Tỳ Ni – Con Đường Chuyển Hóa Nội Tâm – Tập 1

VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC VIỆT NAM
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG THIỀN HỌC BẮC TRUYỀN

THÍCH ĐẠT MA KHẾ ĐỊNH

Tỳ Ni – Con Đường Chuyển Hóa Nội Tâm 

TẬP 1

Mục Lục

Lời Ngỏ
Chương I: Khái Quát Về Giới Luật
Chương II: Tác Phẩm “Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu”
Chương III: Tỳ Ni – Con Đường Chuyển Hóa Nội Tâm

Bài 1: Tảo Giác
Bài 2: Minh Chung
Bài 3: Văn Chung
Bài 4: Trước Y
Bài 5: Hạ Đơn
Bài 6: Hành Bộ Bất Thương Trùng
Bài 7: Xuất Đường
Bài 8: Đăng Xí
Bài 9: Tẩy Tịnh
Bài 10: Khử Uế
Bài 11: Tẩy Thủ
Bài 12: Tẩy Diện
Bài 13: Ẩm Thủy
Bài 14: Y Ngũ Điều
Bài 15: Thất Y
Bài 16: Đại Y
Bài 17: Đăng Đạo Tràng
Bài 18: Tán Phật
Bài 19: Lễ Phật



Lời Ngỏ

Như chúng ta đã biết, Phật là đấng Chí Tôn trong ba cõi, là bậc cha lành của muôn loài. Trước lúc thu thần về cõi Niết Bàn tịch diệt, Thế Tôn tha thiết ân cần nhắc nhở cho các hàng môn đệ của Ngài: “Này các thầy Tỷ kheo! Sau khi Như Lai diệt độ các vị phải lấy giới luật làm thầy, vì giới luật là thọ mạng của Phật pháp, giới luật còn thì Phật pháp còn. Các thầy hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, thắp đuốc với Chánh pháp”.

Quả thật đúng như lời Thế Tôn chỉ dạy: “Giới luật là thọ mạng của Phật pháp, giới luật còn thì Phật pháp còn”. Vì sao? Vì người xưa thường nói: “Nơi nào giữ đúng theo giới pháp của Phật, nơi đó dù là chùa tranh vách lá mà vẫn có Phật, nơi nào chùa to Phật lớn mà Tăng chúng không nghiêm trì tịnh giới, thì Phật pháp cũng đoạn diệt”.

Song người muốn hành trì tịnh giới cho được nghiêm tịnh, thì trước phải thông hiểu “Tạng pháp Tỳ Ni”. Vì sao? Vì trong pháp tạng Tỳ Ni đều y cứ vào bốn oai nghi của hành giả hành trì. Trong đời sống thường nhật người tu muốn không phạm vào giới điều của Phật Đà thì tâm phải luôn luôn tỉnh giác. Vì chánh niệm có mặt thì giới tánh có mặt, mà giới tánh có mặt thì giới nào bị phạm? Thân nào phải giữ?

Do đó Tổ Huệ Năng dạy rõ:

“Tâm bình không cần giữ giới

Hạnh trực đâu cần phải tu thiền” là vậy!

Thế nên, hành giả đã phát tâm đầu Phật, dù chúng ta tu pháp môn nào, nếu không giữ gìn tịnh giới, thì thử hỏi định ở đâu phát sanh? Mà định không phát sanh, thì huệ do đâu mà phát? Ví như người tu “Thiền” nếu phạm giới thì làm sao đạt đến chỗ “Vô niệm”? Người tu “Tịnh Độ” mà phạm giới, thì làm sao đạt đến cảnh giới “Nhất tâm bất loạn”? Còn ai tu “Mật tông” mà phạm giới thì không thể “Tam mật tương ưng”? Vì chúng tôi có tiếp xúc những vị đã lỡ phạm vào giới pháp của Phật, đa số các vị đều nói rõ những nguyên nhân chính dẫn đến sự sai lầm:

1 – Dễ duôi trong công phu thiền tập.

2 – Sa đà trong chốn ngủ nghỉ, ăn uống vô độ.

3 – Không kiểm soát lại tâm hành của mình thường xuyên.

4 – Buông thả theo vọng niệm dục tình…

        Những lời chúng tôi mạo muội nói ra đây nhằm để xây dựng ngôi nhà Phật pháp được trường tồn. Lời lẽ chân thật đó được Hòa thượng Trúc Lâm chấp thuận và cho phép chúng tôi dạy bộ “Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu”. Sau khi dạy xong, chúng tôi thấy quả là thiết thực trong cuộc sống tu tập, nên ghi lại thành văn, trước là báo đáp thâm ân của Phật Tổ, sau là báo đáp ân sâu dưỡng dục của Hòa Thượng Tông Sư. Kế là hồi hướng cho tất cả chúng sanh đều thấm nhuần giới pháp của Phật tổ.

Cũng như mọi tác phẩm khác, quyển sách này cũng không tránh khỏi những mặt hạn chế, thiếu sót trong quá trình biên tập. Cúi mong chư vị cao đức niệm tình chỉ dạy thêm. Chúng con thành kính tri ân.

Trúc Lâm núi Phụng Hoàng

Hạ an cư năm Bính Tuất – 2006

Cẩn bút

Thích Đạt Ma Khế Định



CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ GIỚI LUẬT

I. Dẫn Nhập

A – Phần Duyên Khởi

Khi xưa, Phật thuyết pháp 49 năm hơn ba trăm pháp hội, diệu nghĩa thật uyên thâm kín nhiệm. Nhưng không vượt thoát ba cửa vô lậu. Đó là con đường: “Giới-Định-Tuệ”. Vì sao? Vì có giữ giới tâm mới an định, tâm định thì tuệ mới phát sanh. Như vậy chúng ta khẳng định rằng giới là căn bản chính để thuận dòng giải thoát, con đường thành Phật tác Tổ cũng từ đây.

Kinh Tâm Địa Quán, Phật dạy:

“Người giữ gìn giới luật dù xuất gia chỉ trong một ngày đêm cũng được hai trăm vạn kiếp không sa đọa ác thú. Người đó thường sanh nơi nhàn cảnh, hưởng phước trí thù thắng, thường gặp Thiện tri thức, vĩnh viễn không thoái chuyển, thường gặp chư Phật được Phật thọ ký, ngồi tòa kim Cang thành bậc Đại Giác”.

Do đó, người xưa thường nói: “Giới có công năng như chiếc bè báu đưa người qua bể khổ, giới là cửa ngõ vào cảnh Niết Bàn. Thế nên trong mười tông phái của Phật giáo, dù chúng ta tu theo tông phái nào cũng phải lấy giới làm thầy. Cho nên người muốn được quả vui dứt trừ mầm mống của khổ đau mà không giữ gìn tịnh giới thì không thể được”.

Kinh Đại Bát Niết Bàn, Phật dạy:

“Giới là thềm thang của tất cả pháp lành, cũng là cội gốc của tất cả thiện pháp ví như địa đại là cội gốc của tất cả thảo mộc phát sanh.

Giới là đấng Đạo Sư tối cao của các thiện căn: là vị thương chủ dẫn dắt đoàn thương nhân.

Giới là thắng tràng của tất cả các thiện pháp: như thắng tràng của Thiên Đế Thích.

Giới là công năng đoạn trừ vĩnh viễn tất cả ác nghiệp và tam ác đạo, như các dược thảo có công năng trị liệu tất cả các thứ ác bệnh.

Giới là tư lương trên đường hiểm sanh tử, giới là chiếc áo giáp đồng, là cây gậy thần trừ diệt ác thần kiết sử.

Giới là một thần chú tối linh, diệt trừ rắn độc phiền não. Giới là cây cầu để qua khỏi hạnh nghiệp tội ác”.

Như vậy, chúng ta khẳng định rằng: Dù chúng ra có thực hành pháp môn nào: hoặc Thiền quán, Tịnh độ, Mật chú… bất luận đoạn phiền não hay chứng chơn thường, đối với giới pháp của Phật dạy, đều phải có tính cách quyết định thọ mạng của hành giả. Nếu không giữ giới được tinh nghiêm thì tất cả các việc công phu hành trì đều không thể thành tựu.

Như trong Kinh Lăng Nghiệm Phật đã từng dạy:

“Như nấu cát mà muốn thành cơm, trọn không thể có được”. Ngay đây hành giả phải tự nghiệm lấy, chớ nói suông vô ích, đến khi bệnh nặng những tri kiến, tri giải học suông một đời làm sao cứu nổi cơn vô thường sắp đến! Phải biết rõ vua Diêm La không kiêng nể một ai, cho dù chúng ta thông suốt Tam Tạng Kinh điển v.v… Đều không màng đến nếu không tịnh nghiệp giới pháp.

Thiền Sư Quy Sơn dạy:

“Một mai bệnh nặng trên giường, mọi thứ đau đớn vây quanh bức bách. Sớm tối lo nghĩ, trong lòng lo sợ bồi hồi. Đường trước mịt mờ chưa biết về đâu, bây giờ mới biết ăn năn, đợi khát đào giếng sao kịp?

Hận mình sớm chẳng lo tu, đến lúc tuổi già nhiều điều tội lỗi. Khi sắp rời bỏ cuộc đời sự sống tan rã nhanh chóng, trong lòng khiếp sợ kinh hoàng. Giống như lưới thủng chim bay, thức tâm theo nghiệp. Như kẻ mắc nợ, ai mạnh kéo trước, trong tâm nhiều mối, nặng đâu sa đó”.

Như vậy, chúng ta thấy rõ, trên từ chư Phật dưới đến các bậc Tổ sư đều dạy chúng ta lúc còn khỏe mạnh phải thúc liễm thân tâm trau dồi giới đức. Song điều tiên quyết ở đây là làm sao để phát huy năng lực của định và tuệ? Nếu không có giữ gìn giới hạnh trang nghiêm thì thử hỏi định và tuệ làm sao phát khởi?

Kinh Niết Bàn, Phật dạy:

Nếu không có hộ trì giới luật làm sao được Phật tánh? Tất cả chúng sanh dù sẵn có Phật tánh, nhưng phải nhờ trì giới. Sau đó Phật tánh mới hiển lộ, nhân thấy Phật tánh mới chứng được giác trí.

B – Bản Chất và Giới Thể Của Giới Luật

Nói chung giới luật thì nhiều, nhưng không ngoài hai môn: “Chỉ trì và tác trì”.

  1. Chỉ trì: là đình chỉ, đình chỉ không làm các điều ác, tức là quy định về điều giới, đó là giới thuộc chỉ trì. Song bản chất của chỉ trì lại có hai:

Thứ nhất là ngăn ngừa để tránh xa các tội ác, như cấm uống rượu… vì nó có thể phạm vào trọng tội khác như: uống rượu say có thể dẫn đến sát sanh (giết người) … tà dâm (hãm hiếp phụ nữ).

Thứ hai là cấm hẳn các việc: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, chích hút xì ke ma túy vì chúng là những tội ác ngay trong bản chất.

  1. Tác trì: là tu thiện, tức là làm các điều thiện, nghĩa là quy định về các pháp yết ma, đó là luật thuộc về tác trì. Thí dụ: thực hành 10 giới là: “Chỉ trì” giữ gìn giới pháp tăng trưởng thiện tâm là “Tác trì”. Nên nói giới luật là: “Phòng phi chỉ ác” nghĩa là dừng ác nơi thân, miệng, ý.

Song trong hai phần Chỉ trì và Tác trì nêu trên, điều quan trọng nhất chính là “Giới thể”. Bởi vì giới thể là “Vô biểu nghiệp” tức là năng lực tác ý luôn luôn hoạt động khi chúng ta giữ gìn giới pháp. Năng lực có được giới thể này là khi chúng ta phát nguyện thọ trì giới pháp của Phật, với thâm tâm thành kính ứng tác từ thể tánh vô niệm. Như thế, giới thể là một năng lực sống động khi chúng ta tiếp xúc căn cảnh trong cuộc sống giữa đời thường, nó có một công năng hoàn bị, khi chúng ta sắp sửa phóng tâm dục nhiễm.

Như vậy, chúng ta muốn được an vui và hạnh phúc, thoát khỏi cảnh trầm luân của kiếp người, ta đừng có mơ mộng đâu xa, mà ở ngay nơi mảnh đất thực tại này, ta luôn luôn tỉnh giác về thân, khẩu, ý.

Trong Kinh A Hàm Phật có dạy:

“Này các thầy Tỷ kheo! Có một người buổi sáng ý nghĩ điều lành, miệng nói lời lành, thân làm điều lành. Người ấy có một buổi sáng an ổn và hạnh phúc.

Này các thầy Tỷ kheo! Có một người buổi trưa ý nghĩ điều lành, miệng nói lời lành, thân làm điều lành. Người ấy có một buổi trưa an ổn và hạnh phúc.

Này các thầy Tỷ kheo! Có một người buổi chiều ý nghĩ điều lành, miệng nói lời lành, thân làm điều lành. Người ấy có một buổi chiều an ổn và hạnh phúc”.

Qua đoạn Kinh văn này, chúng ta thấy rõ Đức Phật không có dạy điều gì cao siêu khó thực hiện, mà Ngài chỉ dạy một buổi sáng ý nghĩ điều lành… Đây là pháp yếu vào đạo, là cửa ngõ để đi đến con đường của “Giới-Định-Tuệ”. Vì sao? Vì nếu chúng ta không tỉnh giác thì dễ dấy khởi niệm ác, mà đã dấy niệm ác thì luôn luôn tìm cách hại người này, hại kẻ khác. Song những hạt giống ác pháp này nó không mất, mà nó tích lũy trong tàng thức đủ nhân đủ duyên nó hiện hành, mà đã tạo tác rồi thì giới pháp khó mà giữ được. Còn chúng ta luôn nghĩ về điều lành, thân làm điều lành, miệng nói lời lành, thì hạt giống thiện pháp này tích lũy và tăng trưởng lên. Từ đó, ta đi vào cuộc sống giữa đời thường này giới thể tự bộc phát và giữ gìn pháp thân huệ mạng cho ta. Đây là sự thật vậy! Chúng tôi quan sát trong đại chúng tu tập người nào hay hại người này, kẻ kia không sớm thì muộn đều phạm vào giới pháp của Phật Tổ.

Khoa học bây giờ cũng chứng minh tương tợ khi một hành giả khởi niệm tương tác như thế nào!

  1. Một hạt lúa nẩy mầm mười phương chấn động.
  2. Hòn sỏi búng vào đại dương bốn biển chấn động.
  3. Con bướm vỗ cánh ở phương Nam làm thành giông tố ở phương Tây.
  4. Trên trời có những hiện tượng xấu thì đất nước đó sắp xảy ra chiến tranh.

Kinh Trì Địa, Phật dạy:

“Nguyên nhân để được 32 tướng tốt không có gì khác hơn là do nghiêm trì giới luật. Nếu trước không trì giới thì nay mong làm thân hạ tiện còn không được, huống gì lại được thân tướng đại nhân”.

Như vậy, chúng ta thấy rõ Đức Phật dạy muốn được thân tướng đại nhân, thì luôn luôn nghiêm trì tịnh giới được trọn vẹn và miên mật, trước là phải tu tập về phương pháp “Tùy hỷ”. Tùy hỷ là phương thuốc thần diệu khi chúng ta còn đang trên bước đường công phu tu tập.

Chẳng hạn như khi chúng ta thấy người đó giảng pháp hay, độ rất nhiều người, chúng ta phải tùy hỷ trợ duyên, chớ đừng cản trở. Vì sao? Vì trong lúc chúng ta tùy hỷ trợ duyên, là chúng ta tăng trưởng hạt giống Bồ đề tâm thêm lên. Còn ta tật đố, ghen ghét, ích kỷ… thì quả báo khó mà lường được. Khi chúng ta cản trở một vị thầy đi giảng pháp cho các Phật tử vì nhu cầu “Thính pháp văn kinh”, thì ác pháp tăng tưởng mà thiện pháp thì tổn giảm. Lại có khi do tâm tật đố, ích kỷ ngủ ngầm ta không quán chiếu được, nên khởi tâm hủy báng pháp môn Đại thừa cho rằng không phải Phật nói, xúi giục người nghe pháp chẳng kính tin. Ấy là tội “Vô gián địa ngục”, hành giả phải cẩn trọng về điểm này!

Trong Kinh Chư Pháp Vô Hành có ghi:

“Thời quá khứ có một pháp sư hiệu Oai Nghi, chuyên học tập pháp Tiểu thừa, không tin pháp Đại thừa, lại còn sanh tâm hủy báng, cho pháp Đại thừa không phải do Phật thuyết. Do ác nghiệp ấy, sau khi xả thân, đọa vào đại địa ngục, trải qua bao nhiêu số kiếp phải thọ quả khổ. Khi từ trong địa ngục ra chuyển sanh lên nhân gian được làm người nhưng lại bị đui mù. Nếu không đui mù lại sanh vào nhà tà kiến, không có nhân duyên gần gũi Tam Bảo để nghe chánh pháp”.

Ngài Hàn Sơn cũng nói về điểm này:

Nhắn ông bọn xuất gia

Sao gọi là xuất gia

Xa hoa cầu nuôi sống

Tiếp nối dòng họ sang

Ngon lưỡi ngọt môi mép

Tâm cong vạy cong thêm

Trọn ngày lễ đạo tràng

Trì Kinh đặt thời khóa

Lư đốt thần Phật hương

Thỉnh chuông cao tiếng hòa

Sáu thời thường lễ bái

Đêm đêm chẳng chịu nằm

Chỉ vì mến tiền của

Trong tâm chẳng siêu thoát

Thấy người khác đạo cao

Lại ganh ghét chê bai

Cứt lừa sanh xạ hương

Khổ thay Phật Đà da.

II. NGƯỜI TU THIỀN CÓ CẦN NGHIÊM TRÌ GIỚI LUẬT HAY KHÔNG?

Như chúng ta đã trình bày đoạn trước, bất luận người tu về pháp môn nào đều lấy giới làm thầy, coi trọng giới pháp như tròng con mắt. Huống nữa lại là người tu thiền định lại càng nghiêm trì giới pháp nhiều hơn. Vì sao? Vì theo kinh nghiệm bản thân tôi hôm nào nếu lỡ phạm một giới nhỏ nào, chẳng hạn như làm trị nhật cho chúng mà không hoàn mãn, tối về ngồi thiền là tâm luôn luôn bị hối hận trạo cử, huống nữa phạm vào trọng giới: sát, đạo, dâm, vọng thì ngồi thiền làm sao yên? Làm bậc hành giả tham thiền nên chín chắn chiêm nghiệm lại điểm này! Nếu không thì đã đến núi châu báu mà lượm về toàn là sỏi đá. Trân trọng! Trân trọng!

Như Kinh Di Giáo, Phật dạy:

“Tỳ kheo các ông! Sau khi Ta nhập diệt, phải tôn trọng quý kính Ba la đề mộc xoa (giới luật) như đêm tối gặp ánh sáng, như người nghèo được của báu. Phải biết pháp này là thầy của các ông, dù Ta có trụ ở đời cũng không khác pháp này vậy”.

Đoạn này Đức Phật nói về năng lực của giới pháp, Phật dụ người nào quý kính giới pháp, giữ gìn giới pháp giống như đêm tối gặp được ánh sáng, như người nghèo khổ được của báu. Xét qua lời dạy của Đức Thế Tôn có quá lắm không? Thưa không! Tại sao? Vì theo bản thân chúng tôi kinh nghiệm hôm nào ta giữ giới pháp trọn vẹn thì hôm đó dù tiền vàng, bạc bể đối với ta đều vô nghĩa. Thật vậy! Một người mà suốt đời giữ gìn giới pháp trọn vẹn cho dù cuộc sống hiện tại ta thấy họ thiếu thốn về vật chất, song đối với họ là gặt hái được tài sản vô giá, đối với họ gia tài là giới pháp là cao tột, còn gia tài thế gian chỉ là phù du ảo ảnh có đó rồi mất đó. Như một người suốt đời lo toan về danh vị đến nỗi huynh đệ tương tàn, thì dù cho được thỏa mãn về sự tham ái, danh lợi, … song chỉ là danh vị suông, đối với người này tuy sống mà như chết, họ chỉ thấy cái hào nhoáng tạm bợ mà không thấy rõ được cái giới pháp chân thường. Người này tuy bước chân vào chùa nhưng khó gặp được bậc Đại thiện tri thức khai tâm mở nhãn cho vì họ không chịu lắng lòng học hỏi; nếu có nghe nhắc nhở cũng chỉ để ngoài tai, vì bản chất của họ là đầy ắp những hạt giống thế tục, hạt giống tham sân… Do đó chư Phật, chư Tổ thường răn nhắc chúng ta: phải xem danh lợi như đôi dép rách.

Như Thiền sư Đạo Giai nói:

Ngộ thinh ngộ sắc như thượng thạch tài hoa

Kiến lợi, kiến danh như nhãn trung trước tiết.

Nghĩa:

Nghe tiếng, thấy sắc như trồng hoa trên đá

Thấy lợi, thấy danh như bụi trong con mắt.

Bởi vì đối với hành giả trong tông môn phải có con mắt “Bát nhã” mới được, nếu không thì “Thiền” cũng không, mà giới cũng rỗng. Do đó, bậc tiên đức xưa kia rất dè dặt chỉ dạy môn đồ, trước phải xem xét Tạng luật Tỳ Ni cho tường tận, sau mới thính pháp tham thiền là có lý! Ngày nay thì lại khác, đầu hôm vào chùa, sớm mai thì làm chức sự, thử hỏi giới pháp có từ đâu? Làm sao mà thấm nhuần được? Trong khi đó hạt giống tham, sân, si, ích kỷ, tật đố, ganh ghét… lại quá nhiều, mà chưa từng ngồi lại quán chiếu, thì thử hỏi làm sao mà không sa đà vào chốn dục nhiễm của thế tục.

Nên Luận Đại Trí Độ nói:

“Nếu người nào muốn cầu sự lợi ích lớn thì trước hết phải kiên trì giới luật như quý ngọc báu, như giữ thân mạng, vì giới luật là chỗ an trú của tất cả thiện pháp”.

Như vậy người tu thiền có nên nghiêm trì giới luật hay không? Không những nghiêm trì tịnh giới mà còn quý kính giới pháp như tròng con mắt, như thuyền báu đưa người sang sông. Tại sao? Vì người tu nào mà thông suốt tạng Luật, thân hành Tỳ Ni thì bên ngoài toát ra hình thái oai nghi mô phạm, bên trong thì ba độc không phát khởi, thử hỏi ai dám nói rằng người tu thiền lại dám buông bỏ giới pháp?

“Xưa có vị tăng Tề Viễn Trụ ở chùa Tiết Lương Châu giao du với bọn ăn chơi, chẳng giữ luật hạnh. Một đêm mộng thấy thần nhân đến mắng rằng: “Ông là người xuất gia, sao lại làm những việc xấu ác như thế, hãy lấy gương soi mặt xem!”.

Tỉnh dậy, sư đến vũng nước nhìn thấy bên mắt có vệt đen, cho là vết bẩn, lấy tay chùi. Ai ngờ lông mi rụng theo, sư kinh hãi, từ đó tự trách lỗi mình, thành tâm cải hối. Sư thường mặc áo xấu, mang giày rách, ăn ngày một bữa, sớm tối chí thành vừa sám hối vừa khóc sướt mướt.

Hơn một tháng sau, lại mộng thấy vị thần hôm trước vẻ mặt tươi cười bảo sư: “Biết lỗi có thể sửa được, đó là người trí. Nay ta tha cho ông đó!”. Sư vừa sợ vừa mừng, mồ hôi tuôn ra khắp người, trên mặt hai hàng mi mọc lại.

Sư đích thân trải qua hai quả báo, tin biết nhân quả ba đời chẳng hư dối. Từ đó thành tâm phụng trì giới pháp, không hề lui sụt. Sau sư trở thành một vị danh tăng”.

Nên Đại Sư Trí Húc nói:

“Đức Như Lai với tri kiến sâu rộng, Ngài vì chúng sanh khắp trên đại thiên thế giới chế ra giới luật. Còn Lục quần Tỳ kheo đều là bậc đại quyền Bồ Tát thị hiện, tự đặt mình vào hình thái của chúng sanh đời mạt pháp, nên tạo ra các nhân duyên phạm giới. Chính do tánh người lười biếng, không giữ những giới trọng và giới khinh nên làm cho chánh pháp của Phật suy đồi. Nay muốn hoằng truyền Thiền tông, diễn thuyết giáo nghĩa đều phải lấy trì giới làm gốc. Vị nào giới luật tinh nghiêm thì chánh nhân bên trong đôn hậu, phụ duyên bên ngoài tự đầy đủ, trong tướng bạch hào một phần sáng rực, quả quyết không phải là lời nói hư cuồng. Nếu ta cho giới là tiểu tiết, tức hủy báng chánh pháp. Người như vậy thì giảng về tông, thuyết về giáo đều là chuyện vu vơ vô ích. Nếu có thu hoạch ảnh hưởng ngoại duyên nào, thì tất cả đều là ma nghiệp có ích lợi gì cho chánh pháp”.

Như vậy, ta thấy rõ tầm quan trọng về giới pháp không có ngằn mé, chẳng hạn như một người mà nghiêm trì giới pháp cẩn mật họ không dám làm ác, họ không dám nghĩ ác, lâu dần hạt giống thiện pháp này tăng tưởng và lớn mạnh nên chánh nhân bên trong tĩnh lặng, trợ duyên bên ngoài tự đầy đủ, vì y báo tốt thì chánh báo tốt. Một người suốt đời luôn luôn nghĩ ác, thân làm điều ác dù họ có trốn tránh được tha nhân, song không trốn tránh được chính họ, lâu dần hạt giống ác pháp tăng trưởng và lớn mạnh dần, thì không việc ác nào họ không dám làm. Người này tuy sống đủ vật chất coi như an nhàn, song họ đang sống ngay trên hỏa ngục: hỏa ngục của tham, sân, si, tật đố, ích kỷ… Ở trong những tu viện lớn, nếu chúng ta không khôn khéo chuyển hóa nội tâm thì cũng dễ bị sa đà vào chốn bùn lầy hôi hám này.

Do đó, là đệ tử của Phật chúng ta không ít thì nhiều phải thức tỉnh về điểm này. Các vị cứ nghĩ xem! Dù chúng ta là nhà tỷ phú cũng ăn ngày hai bữa, dù chúng ta là nghèo hèn cũng ăn hai bữa. Song trong suốt quá trình làm người ta chiêm nghiệm lại, mình có làm tổn hại ai không? Có giúp ích gì cho Tam Bảo? Người xưa tu hành khác hơn chúng ta nhiều lắm, các Ngài chỉ một bề chuyên tu, trau dồi giới pháp và đức hạnh. Trọn một đời làm một điều hy hữu trong kiếp sống con người, do đó nên sau khi các Ngài ra đi rất an ổn tự tại. Còn chúng ta thì sao? Suốt một đời chuyên tính toán về con đường danh vị, mưu toan hại người, thì thử hỏi Phật nào đến cứu? Đây chỉ là tăng trưởng tri kiến ma nghiệp, còn Phật đạo thì cách xa muôn dặm.

Nên Thiền sư Lai Quả nói:

“Vua trời Đại Tự Tại (ma vương) đến nói với Phật: Ngài còn ở trên đời chắc chắn tôi không phá hoại chánh pháp của Ngài được, nhưng đến khi Ngài diệt độ khoảng 500 năm sau, ma vương tôi sẽ đưa ma con, ma nữ đến đời mạt pháp dẫn dắt chư Tăng hoàn tục, hoặc đồng sống với chư Tăng xuất gia, ở bên ngoài hiện tướng Tăng, bên trong ôm tâm thế tục cư sĩ nói pháp Tỳ kheo nghe, Tỳ kheo nghe Kinh mặc áo thế tục làm áo người xuất gia. Ngược lại cư sĩ mặc áo người xuất gia làm áo của mình.

Ngài bèn phát nguyện: “Lai Quả này quỳ xuống cầu khẩn chư Tăng ở cõi này, xin hãy bảo vệ chặt quy củ của Phật, chớ có để trúng kế của ma đổi màu trắng thành áo hoại sắc, đổi phá pháp làm hộ pháp. Xin quỳ thỉnh chư Tôn Thượng sư ngay đây hãy lập thệ tự thực hành và giáo hóa cho người cùng thực hành là mặc áo hoại sắc, ăn cơm gạo thô tạm no, lấy Tùng lâm làm nhà, lấy quy giới làm hạnh, giáo hóa cho người học Phật là sự nghiệp, răn mình xa hoa là hạnh hàng ngày.

Lại nguyện: đồng hộ trì chánh pháp của Như Lai cùng tuân thủ quy giới của Phật, nơi thân chẳng mang một sợi tơ trắng, nơi miệng thường bàn nói giữ gìn giới pháp của Phật, nơi ý không nghĩ đẹp của áo trắng. Thật là ba nghiệp thanh tịnh, chính mới là chân Phật tử”.

Qua đoạn văn của Ngài Lai Quả tha thiết trình bày, về cái nỗi bi kịch kiếp sống của hành giả tham thiền vào thời mạt pháp. Như vậy, chúng ta phải phản quan lại chính mình có nằm trong trường hợp đó không? Thưa có! Vì sao? Vì khi mới phát tâm vào chùa học đạo ai ai cũng lo trau dồi giới pháp, thúc liễm nơi ba nghiệp. Song lâu ngày do bị những hạt giống tập khí danh lợi còn sót lại ta chỉ còn nhớ đến danh lợi và tiền tài, thì thử hỏi giới pháp còn tôn trọng không? Ba nghiệp còn thúc liễm không? Ngay đây hành giả phải mạnh dạn buông xả thân tâm, một đao cắt đứt những hạt giống tham sân còn sót lại trong tâm thức, một lòng quy hướng về giới pháp, xả thân cầu đạo là việc chính, còn những việc khác là phần phụ, thì ngay nơi thân ngũ uẩn này tức khắc biến thành thân vàng trượng sáu của Thế Tôn, quậy sông dài thành tô lạc cho chúng sanh, biến cõi Ta bà thành cõi Tịnh lạc. Há chẳng sướng lắm sao! Ngay đây những bậc tác gia quên mình vì đạo phải chín chắn chiêm nghiệm lấy!

Do đó trong quyển Trùng Trị Tỳ Ni Sự Nghĩa Tập Yếu, Đại sư Trí Húc nói:

Có 3 bậc Đại căn giữ giới:

Bậc thứ nhất: nghiêm trì giới luật thanh tịnh làm mô phạm trong ba cõi, như các Ngài: Tuệ Viễn, Trí Quả, Tả Khê, Giác Phạm, Cao Phong, Trung Phong, Sở Thạch…

Ngài Giác Phạm không ăn phi thời.

Ngài Trung Phong mùa đông mùa hạ chỉ mặc một y.

Ngài Cao Phong sống rất kham khổ thanh bạch. Ngài dựng cột củi cây làm chòi ở, mùa đông mùa hạ chỉ mặc một chiếc áo chằm vá 100 miếng, đồ ăn thời giã nhỏ cây tùng hòa với bột mà dùng thay cơm… Dùng ghè bể làm nồi, trọn ngày ăn một bữa ngọ.

Bậc thứ hai: sống trong đời mạt pháp, ở vào hoàn cảnh bất đắc dĩ, tuân theo di mệnh của Phật, song lại lược bỏ các giới vi tế, ở chùa thời cày cấy trồng trọt, lãnh chúng thời khai hoang ruộng đất. Nhưng đối với việc không ăn phi thời… các vị ấy vẫn tuân hành đầy đủ. Trong Bách Trượng Thanh Quy gọi bữa ăn chiều là thuốc chữa bệnh mà không gọi là bữa ăn cháo, chỉ cho là uống thuốc phi thời, thuốc bảy ngày, thuốc trọn đời mà thôi.

Bậc thứ ba: là đại vận dụng phương tiện, xem xét các cơ duyên lợi ích, phá nghi chấp cho người, nên không câu chấp vào nguyên tắc thường áp dụng. Như Ngài Văn Thù Bồ Tát cầm gươm bức Phật, ba nơi phá hạ.

Trong Chỉ Nguyệt Lục ghi:

“Trên hội Linh Sơn có 500 Tỳ kheo đắc định Tứ thiền, đủ năm thần thông mà chưa đắc Pháp nhãn. Mỗi vị dùng thần thông Túc mạng trí thì đều tự thấy giết cha hại mẹ và phạm những tội nặng. Do đó mỗi người trong tâm tự hoài nghi, thành ra đối với pháp thâm sâu chẳng thể chứng nhập. Lúc ấy, Văn Thù thừa oai thần lực của Phật, tay cầm kiếm bén bức bách Như Lai.

Thế Tôn nói với Văn Thù rằng: “Ngưng! Ngưng! Chớ nên hại Ta mà tạo tội ngũ nghịch. Nhưng nhất quyết hại Ta thì phải khéo hại cái ngã chấp của Ta. Văn Thù Sư Lợi! Ngươi từ xưa nay chẳng có ngã nhân (Ta và ngươi), chỉ vì nội tâm thấy có ngã nhân. Khi nội tâm chẳng khởi, thì ngã nhân ắt phải diệt, tức gọi là hại cái ngã chấp của Ta”.

Do đó, 500 Tỳ kheo tự ngộ bản tâm như mộng như huyễn. Ở trong mộng huyễn chẳng có ngã nhân, cho đến năng sanh sở sanh, cha mẹ, đều như mộng huyễn, chẳng có ngã nhân. Rồi 500 Tỳ kheo cũng nói kệ tán thán rằng:

Văn Thù bậc đại trí

Thấu đạt nguồn đáy pháp

Tự tay cầm kiếm bén

Bức bách thân Như Lai

Kiếm vậy, Phật cũng vậy

Một tướng chẳng có hai

Vô tướng vô sở sanh

Đâu thể nói giết hại

Ngã nhân đã không có

Thì còn ai tạo tội.

Trong tích “ba nơi phá hạ” có nói:

“Ngày giải hạ Tự Tứ (tự kiểm thảo), vì Ngài Văn Thù nhập hạ ở ba chỗ nên Ngài Ca Diếp muốn bạch dùi (đánh chuông) đuổi ra. Vừa cầm dùi thì thấy 100 ngàn muôn ức Văn Thù, Ca Diếp dùng hết thần lực của mình mà vẫn không giơ dùi lên được. Thế Tôn bèn hỏi Ca Diếp: “Ngươi muốn đuổi Văn Thù nào?”. Ca Diếp chẳng thể trả lời”.

Thế nên, người tu thiền lại cần nghiêm trì tịnh giới cẩn mật, ai dám bảo rằng: “Người tu thiền là phi oai nghi tế hạnh”. Nếu cho rằng: người xưa ăn thịt uống rượu được, thì chúng ta cũng làm được miễn tâm không dính mắc thì thôi. Đây chúng ta lắng nghe lời cảnh tỉnh của Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ:

“Cửa học đạo riêng không có gì kỳ đặc. Chỉ cần gột sạch căn trần, buông hết chủng tử nghiệp thức từ vô thủy kiếp đến nay. Các ông hãy tiêu trừ tình niệm, dứt bặt vọng duyên. Đối với tất cả cảnh giới ái dục của thế gian, tâm như cây đá. Cho dù đạo nhãn chưa sáng tỏ, tự nhiên thành tựu thân thanh tịnh. Nếu gặp bậc đạo sư chân chánh thì quyết phải hết lòng thân cận. Giả sử tham thiền chưa thấu triệt, việc học chưa thành, một khi đã qua căn tai rồi hằng làm giống đạo. Đời đời chẳng rơi vào nẻo ác, kiếp kiếp chẳng mất thân người. Vừa mới ra đời, một nghe ngàn ngộ. Phải tin rằng Thiện tri thức chân chánh trong đạo là nhân duyên lớn trong loài người, hay giáo hóa chúng sanh được thấy tánh Phật. Than ôi! đời mạt thế nói ngông học thiền là chỉ học lõm chớ hoàn toàn không thật hiểu; từng bước từng bước cho là có, từng lời từng lời bảo là không. Chẳng trách chính mình bị nghiệp lực dẫn lại dạy người bài bác nhân quả. Đã vậy còn nói uống rượu, ăn thịt chẳng ngại Bồ đề; trộm cắp, hành dâm không ngại Bát nhã. Lúc sống thì bị phép vua, chết lại rơi vào ngục A tỳ, chịu cái nghiệp nơi địa ngục. Khi hết ở địa ngục lại rơi vào loài ngạ quỷ, súc sanh trăm kiếp, muôn kiếp không có kỳ hẹn thoát ra.

Trừ phi một niệm hồi quang lập tức chuyển tà thành chánh. Nếu chẳng tự mình sám hối, tự tu tự độ thì dẫu cho chư Phật ra đời cũng không cứu được ông đâu.

Nếu cắt tim gan như cắt gỗ đá, thì mới có thể ăn thịt. Nếu uống rượu cũng chẳng khác nào ăn phân uống nước tiểu, thì mới có thể uống rượu. Nếu nhìn thấy các trai gái đoan chính cũng coi tựa xác chết, thì mới có thể làm chuyện hành dâm; nếu xem tài bảo của mình của người như phân như đất thì có thể trộm cắp. Dù rằng, ông luyện tâm được đến chỗ điền địa này (đất tâm chỗ chơn thật), cũng chưa thể thuận theo ý ông được! Nếu chưa kịp chứng vô lượng thân Thánh xưa đã thiết tha tỏ bày há lại còn có tâm nào khác? Bởi vì Tăng Ni đời mạt pháp, hiếm giữ giới cấm; chỉ hiềm họ hướng thiện vào kẻ thế tục, mà phần nhiều lui sụt tâm đạo, do đó rộng thực hành và bao bọc chở che.

Ngàn Kinh đã nói, muôn Luận đã bày. Nếu chẳng dứt bỏ tâm dâm tức là đoạn hết giống trí huệ; nếu chẳng bỏ trộm cắp tức là đoạn hết giống phước đức; nếu chẳng bỏ ăn thịt tức là đoạn hết giống từ bi. Chư Phật trong ba đời đồng miệng tuyên nói: Thiền tông trong thiên hạ, một lời đã diễn bày. Làm sao hàng hậu học bỏ qua chẳng nghe theo? Tự mình hủy mất nhân chánh đáng, trái lại hành theo lời ma nói! Chỉ vì giống nghiệp đã có từ bao đời, mới sanh ra là gặp bọn thầy tà, nên lực lành dễ tiêu, mà các căn ác lại khó nhổ, đâu còn thấy đạo của bậc Thánh xưa nữa? Thấy một việc mà như hàng vạn mũi tên ghim vào tim; nghe một lời mà như ngàn mũi dùi chọt vào tai; hãy mau mau rời xa đây! Chớ có thấy nghe nữa! Các ông phải tự cứu lấy tâm mình, cẩn thận chớ có dễ duôi”.

III. NĂNG LỰC CỦA SỰ NGHIÊM TRÌ TỊNH GIỚI

Người tu hành nếu y theo lời Phật dạy, khép mình vào khuôn khổ của oai nghi tế hạnh, trang nghiêm nơi tự thân bằng giới pháp của chư Phật, thì người này có một năng lực thật vĩ đại.

  1. Ở trước hội chúng không sợ hãi.
  2. Nếu chưa giải thoát, chết chắc chắn được sanh thiên.
  3. Là bậc mô phạm cho trời người.
  4. Quỷ thần cung kính.
  5. Tâm thần được bình ổn lúc sống cũng như lúc chết…

Kinh A Nan Vấn Sự Phật Cát Hung nói:

“Đức của giới hạnh khiến cho phước tự nhiên đến, thiên thần ủng hộ, cảm động đến 10 phương. So với đức của chư thiên thì công đức của giới hạnh cao vời vợi, các Thánh ngợi khen, khó thể cân lường. Người trí đạt mệnh dù tan thân mất mạng cũng chẳng theo tà, khéo nhận biết lời Phật dạy thì có thể đắc đạo vượt khỏi thế gian”.

