Tham vấn Thiền

Tham vấn Thiền

(trích “Thiền Tông Quyết Nghi – Tập 1) Thích Đạt Ma Khế Định 

– NXB Tôn Giáo


Câu 1: Có những người nói tại sao những người tu thiền không làm từ thiện, không làm lợi ích cho tha nhân. Như vậy, người tu thiền được lợi ích gì trong cuộc sống?

Đáp:

Thật ra, họ làm rất nhiều. Làm ở chỗ nào? Khi một người chứng quả vị, toàn cõi giới từ cỏ cây, ngọn cỏ đều được ảnh hưởng. Đơn cử như Hòa thượng Trúc Lâm, từ khi Ngài chứng nghiệm về con đường thiền năm 1970 đến bây giờ là năm 2017, có thể nói Hòa thượng là tỷ phú vì Ngài cho mãi mà không hết. Còn mình làm từ thiện, chẳng hạn có mười bao gạo thì chỉ phát được cho mười người. Một người ngộ đạo rồi, chỉ một lời pháp ban xuống thôi thì tỷ tỷ người hết khổ.

Mình ăn xong nhiều khi cái khổ cũng không hết, nhưng nghe học hỏi giáo pháp, thì có những lúc chúng ta bớt khổ được vui. Phật dạy khổ không phải do vấn đề ăn uống, mà khổ vì luân hồi trong ba cõi, khổ vì phiền não. Theo những số liệu thống kê của tổ chức nghiên cứu kinh tế xã hội, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam được xếp thứ năm, vì người Việt có tu, có hiểu.

Phật dạy khi bố thí mà thiếu thiền định, trí huệ thì đó là việc làm bằng ngã chấp mà ngã chấp thì đem đến sự đau khổ cho mình và người. Trì giới, tinh tấn hoặc nhẫn nhục mà không có thiền định, trí huệ thì đây cũng là xa rời cái Đạo chân thật.

Nên có vị Tăng đến hỏi Thiền sư Duy Khoan:

– Đạo ở chỗ nào?

Sư đáp:

– Trước mắt ông.

Tăng nói:

– Sao con không thấy?

Sư đáp:

– Vì ông có ngã nên không thấy.

Như vậy, chúng ta tu thiền là phát huy trí tuệ Bát-nhã, bố thí mà không thấy mình bố thí; trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn mà không thấy mình tinh tấn, nhẫn nhục. Tu thiền rất có lợi ích, tu thiền được rồi thì chúng ta làm việc gì ba nghiệp cũng đều thanh tịnh. Còn nếu làm mà không tu là làm vì chấp ngã, vô minh, vì hơn thua, danh lợi, đủ thứ chen vô hết.

Ngày xưa, tôi làm từ thiện, đi một lần rồi không bao giờ đi lần thứ hai. Có một bà đi theo chửi thầy, chửi cô… Tôi nói thẳng, thôi cô đừng có làm, về ngủ sướng hơn. Bà hỏi sao vậy, tôi nói, cô làm từ thiện mà sân quá! Cô sân thì đời sau giỏi lắm, cô thành thần. Hỏi thần gì, tôi nói thần mãng xà. Bà hỏi, thầy y cứ đâu. Tôi nói, tôi y cứ trong Cao Tăng truyện.

Sư huynh ngài An Thế Cao bố thí cúng dường, tu tập ngang bằng sư đệ, nhưng ngài hay sân. Hôm nào người ta cúng dường thức ăn hơi lạt là ngài úp bình bát xuống chửi, mặn ngài cũng chửi. Một hôm ngài An Thế Cao nói “Sư huynh tu hành rất đắc lực, làm việc thiện pháp rất nhiều không thua gì đệ mà có tật hay sân. Đệ biết chắc chắn rằng sau này khi huynh chết sẽ trở thành thần mãng xà.” Quả tình sau khi chết ông thành thần mãng xà ở trong đình Hồ Động Đình, ngài An Thế Cao đến khai thị và giúp đỡ.

Cho nên Lục Tổ nói:

Đừng nói cúng dường đó là đạo,
Bố thí cúng dường phước vô biên,
Trong tâm ba ác xưa nay tạo,
Nghĩ đến cúng dường đó là đạo,
Đời sau được phước tội vẫn còn.

Có những người buôn bán xì ke ma túy, tiền nhiều quá nhưng sợ tội. Họ hỏi, ngày xưa làm tội, bây giờ cất chùa có phước không. Tôi nói phước nhiều lắm, nhưng cái này nằm trong nhân quả bổ đồng. Đời sau nhiều khi sanh vào nhà giàu mà làm thú cưng sung sướng hơn cả người nghèo. Hồi tôi ở Canada, một bà có con mèo bị thất lạc, bà mướn bốn chiếc trực thăng, bốn chiếc tàu thủy để tìm con mèo. Đó là đời trước có bố thí cúng dường nhưng tạo nghiệp xấu nên đời này sanh vào loài thú mà được phước.

Vả lại, mỗi người tu mỗi hạnh. Ví dụ, những người tu thiền cũng làm các việc thiện pháp như bản thân chúng tôi làm các việc khuyến học, giúp đỡ những người nghèo khổ, những học sinh sinh viên học rất giỏi mà không có điều kiện, chúng tôi cũng tìm cách giúp đỡ mà không có dính mắc.

Vì sao? Vì kinh Kim Cang Phật dạy: “Chẳng nên trụ sắc sinh tâm, chẳng nên trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, nên không chỗ trụ mà sanh tâm kia”. Tâm đó là tâm gì? Bổn lai vô nhất vật.

Bởi vậy, khi chúng ta tu thiền tốt rồi thì làm việc gì cũng lợi ích, làm việc gì cũng cho tha nhân chớ không phải cho mình. Lợi mình lợi người cả hai cùng lợi.

Nên trong Sử 33 vị Tổ ghi:

Vua Võ Đế hỏi:

– Trẫm từ khi lên ngôi đến nay thường cất chùa, chép kinh, độ Tăng Ni, không biết bao nhiêu, vậy có công đức gì chăng?

Tổ đáp:

– Đều không có công đức.

– Tại sao không có công đức?

– Bởi vì những việc ấy là nhân hữu lậu, chỉ có quả báo nhỏ ở cõi người, cõi trời, nhưng bóng theo hình, tuy có mà chẳng phải thật.

– Thế nào là công đức chân thật?

– Trí thanh tịnh tròn mầu, thể tự không lặng, công đức như thế chẳng do thế gian mà cầu.

Nên Thiền sư Huyền Giác nói:

Bố thí trụ tướng phước trời hưởng

Giống như tên bắn trên hư không

Đà bắn hết mũi tên rơi

Kiếp sau hận cũ lại bời bời

Chi bằng thẳng tiến vô vi ấy

Một nhảy vào liền đất Như Lai.

Khi chúng ta ngồi thiền một tiếng, cái này không phải nằm trong phước đức nữa, mà gọi là công đức chân thật từ bản thể. Cho nên khi Ngũ Tổ nói Lục Tổ xuống nhà trù làm thì ngài nói: “Tự tánh con thường sanh trí huệ.” Khi tu được rồi thì làm việc gì cũng xứng pháp hạnh, làm việc gì cũng trong vô sở cầu hạnh. Hiểu như thế rồi thì chúng ta thấy người tu rất là thiết thực.


Câu 2: Ngồi thiền cứ buông vọng tưởng là con bị hôn trầm ngay. Con kính mong thầy từ bi chỉ con phương pháp ngồi thiền không bị hôn trầm.

Đáp:

Khi ngồi thiền, chúng ta “quán” thì dễ vọng tưởng, mà “chỉ” tức là dừng lại, dừng một hồi thì dễ hôn trầm, nên trong nhà thiền dạy chỉ quán song tu. Mình thấy vọng tưởng thưa dễ hôn trầm thì chấn chỉnh lại bắt đầu quán chiếu, chẳng hạn quán thân thể mình. Ai tu thiền mà không hôn trầm thì chưa phải là người đích thực tu thiền, phải qua cửa này mới gọi là người tu thiền. Vọng tưởng thưa bớt rất dễ vào trong hôn trầm. Người nữ rớt trong hôn trầm nhiều hơn người nam.

Ở đây, chúng ta phải dùng cách quán về thân, quán về tâm để bớt ngủ, hoặc xoa mặt…. Ngài Từ Minh khi ngồi thiền hôn trầm, ngài cầm cái dùi đâm vào đùi chảy máu cho tỉnh. Thiền Sư Bạch Ẩn ngồi trên gác rớt xuống, ngài ngộ đạo. Muốn khỏi hôn trầm, các ngài nói phải dán chữ tử lên trán nghĩa là mình quyết chí tu cho sáng được việc. Chúng ta phải sám hối, mình hổ thẹn là đời trước mình đã tạo một nghiệp mê mờ nên đời này phải thành tâm tha thiết sám hối, lạy Phật.


Câu 3: Những trở ngại biểu hiện khi ngồi thiền như đau nhức thân thể, thì do chướng duyên gì tạo nên?

Đáp:

Ba chướng người tu hay gặp: nghiệp chướng, báo chướng và phiền não chướng.

Báo chướng là thân mình bị bệnh ngặt nghèo làm chướng ngại tu không được. Phải thành tâm tha thiết sám hối thời gian dài mới vượt qua được.

Nghiệp chướng thì khi ngồi thiền chuẩn bị vào thiền định thì thân hoặc tâm mình ray rứt trạo cử giống như có con gì bò nhưng thật ra không có gì hết. Hoặc sắp vào thiền định thì đau bụng bắt buộc mình phải xả ra để đi vệ sinh. Nếu không khéo chuyển thì thành thông lệ, cứ đúng giờ đó là nó làm cho mình bứt rứt khó chịu. Đó cũng là nghiệp chướng từ đời quá khứ của mình, phải dụng công nhiều hơn nữa để vượt qua. Cố Sư bà Hải Triều Âm kể, mỗi lần tâm yên yên chuẩn bị vào thiền định sâu thì bỗng nhiên thấy có một người cầm cây đao đứng kế bên giơ lên giống như chém xuống, có những lúc sư bà phải xả thiền.

