi Phật, nguyên nhân nào ngạ quỷ này phải chịu khổ như vậy. Phật bảo Mục-kiền-liên họp đại chúng lại rồi ngài kể: Vào thời Phật Ca-diếp, trong mùa đói kém có một tín thí đem một thúng đậu cúng dường chúng tăng. Vị tri khố chia đậu mà có tâm riêng tư, chia cho thầy tế độ mình hơn chúng tăng bảy hạt đậu mà bây giờ phải chịu quả báo nuốt bảy hòn sắt nóng!

Đây là lời Phật nói. Tại sao chỉ có bảy hạt đậu mà bị quả báo? Chỗ này hơi sâu. Quả báo là do có tâm riêng tư, tâm ái ngã, đây là thầy của tôi, thầy tế độ của tôi, hoặc thầy mà tôi làm thị giả… thì phải hơn chúng tăng. Dính liền, quý thầy nhớ kỹ điểm đó.

Quý thầy thị giả nên nhớ, làm cái gì cũng phải xin thầy tri khố, chẳng hạn: hôm nay tôi xay trái cây này cho thầy Phó hay thầy Cố vấn gì đó… Phải xin, chớ quý thầy tự động làm là mắc quả báo liền. Một trái thanh long chắc phải nuốt một khối sắt! Vì có tâm riêng tư. Học luật, mình thấy rất sợ, từ đó về sau mình có cái tâm khác hơn ngày xưa. Học một thời gian, rồi khéo giữ giới nên tu rất dễ vào chánh định.

Trong Thích Môn Tự Cảnh Lục có ghi:

Hệ Mân họ Cố lúc bé xuất gia chẳng tu hạnh nghiệp, chỉ giỏi việc mua bán. Từng đảm nhận quản lý kho nhà trù của chúng tăng, riêng tự lấy ăn dùng. Sau khi bệnh mất thác sanh vào bụng trâu. Trâu sanh ra tướng to khỏe rất đẹp. Thiền sư Song Nam, một bậc kỳ đặc, người ở Miên Châu, một hôm trên đường đi ngài thấy một con trâu kéo xe cực khổ, mồ hôi, nước mắt chảy ra rất nhiều. Nhìn là ngài biết con trâu thác sanh từ đâu đến. Thiền sư đến lắc sừng con trâu nói: “Sao giống Mân Công đền nợ khổ sở quá vậy?” Con trâu nó khóc, ngài biết đây là Mân Công thác sanh vào bụng trâu để kéo cày trả nợ. Ngài đến ngôi chùa Mân Công ở ngày xưa báo để chuộc trâu về. Mấy ngày sau con trâu chết.

Sau này nếu quý thầy làm tri khố, tri sự hay làm bất cứ việc gì trong tùng lâm mà dính líu của tùng lâm, của Tam bảo đều mắc quả báo hết.

“Chẳng được nói việc chánh, đắc, thất trong triều đình, chốn công phủ và việc hơn thua tốt xấu của thế gian.”

Chuyện thế gian ai cũng thích nghe hơn Phật pháp, bởi vì những hạt giống đó chưa chết. Cho nên Tổ Tuyên Luật Sư dạy:

“Dài, ngắn, tốt, xấu chính là việc thị phi của người tục, nói đều làm loạn đạo tâm, cũng chuốc lấy cái tai họa nên chẳng được nói.”

Ở trong chúng, mình đâu biết ai là người tu hành chân chánh. Nói chuyện chính trị, nhiều khi họ bắt quý thầy nữa, khổ không?

“Song miệng giương như cây cung, lời nói phát ra như mũi tên, thốt nhiên miệng cọp tổn thương mới biết tường vách có tai, pháp khiến không gần. Nên kinh nói chẳng được luận bàn chuyện chính trị quốc gia, bình luận về ưu liệt, ra quân hành sự, vây đánh hơn thua.”

Đức Phật cấm không cho bàn chuyện thế sự, tuy nhiên trong chúng thường mắc phải. Trong vô lượng kiếp, biết đâu quý thầy là vua hay là tướng gì đó, bây giờ nhắc lại là nhớ liền. Bởi vì ai cũng có những hạt giống thế gian, những hạt giống đó chưa chết, nó gợi lại.