Người có giới pháp phước tự nhiên thù thắng. Vì sao? Vì gieo thắng nhân thì gặt Thánh quả, đây là lẽ tự nhiên. Song người đời ít ai chịu tin nhận. Lúc còn trẻ khỏe tha hồ tạo ác nghiệp, khi nghiệp quả đến khó bề trốn chạy, lại than trời trách đất, song nghiệp nhân đã gieo thì nghiệp quả sẽ gặt. Người xưa nói: “Hình cong làm sao bóng thẳng được”?

Do đó, đã là người phát chí xuất trần thì hãy tin nhận lời của Phật Tổ, một niệm phóng ra thì tác thành nhân quả nghiệp báo, một niệm hồi quang thì Niết Bàn có mặt. Người giữ trọn giới pháp thì thiên thần ủng hộ, cảm động đến 10 phương, lời này có quá lắm không? Thưa không! Vì sao? Vì người giữ giới thì tâm bình trí sáng, tâm thông trí suốt. Sở dĩ chúng ta đọa vào loại ngạ quỷ, súc sanh vì ta chiêu cảm tạp nghiệp: tham ăn vô độ, tật đố, ích kỷ, ghen ghét, san tham… do đó Phật dạy người tu phải giữ gìn tịnh giới là có lý, vì thân tâm nghiêm trì tịnh giới thì lâu ngày ta không còn cảm thấy lòng tham dục dấy khởi. Người xưa sở dĩ các Ngài giữ gìn tịnh giới trọn vẹn là do các Ngài phát đại nguyện lớn, dù cho tán thân mất mạng cũng phải tuân thủ. Do đó đạo nghiệp dễ thành, chơn thường dễ đến, còn chúng ta thì sao? Có dám can đảm thực hành như người xưa không?

Tổ Quy Sơn dạy: “Kia cũng trượng phu, ta cũng trượng phu.”

Hãy chín chắn chiêm nghiệm lời của Tổ dạy.

Nên Thiền sư Hư Vân khai thị:

“Dụng công tu hành trước nhất phải trì giới. Giới là cội gốc của quả Vô thượng Bồ đề, nhân giới sanh định, nhân định phát huệ, nếu không trì giới mà tu hành thì không thể được”.

Trong Kinh Lăng nghiêm dạy rõ bốn món thanh tịnh, Phật dạy chúng ta rằng:

“Không trì giới mà tu chánh định không thể thoát khỏi trần lao, dù hiện tiền có nhiều trí huệ, nhiều thiền định cũng rơi vào tà ma ngoại đạo”.

Nên biết trì giới là trọng yếu, người trì giới Long Thiên ủng hộ, ma ngoại kính sợ, người phá giới, bọn quỷ gọi là giặc lớn, nó quét dấu chân của người ấy.

Như chúng ta đã biết Thiền sư Hư Vân là bậc Tông sư cận đại, là bậc tôn túc trong tông thừa, mà người luôn khuyến khích Tăng Ni, Phật tử luôn luôn nghiêm trì tịnh giới của chư Phật. Vì sao? Vì Ngài thấy rất rõ nếu một người tu pháp chánh định mà không nhờ hàng rào giới luật, thì chánh định không thể phát sanh. Như vậy giới luật có một năng lực vĩ đại đưa con người từ phàm đến Thánh, từ mê đến giác, từ khổ đến vui…

Nên Quốc Sư Thanh Lương dạy:

“Người nào nương Luật tu trì thì gọi là Tăng thượng giới tự thành tự lập, chắc chắn quả vị Phật ắt chứng đắc vậy”.

Như vậy, nhờ vào túc duyên trong đời quá khứ, ngày hôm nay chúng ta mới có phúc duyên lãnh thọ giới pháp của Phật Tổ. Thì tại sao chúng ta lại không nghiêm trì tịnh giới? Ta hãy đặt lại câu hỏi! Lỡ mai này tạo nghiệp xấu chiêu cảm vào loài ngạ quỷ, súc sanh… thì có kham nhận giới pháp được không? Ngay đây hành giả phải một phen phấn chấn, đã đạp trên mảnh đất thật rồi, thì một phen đi là phải tới đích.

Có người cho rằng đời này tu làm sao phải ngộ đạo như các bậc Tổ sư xưa, theo thiển ý của tôi đâu cần phải đợi đến lúc ngộ đạo oai nghi phép tắc mới hiển lộ trời người cung kính, mà ngay đây hành giả chánh niệm thu thúc lục căn thì cũng đáng cho trời người cung kính.

Như Thiền sư Thọ Sương nói:

“Nếu thật đời này có người đúng như pháp luật mà hành trì, nên kính họ như Phật, hầu hạ đúng như pháp thờ thầy”.

Vì thế, đối với giới pháp của Phật nếu ai chịu khó hành trì, thì ắt sẽ được quả tối thượng. Song đời này ít ai chịu khó tin nhận giới pháp, cho là hạng tiểu tiết rồi sa đà trong chốn ngũ dục, nhưng họ không nhận xét kỹ nhờ giữ giới pháp nghiêm tịnh mà từ thân, khẩu, ý được đoan chính. Vì sao? Vì giới pháp của Phật giống như lương dược hay chữa lành các thứ bệnh; tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến… Vậy chúng ta tại sao lại không gìn giữ. Giống như một người vào biển sâu tìm châu báu, mà không nhờ thuyền lớn, dụng cụ thì có lấy được châu báu không? Ngay đây hành giả phải chín chắn chiêm nghiệm lấy!

Nên Kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy:

“Giới luật là vị thuốc hay trị được bệnh phiền não, như đấng cha mẹ giúp con qua cơn đau khổ, là chiếc cầu bắc ngang sông sanh tử, là đèn soi đêm tối si mê”.

IV. THIỀN VÀ GIỚI

Kinh là lời của Phật.

Thiền là tâm của Phật.

Giới là hạnh của Phật.

Thiền Sư Duy Khoan nói:

“Vô thượng Bồ đề trùm ở thân là luật, nói ở miệng là pháp, hành ở tâm là thiền. Ứng dụng có ba, rốt lại chỉ là một. Ví như sông Hồ, sông Hoài, sông Hán, tùy chỗ đặt tên có khác, nhưng tánh nước vốn không hai”.

Là hành giả trong tông thừa, nếu là người sáng mắt, thì ai dám bỏ qua về điểm này! Vì sao? Vì trong bốn oai nghi nếu ta luôn luôn tỉnh giác thì hạnh của Phật trùm khắp thân ta, ngay đây tâm ta không một niệm vọng động thì giới pháp của Phật trùm khắp thân ta, ngay đây ta rõ biết tất cả nào là: chim kêu, dế gáy, gió thổi, mây bay… mà không một niệm truy tìm về quá khứ, hiện tại, vị lai thì thiền tâm của Phật Tổ trùm khắp thân ta. Như vậy ai dám bảo rằng: “Thiền và giới không đồng nhất”.

Người xưa chỉ dạy cho người học, đều nhằm trên căn bản mô phạm mà tiến bước, nếu người học chịu khó mài giũa tập nghiệp trong bốn oai nghi thì nơi nơi là chỗ dụng công đắc lực cho hành giả. Khi ăn cơm, rửa chén, giặt đồ… đều là chánh hạnh thành Phật cả.

Có vị Tăng đến hỏi Thiền sư Tiểu Nham:

– Kinh nói: “Chư Phật ra đời vì một đại sự nhân duyên”, xin hỏi Hòa thượng thế nào là đại sự nhân duyên?

Sư đáp: Mặc áo, ăn cơm, đại tiện, tiểu tiện.

Vị Tăng không chấp nhận, chẳng thèm lễ bái, liền đi ra. Sư gọi lại nói bài kệ:

Chư Phật xuất ư thế

Duy vị đại nhân duyên

A thỉ tinh phóng niệu

Cơ xan khốn đả miên

Mục tiền khẩn cấp sự

Nhân chỉ dục hướng thiện

Đàm huyền cộng thuyết diệu

Tạo tội phục thâu tiền.

Nghĩa:

Chư Phật hiện ra đời

Chỉ vì nhân duyên lớn

Đại tiện cùng tiểu tiện

Đói ăn mệt ngủ khò

Trước mắt việc gấp rút

Người chỉ muốn lên trời

Bàn huyền cùng nói diệu

Mắc tội lại thua tiền.

Như chúng ta, ai cũng đều rõ trong Kinh Pháp Hoa nói: “Vì một đại sự nhân duyên lớn Đức Phật thị hiện ra đời, nhằm khai thị cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật”. Ở đây ông Tăng này đem ra thưa hỏi Thiền sư. Song ông vô cùng thất vọng. Vì Thiền sư trả lời những câu, những cú là việc rất tầm thường trong cuộc sống nào là: ăn cơm, mặc áo, đại tiện, tiểu tiện… Song ông đâu có ngờ rằng đó là bí yếu để vào đạo, là cửa ngõ của Niết Bàn, là con mắt của hằng hà sa số chư Phật, là con đường của giới, định, tuệ.

Ông Tăng này chính là người đại diện cho chúng ta vậy! Chúng ta khi mới cất bước vào đạo, ít khi nào chiêm nghiệm lại giới pháp của Phật Tổ, chỉ lo một bề hướng tâm cầu huyền diệu nghĩa, mà thật ra trong tâm rỗng mà cao ngạo, danh lợi thì dẫy đầy, oai nghi mô phạm thì một chút cũng không! Cống cao ngạo mạn, giới pháp thì chẳng vuông tròn. Đây là từ lúc mới vào đạo nhắm hướng không đúng mục tiêu lý tưởng, mà suốt ngày chỉ lo hai chữ “Ăn và uống”. Lâu ngày dài tháng nghiệp tham thì nhiều, mà nghiệp thiện thì lại quá ít, nên từ cung cách cho đến lời nói đều là phàm tục. Chúng ta sống như vậy đó! Thì thử hỏi đến khi lâm chung lấy gì mà chống đỡ?

Do đó Tổ Quy Sơn nói:

“Đường trước mờ mờ mịt mịt, không biết đi về đâu!” Đi về trong chốn địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh… chớ đi về đâu! “Gieo nhân vô thường mà đòi gặt quả thường trụ”. Lý này làm sao mà có được. Người xưa nói:

Thiên đường hữu lộ vô nhân đáo

Địa ngục vô môn hữu khách tầm.

Đây là là nói về nẻo lành Phật Tổ đã vạch sẵn không chịu đi, nhưng chỉ hướng về nẻo ác mà xuống, lỗi này do ai tạo tác? Đều do tâm tham danh lợi của mình tạo nên, đến khi ác nghiệp quá nhiều thì chiêu lấy quả khổ chớ trách ai!

Than ôi! Người đời biết một mà không biết mười, chỉ biết sướng hiện tại, mà không thông suốt tương lai nên mới nông nỗi này. Khổ thay! Khổ thay!

Nên Thiền Sư Lai Quả dạy:

“Một chữ giới chẳng những Tăng Ni phải hành mỗi ngày, không được tạm lìa một khắc mà ngay cả mọi người ở thế gian cũng chẳng thể tạm lìa. Sao vậy? Người tại gia có giới cờ bạc, hút thuốc, tà dâm, lừa dối v.v… Một chữ giới này, đối với người tại gia thông dụng chẳng thiếu, thiếu một điều không giữ giới, liền thành tệ hại.

Bậc xuất gia chúng ta đã thọ Tam đàn đại giới đàng hoàng, 10 điều của Sa di, 250 điều của Tỳ kheo, 10 giới trọng 48 giới khinh của Bồ tát. Nếu giữ giới kỹ lưỡng một chữ cũng không sót, không chút vi phạm thì cũng chưa lớn, phải từ giới vào định, do định phát huệ, phá ngu si, mở trí huệ, dựng pháp tràng, lập tông chỉ, mới là công lớn của giới”.

V. CÔNG ĐỨC GIỮ GÌN TỊNH GIỚI

Như chúng ta đã biết, đối với tinh thần nhà Phật thì bố thí, cúng dường gọi là “Phước đức”. Còn huân tu từ tự tánh Pháp thân gọi là “Công đức”.

Như câu chuyện giữa Sơ Tổ Đạt Ma và vua Lương Võ Đế chẳng hạn:

Vua hỏi Tổ:

– Trẫm từ khi lên ngôi đến nay thường cất chùa, chép Kinh độ Tăng Ni không biết bao nhiêu, vậy có công đức gì không?

Tổ đáp:

– Đều không có công đức.

– Tại sao không có công đức?

– Bởi vì những việc ấy là nhân hữu lậu, chỉ có quả báo nhỏ ở cõi người cõi trời, như bóng theo hình, tuy có mà chẳng phải thật.

– Thế nào là công đức chơn thật?

– Trí thanh tịnh tròn mầu, thể tự không lặng, công đức như thế chẳng do thế gian mà cầu.

Đoạn này chúng ta thấy Tổ nói rất rõ, đây chỉ là phước đức hữu lậu chứ chẳng phải công đức. Ngày nay có những người lầm lẫn cho việc cúng dường in Kinh bố thí là công đức, rồi mặc tình tạo tội tham, sân, si… Song đối với tinh thần nhà Phật, dù cho chúng ta có xây mười ngàn ngôi chùa nhưng tâm ta có đầy đủ tham, sân, si, tật đố, ghen ghét… công cũng có, tội vẫn mang. Chẳng hạn ở phương Tây có những con chó nghiệm kỹ ta thấy rằng nó còn sung sướng hơn cả con người ở những nơi nghèo khổ, song tuy sướng thân mà vóc dáng lại mang kiếp thú, thì thử hỏi tại làm sao? Vì lúc làm kiếp người tuy là bố thí cúng dường, song tội vẫn tạo. Ngày nay có những người buôn bán xì ke ma túy…Song họ sợ tội nên bố thí cúng dường… Như vậy rõ ràng mặt người mà lòng thú, họ làm gia hại không biết bao nhiêu gia đình đang sống êm ả hạnh phúc lại trở thành khổ đau, thì kiếp sau sẽ thành thú là cái chắc! Lại có người tuy mang hình tướng tu sĩ mà giới pháp không tròn, thì chắc chắn sẽ bị đọa lạc trầm luân trong biển khổ.

Nên Lục Tổ có nói bài kệ:

Người mê tu phước chẳng tu đạo

Chỉ nói tu phước liền là đạo

Bố thí cúng dường phước vô biên

Trong tâm ba ác xưa nay tạo

Nghĩ muốn tu phước để diệt tội

Đời sau được phước, tội vẫn còn.

Như trong Cao Tăng Dị Truyện có ghi:

“Một hôm Đại sư Thập Đắc lùa trâu ra, hô tên Tăng đời trước, trâu liền ứng tiếng mà đi qua.

Thập Đắc lại nói: – Đời trước chẳng trì giới, mặt người mà lòng thú. Ngươi nay tạo lỗi này, lại oán hận người sao? Sức Phật tuy rất lớn mà ngươi phụ ơn Phật”.

Như vậy, giữ gìn giới pháp của Phật Tổ là tự thân công đức, còn bố thí… chỉ là phước đức. Song chúng ta cần phải lưu ý về điểm này, có những người tuy không sát sanh, trộm cắp, tà dâm… song vướng vào tội “vọng ngữ” thì các tội sát sanh, trộm cắp… liền đi theo. Vì sao? Vì tuy không giết người mà nói những lời độc ác, hoặc chuyện không nói có, chuyện có nói không… làm cho bạn đồng tu của mình xúc não, có khi hoàn tục, thối tâm trên con đường tìm cầu chân lý, tội này đồng tội với tội sát sanh không khác! Là người tu Phật phải chín chắn chiêm nghiệm về điểm này. Do đó, tinh thần giữ gìn giới pháp của Phật làm tăng tưởng công đức là có lý vậy!

Kinh Di Giáo, Phật dạy:

“Thế nên, Tỳ kheo phải giữ gìn tịnh giới, chớ khiến hư kém. Nếu người nào hay giữ gìn tịnh giới thì người ấy có được thiện pháp, nếu không giữ gìn tịnh giới, thì các công đức lành đều không sanh được. Do đây phải biết giới là chỗ ở công đức an ổn nhất”.

Như vậy chư Phật và các đại Bồ Tát đều khuyến tấn chúng ta luôn luôn nghiêm trì tịnh giới để tăng trưởng thiện pháp. Vì một người mà có tâm hổ thẹn về ác pháp, thì người ấy thân tướng đoan nghiêm, lời nói ra có thể giáo hóa người. Đây đều là nhờ công đức giữ gìn tịnh giới mà có được.

Do đó người xưa dù ở trong hoàn cảnh nào, các Ngài cũng đều lấy giới pháp làm trọng, dẫu cho tán thân mất mạng các Ngài vẫn tuân thủ giới pháp.

Như câu chuyện trong Đại Luật ghi:

“Xưa nước An Đà, có một ông Thiếu Dục Tỳ kheo sai thầy Sa di tuổi trẻ đến nhà tịnh tín lãnh đồ ăn. Bấy giờ cả nhà tịnh tín kia đi phố hội, chỉ để một cô gái tuổi vừa mười sáu, dung mạo đoan chính, nhưng bị lửa dâm nung đốt, quỳ bạch thầy Sa di rằng “Nhà em châu báu vô lượng, được huynh bằng lòng làm chủ nhà này, em sẽ cung cấp và hầu hạ”. Thầy Sa di nghĩ rằng: “Ta thà bỏ mạng, chớ chẳng phá giới cấm”. Liền vào trong phòng đóng cửa, quỳ gối chắp tay phát nguyện và cắn ngón tay, dùng máu viết trên vách bài kệ như vầy: “Đệ tử không bỏ chánh giới Tam Bảo, nguyện sanh về nhà vắng lặng, hết nghiệp mê, lần thành đạo quả”, nguyện rồi thắt cổ mà chết. Vị vua trong nước hay được, khen chưa từng có, liền ngự đến làm lễ, đem xác thầy Sa di để lên xe báu. Vua dùng đủ món cúng dường, rồi chất những củi thơm, mà thiêu long trọng”.

Nên kinh Bảo Tích, Phật dạy:

“Dù xây dựng ngôi chùa tháp toàn bảy báu, to cao lên đến cõi trời Tam Thập Tam, không bằng một ngày tĩnh tọa trì giới trong sạch cao quý, là đệ nhất cúng dường Đức Như Lai”.

Qua đoạn văn kinh này cho chúng ta một cái nhìn về giới pháp. Phật đưa ra thí dụ về phần cúng dường, dẫu cho to lớn đầy khắp cõi Tam thiên đại thiên thế giới cũng không so sánh bằng một người chỉ tĩnh tọa nghiêm trì tịnh giới. Đây là lẽ đương nhiên vậy! Vì sao? Vì người này hướng nội trở về với cội nguồn Pháp thân.

Do đó trong luận Đại Trí Độ có nói:

“Người tuy nghèo hèn mà trì giới, hơn người giàu sang mà phá giới. Hương của hoa, hương của cây không thể bay xa, hương của trì giới bay khắp cả 10 phương. Người trì giới, được đầy đủ sự an vui, tiếng tăm vang xa, trời người yêu kính, hiện đời thường được các thứ khoái lạc. Nếu muốn sanh vào cõi trời, cõi người thủ lấy sự giàu sang, sống lâu không khó. Người trì giới thanh tịnh, ước gì đều được nấy.

Lại nữa, người trì giới thường được người nay cúng kính cúng dường, tâm vui không hối hận, áo cơm không thiếu, chết được sanh lên trời, sau chứng Phật đạo. Người trì giới không việc gì không có được, người phá giới tất cả đều mất.

Lại nữa, người trì giới quán thấy tội của người phá giới, nên tự gắng sức, nhất tâm trì giới.

Thế nào là tội của người phá giới? Người phá giới, người khác không kính, nhà nó như mồ hoang, không người nào đến.

Lại nữa, người phá giới thường ôm lòng sợ hãi, như người mắc trọng bệnh, thường sợ chết đến. Cũng như người phạm tội ngũ nghịch, tâm thường tự nghĩ: ta là giặc của Phật, che giấu tránh nép, như giặc sợ người, năm tháng ngày giờ trôi qua thường không an ổn.

Lại nữa, người phá giới, ở giữa chúng tinh tấn giống như người trẻ yếu ớt ở giữa người mạnh.

Lại nữa, người phá giới giống như thuyền vỡ, không thể chở qua sông.

Vô lượng tội phá giới như vậy, không thể nào kể hết. Hành giả hãy nên nhất tâm hành trì”.

(Trích đoạn Đại Trí Độ luận quyển 1 Bồ Tát Long Thọ khai thị)



CHƯƠNG II

TÁC PHẨM “TỲ NI NHẬT DỤNG THIẾT YẾU”

I. TỔ KHAI SÁNG LUẬT TỲ NI

Vị luật sư khởi lập Luật Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu này chính là Hòa Thượng Kiến Nguyệt, hiệu Độc Thể, tự Hoằng Giới ở núi Bảo Hoa đời nhà Thanh. Thể theo từ tâm của Phật trước kia và muốn cho tròn tột tánh đức của những kẻ hậu học, nên Ngài lược rút ở phẩm Tịnh Hạnh trong Kinh Hoa Nghiêm, cũng như trong Mật Bộ và trong các Kinh Luận khác. Ngài làm thành 54 bài kệ, 38 câu chú để kẻ sơ cơ làm chuẩn tắc cho thân tâm, khắp bốn oai nghi, trong suốt ngày đêm đều lấy đó làm thềm bậc tiến đạo, là cửa ngõ để thành Phật tác Tổ. Vì kệ là lời từ tâm của Phật, chú là chuẩn trí của Phật, là mật hạnh của chư đại Bồ Tát nên khiến hành giả dễ trừ ba nghiệp ác, thấu tột tánh đức của Như Lai và thể nhập Phật trí trong hiện tiền.

II. LUẬN GIẢI VỀ NGHĨA TỲ NI

Tỳ Ni gọi là Tỳ nại da (Vinaya) dịch là diệt, là luật, hoặc dịch là điều phục… Vì giới luật thế gian quyết đoán được các tội nặng nhẹ nên gọi là luật. Điều hòa được ba nghiệp thân khẩu, ý, chế phục các việc làm ác, nên gọi là điều phục.

Như vậy, đã là bậc xuất trần Thượng sĩ, thì chí nguyện cũng phải siêu xuất thế gian. Song trí muốn vượt thoát trần lao, ra khỏi ba cõi thì ba nghiệp phải thuần hòa nhu nhuyến. Do đó Tổ Sư vì lòng từ bi cảm thương cho chúng sanh nên mới lập pháp hành Tỳ Ni, để thu thúc sáu căn và điều phục ba nghiệp.

Cho nên, người mới bước chân vào đạo, mà không thông pháp hành Tỳ Ni, không ứng dụng hàng ngày thì lúc về già khó tránh những điều sai sót. Cổ đức nói: người nào khi mới làm điệu chịu khó học Luật Tỳ Ni và 24 oai nghi, thì thân tướng đoan nghiêm ngôn từ chậm rãi, nhu hòa thuần tịnh. Đây là căn bản cho tiến trình thành Phật tác Tổ. Còn người nào khi mới bước chân vào chùa lo chạy theo danh lợi… không ứng dụng pháp hành Tỳ Ni hàng ngày, đa phần hay tạo việc ác cho tha nhân, ít có tâm tùy hỷ cho người khác. Vì pháp hành Tỳ Ni là phương pháp tối thắng cho hàng Bồ Tát đi vào cuộc đời này. Chẳng hạn như: khi lấy nước rửa mặt ta mong muốn mọi người được gội rửa thân tâm chóng trừ ba nghiệp ác. Khi thấy sông lớn, suối nước, hay đi ra khỏi nhà, ta mong muốn mọi người thể nhập vào dòng suối trí tuệ của Như Lai. Khi thấy đường đi gai góc, ta mong muốn mọi người căn lành luôn tăng trưởng. Khi thức dậy ta mong muốn mọi người bừng lên chân lý của Phật Đà, trí tỏa khắp mười phương…

Vì thế, trọng tâm của pháp hành Tỳ Ni là điều phục ba nghiệp không cho tạo tác các điều ác, mà làm các điều thiện cho tha thân. Như vậy pháp hành Tỳ Ni chúng ta ứng dụng trọn cả đời cũng chưa chắc được rốt ráo, làm sao chúng ta đánh mất pháp hành Tỳ Ni này? Là bậc hành giả tham thiền trong tông môn, chúng ta hãy chín chắn chiêm nghiệm về điểm này!

Kinh Hoa Nghiêm Thám Huyền Ký nói:

“Tỳ Ni, ở đây gọi là điều phục. Điều là hòa ngự, phục là chế diệt; điều hòa chế ngự các nghiệp về thân, khẩu, ý; chế phục trừ diệt các việc làm ác”.

Như vậy, chúng ta thấy rõ pháp hành Tỳ Ni là chặn đứng ba đường ác, người nào luôn luôn ứng dụng pháp hành Tỳ Ni trong suốt cuộc đời tu hành của mình, là bảo đảm đóng bít ba cửa ác đạo (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh). Do đó người xưa rất chú trọng về pháp hành này, đa số các tự viện xưa đều bắt các điệu học thuộc lòng. Song điều căn bản của pháp Tỳ Ni là thực tập con đường chánh niệm. Chẳng hạn như câu:

Lúc từ nhà ra

Cầu cho chúng sanh

Vào sâu trí Phật

Ra hẳn ba cõi.

Đó là phương pháp chánh niệm tỉnh giác trong bốn oai nghi, chớ không phải là pháp để học thuộc lòng. Nên mới gọi là nhật dụng – thường dùng hàng ngày. Rất là thiết yếu vậy nên mới gọi là phương pháp thiết thực. Nên Tổ mới dạy về “Tỳ Ni nhật dụng thiết yếu”.

Tại sao gọi là thiết yếu? Vì từ sáng tới tối, tâm ta như khỉ vượn, hết nghĩ Đông lại nghĩ Tây… ít khi nào dừng trụ một chỗ. Do đó Tổ mới lập pháp hành Tỳ Ni để thúc liễm ba nghiệp không cho tạo tác ác pháp. Pháp hành Tỳ Ni này có năng lực rất là lớn, phàm nghĩ gì, hành động gì điều có phép tắc khuôn mẫu Tỳ Ni ràng buộc. Chẳng hạn như khi chúng ta vào nhà cầu, chuẩn bị đại tiện ta thầm tưởng bài kệ:

Khi đại tiểu tiện

Cầu cho chúng sanh

Bỏ hẳn tham sân

Ra khỏi ba cõi…

Như vậy thực tập chánh niệm lâu dần thì tập khí nhiều đời mới được tiêu trừ, bợn dơ nhiều kiếp mới được lóng sạch. Bấy giờ tâm Phật mới được hiển lộ, và tâm ma được chuyển hóa. Có người cho rằng pháp hành Tỳ Ni chỉ để cho người sơ cơ mới vào đạo, còn ta thì chẳng cần để mắt đến. Thử hỏi tập khí tích tụ nhiều kiếp của chúng ta trời đất nào mà dung chứa đủ, biển khổ thì mênh mông không gốc lấy gì mà nương tựa? Sống thì mơ màng, chết thì mờ mịt. Nếu không nương nhờ lời giáo huấn của bậc Đại giác, mật hạnh của Thánh hiền, thực tập pháp hành Tỳ Ni để đoạn hoặc, chứng chơn, tự tại trong ba cõi, thì thử hỏi lấy gì mà nương tựa? Bậc hành giả tham thiền muốn thể nhập Pháp thân, chóng thành Phật đạo, hàng phục ma oán, độ khắp loài hữu tình, thì nên cần ứng dụng pháp hành Tỳ ni này trong suốt quá trình hành đạo. Trân trọng! Trân trọng!



CHƯƠNG III

TỲ NI – CON ĐƯỜNG CHUYỂN HÓA NỘI TÂM

BÀI 1: TẢO GIÁC

(Sáng sớm thức dậy)

Tảo: là đầu của buổi sớm mai. Đây là tiêu biểu cho Phật trí, lúc Đức Phật tuyên thuyết về Kinh Pháp Hoa để khai thị cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật, từ giữa chặng mày Phật phóng ánh sáng về hướng Đông ngầm ám chỉ: muốn ngộ nhập tri kiến Phật thì “Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu” nghĩa là đất tâm nếu không thì mặt trời trí tuệ tự chiếu.

Giác: là chỉ cho sự chánh niệm tỉnh thức trong cuộc sống giữa đời thường này. Chánh niệm về ăn, Chánh niệm về uống, Chánh niệm ngay cả khi đi, đứng, nằm, ngồi …

Như vậy, một người mà khi ăn không biết mình đang ăn, khi uống không biết mình đang uống, khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi co, khi duỗi… thì người này không có mặt trong giờ phút thực tại, người này tuy là họ thức giấc, song họ vẫn là người ngủ mê mệt triền miên trong ba cõi.

Lại nữa Tảo giác còn gọi là Thỉ giác. Bởi vì Thỉ giác (do tu tập, dần dần đoạn phá vọng nhiễm từ vô thủy đến nay) có công năng khiến Bổn giác (căn bản trí, Tự Tánh Phật, Pháp Thân) hiện bày. Vì chúng sanh nhiều kiếp trôi lăn trong ba đường sáu nẻo, đều do không có trí quán chiếu của Thỉ giác. Do đó lúc sáng sớm thức dậy hành giả nên đọc thầm bài kệ để phân phát thân tâm:

Thùy miên thỉ ngộ

Đương nguyện chúng sanh

Nhất thiết trí giác

Châu cố thập phương.

Nghĩa:

Ngủ nghỉ mới dậy

Nguyện cho chúng sanh

Được nhất thiết trí

Thấy khắp mười phương.

Như chúng ta đều biết, người xuất gia và người tại gia khác nhau rất nhiều điểm. Thứ nhất là về mặt ngủ nghỉ. Chẳng hạn như người tại gia có thể ngủ 5-6 giờ sáng dậy, còn người xuất gia thì phải 3 giờ sáng là thức dậy để chuẩn bị tọa thiền. Vì sao? Vì Phật dạy ngủ nhiều là một pháp bất định; khiến cho tâm thức mờ tối, không thể tiến tới pháp lành, trầm luân trong ba cõi, không có kỳ hạn xuất ly. Do đó người hành giả tham thiền, phải luôn khắc kỷ chớ nên ngủ nhiều, mà sa đà trong chốn trầm luân khổ ải.

Sách Đại thừa quảng ngũ uẩn nói:

“Sao gọi là ngủ nghỉ? Nghĩa là hoạt động không được tự tại, bởi tánh của nó là mê mờ. Nghĩa là nó làm cho tâm, ý, thức hoạt động không được tự tại, bởi vì ngủ nghỉ là một phần của Si. Lại do tánh không được tự tại này mà làm cho tâm và tâm sở thành ra rất mê muội. Nếu ở trong ba tánh thiện, ác và vô ký, thì sự ngủ nghỉ này hay cùng với sự lỗi lầm tạo thành nghiệp”.

Trong Tăng chi bộ kinh, chương III, phẩm XI, kinh số 104, Đức Phật dạy:

“Này các Tỷ-kheo, hưởng thọ ba sự ở đời, không bao giờ thỏa mãn. Thế nào là ba?

Hưởng thọ ngủ nghỉ, này các Tỷ-kheo, không bao giờ thỏa mãn. Hưởng thọ rượu men rượu nấu, này các Tỷ-kheo, không bao giờ thỏa mãn. Hưởng thọ sự dâm dục giao hợp, này các Tỷ kheo, không bao giờ thỏa mãn”.

Ngủ nghỉ là nhu cầu chính đáng, nhưng Đức Phật nói, ngủ là điều không bao giờ thỏa mãn. Hơn nữa, không thể tích lũy giấc ngủ, nên “ngủ bù” chỉ mất thời gian và dung túng một thói quen không tốt mà thôi. Nếu cứ nuông chiều theo nhu cầu của cơ thể sinh học này thì cả đời chúng ta cứ mãi làm nô lệ cho những dục vọng thấp kém mà không thể hướng tâm đến cái gì khác cao đẹp hơn.

Thông thường con người cần ngủ 8 tiếng một ngày, như vậy một con người bình thường đã dành một phần ba cuộc đời để ngủ rồi! Đó là chưa kể 10 năm đầu đời còn nhỏ chưa biết làm gì và những năm cuối cuộc đời thì già và bệnh thống lĩnh, nên tự lo được cho bản thân đã là quý lắm rồi! Ấy vậy mà nhiều người vẫn chưa ý thức được thời gian ta đang có quý hiếm đến mức nào. Một khi dành quá nhiều thời gian cho sự ngủ nghỉ, con người trở nên thụ động vì trong thời gian chúng ta ngủ, hầu hết các cơ quan trong cơ thể trở về trạng thái nghỉ ngơi hoặc làm việc rất ít. Do đó, cứ cho phép mình ngủ nghỉ nhiều hơn hoạt động thì ngay cả khi thức, cơ thể ta trở nên trì trệ, chậm chạp, thiếu sinh khí, không nhạy bén, lười biếng và hôn muội. Nếu sa đà vào việc ngủ nghỉ thì không thể nào tận tâm tận lực vào công việc tu tập vốn là sự nghiệp của người xuất gia giải thoát.

Hậu quả của ham muốn ngủ nghỉ thật tệ hại. Đức Phật nhắc đến rất nhiều lần trong kinh rằng, ham muốn ngủ nghỉ là “một trong những điều khiến cho Tỳ-kheo hữu học thối tâm” (Tăng chi bộ kinh, chương V, phẩm VIII, kinh số 89), và là “triền phược làm ngăn trở sự thực hành Chánh pháp” (Tăng chi bộ kinh, chương V, phẩm XXI, kinh số 206). Tánh “ưa thích ngủ nghỉ đưa đến thối đọa” (Tăng chi bộ kinh, chương V, phẩm IX, kinh số 149); người xuất gia như thế là “Tỳ-kheo thối đọa” (Tăng chi bộ kinh, chương VI, phẩm III, kinh số 21). Đức Phật dạy “Người ưa thích ngủ nghỉ thì không thể nào sống trú thân trên thân” (Tăng chi bộ kinh, chương VI, phẩm XII, kinh số 117). Với người bình thường chỉ biết hưởng thụ dục lạc ở đời, đắm chìm trong ngủ nghỉ là nhu cầu rất bình thường. Thế nhưng, với người xuất gia, trọn đời dốc tâm tu học thì ngủ nghỉ quá mức cần thiết sẽ là một chướng ngại lớn làm trì trệ con đường chuyển hóa nội tâm.

Chính vì vậy, Đức Phật khuyến tấn chư đệ tử của Ngài, những người đang phấn đấu trên con đường hướng đến mục đích giải thoát sanh tử luân hồi rằng “Này các Tỳ-kheo, chỉ những vị Tỳ-kheo thao thức đến ly hệ phược, ban đêm ngủ ít thức nhiều” (Tăng chi bộ kinh, chương V, phẩm XIV, kinh số 137). Chỉ khi nào ta biết hướng đến mục đích cao thượng hơn, biết nhìn xa trông rộng để thấy rõ việc vượt thoát sự chi phối của sanh tử luân hồi là việc cần thiết và bức bách thì mới nỗ lực vượt qua sự cám dỗ của bản năng, không ham thích ngủ nghỉ để dành trọn cuộc đời mình cho việc hành trì pháp mà thôi.

Cũng trong Kinh Tương Ưng bộ, tập I, chương I, phẩm II, kinh số 6 thuật lại câu chuyện chư thiên nhắc nhở vị Tỳ kheo ham ngủ:

Một Tỳ-kheo cần nỗ lực tận dụng thời gian quý báu để thực hành pháp chứ không được phép tự ý ngủ phi thời. Có lần, một vị Tỳ-kheo ngủ ngày. Thấy vậy, một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, thương xót Tỳ-kheo ấy, muốn vị ấy được hạnh phúc, vị thiên ấy liền đi đến vị ấy, nói lời cảnh giác, rằng:

Tỳ-kheo, hãy thức dậy,

Sao Ông hãy còn nằm?

Ông được lợi ích gì,

Trong giấc ngủ của ông?

Kẻ bịnh, kẻ trúng tên,

Bị đánh sao ngủ được?

Vì lòng tin, xuất gia,

Bỏ nhà, sống không nhà,

Tín ấy cần phát triển,

Chớ để ngủ chinh phục.

Còn trong Tăng chi bộ kinh, chương VI, phẩm II, kinh số 17: Đức Phật nhấn mạnh Tỳ kheo trẻ tuổi cũng còn mê ngủ nghỉ, bởi:

Tuổi trẻ thì thật khó lòng cưỡng lại sự đam mê ngủ nghỉ. Vì lẽ đó, để ngủ nghỉ không làm chướng ngại con đường tu học của các đệ tử, Đức Phật thường sắp xếp các Tỳ-kheo trưởng lão đã thuần thục nếp sống của đạo, khéo điều phục các căn, sống chung trú xứ với các tân học Tỳ-kheo để nhắc nhở những người này; nếu không, họ sẽ “ngáy và ngủ cho đến trời sáng!” mà không thể tự giác thức dậy để thực hành pháp.

Trong Kinh Pháp Cú Thí Dụ ghi:

“Lúc Phật ở tịnh xá Kỳ Thọ nước Xá Vệ, bấy giờ có một thầy Tỳ kheo ăn no rồi vào nhà đóng cửa ngủ yên, tham ăn khoái lạc, sau bảy ngày sẽ mệnh chung, Đức Phật thương xót, sợ ông rơi vào nẻo ác nên đến nói kệ rằng:

Ôi chao! Sao ngủ được

Quên kiếp mối mọt ư

Sống tối tăm chẳng sạch

Mê hoặc lấy làm thân

Khác nào bị ung thư

Tâm như trẻ bệnh nặng

Gặp biết bao nguy nan

Thay vì ngủ ngon giấc

Suy ngẫm không buông lung

Vì nhân học người xưa

Từ đây không còn khổ

Thường nhớ diệt ý xằng

Chánh kiến sức học thêm

Ở đời sáng được thế

Phước đức tăng ngàn lần

Rốt không sa nẻo ác.

Phật dạy: – Ông có biết đời trước của ông như thế nào không?

Tỳ kheo bạch: – Bị năm uẩn che lấp con thật không tự biết.

Phật nói: – Xưa kia vào thời đức Phật Tỳ Bà Thi, ông đã từng xuất gia, chẳng nhớ giới kinh, ăn no lại ngủ, mệnh chung thần hồn sanh trong loài trùng rết, trải qua năm vạn năm, khi thọ mạng hết lại làm trùng ốc, trùng hến, mọt cây mỗi loài năm vạn năm. Bốn loài trùng này sanh trong chỗ tối, tham thân yêu mạng, thích ở chỗ tối kín làm nhà, chẳng ưa ngủ có chỗ sáng. Một khi ngủ 500 năm mới dậy, lưới tội triền miên, không cần xuất ly. Đời này tội hết được làm Sa môn, sao ngủ nghỉ như thế chẳng biết chán đủ?

Vị Tỳ kheo ấy nghe rồi hổ thẹn, sợ sệt tự trách, năm món che đậy liền trừ, thành bậc A la hán”.

Qua câu chuyện này cho chúng ta về bài học ngủ nghỉ, ngủ nhiều nếu không lo mài dùi giới Kinh và học tập Kinh điển… thì dễ sa đà trong chốn trầm luân khổ hải. Là người tu Phật phải phấn phát về điểm này! Nếu người ưa ngủ nghỉ thì trí huệ không tăng trưởng, mà ác pháp lại tăng trưởng. Do đó người xưa lúc ngồi thiền, nếu ma ngủ đến thường lấy dùi đâm vào chân cho tỉnh ngủ (Trong Thiền sư Trung Hoa có Thiền sư Từ Minh Sở Viên ở Thạch Sương tọa thiền suốt đêm ngoài trời lạnh. Vì muốn chống lại ma ngủ, Ngài đã lấy dùi đâm vào đùi). Ở trong đại chúng người nào chỉ lo ham ăn, ham ngủ thì người này đạo nghiệp mờ tối, lâu dần hắc nghiệp thì nhiều, mà bạch nghiệp lại mỏng dần.