Thân mình bị chướng thứ nhất là do nghiệp chướng nên mình ngồi vừa yên thì bắt đầu sanh ra như vậy; thứ hai là mình kiểm soát lại xem mình ngồi thiền có bị chèn ép thần kinh hay không. Trước khi ngồi thiền mình phải xoa bóp cho thật kỹ rồi ngước lên ngước xuống như Sư ông dạy khoảng ba lần. Nếu khuôn mặt mình bị ngứa thì theo kinh nghiệm của tôi, trước khi ngồi thiền mình chà khuôn mặt, rửa mặt và xoa bóp thật nóng.


Câu 4: Khi con đang tịnh tâm, đang yên thì tự nhiên con thấy mình sụp xuống. Con thấy con nằm đó, thân con đang ngủ nhưng mà tâm con vẫn thức. Xin hỏi tình trạng như vậy là gì?

Đáp:

Mỗi hành giả đều mang những nghiệp lực hoặc những công phu thời xa xưa, bây giờ có chút ít dụng công thì cảnh giới lạ biến chuyển ra. Cảnh giới này không phải là xấu mà do sự dụng công tha thiết. Chẳng hạn khi ngồi thiền cảm giác bị mất thân tâm hoặc có ánh sáng. Tất cả những cảnh giới lạ đó, chúng ta đừng theo, đừng dính mắc mà chú tâm theo dõi cái biết, quy chiếu về bản tâm của mỗi người. Trong kinh Lăng Nghiêm Phật dạy: “Bất khởi thánh tâm tức thiện cảnh giới.” Nếu cảnh giới biến hiện ra mình cho là chứng thánh thì rớt trong đường tà. Chẳng khởi việc chứng thánh thì đó là việc thiện, là việc tốt, dụng công đã có biến chuyển về thân tâm.

Có cô Phật tử ở Sài Gòn đến trình với tôi là khi ngồi thiền thấy thân mình mất luôn, cô hoảng sợ xả thiền và đến trình một người thầy. Vị thầy nói, tu thiền không có thầy là không được nên cô tìm đến chúng tôi. Tôi khai thị:

– Ngay trong giờ đó, thấy mất thân mà vẫn có cái biết, biết là đang mất nên ông chủ vẫn còn.

Tổ thứ mười lăm đến đất nước Trung Ấn gặp một vị Bà-la-môn, vị này nghe nói về đạo Phật sợ quá chạy về nhà. Tổ đến gõ cửa hỏi:

– Có ai trong nhà không?

Vị Bà-la-môn nói:

– Không có.

Tổ nói:

– Nếu không có, ai trả lời?

Ngay đó ông ngộ đạo và đi tu. Chứng tỏ là tánh biết lúc nào cũng có.


Câu 5: Khi con thoát ra, con thấy thân con đang ngủ mà tâm con vẫn thức, có phải đó là tánh biết không?

Đáp:

Không phải. Trường hợp đó Tổ Lâm Tế nói là nghiệp dụng đời trước của mình còn sót chút ít, giống như hiện tượng các nhà ngoại cảm, hơn người thường một chút vậy thôi chứ chưa phải chỗ tu tập, chưa phải chỗ thẳng tiến vào con đường công phu của nhà thiền. Đại chúng phải lưu ý điểm đó. Những nhà ngoại cảm biết này biết kia là còn sót nghiệp dụng đời trước có tu tập về pháp ngoại đạo. Vào thời Đức Phật, những người ngoại đạo Bà-la-môn gõ đầu lâu là họ biết sanh về đâu, nhưng khi họ gõ đầu lâu của vị A-la-hán lại mờ mịt, tại vì A-la-hán không sanh về đâu hết.


Câu 6: Xin Thầy giải thích về Thiền khán thoại đầu và Thiền Trúc Lâm Việt Nam khác nhau như thế nào?

Đáp:

Nói đến Thiền tông Việt Nam là nói đến một bậc long tượng trong hàng tăng lữ. Người đó là ai? Là Phật hoàng Trần Nhân Tông, là sơ Tổ của dòng thiền Trúc Lâm nước Việt.

Bình sanh vào thời đó nước Việt cũng đã có ba dòng thiền chính:

1- Tỳ-ni-đa-lưu-chi

2 – Vô Ngôn Thông

3 – Thảo Đường

Tổ dung nhiếp ba dòng thiền này trở thành thiền Trúc Lâm nước Việt.

Vì sao? Vì Phật hoàng Trần Nhân Tông là người Việt Nam thấm nhuần thuần phong mỹ tục người Việt, lại được pháp nơi Tuệ Trung Thượng Sĩ. Khi còn là thái tử, một hôm đến hỏi Tuệ Trung Thượng Sĩ: “Yếu chỉ của Thiền là gì?” Tuệ Trung đáp: “Phản quan tự kỷ, bổn phận sự bất tùng tha đắc” tức là soi lại chính mình là bổn phận chính của người tu, chẳng từ bên ngoài mà được.

Sau gần 700 năm Thiền tông Trúc Lâm vắng mặt trên đất Việt, Hòa thượng Tông chủ nhờ cơ duyên nhập thất trên núi Tương Phùng ngộ lý sắc không, thâm nhập cốt tỷ của Thiền phái. Ngài mở cửa thất xiển dương Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử để cho người học dễ dàng chứng nghiệm vào con đường thiền, Ngài cũng lấy ba tư tưởng lớn làm nền tảng cho người tu học.

1- Tổ Bồ-đề-đạt-ma: Khi đến Trung Quốc, Tổ Bồ-đề-đạt-ma gặp Tổ Huệ Khả, còn gọi là Tổ Thần Quang. Lúc đó ngài Thần Quang thao thức tại sao tâm mình vọng động, ngài đến gặp Tổ Bồ-đề-đạt-ma để xin pháp an tâm. Tổ bảo: “Đưa tâm ra ta an cho”, ngài tìm tâm không được. Tổ nói “Ta đã an tâm cho ông rồi.”

Tinh thần của nhà thiền lấy từ Lục diệu pháp môn: sổ tức, tùy tức, chỉ, quán, hoàn và tịnh. Người sơ cơ căn bản ban đầu thì phải đếm hơi thở.

2- Lục Tổ Huệ Năng: Tinh thần thiền của ngài Lục Tổ Huệ Năng là thiền giáo song hành tức là học giáo để rõ thiền, tu thiền để rõ giáo.

3- Sơ Tổ Trúc Lâm: Thiền của Sơ Tổ Trúc Lâm đốn ngộ rồi mới bắt đầu tiệm tu. Từ tiệm tu quét sạch hết vọng tưởng điên đảo, nhận được rồi sống luôn, tức là đi từng bước vào. Khi đếm hơi thở là chỉ biết hơi thở không có nghi tình gì hết. Đến giai đoạn tùy tức là hít vào biết rõ mình hít vào, hơi thở dài biết hơi thở dài, hơi thở ngắn biết hơi thở ngắn, ra vào đều rõ biết. Tất cả các pháp đều nghe biết mà không dính mắc pháp nào, chỉ biết hơi thở thì đó là đúng.

Thiền Tông của Sơ Tổ Trúc Lâm không phải vào chùa, cũng không phải ngồi trên bồ đoàn mới tu. Mà đi đứng nằm ngồi đều tu, nấu cơm, quét nhà, rửa chén cũng tu tức là lúc nào cũng tỉnh, không có vọng tưởng. Sở dĩ mình rơi xuống ba đường, sáu nẻo là cũng từ vọng tưởng lôi kéo tạo vô số nghiệp lực. Bây giờ mình dừng lại không chạy theo nữa thì vọng tưởng thưa dần, nghiệp lực mình không tạo tức là thành tựu pháp môn đại giải thoát.

Thiền của khán thoại đầu là không được học gì hết gọi là độn công phu. Khi chưa có vọng tưởng mà nghi tình phát gọi là thoại đầu, vọng tưởng lên mình niệm gọi là thoại vĩ là cái đuôi, tức là vọng tưởng ra rồi. Trong đầu mình lúc nào cũng tự động nổi lên một câu, chẳng hạn “Ta là ai, ta là ai, ai là người niệm Phật?” thì vọng tưởng sẽ không có. Nghi tình thành khối thì bùng vỡ gọi là ngộ đạo, kiến tánh.


Câu 7: Xin thầy giải thích cho con thêm về câu “Biết vọng không theo.” Đã biết vọng, vọng tự tan rồi mà còn khởi niệm không theo làm chi nữa?

Đáp:

 Trước khi giải thích câu này tôi đọc một bài thơ của vua Trần Thái Tông:

Không nhân ngõ tía hoa cười sớm,
Đâu có hoàng oanh đậu liễu xanh.

Nếu không có hoa nở vào mùa xuân thì chim hoàng oanh không bao giờ đến hót. Nghĩa là nhờ nhân duyên mình trồng hoa, chim mới đến đậu hót líu lo, nếu không trồng thì không có.

Chúng ta nhiều khi hiểu lầm trên văn tự, bởi vì văn tự tải không hết ý. Ví dụ mình có cái kiếng dính bụi dơ, lấy khăn lau cũng giống như ban đầu cái biết này gọi là trí dụng, dùng trí dụng để biết vọng. Biết vọng mà không khởi niệm “không theo”, vọng tự lặng thì trở về trí thể, gọi là tánh biết vọng. Vọng đến tự nó lìa, đó là cảnh giới thứ hai, là cảnh giới cao của bậc thượng, vọng tự lên tự xuống.

Cũng giống như trong nhà có đứa con nít khóc, muốn nó hết khóc thì mình đóng các cửa lại chỉ trừ một cửa, đứng chặn cửa rồi thả cho nó bò tới bò lui một hồi mệt, nó ngủ. Người giữ cửa là ông chủ, vọng lên vọng xuống kệ nó nhưng không qua mắt ông chủ. Một thời gian vọng lặng thì cảnh giới đó gọi là tánh biết vọng, không còn khởi niệm “không theo” nữa.