Đại sư Liên Trì kể:

Thiền sư An trụ trì chùa Thanh Thái năm Quang Hiếu nhà Tống, một hôm nhập định, trong định ngài thấy hai vị Tăng dựa lan can nói chuyện. Lúc đầu ngài thấy thiên thần cầm hai tích trượng lớn, đứng hai bên bảo vệ. Một lúc sau, ngài nghe tiếng hai con quỷ chửi mắng và nhổ nước miếng vào mặt hai vị Tăng. Sau khi xuất định, ngài hỏi hai vị Tăng nói chuyện gì, mới biết ban đầu hai thầy nói chuyện Phật pháp, tiếp theo nói chuyện gia đình, rồi nói chuyện lợi dưỡng. Từ đó về sau Thiền sư An phát nguyện không bao giờ nói chuyện thế sự, chính trị quốc gia nữa.

Ai cũng bị trường hợp này hết. Mới đầu nói chuyện Phật pháp, nói chuyện Kinh điển như Kinh Bảo Tích hay Niết Bàn gì đó thì thiên thần đến nghe và bảo vệ. Kế đó nói chuyện gia đình: sư huynh là con thứ mấy? Cha mẹ còn không? Cha mẹ bao nhiêu tuổi? Rồi nói thôi anh ráng tu đi mai này làm trụ trì đem cha mẹ về nuôi. Lợi dưỡng kế bên, quỷ nó nghe nó khinh thường! Những người có gia đình thì kể ngày xưa tôi ở đâu, làm việc gì, bây giờ con tôi làm gì… kể một dọc ra luôn!

“Phàm mình xưng phải xưng hai chữ pháp danh, chẳng được xưng ta hay là tiểu tăng.”

Quý thầy phải xưng pháp danh là Đức Trí hay gì đó, chứ xưng “ta” hay “tiểu tăng” thì trong luật không cho phép.

“Phần trước là nghe gọi ứng đáp.”

Ai gọi thì mình “Mô Phật”.

“Thì đây chính là tự xưng pháp danh nghĩa là thân là con Pháp vương. Tên là nói giềng tổ gia tông phái nên gọi là pháp danh. Xưng pháp danh ấy là Thích tử chẳng phải tục sĩ. Nhưng xưng ta thời mình khinh mình, nếu nói tiểu tăng thời khinh toàn thể chúng tăng. Song Tăng là huệ mạng của Phật Tổ, là phước điền của trời, người, sao gọi là tiểu ư?”

Cặp mắt của người giác ngộ sáng suốt, thấy chư tăng là ruộng phước của trời, người. Luật không cho phép xưng “ta” hay “tiểu tăng”, vì như thế là khinh thường chúng tăng.

“Nhẫn đến đối với vương hầu cũng xưng pháp danh là vậy.”

Chẳng hạn Tổng thống hay Thủ tướng đến hỏi quý thầy tên gì, quý thầy xưng pháp danh chứ không được xưng con hay ta hay tiểu tăng.

Ngữ lục Thiền sư Triệu Châu có ghi:

Vua Triệu hỏi Thiền sư Triệu Châu quân vương quý hay Pháp vương là quý. Thiền sư đáp: Nơi quân vương, quân vương là quý; mà nơi Pháp vương, Pháp vương là tôn quý.

Sau khi học luật, hiểu tường tận, mình nói không sợ tổn phước.

“Chẳng được nhơn việc nhỏ tranh đua. Bằng việc lớn khó nhẫn cũng phải tâm bình khí hòa. Lấy lý luận biện, chẳng được thời từ từ mà lui. Nổi giận thốt lời thô tức là không phải bậc hảo tăng vậy.”

Trong chúng, trong huynh đệ không được tranh hơn thua. Chuyện khó nhẫn quá thì từ từ mình rút.

Sa Di Học Xứ ghi:

“Tăng cư lục hòa, nhẫn nhục là đệ nhất. Giả sử có sự hiểu lầm phải quyền biến tạm thời, khoan thai nhẫn nhịn, lâu ngày tự rõ.”

Huynh đệ mà hiểu lầm, nói mình làm chuyện này chuyện kia thì phải nhẫn nhịn, lâu ngày tự nhiên huynh đệ hiểu.