Và hôn trầm (ngủ gục) cũng là một trong 5 chướng ngại cho hành giả tu thiền, nên Trong Kinh Tăng Chi Bộ, chương VII, Phẩm Không tuyên bố, Kinh số 58 – Ngủ gục, Đức Phật dạy cách chế ngự cơn buồn ngủ như sau:

Một lần nọ, khi Tôn giả Mục-kiền-liên đang hành thiền trong rừng bị dã dượi buồn ngủ xâm chiếm và chế ngự tâm. Tâm của Tôn giả Mục-kiền-liên lúc bấy giờ co cứng lại và ngưng trệ, bần thần, dã dượi, không tỉnh táo và tất nhiên, không thể nào tập trung vào đề mục thiền quán. Bằng thần thông, Đức Phật thấy rõ Tôn giả Mục-kiền-liên đang gặp chướng ngại và muốn hỗ trợ cho Tôn giả vượt qua cơn ngủ gục này. Ngài liền đến gần Tôn giả Mục-kiền-liên và hỏi: “Này Mục-kiền-liên, thầy đang dã dượi, đang buồn ngủ và ngủ gục phải không?” Rất chân thật, Tôn giả Mục-kiền-liên liền trả lời là đang ngủ gục. Nhân đây, Đức Phật dạy cho Tôn giả Mục-kiền-liên tám cách để chế ngự dã dượi, buồn ngủ theo mức độ tăng dần, nếu cách này không có hiệu quả thì sử dụng cách tiếp theo, cụ thể như sau:

  1. Không tác ý đến cơn buồn ngủ.
  2. Nhớ lại những đoạn kinh đã biết hay đã thuộc lòng trước đây.
  3. Đọc to một số đoạn kinh đã thuộc.
  4. Kéo tai, xát hai tay vào nhau, chà xát chân, tay.
  5. Đứng dậy, lấy nước rửa mặt, phóng tầm nhìn ra xa.
  6. Hướng về ánh sáng.
  7. Đi kinh hành trong chánh niệm.
  8. Ngủ một lát trong chánh niệm.

Thụy miên là hôn trầm, là lúc tâm không ngủ nhưng cũng không thức. Trạng thái dật dờ đó khó thể làm nên chuyện gì. Hôn trầm chỉ khác với cái ngủ là ta có thể dễ dàng ra khỏi nó hơn. Nhưng hôn trầm dầu không mê man như khi ngủ, nó vẫn đáo đi, đáo lại hoài. Tâm trạng này ở ngoài đời được coi là tâm không có phương hướng, từ đó nó dẫn đến thiếu nghị lực. Và nghị lực là một trong bảy yếu tố dẫn đến sự giác ngộ.

Đức Phật đã so sánh hôn trầm hay thuỵ miên giống như một nhà tù. Khi ta bị giam tù trong một căn phòng nhỏ thì ta khó có thể làm được gì. Tâm trí ta uể oải, ngầy ngật, giam hãm, tù túng, cho đến nỗi ta chỉ có đủ nghị lực để kéo lê một kiếp sống.

Vì vậy người tu tập đừng đầu hàng với sự buồn ngủ mà phải luôn tỉnh thức và chánh niệm, bởi vì cơn buồn ngủ và sự tập trung khi thiền là hai trạng thái hoàn toàn trái ngược nhau. Chúng ta chẳng bao giờ đạt được trí tuệ khi ngủ, chỉ có chánh niệm tỉnh giác khi thiền mới mang lại trí tuệ siêu việt. Cho nên trong nhà Thiền có câu:

“Tỉnh tỉnh – Lặng lặng: PHẢI, tỉnh tỉnh mà loạn tưởng là SAI;

Lặng lặng – Tỉnh tỉnh: PHẢI, lặng lặng mà hôn trầm là SAI”.

Thiền Sư Trung Phong nói:

“Người xưa dụng công hễ thấy mặt trời lặn sau núi thì sanh lòng than tiếc lại qua mất một ngày, đạo nghiệp chưa xong, nhãn quang lạc địa (ý nói là chết) rốt cuộc lấy gì báo đáp ân Phật Tổ, Đàn việt. Đợi chỉ đến lúc tay chân rối loạn, ngay hôm nay lúc bệnh chưa đến thân hãy sớm tìm cái lộn ngược (ngộ) đi”.

Nên trong Kinh Di Giáo, Phật dạy:

“Các thầy Tỳ kheo! Ban ngày thì siêng năng tu tập thiện pháp, không để thời giờ qua suông, đầu đêm cuối đêm cũng chớ phí bỏ, nửa đêm tụng Kinh để tự tiêu diệt và đình chỉ nghiệp chướng, đừng vì lý do ngủ nghỉ mà để một đời luống qua không được một chút lợi ích. Nên nhớ ngọn lửa vô thường thiêu đốt thế gian mà sớm tự độ, đừng ham ngủ nghỉ, giặc phiền não thường hay rình giết người, dữ hơn kẻ thù, sao có thể ngủ nghỉ mà không tự giác? Rắn độc phiền não ngủ trong tâm ví như rắn hổ mang màu đen ngủ trong nhà. Các thầy nên dùng móc sắc giữ giới mà sớm móc kéo nó ra, rắn ngủ ra rồi mới có thể yên ngủ, không ra mà ngủ là người không biết hổ thẹn”.

Đoạn văn kinh này cho chúng ta thấy rõ, chư Phật và chư Tổ đều răn nhắc cho chúng ta, đừng tham tiếc ngủ nghỉ khi đạo nghiệp chưa thành tựu. Vì ngủ nghỉ là tăng trưởng hạt giống ác pháp, mà hạt giống thiện pháp lại mỏng dần; có những người ưa ham ngủ nghỉ nên không làm chủ được các vọng niệm, dễ bị vọng niệm chi phối, nên ý nghĩ về dục, thân làm điều ác, miệng nói lời ác, đều do ưa ham thích ngủ nghỉ mà sanh ra. Vì thế, đức Phật thương xót cho các loài hữu tình thị hiện ra trong năm đường ác đạo, khuyên nhắc và sách tấn chúng sanh tu tròn đạo nghiệp. Song muốn thể nhập giác trí tròn đầy của chư Phật, thì phải siêng năng tinh tấn trau dồi giới pháp, để chuyển hóa tham, sân, si thành giới, định, tuệ.

Nên Kinh Phát Giác Tịnh Tâm nói:

Bồ Tát nên quán 20 loại hoạn thùy miên (ngủ nghỉ). Thế nào là 20:

  1. Vui ngủ nghỉ là đang có sự lười biếng.
  2. Thân thể nặng nề.
  3. Da dẻ bất tịnh.
  4. Da dẻ khô rít.
  5. Rất nhiều ô uế, oai đức thiếu mỏng.
  6. Ăn uống không tiêu.
  7. Thân thể sanh ghẻ phỏng.
  8. Có nhiều lười biếng.
  9. Tăng trưởng lưới nghi.
  10. Trí huệ gầy yếu.
  11. Sanh nhiều mệt mỏi.
  12. Đang đi đến chỗ tối tăm.
  13. Người chẳng cung kính.
  14. Bẩm chất ngu si.
  15. Nhiều phiền não, tâm hướng theo các sai sử.
  16. Ở trong pháp lành mà không sanh lòng ham muốn.
  17. Tất cả pháp lành hay khiến giảm thiểu.
  18. Thường làm việc trong sự kinh sợ.
  19. Thấy người tinh tấn lại hủy nhục họ.
  20. Đến với Đại thừa bị người khinh rẻ.

Như vậy, ngủ nghỉ nhiều là một sự tác hại lớn đến con đường tự giác, giác tha, nên trong bài 1 Pháp hành Tỳ Ni, Tổ dạy là:

Ngủ nghỉ thức dậy

Nguyện cho chúng sanh

Được nhất thiết trí

Thấy khắp mười phương.

Đây là tiêu biểu hành giả phải luôn luôn chánh niệm trong giờ phút thực tại, vì thức dậy là ngầm nói lên các tập khí phiền não không còn ngủ ngầm trong tâm thức của hành giả nữa. Từ đây với con mắt Bát nhã hành giả có thể soi khắp hết mười phương, mà không bị các cảnh làm mê hoặc nữa. Thấy cái gì mà không bị ngoại cảnh làm mê hoặc?

Ta hãy nghe trong bài Chứng Đạo Ca, Thiền sư Huyền Giác nói:

Muôn vật vô thường thảy thảy không

Đấy chính Như Lai thật Viên giác.

Thấy muôn hình vạn tượng đều là vô thường, cái thấy này chính là tri kiến Phật ấy! Bởi chúng sanh lầm chấp các pháp thường còn, nên được thì vui, mất thì buồn. Song bản thân của muôn pháp thì tùy duyên sanh khởi, người nào thấy tột được bản chất của muôn pháp, thì người ấy là đã thức dậy, không còn ngủ ngầm triền miên trong vô lượng kiếp luân hồi nữa nên nói:

Được nhất thiết trí

Thấy khắp mười phương.

Nhất thiết trí tiếng Phạn gọi là Tát-bà-nhã-na là tên trí của Phật, một trong ba trí:

  1. Nhất thiết trí (là trí của Thanh văn, Duyên giác).
  2. Đạo chủng trí (là trí của Bồ tát).
  3. Nhất thiết chủng trí. (là trí của Phật – trí này liễu tri tất cả các pháp, nên gọi là nhứt thiết chủng trí)

Kinh Nhân Vương nói:

Đầy đủ cõi vô lậu, thường tịnh hóa thân giải thoát, vắng lặng chẳng nghĩ bàn gọi là Nhất thiết trí.

Nên Luận Đại Trí Độ nói:

  1. Nhất thiết trí là trí của Thanh văn, Duyên Giác, biết tổng tướng của tất cả pháp.
  2. Đạo chủng trí là trí của Bồ Tát biết hết thảy đạo pháp sai biệt
  3. Nhất thiết chủng trí là Phật trí thông đạt tất cả pháp của tổng tướng là biệt tướng.

Tóm lại, người xuất gia muốn được giác ngộ giải thoát thì không thể nào giải đãi, xao lãng thờ ơ trong việc tu học nhất là không nên để thời gian ngủ nghỉ quá nhiều làm chướng ngại cho quá trình phát triển tuệ giác của tự thân. Bởi ham ngủ nghỉ là một biểu hiện của sự lười biếng, mà lười biếng thì đồng nghĩa với sự nghiệp trí huệ giải thoát khó thành tựu.



BÀI 2: MINH CHUNG

(Thỉnh chuông)

Bài này nói về sự vi diệu của tiếng chuông, mà sự vi diệu này là do tác động của hành giả. Khi một người có chánh niệm trong lúc thỉnh chuông thì mới có diệu lực đưa chúng sanh từ bờ mê sang bờ giác bằng âm hưởng tiếng chuông.

Có 3 loại chuông thường được dùng trong các tự viện là Đại hồng chung, Báo chúng chung và Gia trì chung.

Đại Hồng Chung là loại chuông lớn hay còn gọi là chuông U minh, chuông này thường được đánh vào những lúc đầu hôm (5 hoặc 6 giờ chiều) và canh khuya (4 giờ sáng). Thỉnh chuông vào lúc đầu hôm là để thức tỉnh và nhắc nhở mọi người rằng vô thường mau chóng, chẳng hẹn một ai, khi hơi thở ra, mà không quay về lại được là qua đời khác. Ở các Thiền Viện thường có thời hô trống với bài kệ nhắc nhở hành giả sau một ngày đã qua:

Ngày nay đã qua,

Mạng sống giảm dần

Như cá cạn nước

Có gì là vui

Đại chúng phải siêng tinh tấn

Cứu lửa cháy đầu

Chỉ nhớ vô thường

Chớ có buông lung.

Còn đánh vào lúc canh khuya, gần sáng là để sách tấn mọi người mau mau tu tập, đoạn trừ mọi phiền não cấu uế của tự tâm, gạn lọc tham, sân, si là những thứ gây ra tội lỗi, trói buộc trong vòng sinh tử luân hồi.

Bảo chúng chung hay còn gọi là Tăng đường chung, tức là loại chuông này dùng để báo tin trong lúc nhóm họp Đại chúng, thọ trai hoặc khi lên khóa lễ hay kiền chùy v.v… trong các chùa am và tự viện thường dùng đến.

Gia trì chung là loại chuông dùng để đánh trong trường hợp đầu bài hoặc cuối bài những câu kinh hay câu sám, hoặc cũng có lúc xuống dòng của đoạn hay của câu, và còn ra hiệu cho biết khi bắt đầu hoặc chấm dứt buổi lễ. Đồng thời cũng là để điều hoà cho người tụng kinh, lễ Phật được nhịp nhàng đều đặn, hướng người tụng vào một con đường duy nhất là Chí Tâm, còn gọi là chuông gia trì, thường để phía trước bàn Phật.

Ngoài ra trong đạo Phật có rất nhiều pháp khí như: Trống, bảng, khánh, tràng hạt, bình bát, cà sa, tích trượng v.v… mỗi thứ đều có một công dụng và ý nghĩa khác nhau. Có thứ dùng để làm hiệu lệnh quy củ trong tùng lâm, hoặc để dùng vào việc nghi lễ bái sám như chuông, trống, bảng, khánh…, có thứ để dùng làm phương tiện tu niệm hoặc để tiêu biểu ý nghĩa giáo pháp như tràng hạt, bình bát, cà sa, tích trượng v.v…

Nhưng chung quy tất cả các pháp khí trong đạo Phật đều nhằm làm phương tiện biểu dương ý nghĩa thâm sâu của chánh pháp, và giúp cho người tu hành có thêm sức Chánh niệm để tỉnh thức tiến tu. Hay nói khác hơn, đối với pháp khí Chuông – nó có công năng đưa hành giả trở về với thực tại bởi khi nghe chuông:

  • Nhắc chúng ta nhớ cái việc chúng ta đang làm.
  • Nhìn thấy tất cả mọi sự vật hiện tượng đúng như chúng là.
  • Nhận thức rõ bản chất sâu xa của mọi hiện tượng.

Nên câu chuyện Thiền Thoại ghi:

Tại Nhật bản có một tu viện lớn. Người đứng đầu trong viện là một bậc tông tượng trong thiền môn, tên của Ngài là: “Dịch Thượng”. Thông thường sáng sớm trong tu viện thường có một chú tiểu thỉnh chuông. Song sáng hôm nay lại khác hẳn vì tiếng chuông trầm bổng, âm hưởng lạ lùng. Sáng mai Hòa thượng đàn đầu cho mời chú tiểu nào thỉnh chuông đầu đêm. Vị thầy Quản chúng cho mời chú tiểu Xâm Điền Ngộ Do lên gặp Hòa thượng. Hòa thượng hỏi:

Trong lúc con đánh chuông con thực tập thế nào?

Ngài nói: Con nghĩ chuông là pháp khí của Phật, là hạnh nguyện chư Như Lai, nên lúc thỉnh chuông con để hết tâm tư thành kính hiến mình cho mười phương chư Phật…

Nghe xong Hòa Thượng dạy: Con cứ thực hành phương pháp này trong lúc thỉnh chuông.

Về sau quả nhiên Ngài Xâm Điền Ngộ Do trở thành bậc Cao tăng thạc đức kế truyền tông phong của dòng thiền Lâm Tế tại thiền viện này.

Như vậy, muốn được tiếng chuông phát ra âm thanh vi diệu, thức tỉnh mọi người, thì hành giả trong lúc thỉnh chuông phải có bi nguyện và hạnh nguyện lớn. Do đó người xưa làm việc gì đều chánh niệm tỉnh thức trong giờ phút thực tại, quán niệm về hạnh nguyện độ tha của chư Phật và Bồ Tát, nên âm hưởng của tiếng chuông mới có năng lực thức tỉnh người sống cũng như người đã quá vãng. Thật vậy! Có những người kể lại họ chuẩn bị nghĩ điều ác, thân chuẩn bị tạo ác, nhưng khi nghe tiếng chuông tâm họ tự lắng lại. Và trong giờ phút thực tại này, nếu người nào quá khứ đã tích tụ hạt giống thiện pháp, thì do nhân duyên nghe tiếng chuông mà bừng tỉnh.

Như Hòa thượng Trúc Lâm kể:

Năm 9 tuổi lên chùa Sơn Tiên, núi Ba Thê ở Long Xuyên để cúng tuần thất cho người bác chợt nghe tiếng chuông, Ngài bừng tỉnh và ngẫu hứng làm bài kệ:

Non đảnh là nơi thú lắm ai!

Đó cảnh nhàn du của khách tài

Tiếng mõ công phu người tỉnh giấc

Chuông hồi văng vẳng quá bi ai.

Rõ ràng khi được nghe tiếng chuông chùa hòa quyện trong đêm thanh vắng đã khơi dậy túc duyên tu tập nhiều đời của Hòa Thượng – một cảm nhận sự thanh thoát mà u tịch trong niềm xao xuyến bồi hồi khó tả.

Nên Thanh quy của Ngài Bá Trượng nói:

“Chuông lớn là pháp khí làm hiệu lệnh của tòng lâm. Buổi sáng đánh thì phá tan đêm dài, cảnh giác ngủ nghỉ, buổi chiều đánh thì tỉnh thức đường mê, khai thông hôn muội …”

Vì vậy, hành giả trước tiên thỉnh chuông, phải chánh niệm tưởng Phật và chư Bồ Tát hiện tiền phải chí tâm thầm tưởng bài kệ:

Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới

Thiết vi u ám tất giai văn

Văn trần thanh tịnh chứng viên thông

Nhất thiết chúng sanh thành chánh giác.

Nghĩa:

Nguyện tiếng chuông này khắp pháp giới

Thiết vi u ám thảy đều nghe

Căn trần thanh tịnh chứng viên thông

Tất cả chúng sanh thành chánh giác.

Đây là bài kệ Tỳ Ni thứ hai nói về năng lực của tiếng chuông. Bài này nói lên sự tác động mầu nhiệm của tiếng chuông, khi một hành giả trong lúc thỉnh chuông có bi nguyện và hạnh nguyện lớn, nên tiếng chuông mới có sự mầu nhiệm và uy vũ như thế!

Thật vậy! Khi chúng ta ném một viên sỏi vào dòng sông, thì gợn sóng nó lan mãi lan mãi khi đến bờ gợn sóng mới chịu dừng hẳn. Cũng vậy, một tiếng chuông, một tiếng nói hay một tiếng vang phát ra đều có sức tác động lớn, vì quanh ta có một biển sóng năng lượng dạt dào.

Ví như điện từ xung quanh ta, mà mắt ta không nhìn thấy, song chúng ta bấm đúng số điện thoại thì đầu dây bên kia lập tức reo vang. Cũng như thế, có những người thỉnh chuông thì cõi dương và cõi âm đều thức tỉnh… Vì sao? Vì người này có tâm lực lớn, có bi nguyện lớn, có đại nguyện và hạnh nguyện lớn… Và vị này luôn luôn an trú trong sự chánh niệm và chánh giác.

Do đó, hành giả khi thỉnh chuông đều phải xá một cái trước đại hồng chung để chúng ta mời gọi sự chánh niệm có mặt, nên gọi là thỉnh chuông vậy.

Như trong sách Hành Sự Sao Tư Trì Ký nói:

Luật sư Trí Hưng, lúc đầu theo hội giảng của Thủ Sư. Vào tháng ١١ năm thứ Năm niên hiệu Đại Nghiệp, kế giữ chức Duy na, lúc đến chuông phụng hành công việc siêng năng gấp đôi. Vị tăng trong chùa có một người anh từ Đế Nam đến Giang Tô giữa đường bệnh chết. Lúc đầu không biết kiết hung, bỗng báo động cho vợ rằng: “Tôi bất hạnh bệnh chết, sinh ở địa ngục, chịu khổ khổng thể nói! Mồng một tháng này nhờ Trí Hưng chùa Thiền Định thỉnh chuông, âm thanh vang đến địa ngục, những người đồng chịu khổ với tôi, được giải thoát cùng một lúc. Nay sanh chỗ an vui. Để báo ân, nên sắm đủ mười cây lụa phụng cúng và trình bày ý nghĩ của tôi”. Người vợ thức dậy, nói với người nhà, lúc đầu không ai tin, rồi lại mộng như trước. Sau một tuần, hung tin chợt đến vừa đồng với mộng; bèn đem lụa phụng cúng cho Ngài Trí Hưng đem phát đều cho đại chúng. Có người hỏi nguyên do, Hưng bảo: “Tôi không có thuật chi khác, nhân thấy công đức tiếng chuông trong sách phó pháp tạng truyện và Kinh A Hàm mà khổ cực hành trì kính tuân theo đó. Mỗi khi đến đêm mùa đông lên lầu, gió lạnh cắt thịt. Có vị Tăng cho ống tay áo bằng da, nhưng tôi tự ý cố gắng để lộ tay ra mà cầm dùi chuông trong tay máu ngưng chảy, vẫn không vì thế mà thối thất. Lại đầu tiên nguyện chư Hiền Thánh đồng nhập đạo tràng, kế nguyện những người ở trong đường ác đều lìa khổ não… Chúng nghe rất phục lời ấy.

Như vậy chúng ta thấy rõ một người mà có bi nguyện lớn ấy, thì làm sao mà không thấu thoát pháp giới được! Ví như một người con chí hiếu đi xa, người mẹ ở nhà mong mỏi, bèn cắn đầu ngón tay, người con trong dạ liền cảm thấy nôn nao liền trở về. Đây là lẽ thật vậy!

Như trong Thiền Thoại ghi:

Tướng quân Tào Hàn đời Tống dẫn quân đi qua chùa Viên Thông. Chúng Tăng trong chùa vốn biết quân đội của Tào Hàn kỷ luật không tốt, họ sợ hãi trốn khỏi chùa, chỉ có thiền sư Duy Đức trụ trì chùa ở lại một mình, thiền sư tĩnh tọa ở pháp đường.

Tào Hàn hỏi:

– Sao ông chẳng thèm chào hỏi một tiếng? Lẽ nào ông không biết đứng trước mặt ông là một tướng quân giết người không chớp mắt sao?

Thiền sư Duyên Đức nghe vậy mở mắt nhìn, chậm rãi đáp:

– Một quân nhân đứng trước Phật gào thét hống hách, vô lễ như vậy, lẽ nào người không sợ nhân duyên báo ứng sao?

Tào Hàn càng lớn tiếng:

– Cái gì mà nhân duyên báo ứng với không báo ứng, lẽ nào ông không sợ chết sao?

Thiền sư Duyên Đức cũng cất cao giọng:

– Lẽ nào ngươi không biết ngồi trước mặt người là một Thiền tăng không sợ chết?

Tào Hàn kinh ngạc trước sự can đảm của thiền sư, hỏi:

– Ngôi chùa lớn như thế mà chỉ còn lại một mình ông, những người khác đâu?

Thiền sư Duyên Đức đáp:

– Chỉ cần đánh chuông một tiếng, họ sẽ nghe và trở về.

Tào Hàn ra sức đánh chuông, đánh một hồi lâu vẫn không thấy ai xuất hiện, ông nói:

– Đã đánh chuông rồi, sao không thấy ai trở về?

Thiền sư Duyên Đức đáp:

– Vì khi ngươi đánh chuông, sát khí quá nặng, xin hãy độc câu “Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” sau đó hãy đánh chuông.

Tào Hàn làm theo, niệm Phật đánh chuông, đánh chuông niệm Phật, không lâu sau Tăng chúng đều trở về đầy đủ.

Như vậy, khi thỉnh chuông ta phải có chánh niệm tỉnh giác, thì mới ứng tác ra cơ cảm trùm pháp giới, do đó người hành giả khi đi, đứng… đều thấu thoát tiếng chuông để hòa nhập vào cảnh giới:

Căn trần thanh tịnh chứng viên thông

Tất cả chúng sanh thành chánh giác.

Trong Kinh, Đức Phật dạy:

Tất cả chúng sanh đều có đầy đủ đức tướng trí huệ Như Lai không khác. Song họ không bao giờ nhận chân ra được cái vĩnh cửu vô giá ấy! Vì sao? Vì khi căn tiếp xúc với trần họ sanh ra đủ thứ nào là: thương ghét, tật đố, ích kỷ, hơn thua… nên không bao giờ nhận ra được cái phi thời gian ấy. Do đó cổ Đức nói: “Trọn ngày Viên Giác mà chưa từng Viên Giác đó là phàm phu…” Như vậy, ai ai cũng có tánh Phật mà không sống được với tánh Phật, nên Phật mới nói thật là đáng thương! Vậy thì thế nào để chúng ta sống trong cuộc đời này, mà sống được từng phần trong tế bào tri kiến Phật? Có phương pháp nào không?

Ta hãy nghe Quốc Sư Huệ Trung dạy:

Tăng hỏi: – Thế nào là giải thoát?

Sư đáp: – Các pháp không đến nhau, ngay đó là giải thoát!

– Làm sao đoạn được?

– Đã nói với ông các pháp không đến nhau đoạn cái gì?

Căn cứ tiếp xúc với trần mà thấu thoát được thì ngay đây chính là giải thoát, là Niết bàn, là Phật địa… Ở đây Quốc sư dạy rất rõ các pháp không đến nhau ngay đây là giải thoát, bởi vì ta hay dùng thức tâm xen vào phân biệt nên sanh ra đủ thứ tưởng tượng. Song nhìn cho thật kỹ, những vọng niệm này chúng không có thực thể, nên ngài nói đoạn cái gì? Đây là chỗ bí yếu công phu biết vọng vậy!

Như vậy, chúng ta thấy khổ là do ai đem đến? Không do một đấng thần linh nào cả mà đều do tự thân của ta tưởng tượng mà sanh khởi. Song là người tu Phật, ta phải biết rõ đầu mối nơi nào phát xuất ra nguồn cội đau thương đó! Như chúng ta thấy rõ niềm vui hay nỗi buồn đều do lỗ tai đem đến, chẳng hạn như ta hay tin người khác chê mình, chỉ nghe thôi, chưa thấy tận mắt, mà đã có nỗi buồn xâm chiếm… Song hay một điều: “Chỉ khen một câu từ em bé cho đến cụ già, đều có nềm vui như nhau, chê một câu từ em bé cho đến cụ già đều có nỗi buồn như nhau”. Song bản chất của vọng niệm này là chợt sanh, chợt diệt mà tánh nghe thì luôn luôn hằng hữu, có tiếng không tiếng đều do thinh trần, còn tánh nghe thì bất diệt. Nên nói: Căn trần thanh tịnh chứng viên thông.

Nghe làm sao mà để căn và trần dung nhiếp với nhau? Nghe và không nghe tự sanh diệt. Tánh nghe luôn luôn hằng hữu.

Nên Bồ Tát Quán Âm nói:

“Thử phương chân giáo thể, thanh tịnh tại âm văn” là vậy!

Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên ghi:

Thiền sư Vô Trụ ở chùa Bảo Đường Ích Châu, sư chuyên ngồi lặng lẽ. Tướng quốc Đỗ Hồng Tiệm thường cùng sư luận đạo. Một hôm, con quạ đậu trên cây trước sân kêu. Tướng Công hỏi: – Thầy có nghe chăng?

Sư đáp: – Nghe!

Quạ bay đi, Công lại hỏi: -Thầy có nghe chăng?

Sư cũng đáp: – Nghe!

Tướng Công hỏi: – Quạ bay đi không tiếng tại sao thầy nói nghe?

Sư gọi đại chúng bảo: – Phật ra đời khó gặp, chánh pháp khó nghe, các ông lắng nghe cho kỹ! Có tiếng chẳng liên hệ đến tánh nghe. Tánh nghe xưa nay chẳng sanh, đâu từng có diệt! Khi có tiếng, thinh trần tự sanh, khi không tiếng thinh trần tự diệt, nhưng tánh nghe này chẳng nhân nơi tiếng mà có sanh, có diệt. Tánh nghe vốn không sanh diệt đến đi.

Kinh Lăng Nghiêm nói:

Từ nghe rồi suy nghĩ và tu mà được vào chánh định. Khi mới nghe không chạy theo tiếng nghe mà vào dòng chơn tánh, vì chỗ vào đã yên lặng, nên hai tướng động tịnh hẳn nhiên không sinh. Như thế dần dần tăng tiến đến cái nghe và chỗ bị nghe đều hết, cũng không trụ ở chỗ hết nghe. Cái biết và chỗ bị biết cũng không còn; biết và bị biết đều không, đến chỗ cùng tột viên mãn. Song hãy còn cái không, nên không và bị không đều diệt hết. Khi sanh và diệt đã diệt thì chơn tâm tịch diệt hiện tiền, hốt nhiên ra khỏi thế gian và xuất thế gian, chơn tâm sáng suốt thanh tịnh khắp cả muôn phương và được hai điều thù thắng.

  1. Hiệp với đức “Từ độ sanh” của chư Phật.
  2. Hiệp với lòng “Bi ngưỡng mộ” của tất cả chúng sanh. Và được các môn diệu dụng hiện ra 32 ứng thân để hóa độ tất cả chúng sanh.

Nói chung bài kệ Tỳ Ni này nói về tánh nghe… Một khi hành giả lắng tâm nghe tiếng chuông, mà trong tâm mình vắng lặng yên ổn, thì lúc ấy tâm ta là gì? Bởi vậy trong hội Kinh Lăng Nghiêm, Phật cốt chỉ bày cho hội chúng biết mọi người đều có tánh tri kiến như thật. Tánh tri kiến như thật này phát ra nơi sáu căn, nên nói: “Nhất tinh minh sanh lục hòa hợp”.

Song chúng sanh bỏ mất tánh tri kiến như thật này, mà đuổi theo sáu căn, phân biệt sáu trần, nên mãi trầm luân trong biển khổ sanh tử. Muốn nhận chân ra được tánh tri kiến này, phải nương cái sáng từ sáu căn phát ra mà trở về nguồn cội. Đây là tinh yếu, là con mắt của hằng hà sa số chư Phật vậy!

Do đó chư Phật ở mười phương, nhiều như số vi trần khác miệng đồng lời, bảo tôn giả A Nan! Ông muốn biết câu sanh vô minh, cái gốc khiến ông luân hồi sanh tử chỉ là sáu căn của ông, không có gì khác. Ông muốn biết Vô thượng Bồ đề, khiến ông chứng an lạc giải thoát, tịch tịnh diệu thường, cũng chính là sáu căn, không có vật gì khác. Sáu căn là cội gốc luân hồi, sáu căn cũng là cội gốc an lạc giải thoát. Nguyên nhân nào mà đưa chúng sanh trầm luân, và nguyên nhân nào đưa chúng sanh đến: “Căn trần thanh tịnh chứng viên thông?”

Kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy:

“Tri kiến lập tri tức vô minh bổn, tri kiến vô kiến tư tức Niết Bàn”. (Trong cái thấy biết chạy theo phân biệt là gốc vô minh, trong cái thấy biết không phân biệt là Niết Bàn). Đây là con đường trở về tánh giác. Tuy là sáu căn đều quy về chỗ Phật địa, song ở đây đặt nặng tánh nghe nhiều hơn. Cho nên trong 25 vị Thánh tu chứng, Phật bảo Ngài Văn Thù chọn lựa: “Đại chúng và A Nan! Dạy các ông xoay cơ quan nghe, trở lại nghe cái tánh nghe, là thành đạo Vô thượng. Viên thông thật như thế đây là con đường vào cửa Niết Bàn, là lối tắt trải qua hằng hà sa kiếp sanh tử… Chư Phật đời quá khứ, hiện tại, vị lai cũng từ cửa này mà thành tựu. Chư Bồ tát, chư Tổ sư, các Ngài cũng đều từ cửa này mà vào”.

Ta hãy nghe sự dạy bảo của các Thiền sư:

“Có vị Tăng đến hỏi thiền sư Quy Tĩnh, nhờ giải nghi về việc: vị Tăng hỏi Ngài Triệu Châu “Thế nào là ý Tổ Sư từ Ấn độ sang?”, Triệu Châu đáp: “Cây bá trước sân”.

Thiền sư Quy Tĩnh bảo: – Tôi nói với ông, ông có tin chăng?

Thiền khách thưa: – Lời của Hòa thượng là quý trọng, con đâu dám chẳng tin.

Quy Tĩnh nói: – Ông nghe giọt mưa rơi dưới thềm nhà chăng?

Thiền khách bỗng nhiên khai ngộ, bất giác la: – Chao!

Quy Tĩnh hỏi: – Ông thấy đạo lý gì?

Thiền khách nói kệ:

Thềm đầu thủy đích

Phân minh lịch lịch

Đả phá càn khôn

Đương hạ tâm tức.

Nghĩa:

Giọt mưa mé thềm

Rõ ràng từng giọt

Đập nát càn khôn

Liền đó tâm dứt.

Nói chung lối tu “Phản văn văn tự tánh”, đa phần có những người hiểu sai lầm, tu hành không tăng tiến, lại có lúc thành bệnh nói nhảm. Vì sao? Vì ta cứ ngỡ rằng xoay cái nghe trở lại tánh nghe của mình, rồi họ ngồi yên nghe trở lại trong lỗ tai, lâu ngày giống như có người nói chuyện với mình. Đây là ma cảnh chứ không phải là Phật, Bồ tát nói chuyện! Là người tu Phật chân chánh hãy chiêm nghiệm kỹ về điểm này. Còn chữ “phản” ở đây có nghĩa là xoay ngược lại, thay vì từ khi còn nhỏ tới lớn, chúng ta luôn buông xuôi theo dục tình chạy theo âm thanh sắc tướng, có tiếng cho là có nghe, quên mất tánh nghe thường còn của mình. Ngay đây, mỗi khi nghe âm thanh nào là: chim kêu, dế gáy, gió thổi, chuông vang… ta rõ biết mình có tánh nghe, bao nhiêu âm thanh liên tục bên tai, ta không chạy theo âm thanh ấy, chỉ nhớ mình có tánh nghe, nghe tất cả. Nhớ tánh nghe thì quên thinh trần, tánh nghe thì thường hằng bất diệt, còn thinh trần vì động tịnh nên đến đi sanh diệt. Hằng sống với tánh nghe là sống với tánh giác của mình, nên gọi là con đường vào cửa Niết Bàn vậy! Nên nói:

Chuông ngân giữa trời không

Tiếng sáo tre gợi nhớ

Đưa hồn về nguyên sơ.

(Nhà thơ Nhật Bản)



BÀI 3: VĂN CHUNG

(Nghe chuông)

Văn chung thinh, phiền não khinh

Trí huệ trưởng, Bồ đề sinh

Lìa địa ngục, xuất hỏa khanh

Nguyện thành Phật, độ chúng sanh.

Nghĩa:

Nghe tiếng chuông phiền não nhẹ

Trí huệ lớn, Bồ đề sanh

Lìa địa ngục, thoát vô minh

Nguyện thành Phật, độ chúng sanh.

Đây là bài kệ thứ ba trong phần Tỳ Ni, ở đây Tổ dạy chúng ta lắng tâm để nghe tiếng chuông cho phiền não vơi bớt, và trí huệ tăng trưởng. Theo truyền thống, ở các tự viện Việt Nam buổi chiều khoảng 6 giờ chúng ta thường dùng tiếng chuông để nhắc nhở mọi người trở về với giây phút thực tại. Mỗi khi nghe tiếng chuông chùa ngân vang, chúng ta muốn nhẹ bớt những cái ưu tư khắc khoải trong cuộc sống giữa đời thường này, chúng ta phải tập cách lắng nghe, lắng nghe với nỗi niềm thao thức trong giờ phút thực tại, thì ta mới khám phá ra được ta là cái gì? Sở dĩ chúng ta luôn luôn phiền não những chuyện lặt vặt trong gia đình và xã hội vì ta chưa tập phương pháp lắng nghe!

Có những người tâm sự rằng: Ở thành phố có những nơi không có tiếng chuông chùa thì nghe cái gì? Từ khi chúng tôi đi sang Canada làm Phật sự, ở đây ít khi nghe được tiếng chuông chùa, mà chỉ có nghe tiếng chuông nhà thờ ngân vang. Khi đó, chúng ta đừng phân biệt đây không phải là tiếng chuông tỉnh thức. Vì vậy khi chúng ta nghe tiếng chuông reo của chiếc đồng hồ chúng ta cũng phải thực tập lắng nghe. Giả như trong lúc chúng ta đang giận nhau, đang cãi nhau ta cũng phải cố gắng buông xả để thực tập tiếng chuông tỉnh thức ấy!

Bởi vậy, phương pháp lắng nghe là một bí yếu để chúng ta nhập đạo, nó có khả năng chuyển hóa từ tham, sân, si thành giới, định, tuệ. Nếu chúng ta biết thực tập phương pháp lắng nghe, thì ta có thể hiểu và thương những người xung quanh ta. Bồ tát Quan Thế Âm là vị Bồ tát luôn luôn lắng nghe: nghe đến cái tận cùng sâu thẳm trong nổi khổ của chúng sanh mới gọi là tầm thanh cứu khổ. Học phương pháp lắng nghe là chúng ta đang đi trên con đường, hạnh nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm, ngược lại không áp dụng học phương pháp lắng nghe của Ngài, nên ta khổ vẫn hoàn khổ, đau thương vẫn là đau thương.

Phương pháp thực tập lắng nghe, chính là nghe lại nỗi niềm thao thức của tâm hồn chúng ta vậy! Một người mà hiểu được mình, chính là người đó thông cảm được với người khác. Do đó chúng ta phải thực tập hạnh lắng nghe của Ngài để làm vơi bớt những nỗi khổ của người khác. Chỉ cần lắng nghe thôi thì chúng ta đã cứu khổ rất nhiều người. Từ khi sang phương Tây làm Phật sự, chúng tôi mới thật sự thấy rõ, phương pháp lắng nghe là tối hệ trọng. Có những người, họ khổ vì chồng, vì con, xã hội v.v… họ định quyên sinh cuộc đời của họ, song họ tìm đến mình tâm sự hết những nỗi khổ buồn vui trong cuộc đời, thì họ lại vui lên và tìm ra con đường của chân hạnh phúc.

Như vậy, con đường của sự lắng nghe này, là con đường để thể nhập chân lý giác ngộ. Nương nơi lắng nghe trở về tự tánh là yếu chỉ của Kinh Lăng Nghiêm, đồng thời cũng là con đường cực tắt để siêu việt quả Vô thượng Bồ đề. Chơn tánh là thể của tâm, vốn không sanh không diệt, cũng ngay tại đây cái nghe và cái bị nghe đều tiêu dung trong tự tánh Bát nhã. Chính trong cái khoảnh khắc thực tại này, phiền não tức khắc rơi rụng, tuệ giác hiện bày, thực tại liền hiển lộ.

Do đó trên từ chư Phật, dưới đến các hàng Tông Sư đều khen ngợi công đức huân tu của Bồ tát Quan Thế Âm vậy!

“Tự tánh mê tức là chúng sanh, tự tánh giác tức là Phật, từ bi tức là Quan Thế Âm, hỷ xả gọi là Đại Thế Chí, hay tịnh tức đức Thích Ca, bình trực tức Phật Di Đà. Nhân ngã ấy Tu di, tà tâm là biển độc, phiền não là sóng mòi, độc hại là rồng dữ, hư vọng là quỷ thần, trần lao là rùa trạnh, tham sân là địa ngục, ngu si là súc sanh. Này Thiện tri thức! thường làm mười điều lành thì thiên đường liền đến, trừ nhân ngã thì làm đổ núi Tu di, dẹp được tham dục thì biển nước độc khô, phiền não không thì sóng mòi mất, độc hại trừ thì rồng cá đều dứt.

Ở trên tâm địa mình là giác tánh Như Lai phóng đại quang minh, ngoài chiếu sáu cửa thanh tịnh hay phá sáu cõi trời Dục, tự tánh trong chiếu ba độc tức liền trừ địa ngục v.v… các tội một lúc đều tiêu diệt, trong ngoài sáng tột, chẳng khác với cõi Tây phương, không chịu tu như thế này làm sao đến cõi kia?”

Lìa địa ngục thoát hầm lửa

Nguyện thành Phật độ chúng sanh.