Mình hay lầm trên văn tự, nghe nói biết vọng không theo là mình khởi “không theo”. Đúng là không theo nhưng không phải khởi, mà chỉ cần biết vọng tức lìa vọng, gọi là “tri huyễn tức ly, ly huyễn tức giác, không qua tiệm thứ.” Biết huyễn tức lìa, lìa huyễn tức là giác không thêm bớt gì hết. Khi ngồi thiền thuần thục rồi, biết vọng vọng tự lìa đó là một cảnh giới. Có ai hỏi ngồi thiền để làm gì thì người đó trả lời “ngồi thiền là ngồi chơi” gọi là vô công dụng hạnh, có nghĩa là hết dụng công. Từ đó vọng bắt đầu thưa dần, luôn luôn sống trong tánh Bát-nhã, người đó tu giống không tu, như là không tu nhưng họ đang tu, vọng lên là tự lìa.

Ở Đà Lạt thường thường sương đọng trên gương. Có người lau, có người không cần lau, bởi vì mặt trời lên là sương tan. Mặt trời Bát-nhã rọi xuống thì bao nhiêu phiền não, vọng tưởng mất hết, với điều kiện là mình phải nhận được tánh Bát-nhã. Muốn được vậy đòi hỏi phải có sự dụng công. Giống như người võ sư đã học thuần thục, xuất một đòn biết là hở, còn mình mới học thì không biết. Người mà cảnh giới cao thì vọng lên sẽ tự lìa, bao nhiêu nghiệp lực trong quá khứ không làm chủ được mình mà mình làm chủ và hóa giải được nghiệp lực.


Câu 8: Thầy nói ngồi thiền lúc ba hay bốn giờ sáng mới tốt mà con nghe nói ngồi thiền lúc mười một, mười hai giờ đêm mới linh thiêng.

Đáp:

Quý Phật tử có điều kiện nên đọc quyển Yếu Chỉ Tu Thiền của ngài Thiên Cơ. Hạ thủ công phu tu thiền điều tiên quyết nhất là không quá mức cũng không lùi lại. Ngủ làm sao cho đủ giấc. Ví dụ mình nấu một nồi cơm, lửa ít quá thì cơm không chín còn lửa nhiều quá thì cơm cháy khét; nước nhiều quá thì nhão mà ít quá thì cơm khô. Cho nên mình sắp xếp thời giờ sao cho thích hợp.

Tu thiền cũng như thế. Chẳng hạn chín giờ đi ngủ mà mười một, mười hai giờ ngồi thiền thì hôn trầm. Mười một, mười hai giờ không phải là giờ linh thiêng, mà mình ngồi cũng không cần linh thiêng. Ba hoặc bốn giờ sáng thì khí trời thanh sảng, quang đãng, có những luồng gió hoặc luồng sương tẩy uế những bụi trần, mà giờ đó mình dễ tỉnh. Mục đích ngồi thiền là để cho mình không bị mê muội trong giấc ngủ say. Cái gì mình đắm chìm thì dễ rớt vào những đường khổ.

Cho nên Phật dạy làm việc gì cũng đừng có đam mê, cái gì cũng biết đủ. Ăn, ngủ, mặc biết đủ gọi là tri túc. Mình ăn cũng vừa chừng, đừng ăn no quá mà cũng đừng để đói quá; mặc và ngủ cũng thế. Phật dạy người biết đủ là người giàu nhất.

Tu thiền cũng vậy, ba giờ sáng là giờ ngon giấc, vậy tại sao mình thức dậy để ngồi thiền? Là vì để chiến thắng lòng tham dục của mình. Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy:

Tinh tấn giữa những người buông lung,
Tỉnh táo giữa những người mê ngủ,
Ta giống như con ngựa hay,
Bỏ sau lưng những con ngựa gầy hèn.

Giờ đó ai cũng mê ngủ mà mình tỉnh táo, ai cũng phóng túng buông lung mà mình không phóng túng buông lung thì mình là người chiến thắng. Đức Phật dạy: Thắng ngàn quân địch tại chiến trường chưa phải là chiến công oanh liệt, chiến thắng chính mình mới là chiến công oanh liệt nhất.

Mình làm chủ được giấc ngủ là chiến thắng được chính mình. Giờ đó đang ngon giấc mà nghe tiếng kiểng dậy. Ở nhà thường mình không dậy được mà đến thiền viện mình dậy được là nhờ tiếng kiểng, tiếng khánh, nhờ tiếng chuông, tiếng mõ và nhờ đại chúng. Nghiệp thức của mình nặng lắm nên phải nhờ nhiều thứ. Ở nhà chuẩn bị thức dậy rồi mình nghĩ: đi, đứng hay nằm cũng thiền, nằm một hồi là ngủ luôn.


Câu 9: Thưa Thầy, cách đây hai năm con nhập thất ở Tịnh Thất Bát Nhã. Khi ngồi thiền con thấy hai con ma hiện ra ngay ở đầu gối và dưới áo tràng của con. Thưa thầy đó là do tâm mình hay do mình thấy ma bên ngoài?

Đáp:

Trong Thiền thoại có câu chuyện: Có ông tăng nhập thất, khi ngồi thiền đến độ hơi định thì ông thấy một con nhện to hiện trước mặt, ông vào trình thầy và nói rằng nếu tối nay con nhện hiện ra thì ông sẽ giết nó. Vị thầy nói:

– Khoan giết nó. Thầy cho con cục phấn, khi nó hiện lên, con vẽ vòng tròn lên bụng nó, ngày hôm sau nếu nó hiện lên nữa con hãy đâm thì nó mới chết.

Tối hôm đó con nhện hiện lên, ông cầm cục phấn vẽ một vòng tròn ngay bụng nó thì con nhện biến mất. Sáng hôm sau ông đến trình thầy:

– Tối qua con thấy con nhện, con đã vẽ vòng tròn lên bụng nó, tối nay nó mà hiện ra con sẽ đâm nó.

Vị thầy bảo ông giở áo lên xem thì thấy một vòng tròn trên bụng. Vị thầy nói:

– Nếu con đâm là đâm bụng con chứ không phải đâm con nhện.

Ma là từ nơi tâm của mình. Có lần tôi nhập thất ở Thường Chiếu, trời mờ mờ tôi nhìn thấy rõ ràng một người xõa tóc dài, tôi tới nắm tóc thì ra cây chuối. Cây chuối xà xuống mình nhìn mắt nhắm mắt mở tưởng đâu là ma xõa tóc dài, trong nhà thiền gọi là thức tâm biến hiện. Sợi dây thừng mà tưởng con rắn. Biến kế sở chấp, y tha khởi tánh mà không thấy được viên thành thật tướng. Khi mình nhìn lại thì không thấy ma nữa, mà tâm của mình.

Bởi vì khi vào thất, nhiều khi tâm mình hơi lộn xộn, tâm mình nghĩ ma nhiều quá thì nó hiện ra ma, tâm mình nghĩ gì thì hiện ra cái đó. Nhập thất thì phải đủ phước đủ duyên, đủ nhiều mặt. Ngày xưa nhập thất ở Trúc Lâm, Thường Chiếu đâu phải ai cũng được vô, Sư Ông Trúc Lâm nhìn kỹ công phu như thế nào mới cho vào thất. Cho nên khi vô thất thấy như vậy là biết do tâm mình hiện.

Tổ Lâm Tế nói: Phùng Phật sát Phật, phùng ma sát ma. Sát ở đây là giết, giết tức là mình không chạy theo. Ma hay Phật thì cũng mặc kệ, mình chỉ sống theo tánh biết, sống theo tâm Phật của mình thì tức khắc cảnh đó mất. Ma là từ mình biến hiện, tâm có cảnh giới thì tự nhiên nó tương ưng. Ngay trong giờ phút đó mình không chạy theo những niệm đó thì tự khắc mất. Ma từ tâm gọi là tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức; tùy theo mức độ mà tâm thức biến hiện.

Thiền thoại kể: Có một vị thiền sư tên là thiền sư Ngung, người ta thường ngồi trong thiền viện còn ngài thì ra nghĩa trang ngồi.

Bữa nọ ngài ngồi dưới gốc cây thì thấy con quỷ không đầu đến. Ngài nói: “Sở dĩ người ta khổ là do người ta nghĩ lung tung. Tại sao người ta nghĩ lung tung? Tại vì người ta có cái đầu. Ông không có cái đầu thì ông hạnh phúc nhất trần gian.”

Con quỷ biến mất. Một hồi xuất hiện con quỷ không có cái bụng. Ngài nói: “Ở trên đời này người ta làm suốt ngày, suốt tháng, suốt năm cũng chỉ vì cái bụng, bụng ăn thì phải làm. Ông không có cái bụng thật là sướng.”

Con quỷ biến mất. Một hồi sau con quỷ không có hai tay đến. Ngài nói: “Sở dĩ người ta bị tù tội là do người ta ăn trộm, ăn cướp. Tại sao trộm cướp được? Vì có hai tay. Ông không có hai tay thật là sướng.”

Con quỷ cũng biến mất. Mà con quỷ từ đâu? Từ tâm biến hiện ra. Ngài quán chiếu năm uẩn không có thật thì tức khắc ma quỷ biến mất. Mình còn không thật thì ma quỷ đâu. Khi quán chiếu về năm uẩn thì vượt qua hết khổ nạn. Quán Tự Tại hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách. Khi quán chiếu được năm uẩn không có thật thì tất cả vạn pháp biến hết, biến hiện từng tâm cảnh.

Thiền sư Đạo Thọ, đệ tử ngài Thần Tú, đến một vùng để lập chùa, vùng đó có ông đạo sĩ ở. Ông đạo sĩ có phép, buổi tối ông biến ma biến quỷ, biến đủ thứ làm các chú tiểu và tăng chúng sợ không dám ở chỉ còn một mình ngài ở đó. Một thời gian ông đạo sĩ bỏ đi. Người ta thắc mắc hỏi thiền sư:

– Ông đạo sĩ này biến hiện ma, quỷ, yêu quái ai cũng đều sợ bỏ đi, tại sao Hòa thượng không sợ?

Ngài nói: – Ông đạo sĩ có phép biến hiện ma quỷ nhưng phép của ông ấy là phép hữu hạn, còn ta cũng có phép mà là phép vô hạn.

Người ta nói vô chiêu thắng hữu chiêu, ông biến gì biến mà tôi cứ không. Vô hạn là không có dính mắc vào các cảnh thì tức khắc cảnh tự biến. Mình gặp cảnh thì biết là do tâm của mình biến hiện. Cho nên mình không sợ mà chỉ thẳng vào mặt nó là tự nhiên nó biến hết, còn mình khởi niệm sợ này kia thì tức khắc là có.