“Cho nên chẳng lấy phải trái biện luận làm chỗ giải thoát. Đạo trời lấy sự bất tranh làm thiện pháp thù thắng.”

Thiền sư Vĩnh Gia nói:

Tòng tha báng, nhiệm tha phi,

Bả hỏa thiêu thiên đồ tự bì.

Ngã văn kháp tự ẩm cam lộ,

Tiêu dung đốn nhập bất tư nghì.

Dịch:

Mặc ai biếm, mặc ai gièm,

Châm lửa đốt trời nhọc xác thêm.

Ta nghe như uống cam lồ vậy,

Tan hết vào trong chẳng nghĩ bàn.

Quý thầy làm được không? Chẳng hạn người ta biếm, người ta gièm mình: “Ông thầy này tôi thấy có tu gì đâu, tối ngày đi chơi không hà.” Thì sao? Ta nghe như uống cam lồ vậy, tan hết vào trong chẳng nghĩ bàn. Đây là nói về bậc thượng căn, bậc đại lực lượng.

Còn mình thì làm chưa được. Nguyễn Công Trứ nói:

Ăn ở sao cho trải sự đời,

Vừa lòng cũng khó há rằng chơi.

Nghe như chọc ruột, tai làm điếc,

Giận dẫu căm gan miệng mỉm cười.

Giận lắm, nhưng miệng mỉm cười, tuy không nói lời thô mà không đúng tinh thần nhà Phật. Tu làm sao phải biết cách chuyển hóa. Mới đi tu, Phật ví dụ như nắm muối bỏ trong ly nước, uống không được. Tu một thời gian, Phật ví như nắm muối bỏ dưới sông, dưới hồ, nước không bị mặn, uống được. Tu một thời gian có công phu thiền định, có sám hối, tự nhiên tâm càng ngày càng mở rộng, bao dung được lời nói của huynh đệ. Tuy biết đây là lời thị phi, hơn thua, oan ức cho mình, nhưng bây giờ tâm rộng quá nên dung nhiếp được. Còn mới tu thì chưa.

Trong Kinh Tăng Chi Bộ, Phật dạy:

“Có ba loại sức mạnh có mặt ở đời. Thế nào là ba?

1- Sức mạnh của phụ nữ là sắc đẹp.

Có nghĩa là phụ nữ dùng sắc đẹp mà quyến rũ người khác phái.

2- Sức mạnh của trẻ con là tiếng khóc.

Trẻ con, một khi khóc lên thì đòi gì cũng được.

3- Sức mạnh của Sa-môn, bậc tu đạo là đức nhẫn.

Nhẫn là trên hết. Trong Kinh Di Giáo, Phật dạy:

“Nhẫn là cái đức mà trì giới khổ hạnh không thể bì kịp. Người hay thực hành đức nhẫn mới có thể gọi là người có sức mạnh to lớn.”

Người có đức nhẫn thì công đức, phước đức nhiều hơn người bố thí cúng dường. Trì giới khổ hạnh không bì kịp. Trong cuộc sống tu hành, khi chướng duyên, nghịch cảnh đến mà nhẫn được không phải chuyện đơn giản. Chúng tôi đụng chuyện rồi, nhẫn được không dễ. Tối về phải ngồi thiền nhiều hơn, sám hối nhiều hơn mới chuyển hóa được. Tổ nói bậc đại lực lượng mới nhẫn được. Mà phải là thật nhẫn, chứ lầm rầm trong miệng là không đúng. Trong bụng sục sục cũng không được, nhẫn như vậy là thua rồi. Tuy nhiên cũng tạm vì không thốt ra lời ác.

Trong Truyện Cổ Việt Nam có câu chuyện:

Có ông phú hộ đi trên đường, vấp cục đá liền nổi sân. Ông suy nghĩ: “mình tự vấp cục đá mà còn nổi sân huống chi người khác đụng mình. Như vậy nhẫn thật khó.” Về nhà ông tuyên bố, ai làm ông nổi giận ông sẽ chia nửa gia tài và gả con gái cho. Nếu ba lần không làm ông tức giận thì ông đánh ba trăm roi rồi đuổi về.