Tiếng Phạn: Niraya. Tiếng Hán: địa ngục, bất lạc, khả yểm, khổ cụ, khổ thí, vô hữu. Nơi thọ khổ của chúng sanh tạo ác nghiệp như ngũ nghịch thập ác. Tùy theo các ác nghiệp của chúng sanh mà địa ngục có tên gọi khác nhau như Bát Đại địa ngục, Bát Hàn địa ngục, Bát Nhiệt địa ngục, Vô Gián địa ngục.

Theo phẩm Địa Động trong Luận Lập Thế A Tỳ Đàm:

Địa ngục ở ngoài núi Thiết Vi, chỗ hẹp nhất là 8 vạn do tuần, chỗ rộng nhất là 16 vạn do tuần.

Song theo tinh thần của nhà thiền địa ngục còn gọi là Bất như ý xứ, nghĩa là chỗ không vừa ý.

Như trong Thiền Thoại có ghi câu chuyện:

Một sáng nọ, có vị thí chủ hỏi ba người con trai của mình:

– Tối qua ngủ có ngon không?

Người con trai đầu đáp:

– Rất ngon, con nằm thấy một giấc mơ đẹp, nằm thấy đến thiên đường chơi.

Người cha mỉm cười hỏi:

– Vậy con có cảm giác như thế nào đối với thiên đường?

Người con trai đầu đáp:

– Rất tốt, giống như nhà chúng ta vậy.

Người cha nghe như vậy cười vui vẻ.

Người con trai thứ hai đáp:

– Rất tốt, con nằm mộng thấy đến thiên đường!

Người cha cười hỏi;

– Vậy con có cảm giác ra sao đối với thiên đường?

Người con thứ hai đáp:

– Rất tốt giống như nhà chúng ta vậy.

Người cha càng cười nhiều hơn.

Người con trai thứ ba lại bĩu môi nói:

– Con đêm qua nằm thấy một cơn ác mộng, nằm mộng thấy đến địa ngục.

Người cha nghe vậy cười nhạt nói:

– Cũng không có gì kỳ lạ, vậy địa ngục ấy như thế nào?

Người con thứ ba đáp:

– Quá tồi tệ giống như nhà chúng ta vậy…

Thiền ngữ có nói: “Nhất thủy tứ kiến”. Nước đối với con người nó là nước; đối với cá thì nó là nhà ở của cá; đối với quỷ đạo chúng sanh thì nó là ngọn lửa rừng rực; đối với thiên thần nó là thủy tinh óng ánh.

Môi trường và điều kiện sinh trưởng của ba người con trai hoàn toàn giống nhau, nhưng người con trai đầu và người con thứ nhì cảm thấy trong nhà giống như thiên đường, còn người con trai thứ ba cảm thấy trong nhà giống như địa ngục, ấy cũng giống như đạo lý “Nhất thủy tứ kiến”. Người con trai đầu và người con thứ hai cõi lòng rộng mở, nên cảm thấy trong nhà giống như thiên đường; còn người con thứ ba lòng khép chặt, nên cảm thấy trong nhà giống như địa ngục.

Như vậy niềm vui và khổ đau, hạnh phúc và hận thù, thiên đường và địa ngục đều nơi tự tâm ta lưu xuất. Nên Kinh nói: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”.

Nên có câu chuyện thiền ghi:

“Có vị tướng quân đến hỏi Thiền sư Bạch Ẩn: – Có thiên đường và địa ngục không?

Ngài nói: – Ông là ai?

Tướng quân nói: – Là tướng quân.

Ngài nói: – Sao giống đồ tể quá vậy!

Tướng quân liền rút kiếm ra.

Ngài nói: – Đây là địa ngục.

Tướng quân nghe nói liền tra gươm vào vỏ, quỳ xuống xin sám hối!

Ngài nói: – Đây là thiên đường.

Như vậy, một niệm sân vừa dấy khởi, ta chạy theo, ta mắc mứu ngay đó chính là địa ngục. Còn ngay đây ta chánh niệm tỉnh thức, biết xoay lại nhìn rõ từng tâm niệm của mình, để kịp thời chuyển hóa thì ngay đó chính là thiên đường.

Song hành giả ít khi nào nhận ra điểm này, ta cứ nghĩ học đạo là phải ngộ đạo, là phải chứng nhập vào những cảnh giới cao siêu nào đó! Nhưng ta chỉ cần một niệm biết xoay lại, một niệm biết tỉnh thức, đó chính là ta đang công phu đắc lực nhất. Ví như trên một dòng sông rác rưởi trôi rất nhiều, ta không cần đếm từng cọng rác, mà ta chỉ cần nhận diện từng cọng rác. Cũng vậy một niệm sân vừa dấy khởi, ta không cần xua đuổi, cũng không cần đè bẹp chúng, mà chỉ cần nhận diện chúng và tìm cách chuyển hóa từng tâm niệm này.

Nên Thiền sư Khuê Phong dạy:

“Chạy theo vọng tưởng dính mắc các cảnh là phàm phu”.

Đối cảnh mà tâm không động là Thánh nhân. Đối các cảnh tâm liền sanh tâm động niệm, mà biết cách chuyển hóa, đó là bậc tu đạo chân chánh.

Có những người vì một chút hư danh, mà họ sẵn sàng làm bất cứ việc ác nào, miễn sao họ thỏa mãn với những nhục dục danh vị đó. Đây chính là:

Thiên đường hữu lộ vô nhân đáo

Địa ngục vô môn hữu khách tầm.

Nghĩa:

Thiên đường có lối không người đến

Địa ngục không cửa lắm khách tìm.

Như vậy, chúng ta thấy rõ là bậc xuất trần Thượng sĩ, nếu chúng ta không theo hai chữ “Nhân quả” học. Tu suốt cả cuộc đời, chưa chắc gì thâm nhập, bởi vậy người xưa rất dè dặt về điểm này. Các Ngài công phu chưa được vuông tròn, ít có ai dám ra làm Phật sự. Vì sao? Vì nếu làm mà thiếu tu, thì đây chính là “Ma sự” chứ chẳng phải là “Phật sự”. Nếu không khéo ta làm thì chỉ thêm tăng trưởng ma nghiệp, còn con đường Phật đạo thì cách xa ta lắm!

Nên trong Ngũ Đăng Hội Nguyên ghi:

Tướng Công Vu Địch đến Thiền sư Đạo Thông hỏi:

– Thế nào là hắc phong xuy kỳ, thuyền phưởng phiêu đoạ la sát quỷ quốc? (Thế nào là gió đen thổi thuyền bè trôi dạt vào nước quỷ La-sát?)

Đạo Thông đáp: – Kẻ khách Vu Địch hỏi việc ấy làm gì?

Vu Địch đỏ mặt.

Sư chỉ nói: – Cái đó chính là phiêu đọa la sát quỷ quốc (Chính đó là trôi dạt vào nước quỷ La-sát!)

Vu Địch lại hỏi: – Thế nào là Phật?

Sư gọi: – Tướng Công!

Tướng Công: – Dạ!

Sư bảo: – Lại chớ tìm gì khác.

Đây là Tướng Công Vu Địch đem một đoạn trong Kinh Phổ Môn ra thưa hỏi. Kinh nói: chúng sanh vì cầu kim, ngân, lưu ly… giả sử gặp gió đen thổi, ghe thuyền trôi dạt vào nước La sát… Trong ấy có người niệm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm, thì mọi người đều khỏi nạn La sát v.v… Đoạn văn Kinh này tiêu biểu cho tâm thức của hành giả khi tu tập. Vì tìm kim, ngân, lưu ly là tham, gió đen thổi thuyền trôi dạt là sân, cõi nước La sát là nguy hiểm tai họa, niệm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm là tinh thần “Phản văn văn tự tánh” thì tai họa được hóa giải. Vì thế Tướng công Vu Địch vừa đỏ mặt, sư chỉ đó là: “Rơi vào trong cõi nước la sát”. Khi lửa sân vừa nổi lên, ta liền chuyển hóa tâm niệm này, tức là ta sống ngay trong tánh giác của mình, liền tỉnh thức không còn tạo nghiệp, không tạo nghiệp thì ngay trong giờ phút thực tại này đó chính là con đường trở về Niết Bàn vậy!

Nên nói: “Lìa địa ngục thoát hầm lửa”. Ta đừng nghĩ rằng: có một hầm lửa cho chúng ta nhảy ra… mà Phật Tổ muốn chỉ cho chúng ta lửa đó là lửa: Tham dục, sân hận, si mê và ảo vọng. Lửa này nó vô hình không có tướng mạo, mà nó có một năng lực rất lớn, người nào gặp phải lửa này thiêu đốt đều thân bại danh liệt. Vì sao? Vì tuy là mang thân người mà không khác loài cầm thú.

Nên Phật dạy:

“Này các Tỳ kheo, tất cả vạn pháp đều đang bốc cháy. Cái gì đang cháy? Sáu loại đối tượng của giác quan là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý đang bốc cháy. Sáu loại đối tượng của giác quan là: sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp đang bốc cháy. Sáu loại nhận thức này là cái thấy… bốc cháy bằng thứ lửa nào? Bốc cháy bằng thứ lửa tham dục, lửa hận thù, lửa si mê và lửa ảo vọng. Tất cả đang bốc cháy theo với những cái khổ của sanh, già, bệnh, chết…”

Này các thầy, các thầy đừng để tự bốc cháy theo ngọn lửa của tham dục, của hận thù và của ảo vọng. Các vị phải thấy được tính cách vô thường và duyên sinh của mọi pháp, đừng làm nô lệ cho dòng sinh diệt của giác quan, đối tượng và cảm thọ.

Như vậy, theo tinh thần của Kinh Phật Bổn Hạnh Tập thì thứ lửa mà Đức Phật muốn khai thị cho các thầy Tỳ kheo, đó là thứ lửa của tham dục, hận thù, si mê và ảo vọng. Thứ lửa này nó thiêu đốt không chừa một ai, dù chúng ta có học thức, có tri kiến về Phật học, nếu chúng ta không dụng công tu tập về thiền quán, để chuyển hóa nội tâm thì cũng bị thứ lửa quái ác này thiêu đốt. Thiêu đốt ở đâu? Ở mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý.

Trong Kinh Trung A Hàm, bài Kinh Anlentra, Phật cũng có dạy một số ví dụ vị ngọt và sự tác hại của lòng tham dục:

  1. Khúc xương: Chỉ còn một ít thịt dính vào xương, con chó gặm rất vất vả. Dục cũng như vậy.
  2. Miếng thịt: Con quạ có miếng mồi ngon là miếng thịt, những con quạ khác tranh nhau cắn mổ để giành miếng thịt. Dục cũng như thế.
  3. Rắn độc: Cầm nắm đầu rắn độc không vững sẽ bị rắn cắn chết. Dục cũng như thế.
  4. Như giấc mộng: Như người nằm mộng thấy nhiều cái đẹp nhưng tỉnh giấc mộng không có gì cả, như giấc mộng Nam Kha, mộng Hoàng Lương… Dục cũng như thế.
  5. Như đồ vay mượn: Đồ vật mượn của kẻ khác thì phải trả, không phải của mình. Dục cũng như thế.
  6. Như gậy nhọn: Người cầm cây gậy nhọn nếu không cẩn thận vấp té sẽ tự đâm hại bản thân mình. Dục cũng như thế.
  7. Như bó đuốc cỏ khô: Cây đuốc cháy hết sẽ bị nạn cháy tay. Dục cũng như thế
  8. Dục như hầm lửa: Người bị bệnh phong đến bên hầm lửa hơ rất thích thú, nhưng sau đó thì bị nóng rát. Dục cũng như thế.
  9. Như trái cây: Cây có trái ngon nhiều người đến hái. Dục cũng như thế.
  10. Như thịt: Là chỗ giết thú lấy thịt, nơi đầy máu và nước mắt. Dục cũng như thế.

Như vậy, bài kệ Nghe Chuông cho chúng ta một bài học thiết thực trong cuộc sống giữa đời thường. Do đó, hành giả trong lúc nghe chuông, hoặc nghe tiếng chim kêu, dế gáy… Nếu trong giờ phút thực tại này, tâm ta luôn luôn an trú trong chánh niệm hiện tiền, thì tâm cuồng liền dứt, bao nhiêu thứ vọng tưởng tội cấu trong vô lượng kiếp ngay trong khoảng sát na hằng đoạn diệt. Vì rõ tánh tội vốn không, thấu tột muôn pháp như bọt bóng, như huyễn, như hóa, như làn điện… Dùng trí Bát nhã quét sạch căn cội vô minh trong nhiều kiếp. Và nghĩ đến cảnh khổ của địa ngục nào là: dầu sôi lửa bỏng, rừng gươm núi kiếm… mà phát tâm tu đạo Bồ đề, vượt qua sông mê ngàn kiếp, siêu thoát hầm lửa dục trần, thệ nguyện thành Bậc chánh giác, để độ thoát cho tất cả hằng hà sa số chúng sanh!

Nên Tổ Quy Sơn nói:

“Phàm người xuất gia là cất bước đến phương trời cao rộng tâm hình khác tục. Nối thạnh giòng Thánh, hàng phục ma quân, nhằm đền trả bốn ơn, cứu giúp ba cõi”.



BÀI 4: TRƯỚC Ý

(Mặc áo)

Trước: là mặc quần áo. Nếu lúc mặt áo lót, quần dưới buộc giải thì đều phải tưởng niệm kệ văn, và mặc cho tề chỉnh, không được so le cao thấp chẳng đều, chẳng được mặc áo thêu vẽ hoa, lại chẳng mặc áo dơ bẩn rách rưới. Dơ thì nên giặt sạch, rách thì nên vá. Nếu mặc áo không tề chỉnh và có thêu hoa thì bị người đời chê; nếu mặc áo dơ rách thì bị loài phi nhân quở; lại là tướng của pháp diệt.

Đây là một bài kệ Tỳ Ni thứ tư, trong bài này chư Tổ dạy cho chúng ta về cách thức mặc áo – mặc như thế nào đừng để người thế tục và quỷ thần khởi tâm bất kính. Có những người ăn mặc quá là sang trọng, còn có những người thì lại bắt chước cung cách của Tế Điên Hòa thượng. Trong hai cách ăn mặc này chư Tổ đều quở trách.

Như trong Kinh Niết Bàn nói:

Y phục của Tỳ kheo bất tịnh là tướng pháp diệt.

Sách Tư Trì Ký nói:

Thời nay có người cố mặc áo xấu, vọng xưng là người tu đạo mà trong không biết xấu hổ, ngoài không có oai nghi, làm ô nhục môn hộ của ta chớ đạo lý gì!

Như vậy, ở đây chư Phật, chư Tổ đều răn nhắc các hàng đệ tử về cung cách ăn mặc làm sao cho xứng với pháp hạnh của Sa môn. Người xưa dạy: “Người tu đạo không được ở trần ngủ, hoặc ăn mặc không kín đáo mà ngủ, vì có thiên thần hộ trì họ sẽ sanh tâm bất kính”.

Nên Luật Thập Tụng nói:

“Y phục của Tỳ kheo bất tịnh, thì bị loài phi nhân quở”.

Do đó, Tỳ kheo trong lúc ngủ nếu có tâm chánh niệm và thu thúc sáu căn hàng ngày, thì giấc ngủ được bình ổn không có ác mộng, còn người nào tâm hạnh thô ác lúc ngủ thường gặp ác mộng, nên sáng dậy gối mùng thường văng tung tóe lộn xộn. Đây là biểu hiện tâm tánh không có chánh niệm trong cuộc sống hàng ngày.

Nên trước khi mặc áo trên phải chánh niệm tỉnh thức thầm tụng:

Nhược trước thượng y

Đương nguyện chúng sanh

Hoạch thắng thiện căn

Chí pháp bỉ ngạn.

Nghĩa:

Nếu mặc áo trên

Cầu cho chúng sanh

Được căn thắng thiện

Đến bờ bên kia.

Thượng y: tức áo Tăng kỳ chi ca (Samkasikka).

Nếu căn cứ ở nước Trung Hoa tức áo lót và áo trực chuyết (áo tràng dài) ngày nay vậy. Chúng ta phải biết cho rõ tại sao ở Ấn Độ Tu sĩ mặc hở vai phải, còn ở Trung Hoa Tu sĩ mặc kín cả hai vai. Đây đều là có nguyên nhân xuất xứ cả!

Có rất nhiều thuyết nói về quan điểm này: Lúc Phật còn tại thế nơi xứ Ấn Độ, cách thức đi khất thực hoặc cung cách ăn mặc đều hơi giống người bản xứ. Phật dùng phương tiện thiện xảo này là nhằm thích ứng với phương pháp Tứ tất đàn để xiển dương đại giáo. Song sau khi Phật nhập diệt, các bậc Thánh Tăng đua nhau đi khắp nơi xiển dương đại giáo, các Ngài qua xứ Trung Thổ gặp lúc Hoàng đế Võ Hậu Tắc Thiên thâm tín Phật pháp, thấy chư Tăng ăn mặc không giống người dân bản xứ (Trung Thổ) nên đề nghị các Ngài mặc hậu y giống như các quan đại thần. Từ đó về sau chúng ta thấy rõ là: bên Bắc tông mặc hậu và đắp y, còn bên Nam tông thì cung cách ăn mặc giống người xưa lúc Phật còn tại thế.

Song ở bài kệ này là làm sao hành giả trong lúc mặc áo trên, để phát khởi thiện căn là điểm chính yếu!

Như vậy, muốn phát khởi thiện căn là trong lúc ta mặc áo, ta phải chánh niệm tỉnh giác lìa bỏ cấu uế của tham, sân, si, để thể nhập tri kiến như thật đạt đến bờ bên kia.

Nên câu chuyện Thiền Thoại ghi:

Tăng đến hỏi Thiền sư Vân Môn: – Thế nào là yếu chỉ Thiền?

Sư đáp: – Mặc áo, ăn cơm, tiểu tiện, đại tiện…

Tăng nói: – Yếu chỉ Thiền là như thế sao?

Sư nói: – Chứ ông bảo hàng ngày ta phải làm gì?

Tăng nói: – Ngoài nghĩa lý này ra còn yếu chỉ nào nữa?

Sư nói: – Mặc áo, ăn cơm, tiểu tiện, đại tiện…

Như vậy, nói đến thiền là nói đến cái thực tại tối hậu ngay tại đây và bây giờ. Thiền luôn luôn ứng xử với những cái rất thực dụng trong cuộc sống giữa đời thường này, không thích suy luận trừu tượng mơ hồ. Do đó, Thiền bắt buộc chúng ta phải sống thực ngay giây phút thực tại. Ông muốn giải thoát ư? Phải tìm ngay trong cái hữu hạn vô thường này! Không đâu có cái tuyệt đối ngoài những sự vật tương đối, bởi vậy ông Tăng muốn đến với Thiền mà muốn tìm về yếu chỉ của thiền thì hãy lặn sâu vào chỗ: “Mặc áo, ăn cơm, tiểu tiện…” vậy!

Trong Luật Thập Tùng Tỳ Bà Sa nói:

“Thiện căn là không tham, không sân, không si. Tất cả thiện pháp từ ba món này mà sinh trưởng”.

Vì thế những người mới phát tâm học đạo, không chịu khó học những pháp hành Tỳ Ni để áp dụng trong cuộc sống giữa đời thường này, mà luôn đắm chìm trong pháp ngữ của Tổ sư. Đây là câu chết chớ chẳng phải câu cứu người, do đó người xưa tiếp dẫn người học luôn luôn dùng phương tiện thiện xảo để đưa người đệ tử trở về với giây phút thực tại, ngay tại đây và bây giờ, đó mới chính là bí yếu tham thiền vậy!

Như Thiền sư Chân Tịnh ở trong thất khai thị:

Sư hỏi vị tăng: – Xong hay chưa?

Tăng thưa: – Chưa xong.

Sư hỏi: – Ông ăn cháo xong chưa?

Tăng thưa: – Đã ăn xong.

Sư bảo: – Sao nói chưa xong?

Sư lại hỏi: – Tiếng gì ở ngoài cửa?

Tăng thưa: – Tiếng mưa rơi.

Sư bảo: – Sao nói chưa xong?

Sư hỏi tiếp: – Trước mặt là cái gì?

Tăng thưa: – Cái bình phong. (Khi mắt thấy, tai nghe … thì cái biết luôn hiện hữu)

Sư bảo: – Sao nói chưa xong? Sư lại hỏi: – Lãnh hội chăng?

Tăng thưa: – Chưa lãnh hội.

Sư bảo: – Hãy nghe bài tụng này:

Tùy duyên sự sự liễu

Nhật dụng hà khiếm thiểu?

Nhất thiết đản tầm thường

Tự nhiên bất điên đảo.

Nghĩa:

Theo duyên mọi việc xong

Hằng ngày dùng đâu thiếu?

Tất cả chỉ bình thường

Tự nhiên dứt điên đảo.

Trong đời sống thường nhật, những việc như ăn cơm, mặc áo v.v…chúng ta cứ ngỡ chỉ là chuyện tầm thường không phải đạo (bởi ta luôn nghĩ đạo phải là những thứ gì đó cao siêu, mầu nhiệm), nhưng không ngờ rằng chính trong những việc rất bình thường mà mình có sự tỉnh giác, chánh niệm thì tự nhiên tâm hết điên đảo – mà tâm không điên đảo thì đồng cảnh giới tâm Phật, tâm Tổ rồi!

Do đó, trong bốn oai nghi hành giả khi mặc áo, liền thầm tưởng kệ:

Trước hạ quần thời

Đương nguyện chúng sanh

Phục chư thiện căn

Cụ túc tàm quý.

Nghĩa:

Lúc mặc quần dưới

Cầu cho chúng sanh

Mặc các thiện căn

Đầy đủ hổ thẹn.

Qua bài kệ này, chư Phật, chư Tổ dạy cho chúng ta điều gì? Ở đây các Ngài dạy là khi mặc quần dưới, ta mong cầu cho chúng sanh mặc các thiện pháp và đầy đủ sự hổ thẹn. Song muốn đầy đủ sự hổ thẹn, thể nhập con đường tri kiến như thật, thì tâm hồn ta phải nhu nhuyến thuần nhất. Nên người xưa nói “Tâm hành như thế nào, ứng tác ra hành động từ thân, khẩu, y như thế ấy!”. Một người khi làm việc gì nếu không có chánh niệm thu thúc sáu căn thì hành động luôn luôn thô tháo. Chẳng hạn như ta để một cái ly, ta để một đôi dép… Ta phải chánh niệm tỉnh thức. Có những người khi lên chánh điện lễ Phật, hay để dép không có trật tự, đây là do tâm hành của người này chưa có thuần nhất lắm!

Có một câu chuyện Thiền kể lại như thế này:

Teno là một Thiền sư vừa hạ sơn sau mười năm khổ luyện công phu. Sư đến yết kiến Thiền sư Na Đin một đại danh sư nổi tiếng thời ấy.

Vừa gặp mặt, Na Đin liền hỏi:

– Lúc nãy thầy bỏ chiếc dù bên phải hay bên trái đôi guốc trước khi vào thất của ta?

Teno bối rối thú nhận rằng đã không nhớ rõ và đành ở lại xin thọ giáo với sư Na Đin.

Lần khác sư lại đến phương trượng, Thiền sư lại hỏi:

– Khi nãy thầy bỏ dép trước khi vào thất phải hay trái?

Teno cũng không thể trả lời được.

Nhiều năm trôi qua Na Đin vẫn không dạy dỗ gì thêm, ngoài chuyện dù, dép… Cho đến một hôm tự thấy mình đã hoàn toàn hành Thiền trong bốn oai nghi. Teno đến từ giã thầy ra đi. Song lại thêm một lần nữa, thầy mở cửa hơi mạnh tay khiến nó vang lên một tiếng động nhỏ. Điều này chứng tỏ sư đã dùng một sức quá mức cần thiết. Teno lại phải ở bên thầy thêm vài năm nữa để học cách đóng cửa… Và sau sáu năm ở với thầy, sư trở thành một Thiền sư lừng danh của nước Nhật”.

Qua mẫu chuyện Thiền thoại này, chúng ta mới cảm nhận được tính thực tiễn của thiền. Như vậy thiền là gì?

Thiền là sự tĩnh lặng của nội tâm để hợp nhất với thực tại tối hậu. Trong cái thực tại tối hậu này, thiền luôn luôn có mặt. Bởi ta quá chú trọng thiền quá cao siêu cùng tột, nên ta không bao giờ tiếp xúc được với cái thực tại tối hậu đó. Thế nên, người tu theo tinh thần thiền là phải soi rọi vào hố thẳm của tự tánh. Thiền không hướng ngoại, không tìm kiếm và rong tìm, mà chỉ đạt tới chiều sâu thẳm của hiện thực, trong đó mỗi cá thể đều có lý tánh tuyệt đối của mình. Nhưng muốn đạt đến mảnh đất chân thật ấy thì đòi hỏi mỗi hành giả luôn tiếp xúc với giây phút thực tại – sống trong từng khoảnh khắc hiện tiền, ở đây và bây giờ là thiền luôn có mặt.

Người ta cứ ngỡ rằng muốn đạt đến chỗ uyên thâm của thiền định, thì phải có đầy đủ thần thông diệu dụng. Nhưng họ có ngờ đâu trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, lúc ăn cơm, lúc mặc áo, lúc đại tiểu tiện… đều thể hiện đầy đủ thiền vị nhiệm mầu.

Trong Kinh A Hàm có ghi lại:

Một hôm có Bà la môn đến hỏi Phật:

– Nghe nói đạo Phật là đạo giác ngộ, vậy phương pháp của đạo Phật là thế nào? Các Ngài làm gì mỗi ngày?

Thế Tôn nói:

– Chúng tôi đi, đứng, nằm, ngồi, tắm giặt, ăn ngủ, sáng ôm bình bát đi khất thực.

Bà-la-môn nói:

– Phương pháp đó nào có chi đặc biệt? Ai lại không đi, đứng, ngồi, tắm, giặt, ăn ngủ…!

Phật nói:

– Đặc biệt lắm chứ, thưa Ngài! Khi chúng tôi đi, đứng, nằm, ngồi, tắm, giặt, ăn ngủ… thì chúng tôi chánh niệm tỉnh thức trong các oai nghi ấy, còn những người khác họ làm việc gì cũng không có chánh niệm tỉnh thức.

Qua mẫu chuyện đối đáp này giữa đức Phật và Bà la môn cho chúng ta thấy rõ: Muốn thể nhập được lý đạo, thì trong từng phút giây chúng ta làm việc gì rõ biết việc ấy. Đó là tâm yếu của thiền vậy! Lại có người cho rằng khi làm phải biết rõ ông chủ, đây là lầm to. Vì sao? Vì đây là đầu lại thêm đầu, đuôi lại thêm đuôi. Sao lại như thế? Vì khi làm ai biết mình làm? Khi đi ai biết mình đi? Khi ăn cơm, tắm giặt… Ví như khi mình rõ biết vọng, thì cái gì thấu thoát được vọng? Hành giả phải nghiệm kỹ về lý này!

Song muốn thể nhập lý này, đòi hỏi người tu Phật phải buông bỏ tất cả dấu vết của tri thức, bấy giờ mọi toan tính mong cầu mới chịu dừng nghỉ. Một khi sự thực tập công phu được thuần nhất, thì ánh sáng trí tuệ mới xuất hiện. Đến đây thì tâm thức ta như vầng trăng phản chiếu từ dòng tâm thức chảy xiết, dòng tâm thức tuy trôi chảy mà mặt trăng chân lý vẫn bất động.

Thế nên thiền không phải là những khái niệm luận lý suông, mà là một sự thật sống động. Ngay khi làm việc gì, nói năng hành động gì… Ta đều thể hiện được tính thực tiễn của thiền. Mà “tính thực tiễn của thiền” là gì?

Chỉnh y thúc đới

Đương nguyện chúng sanh

Kiểm thúc thiện căn

Bất linh tán thất.

Nghĩa:

Sửa áo buộc giải

Cầu cho chúng sanh

Kiểm buộc thiện căn

Chẳng cho tán mất.

Thúc là buộc. Vì sửa áo ngay ngắn, buộc quần đàng hoàng. Đây là một bài kệ nói về pháp hành Tỳ Ni rất là thiết yếu. Là người tu Phật, khi đi, đứng, nằm, ngồi đều phải chánh niệm thu thúc sáu căn, để trang bị Pháp thân huệ mạng cho được vuông tròn.

Nên Thiền sư Mahasi Sayadaw nói:

“Khi mà bên ngoài thuần tịnh, bên trong dễ phát sanh trí huệ”.

Thật vậy, bên ngoài nghiêm chỉnh thân, bên trong thâu nhiếp tâm. Thân tâm điều phục, pháp lành tăng trưởng, ấy là cái dụng để kiến đạo vậy.

Nên trong Kinh A Hàm Phật nói bài pháp giữ gìn gia bảo:

Một hôm Phật bảo các Tỳ kheo rằng:

– Này các Tỳ kheo! Trong hàng đệ tử Ta có chia làm bốn hạng người. Thế nào là bốn:

Hạng người ngoài chín trong sống.

Hạng người ngoài sống trong chín.

Hạng người ngoài sống trong sống.

Hạng người ngoài chín trong chín.

– Thế nào là hạng người ngoài chín trong sống? Tức là những kẻ tu hành bên ngoài thấy thanh tịnh nghiêm trang, mà bên trong thì buông lung tư tưởng không thể điều phục.

– Thế nào là hạng người ngoài sống trong chín? Tức là những kẻ bên trong thanh tịnh, nhưng ngoài thì hạnh thô tháo phóng túng.

– Thế nào là hạng người ngoài sống trong sống? Tức là những kẻ trong ngoài đều không thanh tịnh.

– Thế nào là hạng người ngoài chín trong chín? Này các Tỳ kheo! Chính hạng người sau cùng này mới là hạng thanh tịnh chân thật, xứng đáng là người giữ gìn gia bảo Như Lai.

Qua đoạn văn kinh này cho chúng ta thấy rõ: Ở đây đức Phật dạy phải tu tập như thế nào để được bên trong thuần tịnh, bên ngoài oai nghi mô phạm để nhiếp hóa chúng sanh. Do đó bài kệ Tỳ Ni cho chúng ta thấy được trong lúc “Sửa áo buộc giải” để “Tóm buộc căn lành” thu thúc ba nghiệp.

Nói chung muốn thanh tịnh ba nghiệp, tăng trưởng căn lành, siêu thoát tam giới, hành giả phải đủ ba đức tính:

Thành tựu thiện hạnh nơi chính mình.

Trang sức thân tâm bằng thiện hạnh.

Giữ gìn được những thiện hạnh.

Sao gọi là thiện hạnh? Nghĩa là thân không gây nghiệp ác, miệng không nói lời ác, ý không nghĩ điều ác, luôn luôn an trú tâm từ, ban rải tình thương cho đồng loại. Như vậy, phẩm hạnh trang sức cho Pháp thân huệ mạng của chúng ta chính là: “Việc làm luôn luôn có đạo lý”.

Như Thiền sư Tông Mật nói:

Tác hữu nghĩa sự

Thị tỉnh ngộ tâm

Tác vô nghĩa sự

Thị cuồng loạn tâm

Cuồng loạn tùy tình niệm

Lâm chung bị nghiệp khiên

Tỉnh ngộ bất do tình

Lâm chung năng chuyển nghiệp.

Nghĩa:

Làm việc có nghĩa

Là tâm tỉnh ngộ

Làm việc vô nghĩa

Là tâm cuồng loạn

Cuồng loạn theo tình niệm

Lâm chung bị nghiệp lôi

Tỉnh ngộ không theo tình

Lâm chung hay chuyển nghiệp.

Ở đây Thiền sư Tông Mật dạy làm việc có nghĩa là tâm biết hướng thượng. Sao gọi là có nghĩa? Nghĩa là tâm không tật đố, ích kỷ, ghen ghét người hiền tài… Đó gọi là tâm có đạo lý. Sao gọi là làm việc vô nghĩa? Đó là làm việc trái đạo lý! Nghĩa là thấy người khác được hạnh phúc, tài giỏi hơn mình, sanh tâm tật đố, chuyện không nói có, chuyện có nói không, đó gọi là làm việc vô nghĩa. Mà làm việc trái đạo lý, là tâm ta vọng động không có chánh niệm, buông thả theo dục tình, thì sau khi trút hơi thở cuối cùng chắc chắn gá vào thai lừa, bụng ngựa… Do đó có những người suốt ngày giả trang thiền tướng, mà bên trong mưu mô xảo quyệt, tranh danh đoạt lợi, thì chắc chắn chết sẽ theo vọng niệm hàng ngày mình tạo tác. Còn người tỉnh ngộ họ luôn luôn chánh niệm kiểm soát sáu căn, ba nghiệp, thì đến lúc chết, vừa trút hơi thở cuối cùng, bảo đảm họ sẽ theo việc hàng ngày tạo tác thiện nghiệp mà tái sanh.

Như vậy qua bài kệ pháp hành Tỳ Ni:

Sửa áo buộc giải

Cầu cho chúng sanh

Tóm buộc thiện căn

Chẳng cho tan mất.

Tóm lại, ba bài Tỳ ni cách “Mặc áo” muốn nhắc hành giả rằng chúng ta nên chánh niệm khi mặc áo, ăn cơm chứ không phải đọc kệ học suông một cách máy móc. Bởi Tỳ-ni là pháp hành cần được thực tập hàng ngày, trong khi đi, đứng, nằm, ngồi v.v… để kiểm soát ba nghiệp, tăng trưởng pháp lành, đó mới đúng là tinh thần của “Tỳ Ni nhật dụng thiết yếu vậy!”.



BÀI 5: HẠ ĐƠN

(Xuống đơn)

Trong các Thiền viện và Tu viện lớn thường có Tăng đường cho các thầy sống và tu tập, mỗi một thầy chỉ ở một giường, mà giường này không lớn nên gọi là đơn.

Luật Thập Tụng nói:

Cách xuống giường là thong thả để một chân xuống, kế đến chân thứ hai, chậm rãi đứng dậy và thầm đọc bài kệ:

Tùng triêu dần đán trực chí mộ

Nhất thiết chúng sanh tự hồi hộ

Nhược ư túc hạ tán kỳ hình

Nguyện nhữ tức thời sanh Tịnh Độ.

Nghĩa:

Từ sớm giờ dần thẳng đến tối

Tất cả chúng sanh tự tránh giữ

Nếu rủi mất mình dưới chân tôi

Nguyện ngươi tức thời sanh Tịnh Độ.

Đây là bài kệ thứ năm, bài kệ này nói lên tinh thần tham thiền vậy. Phàm là người học Phật tham thiền, trong bốn oai nghi, hành giả cử thân động niệm đều dùng tâm từ bi làm gốc. Vì sao? Vì tâm bi là gốc của tất cả thiện pháp vậy! Song làm thế nào mỗi bước chân của ta đều có chánh niệm thu thúc sáu căn mới có thể tăng trưởng thiện pháp.

Nên Đại sư Tăng Triệu nói:

“Phàm phu cho việc hàng ngày là tầm thường, còn bậc Thánh giả thì luôn luôn lưu tâm đến”.

Như vậy, mỗi bước chân của chúng ta đi nếu lỡ giẫm đạp côn trùng, làm sao chúng được tái sanh về nhân cảnh? Muốn được như thế thì tâm chúng ta phải thanh tịnh. Đây là cảnh giới năng lực vô tác, tuy là vô hình nhưng tác động rất lớn.

Trong Kinh Phổ Diệu nói:

Đức Như Lai thuở quá khứ tâm trong sạch, không não hại chúng sanh, chỗ Ngài đi, bàn chân không dính, trùng kiến chẳng bị tổn hại, còn chúng ta hình chất phàm phu, tâm chưa lìa dính mắc, hạnh kiểm chưa bằng Thánh, cho nên khi sắp di động thì nguyện cho chúng côn trùng dưới đất, tự chúng giữ gìn sinh mạng, nếu rủi do bàn chân đạp chết thân nó, thì nhờ pháp lực kệ chú, khiến nó tức thời vãng sanh về cõi Phật Tịnh Độ.

Đức Phật khi đi, lằn tướng ngàn châu hiện dấu nơi đất, các loài côn trùng dưới chân đều an ổn. Nếu rủi bị mạng chung, chúng liền vãng sanh lên cõi trời. Chúng ta là phàm phu, nên phải dè dặt khi bước chân đi. Sự dè dặt này có thể hiểu chính là Tâm giữ chánh niệm trong oai nghi đi để tránh vô tình sát sanh các loài côn trùng vi tế dưới chân mình.

Quay trở lại năm giới căn bản của người tu tập thì giới không sát sanh được Đức Phật thiết lập đầu tiên và cũng có vị trí quan trọng đối với người tu sĩ mới vào đạo. Có thể xem giới không sát sanh là nền tảng để xác lập nhân cách, đạo đức của con người. Bởi một người không sát sanh tức là người đó đã tôn trọng sự sống dưới mọi hình thức – từ con người cho đến loài vật, côn trùng, cây cỏ … Hay nói cách khác, khi chánh niệm tỉnh giác trong oai nghi đi đứng nằm ngồi để tránh làm tổn hại sinh mạng của muôn loài chính là ta đang thực hành nuôi dưỡng tâm từ của chính mình. Góp phần đem lại một cuộc sống an bình cho cộng đồng xã hội xuất phát từ nội tâm không giết hại của tự thân mỗi hành giả trong đạo Phật theo đúng tinh thần “Trên từ chư Phật, thánh nhân, sư tăng, phụ mẫu; dưới đến các loài bò bay máy cựa, vi tế côn trùng, hễ có mạng sống đều không được giết”.

Trong câu chuyện “Chim bồ câu chạy trốn”, chúng ta sẽ thấy được năng lực của tâm từ:

“Ánh sáng chiếu từ phía tây rải những tia nắng còn sót lại sau cùng từ biệt mặt đất. Chính trong buổi hoàng hôn này, Đức Phật tản bộ gần tinh xá Kỳ Viên, Tôn giả Xá Lợi Phất chầm chậm bước theo sau.

Hai Ngài đã đi một đoạn đường, bỗng thấy có một con chim ưng đang đuổi bắt theo chim bồ câu, con chim bồ câu bị bức hiếp hoảng hốt chạy trốn và nhanh nhẩu bay đến núp cạnh Phật, bồ câu nhờ biết khôn chọn đậu ở bên Phật nên con chim ưng chẳng dám tới làm hại. Nhờ vậy, nó được yên thân, vẻ hoảng sợ lúc nãy cũng tan biến.

Lúc Phật tiếp tục bước tới trước, thân Ngài di động tiến lên, vô tình bóng Ngài Xá Lợi Phất ở sát cạnh con chim, nó lộ vẻ sợ hãi hùng. Xá Lợi Phất thấy vậy liền thưa với Phật:

– Bạch Thế Tôn! Vì sao con chim bồ câu ở bên Ngài nó chẳng hoảng sợ, còn con vừa tới gần nó, nó lại run rẩy như vậy?

Đức Phật đáp:

– Này Xá Lợi Phất, ông tuy tâm độc đã trừ nhưng tập khí chưa hết. Vì vậy khi ông gần con chim, nó vẫn hoảng sợ”.

Qua câu chuyện này chúng ta thấy rõ, biển năng lực vô tác tâm của Thế Tôn rất lớn. Vì sao Thế Tôn được năng lực lớn như thế? Trong Kinh ghi lại trong vô lượng kiếp trước, Thế Tôn luôn luôn tu pháp Lục độ ba la mật, nay đã tròn đủ, nên mới có năng lực chế tác như thế!

Ngày nay chúng ta vào chùa, được đầy đủ cơm ăn, áo mặc… đều do biển năng lực vô tác của Thế Tôn còn hiện hữu trong cõi giới này. Tại sao trong mỗi bước chân của ta đi, ta không chế tác tâm từ để đền đáp ơn Phật, Tổ và đàn na tín thí? Song muốn được chế tác tâm từ và năng lực vô tác đó, thì ta phải tham thiền vậy!