Câu 10: Bạch Thầy, khi ngồi thiền con thấy có một ánh sáng chập chờn, lúc đó tâm con định lại và hít thật mạnh thì con không thấy nữa. Xin thầy cho con biết đó là tình trạng gì?

Đáp:

Hồi xưa khi tôi làm nhà khách ở Trúc Lâm, có một cô khoảng gần năm mươi tuổi đến gặp tôi:

– Thưa thầy, con đến đây nghe Sư Ông Trúc Lâm giảng cũng gần hai năm. Con âm thầm tu mà không cho gia đình con biết vì gia đình con theo tôn giáo khác. Xin thầy chỉ con ngồi thiền làm sao để gia đình con tin tưởng mà theo đạo Phật vì con thấy đạo Phật hay quá.

Tôi hỏi:

– Cô ngồi thiền cô mong muốn điều gì để gia đình cô tin theo?

Cô nói:

– Thầy chỉ con cách thức ngồi thiền có ánh sáng phát ra, gia đình con thấy lạ sẽ theo.

Tôi nói:

– Cô khỏi cần ngồi xẹt ra ánh sáng. Nếu như ngày xưa chồng cô nói một tiếng cô nói lại hai chục tiếng; con cô có lỗi gì cô kể ngày này qua tháng nọ, thì bây giờ cô im lặng đừng nói gì. Chừng một tháng chồng cô sẽ ngạc nhiên và tìm hiểu xem cô tu pháp môn nào.

Ánh sáng chỉ là phụ, là bề nổi. Thần thông của tôn giả A-nậu-lâu-đà thấy một ngàn tiểu thiên thế giới mà tôn giả Xá-lợi-phất nói chỉ là vỏ cây chứ không phải lõi cây. Lõi cây là chuyển tư tưởng, lời nói, hành động của mình như thế nào đó để nói những nói nhu nhuyến, thanh tịnh.

Trong kinh Tương Ưng Bộ, Đức Phật nói có ba loại lời nói: lời nói như phân, lời nói như hoa và lời nói như mật.

“Này các tỳ-kheo! Thế nào là lời nói như phân? Lời nói ác khẩu, lời nói thị phi, lời nói xúc xiểm, lời nói đâm thọc … là lời nói như phân.”

“Này các tỳ-kheo! Thế nào là lời nói như hoa? Lời nói nhu nhuyến, thanh tịnh, lời nói giúp đỡ người khác, lời nói cho người ta từ đau khổ chuyển thành hạnh phúc là lời nói như hoa.”

“Này các tỳ-kheo! Thế nào là lời nói như mật? Này các tỳ-kheo, người này chấm dứt nói lời ác khẩu, nói lời hai lưỡi, nói lời thị phi, nói lời hơn thua.

Cho nên mình tu thiền chuyện đó không dính dáng, mà người ta nhìn lên khuôn mặt, nhìn từng hành động, từng bước đi của mình là biết mình tu đúng. Tu đúng thì gương mặt sáng lên, bởi vì tâm của mình bây giờ giống như nước, như đất, như lửa, như gió. Đất có khi nào nói nhà giàu đi được còn nhà nghèo thì không? Đất người ta khạc nhổ có la, có giận hờn? Hoặc đổ dầu thơm đất có vui mừng? Tâm giống như lửa, lửa đốt hết tất cả. Tâm mình nhu nhuyến biểu hiện lên khuôn mặt, lên mắt, lên miệng. Ai nói gì mà mình trợn mắt thì chừng một thời gian mắt miệng mình sẽ khác.

Tâm biểu hiện ra tướng. Theo nhân tướng học, ngũ uẩn của mình biểu tướng cho tâm mà tâm là bản thể, là nền tảng. Cho nên miếng đất nào mình trồng lúa tốt thì biết đây là đất tốt, đất nào mình trồng lúa không lên là biết đất xấu. Mình ngồi thiền mà thấy xanh vàng đỏ tím cũng bình thản, mặc kệ, chuyện đó bình thường, do mình dụng công nên nó biến hiện ra thôi. Trở về tâm, trở về tánh biết của thì tức khắc mọi hiện tượng biến mất hết.


Câu 11: Khi ngồi thiền vọng tưởng lên mình kiềm, đè và chăn trâu có khác nhau không?

Đáp:

Khi chúng ta ngồi thiền vọng tưởng lên mà kềm hoặc đè thì phương pháp đó gọi là bệnh thiền. Bởi vì vọng tưởng không có thật. Bản chất vọng tưởng không có tự tính, do duyên khởi mà hình thành vọng, nhà Phật gọi là lạc tạ ảnh tử tức là những hạt giống đó chập chờn lúc có lúc không.

Phương pháp chăn trâu không phải kềm, cũng không phải đè mà là nắm cái vàm tức là có cái biết, biết được con trâu đi đến đâu. “Dấu đâu trâu theo đó, vô tâm đạo dễ tìm” tức là mình theo dõi con trâu, chứ không đè hay kềm con trâu. Ví dụ đang ngồi thiền mà vọng tưởng nhớ nhà thì mình biết con trâu đang về nhà, mình kéo con trâu lại.


Câu 12: Khi con ngồi thiền con thỉnh thoảng thấy có luồng khí chạy dọc theo xương sống đi lên.

Đáp:

Theo tinh thần Phật giáo, Thiền tông, thiền nguyên thủy, nói cách khác là Như Lai thiền, Tổ sư thiền, dù cho luồng khí chạy lên chạy xuống cũng không dính dáng gì hết, đừng chú ý nó. Đó là trạng thái bình thường, cơ địa mỗi người sẽ thấy những trạng thái khác nhau do dụng nghiệp của chúng sanh đời quá khứ. Có nghĩa là đời quá khứ mình đã từng tu tập về các pháp môn, mà là các pháp môn ngoại đạo. Ngoại đạo có nghĩa là ngoài tâm cầu Phật, danh vi ngoại đạo. Nó chạy ngược chạy xuôi, nóng lạnh mình đừng chú ý gì hết mà chỉ theo dõi hơi thở hoặc biết vọng tưởng mình đừng có theo. Dầu cho tướng lạ gì cũng không dính dáng chỗ công phu tu tập. Công phu tu tập là chuyển hóa từ những vọng niệm điên đảo thành tánh giác tức là cái biết sáng suốt rõ ràng mà Phật hoặc chư Tổ đã từng dạy.

Trước khi chứng quả vị vô sanh, ngài A-nậu-lâu-đà đến trình bạch với tôn giả Xá-lợi-phất:

– Sư huynh, một buổi sáng sư đệ thấy một ngàn tiểu thiên thế giới.

Tôn giả Xá-lợi-phất rất thương sư đệ của mình, ngài nói:

– Từ ngày theo Đức Thế Tôn, sư đệ chỉ toàn lượm vỏ cây mà không đào sâu lõi cây.

A-nậu-lâu-đà ngạc nhiên hỏi:

– Sư huynh, thế nào là lõi cây, thế nào là vỏ cây?

Lúc này Tôn giả Xá-lợi-phất nói:

– Mục đích chúng ta tu thiền để chuyển hóa tham sân si, chuyển hóa những vọng động điên đảo. Còn sư đệ nhìn ra tướng bên ngoài, dầu tướng thù thắng cũng là vỏ cây chứ không phải là lõi cây.

Khi nghe đại sư huynh nói như thế ngài buông hết. Khi ngài buông hết không trụ vào tướng đó nữa thì không còn thấy ngàn tiểu thiên thế giới. Ngài vào rừng sâu chuyên tu tập thiền quán, ba tháng sau ngài chứng quả A-la-hán. Cái tướng bên ngoài là giả tướng mà nó dụ mình.


Câu 13: Con xin chia sẻ, huynh đệ con ngồi cái lưng cong quá. Cái lưng cong nó làm căng hai bắp thịt dọc theo cột sống rồi mình cảm thấy hơi nóng. Hai là ngồi cái bồ đoàn cứng quá nó tạo áp lực ngược lại đi dọc theo cột sống. Đó là trên quan điểm y khoa, còn về đạo xin Thầy chỉ dạy.

Đáp:

Trong kinh Trung Bộ kể câu chuyện: Vào một đêm trăng rằm rất đẹp, trên đỉnh núi Linh Thứu, các vị đại đệ tử của Đức Thế Tôn xả thiền xong thì trăng lên rất sáng. Mỗi vị nói về cái thấy biết của mình, về cái siêu việt nhất của người hành giả.

Ngài Đại-ca-diếp nói cái siêu việt của hành giả là đệ nhất khổ hạnh. Tôn giả Xá-lợi-phất nói cái siêu việt nhất của hành giả trí huệ. Ngài Mục-kiền-liên nói cái siêu việt nhất là thần thông đệ nhất. Mỗi vị đều nói cái siêu việt của mình nhưng chưa ngã ngũ. Cuối cùng các ngài đến gặp Đức Thế Tôn:

– Bạch Đức Thế Tôn, đêm nay trăng rất là sáng, tụi con đưa ra quan điểm về cái siêu việt của hành giả.

Đức Thế Tôn nói:

– Cái siêu việt nhất của hành giả là ngồi dưới gốc cây, lưng thẳng đứng, quán niệm về hơi thở đến khi nào tâm không còn vọng động nữa đạt đến vô lậu chứng đắc niết-bàn.

Cho nên những tướng đó là những tướng không dính dáng.


Câu 14: Khi an lạc thì mình biết an lạc, khi vọng niệm mình biết vọng niệm, nhưng mà khi mình trụ vô cái gì thì nó sẽ là sanh diệt, tức là pháp sanh diệt thì quả vị nó cũng sanh diệt?

Đáp:

Trước khi giải thích phần này, tôi nói về đoạn nhân duyên mà Đức Thế Tôn nói kinh Kim Cang. Sở dĩ Đức Thế Tôn nói kinh Kim Cang là vì các đại đệ tử lớn của Đức Thế Tôn nghi: nghi Phật, nghi Pháp, nghi chính mình.