Một hôm, có anh học trò trông rất thông minh đến xin thử. Ngày đầu tiên, ông phú hộ bảo anh học trò giả làm chó còn ông làm thợ săn. Săn được con thỏ đem về nấu nướng xong, ông phú hộ sai anh học trò đi mua rượu. Anh học trò nói:

– Chó làm sao biết mua rượu. Ông là người ông phải đi chứ.

Ông phú hộ đi mua rượu về thấy anh học trò ăn hết con thỏ. Ông trừng mắt hỏi:

– Sao mầy cả gan ăn hết con thỏ?

– Ông không nghe người ta nói chó treo mèo đậy sao? Ông để dưới này thì con ăn.

Ăn xong anh học trò hỏi ông phú hộ có giận không, ông nói không giận.

Ngày thứ hai ông phú hộ giả làm chó, anh học trò làm thợ săn, vô rừng cũng săn được con thỏ. Lần này anh học trò đi mua rượu, nhưng trước khi đi, anh trói ông phú hộ lại. Ông nói:

– Tại sao mày trói tao?

– Không trói ông ở nhà ăn hết con thỏ sao.

Sau khi mua rượu về, anh học trò ngồi trên bàn, ăn thịt uống rượu, liệng xương xuống cho “chó” rồi hỏi ông phú hộ có giận không. Ông phú hộ bực lắm nhưng ráng nhịn.

Ngày thứ ba, anh học trò bắt ông phú hộ gánh hai cái thúng đi mua đồ. Ông không biết nó ngồi sẵn trong thúng, gánh nặng quá, mở ra mới thấy. Ông tìm cách ngồi vô thúng rồi bắt học trò gánh lại. Học trò giả đò la “có voi tới” rồi quăng thúng, gánh xuống sông làm ông uống nước gần chết.

Lần cuối cùng, anh học trò ra bờ ruộng thấy bãi phân trâu, nó lấy thúng úp lên rồi chạy về báo:

– Ông ơi, con mới bắt được con phụng hoàng đất lớn và quý lắm, ông mà đem bán cho vua sẽ thành tỷ phú.

Ông mừng quá chạy ra ôm cái thúng. Học trò dặn:

– Ông không được mở thúng ra coi chừng nó bay, đợi con về lấy lưới.

Vừa lúc đó đằng xa có tiếng trống kèn của vua đi đến, vua hỏi tại sao đứng chắn đường của vua. Ông nói có con phụng hoàng đất, sợ giở thúng ra nó bay mất. Ông vua cũng thích con phụng hoàng, tò mò thọc tay vô thúng trúng bãi phân trâu. Vua tức quá, sai quân nọc ông phú hộ ra đánh ba trăm roi rồi ra lệnh xử trảm vì tội khi quân. Anh học trò chạy ra hỏi ông có giận con không, ông phú hộ nói:

– Tao không giận nhưng mà tao muốn giết mày.

Cố gắng nhịn lắm nhưng cuối cùng cũng nổi giận, có nghĩa là nội kết không biết cách chuyển hóa. Đây là chuyện thế gian. Còn chuyện xuất thế gian của mình thì sao? Ai cũng có niệm giận, học Phật pháp, những hạt giống niệm mình phải biết cách chuyển hóa từ trong trứng nước, chuyển hóa lần lần. Rất khó, cho nên Tổ nói bậc đại lực lượng mới chuyển hóa được những hạt giống này.

Trong Kinh A Hàm, Phạm Chí Bà-la-môn hỏi Phật về việc sát sanh. Phạm Chí hỏi:

Giết gì được an ổn,

Giết gì được an vui,

Giết gì tâm không hối?

Gì là gốc các độc,

Gì là gốc khổ đau?

Phật dạy:

Giết sân được an ổn,

Giết sân được an vui,

Giết sân tâm không hối.

Sân là gốc độc hại,

Sân là gốc khổ đau.

Tu hành mà hết niệm sân thì rất là nhẹ và an ổn. Hết cái thô thôi cũng là nhẹ rồi. Còn không thì hay đem sự thô bạo đến cho người khác.