Nên J. Krishna Muti nói:

“Tham thiền có nghĩa là sự tỉnh thức – tỉnh giác về những gì bạn đang làm, những gì bạn đang suy nghĩ, những gì bạn đang cảm xúc, tỉnh giác không hề có chọn lựa gì cả mà để quan sát, để tìm học”.

Như vậy, nói đến tinh thần tu Phật đều lấy tâm làm gốc, tâm là đầu mối của đạo, mà cũng chính là đầu mối của luân hồi sinh tử. Một niệm ta bình ổn, từng bước chân ta an lạc, thì chúng sanh tâm ta luôn ở trong cảnh giới Tịnh Độ, một niệm ta tật đố, ích kỷ, san tham… từng bước chân ta vọng động thì chúng sanh đang ở trong cảnh giới dầu sôi lửa bỏng, núi đao rừng kiếm.

Nên trong Kinh Lăng Nghiêm nói:

Chơn tâm và vọng tâm. Song xét cho tột nguồn thì chơn và vọng vốn không thật tánh, do đó chơn và vọng đối lập nhau để hiển bày chánh lý. Từ nhất chơn pháp giới mà vọng thấy có sáng và tối, nơi cửa vô sanh vọng thấy có năng sở, sáu căn không nhất thể vì do duyên động và tịnh, năm ấm buộc ràng là do vọng chấp nhân ngã.

Vì thế, suốt ngày ở trong Phổ Quang Minh Trí của Như Lai mà vọng thấy bị buộc ràng, an trụ nơi Niết Bàn tịch tịnh diệu thường mà không hề hay biết. Mỗi bước đi đều không rời tâm Phật, tất cả đều ở trong vô sanh mà vọng thấy có sanh diệt, nên sanh tử tiếp nối không dừng. Song sự sanh tử tiếp nối tương tục đứng đầu là tâm “vọng”, vì vọng duyên phân biệt bởi do thấy, nghe. Song tâm vốn chẳng động, nhân vì sắc che đậy, thấy sắc thì tâm dao động, nghe tiếng thì tâm phan duyên. Đồng nơi tâm này mà phân chia phàm và Thánh. Phàm thì đối cảnh sanh tâm, nên mỗi bước đi đều sanh tâm vọng động làm sao chúng hữu tình được lợi ích! Thánh thì đối cảnh xoay về, nên mỗi bước đi đều an trụ nơi cảnh giới diệu thường làm sao chúng hữu tình không được lợi ích! Chỉ một cái xoay về thì “Tức thời sanh Tịnh Độ”, Phật đạo viên thành. Nên nói: “Tịnh Độ chỉ ngay nơi tâm, tâm tịnh tức cõi Phật tịnh”. Do đó Thế Tôn vừa mới giáng sanh thì mỗi bước đi đều có hoa sen nâng đỡ.

Nên Thiền sư Hư Vân khai thị:

“Vừa khởi oai nghi phải bàn về oai nghi giáo tướng. Đi, đứng, nằm, ngồi đều có oai nghi, chớ bảo rằng do bận rộn mà quên đi oai nghi giới hạnh cùng việc sanh tử. Làm đệ tử Như Lai tức là thân quyến của Tiên Thánh, ra vào nơi cửa vàng, hành tàng nơi bảo điện, phải ung dung tự tại nơi sóng khởi ba đào, để triển chuyển tích trượng, thắng lên hư không. Giả sử mười đại quân ma, nghe danh mà đến quy y chánh đạo, có nên vì đó mà quên giảng oai nghi không?”

Hòa thượng Viễn lúc tại núi Phù Sơn bảo vị Tọa chủ:

“Nhờ trị tâm, nên mới cầu diệu ngộ. Ngộ đạo được thì thần hòa khí tỉnh, vọng tưởng tình ngưng, dung mạo trang nghiêm khả kính, phù hợp với chơn tâm. Nhờ điều phục tâm tự linh diệu, rồi sau đó mới chỉ dạy muôn loài”.

Nói chung trên từ chư Phật dưới đến các bậc Tông Sư đều chỉ dạy cho chúng ta: trước khi vào đạo, điều kiện tiên quyết hành giả phải đầy đủ oai nghi tế hạnh. Thứ nhất là gột rửa tâm cống cao ngạo mạn; thứ hai là thu thúc sáu căn, tăng trưởng pháp lành. Đây là tinh yếu tham thiền vậy!

Như Đại sư Lục Tổ quở trách Thiền sư Huyền Giác:

Giác đi xung quanh Sư ba vòng, xong chống tích trượng đứng.

Sư nói: – Phàm là Sa môn phải đủ ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh. Đại đức từ đâu đến mà lớn lối ngạo mạn vậy?

Như vậy, mỗi bước chân chúng ta đi, nếu lỡ giẫm phải côn trùng các chúng hữu tình này được siêu thoát, thì tâm ta phải an ổn, thu thúc sáu căn, nhờ năng lực vô tác giới thể này mà chúng hữu tình mới được siêu thoát. Do đó người tu Phật phải chín chắn chiêm nghiệm lại chỗ này! Chớ chẳng phải học suông rồi chúng ta khi đi tâm không chánh niệm, tâm dẫy đầy tham, sân, si, tật đố… thì làm sao các loài hữu tình được siêu thoát?



BÀI 6: HÀNH BỘ BẤT THƯƠNG TRƯỜNG

(Bước đi không hại sâu bọ)

Đây là bài thứ sáu trong pháp hành Tỳ ni. Bài này nói lên vai trò chủ yếu trong lúc hạ thủ tham Thiền. Phàm là bậc tu đạo khi đi đường mắt phải luôn nhìn thẳng về phía trước, không liếc ngó hai bên mà làm thương tổn sinh mạng chúng sanh dưới chân mình.

Do đó hàng xuất gia tu đạo đi như pháp, khi đi đường luôn chánh niệm oai nghi tề chỉnh, sáu căn thu nhiếp, khởi bi tâm đến các loài ve muỗi, kiến, trùng… và thầm tưởng niệm bài kệ:

Nhược cử ư túc

Đương nguyện chúng sanh

Xuất sanh tử hải

Cụ chúng thiện pháp.

Nghĩa:

Nếu cất bước đi

Cầu cho chúng sanh

Ra biển sanh tử

Đủ các pháp lành.

Đây là bài kệ chú rất là siêu thoát. Phàm một khi cất bước ra đi, là quyết độ mình và người ra khỏi biển sanh tử. Song muốn ra được biển khổ sanh tử này, ta không phải học bài kệ suông mà siêu thoát được! Bài kệ này Phật dạy là: Trong sinh hoạt hàng ngày, trong sự tu tập hàng ngày, phàm khi đi, đứng, nói năng đều thực tập kiểm soát thân, khẩu, ý của chúng ta mới mong siêu thoát biển khổ sanh tử được. Vì sao? Vì biển khổ tuy nhiều, song xoay đầu tức là bờ vậy!

Như vậy, một khi cất bước ra đi, ta luôn luôn tỉnh giác trong giờ phút thực tại, ngay tại đây và bây giờ. Ông chủ của chúng ta lúc nào cũng hiện hữu, ứng tác từ tâm thanh tịnh. Nhưng chúng ta đang làm việc gì nếu chúng ta khởi niệm có ông chủ, đầu lại thêm đầu.

Do đó Tổ sư dạy:

“Ngay đó hãy thừa đương, chớ cưỡi trâu tìm trâu vô ích”.

Song muốn nhận diện ra ông chủ của chính mình, phải chứng nghiệm bằng thực chứng nơi tự thân, còn chỉ nghe và tư duy, thì chúng ta không thể nào chứng nghiệm được!

Nên Tổ Quy Sơn dạy:

“Luận về người xuất gia bước đi siêu việt, tâm hình khác tục, nối thạnh giòng Thánh, nhiếp phục ma quân, nhằm để đền đáp bốn ân, cứu giúp ba cõi. Nếu không như thế lộn núp bóng thầy, ngôn hạnh sỗ sàng, ăn lường tín thí, lâu năm đường cũ, tấc bước chẳng dời, mãn kiếp lưng khừng, lấy đâu nương tựa”.

Đọc qua bài văn cảnh sách của Tổ Quy Sơn, đâu khác gì bài pháp kệ Tỳ Ni. Phật dạy là: “Nếu cất bước đi là phải vượt thoát biển khổ sanh tử”, tự mình được lợi ích và phổ độ loài hữu tình cũng được nhiêu ích như mình. Do đó gánh nặng của người xuất gia không phải là nhẹ. Vì sao chúng ta phải giúp ích loài hữu tình?

Ta hãy lắng nghe trong Pháp Uyển Châu Lâm nói:

“Ba cõi rối loạn, sáu đường mờ mịt, đi lại không thôi, chịu khổ chưa dứt, quả báo trói buộc thúc bách, thiêu đốt đau đớn bội phần, thật do nghiệp ác chiêu cảm cảnh nguy vong này! Nào biết chìm trong nước mà ý thức thuyền bè? Gánh nặng chồng chất đè cứng, chưa bay liệng được. Muốn ra khỏi cõi ô uế, dạo chơi xứ thanh lương, thì một niệm quay về đường chánh thọ mạng không cùng”.

Như vậy, chúng ta thấy rõ biển khổ sanh tử dài lâu vô hạn.

Nên trong Kinh A Hàm đức Phật từng nói:

Ôi! Luân hồi dài dài,

Bao lần máu tuôn chảy,

Bao lần giáo gươm đâm,

Khi ta làm giặc cướp.

Bao lần máu tuôn chảy,

Bao lần giáo gươm đâm,

Khi ta làm heo, dê!

Và đây tìm khắp chốn,

Không một chúng sanh nào,

Chẳng phải mẹ cha ta.

Không một chúng sanh nào,

Chẳng phải con em ta.

Không một chúng sanh nào,

Chẳng phải bạn bè ta.

Này hỡi các hiền hữu,

Chừng ấy đủ cho ta,

Cảm niệm bao thống khổ.

Chừng ấy đủ cho ta,

Giải thoát tất cả hành.

Chừng ấy đủ cho ta,

Thương xót hết mọi loài.

Do đó là người xuất gia học đạo, một khi cất bước ra đi, thì làm sao ra biển khổ sanh tử, tăng trưởng pháp lành! Đây không phải là lời nói suông mà chính là tâm hành vậy! Hành là hành nơi tâm, chẳng hành nơi miệng, miệng tụng suốt ngày mà trong tâm đầy dẫy tật đố, ích kỷ, san tham, tranh danh đoạt lợi thì thử hỏi làm sao vượt biển mê thong dong lên bờ giác? Miệng tụng pháp kệ Tỳ Ni, mà bên trong thì có tâm tùy hỷ, tha thứ, bao dung v.v… thì đây là dụng của đạo vậy! Người này ngước nhìn trời không hổ thẹn với trời, cúi nhìn đất không hổ thẹn với đất. Đây chính là đạo lý Thánh hiền vậy! Còn chúng ta thì sao? Học thuộc từng chương, nghĩa cú chia chẻ biện biệt, song trong tâm thì đầy dẫy tham, sân, tật đố, mưu mô hãm hại người hiền đức. Đây là hành động của ma, lại tăng trưởng theo tà kiến, ma nghiệp lớn dần. Người tu đạo phải chín chắn chiêm nghiệm lại chỗ này! Chớ không thì:

Thiên đường hữu lộ vô nhân đáo

Địa ngục vô môn hữu khách tầm.

Nghĩa:

Thiên đường có lối không người đến

Địa ngục không cửa lắm khách tìm.

Đây là lỗi tại ai? Tại Thầy hay tại mình? Đây chính là do mình tất cả. Khi mới vào chùa không chịu khó học tập pháp hành Tỳ Ni, chỉ nói suông thiền ngữ thì thử hỏi pháp lành sao tăng trưởng, vì dụng của đạo là phước nghiệp và huệ nghiệp phải song toàn, huệ giác tròn đủ thì tánh Bồ đề mới hiển lộ. Ngay đây thì bên trong thanh tịnh, bên ngoài phổ chiếu oai nghi mô phạm thì một phen cất bước là:

Nếu cất bước đi

Cầu cho chúng sanh

Ra biển sanh tử

Đủ các pháp lành.


BÀI 7: XUẤT ĐƯỜNG

(Ra khỏi nhà)

Ở bài Tỳ Ni này Phật dạy cho người tu hành khi đi ra khỏi nhà, tâm hình phải khác người thế tục. Nghĩa là lúc ra khỏi nhà, oai nghi phải tề chỉnh, thân không lắc lư, mắt không liếc ngó hai bên, không vừa đi vừa chạy mà thong thả đi từng bước, không được vừa đi vừa khạc nhổ.

Kinh Phật Thuyết Nhân Duyên Tăng Hộ nói:

Ông thầy Tỳ kheo bị dao cắt mũi, đó chẳng phải Tỳ kheo mà là người địa ngục. Thời Phật Ca Diếp vị Tỳ kheo ấy là người xuất gia, hỷ nhổ làm dơ đất sạch của Phật tăng. Vì nhân duyên đó vào trong địa ngục, bị dao cắt mũi, bị lửa đốt, chịu khổ đến nay chưa dứt.

Như vậy, bài kệ Tỳ Ni này là giúp cho người tu Phật, khi đi ra khỏi nhà trước là phải oai nghi mô phạm. Vì sao? Vì người tu giống như tờ giấy trắng, chỉ cần một đốm mực đen nhỏ vào thì tất cả mọi người đều thấy.

Xưa Tôn giả Mã Thắng đi khất thực mà Ngài Xá Lợi Phất khi còn tu với phái ngoại đạo, chỉ cần thấy bóng dáng của Tôn giả, thì Ngài Xá Lợi Phất khởi tâm cung kính tìm đến học đạo với Thế Tôn, để sau này trở thành bậc Thượng thủ của chánh pháp.

Do đó, người tu Phật trước phải dùng thân giáo, sau mới dùng đến khẩu giáo là vậy! Sở dĩ chúng ta thấy trong lịch sử Phật giáo có những vị Cao Tăng đắc đạo, vì muốn nhiếp phục những kẻ can cường mà các Ngài phải thị hiện các phương tiện thiện xảo, để nhiếp phục chúng sanh.

Vì vậy qua bài pháp kệ Tỳ Ni này, Phật dạy trước khi ra khỏi nhà mắt nhìn xuống, không liếc ngó hai bên và thầm tưởng niệm tụng:

Tùng xá xuất thời

Đương nguyện chúng sanh

Thâm nhập Phật trí

Vĩnh xuất tam giới.

Nghĩa:

Lúc từ nhà ra

Cầu cho chúng sanh

Vào sâu trí Phật

Ra hẳn ba cõi.

Đây là bài kệ thứ bảy. Bài này nói lên ý nghĩa rất siêu thoát. Ở đây nói: Lúc từ nhà ra, ta cầu cho chúng sanh, vào sâu trí Phật, vượt thoát ba cõi. Song muốn thâm nhập trí Phật, thì điều kiện tiên quyết là ta phải hiểu thấu câu “Lúc từ nhà ra”. Nghĩa là ta phải “Xuất thế tục gia” – trước phải buông bỏ cái nhà thế tục. Vì sao? Vì nhà thế tục nếu ta không khéo tu, thì dễ vướng mắc vào danh vị, quyền uy, tranh danh đoạt lợi v.v… Nên ta phải dũng mãnh rời nhà thế tục mới mong thể nhập được trí Phật nhiệm mầu.

Trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Phật dạy:

“Người bị ràng buộc bởi vợ con, nhà cửa còn quá hơn lao ngục. Lao ngục còn có thời kỳ phóng thích, vợ con không một ý niệm xa lìa”.

Một khi tâm thích về sắc đẹp, thì đâu còn sợ gì đến gian nguy. Dẫu cho có sự hoạ họan nơi miệng hùm, lòng cũng đành chịu. Vì tự đắm mình nơi lầy lội, gọi là phàm phu, nếu hiểu được lẽ ấy, chính là bậc xuất trần La hán.

Đọc qua đoạn văn Kinh này chúng ta thấy rõ Đức Phật chỉ dạy cho chúng ta rằng: Một khi ta vướng vào vợ con, nhà cửa thì khó mà vượt thoát, giống như cá mắc lưới vậy! Song chúng ta được túc duyên còn sót lại trong thời quá khứ, nên ngày hôm nay ta mới có tướng được đầu tròn áo vuông. Tại sao ta không xét lại mà trong tâm còn mưu toan đủ thứ chuyện? Đúng ra càng tu thì tâm ma càng bớt, ngược lại càng tu thì tâm ma lại dẫy đầy. Bằng chứng khi mới bước chân vào đạo, ta đâu có nghĩ ta phải làm trụ trì, thủ bổn, thư ký, tri sự… Song tu một thời gian thì tâm Phật càng ngày càng mất, mà tâm ma thêm hưng thịnh. Nên người xưa nói: Nhất niên Phật tại tiền, nhị niên Phật thăng thiên, … là vậy!

Do đó người xưa dạy: Ra khỏi nhà thế tục chưa đủ, mà phải “Xuất phiền não gia” là vượt thoát nhà phiền não nữa. Sở dĩ ta càng tu mà tâm phiền não dẫy đầy, bởi vì ta ít có phản quan lại chính mình, quán chiếu sâu xa về túc duyên ta được tu đạo.

Nên Đại sư Liên Trì nhắn nhủ:

Hầu như mọi người khi mới xuất gia, tuy chí nguyện của họ có lớn nhỏ, nhưng ít nhiều cũng có đạo tâm. Dần dà, họ đều bị danh lợi làm ô nhiễm. Tiếp đó, họ xây dựng phòng xá, xem trọng áo mặc, mua nhà đất, nuôi tôi tớ, tích chứa tiền tài, hết mình làm chuyện thế gian, phan duyên, chẳng khác gì người thế gian cả. Kinh Phật nói có một người xuất gia học đạo thì thiên ma Ba tuần liền lo sợ. Khi người xuất gia biến thành một kẻ không khác thế tục, ma Ba tuần liền uống rượu chúc mừng. Người xuất gia phát Bồ-đề tâm, đầu tiên phải biết việc này mới phải.

Tôi có gặp một Sa môn tu khổ hạnh trên núi. Vừa xuống núi, có mấy mươi nam nữ Phật tử đến quy y cúng dường, lâu dần Sa môn ấy mất hết đạo lực, bận bịu túi bụi. Huống hồ gì có người lại làm những việc tồi tệ sao! Người xưa nói sau khi xuất gia rồi, cần phải ra khỏi nhà phiền não, lại phải cắt đứt duyên trần, là xuất gia sau xuất xuất gia. Xuất gia trước xuất gia dễ, xuất gia sau xuất gia khó. Tôi vì việc này, cẩn thận hết sức, ngày đêm vô cùng lo lắng, sợ rằng mắc lỗi như trên”.

Thời Phật tại thế có Tỳ kheo Bạt-đề:

Khi chưa xuất gia, ông làm quan, sau khi quy y Phật ông chuyên tu hạnh đầu đà, chỉ ngủ dưới gốc cây và tinh cần thực hành thiền quán. Một đêm, trong lúc hành thiền bỗng ông reo lên: “Hạnh phúc quá! Hạnh phúc quá!”

Những vị Tỳ-kheo đang tu tập gần đó hết sức ngạc nhiên không ai hiểu chuyện gì. Sáng hôm sau có một vị đến trình sự việc đó với Đức Phật rằng:

Bạch Thế Tôn, tối hôm qua trong lúc chúng con tọa thiền, chúng con nghe Tỳ kheo Bạt Đề reo lên: Hạnh phúc quá! Hạnh phúc quá! Có lẽ Tỳ kheo Bạt Đề cảm thấy không thoải mái và đang nhàm chán đời sống xuất gia, nên vị ấy nghĩ đến đời sống thế tục giàu sang danh vọng trước kia mà thốt lên như thế.

Trưa hôm đó, Phật cho gọi Tỳ kheo Bạt Đề vào hỏi nguyên do. Đứng trước chúng hội đông đảo, Tỳ kheo Bạt Đề chắp tay bạch Phật:

Bạch Thế Tôn, ngày trước con làm quan, cuộc sống giàu sang, có quyền lực, danh vọng địa vị, vợ đẹp con xinh, kẻ hầu người hạ, thế mà con không cảm thấy an ổn, thoải mái, không cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc, con luôn sống trong căng thẳng, lo âu, phiền muộn, sợ hãi. Lo chuyện an nguy, thịnh suy được mất, ngày ăn không ngon, đêm ngủ không yên giấc. Từ khi xuất gia, con không còn tài sản của cải, quyền lực danh vọng, không còn nhà cao cửa rộng, kẻ hầu người hạ, mỗi ngày chỉ ăn một bữa cơm thanh đạm, tối đến ngủ dưới gốc cây, thế mà lòng con cảm thấy thảnh thơi an lạc. Đêm hôm qua trong lúc thiền định, con cảm nhận được niềm an lạc hạnh phúc vô biên mà trước đây chưa từng cảm nhận được, nên buột miệng thốt lên lời vui mừng làm kinh động đến Thế Tôn và các bạn đồng tu. Con xin thành tâm sám hối!”.

Đức Phật đã khen Tỳ kheo Bạt-đề rằng:

Hay lắm, này Bạt Đề! Ông đang đi những bước vững chãi, thảnh thơi an lạc trên lộ trình giải thoát. Niềm an lạc của ông, cả chư thiên cũng ước ao huống chi là người đời!.

Hầu như mọi người đều xem mục tiêu của đời mình là làm sao để tồn tại trên thế gian và hưởng thụ được nhiều lạc thú, thỏa mãn những nhu cầu, tham muốn của bản thân. Và người ta cật lực thực hiện điều đó bằng mọi sức lực và khả năng mình có được. Nhưng ít ai lưu tâm đến một điều rằng: Lòng tham muốn của con người thì vô cùng tận, nó chỉ có thể tìm thấy sự thỏa mãn tạm thời chứ không thể lâu dài được, chính vì thế con người thường rơi vào khủng hoảng, thất vọng và mệt mỏi.

Cho nên có một thứ hạnh phúc mà ít người biết đến, đó là hạnh phúc của sự từ bỏ, thoát khỏi mọi ràng buộc, hệ luỵ của cuộc đời. Tuy từ bỏ những niềm vui thế tục tưởng chừng như không còn gì cả, cuộc sống trở nên vô vị, nhưng hóa ra lại tìm thấy được nguồn chơn hạnh phúc, một thứ hạnh phúc mà không ai có thể cướp đi, bởi nó không gắn liền với lo âu, sợ hãi. Tuy nhiên, chỉ có thể cảm nhận được nguồn hạnh phúc đó khi dám từ bỏ tất cả những gì mà người đời tìm kiếm, mong muốn sở hữu.

Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng trong quá khứ đã có không ít vua, quan từ bỏ đời sống vương giả, các bậc trưởng giả từ bỏ cuộc sống giàu sang danh vọng, thậm chí nhiều nhà khoa học, nhà chính trị, triết gia.v.v.. cũng sẵn sàng từ bỏ danh tiếng để trở thành những người tu hành. Phải chăng “xuất thế tục gia” là một niềm vui lớn? Có lẽ đúng nhưng chưa đủ nếu chúng ta chưa “xuất được cái phiền não gia” vốn cố hữu trong tâm mình. Và khi sầu ưu bi khổ não của cuộc đời được loại trừ thì đó chính là thứ hạnh phúc mà không có thứ hạnh phúc nào khác trên thế gian này có thể so sánh được. Đó là niềm vui của thiền duyệt vi thực, của pháp hỷ sung mãn từ việc tu học Phật pháp phát xuất từ bên trong chứ không còn phải bám đuổi theo những thứ ngũ dục vốn biến động vô thường ở bên ngoài và tiềm ẩn nhiều hệ lụy khổ đau.

Trong Truy Môn Cảnh Huấn ghi sáu điều khó khăn để rồi tự mừng cho mình đã được tu đạo:

– Một là trong muôn loài, thân người rất khó mà có được.

Như Kinh Đề Vi nói:

“Nay được làm thân người khó hơn cả rùa mù”.

– Hai là tuy được làm thân người, nhưng lại khó được sanh ở trung quốc, nơi này ở chính giữa các miền biên giới, có đầy đủ Kinh luật chánh pháp Đại Thừa.

– Ba là tuy được chánh pháp, nhưng có được lòng tin tưởng ưa thích lại là chuyện khó, nay tùy lực mà tin tưởng, chẳng dám nghi ngờ phỉ báng.

– Bốn là thân người khó mà được đầy đủ, nay được hình nam, nam căn không bị tàn khuyết, tướng mạo thành tựu.

– Năm là tuy có đầy đủ nam hình, sáu căn chẳng thiếu, nhưng bị năm thứ tham dục quấn quýt làm cho bị ô nhiễm, rất khó mà xuất gia được. Nay được cắt tình với người thân yêu xuất gia tu đạo, được mặc áo của Phật, được thọ tịnh giới của Phật.

– Sáu là tuy đã thọ cấm giới, nhưng việc theo giới rất khó. Nay ngược lại có thể ở trong giới luật, tôn trọng ưa thích giới luật, biết hổ thẹn nên phải giữ gìn cẩn thận.

Đối với sáu điều đó, nếu chẳng quan sát ắt sẽ phóng dật, trở ngại rất lớn cho Thánh đạo. Đã vượt được sáu điều khó khăn đó rồi, thì luôn luôn phải vui mừng vì những thứ khó đã được, được rồi thì chớ để mất đi. Suy nghĩ như vậy thì gọi là tĩnh tâm.

Đọc qua sáu điều trên đây, cho chúng ta một cái nhìn xuyên suốt về túc duyên trong thời quá khứ. Ngày hôm nay chúng ta có túc duyên vào chùa học đạo, là do trong thời quá khứ ta đã từng vun bồi công đức tu tập. Tại sao ngày nay được đầy đủ tứ sự cúng dường ta lại sanh tâm tật đố, ích kỷ, ghen ghét người hiền tài? Ta phải chín chắn chiêm nghiệm lại chỗ này! Chớ không thì gieo nhân xuất gia, mà gặt lấy quả địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Như vậy, phàm là bậc tu nhân tích đức không luận là xuất gia hay tại gia, chúng ta một khi làm việc gì, nói điều gì, ý nghĩ điều gì phải luôn luôn chánh niệm thu thúc sáu căn, đừng để một niệm thô ác tật đố, hãm hại người có đức. Vì sao? Vì một niệm phóng ra thì tác thành nhân quả nghiệp báo vậy!

Ngay đây hành giả phải một bước là nhảy vào đất Thánh, tuy là đời này chưa giải thoát, song chúng ta phát nguyện kể từ đây cho đến ngày thành Phật, không khởi niệm hãm hại người nào, dù người kia có làm cho mình xúc não. Đây chính là cửa ngõ vào đạo, là chỗ cực tắt đến thành Niết Bàn. Vì sao? Vì chúng ta ngày nay mang hình tướng tu sĩ tức là quyến thuộc của Tiên Thánh vậy! Mà đã là quyến thuộc của Tiên Thánh thì tâm ma phải ngày càng thuyên giảm, thì sự tu hành mới có ngày ngộ nhập được.

Do đó vua Nhân Tông Triều Tống tán thán chư Tăng:

“Những bậc tôn quý nhất trên thế gian không ai bằng những vị xả tục xuất gia. Nếu được làm Tăng sĩ, thì mới thọ nhận sự cúng dường của trời người. Làm đệ tử của đấng Thế Tôn tức là quyến thuộc của Tiên Thánh, vào nơi cửa vàng, đến cung điện bảo tạng. Hươu trắng dâng hoa, khỉ vượn cúng trái. Xuân nghe chim hót líu lo, vang tiếng điệu nhạc cõi trời. Hạ nghe ve kêu trên mây cao, biết rõ mùa nóng đã đến. Thu ngắm trời xanh, gió trong trăng sao chiếu vàng. Đông xem tuyết phủ đỉnh núi, sông ngòi. Ngồi thiền trên bồ đoàn thân ấm áp. Dẫu sóng ba đào nổi dậy, vẫn cưỡi tích trượng thăng hư không. Mười đại quân ma khi nghe danh vẫn phải hàng phục quy y chánh đạo. Vang tiếng gõ bảng bèn lên vân đường lễ cúng. Nghe tiếng chuông bèn lên chánh điện tụng Kinh. Mọi việc đều như ý, muôn loài hiện thành, lúc sống làm thầy trời người, lúc chết quyết định quy y Thánh quả”.

Như vậy, bước đầu là “Xuất thế tục gia” chưa đủ mà phải là “Xuất phiền não gia”. Song muốn vào sâu trí Phật thì phải “Xuất tam giới gia” nghĩa là phải ra khỏi nhà tam giới. Vì sao? Vì trong Kinh, Đức Phật dạy: “Ba cõi không an giống như nhà lửa”.

Ba cõi là: Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới vậy.

  1. Dục giới:

– Chư thiên cõi Dục giới vẫn còn dâm dục. Trời Tứ Thiên Vương dâm dục như người thế gian.

– Chư Thiên cõi trời Đao Lợi chỉ ôm nhau âu yếm liền thành sự dâm.

– Tại cõi trời Dạ Ma, chư Thiên nắm tay nhau, bèn thành sự dâm.

– Chư Thiên cõi trời Đâu Suất, mỉm cười với nhau liền thành sự dâm.

– Chư Thiên cõi trời Hóa Lạc ngó nhìn nhau, thì thành sự dâm.

– Chư Thiên cõi trời Tha Hóa vừa nháy mắt nhau, thì thành sự dâm.

Kinh Lăng Nghiêm nói:

“Sáu cõi trời như thế, hình tướng tuy không đồng, nhưng tâm đã giao hợp”, vì vậy gọi là Dục giới.

  1. Cõi trời sắc giới:

Cõi trời Sắc giới không còn dâm dục, nhưng vẫn còn sắc thân.

Kinh Lăng Nghiêm nói:

“Chư Thiên ở 18 cõi trời, hành hạnh đơn độc, không giao hợp nhưng chưa hết phiền lụy vì sắc thân, tức là sắc thể vi tế, nên gọi là cõi Sắc giới. Tuy không có sắc thể thô kệch, nhưng vẫn còn sắc tướng vi tế”.

  1. Cõi Vô sắc:

Kinh Tịnh Danh Lưu bảo:

“Nếu không hiểu giáo nghĩa thì cho rằng cõi Vô sắc không có sắc tướng. Nếu hiểu giáo nghĩa biết cõi Vô sắc vẫn còn có sắc tướng”.

Kinh Niết Bàn nói:

“Sắc tướng của cõi Vô sắc, Thanh Văn, Duyên Giác chẳng thể biết được”.

Kinh Lăng Nghiêm nói:

“Nơi bốn cõi trời không thiên, thân tâm diệt tận, nhưng định tính vẫn hiện tiền, và không có sắc tướng của nghiệp quả. Từ đó cho đến lúc mạng chung, được gọi là sống trong cõi Vô sắc”.

Như vậy, chúng ta thấy rõ ba cõi Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới tuy là tuổi thọ dài hạn. Song cũng đều nằm trong vòng sanh diệt.

Kinh Pháp Hoa Phật nói:

“Tam giới vô an, du như hỏa trạch”.

Nhưng muốn thoát khỏi nhà lửa này, đòi hỏi người tu Phật phải ngộ nhập tri kiến Phật. Vì sao? Vì thấy đúng như Phật rồi, thì không lầm chấp các pháp nữa. Từ đó ta quét sạch tập khí, đến lúc nào đó hoa lòng bỗng nhiên bùng nở. Ấy là lúc nhận ra mặt mày xưa nay của chính mình. Do đó nói:

Lúc từ nhà ra

Cầu cho chúng sanh

Vào sâu trí phật

Ra hẳn ba cõi.



BÀI 8: ĐĂNG XÍ

(Vào nhà vệ sinh)

Đăng là lên. Xí là chỗ đại tiểu tiện. Phàm là chỗ đại tiểu tiện phải cách xa điện Phật, để không có mùi hôi bay lại.

Trong Thiên Oai Nghi Tăng Chú, nói:

“Vừa muốn đại tiểu tiện, phải đi liền đừng để trong thúc lật đật”.

“Chẳng đặng ngó xuống, chẳng đặng cầm cỏ vẽ đất, chẳng đặng ráng hơi ra tiếng. Chẳng đặng cách vách cùng người nói chuyện, chẳng đặng nhổ phun trong vách. Gặp người không nên lễ, phải nghiêng người lánh đi, chẳng đặng đi dọc đường buộc vải áo, đại tiện rồi phải rửa tay cho sạch. Như chưa sạch chẳng đặng cầm vật chi v.v…”

Trong Đại Luật dạy:

“Mặc áo phú kiên (trùm vai) vào nhà xí, phải thay đổi giày dép, chẳng nên giày sạch mang vào nhà xí. Khi đến nhà xí, phải đờn chỉ ba tiếng cho người trong biết, chớ nên hối thúc người trong ra cho mau”.

Luật Tăng Kỳ lại nói:

“Không được đánh răng trong nhà vệ sinh, không được quán bất tịnh, thiền định v.v… làm trở ngại người khác”.

Vì khi ta đánh răng thì những người khác (huynh đệ đồng tu) chuẩn bị đi vệ sinh phải đợi chờ, mà phải chờ trong trường hợp này dễ sanh bực bội, phiền não. Do đó không đánh răng trong khu vực vệ sinh.

Như vậy, chúng ta thấy rõ, phàm là bậc tu đạo từ cách đi, đứng, ngồi, nằm, đại tiểu tiện đều có oai nghi phép tắc, khác với người thế tục rất xa. Do đó người xưa cử thân động niệm, đều không sai phạm quy tắc của Phật Tổ, lấy oai nghi quy tắc của Phật Tổ mà trang bị cho giới thân huệ mạng.

Nên trong Kinh Đại Dũng Bồ Tát Biệt Nghiệp nói:

“Tạo nhà xí trừ các ô uế, sau không có bệnh hoạn, về tiện lợi thân tâm thường thanh tịnh, người thấy không ai không hoan hỷ; do đó lìa các dơ bẩn, cuối cùng được an lạc lớn”.

Kinh Phước Điền nói:

“Phật bảo Thiên Đế, ngày xưa Ta xây dựng nhà vệ sinh một cách âm thầm, nhờ công đức này mà đời đời thanh tịnh, không dính uế nhiễm, ăn tự tiêu hóa, không bệnh tiện lợi”.

Kinh Trị Thiền Bệnh nói:

“Người sám hối trọng tội, cởi áo Tăng già lê, mặc áo An đà hội, tâm sanh hổ thẹn, cung phụng Tăng chúng, làm việc khổ nhọc, gánh phân quét nhà xí”. Lại nói: “Sau ٨٠٠ ngày trừ phân rồi tắm rửa, mặc áo Tăng già lê, vào tháp tượng Phật. Nếu thấy tướng tốt, dạy tụng giới ٨٠٠ lần mới được trở thành Tỳ kheo thanh tịnh”.

Do đó, chúng ta thấy rõ muốn được thiện nghiệp tăng trưởng, ác nghiệp tiêu trừ. Thứ nhất là phải tạo ích phước điền, phát tâm làm sạch sẽ chỗ tiện lợi. Thứ hai là khi đại tiểu tiện, phải đầy đủ oai nghi phép tắc. Trong nhà vệ sinh thường có quỷ ăn phân, nên lúc vào trước khảy móng tay để cho chúng biết mà tránh đi.

Trong Kinh Tạp Thí Dụ nói:

Có một Tỳ kheo, chẳng khảy móng tay khi đại tiểu tiện, làm trúng trên mặt con quỷ dơ dáy. Quỷ rất giận, muốn giết vị Sa môn. Sa môn đó nhờ trì giới nghiêm mật, quỷ đuổi theo rình tìm lầm lỗi của vị ấy, nhưng không thể được.

Do đó trong Thiên Oai Nghi Tăng Chú nói:

Lúc ngồi trên nhà xí rồi, lại phải đờn chỉ ba tiếng” thầm tưởng kệ rằng:

Đại tiểu tiện thời

Đương nguyện chúng sanh

Khí tham sân si

Quyên trừ tội pháp.

Nghĩa:

Khi đại tiểu tiện

Nên nguyện chúng sanh

Bỏ tham sân si

Dứt hết các tội.

Đây là bài kệ Tỳ Ni thứ tám. Bài kệ này Tổ dạy cho chúng ta là: Khi đại tiểu tiện ra làm như thế nào để “Xả bỏ tham, sân, si” dứt hết các tội ác. Vì sao? Vì người tu nếu chưa đốn dứt tham, sân, si thì dễ phát sanh tội ác. Chẳng hạn như chúng ta tham danh lợi… Nếu có ai cản trở mình, thì dễ phát sanh lòng sân hận, mà đã phát sanh lòng sân hận rồi thì trí huệ mờ tối, nên dễ làm những tội ác. Do đó người xưa nói “Tình sanh thì trí cách”. Phàm là bậc tu đạo phải chín chắn chiêm nghiệm về điểm này! Nếu để lòng sân phát khởi tương tục, thì khi sống làm tôi tớ cho lòng tham dục sai khiến, khi chết chắc chắn sẽ đọa lạc trong Tam đồ.

Trong Luận Đại Thừa Quảng Ngũ Uẩn nói:

“Sao gọi là sân? Nghĩa là đối với quần sanh lấy sự tổn hại làm tính. Ở không an ổn, dựa vào những hành vi ác tạo nghiệp không an ổn, làm tổn hại người và mình cũng ở trong cảnh khổ”.

Đối với vật vô tình lại nổi sân, như thời Phật Ca Diếp, có một Tỳ kheo đi kinh hành vấp gốc cây té ngã, rất giận nên chặt đào lên, lỡ bị dao chém nặng đến nỗi bệnh chết, liền trong khoảnh khắc thọ thân rắn độc. Lúc bạn học, đệ tử… thiêu thân thầy, thân sau ở chỗ thiêu gặp Phật, nhân đó sinh ác tâm muốn hại Phật. Lúc đó Phật răn dạy rằng: “Trước kia vì ngươi tức giận với vật vô tình, nên tự đưa đến quả báo này, nay lại giận hơn sẽ thọ thân ác nữa!”. Về sau không lâu, có bọn trẻ vì sợ rắn đó hại người, liền cùng nhau đốt thân nó. Rắn đó lại thấy bị hại, nên phẫn nộ muốn hại lại người, do đó vào lại địa ngục. Ngay lúc thiêu thân cũ chưa xong, hai thân hậu báo đồng thời thấy bị thiêu đốt. Nên biết đây là đối với vật vô tình, nổi giận mà bị quả báo. Đối với quả báo giận vật vô tình lại còn như thế, thì đối với hữu tình mà sinh sân, hại ấy lại nối nhau không có kỳ hẹn.

Như vậy, bài kệ Tỳ Ni này không cho phép chúng ta học thuộc là xong, mà phải thực hành nơi tâm nên nói: “Khi đại tiểu tiện là ta buông xả những chất dơ bẩn tham, sân, si trong tâm thức của ta. Vì sao? Vì trong các thứ dơ bẩn, thì phân là hôi hám nhất. Cũng vậy trong các thứ tác hại, sân là tác hại ghê gớm nhất”.

Nên Kinh Quyết Định Tỳ Ni nói:

“Thà khởi trăm ngàn niệm tâm tham, không nên sinh một niệm sân nhuế, vì di hại đại từ không có gì hơn nó”.

Do đó, bậc tiên hiền cổ đức xưa rất dè dặt về điểm này. Các Ngài luôn luôn kiểm soát tâm hành rất là miên mật, vì một niệm sân phát khởi thì bao nhiêu công đức lành tu tập đều tan theo mây khói.

Nên trong Kinh Đại Trang Nghiêm Pháp Môn nói:

“Sân hận diệt trăm kiếp lành đã làm”.

Sách Vãng Sanh Yếu Tập nói:

“Làm tổn hại đại lợi không gì hơn sân, do một niệm sân mà đốt sạch biết bao kiếp tu thiện”.