Nghi Phật là vì có những lúc Đức Phật nói thiện, có lúc Đức Phật nói không thiện; có lúc Đức Phật nói niết-bàn, có lúc nói không niết-bàn; có lúc Đức Phật nói phải, có lúc Đức Phật nói quấy; có lúc Đức Phật nói có, có lúc Đức Phật nói không; có lúc Đức Phật nói lìa tất cả các tướng, có lúc Đức Phật nói là tất cả các tướng. Các đại đệ tử nghi không biết đây có phải là ma vương để làm cho tâm các ngài loạn lên hay không.

Nghi Pháp không biết có đúng hay không. Bởi vì pháp của Đức Phật gọi là bất định pháp. Có một vị tăng đến gặp thiền sư Ajahn Chah nói:

– Tại sao con thấy Thầy có lúc dạy bố thí, có lúc thầy dạy đừng bố thí; có lúc Thầy dạy người này phải làm cái này, người khác thì Thầy lại bảo đừng làm.

Ngài trả lời:

– Ví như có người đi trên bờ ruộng nghiêng qua bên phải hoặc nghiêng qua bên trái thì tôi đều đưa họ đi đường thẳng trở lại.

Tức là tùy theo nghiệp tập của chúng sanh mà Đức Phật nói cái này hoặc cái kia. Cái gì trụ tướng đều là chấp thủ, dù cho chấp thủ về niết-bàn hay về Phật quả. Trụ tức là dính mắc, cho nên Phật nói kinh Kim Cang để phá chấp chúng sanh. Kim cương rất là quý, nếu bây giờ tôi cho mỗi người một viên kim cương thì chắc ai cũng thích, nhưng với điều kiện quý vị phải nhét viên kim cương đó vào mắt, quý vị chịu không? Tại sao không chịu? Kim cương tuy quý nhưng bỏ trong mắt sẽ bị xốn, quả Phật tuy quý nhưng dính mắc cũng không được bởi vì “Xưa nay không một vật, chỗ nào dính bụi nhơ”.


Câu 15: Con tu thiền cũng ít năm rồi, cũng cố gắng hành theo phương pháp của Hòa thượng và quý thầy, khi thấy có niệm nổi lên thì biết. Nhưng có những khi niệm nổi lên vô cớ, có khi thấy vui vô cớ, có khi không ai chọc ghẹo mà mình sân, có khi là buồn. Đó có phải là nghiệp quá khứ của mình trong tàng thức nổi lên hay là do đâu nó nổi lên thưa thầy?

Đáp:

Ví dụ chiều nay quý vị ra một siêu thị lớn, có những cái mình chú ý thì mình về ngồi thiền nó ghi nhớ đậm hơn một chút. Có những cái mình không chú ý, về ngồi thiền bắt đầu nó ra, duy thức học gọi là lạc tạ ảnh tử, là những hạt giống rơi rớt. Những hạt giống rơi rớt mà chúng ta có sự tu tập, có sự chuyển hóa lớn thì nó không ghi nhận mạnh. Chẳng hạn cái máy này tôi bấm nút thì ghi nhận hết, nhưng có lúc tôi bấm nút xóa thì tôi nói tới đâu nó xóa tới đó. Các thiền sư cũng vậy, khi mắt thấy sắc cũng rớt vào tàng thức nhưng rớt là nó xóa liền không ghi dấu. Còn mình thì có thể mình ghi dấu.

Có một ông cư sĩ đến nhà khách Thường Chiếu. Ông gặp một vị cư sĩ khác, người này nói ông câu gì đó mà ai nghe cũng tức giận nhưng ông vẫn bình thường, ai cũng cho là ông tu siêu nhẫn. Nhưng sáng hôm sau ông tìm vị cư sĩ để chửi với vẻ rất là bực tức. Tôi hỏi sao hôm qua ông không chửi mà qua một đêm rồi ông mới đi tìm người ta để chửi. Ông nói về nhà nhớ lại tức không chịu nổi.

Như vậy có những người ghi nhận liền thì tâm họ phát khởi liền. Còn những người không ghi nhận liền mà về nhà những hạt giống đó mới biểu hiện ra. Những chuyện vui, chuyện buồn trong quá khứ hoặc hiện tại khi nó phát khởi gọi là chủng tử khởi hiện hành. Lúc hiện hành mà không chuyển hóa thì hiện hành huân chủng tử lại.

Cho nên sự luân hồi là chủng tử khởi hiện hành, hiện hành gieo chủng tử, nó cứ lẩn quẩn mãi. Nhưng khi niệm ra rồi không chạy theo, không ghi nhận, không cho vào nữa thì tu một thời gian gọi là không như lai tàng, trở về bạch tịnh thứcchuyển thức thành trí.


Câu 16: Nhiều khi thiền, con thấy trên huyệt bách hội có cảm giác gì đó, mình bỏ qua cái đó mình trụ xuống đan điền?

Đáp:

Tinh thần của Thiền tông hoặc thiền đốn ngộ là không trụ vào bất cứ tướng nào, bình thản hít thật sâu thở thật nhẹ đừng trụ đan điền hay bách hội gì hết, dính vô chỗ đó, rồi lẩn quẩn ra không được. Ngày xưa tôi đã từng dạy qua phương pháp luyện khí công nhưng khi dính chỗ đó rồi thì rất là khó bỏ, khi vào tu thiền phải ba bốn năm sau tôi mới dứt được. Hồi đó tôi có thể vận khí ra tay cứng như con dao để chặt đá…, gọi là chuyển khí theo ý muốn của mình. Cái đó gọi là khí công, nhưng mà nhà thiền thì không phải như vậy.

Trong nhà thiền các pháp rất là tự nhiên, mình tu tập bình thường tự nhiên thì khi mình ngồi thiền tất cả kinh mạch, toàn bộ ngũ tạng có sự vận hành thông suốt. Trong truyện Hiệp Khách Hành, Sử bà bà luyện vô vận thần chú bị tẩu hỏa nhập ma, các kinh huyệt đều bế tắc. Cũng vậy, khi mình tu trật thì các kinh huyệt bị bế tắc, đầu óc mình lùng bùng thấy này thấy kia gọi là bị tẩu hỏa nhập ma.

Cho nên ngồi thiền phải đúng cách, lưng thẳng vừa phải, không cong quá cũng không thẳng quá, khí phải luân lưu. Khi để tay ấn hàng ma, là ấn vững nhất của Đức Phật quá khứ Tỳ Lô Giá Na, tức là trở về pháp thân giống như mặt hồ tĩnh lặng. Mình ngồi đúng pháp, đúng kiểu thì bắt đầu có kết quả.


Câu 17: Khi ngồi thiền để hơi thở xuống bụng nếu như mình tập trung chú ý thì con thấy đó là do ý của mình chứ không phải tự nhiên.

Đáp:

Phương pháp của Sư ông chỉ dạy là phương tiện ban đầu cho người mới bước chân vào con đường thiền. Căn bản duy nhất là phải chú tâm đếm hơi thở gọi là sổ tức. Sổ tức thấy vậy chứ không phải đơn giản. Ngày xưa tôn giả La-hầu-la được Đức Thế Tôn chỉ dạy về phương pháp sổ tức mà ngài chứng quả. Cho nên ban đầu phương pháp căn bản là đếm hơi thở, khi thuần thục rồi thì qua tùy tứcTùy tức thì không còn tác ý nữa, hơi thở tự nhiên ra vào bình thường, hơi thở dài mình biết hơi thở dài, hơi thở ngắn mình biết hơi thở ngắn, hơi thở vào biết hơi thở vào, hơi thở ra biết hơi thở ra, chỉ biết thôi chứ không trụ, không chú ý.

Căn bản ban đầu số một, nhưng cái tối thượng cũng là số một. Phương pháp hít vào, thở ra mình thấy không dính dáng gì nhưng phương pháp đó rất là căn bản, tối thượng cũng nằm ở chỗ đó. Phải lưu ý chứ đừng bỏ qua điểm đó. Nhưng lên cao chút nữa là mình không trụ, không dính mắc vào chỗ hơi thở ra vào đó.

Tất cả mọi pháp đều là phương tiện không phải là cứu cánh nên đừng dính mắc vào nó. Khi đi vào khu rừng đầy khói độc mình phải mang mặt nạ, nhưng khi vào ăn cơm thì mình phải tháo ra. Tinh thần của thiền đốn ngộ đặc biệt là tháo mặt nạ ra được; còn có những phương pháp họ không gỡ ra được, chấp vào mặt nạ cho là thật của họ cho nên sanh ra những cái chướng khác.


Câu 18: Có lúc tọa thiền con rơi vào vô ký, thì phải khởi tác ý như thế nào?

Đáp:

Vô ký là không có biết, là mờ mịt, gọi là rớt trong hang quỷ.  là không,  là ghi nhận, không ghi nhận thì làm sao tác ý. Muốn tác ý phải làm sao? Phải nhờ tôi đánh thiền bảng, giật mình dậy bắt đầu mới tác ý. Tôi được may mắn theo sát Sư ông, nghe Sư ông dạy. Có một lần ở Thường Chiếu kiểm thiền, người kiểm thiền hay đánh vào bắp vế, Sư ông dạy: chú làm vậy không đúng. Bởi vì khi đánh vào bắp vế vang lên tiếng động thì làm ảnh hưởng đến những người đang tỉnh. Đánh là đánh người ngủ. Tôi đi kiểm thiền không nghe tiếng động, mà tôi đánh là đánh vào huyệt, đánh đúng huyệt thì nó sẽ truyền xuống chân làm thức dậy.

Ở bên Nhật người kiểm thiền đánh rất mạnh. Trong quyển Ba Trụ Thiền, một ông cư sĩ tập tu bị vị giám thiền đánh chịu không nổi, ông giật thiền bản đánh lại người kiểm thiền. Khi lên trình Hòa thượng Viện chủ, ngài trả lời đó chính là thiền.