Kinh A Hàm ghi:

Một ni cô nước Sa Ca La gặp một vị Bà-la-môn tu khổ hạnh dùng năm loại lửa nướng thân mình. Đầu tóc khô giòn, môi miệng nứt nẻ, người đời gọi ông là La-hạt-chít tức là cây vải bông nướng. Một hôm cô nói với ông:

– Cái đáng thiêu ông không thiêu, lại lầm lẫn thiêu cái không đáng thiêu, sao mà si mê quá vậy?

Vị Bà-la-môn giận dữ:

– Đồ con lừa, ngươi nói cái gì mới đáng thiêu?

Sư cô nói:

– Cái đáng thiêu chính là tâm nóng giận của ông. Nếu ông thiêu cháy được cái tâm đó thì mới là thiêu thật sự. Giống như trâu không đi thì đánh trâu ai lại đánh xe. Cũng vậy, phải đánh thức cái tâm kia, thiêu cháy cái tâm đó thì thân hết bị giày vò đau khổ.

Nghe xong vị Bà-la-môn thức tỉnh.

Những vị tu khổ hạnh bên phái lõa thể họ hay dùng phương pháp này. Họ nướng thân, đứng giữa trưa nắng. Sư cô nói cái đáng thiêu chính là tâm nóng giận của ông, ông phải tìm cách chuyển hóa.

Mình tu hành cũng vậy, phương pháp rất nhiều nhưng đòi hỏi phải tu tập như thế nào, để chuyển hóa sân hận. Quý thầy biết tu tập cái gì không? Lòng từ. Ai nóng giận nhiều thì phương pháp duy nhất là rải lòng từ. Lòng từ tăng trưởng nhiều chừng nào, thì lòng sân hận bớt chừng nấy. Chuẩn bị ngồi thiền, mình nhiếp niệm năm, mười phút rải lòng từ ra. Giống như ngài Đạt Lai Lạt Ma, ngài nói ngài luôn rải tâm từ đến đối tượng làm cho ngài đau khổ.

Tổ Tuyên Luật Sư dạy:

“Nếu lấy việc nhỏ mà chấp chặt tranh luận thì việc nhỏ cũng thành to.”

Có những chuyện nhỏ, quý thầy không biết cách chuyển hóa mà chấp chặt vào, rồi tranh luận hơn thua thì nó thành chuyện lớn. Từ đó về sau tự nhiên có nội kết. Từ cái nội kết này, không khéo là đưa đến con đường sát sanh. Chuyện này trong tùng lâm có rồi.

Có lần theo Hòa thượng về miền Tây, tôi nghe kể có hai huynh đệ mới đầu cãi nhau, chuyện rất là nhỏ nhưng chấp chặt tranh luận, cãi một hồi thành chuyện to, thầy sư huynh đánh thầy sư đệ chết. Bữa nọ tôi hỏi thăm biết thầy sư huynh vẫn tiếp tục ở tù rất là khổ sở, mỗi ngày phải đi bắt cho được hai ký cá, không có thì bị đánh! Cho nên phải cẩn thận.

Trong Nghệ Thuật Sống kể:

Hai vợ chồng mới cưới đang ngồi ăn cơm với nhau thì thấy con chuột chạy ngang. Chồng nói chuột chạy xuống giường, vợ nói chuột chạy trên bàn thờ. Chỉ vậy thôi mà cãi qua cãi lại rồi không nhìn mặt nhau nữa. Sau đó người chồng làm lành, chấp nhận vợ đúng. Ngay chỗ đó đáng lẽ yên rồi, nhưng người vợ nói “Ông đúng là mắt đui, tôi đã thấy là chuột chạy trên bàn thờ!” Lại tiếp tục cãi nữa.

Cuộc sống tu hành, đôi khi cũng vấp phải tương tự. Có những huynh đệ họ xuống nước họ nói “Bây giờ tôi chịu thua anh đó”, thì mình lại nói“Đúng rồi, ông kiến chấp dữ lắm. Tôi nói cái đó đúng.” Cãi tiếp tục! Trong chúng có chuyện này rồi.

Tôi chứng kiến, hai người cùng nội kết, chấp chặt kiến giải. Một người giộng tay vào gốc thông chảy máu rồi nói: “Đó, bây giờ ông coi cái tay tôi, ông không chạy thì coi chừng cái mặt ông!” Người kia bỏ chạy.