Như vậy, chúng ta tu là tu từ nơi tâm, tâm phát khởi thì nghiệp chướng theo sau. Do đó trong lịch sử Phật giáo, trong những thời kỳ cổ đông kim đều nói về sự tác hại của sân mà chiêu lấy khổ quả. Chẳng hạn như: bà Hy Thị phu nhân của vua Lương Võ Đế, cũng là nghiệp sân quá nặng nên tái sanh vào loài mãng xà. Sư huynh của Ngài An Thế Cao rất làu thông Kinh điển, song lại có tật cố chấp hay sân, sau khi chết đọa vào loài súc sanh làm mãng xà vương ở miếu Củng Đình Hồ…

Nên Kinh Hoa Nghiêm nói:

“Bồ Tát khởi một niệm tâm sân, thì sinh trăm vạn cửa chướng”.

Thế thì, người xuất gia tu đạo, hay người còn cư sĩ tại gia hãy cẩn trọng về điểm này! Chúng ta tu hành đừng mong chứng đắc, đừng mong học hành đỗ đạt gì! Mà chỉ ráng cố gắng huân tập thiện pháp, gạn lọc tham, sân si buông xả những tình niệm cố chấp. Ấy là pháp yếu của đạo giác ngộ vậy!

Thiền Sư Vĩnh Minh Diên Thọ nói:

“Cửa học đạo chẳng có gì là kỳ lạ đặc biệt, chỉ cần gột rửa căn trần, gieo hạt giống nghiệp thức chủng tử từ vô lượng kiếp cho đến nay. Các người chỉ biết tiêu trừ tình niệm, đoạn tuyệt vọng duyên, đối với mọi cảnh giới ái dục ở thế gian, tâm vẫn tựa như gỗ đá, như vậy dù chưa tỏ đạo nhãn, cũng đã thành tựu được tịnh thân. Nếu gặp được vị sư chân chính thì phải cần tâm thân cận. Giả sử hỏi mà chưa thấu triệt, học mà vẫn chưa thành tài, thì các thứ đó đã từng được trải qua nhĩ căn, cũng sẽ là đạo chủng đời đời chẳng rơi vào nẻo ác, kiếp kiếp chẳng bị mất thân người, vừa sanh ra đời nghe một biết ngàn”.

Nói chung, Đức Phật chỉ bày trăm muôn diệu nghĩa, hằng sa pháp môn nhưng không ra ngoài con đường chuyển hóa gạn lọc tham, sân, si để đạt đến con đường của giới định, tuệ. Song ngày nay chúng ta học đạo lại khác, chỉ mong cầu chứng đắc diệu nghĩa của Phật Tổ, mà không chịu gạn lọc tâm hành tham, sân, si của chính mình. Do đó, tập khí chủng tử nhiều đời vẫn còn nguyên, mà sự huấn tập tham, sân tật đố lại dẫy đầy thì thử hỏi làm sao lập địa thành Phật được? Nên bài kệ Tỳ Ni này chỉ dạy toát yếu rất rõ là:

Khi đại tiểu tiện

Nên nguyện chúng sanh

Bỏ tham sân si

Dứt các tội ác.

Kinh Niết Bàn nói:

“Độc trong các độc không gì hơn ba độc”.

Ba độc tham, sân, si giết hại Pháp thân, độc hơn rắn rết, vì giống phân dơ nên bỏ. Phàm bố thí thì không trộm cắp nên không tham. Có lòng từ không giết hại nên không sân. Có trí tuệ thì không dâm dục nên không si. Không trộm cắp nên nhiều của báu. Không giết hại nên được trường thọ. Không dâm dục nên có trí và có lễ. Tánh tội của ba độc đã trừ thì hạnh lành của Lục độ thành tựu viên mãn.

Như vậy, chúng ta thấy rõ trong các thứ độc hại nào là rắn độc, sài lang, hổ báo độc… cũng không sánh bằng ba độc tham, sân, si. Vì sao? Vì rắn độc cắn chết chỉ di hại một đời, còn tam độc tham, sân, si nếu không khéo trừ thì di hại cả ngàn kiếp. Do đó người xưa trong lúc hạ thủ công phu tu thiền đều dè dặt. Tam độc tham, sân, si phát khởi thì tâm từ di hại, nếu tâm tham phát khởi thì tâm thí tiêu hao, nếu tâm si phát khởi thì lửa dục lẫy lừng”.

Nên trong quyển Trúc Song Tùy Bút nói:

“Không sân do có tâm từ, tin lớn nhân trí mà thành; trí nhẫn vừa phát thì gốc nghi liền đoạn, mây từ đã thấm nhuần thì lửa sân tiêu dần. Do đó nhẫn trí qua bờ khổ hải, nhờ tín vào cửa Bồ đề, do từ ở trong cửa báu đại giác, bởi nhẫn mặc áo Như Lai”.



BÀI 9: TẨY TỊNH

(Rửa sạch)

Phật chế định các thầy Tỳ kheo sau khi đại tiểu tiện xong cần phải rửa sạch, nếu trái lời Phật dạy thì mắc tội vượt pháp. Tại sao ta phải rửa sạch? Vì phân là chỗ hôi hám nhất trong cơ thể, nếu không rửa sạch thì Tăng chúng khó sống chung với nhau. Lại nữa khi rửa sạch ta quán chiếu khi thức ăn còn nằm bên ngoài thơm tho, ai ai cũng tranh giành chiếm đoạt, đến khi ra ngoài thì ai cũng biết mùi ghê tởm. Quán chiếu sâu xa về lẽ vô thường biến dịch của kiếp người cũng lại như thế! Nếu hành giả quán chiếu thường xuyên thì tâm danh lợi, tật đố, ích kỷ… sẽ giảm dần.

Luật Thập tụng nói:

“Nếu không rửa chỗ đại tiểu tiện thì không nên ngồi nằm trên tọa cụ của tăng, nếu ngồi thì phạm đột-kiết-la”.

Sách Tỳ-nại-da tạp sự nói:

“Nếu người không rửa như thế thì không nên nhiễu tháp hành đạo, không nên cùng chúng lễ Phật tụng Kinh. Mình không lễ người cũng không nhận người lễ, không được thọ thực, không ngồi giường Tăng, cũng không nhập chúng. Do thân bất tịnh chẳng như pháp nên hay khiến chư Thiên không sinh hoan hỷ, có trì chú đều không hiệu nghiệm. Nếu có thì mắc tội ác tác. Nếu thiết trai cúng và viết Kinh vẽ tượng mà không rửa sạch, do khinh mạn nên được phước mỏng và ít.”

Như vậy, chúng ta thấy rõ trong pháp hành Tỳ Ni, luôn luôn đặt nặng vấn đề về thân – tâm phải cho nhất như thuần nhất. Chẳng hạn như là: Khi tẩy tịnh về thân, chúng ta luôn luôn quán chiếu thực hành tẩy tịnh về tâm. Ở đây nói khi đại tiểu tiện xong phải rửa sạch những đồ dơ uế nơi thân để khỏi tổn phước khi tụng Kinh, nhiễu tháp… song còn một điều quan trọng hơn đó là tâm, tâm nếu không tẩy tịnh, không chuyển hóa, thì tuy mang hình tướng xuất gia mà tâm vẫn còn tật đố, ích kỷ, san tham, chuyện không nói có, chuyện có nói không, đó là chưa biết cách chuyển hóa và tẩy tịnh về tâm. Người xưa chỉ cần nghe hai chữ danh lợi còn phải xuống sông rửa tai, huống nữa chúng ta là người tu đạo xuất thế! Nên trong bài Tỳ Ni này, Phật dạy tẩy tịnh nơi thân tâm cho được thuần nhất vậy! Do đó đại tiểu tiện xong rồi, đến lúc lấy nước rửa, tụng bài kệ chú rằng:

Sự ngật tựu thủy

Đương nguyện chúng sanh

Xuất thế pháp trung

Tốc tật nhi vãng.

Nghĩa:

Việc xong đến nước

Nguyện cho chúng sanh

Trong pháp xuất thế

Mau chóng mà đến.

Đây là bài kệ Tỳ Ni thứ chín. Bài kệ này nói lên tinh thần xuất thế gian pháp. Song muốn thể nhập pháp xuất thế gian thì chúng ta phải dùng nước “Công đức” để chuyển hóa nghiệp tập tham, sân, si từ vô lượng kiếp! Mà công đức này phải tu tập từ bên trong, chứ không phải bố thí cúng dường mà chuyển hóa được! Bố thí cúng dường chỉ là phước điền, trợ duyên cho chúng ta trên bước đường tu tập. Còn chuyển hóa nội tâm tẩy trừ cấu uế tham, sân, tật đố… thì phải dùng đến nước công đức.

Nên vua Võ đế hỏi Tổ Đạt Ma:

Trẫm từ khi lên ngôi đến nay thường cất chùa, chép Kinh độ Tăng Ni, không biết bao nhiêu. Vậy có công đức gì chăng?

Ngài đáp: – Đều không công đức.

– Tại sao không công đức?

– Bởi vì những việc ấy là nhân hữu lậu, chỉ có quả báo nhỏ ở cõi người, như bóng theo hình, tuy có mà chẳng phải thật.

– Thế nào là công đức chơn thật?

– Trí thanh tịnh tròn mầu, thể tự không lặng, công đức như thế chẳng do thế gian mà cầu.

Như vậy, chúng ta thấy rõ: Muốn thể nhập vào pháp xuất thế, ta phải tu tập nơi tự thân chính mình, luôn luôn phản quan lại nơi tự tâm là yếu chỉ của thiền vậy!

Nên một hôm vua Nhân Tông hỏi Tuệ Trung Thượng Sĩ:

“Thế nào là yếu chỉ của thiền?

Thượng sĩ nói: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự bất tùng tha đắc”.

Nghĩa là soi sáng lại chính mình là việc gốc chẳng từ bên ngoài mà được.

Vì thế bài kệ Tỳ Ni này nói lên tinh thần xuyên suốt từ chư Phật đến chư Tổ là phải dùng đến nước “Công đức” mà tẩy tịnh thân tâm cho được thuần nhất, để tẩy rửa cấu uế tham dục từ nội tâm. Ta phải rõ biết nước “Công đức” là nước gì? Phải thực tập như thế nào? Đó là cốt lõi của tẩy rửa vậy!

Pháp Bảo Đàn Kinh, phẩm Nghi Vấn, Tổ dạy:

Một hôm Thứ Sử thưa:

– Đệ tử nghe Tổ Đạt Ma khi mới đến vua Lương Võ Đế. Võ Đế hỏi: “Trẫm một đời cất chùa độ Tăng, bố thí thiết trai có những công đức gì?”. Tổ Đạt Ma bảo: “Thật không có công đức”. Đệ tử chưa thấu được lẽ này, cúi mong Hòa Thượng vì nói!

Tổ bảo:

– Thật không có công đức! Chớ nghi lời của bậc Tiên Thánh. Võ Đế tâm tà, không biết chánh pháp, cất chùa độ Tăng, bố thí, thiết trai đó gọi là cầu phước, chớ không thể đem phước đổi làm công đức. Công đức là ở trong Pháp thân, không phải do tu phước mà có được.

Tổ lại nói:

– Thấy tánh là công, bình đẳng là đức, mỗi niệm không ngưng trệ, thường thấy bản tánh, diệu dụng chơn thật gọi là công đức. Trong tâm khiêm hạ là công, bên ngoài hành lễ phép là đức; tự tánh dựng lập muôn pháp là công, tâm thể lìa niệm là đức; không lìa tự tánh là công, ứng dụng không nhiễm là đức. Nếu tìm công đức Pháp thân, chỉ y đây mà tạo là chân công đức. Nếu người tu công đức, tâm tức không có khinh, thường hành khắp kỉnh. Tâm thường khinh người, ngô ngã không dứt tức là không công, tự tánh hư vọng không thật tức tự không đức, vì ngô ngã tự đại thường khinh tất cả. Này Thiện tri thức! mỗi niệm không có gián đoạn là công, tâm hành ngay thẳng là đức, tự tu tánh là công, tự tu nhân là đức. Này Thiện tri thức, công đức phải là nơi tự tánh mà thấy, không phải do bố thí cúng dường mà cầu được. Ấy là phước đức cùng với công đức khác nhau. Võ Đế không biết chân lý, không phải Tổ sư ta có lỗi.

Đây Tổ dạy về công đức Pháp thân. Nghĩa là công đức này phải huân tu tự thâm chứng, chứ không hướng ngoại tìm cầu. Muốn thâm nhập pháp xuất thế, hành giả phải lấy nước công đức mà tẩy tịnh thì mới tiêu trừ nghiệp tập tham, sân, tật đố vô lượng kiếp đến nay.

Do đó nói: “Việc xong đến nước” vì bản chất của nước là nhu nhuyến thuần nhất, ở trên cao cũng được, xuống thấp cũng được, nước tuy là giọt nhỏ mà có thể xuyên thủng bờ đê, phá hủy núi lớn. Cũng vậy dùng giọt nước công đức Pháp thân, tẩy rửa phẫn dơ tam độc, tập nhiễm tật đố, ích kỷ, ghen ghét người hiền tài nên trừ, thì quả Diệu giác chóng qua, sáu độ tròn đủ. Nguyện tất cả chúng sanh được nước pháp công đức của Như Lai, tẩy rửa phẫn dơ từ vô thỉ, khế hợp tâm cơ mầu nhiệm của Phật Tổ, chóng liễu pháp vô sanh, ra khỏi ba cõi đồng thoát luân hồi, bi nguyện độ sanh không dứt. Muốn được như thế thì phải:

Việc xong đến nước

Nguyện cho chúng sanh

Trong pháp xuất thế

Mau chóng mà đến.



BÀI 10: KHỬ UẾ

(Khử dơ)

Đây là bài thứ mười nói về pháp hành Tỳ Ni. Bài này nói đến tinh thần khử đồ dơ bẩn khi chúng ta đại tiện. Sở dĩ chư Phật, chư Tổ đồng dạy cho chúng ta về phép tắc oai nghi là biểu tướng cho thân tâm tròn đủ, trong ngoài thanh tịnh. Giả sử một người mà bên ngoài sạch sẽ, còn bên trong thì ôm ấp tật đố, ích kỷ, xan tham… thì thử hỏi làm sao chứng nhập tâm cơ của Phật Tổ? Còn một người bên ngoài không sạch sẽ, mà bên trong vắng bóng tham, sân, si thì cũng được gọi là: Nguyên soái của chánh pháp.

Trong sách Tỳ-nại-da tạp sự nói:

Tôn giả Xá Lợi Phất là bậc Đại A la hán, cơ trí mẫn tiệp mà Tôn giả luôn luôn trong ngoài đều thanh tịnh. Đây mới đáng gọi là thầy của trời người.

Nên trong Chứng Đạo Ca Thiền Sư Huyền Giác nói:

Hãy vứt trong lòng manh áo bẩn

Xá gì tinh tiến hướng ngoài khoe?

Do đó trong sách Quy Truyện nói:

“Phật chế định chung cho Tỳ kheo, tu thì phụng luật sinh phước, không làm thì trái điều giáo huấn mắc tội. Việc này thì ở Đông Hạ không truyền, nó xuất hiện nên chú trọng vậy! Giả sử có dạy bảo bèn sinh tâm hiềm ghét, liền nói Đại thừa thông suốt rỗng không, có gì là sạch, gì là dơ. Trong bụng hằng đầy, ngoài rửa ích chi? Đâu biết nói thế là khinh khi khuôn phép dạy bảo, dối trá thánh tâm, nhận lễ và lễ người đều mắc tội lỗi, mặc áo ăn cơm thiên thần đều không bằng lòng. Nếu không tẩy tịnh thì năm trước ở Thiên Trúc đều chê cười; đến đâu cũng đều bị chỉ trích. Vì vậy người nối tiếp công việc hoằng hóa, đã chán tục ly trần, bỏ nhà đi đến không nhà, thì phải ân cần thực hành lời Phật, sao lại nói luật là hẹp hòi cứng nhắc?! Như không tin y đây rửa sạch, khoảng ٥ – ٦ ngày, sẽ biết lỗi của việc không rửa sạch”.

Đây là nói lên tinh thần từ khước những chất ô nhiễm nơi thân tâm, mà không từ khước cuộc sống thực tại. Thiền là như thế ấy! Khi chúng ta cảm thấy bực bội nơi tâm chính là những chất cặn bã tham ái xuất hiện, chúng vốn vô hình không có tự thể. Song chúng ta nếu không biết cách chuyển hóa, thì nó có tác hại đến ta rất lớn. Chẳng hạn như: Ta thấy bạn đồng tu với mình có năng lực hơn mình, được mọi người cung kính tán dương, nếu trong giờ phút thực tại này, ta không có chánh niệm, không biết cách chuyển hóa những tâm niệm xấu ác này, ta sanh tâm tật đố, ích kỷ… Đây là con đường đưa đến sự khổ đau trong kiếp hiện tại và mai sau. Do đó khi đại tiểu tiện xong dùng nước rửa sạch ta thầm đọc:

Tẩy địch hình uế

Đương nguyện chúng sanh

Thanh tịnh điều nhu

Tất cánh vô cấu.

Nghĩa:

Tẩy rửa mình dơ

Nguyện cho chúng sanh

Thanh tịnh điều nhu

Rốt ráo không dơ.

Đây là bài kệ Tỳ ni thứ mười. Bài này nói đến tinh thần siêu thoát của thiền. Vì sao? Vì nói đến thiền là nói đến tâm, nếu tâm không thì chỗ nào dơ sạch? Song người thời nay phần nhiều ngộ trên lý thì nhiều, mà chỗ sở hành rất ít. Do đó, Tổ sư ta mới dùng vô số phương tiện thiện xảo khai thị cho họ ngộ ra tri kiến như thật, nên mới dùng đến phương tiện như thế!

Trong Kinh Trung a hàm Phật dạy:

Có 21 tâm cấu nhiễm:

  1. Tâm tà kiến dơ
  2. Tâm dục phi pháp dơ
  3. Tâm tham ác dơ
  4. Tâm tà pháp dơ
  5. Tâm tham dơ
  6. Tâm sân dơ
  7. Tâm ngủ nghỉ dơ
  8. Tâm xúi bẩy dơ
  9. Tâm nghi hoặc dơ
  10. Tâm sân ràng buộc dơ
  11. Tâm nội kết không nói ra được dơ
  12. Tâm keo kiết dơ
  13. Tâm tật đố dơ
  14. Tâm lừa dối dơ
  15. Tâm siểm khúc dơ
  16. Tâm vô tàm dơ
  17. Tâm vô quý dơ
  18. Tâm mạn dơ
  19. Tâm đại mạn dơ
  20. Tâm ngạo mạn dơ
  21. Tâm phóng dật dơ

Phần này nói về tâm dơ. Giả sử có một người ngày tắm nhiều lần, mà trong tâm luôn đầy ắp thói hư tật xấu, tham danh, trộm cắp… thì đây gọi là “Tâm dơ”. Hồi Phật còn tại thế, có một thầy tên là Bạt Đa La, mỗi ngày thầy tắm rửa 10 lần. Phật biết được dạy: “Ngoài việc tẩy rửa thân thể, thầy còn phải tẩy rửa những cấu uế trong tâm, gội sạch tham, sân, phiền não”.

Như vậy, trong Kinh A Hàm Phật dạy:

“Tâm tà kiến là dơ bẩn”. Vì sao? Vì tâm này thấy thân thật, hoàn cảnh thật… mà đã thấy thân thật rồi thì tranh danh đoạt lợi. Ở những nơi tu tập đông người, vật chất phồn thịnh hay xảy ra những tai nạn này. Sở dĩ xảy ra như thế là vì người này tâm ban đầu vào chùa, chẳng phải là thiện tâm xuất gia, mà vì hoàn cảnh nào đó! Do đó bậc mô phạm tu đạo phải gạn lọc để chuyển hóa những tâm dơ bẩn này. Có những người khi mới vào chùa rất dễ thương, song sống ở chùa một thời gian, được thầy Trụ trì giao cho một chức vụ gì. Chẳng hạn như: Tri khách, Thủ bổn…lúc này tâm danh lợi liền xuất hiện. Song chiêm nghiệm lại cho kỹ ta đừng đổ thừa cho hoàn cảnh, mà trong tàng thức của ta đã có những hạt giống tham danh, tham lợi, tham đủ thứ…

Đây chính là:

Thiên đường có nẻo không người đến

Địa ngục không cửa có khách tìm.

Bởi vậy nói đến thiền là nói đến “Tâm” phải gạn lọc và chuyển hóa tâm thức như thế nào! Phải dùng chất liệu gì để tẩy sạch những chất cặn bã này?

Có câu chuyện Thiền như thế này:

Ni hiệu là Trí Thông, bà là con gái của quan Long đồ Phạm Tuân sống vào niên hiệu Chính Hòa đời Tống. Ngộ đạo rồi bà cất một cái nhà tắm ở Bảo Ninh, ngoài cửa có treo một tấm biển đề: “Một vật cũng không, rửa cái gì? Mảy trần nếu có từ đâu khởi? Nói lấy một câu tử huyền (khế hợp), mới có thể đồng vào cửa, cổ linh chỉ biết kỳ lưng, khai sĩ đâu từng sáng tâm. Muốn chứng quả ly cấu địa, phải là toàn thân toát mồ hôi. Trọn nói nước hay rửa bụi dơ, đâu biết rằng nước cũng là bụi, dù cho nước và bụi chóng trừ đến đây cũng phải rửa sạch.

Đây là nói đến tinh thần siêu thoát của nhà thiền. Trong bài kệ Tỳ Ni, Tổ dạy là sau khi đại tiện xong, chúng ta phải tẩy rửa mình dơ. Song bà lại nói: Một vật cũng không, rửa cái gì? Đây là con cháu đích thực của Đại sư Lục Tổ. Khi xưa Tổ ngộ Kinh Kim Cang nói: “Xưa nay không một vật”. Ngày nay bà ngộ ra đạo lý, vốn không thực thể nên nói: “Một vật cũng không, rửa cái gì?” Thân ư? Tâm ư? Nếu nói là thân: thân vốn vô tướng; nếu nói là tâm: tâm vốn vô trụ. Vậy rửa là rửa cái gì? Mảy trần nếu có từ đâu khởi? Xưa nay vốn thanh tịnh chợt dấy niệm sanh ra trần lao sơn hà đại địa. Lỗi tại ai? Chúng sanh điên đảo chấp thân tâm là thật nên mảy trần từ đâu khởi! Song nói huyền nói diệu cũng là lời nói dư thừa, làm sao ngay đây hành giả thừa đương!

Ta hãy nghe Thiền Sư Hồng Chẩn khai thị:

Tăng hỏi: – Khi trừ sạch trần thấy Phật thì thế nào?

Sư bảo: – Phật cũng là trần.

Chúng sanh mắt vốn không bệnh, do duyên trần nên bệnh nhặm. Hư không vốn không sanh ra hoa đốm, do mắt bệnh nên thấy hoa đốm từ hư không sanh. Bệnh hết mắt trong thử hỏi còn chờ hoa đốm sanh từ hư không chăng? Đây là chỗ cương lĩnh pháp tham thiền vậy!

Nên Thiền Sư Triệu Châu nói:

“Chỗ không Phật phải mau chạy qua, chỗ có Phật cũng đừng lưu luyến”.

Đây là nói đến chỗ cùng tột rốt ráo, nếu thấu qua chỗ này, ngày tiêu muôn lượng vàng ròng cũng xong, còn nếu chưa thấu thoát được chỗ này, thì ngày tiêu một giọt nước cũng là nợ đàn na tín thí. Như vậy ngay đây phải làm gì?

Tẩy rửa mình dơ

Nguyện cho chúng sanh

Thanh tịnh nhu hòa

Rốt ráo không dơ.



BÀI 11: TẨY THỦ

(Rửa tay)

Tinh thần bài Tỳ Ni này dạy khi chúng ta tiểu tiện, đại tiện hoặc làm bất cứ việc gì cho đại chúng, làm xong chúng ta phải rửa tay cho thật sạch. Tại sao rửa tay sạch lại vô cùng quan trọng?

Kinh Hộ Tịnh nói:

“Vì lấy tay nhơ chạm thức ăn sạch của Sa môn, lấy thức ăn dơ để trong thức ăn sạch của Sa môn; lấy thức ăn bất tịnh cho chúng Tăng ăn, sẽ đọa làm quỷ đói trong 500 đời, thường ăn đồ bất tịnh”.

Như vậy, chúng ta thấy rõ khi chúng ta làm việc gì cho chúng Tăng ăn, đều phải ý thức rõ là cúng dường cho chư Phật. Có rất nhiều vị khi mới vào tùng lâm không chịu khó nghiên tầm Luật học, chỉ một bề xem xét Thiền ngữ của Tổ, phần nhiều rơi vào những trường hợp này. Nếu người có trách nhiệm hướng dẫn chỉ bảo rửa rau hoặc làm cho thật sạch… Họ trả lời rằng: trong cũng dơ đâu cần gì phải rửa sạch. Đây là ngôn ngữ của quỷ mị, chẳng phải là bậc thắng nhân tu đạo. Họ đâu có biết một khi mất thân người, muôn kiếp khó trở lại, sanh tử dài lâu trải dài kiếp sống trong khổ hải.

Kinh Chánh Pháp niệm nói:

“Loài quỷ thọ 500 tuổi, cứ 100 năm của thế gian bằng một ngày đêm của bọn ngạ quỷ, và loài ngạ quỷ đã thọ 500 tuổi với ngày đêm như vậy”.

Thọ mệnh dài ngắn như trên là do nghiệp của chúng có loại nặng, có loại nhẹ nên quả báo thấy được cũng khác nhau.

Đây chính là cơ cảm chúng sanh, nếu trong giờ phút hiện tại ta cứ một bề sống theo vọng niệm: ích kỷ, san tham, tật đố, có tâm hại người… thì khi chết chắc chắn sẽ tái sanh vào chốn ngạ quỷ. Còn khi chúng ta luôn luôn sống với tâm thanh tịnh, dang tay rộng mở đón những kẻ cùng khốn, có tâm thương người, tùy hỷ với hạnh phúc của tha nhân, khi chết người này sẽ tái sanh về chốn nhàn cảnh. Như Kinh nói:

  1. Chư Thiên thấy nước tưởng là lưu ly.
  2. Loài người thấy là nước uống.
  3. Loài quỷ mị thấy nước tưởng là nước đồng sôi.

Như đây mà quán chiếu, chỉ có một dòng nước mà các loài thấy khác nhau. Huống nữa ta luôn luôn sống trong vọng niệm tham ái, thì khi chúng ta uống nước ấy như đang uống nước đồng sôi. Vì sao? Vì tâm ta luôn luôn chứa đựng những thứ cặn bã của sự hận thù, ích kỷ và tật đố. Do đó, Tổ dạy khi đến nước rửa tay ta thầm tụng:

Dĩ thủy quán chưởng

Đương nguyện chúng sanh

Đắc thanh tịnh thủ

Thọ trì Phật pháp.

Nghĩa:

Lấy nước rửa tay

Nguyện cho chúng sanh

Được tay trong sạch

Thọ trì Phật pháp.

Bài này nói đến tinh thần siêu thoát của nhà thiền. Khi chúng ta làm việc gì xong, nên nhớ đến nước rửa tay trong sạch không để cho dơ bẩn, làm ảnh hưởng đến con đường tu tập của chính mình.

Sách Khê Đường Tạp Lục nói:

Trong niên hiệu Nguyên Hựu có một vị Tăng người đất Thục là Pháp sư Trí Siêu, từng tụng Kinh Hoa Nghiêm đã 30 năm, bỗng gặp một đồng tử có tác phong trang nghiêm diện mạo trong sáng, giơ tay xá chào.

Thầy Siêu hỏi: – Chú ở đâu đến?

Đáp: – Tôi có chút việc muốn nhắc nhở nhau.

Thầy Siêu nói: – Vâng, tôi xin được nghe.

Vị đồng tử nói: – Thầy tụng Kinh Phật thật đáng khen! Nhưng mắc lỗi lên nhà xí tẩy tịnh, nước dơ thấm lên lưng bàn tay, mà không dùng nước tro rửa lại. Việc sử dụng nước tro, luật chế bảy lần, nay thầy chỉ dùng ٢ đến 3 lần, do đó còn dơ, lễ Phật tụng Kinh đều mắc tội.

Nói xong biến mất. Thầy Siêu thẹn mà sửa lỗi.

Người biết có kẻ bảo: – Đây ắt là Văn Thù hóa hiện để cảnh giác cho thầy Siêu.

Đây nói về thầy Trí Siêu, tuy là tụng Kinh thật đáng khen! Song trong lúc tẩy tịnh không được sạch sẽ, nên bị đồng tử đến chỉ điểm. Thầy cảm thấy hổ thẹn và phấn chí tu tiến thêm! Đây là cơ cảm của nhà Phật, ngày nay có những vị tôn túc tu hành miên mật, nếu lỡ làm việc gì có di hại đến việc tu hành, thường đêm ngủ mộng có Bồ Tát đến chỉ dạy. Do đó phàm là người tu đạo phải xét kỹ về điểm này! Nghĩa là khi làm việc gì ta phải làm cho thân tâm đều được trong sạch, không làm việc gì cho tự kỷ mà đều vì cho Tam Bảo.

Nên Kinh nói:

“Tay dơ mà cầm Kinh, sẽ bị quả báo làm trùng trong nhà xí”.

Ở đoạn này có hai nghĩa:

  1. Sau khi đại tiện xong nếu chúng ta tẩy tịnh không sạch, thì cầm Kinh xem, sẽ bị tổn phước di hại đến việc tu hành.
  2. Kinh là kim ngôn của Phật, nếu ta không dùng nước công đức rửa tay sạch, thì không có năng lực thọ trì Phật pháp. Vì sao? Vì trong vô lượng kiếp trước cũng vì tâm tham dục, sân hận, si mê, ảo vọng… Ta không làm chủ được tâm, nên xui khiến thân tạo tội rất nhiều, mà phần nhiều tay là hành động chủ yếu. Nên nói: “Bàn tay ta đẫm máu không biết bao nhiêu sanh mạng”. Do sát sanh, trộm cướp, tà dâm, uống rượu. Ngày nay muốn rửa tay cho được trong sạch, để thọ trì Thánh pháp của Phật. Ta phải dùng đến nước: “Ngũ phần pháp thân hương” vậy!.

Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, đức Lục Tổ dạy:

  1. Giới hương:Tức là trong tâm mình không có quấy, không có ác, không tật đố, không tham sân, không cướp hại gọi là Giới hương.
  2. Định hương:Thấy các cảnh thiện ác, tự tâm chẳng loạn gọi là Định hương.
  3. Huệ hương: Tâm mình không ngại, thường dùng trí huệ quán chiếu tự tánh, chẳng tạo các ác, tuy tu các hạnh lành mà tâm không chấp trước, kính bậc trên, thương kẻ dưới, cứu giúp người cô bần gọi là Huệ hương.
  4. Giải thoát hương:Tâm mình không có chỗ phan duyên, chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, tự tại vô ngại gọi là Giải thoát hương.
  5. Giải thoát tri kiến hương: Tự tâm đã không có chỗ phan duyên thiện ác, không thể trầm không trệ tịch, tức là phải học rộng nghe nhiều biết bản tâm mình, đạt được lý của chư Phật, hòa quang tiếp vật, không ngã không nhơn, thẳng đến Bồ đề, chân tánh không đổi. Gọi là Giải thoát tri kiến hương.

Đoạn này Lục Tổ dạy rất rõ về phần “Ngũ phần pháp thân Hương”. Nghĩa là hương này không phải là hương thường, mà chính là hương từ sự huân tu nội tại của ta mà phát tác. Như vậy ta muốn được tay trong sạch, để thọ trì Phật pháp, ta phải dùng đến loại nước “Ngũ phần pháp thân hương” này! Vì sao? Vì bàn tay ta từ vô thỉ kiếp đến nay, tạo không biết bao nhiêu tội lỗi, ta phải dùng đến nước pháp thân này mà tẩy tịnh để xa lìa những cấu uế của tham dục, sân hận, si mê và ảo vọng.

Như trong Luận Phát Bồ đề Tâm nói:

Nếu có kẻ thiện nam tử nào tu sáu Ba la mật, cầu Vô thượng chánh đẳng chánh giác, cần phải xa lìa bảy pháp như sau:

  1. Xa lìa ác tri thức: Ác tri thức là những người dạy bảo kẻ khác xa lìa chánh tín, xa lìa tinh tấn, xa lìa tình thương mến đối với chúng sanh.
  2. Xa lìa nữ sắc: Không tham đắm thị dục, xa lìa những nơi thế nhân ồn ào, nhưng luôn giữ chánh sự của mình, tức là đạo nghiệp vậy.
  3. Xa lìa ác giác ác quán: Phải tự quán sát hình dung, tham tiếc ái trọng còn nhiễm đắm, thủ hộ, gọi đó là lỗi lớn.
  4. Xa lìa sân nhuế, kiêu mạn, tật đố, cho đến những sự khởi phát tranh tụng làm hại thiện tâm.
  5. Phải xa lìa phóng dật, kiêu mạn giải đãi, tự giữ gìn các điều thiện nhỏ đối với người, phải tự thầm trách chớ để người khinh khi thầm trách ta.
  6. Phải xa lìa người ngoại đạo và sách vở ngoại đạo, cho đến văn chương thế tục, những ngôn ngữ hoa mỹ, chẳng phải là lời Phật dạy, thì chẳng đọc tụng ngợi khen.
  7. Chẳng nên thân cận kẻ tà kiến, ác kiến.

Như vậy chúng ta muốn được trong sạch, để thọ trì Phật pháp, xiển hóa Đại thừa. Trước tiên chúng ta phải xa lìa ác tri thức. Vì sao? Vì ác tri thức hay xúi bảo ta làm những việc phi hạnh Phật. Chẳng hạn như: họ xúi người ta uống rượu, ăn thịt, bỏ phế việc tu đạo, lấy tham dục làm chính. Đây là con đường dẫn dắt chúng ta xuống hỏa ngục nên ta phải buông bỏ. Kế chúng ta phải xa lìa nữ sắc, xa chốn phồn hoa đô thị, những nơi nào ma nghiệp tăng trưởng, Phật tâm tổn giảm, ta phải xa lìa để tăng trưởng thiện tâm.

Đây cũng chính là ý nghĩa mở rộng của bài kệ:

Lấy nước rửa tay

Nguyện cho chúng sanh

Được tay trong sạch

Thọ trì Phật pháp.



BÀI 12: TẨY DIỆN

(Rửa mặt)

Bài này nói đến tinh thần oai nghi trong sạch trong cửa Phật. Sáng sớm vừa ngủ dậy ta liền rửa mặt súc miệng trước là để thanh thản nơi tâm, sau là dứt những bợn dơ cấu nhiễm trong tâm. Vì sao? Vì khi chúng ta rửa mặt, ta quán chiếu thật sâu. Rửa mặt là quét sạch những cấu nhiễm tham dục, tật đố, ích kỷ… Ngay nơi tâm mình. Do đó khi lấy nước rửa mặt ta thầm tụng:

Dĩ thủy tẩy diện

Đương nguyện chúng sanh

Đắc tịnh pháp môn

Vĩnh vô cấu nhiễm.

Nghĩa:

Lấy nước rửa mặt

Nguyện cho chúng sanh

Được pháp thanh tịnh

Hết hẳn cấu nhiễm.

Đây là bài kệ Tỳ Ni nói về việc “Rửa mặt”. Rửa mặt ở đây khác hơn phàm tình rất xa. Khi chúng ta rửa mặt ta không chánh niệm, không thu thúc sáu căn, ta dễ đánh mất mình trong quá khứ, săn đuổi ước vọng ở tương lai. Còn ở đây chư Tổ dạy cho chúng ta khi lấy nước rửa mặt, ta nguyện cầu cho chúng sanh, được pháp thanh tịnh dứt hết cấu nhiễm nơi tâm.

Như vậy, muốn được pháp thanh tịnh, ta phải chánh niệm thu nhiếp sáu căn khi chúng ta rửa mặt, để thành thiện tâm. Vì sao? Vì mặt là phần nổi của sáu căn, là cửa của muôn pháp, nhìn người thiện hoặc ác phần nhiều biểu hiện lên khuôn mặt. Nên trong Kinh diễn tả mặt Phật giống như vầng trăng sáng, người nào dù cho có ác tâm, một khi chiêm ngưỡng dung nhan của Phật đều sanh tâm kính mộ, người nào trong lúc lâm chung tưởng nhớ đến dung nhan của Phật cũng có thể tái sanh về nhàn cảnh.

Trong Kinh Pháp Cú có ghi lại:

Có vị trưởng giả sắp mất, chỉ cần chiêm ngưỡng dung nhan của Ngài, liền tái sanh về nhàn cảnh”.

Do đó, trong bài tán Phật có ghi:

Thân Phật thanh tịnh trợ lưu ly

Mặt Phật giống như vầng trăng sáng

Phật thường ở thế gian cứu khổ

Tâm Phật không đâu không từ bi.

Như vậy, chúng ta thấy rõ cũng là một hữu tình như bao nhiêu hữu tình khác. Song nhìn khuôn mặt Phật, chiêm ngưỡng dung nhan từ ái của Ngài, tất cả mọi người đều có tâm ái kính với Phật. Còn chúng ta thì sao? Ai nhìn vào cũng có ác tâm cả! Đây không phải là do trời người sắp đặt, mà chính là do sản phẩm trong thời quá khứ của mình gây tạo, nó chính là con đẻ của ý thức vọng niệm tật đố, ích kỷ, sân hận… mà tạo thành hình dáng và tướng mạo cho ngày hôm nay. Người tu Phật biết rõ rồi, ta không oán trách trời, đất, cha, mẹ… Mà ngay trong giờ phút thực tại này, ta buông xả tâm tật đố, ích kỷ, san tham có tấm lòng bao dung rộng mở đối với tất cả mọi người, thì ngay trong giờ phút thực tại này, tâm ta thanh thản, tâm ta an vui, không gây đau khổ cho người khác, thì chắc chắn kiếp tương lai dung nhan ta ai nhìn cũng đều sanh tâm hoan hỷ, thích thú và phát tâm tu đạo. Đây gọi là con đường nuôi dưỡng Thánh đức trong tâm ta vậy!

Nên có câu chuyện thiền ghi:

Có vị tướng quân đến hỏi Thiền sư Bạch Ẩn: – Có thiên đường và địa ngục không?

Ngài nói: – Ông là ai?

Tướng quân nói: – Là tướng quân.

Ngài nói: – Sao giống đồ tể quá vậy!

Tướng quân mặt bừng bừng nổi giận, liền rút kiếm ra.

Ngài nói: – Đây là địa ngục.

Tướng quân nghe nói liền sực tỉnh tra gươm vào vỏ, quỳ xuống xin sám hối!

Ngài nói: – Đây là thiên đường.

Như vậy, một niệm sân vừa dấy khởi, ta chạy theo, ta mắc mứu, ngay đó chính là địa ngục. Còn ngay đây ta chánh niệm tỉnh thức, biết xoay lại nhìn rõ từng tâm niệm của mình, để kịp thời chuyển hóa thì ngay đó chính là thiên đường.

Trong cuộc sống chúng ta dễ dàng nhận thấy khi ta nổi giận – Ta hại mình trước nhất – ta biến tất cả tế bào, huyết quản trong ta thành chất kịch độc (lên huyết áp, nhồi máu cơ tim, đứt mạch máu não đều từ tâm bất như ý, bực dọc, nổi nóng. Và chứng đau loét bao tử lại có nguyên do từ những lo lắng trong công việc, thi cử hay áp lực cuộc sống) và dĩ nhiên khuôn mặt của người đang sân giận thì chưa bao giờ được xem là khả ái cả!

Có lẽ phần đông chúng ta đều biết đến câu chuyện: “Người mẹ đang phẫn nộ cho đứa trẻ 3 tháng tuổi bú, đứa bé bú xong, da xám ngắt, co giật rồi tắt thở. Kiểm nghiệm mới biết đứa bé chết vì độc tố tiết ra trong sữa” … Hay người xưa cũng thường nhắc nhở: “Con vật khi bị giết, oán hận xung thiên, nên thịt nó trở nên rất độc, con người ăn vào, tưởng là thức ăn béo bổ, không biết rằng chất độc đang thu nạp vào sẽ khiến họ mắc bệnh hiểm nghèo. Bởi vì sao?