Hôn trầm là do mình duyên theo vọng tưởng, thức của mình mỏi mệt nên thức rớt từ từ vào trong vô ký. Lúc hôn trầm là đã có vọng tưởng, mà vọng tưởng cuồn cuộn, một thời gian nó vừa lặng xuống vào vô ký, không ghi nhận, không biết gì hết. Mình ngồi tỉnh thức thì nghe tiếng chim, nghe hết tất cả các tiếng nhưng chỉ có một tánh biết duy nhất. Mình nghe rõ ràng, ghi nhận hết tất cả các pháp đến cùng một lúc mà không dấy tâm động niệm, không trụ trên tướng sanh tâm, gọi là “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.” Vô ký tức là không ghi nhận, mờ mờ mịt mịt không biết gì hết, lúc này người kiểm thiền phải đánh, kích thích trực giác, lúc đó quý Phật tử có thể tác ý.


Câu 19: Làm sao phân biệt trạng thái si định và hôn trầm trong khi thiền?

Đáp:

Si định và hôn trầm có giống nhau không? Giống thì giống mà phải thì không phải. Hôn trầm là gì? Hôn là mê, trầm là chìm. Hôn trầm là chìm trong mê không biết gì hết. Đi kiểm thiền thấy có những người hôn trầm quá, họ chìm sâu ngoẻo cổ ngủ luôn.

Si định là mê ở trong trạng thái định mà không ra được, cũng giống như tu đến trạng thái sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Sơ thiền là ly sanh hỉ lạc địa, tức là lìa tham ái giữa đời thường hằng ngày, chấp trước. Bây giờ vào trong trạng thái mà ở trên đời này không có gì bằng. Các vị Tổ sư nói thà chìm trong biển khổ sanh tử còn hơn rớt trong chỗ này.

Si định là mê trạng thái khinh an mà ra không được. Thiền sư Triệu Châu có một câu bất hủ: “Chỗ không có Phật phải mau chạy qua, chỗ có Phật cũng đừng lưu luyến”. Chỗ không có Phật là vọng tưởng, điên đảo phải mau qua. Chỗ có Phật là trạng thái khinh an, êm ả. Có những vị nhập thất lâu năm không muốn ra thất vì sợ cảnh động thì đó là si định. Mê cảnh định mà không dám ra hoạt dụng trong nhà thiền gọi là “rớt trong biển độc”. Muốn phá chỗ này thì phải có bà già đặc biệt gọi bà già đốt am.

Ông tỳ-kheo nhập thất hai mươi năm, bà già nhờ cô cháu gái đến ôm ngang hông và hỏi ông tỳ-kheo thấy sao. Ông nói: “Khô mộc ỷ hàn nham, tam đông vô noãn khí.” Nghĩa là cây khô mọc trên núi đá lạnh lẽo, ba mùa đông không có hơi ấm. Đó là chìm trong si, lúc này không dám làm Phật sự, không có hoạt dụng gọi là biển độc vô sanh. Có những vị vào trong chỗ này ba trăm năm, bảy trăm năm, ngàn năm chìm trong đó.

Có vị cư sĩ hỏi tôi, tại sao Hòa thượng lấy tinh thần của ba vị tổ lớn: Tổ Huệ Khả, Lục Tổ Huệ Năng và Sơ Tổ Trúc Lâm. Trong Kinh Pháp Bảo Đàn có đoạn nhân duyên, một ông thầy ngồi thiền ở phía hành lang, Lục Tổ đến thổi cái phù. Tôi nói, nếu thời này Lục Tổ ra đời gặp mình ngồi thiền, Lục Tổ bảo mình ráng ngồi thêm chứ không có thổi. Thổi là vì ông thầy đó ngồi tới ba, bốn ngày, sợ rớt trong chỗ si định ngoan không nên Tổ thổi. Mình ngồi có một tiếng rưỡi là buông vũ khí thì ai mà thổi. Như vậy mình hiểu tại sao Lục Tổ thổi vị thầy đó, vì thầy ngồi lâu quá. Phương pháp của Sư Ông ngồi hai tiếng là đủ, còn bao nhiêu là hoạt dụng, đối diện với các pháp.

Sau này ông thầy tỳ-kheo đến xin nhập thất ba năm nữa, khi ông ra thì cô cháu gái tới ôm ngang hông, thầy nói: “Ngay đây tôi biết, cô biết, đừng cho bà già biết”. Căn trần tiếp xúc với nhau được nhưng đừng cho bà già biết tức là đừng cho thức sanh ra. Sáu căn tiếp xúc với sáu trần sanh ra sáu thức là động. Kinh Duy Ma Cật nói đối với các pháp phân biệt, nhưng đối với đệ nhất nghĩa đế bất động.

Như vậy hôn trầm khác với chỗ si chìm trong định. Định này phát tuệ không được. Lúc này hành giả trong tinh thần nhà thiền là nước sống chứa được rồng, nước chết không chứa được rồng. Hồ nước tù đọng rồng không ở mà nó phải ở biển sâu, sóng lớn. Khi nhận được thể hoạt dụng rồi thì các ngài ra làm các việc Phật sự mà tâm bất động. Lúc này tuệ phát lên, trong nhà thiền gọi là “đa tình tâm thị Phật”, nhiều tình thương chúng sanh đó là tâm của Phật, thương mà bất động. Không phải mình thương rồi, người đó khổ mình cũng khổ theo, người đó vui mình cũng vui theo thì động. Đến trạng thái này thì các ngài phát khởi lòng từ, thương vô lượng chúng sanh chìm trong biển khổ thì phải lập phương tiện, là bức tranh thứ mười gọi là thõng tay vào chợ.


Câu 20: Khi con ngồi thiền theo dõi hơi thở, nếu có vọng đến con nhận biết và buông xả trở về theo dõi hơi thở. Đôi khi con để tâm thư giãn biết tiếng linh, tiếng mưa, tiếng chim hót, … chỉ đơn giản là biết không để tâm thêm bớt, phân biệt gì, con công phu như thế có đúng không, xin thầy từ bi giảng giải?

Đáp:

Nếu quý Phật tử y như thế này thì cứ việc tu tập và công phu từ từ nó sẽ tiến lên.


Câu 21: Khi vào thất tu tập như thế nào và sau khi ra thất?

Đáp:

Khi vào thất mình ráng công phu một ngày bốn thời ngồi thiền, mỗi thời hai tiếng hoặc một tiếng rưỡi hoặc một tiếng. Sám hối một ngày ba thời: sáng, trưa, tối. Vào thất chúng ta nhớ đừng đợi ngộ, chỉ tu bình thường, chuyện ngộ đạo là chuyện bình thường. Không vọng tưởng, không dấy niệm, không động niệm đó là hợp với người tu. Khi vào trong thất rồi, thấy cảnh tượng lạ gì thì biết đây là từ bản thể lưu xuất do mình dụng công, dồn nén công phu nó hiện ra những tướng lạ. Trong kinh Kim Cang Phật dạy: “Phàm những gì có tướng đều là hư dối, đều là hư vọng.” Ngay trong cảnh giới đó chúng ta chỉ cần chánh niệm thì cảnh sẽ mất, đừng có chú tâm.

Khi ra thất chúng ta vẫn làm việc, vẫn tu tập bình thường là đúng. Còn nếu ra thất mình thấy có biểu hiện gì lạ là biết rằng chúng ta bị bệnh thiền, vì không có gì là lạ hết, miễn sao tâm mình bình ổn, tâm mình buông xả tất cả khi các tướng đến thì đó là đúng.


Câu 22: Người cư sĩ tu đến đâu mới được nhập thất và được nhập trong bao lâu? Khi ở trong thất nếu có gì bất ổn con sẽ nương vào ai?

Đáp:

Cái này quan trọng lắm. Ngày xưa khi ở thiền viện với Hòa thượng Trúc Lâm thì phải đủ hai năm hoặc ba năm mới được vào thất. Thất đầu tiên là hai mốt ngày, năm thứ tư mới được bốn chín ngày. Còn chúng lớn làm các việc Phật sự, chẳng hạn chúng tôi làm nhà khách được hai năm thì Hòa thượng cho nhập thất bốn tháng. Người đủ tiêu chuẩn nhập thất là thần kinh phải vững, nếu không vững thì mang tai tiếng người ta nói tu thiền điên. Thật ra ở ngoài họ đã điên rồi chớ không phải vào thất mới điên. Cho nên mở những cuộc nhập thất phải gần người đó, coi họ có tỉnh hay không, con mắt có lờ đờ không rồi mới cho nhập thất.

Trong pháp giới mông lung vô hạn có đầy đủ, gọi là ngũ thú tạp cư địa, có những cảnh giới siêu hình như thần cây, thần đá, thần núi, …. gá vào rất nhiều. Giống như ở ngoài đời, chẳng hạn mình mở võ đường chắc chắn có những người đến thử: “ông đến vùng tôi mà ông mở võ đường thì tôi đến thử ông.” Sở dĩ ngày xưa ở Trúc Lâm nhập thất tu tập thành tựu được là nhờ chúng xung quanh bảo bọc gọi là cương giới thất. Khi có thất Hòa thượng xuống sái tịnh gọi là cương giới. Có cương giới rồi, vậy mà chúng có nhiều người tu cũng trục trặc.

Chẳng hạn như có một ông thầy tu cũng lâu năm, khi vào thất ông nhìn ảnh Đức Phật ông thấy Đức Phật nhe hai răng nanh dài. Ông hoảng hồn nhảy ra thất, được quý thầy lớn nhắc nhở xong ông vào thất lại nhưng cũng bị nữa. Ông lấy hình Hòa thượng ông quán chiếu cũng bị vậy luôn, từ đó về sau ông không nhập thất nữa. Có những vị tu cũng lâu, vào thất thấy con ếch nằm trong nhà vệ sinh nó mở miệng to, sợ quá la lên.

Sống trong cái ảo do thần kinh yếu khi vào thất sợ ma sợ quỷ sợ đủ thứ. Cho nên tại sao ở đây tôi có thất mà tôi chưa cho chúng nhập. Bởi vì tôi chờ cho chúng thiện pháp sâu rồi tôi đẩy vào. Thiện pháp là gì? Là công quả, là bòn mót phước, là sám hối, là tu tập. Giống như cái bình, phải súc cho sạch mới đựng được nước cam lồ.

Chúng ta vô lượng kiếp trong sanh tử, năng lực của mình bị nhiễu, giống như chiếc xe bị đứt hết dây điện, mình không tiếp thu được năng lượng tu tập nữa. Cho nên mình phải làm nhiều thiện pháp như công quả, nghe pháp, tu tập bào mòn những tập khí rồi mình vào thất mới có hiệu quả.