Sư huynh của ngài An Thế Cao thuyết pháp rất giỏi, kiến giải rất sâu sắc nhưng có tật hay giận. Ngài An Thế Cao biết mai này sư huynh chết chắc chắn sẽ đầu thai kiếp mãng xà khổ sở. Niệm sân hận thác sanh về những cảnh giới xấu ác. Chỉ cần khởi niệm sân hận lên là tự nhiên nó đi bậy liền.

“Nếu việc lớn mà có thể nhẫn thì việc lớn cũng thành nhỏ. Nói việc lớn chẳng qua là bị người ta vu khống chê bai thôi.”

Quý thầy nhớ câu chuyện mà việc lớn biến thành nhỏ không? Câu chuyện Thiền sư Bạch Ẩn, quý thầy đều nghe hết rồi:

Có người ẵm con đến Thiền sư Bạch Ẩn, nói là con của ngài. Ngài nói: “Thế à!” Một thời gian sau hối hận, cô gái đến xin con lại, nói không phải con ngài, ngài cũng nói: “Thế à!”

Chuyện lớn, nếu nhẫn thì biến thành nhỏ.

“Song một chữ nhẫn này nói thì rất dễ mà hành thì rất khó.”

Nói thì rất dễ, quý thầy nhớ câu chuyện nào không?

Một vị tướng quốc đến Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo xin xuất gia, Thiền sư nói:

– Ngoài đời ông đủ thứ việc mà xin xuất gia gì, thôi để từ từ.

– Bây giờ gia đình, của cải, vợ con gì con đều buông xuống hết rồi. Xin cho con được xuất gia.

Thiền sư nói:

– Sao ông đi lễ Phật sớm vậy?

Ông đáp:

– Vì trừ lửa trong tâm, dậy sớm lễ Sư trưởng.

Thiền sư nói:

– Dậy sớm như thế ấy, chẳng sợ vợ ngủ người.

Ông trợn mắt liền:

– Ông già này ăn nói gì vậy?

Lúc này Thiền sư nói:

Nhè nhẹ phẩy chiếc quạt,

Tánh lửa đã nóng bừng.

Tánh lửa nóng như thế,

Làm sao buông xuống xong!

Nói thì dễ nhưng hành thì rất khó. Chính bản thân chúng tôi ra làm việc Phật sự, gặp chuyện vu khống rất nhiều. Có những chuyện mình không làm mà họ gán cho, thì nói ai nghe, ai hiểu. Ngày xưa tôi làm việc bên Canada, đi giảng bằng tàu lửa từ Montreal, tự nhiên nước mắt nó trào ra, đi đoạn đường xe lửa một ngàn cây số là khóc hết một ngàn cây số luôn. Mình không biết tâm sự với ai, cuối cùng chỉ có khóc thôi chớ không có cách nào khác hết.

Còn một câu chuyện nói thì dễ mà hành rất khó:

Tô Đông Pha gửi lá thư cho Thiền sư Phật Ấn:

Đảnh lễ thiên trung thiên,

Hào quang chiếu đại thiên.

Tám gió thổi không động,

Hoa sen tím ngồi yên.

Thiền sư Phật Ấn không nói gì, chỉ ghi mấy chữ “Cục cứt, cục cứt” gửi qua.

Tô Đông Pha chèo đò qua liền, mặt hầm hầm:

– Tôi với thầy tình nghĩa thân thiết, tôi có làm gì thầy đâu mà thầy ghi “cục cứt” vậy?

Thiền sư nói:

– Ông nói “tám gió thổi không động”, mà bây giờ “cục cứt vượt sang sông!”

Cũng như câu chuyện, ông thiền tăng đến chùa Tướng Quốc nói cái gì cũng không, nhà không, chúng sanh không, ba thời đều không, hiện tượng không, pháp giới cũng không. Thiền sư sẵn cái dùi chuông gõ vào đầu ông, ông liền la lên:

– Sao thầy đánh tôi?

Thiền sư nói:

– Cái gì ông cũng nói không sao bây giờ đầu sưng ông lại nói có?

Cho nên Tổ Tuyên Luật Sư khẳng định:

“Phải là người có đại lực lượng mới có thể hàng phục tâm này. Nếu lực lượng yếu kém thì liền bị trôi giạt vào nước quỷ La-sát.”

Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên kể:

Tướng công Vu Địch đến Thiền sư Đạo Thông hỏi:

– Thế nào là “hắc phong xuy kỳ thuyền phưởng phiêu đọa La-sát quỷ quốc.”

Đạo Thông đáp:

– Kẻ khách Vu Địch hỏi việc ấy làm gì?

Vu Địch đỏ mặt, Thiền sư chỉ nói:

– Cái đó chính là phiêu đọa La-sát quỷ quốc.

Lúc này ông tướng khách hỏi:

– Thế nào là Phật?

Thiền sư gọi:

– Tướng công!

– Dạ!

Sư bảo:

– Lại chớ tìm cái gì khác.

Có nghĩa là trở về con người của mình nhưng ở đây nói phải là bậc đại lực lượng mới làm được.

Thiền thoại có ghi:

Có một vị cư sĩ đến thưa với Thiền sư Bàn Khuê:

– Con rất hay sân giận, nói chuyện một chút là con sân lên rồi. Ai nói gì không phải con cũng nổi sân.

Thiền sư bảo:

– Ông đem sân ra ta trị cho.

– Thưa Thầy, khi gặp chuyện mới có, còn bây giờ không thấy.

Câu này đơn giản mà rất hay, cái sân hận ngay trong thực tại thì không có, mà đụng chuyện thì ở đâu nó chạy ra.

Lúc này Thiền sư khai thị:

– Ông hãy nhớ cha mẹ sanh ra ông chỉ có tâm Phật chứ không có tâm sân hận. Nhớ là chỉ có tâm Phật thôi.

Chỉ có một tánh biết duy nhất thôi. Ngoài ra, hằng ngày có buồn, vui, có lúc sân, có lúc không sân, những cái này đắp đổi sanh diệt mà cái gì thấy được chỗ đó? Thiền sư Bàn Khuê nói, cha mẹ sanh ra chỉ có tâm Phật thôi, còn ngoài ra đều là vọng tưởng, điên đảo hết.

Sao gọi là tâm bình, khí hòa?

Sa Di Học Xứ ghi:

“Thiền sư Tuyết Đường nói: Khí thắng trí gọi là tiểu nhơn, trí thắng khí gọi là quân tử, trí cùng khí quân bình gọi là đắc đạo thánh hiền.”

Trong Đại Luật có ghi:

“Người tu không nhẫn nhục có năm điều lỗi:

1- Hung ác càng thêm.

Người không biết nhẫn nhục, không biết chuyển hóa, gặp chuyện gì cũng sân thì khuôn mặt nhìn khác người hay nhẫn nhục. Ngồi gần những người hay sân mình cũng cảm thấy bất ổn.

2- Sự rồi thì hối hận.

3- Nhiều người không ưa.

4- Tiếng dữ đồn khắp.

5- Chết đọa trong đường ác.”

Có vị thi sĩ làm bốn câu thơ:

Có khi nhẫn để yêu thương,

Có khi nhẫn để tìm đường lo toan,

Có khi nhẫn để vẹn toàn,

Có khi nhẫn để tránh tàn sát nhau.

Ở trong chúng, bắt buộc phải nhẫn. Nhẫn không phải vì sợ mà vì thương huynh đệ. Họ cùng mục đích với mình đến tu hành. Ở ngoài đời, gặp chuyện gì thì anh em ruột bênh vực, nhưng huynh đệ còn hơn anh em ruột vì cùng mục đích, cùng chí hướng với mình.

Thiền sư Văn Hỷ đến chùa Kim Cương, sau khi không ngộ nhập được tri kiến Phật thì xin Đồng Tử tức hiện thân Bồ-tát Văn Thù một bài kệ. Bồ-tát Văn Thù đọc bài kệ:

Diện thượng vô sân cúng dường cụ,

Khẩu lý vô sân phổ diệu hương,

Tâm lý vô sân thị trân bảo,

Vô cấu vô nhiễm thị chơn thường.

Tức là:

Trên mặt không sân đồ cúng dường,

Trong miệng không sân xuất diệu hương,

Trong tâm không sân là trân bảo,

Không nhơ, không nhiễm là chơn thường.