Khi tâm chúng ta khởi niệm tốt hay xấu cũng đều tác động đến các pháp. Và nước là một trong các pháp. Chúng ta thường nghĩ nước chỉ là một chất lỏng vô tri, vô giác, nhưng thực tế nó rất nhạy cảm và phản ứng với những gì chúng ta suy nghĩ, nói năng. Để chứng minh điều này, giáo sư Emoto người Nhật đã thử nghiệm cho người nói lời «cảm ơn» vào một mẫu nước lọc. Sau đó ông chụp ảnh tinh thể và thấy nó cho ra hình bông hoa sáu cánh tươi đẹp, bày tỏ sự trang nhã, lịch sự như cảm nhận được lời cảm ơn của chúng ta. Ngược lại, khi cho người mắng câu «đồ ngu» vào cùng mẫu nước lọc thì nó không còn cho ra hình bông hoa nào hết mà chỉ còn lại những đốm lăn tăn như mảnh vỡ.

Và nước lại là chất cấu tạo 70% cơ thể con người. Do đó nếu biết cầu nguyện, nói cách khác là biết khởi lên những tư tưởng và lời nói tốt lành thì chúng ta có thể thay đổi được hóa chất của nước trong cơ thể, khiến cơ thể từ bệnh hoạn trở nên khỏe mạnh. Và ngược lại, nếu chúng ta khởi lên những tư tưởng và lời nói xấu ác thì có thể đi từ khỏe mạnh đến bệnh hoạn. Đó là một minh chứng khoa học có giá trị thực tiễn chứ không phải lời nói suông thiên về lý thuyết.

Song hành giả ít khi nào nhận ra điểm này, ta cứ nghĩ học đạo là phải ngộ đạo, là phải chứng nhập vào những cảnh giới cao siêu nào đó! Nhưng ta chỉ cần một niệm biết xoay lại, một niệm biết tỉnh thức, đó chính là ta đang công phu đắc lực nhất. Ví như trên một dòng sông rác rưởi trôi rất nhiều, ta không cần đếm từng cọng rác, mà ta chỉ cần nhận diện sự có mặt của rác hay bất cứ thứ gì khác xuất hiện trên sông. Cũng vậy một niệm sân vừa dấy khởi, ta không cần xua đuổi, cũng không cần đè bẹp chúng, mà chỉ cần nhận diện chúng và tìm cách chuyển hóa từng tâm niệm này.

Cho nên khi Thiền sư Văn Hỷ lưu luyến đảnh lễ bái biệt Bồ tát Văn Thù (trong hóa thân một ông lão), thì đồng tử Quân Đề đã an ủi ngài bằng cách tặng cho bài thơ từ giã với 4 câu (nhắc nhở nhân gian) vô cùng thâm thúy:

Trên mặt không sân đồ cúng dường

Trong miệng không sân xuất diệu hương

Trong tâm không sân là trân bảo

Không nhơ không nhiễm là chân thường.

Do vậy ta cần đình chỉ niệm sân sớm, để bảo vệ sức khỏe và gìn giữ cái tâm hiền thiện, duy trì tập quán tâm tốt lành cho mình đời này lẫn đời sau. Bởi chúng ta biết rất rõ một khi Tâm sân hận nổi lên thì những tác hại, những hệ lụy do tâm sân gây ra không ai có thể lường hết được. Con người khi gặp những cảnh trái nghịch hay sanh tâm thù ghét trách cứ, do không nhận chân được lẽ thật các pháp là do tâm sanh.

Như vậy, người có tâm hồn trong sáng hiền thiện, suy nghĩ tích cực thường sẽ có thần thái rạng rỡ, dễ gây thiện cảm với người đối diện. Ngược lại, những người thường xuyên suy nghĩ tiêu cực, mang trong mình sự oán hận, ghen ghét dễ để lại những dấu ấn không tốt trên khuôn mặt, từ đó làm cho tướng mạo trở nên u ám, mệt mỏi.

Nên Kinh Thập Thiện ghi:

Này Long Vương! Ngươi xem thân Phật do trăm ngàn ức phước đức mà sanh ra, các tướng trang nghiêm, ánh quang sáng chói che cả đại chúng, dù vô lượng ức các vị tự tại, Phạm vương đều không thể hiện được. Những ai chiêm ngưỡng thân của Như Lai, không ai là chẳng chóa mắt.

Ngươi lại xem các vị Đại Bồ Tát đây, diệu sắc trang nghiêm, tất cả đều do tu tập phước đức thiện nghiệp mà sanh ra.

Lại nữa, các hàng Thiên long bát bộ, thấy có oai thế lớn lao, cũng nhân phúc đức của thiện nghiệp mà sanh.

Nay đây các chúng sanh ở trong đại hải, hình sắc thô xấu, hoặc lớn hoặc nhỏ đều do hết thảy tưởng niệm của tự tâm gây nghiệp bất thiện, nên tùy theo chỗ gây thiện mà thọ quả báo.

Đọc qua đoạn văn Kinh này, cho chúng ta thấy rõ Đức Phật sở dĩ Ngài được thân tướng tôn nghiêm, trời người kính ngưỡng là do trong vô lượng kiếp Ngài đã huân tập hạt giống thiện pháp, nên ngày nay mới có cảm thân tướng sáng ngời như thế. Còn chúng ta thì sao? Ai thấy cũng đều ngán ngẩm. Sở dĩ thân tướng ta và thân tướng Phật khác nhau như thế, ấy là bởi vì chúng ta trong vô lượng kiếp luôn luôn tập những ác pháp nào là: tật đố, ích kỷ, san tham, ngạo mạn…

Như vậy, trong giờ phút thực tại này, ta phải tu tập như thế nào để chuyển đổi từ con người cho đến hoàn cảnh chúng ta đang sống. Đây là yếu tố quan trọng trợ duyên trên bước đường tu tập vậy! Nghĩa là trong cuộc sống giữa đời thường này, tâm ta phải luôn luôn tùy hỷ đến với mọi người, khi họ được thành công về pháp thế gian và xuất thế gian, thấy người nào có khả năng tu tập, có chí nguyện lớn và hạnh nguyện lớn ta tìm cách trợ duyên giúp đỡ… Làm việc gì đều trong tinh thần vô cầu không chấp trước, thì ngay tại đây và bây giờ tuy ta đang sống trong cõi Ta bà đầy khổ đau mà tâm ta đang ở trong cảnh giới “Thường tịch quang” của mười phương chư Phật. Đây là cương lĩnh pháp yếu tu tập chớ không phải là lời nói suông vô ích, bằng chứng tự thân chúng tôi thể nghiệm trong việc làm hàng ngày chớ không ức tưởng. Một hôm tôi đang quét dọn nhà vệ sinh, với tâm chánh niệm chuyên nhất, làm việc gì rõ việc ấy, tôi thấy thân tâm hoàn toàn tỉnh lặng sáng suốt lạ thường, một niệm hỷ lạc trào dâng. Tôi mới hay ra rằng không phải đợi đến lúc ngồi thiền ta mới gia công tu tập, mà trong từng phút giây ta luôn luôn tỉnh sáng thì niềm an lạc trong tâm ta phát khởi.

Do đó, chúng tôi khẳng định rằng: “Chỗ nào thấp kém nhất, chính là chỗ cao tột nhất, chỗ nào uế trược nhất, chính là chỗ Thường tịch quang của chư Phật”. Nếu trong giây phút thực tại này, ta dám buông xả cái ngã giả tạm trong tâm thức mình!

Như vậy, muốn áp dụng bài Tỳ Ni “Rửa mặt” trong đời sống hàng ngày, ta phải rửa tâm ta cho thật sạch, tẩy tịnh ý thức chấp ngã trong tâm thức của ta.

Có như vậy thì mới gọi là:

Lấy nước rửa mặt

Nguyện cho chúng sanh

Được pháp thanh tịnh

Hết hẳn cấu nhiễm.



BÀI 13: ẨM THỦY

(Uống nước)

Phật dạy: Trước khi uống nước, phải xem trong nước có trùng hay không. Vì mắt thịt quan sát không có ấu trùng thì dùng được, không dùng thiên nhãn mà quan sát nước. Khi Phật còn tại thế có các thầy Tỷ kheo dùng thiên nhãn nhìn vào nước, thấy vô số ấu trùng không dám uống.

Luật Tạng ghi:

“Xem xét nước không được dùng thiên nhãn xem xét; xem nước phải để cho người mắt không hư xem, lâu bằng sáu chiếc xe bò đi qua là được”.

Đây là Phật mong muốn các đệ tử khởi tâm đại từ bi, thương cảm bốn loài như con đẻ. Do đó trong bài tán thán Phật ghi:

Đấng Pháp Vương Vô Thượng

Ba cõi chẳng ai bằng

Thầy dạy khắp trời người

Cha lành chung bốn loài.

Sách Tỳ-nại-da tạp sự nói:

“Bấy giờ có hai vị Tỳ kheo ở phương Nam, muốn đến thành Thất La Phiệt lễ kính Thế Tôn. Cả hai đều không có vợt lọc nước. Giữa đường đi không có nước có thể uống được, phải chịu nóng khát bức thân thì đến một cái ao. Một người bảo: “Này cụ thọ, nên mau quan sát nước, tôi muốn uống nước trừ khát”. Liền xem kỹ, thấy nước có trùng, đến ba chỗ đều có trùng như thế. Hai người bàn rằng: “Nước đã có trùng, uống thì hại mạng, nay gặp lúc khát bức bách, cớ sự như thế làm sao?”. Lúc đó vị Tỳ kheo nhỏ liền nói bài tụng:

Trong năm ngàn kỳ kiếp

Khó gặp được Thế Tôn

Nay ta nên uống nước

Mong được lễ chân Phật.

Bấy giờ, vị Tỳ kheo lớn cũng nói bài tụng rằng:

Như Lai đại bi thương chúng sanh

Ba cõi ái nhiễm đều trừ bỏ

Ở trong giáo này thọ cấm giới

Ta thà bỏ mạng chẳng thương sinh.

Thế rồi vị Tỳ kheo nhỏ không thể nhịn được khát, uống nước có trùng và tiếp tục lên đường. Vị Tỳ kheo lớn bảo vệ trùng nhỏ, vững tâm không uống. Tự sách tấn, cố gắng đến một bóng cây ngồi ngay ngắn, tâm nhớ nghĩ việc lành cho đến khi sức mỗi lúc một suy kiệt, và cuối cùng lực kiệt mạng chung. Do phước lực này được sanh về cõi trời ba mươi ba, là nơi thắng diệu. Người sanh về cõi trời hoặc nam hoặc nữ, liền khởi ba ý nghĩ: ta chết ở nơi nào? Nay sinh ở nơi nào? Do làm nghiệp gì? Vì Tỳ kheo này liền tự nhớ tiền thân của mình chết ở cõi người, nay sanh về cõi trời ba mươi ba. Nhờ được Phật dạy, được sinh ở chỗ tôn quý, bấy giờ vị thiên tử ấy lại nghĩ: “Nếu ta không đến lễ đức Thế Tôn thì chẳng cung kính, đó là điều không nên”. Thiên tử nghĩ rồi liền trang nghiêm thân, đeo chuỗi ngọc trời, hào quang sáng rỡ rất là thù thắng, bèn đến nghe Phật thuyết pháp, đắc quả Dự lưu, tạ từ Phật trở về thiên cung. Còn vị Tỳ kheo nhỏ lần lượt đến thành Thất La Phiệt vào rừng Thệ Đa, đặt y bát xuống, rửa chân rồi đến chỗ Phật, lễ sát hai chân Phật và đứng một bên. Phép thường của Thế Tôn nếu thấy khách Tỳ kheo đến, liền an ủi rằng:

– Lành thay Tỳ kheo mới đến. Từ nơi nào mà lại? Hạ này an cư ở quốc Thánh nào?

Bấy giờ Thế Tôn hỏi Tỳ kheo đó rằng:

– Thầy từ nơi nào lại?

Bạch: – Thưa Đức Thế Tôn, con từ phương Nam lại.

Lại hỏi: – Hạ này an cư ở đâu?

Đáp: – Cũng tại phương Nam.

Phật hỏi: – Thầy đi đường xa có bạn không?

Bạch: – Có.

Phật hỏi: – Thầy ấy đi đâu rồi?

Tỷ kheo trẻ liền thuật lại đầy đủ việc trên.

Lúc đó Thế Tôn nói tụng rằng:

Nếu khinh mạn giới luật

Đâu cần nhọc thấy Ta

Như không thấy không kính

Tỳ kheo kia thấy Ta

Do giữ được tịnh giới

Người ngu kẻ vô trí

Không thật thấy được Ta.

Bấy giờ Thế Tôn trật Thượng y để lộ ngực cho thấy, lại nói tụng rằng:

Người quan sát thân Ta

Được cha mẹ sanh ra

Ví như chân kim sắc

Vì do phước lực trước

Nếu không kính pháp thân

Không thấy được chư Phật

Nếu người rõ pháp thân

Thấy được đại Mâu Ni

Thứ nhất pháp thân Ta

Thứ nhì là sắc thể

Người trí thấy biết được

Nên khéo hộ Thi La

Thời Phật Ca-Diếp-ba

Do tổn Y-La-Diệp

Hiện đọa trong loài rồng!

Lúc đó, Thế Tôn lại nghĩ: Do các Tỳ kheo không mang vợt lọc nước nên có lỗi như thế, nên bảo các vị Tỳ kheo phải sắm vợt lọc nước. Khi nghe Thế Tôn bảo sắm vợt lọc nước thì các vị Tỳ kheo không biết có mấy loại? Phật dạy có năm loại:

Một là Loại vuông. (tấm lụa vuông)

Hai là Pháp bình. (bình âm dương – bình lọc)

Ba là Bình quân trì. (lấy vải lụa trùm lên miệng bình rồi lấy dây nhỏ buộc ngang ở cổ)

Bốn là Chước thủy la. (Đãy lược nước)

Năm là Y giác la. (vải chéo y)

Như vậy, chúng ta thấy rõ mục đích của sự giải thoát khỏi tâm cấu nhiễm, chính là con đường của “Giới Định Tuệ”. Dù chúng ta có đàm huyền thuyết diệu đến đâu! Nếu không cẩn trọng giới pháp của chư Phật, thì tuy ta có được gần gũi Phật cũng như cách xa Phật. Còn chúng ta nghiêm cẩn giới pháp của Phật, thì tuy ta không gần gũi Phật mà đã diện kiến Đức Phật.

Do đó, tinh thần của giới luật là nhằm đưa hành giả luôn luôn trở về con đường chánh niệm, con đường của sự hiểu biết và thương yêu. Thương cho thân phận chính mình, đã vào ra sanh tử mang lông đội sừng cũng do phạm trai phá giới, thương nỗi khổ của chúng sanh mà tấn tu đạo nghiệp, phát khởi đại bi, nguyện vào ra ba cõi sáu đường để hoàn thành Phật quả. Song vào ra trong ba cõi sáu đường mà không dùng diệu pháp “Giới Định Tuệ” thì dễ bị sa đọa trong ác đạo.

Trong Kinh Di Giáo Phật cũng dạy:

“Sau khi Ta nhập Niết Bàn, các ông phải tôn trọng giới luật vì y đó hành thì sẽ được giải thoát. Tôn trọng giới luật chính là tôn trọng Ta, Ta còn ở cõi đời là Thầy các ông. Sau khi Ta nhập Niết Bàn, người làm thầy các ông chính là giới luật, có giới luật phải nên vui mừng như được của báu, phải biết rằng giới luật là vị Đạo Sư của các ông cũng như Ta ở đời không khác vậy”.

Như vậy, con đường của giới chính là con đường đi đến quả vị giải thoát rốt ráo. Người nào nếu bỏ qua phần giới pháp này, coi như ta muốn qua sông mà không dùng đến chiếc bè của “Giới-Định -Tuệ”. Ngày xưa Ngài Tuyên Luật sư đều nghe Tạng Luật (Tỳ Ni) tới mười hội. Ngài Huệ Hưu pháp sư nghe luật đến trọn đời. Suy gẫm thử chúng ta là hạng nào mà vội thôi Luật lìa Thầy quá sớm, một cốc một am, chừng nào Tạng Luật đã thông, năm hạ tròn đủ mới cho nghe Kinh giáo và học pháp tham thiền. Do đó trong mỗi hành động, trong bốn oai nghi chúng ta đều thu thúc sáu căn và thầm tưởng niệm khi ta uống nước:

Phật quán nhất bát thủy

Bát vạn tứ thiên trùng

Nhược bất trì thử chú

Như thực chúng sanh nhục.

Nghĩa:

Phật thấy một bát nước

Tám vạn tư vi trùng

Nếu không trì chú này

Như ăn thịt chúng sanh.

Đây là bài kệ Tỳ Ni thứ ١٣. Bài này nói về cảnh giới bất khả tư nghì của chư Phật, khi xưa các nhà khoa học chưa sáng chế ra kính hiển vi. Song dưới cặp mắt giác ngộ của đức Phật, Ngài thấy xuyên suốt qua tất cả các loại hữu tình nhỏ bé, và căn dặn các đệ tử phát khởi lòng bi khi thọ thực hoặc uống nước.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói:

“Sau khi Ta diệt độ, trong thời mạt pháp các loài quỷ thần này rất thịnh hành trong thế gian, tự nói ăn thịt được đạo Bồ đề. A Nan! Trước kia ta cho Tỳ kheo ăn tam tịnh nhục, thịt này đều do thần thức của Ta hóa sinh, vốn không phải là mạng căn. Ở nhằm chỗ đất của các vị Bà la môn nóng ẩm nhiều, lại thêm cát đá rau cải không sinh được, Ta vì đại bi gia tăng thần lực, nhân lòng đại bi giả gọi là thịt, cho các ông dùng. Sau khi Ta diệt độ, tại sao những người ăn thịt chúng sanh mà xưng là Thích tử! Các ông nên biết là người ăn thịt, dù tâm khai mở giống như chánh định, đều là quỷ đại la sát. Đến khi mãn kiếp quyết định phải chìm trong biển khổ sanh tử! Chẳng phải đệ tử của Phật! Người như thế giết hại ăn thịt lẫn nhau không dứt, làm sao người đó ra khỏi ba cõi được”.

Như vậy, ở đây chúng ta thấy rõ mục đích của chư Phật thị hiện ở đời là cốt đem niềm vui an lạc đến cho các loại hữu tình. Do đó chủ trương của đạo Phật là lấy “Từ bi – Trí tuệ” làm gốc. Song điểm chúng ta lưu ý qua bài kệ này chính là “Lý tánh tuyệt đối” trên phương diện văn cú, từ nghĩa này nếu chúng ta thấy thoát, thì đây chính là pháp hành thiền tập trong cuộc sống giữa đời thường này.

Như bài kệ nói:

Phật quán nhất bát thủy

Bát vạn tứ thiên trùng.

Phật tức là giác, mê tức là chúng sanh. Một khi ta uống nước ta không chánh niệm, phóng dật sáu căn mà khởi niệm toan tính ngon dở. Ấy là lúc ta ăn thịt chúng sanh vậy. Vì sao? Vì trong thân chúng sanh có 84.000 vạn trần lao phiền não, nếu ngay đây ta không tỉnh giác, tâm ta duyên về quá khứ, hiện tại, vị lai thì ngay trong tự thân ta mỗi niệm mỗi niệm chính là trần lao dấy khởi.

Nên trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ dạy:

“Này Thiện tri thức! Pháp môn của tôi đây từ một Bát nhã phát sanh tám muôn bốn ngàn trí tuệ. Vì cớ sao? Vì người đời có tám muôn bốn ngàn trần lao, nếu không có trần lao thì trí tuệ thường hiện, chẳng lìa tự tánh. Người ngộ pháp này tức là vô niệm, vô ức, vô trước, chẳng khởi cuồng vọng, dùng tánh chân như của mình, lấy trí tuệ quán chiếu, đối với tất cả pháp không thủ không xả tức là thấy tánh thành Phật”.

Như vậy, chúng ta khẳng định rằng: “Niệm khởi là ăn thịt chúng sanh, niệm giác là chánh hạnh thành Phật”.

Như câu chuyện vị Tăng có 18 mụn ghẻ:

Xưa ở chùa Quán Âm tại Lâm Hải, Tỉnh Triết Giang, Trung Quốc, có vị Tăng tên Hàm Huy, hơn 40 tuổi, hàng ngày giữ giới luật rất kỹ. Một hôm, Hàm Huy đi ngang qua tiệm thịt chó, mọi khi thì không có nghĩ gì, nhưng hôm ấy bỗng nhiên chảy nước miếng, thầm cảm thấy thèm ăn một miếng cho thỏa thích.

Sau đó Hàm Huy trở về chùa, bỗng toàn thân phát nóng, trên mình nổi lên 18 mụn độc, mỗi mụn độc có hình dáng đầu người, đau đớn rất khó tả. Nhưng có điều lạ, hễ cho người xem là bớt đau, còn che giấu không cho ai xem thì càng đau thấu đến xương tủy, dường như là để cảnh tỉnh cho người. Thầy thuốc danh tiếng khắp nơi đều bó tay không trị được. Hàm Huy đến nước cùng ấy, biết đây là oan nghiệp của mình sinh ra, bèn cố chịu đau đến trước tượng Phật quỳ lạy, thành tâm tụng Kinh Kim Cang cầu sám hối.

Một hôm đang ngủ trưa, Hàm Huy chợt mơ thấy 18 tên lính không đầu, từ trong cổ họng phát ra tiếng nói: – Ngài có nhận ra chúng tôi không?

Hàm Huy đáp: – Không biết.

Những tên lính không đầu ấy lại nói tiếp:

– Đời trước Ngài thống lĩnh binh Kim, chúng tôi là lính của Ngài. Ngài sai chúng tôi giữ cửa ải trên đỉnh núi. Trong số lính của Ngài có hai người không giữ quân luật, đi xuống núi gặp một thiếu phụ đi một mình, bắt lấy cưỡng hiếp. Thiếu phụ về thuật lại cho chồng nghe, người chồng thưa kiện đến Ngài. Ngài không tra xét kỹ, đem chém cả 20 người chúng tôi. Hai người kia phạm pháp là có tội, còn chúng tôi 18 người lại bị chết oan theo. Chúng tôi đâu thể bỏ qua được. Chúng tôi tìm Ngài đã 200 năm nay rồi, đến đời này mới gặp. Nhưng vì Ngài làm Tăng tu hành giữ giới, có thần hộ pháp bảo vệ, do đó chúng tôi không dám xâm phạm. Nay đây, nhân Ngài thấy thịt chó mà động niệm khởi tưởng ăn, đã thành phá giới, nên không có thần hộ pháp bảo vệ. Do đó, chúng tôi chẳng sợ Ngài. Hiện tại Ngài tụng Kinh cốt cầu giải oan, thì tạm tha cho Ngài ba năm, sau sẽ đến đòi mạng.

Nói xong tất cả đều biến mất. Từ đó quả nhiên mụn độc ngừng hành hạ Hàm Huy, ba năm sau mụn độc lại tái phát, vỡ ra khiến Hàm Huy phải chết.

Qua mẫu chuyện này cho chúng ta thấy rõ gieo nhân ắt gặp quả. Song Ngài Hàm Huy do công năng tu trì trai giới nghiêm mật nên 18 người lính này, không có cơ hội mà trả thù duyên xưa. Nhưng trong một phút bất giác không làm chủ được sáu căn, Ngài khởi tâm động niệm. Ngay đây bình công đức đã thủng, ma tâm dấy động, tức khắc ngoại ma chen vào. Thiên đường liền biến thành hạ giới, phẩm hạnh trang nghiêm không còn nữa. Ấy là lúc tâm ta đang ăn nuốt chúng sanh, thì thử hỏi dù chúng ta có lọc đi vạn lần mà tâm ma ta dấy khởi, bấy giờ tuy thân không hành động mà tâm là tác giả, tâm là chủ nhân tạo tác, là cửa ngõ dẫn dắt ta lên xuống ba đường sáu nẻo.

Do đó, Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ dạy rất rõ:

“Suy nghĩ việc ác hóa làm địa ngục, suy nghĩ việc thiện thì hóa làm thiên đường, độc hại thì hóa làm rồng rắn, từ bi thì hóa làm Bồ Tát, trí tuệ thì hóa làm thượng giới, ngu si thì hóa làm hạ giới. Tự tánh biến hóa rất nhiều, người mê không hay tỉnh giác, mỗi niệm khởi ác thường đi trong con đường ác, xoay về một niệm thiện, trí huệ liền sanh, đây gọi là tự tánh hóa thân Phật”.

Qua bài kệ Tỳ Ni này, chúng ta thấy rõ muốn được thân tâm tự tại, thì trong bốn oai nghi, ta phải luôn kiểm soát sáu căn, một bề hướng thượng, chớ tạo việc ác, thì ngay phiền não tức Bồ đề. Tham sân si tức là “Giới – Định – Tuệ”. Muốn được như thế! Thì trong lúc uống nước ta luôn luôn chánh niệm và thầm tưởng lời Phật dạy:

Phật thấy một bát nước

Tám vạn tư vi trùng

Nếu không trì chú này

Như ăn thịt chúng sanh.



Bài 14: Y NGŨ ĐIỀU

(Y năm điều)

Y tiếng Phạn là Chi phược la (kasaya); dịch là bất chính sắc, nhiễm sắc, trọc sắc… Có ngũ y, thất y, đại y khác nhau.

Trong luật Tứ phần nói về duyên khởi Phật chế Tỳ kheo mặc y như sau:

“Bấy giờ Đức Thế Tôn ra khỏi thành Vương Xá, du hành trong nhân gian ở phương Nam, giữa đường thấy ruộng làm rất khéo, những thửa ruộng có bờ ngay ngắn. Thấy rồi bảo A Nan: – Thầy thấy những đám ruộng này không?

Đáp: – Bạch Thế Tôn đã thấy.

Phật hỏi A Nan: – Thầy có thể vì chư Tỳ kheo may y pháp như thế này không?

Đáp: – Có thể.

Đức Phật nói với A Nan: – Thầy hãy chỉ dạy cho các Tỳ kheo.

Bấy giờ A Nan từ chỗ đó trở về thành Vương Xá, chỉ dạy các Tỳ kheo, cắt may y; đây là điều dài, đây là điều ngắn, đây là dài vải, đây là may đường thứ nhất, đây là may đường thứ hai, đây là may giữa, điều và dãy, vải này hai hướng. Bấy giờ ở thành Vương Xá có nhiều người cắt may y mặc theo lối này.

Lúc Đức Thế Tôn du hành trong nhân gian ở phương Nam trở về thành Vương Xá, thấy chư Tỳ kheo nhiều người cắt may y mặc, bảo rằng: “A Nan thông minh đại trí tuệ, Ta mới nói sơ mà có thể hiểu rõ. Trong thời quá khứ chư Như Lai vô sở trước và đệ tử của Phật cũng mặc y như thế, như ta ngày nay”.

Ở đây chúng ta thấy rõ Đức Phật khẳng định rằng chư Phật quá khứ, chư Phật hiện tại, chư Phật vị lai đều mặc y phước điền vô thượng này. Vì sao? Vì y phước điền này tiêu biểu cho ruộng phước, một thầy Tỷ kheo tu hành thanh tịnh, giới hạnh đoan nghiêm là ruộng tốt cho chúng sanh gieo vào, giống như một thửa ruộng mà có phân, có nước thì hạt giống gieo vào tức khắc đâm chồi nảy lộc. Cũng vậy, Tăng bảo thường còn ở thế gian, là báo hiệu cho các loài hữu tình, nhờ nhân duyên các thầy tu tập thanh tịnh, đi đúng con đường Chánh pháp của chư Phật, thì đó là cơ hội tốt cho chúng sanh gieo vào.

Như vậy muốn ruộng chúng ta tươi tốt, để chúng sanh gieo hạt vào được đơm bông kết trái, thì mỗi vị hành giả phải luôn thu thúc sáu căn, trau dồi giới đức. Được như thế thì chúng ta khi thọ nhận sự cúng dường, là ta tin chắc rằng: Hạt giống của chúng hữu tình sẽ đâm chồi nảy hạt.

Do đó khi đắp y năm điều, ta thầm tụng:

Thiện tai giải thoát phục

Vô thượng phước điền y

Ngã kim đảnh đới thọ

Thế thế bất xả ly.

Nghĩa:

Lành thay áo giải thoát

Áo phước điền vô thượng

Nay tôi đầu đội mặc

Đời đời không rời bỏ.

Bài kệ Tỳ Ni thứ 14 nói về năng lực của phước điền y, tức là áo giải thoát. Ở đây chư Phật vì lòng thương chúng sanh mà thị hiện việc hàng ngày, sai bảo Tôn giả A Nan chế tác ra áo phước điền vô thượng cho chư thiên và loài người, để họ kết thiện duyên với Tam Bảo. Do đó người học đạo luôn luôn phấn phát hướng thượng đời đời kiếp kiếp không rời bỏ manh áo giải thoát này. Vì sao? Vì trong Kinh Phật nói rất rõ: Sa môn dù có kiết sử, dù có ô nhiễm, nhưng mang hình tướng Sa môn, mặc áo cà sa thì vào thời Phật Di Lặc cho đến Phật Lâu Chí sẽ vào được Niết Bàn không sót một người.

Như vậy, áo giải thoát có công năng đưa người phàm đến quả vị Thánh, trong từng sát na của niệm. Thật vậy! Một người dù cho có ô nhiễm đến đâu, song một khi họ đắp y cà sa vào, cũng không dám khởi niệm ác mà chỉ một bề hướng đến Tam Bảo.

Do đó trong Kinh Đại Tập, Phật dạy:

“Những người cạo tóc mặc cà sa, trì giới và phá giới, trời người nên cúng dường để thường không thiếu thốn. Cúng dường những người như thế là cúng dường cho Ta. Nếu có người tôn kính pháp, quy y và cạo tóc, thân mặc áo cà sa, thì người đó là con Ta. Giả sử có hủy cấm giới vẫn trụ ở địa vị bất thoái. Nếu ai đánh đập người đó chính là đánh đập thân Ta. Nếu ai mạ nhục người đó chính là mạ nhục thân Ta. Người đó sắp tịch diệt thì đèn chánh pháp sáng ngời. Vì tiền của thì cùng đấu tranh, hám lợi thì đồng sanh sân hận”.

Ở đoạn văn Kinh Này, Đức Phật nói rõ người nào đã mang hình tướng sa môn, đắp y cà sa của Phật thì người đó chính là Tăng bảo thường trụ ở thế gian. Vì phước điền y là đức danh của cà sa, là những đám ruộng tốt tăng trưởng những điều thiện, do đó mình với người đều được lợi lành, giống như người nông phu tới mùa gieo giống trong ruộng, nên đến mùa thu có thể gặt hái.

Sách Tăng huy ký nói:

Thửa ruộng chứa nước sinh trưởng lúa non tốt, để nuôi sống con người; ruộng pháp y thấm nhuần nước vì bốn lợi thì thêm cho lúa non ba điều thiện (không tham – sân – si) để nuôi lớn pháp thân huệ mạng.

Như vậy, một người đã từ bỏ con đường thế tục, cắt ái từ thân, là đang đi trên con đường giác ngộ của chư Phật. Do đó phước điền y còn là biểu tướng của mười phương chư Phật, là chiếc thuyền đưa mình và người vượt qua bến khổ.

Nên trong Kinh Bi Hoa đức Phật đã từng phát đại nguyện và tán thán năng lực của cà sa như sau:

Thuở xưa Đức Như Lai ở trước Phật Bảo Tạng phát đại nguyện: Nguyện lúc con thành Phật, cà sa sẽ có năm công đức.

  1. Tứ chúng đã vào trong giáo pháp của con, có phạm giới trọng tà kiến… Nếu trong một niệm, tâm cung kính tôn trọng cà sa, thì ắt sẽ được thọ ký Tam thừa.
  2. Trời, rồng, người, quỷ nếu cung kính cà sa một chút, thì liền được Tam thừa bất thoái.
  3. Nếu có người, quỷ, thần được cà sa, thậm chí chỉ bốn tấc thì đồ ăn uống được đầy đủ.
  4. Nếu chúng Tăng không hòa hợp nhau, thì nhớ đến lực của cà sa, họ liền sanh tâm từ bi.
  5. Nếu ở giữa quân trận mà cầm một phần nhỏ của cà sa với lòng cung kính tôn trọng, thì thường được thắng trận.

Đây là lời đại bi nguyện của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi Ngài còn hành hạnh Bồ tát. Ngài đã đối diện với Đức Phật Bảo Tạng, phát đại bi nguyện, vì lợi ích và an lạc cho chúng sanh. Thật vậy! Nếu mỗi hành giả nào khi đi, đứng, nằm, ngồi luôn luôn tôn kính cà sa thì tâm thái thường an ổn và hạnh phúc. Vì sao? Vì năng lực của cà sa chỉ có Phật mới hiểu thấu được. Tuy nhiên ta chưa thành Phật, song một khi ta nhớ lại đại bi nguyện của Đức Phật, tức là ta đã diện kiến với Ngài và sống trong ánh hào quang Phật lực của Ngài, thì thử hỏi làm sao không được an ổn và hạnh phúc? Do đó, hành giả khi mặc áo cà sa vào tức là mặc áo nhu hòa nhẫn nhục, hành giả khi mặc áo cà sa vào, tức là quyến thuộc của Tiên Thánh…

Nên trong Kinh Tâm Địa Quán Phật dạy cà sa có 10 lợi ích:

  1. Che thân khỏi mắc cỡ mà đầy đủ hổ thẹn.
  2. Ngăn nóng lạnh và ruồi muỗi
  3. Biểu thị hình tướng của sa môn.
  4. Là bảo tràng tướng của trời người, sinh phước thuộc cõi Phạm thiên.
  5. Lúc mặc sinh tướng tháp báu, diệt các tội ác.
  6. Màu hoại sắc không khiến phát sanh tham dục.
  7. Cà sa là y thanh tịnh của Phật, đoạn hẳn phiền não và là ruộng lúa tốt.
  8. Tiêu tội và sinh mười điều lành.
  9. Như ruộng tốt làm tăng trưởng mầm Bồ đề.
  10. Như áo giáp, mũi tên độc phiền não không làm hại được. Do đó, chư Phật ba đời đều mặc.

Như vậy, y phước điền có công năng giải thoát cho mình và người, thì tất cả các hành giả luôn luôn tôn kính cà sa, không một phút giây lơi lỏng, như máu ở trong thân, như chim có đủ cánh, nếu trong thân không có máu thì chết, chim không cánh thì không bay.

Cho nên đã là người tu Phật phải luôn luôn phản tỉnh hồi quang, xoay nguồn năng lực đó lại chính mình, nhận diện và tôn kính cà sa như thấy Phật trước mắt. Vì sao? Vì đã thọ nhận giới pháp của Như Lai, tức là quyến thuộc Tiên Thánh, thì ta phải phát đại bi nguyện, làm kẻ dẫn đường tốt cho đời mạt pháp, làm con thuyền từ Bát nhã xuyên suốt vị lai, nguyện ở cõi Ta bà làm bậc đại đạo sư dìu dắt kẻ khốn cùng, phát đại nguyện dũng mãnh đời đời kiếp kiếp luôn mặc pháp phục của chư Phật, để làm ruộng phước cho chúng sanh. Muốn được như thế, thì ta phải luôn luôn tâm niệm:

Lành thay áo giải thoát

Áo phước điền vô lượng

Nay tôi đầu đội mặc

Đời đời không rời bỏ.



Bài 15: THẤT Y

(Y bảy điều)

Thất y: Tiếng Phạn là Uất đa la tăng, dịch là nhập chúng y, hoặc dịch thượng y, trung giá y … là y cắt dọc theo mẫu hai bức dài, một bức ngắn (hình dáng chiếc pháp y, từ trái sang phải có 7 điều 7 sọc dài). Nói nhập chúng y là lúc đại chúng hội họp để lễ bái tụng Kinh, trai hội… Phải mặc y này, tức theo công dụng mà có tên.

Kinh Giới Đàn Đồ nói:

“Y trung bảy điều có công năng dứt sự sân giận phát ra nơi miệng”. Đây nói về sự công năng của y bảy điều. Một khi hành giả đắp y bảy điều này vào người, là dứt tâm sân giận phát ra từ nơi miệng. Thật vậy! Một người dù cho có thô lỗ đến đâu, cũng không dám khởi niệm tạo tác. Do đó năng lực của phước điền y thật không thể nghĩ bàn, chỉ khi nào chúng ta hành trì Phật đạo, thì chúng ta mới thẩm thấu được lý này. Cho nên trong luật đắp y bảy điều ta thầm đọc tụng:

Thiện tai giải thoát phục

Vô thượng phước điền y

Ngã kim đảnh đới thọ

Thế thế thường đắc phi.

Nghĩa:

Lành thay áo giải thoát

Áo ruộng phước vô thượng

Nay tôi đầu đội nhận

Đời đời thường được mặc.

Bài này nói đến tinh thần giáo pháp cao thâm của Đức Phật. Một người sau khi thọ nhận giới pháp của Phật, thân mặc cà sa là tiêu biểu cho Phật pháp còn hiện hữu ở đời, chúng sanh một khi thấy biểu tượng của cà sa, đều tỏ lòng quy phục.

Cho nên trong Kinh Hải Long Vương nói:

“Bấy giờ có Long Vương bạch Đức Thế Tôn:

– Ở trong biển này có vô số loài rồng, có bốn con chim cánh vàng thường ăn thịt rồng và vợ con rồng, xin Phật ủng hộ để thường được an ổn lúc đó.

Thế Tôn cởi áo trong ra bảo vua Hải Long Vương rằng:

– Người cầm áo này phân phát cho tất cả các loài rồng, nơi nào nhờ có một sợi chỉ này, vua chim cánh vàng không thể xúc chạm, người trì cấm giới, sở nguyện ắt thành.

Bấy giờ các loài rồng đều lo lắng kinh sợ, đều nghĩ thầm: áo của Phật nhỏ xíu làm sao phân chia khắp hết các loài rồng trong biển lớn?

Phật biết chỗ nghi của rồng, bảo vua rồng rằng:

– Giả sử nhân dân của 3000 đại thiên thế giới, đều chia áo của Như Lai trọn không thể hết.

Từ khi rồng được áo, về sau không bị chim cánh vàng hại nữa”.

Ở đây nói đến năng lực vô biên về y cà sa của Phật, người học Phật chúng ta phải hiểu cho rõ: Giáo pháp của Phật thường sự lý viên dung, sự là nói về công năng bất khả tư nghì cà sa của Phật; lý là nói lên lòng từ của Đức Phật vô hạn. Một khi tâm từ có mặt, thì ác tâm vắng bóng, một khi tâm từ sung mãn, thì thiện pháp tăng trưởng, do đó người học Phật hàng ngày chỉ cần tâm từ có mặt, không tật đố, ích kỷ, san tham… Thì thử hỏi tìm đạo ở nơi nào? Chính trong giờ phút thực tại này, trong cái khoảnh khắc vô biên tối hậu, vượt thoát không gian và thời gian, thì lúc ấy ta mới cảm nhận ra được đạo lý sâu mầu của Phật Đà, và thầm tưởng niệm:

Nay tôi đầu đội nhận

Đời đời thường được mặc.

Qua hai câu kệ này tuy ngắn, mà nói lên sự toát yếu đạo lý của Đức Phật.

Đắp y cà sa còn có nghĩa là mặc áo Như Lai:

Áo Như Lai là gì? Phật dạy áo Như Lai là lòng nhu hòa nhẫn nhục. Chữ nhẫn nhục này có nhiều người hiểu theo nghĩa tiêu cực, cho rằng nhẫn là nhục. Vì nhẫn nên chịu thua, vì thua nên nhục. Nghĩ như vậy là sai lầm.