Mình ở ngoài tu tập với đại chúng mình không thấy gì, nhưng khi vào thất, khu vực của thất phải rào kín, từ con chó đến con mèo, con gà không cho lai vãng nếu là người nhập thất quyết liệt. Người xưa nói ở trong rừng sâu thấy con trâu cũng đẹp, nghĩa là trong rừng sâu không có ai nên thấy người phụ nữ đen như trâu mà vẫn cho là đẹp. Đó là tham dục, tập khí từ vô lượng kiếp, khi chúng ta tu tập tâm yên rồi bắt đầu nó phản lại, hiện lên những hình bóng. Cho nên những người có gia đình họ tu tập ở trong thất yên một thời gian rồi bị tập khí tham dục phá. Có những người họ sám hối, khóc thấy tội lắm.

Ở đây tôi nghe huynh đệ nhập thất từ một đến bảy ngày cũng ít, không có gì. Nhưng nếu nhập hai mươi mốt, bốn mươi chín ngày hoặc bốn, năm tháng như chúng tôi, đến tháng thứ hai là bắt đầu quyết liệt giống như ra trận, rất khó vượt qua cái ải đó. Mà cái ải đó ăn sâu, kết tập từ vô lượng kiếp.

Có một vị thầy lớn tu trên núi ở Đà Nẵng, một hôm ngồi tu ngài thấy trên thân của ngài phát quang, những lỗ chân lông phát ra ngũ sắc. Lúc vào thiền định, cúi xuống ngài thấy những cảnh giới địa ngục rõ như ban ngày; ngước lên ngài thấy trời sắc cứu cánh. Mừng quá ngài khởi niệm chứng quả nên rớt trong đường tà, rồi thầy bị điên phải vào Chân Không cho Hòa thượng trị.

Ngày xưa tôi lên Chân Không tu với Hòa thượng Phước Hảo. Một hôm tôi đang ngồi thiền dưới chân núi, ở trên Hòa thượng ngồi, bỗng nhiên có một đàn kiến bò ra, tôi thấy rõ đàn kiến từ đâu sanh trở lại, tự nhiên tôi phát khởi lòng từ bi để độ đàn kiến này, biết đàn kiến này là quyến thuộc nhiều đời của mình bây giờ bị đọa trong loài súc sanh này. Rồi tôi khóc. Trình Hòa thượng, ngài kinh nghiệm nói, chú rớt trong ngũ ấm ma, rớt trong tưởng ấm.

Có những người ở ngoài không biết làm thơ làm kệ gì hết, mà vào trong thất lại biết làm thơ. Có những người gặp cái gì cũng khóc là bị ma sầu bi nhập tâm. Hoặc gặp cái gì cũng cười là bị ma hỉ nhập tâm.

Cho nên muốn cho chúng nhập thất thì người huynh trưởng phải kinh nghiệm, bắt họ phải công quả một thời gian. Khi họ tiếp xúc với sự sống, sự tu tập, bắt đầu họ vào họ mới có kinh nghiệm. Còn không, vào thất có những lúc sanh đủ thứ chuyện.

Ở trong chúng thì ít nhất là hai năm hoặc bốn năm tôi mới cho nhập thất. Nếu trong thất có gì bất ổn thì phải gởi giấy ra để cho người hộ thất gặp vị trụ trì. Cư sĩ thì phải gởi giấy ra cho người mở những khóa nhập thất, người đó cũng có kinh nghiệm thì mình thưa hỏi.

Có những người chưa ra khỏi thất mà nói nhảm, theo kinh nghiệm của ngài Hám Sơn thì phải bắt họ hoặc đánh cho xỉu, đưa vào giường đắp mền cho ngủ một đêm sẽ hết. Hoặc là những người cuồng ngôn, cuồng ngôn là họ hiểu lý thiền, học nhiều quá rồi ở yên một mình nên bị. Những người mở khóa tu là phải cẩn thận lưu ý. Nhìn khuôn mặt rất dễ biết, mắt lờ đờ thì đừng cho vô thất.

Người vào thất phước thiện phải sung mãn, chẳng hạn Hòa thượng bắt chúng tôi làm Phật sự rất nhiều rồi mới cho vào thất. Chúng tôi làm ở nhà khách hai năm rồi Hòa thượng mới cho vào thất bốn tháng. Vào bốn tháng, đến tháng thứ tư mới thành tựu. Làm Phật sự ba năm thì Hòa thượng cho sáu tháng, ai làm Phật sự bốn năm thì Hòa thượng cho một năm và cứ thế nhân lên.


Câu 23: Trong lúc nhập thất con thường đặt câu hỏi, con đang ngủ hoặc đang ngồi thiền thì con lại được Hòa thượng ân sư hoặc là thầy Thông Phương trả lời hết những câu hỏi đó. Vậy lúc đó con đang rơi vào cảnh gì?

Đáp:

Chuyện đó chúng ta phải cẩn thận. Trong thân ngũ uẩn của mình chiêu tập không phải một đời mà vô lượng kiếp, cho nên khi chúng ta đặt những câu hỏi mà hiện lên cảnh giới, tất cả đều là bệnh. Mình phải vượt qua hết đừng có dính mắc, mình biết đây là cạm bẫy. Khi chúng ta nhập thất lúc nào mình cũng bình thường, tỉnh giác, sám hối, tọa thiền, ăn uống bình thường để tâm mình yên chớ không có đợi ngộ.

Có nhiều con đường tiến thân chớ không phải vào thất mới tiến thân. Chưa có vị thiền sư nào ở trong thất mà phát minh lớn. Các vị đại thiền sư phát minh lớn trong lúc các ngài làm việc. Muốn được như thế thì ở trong thất một thời gian. Đừng nghĩ rằng vào thất ngộ này ngộ kia, cái đó đều là bệnh. Vào thất là tu tập bình thường để nhận diện ra được mình là cái gì, để khi chúng ta ra tiếp xúc với cuộc sống này chúng ta có kinh nghiệm để chứng nghiệm vào dòng giáo pháp.

Vào thất mình tha thiết sám hối nghiệp chướng nhiều đời nên bây giờ lăn lộn trong ba đường sáu nẻo, rồi tu tập. Còn những gì hiện khởi đều là vọng thức không phải là thật, kể cả khi vào thất Đức Phật hiện thân ra nói pháp cũng là bệnh. Thiền sư Lâm Tế nói: “Phùng Phật sát Phật, phùng ma sát ma”, vượt qua hết đừng dính trong cạm bẫy.

Có một vị này khi tu thất ở núi, một hôm ông cũng thấy những hiện tượng lạ, tự nhiên kinh điển ông đều nhớ hết. Ông có một biện tài rất giỏi nên người ta tưởng ông chứng đắc về con đường thiền nhưng thật ra bị rớt trong cạm bẫy. Những người rớt trong cạm bẫy sâu thường bị ma nữ, tức là sắc ái quyến rũ nên người đó bị phạm giới. Đại chúng phải ráng cẩn thận, khi vào thất chúng ta cứ sám hối, tọa thiền bình thường mà không đợi ngộ. Mình cứ nghĩ vô lượng kiếp đã rớt trong con đường sanh tử thì bảy ngày tu tập có gì đâu mà ngộ. Ráng cố gắng bào mòn tập khí trước từ từ.


Câu 24: Con vào trong thất lúc đầu rất là buồn ngủ trong một ngày. Sau đó thức ba ngày ba đêm không ngủ được nhưng rất là minh mẫn, ăn uống bình thường. Chỗ này là như thế nào?

Đáp:

Khi vào thất ngày đầu ngủ li bì thì không có gì lạ. Vì khi ở ngoài đời chúng ta làm việc mỏi mệt nên khi yên nghỉ thì rất thích ngủ. Ngủ đủ rồi thì không buồn ngủ nữa mà tỉnh tảo. Chúng ta nên lợi dụng thời gian đó để công phu tu tập.

Theo kinh nghiệm của chúng tôi, khi vào thất kinh nghiệm, 8 giờ sáng là giờ buồn ngủ nhất. Nếu không để đồng hồ reo, khi giựt mình dậy ra ngoài cửa là thấy người ta để cơm cho mình ăn rồi. Mình nói, ngủ nửa tiếng chín giờ rồi ngồi thiền mà ngủ ngon quá nên ngủ quên luôn. Sư phụ Thường Chiếu dạy, vào trong thất 8 giờ sáng phải sám hối không được ngủ, ngủ là dễ ngủ quên. Giờ đó rất dễ hôn trầm, bởi vì mình dậy 3 giờ nên 8 giờ buồn ngủ cũng là chuyện bình thường. Khi tỉnh, mình ráng dụng công tu, chớ vào trong thất là mình thọ hưởng của đàn na thí chủ, vào đó ăn với ngủ không thì phước tổn giảm. Cho nên vào thất mình cố gắng thực hiện bốn thời ngồi thiền, hai thời sám hối.


Câu 25: Khi con nằm ngủ mơ thấy đang ngồi thiền thì trên đầu phát sáng như bóng đèn điện, lạ thay ánh sáng càng sáng thì sự đau nhức trên đầu càng tăng, ngay lúc này con niệm Phật, tỉnh giấc, thấy trên đầu vẫn tê đau không tả nổi. Đến hơn hai mươi phút sau thì sự tê đau đó mới giảm đi. Xin thầy từ bi giải thích hiện tượng này.

Đáp:

Có nhiều người sống trong thức vô lượng kiếp chứ không sống trong trí. Sống trong thức thì đa phần sống trong ảo, khi cái ảo hình thành nên thì giống như hiện thực. Hiện tượng này nếu có thật thì cũng không dính dáng gì đến Phật pháp. Phật pháp chúng ta phải cố gắng lấy lõi cây chứ đừng lấy vỏ cây.

Có một ông Bà-la-môn đến nhà thí chủ, ông ngồi nhìn một hồi rồi ông khóc, bà thí chủ hỏi:

– Thưa ngài, tại sao ngài khóc?

Ông nói:

– Tội quá, cách đây khoảng hai chục cây số có con khỉ tắm sông chết đuối.

Bà thí chủ nghĩ ông chứng quả nên thành kính lạy ông. May mắn một điều, trong nhà bà thí chủ này có một người tín thí của Đức Phật. Sáng hôm sau khi ông Bà-la-môn đến khất thực tiếp, cô này lấy thức ăn ngon nhất để dưới bình bát, còn cơm nguội để phía trên bỏ thêm mấy hạt muối. Khi đưa bình bát cho ông, ông chửi bà thí chủ:

– Bà khinh tôi, coi thường tôi, tôi chứng đắc thần thông rồi mà tại sao cho tôi ăn muối?

Cô tín thí nói với bà thí chủ:

– Thưa bà chủ, bà thấy không, ông Bà-la-môn này thấy con khỉ chết đuối cách đây hai chục cây số mà bên dưới bình bát này có thịt mà ông không thấy.

Ngài A-nậu-lâu-đà đến trình bày với tôn giả Xá-lợi-phất buổi sáng ngồi thiền định ngài thấy một ngàn tiểu thiên thế giới. Tôn giả Xá-lợi-phất nói:

– Sư đệ thấy một ngàn tiểu thiên thế giới cũng không dính dáng gì, chỉ là vỏ cây, mà lõi cây chính là chuyển hóa tham sân si, chuyển hóa nỗi khổ từ tâm thức để nhận được, để sống được, để không còn lang bạt trên bước đường sinh tử nữa.

Tôn giả A-nậu-lâu-đà sụp xuống lạy khóc:

– Nhờ sư huynh chỉ mới thấy sự vi diệu của nhà Phật là gì.

Ở đây cũng vậy, dầu chúng ta nằm thấy bóng điện sáng lên, đầu tê nhức cũng không dính dáng gì đến nhà Phật, mà chúng ta phải làm như thế nào đó để mỗi ngày tâm tham, tâm sân, tâm si mê của mình bớt thì chính là cốt lõi của nhà Phật. Những thứ đó là rác rưởi, là vọng tưởng điên đảo, không dính dáng gì trong tinh thần của nhà thiền. Tôi nhấn mạnh điểm đó.

Có người hỏi tà định là gì. Đến mức độ mình tu, phát nguyện sanh cõi trời vô sắc giới cũng là tà định. Mục tiêu của mình là tu tập để thành tựu quả vị vô thượng giác. Những hiện tượng này là bóng dáng của sáu trần, là ảo ảnh của pháp giới, không có thật. Mình đừng cho rằng hơn người ta, thấy vậy càng chết. Cái này là vọng tưởng, vọng thức, ráng buông xả đừng có dính mắc vào.

Trong kinh Lăng Nghiêm nói, ngay nơi đó mình cho là chứng thánh thì rớt trong đường tà: “Bất khởi thánh tâm tức thiện cảnh giới.” Chẳng khởi mình chứng thánh tức là cảnh giới thiện. Nắm được chìa khóa đó rồi thì khi vào thất tu tập chúng ta không sợ lạc đường. Con đường của cứu cánh rốt ráo là chuyển hóa tham sân si, dẹp bỏ những tâm niệm vọng thức điên đảo, luôn luôn tỉnh thức, chánh niệm, tỉnh giác thì dầu cho mình tu bất cứ con đường thiền nào cũng không sợ lạc.


Câu 26: Khi tọa thiền hoặc sám hối con thấy cơ thể của mình có một luồng khí như là điện đưa vào cơ thể mình từ trong nó lên, con không biết có ảnh hưởng gì không? Con xin Thầy giải nghi.

Đáp:

Hòa thượng Trúc Lâm nói: “Mấy chú tu thiền mà dẫn điện, lỡ hôm nào điện mình chẳng hạn hai pha, mình hút ba pha nó giựt chết”. Hòa thượng trả lời rất bình dân nhưng khi tu mình thấy sao mà thiết thực quá. Thân mình chứa điện hai pha mà bây giờ mình sạc điện ba pha vô thì người đó sẽ đứng nhìn lên trời cười hoặc ngáp là biết điện dư.

Khi dụng công có những tướng lạ mình đừng có chấp. Tất cả tướng lạ mình hiểu rằng hoặc là do đời trước mình đã từng tu tập về pháp này, bây giờ dụng công bắt đầu hiện khởi ra những hình tướng đó. Chẳng hạn như đời trước mình từng tu tập pháp môn ngoại đạo thì khi mình ở trong thất, khi tu một mình thì hiện ra những tướng lạ hoặc điện chạy.

Có một ông thầy ở Bến Tre ngồi thiền mà đầu ông cứ chạy vòng vòng và nhói nhói. Phật dạy trong kinh Lăng Nghiêm nếu chấp mình chứng thánh tức là rớt trong đường tà, còn đừng chấp, đừng dính mắc tức là cảnh giới thiện. Mình ngồi thiền, sám hối đó là những chuyện bình thường, đừng có chấp vào điện hay khí này khí nọ. Trong cơ thể mình có bảy mươi hai huyệt đạo cho nên Tôn Ngộ Không tu bảy mươi hai phép biến hóa. Khi ông tu thành đạo tiên thì tự nhiên bảy mươi hai huyệt đạo mở hết.

Khi chúng ta ngồi thiền bình ổn, các huyệt đạo bắt đầu mở ra và nơi nào huyệt đạo không mở ra được thì cảm thấy đau nhức. Mạch máu mình bị nghẽn là do bị dơ nên chỗ đó đau, mình ngồi không thông thì mình xoa bóp. Nơi nào đường mạch máu và huyệt mạch thông thì mình cảm thấy như có luồng hơi nóng, khi hít thật sâu thì luồng hơi nóng sẽ xuống đan điền, đó là chuyện bình thường. Bởi vì con người là tiểu vũ trụ, bên ngoài là đại vũ trụ. Khi tiểu vũ trụ và đại vũ trụ cộng hợp thì sanh ra tướng lạ nhưng đừng chấp, đừng dính mắc.

Tinh thần đạo lão chia thân làm năm phần: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ thì vạn pháp cũng có năm tướng: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Chúng ta làm như thế nào điều hòa tu tập, chẳng hạn mùa nóng đừng ăn tiêu, ớt. Mình thấy khó chịu nóng bức hoặc tướng chạy rần rần là do ăn đồ nóng thì khi dụng công sẽ có những tướng này. Quý Phật tử muốn hiểu thêm thì xem quyển Thiền Căn Bản của Đại sư Trí Khải mà Sư Ông đã dịch.

Cho nên đừng chấp tướng, lấy tinh thần của Lục tổ Huệ Năng ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, nên không có chỗ trụ mà vẫn có chỗ rõ ràng thường biết thì đúng tinh thần tu thiền.

“Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm. Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.”

Hiểu được nguyên lý của thiền thì mình tu không sợ lạc đường, không sợ điện vào trong mình.


Câu 27: Làm sao để được sống miên mật tỉnh thức trong từng sát-na?

Đáp:

Tu thiền mình đừng tưởng tượng quá. Thiền sư Triệu Châu hỏi ngài Nam Tuyền thế nào là đạo, ngài nói tâm bình thường là đạo. Còn tâm mình thì không bình thường.

Một hôm ngài Ngưỡng Sơn Huệ Tịch hỏi thầy của mình là ngài Quy Sơn:

– Hòa thượng giờ này còn tẩu tác hay không?

Tẩu là chạy, tác là tạo tác, mình ngồi đây mà chạy rong đi chơi, nghĩa là có những lúc mình không tỉnh thức.

Thiền sư Quy Sơn nói:

– Ta mới hết năm năm nay.

Ngài ngộ đạo lúc hai mươi ba tuổi, năm mươi hai năm mới dứt.

Ngài Quy Sơn hỏi:

– Còn ông thì sao?

– Bạch Hòa thượng, lâu lâu nó chạy rong một chút.

Lúc đó ngài Ngưỡng Sơn Huệ Tịch năm mươi hai tuổi, mà ngài được gọi là tiểu Thích Ca. Tôi nói cho quý Phật tử có lòng tin với pháp tu thiền, nghe vậy mình đừng có nản. Ngay chỗ này mình biết được các vọng tưởng là hư vọng thì ngay vọng tưởng biến thành đề hồ là cái dụng của đạo, nên mình có tu là có sự tiến bộ.

Như trong kinh Lăng Nghiêm diễn tả, ly nước đục khi được lóng trong thì cát bụi lắng xuống dưới, nhưng chỉ cần lấy đũa quậy lên thì nó đục trở lại. Nghĩa là có những lúc mình tu tâm được khinh an thì tạm được an chút xíu nhưng những lậu hoặc về vô minh vi tế vẫn còn tồn đọng. Phải đổ nước sạch qua một cái ly khác và đem bỏ cặn bã thì quậy cách mấy cũng không đục.

Như vậy muốn được tỉnh thức, khi nào kiến tánh, nhận và sống miên mật thì người đó phải giải tán đồ chúng hoặc ở trong chúng tu miên mật, Phật sự không làm nữa gọi là trưởng dưỡng thai thánh cho lớn mạnh thì mình ra làm các việc Phật sự. Thiền sư Duy Chánh ngài nói “Dẫu cho trời long đất lở mà không ướt góc cà sa của lão tăng”. Muốn sống tỉnh thức từng sát-na thì chuyện gì đến “mặc kệ nó”.



(Còn cập nhật)

🌿 Quý Phật tử thương mến, Sư ông Trúc Lâm có dạy:
“Bố thí TÀI chỉ giúp người bớt khổ trong giai đoạn hiện tại. Còn bố thí PHÁP chẳng những giúp người hết khổ trong hiện tại mà mãi về sau cũng không còn khổ nữa, đó là điểm sâu xa.”

🙏 Nếu thấy những lời pháp nơi đây mang lại lợi lạc, xin mời quý vị cùng nhau chia sẻ như một cách bố thí pháp – gieo duyên lành cho nhiều người.
🙏 Nếu được lợi ích trong việc tu tập, nguyện công đức này xin hồi hướng lên Nhị vị Hòa Thượng Tông Sư bệnh duyên dứt sạch, thân tâm tự tại cửu trụ nơi đời, làm bóng cây che mát cho hàng hậu học chúng con.

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sanh

Đều trọn thành Phật đạo