Chữ nhẫn trong đạo Phật nghĩa là có sức chịu đựng, có sức an nhẫn. An nhẫn những điều trái tai, gai mắt, chúng ta không tức giận, không bực bội. An nhẫn được những sự đòi hỏi, những nhu cầu thèm khát của thân, chúng ta đều an nhẫn được. An nhẫn được hoàn cảnh khó khăn, thời tiết nóng lạnh bất thường. Nên chữ nhẫn nhục trong nhà Phật nói lên một sức chịu đựng mạnh mẽ phi thường. Như có người chọc giận mình, làm trái ý mình thì chúng ta mạnh mẽ làm chủ, đừng để cơn sân dấy lên, hiện ra ở miệng, ở tay. Do đó phải có sức chịu đựng cứng cỏi, gan dạ, không thể yếu đuối được.

Kinh Pháp Cú có câu: “Thắng một vạn quân không bằng thắng mình. Thắng mình mới là chiến công oanh liệt.” Cơn tức giận dấy lên mà chúng ta thắng được tức là công phu tu hành mạnh mẽ, sức chịu đựng cứng cỏi chớ không phải tầm thường. Như vậy sao gọi là nhục nhã được! Thắng được mình còn hơn một ông tướng thắng cả một vạn quân. Người nhẫn nhục thắng được mình thì đâu phải yếu đuối.

Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta gặp rất nhiều điều bất như ý. Nếu chúng ta không có sức chịu đựng, không có sức kham nhẫn thì chúng ta sẽ đau khổ liên miên. Ngược lại chúng ta đủ sức kham nhẫn chịu đựng thì chúng ta sẽ được an vui tự tại. Vì vậy Phật dạy người tu phải tập đức nhẫn nhục. Đức nhẫn nhục đã được đầy đủ gọi là mặc áo Như Lai.

Cho nên người tu không nên có thái độ nóng giận, lúc nào cũng e dè sợ sệt một cơn giận nổi lên. Nó là cái họa lớn, thiêu đốt công đức bao nhiêu năm tu hành khổ cực của mình. Đức Phật dạy “chỉ một đốm lửa sân làm cháy cả rừng công đức”. Nếu chúng ta luôn nghĩ tới đạo đức, nghĩ tới công phu của mình thì phải khéo dè dặt, đừng cho những cơn nóng giận khởi lên.

Nên trong Kinh A Hàm, Đức Phật đã nói:

“Thân người rất khó được như rùa mù tìm bọng cây”.

Ngày nay ta được làm thân người, sáu căn đầy đủ, được phúc duyên mang hình tướng Sa môn, đắp y cà sa của Phật. Đây chẳng phải do túc duyên là gì? Nên ta hằng phát nguyện: “Đời đời thường được mặc”. Mà muốn đời đời thường được mặc, ta phải luôn luôn kiểm thúc sáu căn, đoạn hẳn tình niệm, xa lìa thế tục…. Bởi ngoài mục đích bình thường là y phục để che thân, y cà sa mang ý nghĩa là biểu tượng thanh cao thoát tục (giải thoát y), ruộng phước tốt lành cho chúng sinh (phước điền y). Khi đắp y, người xuất gia nguyện tu tập để vượt thoát tham sân si và tử sinh trong tam giới. Mặt khác, người mang y phải nghiêm trì tu tập giới định tuệ, thành tựu công đức để làm ruộng phước cho thí chủ hộ trì và cho tất cả chúng sinh. Chớ không thì một khi mất thân, cà sa, muôn kiếp khó được gặp! Đây chẳng phải là việc oan uổng lắm sao!

Nên Pháp chủ Xứng Cao Tăng đời Lương mới có lời dạy chúng:

“Dưới tấm áo cà sa mà để mất thân người thì thực là khổ. Trong ngục A tỳ phải chịu dị báo, thì có thể nói là kém cỏi”.

Như câu chuyện Đề Điểm Huệ Châu chẳng hạn:

Đề Điểm Huệ Châu ở Kính Sơn, là đệ tử của Ngài Hổ Nham. Ông rất thông minh, có tài làm việc, nắm giữ mọi việc của thường trụ có hơn 30 năm, tất cả vàng thóc mặc tình phung phí. Có người đem lý nhân quả nhắc nhở cho ông, ông liền đáp:

Trọn năm mang sừng, Châu này mang nhiều lắm là một cặp.

Năm đầu niên hiệu Chí Chánh, Cao Nạp Lân lãnh thi hành việc Tuyên Chánh Viện. Thân thuộc của Châu là Tịnh Khai, bày đủ cáo trạng tố cáo ông. Nên ông bị kết tội phạt gậy và đuổi về thế tục. Sau đó, ông ở ẩn nơi Hóa Thành Viện, bị bệnh tê bại, tay chân co quắp như con nhím, hai tay nắm lại chịu vào hai bên má, hai chân rút lại nơi xương cùng. Người xem bệnh muốn kéo duỗi ra, nhưng ông không chịu nổi. Ngày đêm chỉ nghe tiếng xèn xẹt, qua ba năm như thế mới chết.

Huệ Châu trước kia dùng tâm thô thiển mà làm việc, khinh thường nhân quả, mới nói: “Trọn năm mang sừng chỉ mang một cặp”. Tôi cho rằng: Trong quả báo ở tam đồ, năm tháng lâu dài, một cặp này hết rồi đến một cặp khác, đến vô lượng kiếp; mang một cặp sừng này, đâu chỉ mang một năm mà thôi. Phàm là người trông coi vàng thóc của thường trụ, phải nên lấy gương Huệ Châu mà soi lại mình.

Như vậy chúng ta thấy rõ, ta được làm thân người, được phúc duyên mang hình tướng của Sa môn, được vinh hạnh đắp y cà sa của Phật, lẽ nào ta không tự gẫm lại? Phản tỉnh luôn luôn, cốt để phấn phát trên con đường giác ngộ và giải thoát cho mình và người. Có như thế ta mới không cô phụ lại chí hướng ban đầu của chính mình là:

Lành thay áo giải thoát.

Áo ruộng phước vô thượng

Nay tôi đầu đội nhận.

Đời đời thường được mặc.



Bài 16: ĐẠI Y

(Y lớn)

Đại y: Tiếng Phạn là Tăng Già Lê, dịch là Tạp toái y, vì số điều của nó dài nhất. Hoặc dịch là Trùng hợp y, vì cắt dọc mà nay lại may chồng lên. Hoặc dịch là Nhập vương cung tụ lạc thời y, vì lúc vào cung vua hoặc tụ lạc để khất thực, thuyết pháp phải mặc y này. Trong ba y, y này lớn nhất, nên gọi Đại y. Có ba phẩm thượng, trung, hạ:

  1. Hạ phẩm:Hạ phẩm hạ 9 điều, hạ phẩm trung 11 điều, hạ phẩm thượng 13 điều, mỗi điều đều hai dài một ngắn.
  2. Trung phẩm: Trung phẩm hạ 15 điều, trung phẩm trung 17 điều, trung phẩm thượng 19 điều, mỗi điều đều ba dài một ngắn.
  3. Thượng phẩm: Thượng phẩm hạ 21 điều, thượng phẩm trung 23 điều, thượng phẩm thượng 25 điều, mỗi điều đều bốn dài một ngắn.

Kinh Phật Tạng nói:

“Chẳng nghĩ đến y phục thức ăn, đồ nằm, thuốc men, chỉ siêng năng hành Phật đạo, chớ quý tài lợi cúng dường của thế gian còn hơn một trong trăm nghìn ức phần tướng bạch hào cúng dường cho đệ tử Phật… Này Xá Lợi Phất! Nếu Tỷ kheo mặc nạp y, ở trong bãi rác nhặt vải vụn thì sanh tâm này. Dùng cái này để ngăn lạnh và tu Thánh đạo, ta nay lấy vải vụn này để may y Tăng Già Lê mặc, cần hành tinh tấn. Nếu còn tâm niệm phàm phu dù chỉ một đêm cũng không nên mặc y này”.

Đây là nói về Đại y, tức là y lớn, còn gọi là y Nhập tụ lạc khất thực, hàng phục ngoại đạo… Song điều đáng lưu ý ở y này là còn tâm niệm phàm phu dù chỉ trong một đêm cũng không nên mặc y này. Vì sao? Vì Đức Phật thương xót thị hiện ra đời, cốt nhằm chỉ bày cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật, y này là tiêu biểu cho Phật đạo, là hành thâm Bát nhã. Cho nên mặc y này chúng ta phải luôn luôn ôm ấp chí cầu thoát ly sanh tử, buông xả tâm niệm tài lợi ở thế gian, vì những thứ tài lợi này, thường làm che mờ tự tánh Bát nhã.

Nên trong Thiền Lâm Bảo Huấn có ghi:

Đời nhà Tống, Hòa Thượng Đại Giác Liên đến chùa Dục Vương, nhân có hai ông Tăng tranh giành thí lợi. Người thí chủ can ngăn không được, Ngài Đại Giác đến quở trách rằng:

– Xưa ông Bao Công làm quan ở đất Khai Phong, lúc đó có người dân tự đem 200 lượng vàng trắng gửi cho ta, sau đó người ấy mất. Ta đem trả lại cho gia đình ông, nhưng người con ông không nhận. Ta nhờ Ngài Bao Công đem trả lại dùm, Bao Công khen việc lạ, liền nói với người con ông, nhưng cuối cùng con ông cũng từ chối mà nói rằng: Cha tôi khi còn sống ông không có vàng đâu mà gửi cho người khác. Hai người cố nhường nhau hồi lâu, bất đắc dĩ Ngài Bao Công mới gửi vào các Tự Quán trong thành, đem công đức này hồi hướng cho người quá cố.

Chính mắt tôi trông thấy việc này. Vả lại, Người ở trong trần lao còn xem thường tài vật mà mến mộ đạo nghĩa như thế. Các ông là đệ tử Phật mà chẳng biết liêm sĩ!

Bèn y theo phép trong Tùng lâm mà đuổi đi.

Đây là câu chuyện ngắn giữa đời thường, một câu chuyện mang tính nhân bản, nhằm nhắc nhở người học đạo mến mộ đạo nghĩa, xem thường tài lợi ở thế gian, mà tấn tu đạo nghiệp. Thật vậy, một khi tâm niệm ta hướng về tài lợi nhiều, chắc chắn là xao lãng việc tu đạo. Vì thế, người xưa thường chỉ dạy cho chúng ta thấy rõ, tài lợi, sắc dục…là cạm bẫy đưa người tu đạo sa đọa vào chốn tam đồ.

Cho nên trong Tiểu kinh ví dụ lõi cây (thuộc Trung bộ kinh 20):

Đức Phật đã nhắc nhở một số người nhầm lẫn về mục đích của việc xuất gia: “Ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá, lấy chúng mang đi và tưởng rằng đó là lõi cây… Và người này không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”.

Trong đó, lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng là cành lá, giới đức là vỏ ngoài, thiền định là vỏ trong, tri kiến là giác cây, và tâm giải thoát bất động là lõi cây. Rồi Ngài kết luận rằng: “Như vậy, này Bà-la-môn, phạm hạnh này không phải vì lợi ích, lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu giới đức, không phải vì lợi ích thành tựu Thiền định, không phải vì lợi ích tri kiến. Và này Bà-la-môn, tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây của phạm hạnh, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh” của “người vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.

Như vậy, Phạm hạnh là con đường và cũng là đích đến của một người xuất gia. Nhưng:

Có hạng xuất gia chỉ “nắm lấy cành lá của Phạm hạnh”, do tham đắm lợi dưỡng, danh vọng;

Có hạng xuất gia “nắm lấy vỏ ngoài của Phạm hạnh”, do thành tựu chút giới đức rồi trở nên khen mình, chê người;

Có hạng xuất gia “nắm giữ vỏ trong của Phạm hạnh”, do thành tựu được thiền định nên sinh hoan hỷ, tự mãn;

Có hạng xuất gia “nắm giữ giác cây của Phạm hạnh”, do thành tựu tri kiến rồi tự mãn, phóng dật, đau khổ.

Và chỉ có vị cuối cùng xuất gia với lòng tin sẽ chấm dứt đau khổ. Vị ấy tinh tấn tu hành, thành tựu phi thời giải thoát, tức giải thoát tuyệt đối – lấy được “lõi cây”, là tâm giải thoát bất động, chính là mục đích sau cùng của Phạm hạnh.

Do đó, người học đạo phải luôn luôn phản quan lại chính mình, nhằm buông xả những tâm niệm xấu ác – không vì cành lá, vỏ ngoài, vỏ trong, giác cây mà quên đi lõi cây. Song muốn buông xả những tâm niệm xấu ác này, ta phải luôn luôn tâm niệm:

Thiện tai giải thoát phục

Vô thượng phước điền y

Phụng trì Như Lai mạng

Quảng độ chư chúng sanh.

Nghĩa:

Lành thay áo giải thoát

Áo ruộng phước vô thượng

Vâng giữ Như Lai mạng

Độ chúng sanh rộng khắp.

Bài kệ nói đến tinh thần hướng thượng, rộng độ khắp chúng sanh. Thật vậy, người tu Phật chỉ có hai điều ghi nhớ:

Xa thì nối chí hướng Phật Tổ

Gần thì độ khắp loài hữu tình.

Song ở đây chúng ta đừng nghĩ rằng: phải lên tòa cao mới là độ thoát chúng sanh, mà trong từng hành động của chính mình điều kiện tiên quyết là đừng phá kiến chúng sanh, oai nghi mô phạm phải đầy đủ… Đây chính là tiêu biểu của pháp tướng Phật Tổ, là cương lĩnh pháp yếu trên con đường giải thoát.

Vì thế Đức Phật dạy hàng Tỳ kheo:

“Ở đây, này các Tỳ kheo, Tỳ kheo đầy đủ giới hạnh và khuyến khích người khác đầy đủ giới hạnh. Tự mình đầy đủ Thiền định và khuyến khích người khác đầy đủ Thiền định. Tự mình đầy đủ trí tuệ và khuyến khích người khác đầy đủ trí tuệ. Tự mình đầy đủ giải thoát và khuyến khích người khác đầy đủ giải thoát. Tự mình đầy đủ giải thoát tri kiến và khuyến khích người khác đầy đủ giải thoát tri kiến. Đầy đủ 5 pháp này, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đem lại hạnh phúc cho mình và đem lại hạnh phúc cho người”.

Hay “Này các Tỳ kheo, nay những pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy cho các ngươi, các ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người”.

Song Phật cũng nhắc nhở việc thiếu phạm hạnh đối với hàng xuất gia cũng dễ rơi vào đọa lạc – Trong Kinh Tăng chi bộ, chương Ba pháp, phẩm Đọa xứ, Đức Thế Tôn dạy:

Này các Tỳ kheo, ba hạng người này rơi vào đọa xứ, rơi vào địa ngục, trừ phi họ đoạn bỏ pháp này. Thế nào là ba?

  • Ai sống không Phạm hạnh, tự xưng là sống có Phạm hạnh;
  • Đối với người sống Phạm hạnh thanh tịnh, hành Phạm hạnh thật thanh tịnh, ai công kích là không Phạm hạnh một cách không căn cứ;
  • Ai chủ trương như sau: “Không có lỗi lầm trong các dục vọng” và rơi vào say đắm trong các dục vọng.

Những hạng người này, này các Tỳ kheo, là ba hạng người rơi vào trong đọa xứ, rơi vào địa ngục, trừ phi họ đoạn bỏ pháp này.

Do đó người tu đạo phải luôn luôn kính pháp y như kính Phật, như người nghèo gặp của báu, như người mù gặp lương y, chữa trị sáng mắt. Cho nên người tu đạo bước đầu phải gieo nhân cho chân chính, thì mới có thể:

Vâng giữ mạng Như Lai

Độ chúng sanh rộng khắp.

Nên trong Pháp Uyển Châu Lâm nói:

Cà sa là áo ruộng phước, kính như tháp Phật, nê hoàn tăng là áo lót mình, trọng như pháp. Áo có tên là tiêu gầy, mặc thì hay tiêu gầy phiền não; giáp có tên là nhẫn nhục, mặc thì hay hàng phục chúng ma, cũng dụ là hoa sen, không bị bùn dơ nhiễm; cũng gọi là tràng tướng; không bị bọn tà khuynh đảo; cũng gọi là tướng điều văn, không làm cho người thấy sanh niệm ác; cũng gọi là áo cứu rộng khỏi bị chim cánh vàng ăn thịt; cũng gọi là áo hàng tà; vì không bị ngoại đạo phá hoại; cũng gọi là sắc bất chính, vì không nhiễm thói quen tham lam; bởi vì Kinh giáo có phân biệt trong ngoài, người có đạo tục khác nhau. Người tại gia thì dựa vào ngoại giáo, mặc pháp phục của tiên vương, thuận theo pháp ngôn của tiên đế, trên có lễ thờ vua, kính cha mẹ, dưới có sự khác nhau giữa vợ con, quan lại, người vinh hiển. Đây là dấu hiệu cung hiếu, lý hiệp với luật nho. Người xuất gia thì dựa vào nội giáo, mặc pháp phục của chư Phật, hành các pháp của chư Phật, trên bỏ nghĩa nặng ái kính đối với cha mẹ và vua, dưới cắt đứt sự ham thích vợ con quan chức hiển vinh; lấy việc lành lễ tụng tự giúp cha mẹ, lấy phước hành đạo để báo trọng ân của đất nước. Đã cho rằng không lấy sự hủy hoại hình sắc và ăn mặc thay đổi làm lỗi, thì há nên trách về lễ kính cha mẹ và đạo thờ vua? Cho nên giờ cạo tóc, thiên ma nghe mà từ xa đã sợ; ngay mặc y, Đế Thích thoáng thấy mà đã vui mừng. Như người kỷ nữ được cứu vớt ra khỏi cảnh sa đọa, như người say bỗng tỉnh, duyên ác liền buông. Rồng nương nhờ mà hết sợ, voi chúa thấy mà khiếp dừng, nên biết ba lần lãnh thọ pháp y, che thân sử dụng tằn tiện, ba loại hoại sắc hàng phục ái tình của ta. Đã mô phỏng theo ruộng lúa, tự thành đức ứng cúng, xa đồng Phật trước, tuân theo đạo hòa kính, xuất trần trái tục như thế không đáng quý sao?

Như vậy, y pháp cà sa là biểu tướng của mười phương chư Phật, là lộ trình tu đạo của hàng Thanh Văn – Bồ Tát, là cửa ngõ cực tắt để tác thành Phật đạo. Do đó, hành giả khi mặc y này, kính như tháp Phật, hành giả khi mặc y này trọng như Pháp Phật. Vì sao? Vì y này có công năng chuyển hóa tham – sân – si thành giới – định – huệ. Từ con người phàm phu nhờ năng lực y cà sa này mà bước vào Thánh vị, nhờ năng lực y cà sa này mà chúng ma khiếp sợ, trời người quy kính.

Cho nên hành giả khi phát nguyện đắp y cà sa này, phải luôn luôn phấn phát trên con đương tìm cầu Thánh pháp. Chớ không ngày tháng trôi suông, mạng người chóng thoát vô thường. Sanh, già, bệnh, chết là nỗi ám ảnh của kiếp người, đâu nỡ trôi suông an nhàn không việc, lỡ mai mất thân người, cà sa làm sao có! Do đó, vua Thuận Trị cảm thán về điểm này ông nói:

Cơm tòng lâm khắp trong thiên hạ

Vốn cao dày bằng cả núi non

Đến đâu bát chẳng vun đầy

Mặc tình người cứ việc ăn thỏa lòng

Dẫu vàng ngọc vẫn còn chưa báu

Chỉ có là tấm áo cà sa

Khoác lên người đã xuất gia

Vào hàng tăng chúng quả là khó khăn.

Còn trong Kinh Đại Bi nói:

Nếu chúng sanh nào:

  • Tánh là Sa Môn
  • Sống theo hạnh Sa Môn
  • Hình dáng là Sa Môn, mặc áo cà ca thì từ đây đến Phật Di Lặc ra đời mãi đến khi Phật Lâu Chí ra đời, tất cả đều được vào Niết Bàn không còn dư sót ai.

Thật vậy, duyên xưa nhiều kiếp, túc trái oan gia xả bỏ, nên ngày nay mới vinh hạnh dự vào dòng Thánh, đắp y cà sa của Phật Tổ. Trên thì báo đáp thâm ân của chư Phật, dưới thì rộng độ kẻ có duyên. Há không vui sao? Nếu được như thế thì chúng ta phải luôn luôn tâm niệm:

Lành thay áo giải thoát

Áo ruộng phước vô thượng

Vâng giữ mạng Như Lai

Độ chúng sanh rộng khắp.



Bài 17: ĐĂNG ĐẠO TRÀNG

(Lên đạo tràng)

Đạo tràng: tiếng Phạn là Bồ đề man noa la (Bodhimandala). Những nơi thường gọi đạo tràng là:

  1. Chỗ Phật thành đạo (dưới gốc cây Bồ đề thuộc miền trung Ấn Độ nên cũng được gọi là Bồ đề đạo tràng).
  2. Chỗ thuyết pháp.
  3. Chỗ cúng dường Phật.
  4. Chỗ Thánh chúng tụ tập hội họp.
  5. Chỗ học đạo.
  6. Chỗ hành pháp… đều gọi là đạo tràng.

Nói chung những gì có tính hình thức của việc làm Phật sự thì gọi chung là Đạo tràng. Như vậy theo nghĩa rộng thì đạo tràng thể hiện vị trí địa điểm và thời gian tương ứng trong sự tu hành của người tu sĩ. Còn theo lý mà nói, “Đạo tràng” được diễn tả và khai mở như sau:

Trong Kinh Tịnh Danh có nói rằng: “Trực tâm là đạo tràng” – Trực tâm là tâm niệm luôn hướng thẳng về Phật tánh sáng suốt của mình, không để nó quanh co, giả dối theo tham, sân, si, không phân biệt chấp trước bởi hơn – thua, tốt – xấu, hay – dở, có – không, phải – trái …

Nên có một vị Tăng hỏi Thiền sư Duy Nghiễm ở Dược Sơn:

Cái gì là vật quý nhất trong Phật pháp?

Sư đáp: Không cong vạy.

Hay Thiền sư Nam Tuyền nói ngắn gọn: “Bình thường tâm thị đạo” – ngay nơi tâm không phân biệt, tâm bình thường chính là đạo rồi, chứ đạo không phải là cái gì ở đâu rất xa khó tìm. “Trực tâm tức thị đạo tràng” thì cũng như thế, khi tiếp xúc khách trần qua lại mà không khởi niệm đó là trực tâm.

Còn Thiền sư Bá Trượng Hoài Hải khai thị “đạo tràng” cho một vị Tăng khi đặt câu hỏi với Ngài: “Bạch Hòa Thượng, đối tất cả cảnh vật làm sao tâm được như cây đá (tâm không dính mắc)?

Thiền sư đáp: “Tất cả pháp vốn chẳng tự nói không, chẳng tự nói sắc, chẳng nói phải quấy nhơ sạch, cũng không có tâm trói buộc người, chỉ tự người hư vọng tình chấp, tạo bao nhiêu thứ hiểu, khởi bao nhiêu thứ thấy biết, sanh bao nhiêu thứ yêu sợ. Cần phải nhận rõ các pháp không tự sanh, đều do một niệm vọng tưởng điên đảo của mình chấp tướng mà có. Biết tâm cùng cảnh vốn không đến nhau thì ngay nơi đó là giải thoát, mỗi mỗi pháp ngay nơi đó là lặng lẽ, ngay nơi đó là đạo tràng”.

Vì vậy, lúc lên đạo tràng nên đủ oai nghi, trong lòng tàm quý, giữ ý cung kính, hai mắt nhìn xuống thấp, nhất tâm nhớ Phật. Chẳng được nói cười ồn ào, đàm luận việc đời. Để hộ pháp thiên thần và phi nhân… khởi nghe những điều hý luận mà sinh tâm bất bình khinh bỉ, khởi niệm sân.

Trong Tinh Vân Thiền Thoại có ghi:

Khi Thiền sư Phật Quang thuyết pháp, khai thị tiếp tâm cho học Tăng đều ngồi trên bảo tòa trong pháp đường. Cho nên bảo tòa này, trong tầm mắt của đại chúng toàn chùa là tượng trưng cho “pháp”, tiêu biểu cho “ngộ”. Do đó, bảo tòa này còn gọi là “pháp tòa.

Có một lần, Thiền sư Phật Quang nhận lời mời đến phương Nam hoằng pháp, vắng chùa suốt mấy ngày. Mỗi ngày thị giả vẫn lau quét pháp đường như thường lệ, nhất là bảo tòa của Thiền sư Phật Quang càng lau kỹ không để dính một hạt bụi.

Một hôm, sau khi dâng hương xong, thị giả vô cùng kinh ngạc, phát hiện thầy Tri khách đang ngồi chễm chệ trên bảo tòa của Thiền sư Phật Quang nói chuyện với Phật tử. Nhưng vì đối phương là thầy Tri khách, cho nên thị giả không dám biểu lộ gì cả, chỉ bực bội trong lòng thôi.

Đến giờ ăn chiều, thầy Duy na cũng rất tự nhiên đến bảo tòa ngồi nhắm mắt tham thiền, thị giả trông thấy càng không bằng lòng, thầm nghĩ: Đó là bảo tòa của Thiền Sư! Sao không tôn trọng như thế?

Liên tiếp mấy ngày, thầy Điện chủ, thầy Hương đăng… thường mượn cớ tiếp khách tại pháp đường và cũng rất tự nhiên an tọa trên bảo tòa của Thiền sư Phật Quang.

Một hôm, lau quét điện xong, thị giả định đến lau quét pháp đường, thấy thầy Tri khách, thầy Điện chủ, thầy Hương đăng… toàn là những vị chức sự đều ngồi ở pháp đường nói chuyện không đâu. Nhất là thầy Tri khách lại ngồi trên bảo tòa của Thiền sư Phật Quang mà thị giả đã nhiều ngày bất bình, thực tình nhịn hết nổi, bất giác hỏi:

– Các vị pháp sư chức sự, các vị biết đây là chỗ nào không?

Thầy tri khách đáp: – Pháp đường.

Thị giả lại hỏi: – Pháp đường dùng làm gì?

Thầy Điện chủ đáp:

– Là chỗ Thiền Sư Phật Quang khai thị thuyết pháp và tiếp tâm cho học Tăng, ai mà chẳng biết?

Thị giả không vui hỏi:

– Nếu như thế, tại sao các thầy ở đây tán tâm nói nhảm không chút cung kính, còn ngồi trên bảo tòa của Thiền Sư?

Những vị pháp sư chức sự không hẹn đồng đáp:

– Nhưng Thiền sư không có nhà mà!

Thị giả buộc miệng nói:

– Thiền sư đã không có ở nhà, vậy thì các thầy thay mặt Thiền sư làm trụ trì, trước hết mời các thầy khai thị tiếp tâm cho tôi!

Đại chúng không biết đáp như thế nào?

Đây là một mẩu chuyện thiền, nói về biểu tính của pháp tòa. Pháp tòa của Thiền sư tiêu biểu cho quyền uy Phật pháp, là chỗ trung tâm khai thị người học. Do đó, tôn kính Thiền sư là tôn kính bảo tòa. Vì sao? Vì bảo tòa còn là biểu tướng của đạo tràng. Cho nên người học đạo, phải chín chắn xem xét lại hành động của chính mình. Dù có mặt Thiền sư hay không có mặt, ta vẫn tôn kính vào năng lực tiềm ẩn nơi pháp tòa. Nơi đây có thể sản sinh ra bậc pháp khí, vĩnh trấn Tông phong, nên trước khi vào pháp đường ta phải cung kính chánh niệm, để tiếp thu biển năng lực vô hình của đạo tràng. Huống nữa nói chuyện không đâu! Làm mất đi sự tiềm ẩn Phật tâm nơi chính mình.

Trong Kinh Tịnh Danh lại nói:

“Trực tâm là đạo tràng, vì không hư dối; phát hạnh là đạo tràng, làm xong các việc; thâm tâm là đạo tràng, vì không sai lầm; bố thí là đạo tràng, không mong phước báu; trì giới là đạo tràng, được nguyện đầy đủ; nhẫn nhục là đạo tràng, đối chúng sanh tâm không chướng ngại; tinh tấn là đạo tràng, không biếng trễ; thiền định là đạo tràng, tâm điều nhu; trí huệ là đạo tràng, thấy rõ các pháp…

Như vậy, thiện nam tử! nếu Bồ tát đúng theo các pháp Ba la mật mà giáo hóa chúng sanh, thời bao nhiêu việc làm, hoặc nhất cử nhất động, phải biết đều là nơi đạo tràng mà ra. Ở nơi Phật pháp vậy”.

Như vậy, đạo tràng ở đây chính là tâm Phật, một niệm mê tức là Lục đạo, một niệm giác tức là đạo tràng. Cho nên nói đến tinh thần của thiền, là nói đến năng lực của tự tâm, trong bốn oai nghi nếu chúng ta tỉnh giác, hành động đúng với tinh thần Thánh pháp, ấy là đạo tràng, ấy là Tịnh Độ. Vì sao? Vì khi ta làm tất cả việc, mà ta không dính mắc vào tất cả việc. Đây chính là tinh thần vô trụ của Bát nhã. Nên nói:

Tánh Bát nhã vắng lặng

Vô trụ cũng vô xả

Nếu ai thấu lý ấy

Chúng sanh cùng Phật đồng.

Song muốn thấu tột được lý này, thì khi bước vào đạo tràng ta thầm tụng:

Nhược đắc kiến Phật

Đương nguyện chúng sanh

Đắc vô ngại nhãn

Kiến nhất thiết Phật.

Nghĩa:

Được nhìn thấy Phật

Nguyện cho chúng sanh

Được mắt vô ngại

Thấy tất cả Phật.

Bài kệ Tỳ-ni nói đến tinh thần “đạo tràng” ngay nơi tự thân của hành giả. Ở đây chúng ta thấy ý nghĩa toát yếu của bài kệ là: “Được nhìn thấy Phật”. Làm sao được nhìn thấy Phật?

Kinh Tịnh Danh, phẩm kiến Phật A Súc nói:

Bấy giờ Thế Tôn hỏi ông Duy Ma Cật rằng:

– Ông muốn thấy Như Lai thì lấy gì quan sát?

Ông Duy Ma Cật thưa:

– Như con quán thật tướng của thân, quán Phật cũng thế.

Đây là nói về ông Duy Ma Cật một bậc Đại Sĩ thị hiện vào chốn khổ đau, để đưa những sinh linh khốn khổ như chúng ta vào cõi giới bất động, mà muốn vào cõi giới này, hành giả phải buông xả mọi ý niệm ngôn từ, dùng trực giác để thẩm thấu mọi sự vật. Do đó, Ngài Duy Ma Cật dùng hình ảnh quán thật tướng. Quán ở đây tức là “Quán chiếu”, nghĩa là phải dùng trí Bát nhã mà chiếu diệu vào nội tâm. Chuyển cái thấy phàm tình bằng chất liệu “Trí Bát nhã”; không sử dụng bằng mắt thường mà thấy Như Lai, phải sử dụng “Trí Bát nhã” mới có cơ hội thấy và tiếp xúc được thể tướng của Như Lai. “Thật tướng của Như Lai” chính là pháp thân chân thật.

Như vậy, muốn thấy Như Lai phải quán. Quán như thấy thật tướng của thân. Vì thật tướng của tự thân không có đến, không đi, không trụ, không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức… Không phải bờ bên này, không phải bờ bên kia… Chẳng tịnh chẳng uế. Chẳng tham chẳng thí… Không ra không vào… Mà “Thật tướng” đó chính là “Vô tướng” vậy!

Nên biết, tất cả mỗi loài chúng sanh ai ai cũng có “thật tướng cũng như Phật”. Song do niệm vọng động bất giác, mà ta lang thang khắp chốn uế đồ, bởi do ta quán không tột vào tính chất “vô tướng” đó! Song dù chúng ta có trải qua hằng sa kiếp lưu đày mà “Thật tướng” đó chưa từng thiếu vắng. Nên nói:

Thủy lưu tâm bất cánh

Vân tại ý câu trì.

Nghĩa:

Nước chảy tâm chẳng động

Mây ngưng ý lặng dừng.

Là người tu Phật, mình được an vui, lại muốn tất cả mọi người đều an vui như mình. Do đó phát nguyện cho tất cả loài hàm thức:

Được mắt vô ngại

Thấy tất cả Phật.

Ở đây nói làm sao được mắt vô ngại, thấy tất cả muôn pháp đều là thể chân thật? Đây chính là con mắt Bát nhã vậy! Sở dĩ chúng ta không thấy được Phật, vì chúng ta mở mắt ra thì thấy nào là: thương, ghét, phải quấy, ta người… Do đó tánh thấy chúng ta bị hạn cuộc. Song ý niệm muốn an trụ vào Phật địa, thì càng cách xa Phật đạo, vì Phật là biểu tướng của tự tâm giác ngộ, tâm là đầu mối của Phật đạo mà cũng chính là đầu mối của luân hồi.

Có thể thấy rõ điều này khi đức Phật nói bốn câu kệ nổi tiếng trong Kinh Kim Cang:

Nhược dĩ sắc kiến ngã

Dĩ âm thanh cầu ngã

Thị nhân hành đạo tà

Bất năng kiến Như Lai.

Nghĩa:

Nếu dùng sắc thấy ta

Đem âm thanh cầu ta

Người ấy hành đạo tà

Không thể thấy Như Lai.

Đức Phật có hình tướng chỉ là Phật ứng hóa thân có sinh có diệt. Còn thể tánh tịch lặng hằng tri hằng giác là Phật pháp thân, mới là Phật thật, không bao giờ sanh diệt. Vì thế trong Kinh Pháp Hoa, Đức Phật bảo Ngài đã thành Phật từ vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức na do tha kiếp. Và một điều rất đặc biệt mà Ngài muốn nói theo tinh thần ‘khai thị tri kiến Phật’ đó là trong mỗi chúng ta cũng đều có sẵn vị Phật này. Vì vậy không nên theo thanh sắc, quang ảnh mà cầu thấy Phật, vì ngoài tâm cầu Phật đều là ngoại đạo – “Người ấy hành đạo tà. Không thể thấy được Như Lai”.

Có thể thấy điểm tương đồng giữa Chân Như và Như Lai trong trường hợp này. Cụ thể, Như Lai ở đây không có nghĩa là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đang thăng tòa thuyết pháp. Mà “Như” muốn chỉ cho thể tánh bất động hằng hữu còn “Lai” là từ thể tánh ấy mà đến, mà khởi ra diệu dụng.

Như là bất biến, Lai là tùy duyên. Như là tâm thể, Lai là tâm dụng. Thí dụ khi ta nhìn thấy một bông hoa là “Lai”, thấy mà không khởi niệm phân biệt hoa vàng, hoa đỏ, cánh sen, cánh hồng…là “Như”. Trong cái thấy bông hoa chỉ là cái thấy như thật bông hoa đó, không thêm bớt, không khởi thêm vọng niệm phân tích hay so sánh gì nữa. Mọi người ai cũng đều có đức tướng “Như Lai” thanh tịnh thường hằng như vậy nhưng do tập khí nhiều đời che phủ nên thấy biết sai lệch theo xu hướng chấp ngã của riêng mình.

Như vậy, Như Lai là pháp thân thường hằng của chúng ta, Pháp thân đó không thuộc sắc tướng thì đâu có chấp ngã, nó cũng không thuộc âm thanh thì đâu có chấp tiếng. Tất cả âm thanh, sắc tướng sanh diệt đều không chấp tức không hành theo đường tà. Hay nói cách khác, ngay nơi âm thanh, hình sắc mà bặt hết các niệm đối đãi thì liền đó thể nhập pháp thân (còn vừa có niệm phân biệt tốt – xấu, hay – dở, hoặc lấy hoặc bỏ là còn dính mắc, tâm chưa rỗng rang thanh tịnh).

Nên trong Kinh Lăng Nghiêm nói:

Chơn tâm và vọng tâm.

Song xét cho tột lý: chơn tâm không thật tánh, do vọng đối lập nhau mà hiển bày chánh lý. Từ nhất chơn pháp giới mà vọng thấy có tối và sáng, nơi cửa vô sanh mà vọng thấy có năng và sở. Sáu căn không đồng nguồn vì do duyên động và tịnh, năm ấm buộc ràng là do vọng chấp có thật, mắt không thể thấu lý là do sắc trần ngăn ngại, tai không thể thấu cơ, là do thinh trần ngăn cách… nên phải chịu trầm luân trong khổ hải.

Bởi vậy, suốt ngày ở trong Phổ Quang Minh Trí của Như Lai, mà vọng thấy buộc ràng. An trụ nơi Niết Bàn vắng lặng mà không hề hay biết, hằng ngày tiếp xúc cảnh đâu rời Phật tâm, mà không hề tỏ ngộ. Nên sanh tử tiếp nối không dừng. Song sự tiếp nối sanh tử này, đầu mối là tâm “vọng”. Song “Tâm” vốn chẳng vọng, nhơn vì sắc che đậy. Thấy sắc thì tâm dao động, nghe tiếng thì tâm phan duyên. Đồng là một “Tâm” mà chia ra phàm và Thánh. Phàm thì đối cảnh sanh tâm, nên không mở được mắt Bát nhã, thấu suốt nơi nơi là Phật. Thánh thì đối cảnh xoay về, nên nơi nơi đều là Phật đạo. Lại tâm ta ma thì thấy toàn cảnh ma, tâm ta Phật thì nơi nơi đều cảnh Phật.

Chính vì lẽ đó mà Bồ tát Mã Minh trong Luận Đại Thừa Khởi Tín nhấn mạnh:

“Thế nên tất cả pháp từ xưa đến nay lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng danh tự, lìa tướng tâm duyên, cứu cánh bình đẳng, không có biến đổi, không thể phá hoại, chỉ là nhất tâm nên gọi là Chân như”.

Để làm rõ ý “tất cả pháp từ xưa đến nay lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng danh tự” trong luận, xin trích dẫn câu chuyện “Bài tập cây dùi gõ chuông” trong quyển “Từ Chánh Niệm đến Giác Ngộ” của thiền sư Ajahn Brahm:

“Tôi đưa cây dùi dùng để gõ chuông thường đặt cạnh chỗ ngồi của tôi và hỏi thính chúng, “Cái gì đây?”

“Cây dùi”, một người nói.

Tôi hỏi “Gì nữa?”

“Có hình trụ”, một người khác lên tiếng.

Tôi tiếp tục hỏi, “Còn gì nữa không?”.

“Một nửa đen, một nửa trắng”. “Nửa trắng bọc vải”. “Dài ba mươi ba xăng-ti-mét”. “Dùng để gõ chuông”.

Tôi khuyến khích thêm, “Vật này chỉ có thế thôi à?”.

“Láng bóng”. “Đầu tròn”. “Nơi tay cầm bị mòn”.

Khi đã hết điểm để mô tả và thính chúng vẫn đang nhìn, họ nhận ra rằng họ vẫn chưa hiểu hết cây dùi gõ chuông là gì. Họ càng nhìn lâu, họ càng thấy thêm đặc điểm khác. Và cái mà họ bắt đầu thấy bây giờ không dùng chữ để mô tả được. Họ nhận ra rằng những tên gọi mô tả rất hời hợt. Cái dùi gõ chuông không chỉ là “một cây dùi”, “có hình trụ”, “nửa đen nửa trắng”, v.v…Tên gọi sự vật là những gì chúng ta được dạy lúc còn nhỏ ở trường học. Chúng chỉ là cái mà Đức Phật gọi là “thực tại quy ước”. Chúng cản trở sự hiểu biết khi chúng ta lầm tưởng tên gọi là chính sự vật đó. Khi thính chúng của tôi nói “Đó là cái dùi” và nghĩ rằng họ đã nắm chắc được ý nghĩa của nó, họ ngưng tìm hiểu thêm. Tôi phải khuyến khích họ tiếp tục khám phá cho đến khi không còn tên gọi nào nữa, cho đến khi họ bắt đầu thấy vượt ra ngoài những tên gọi, thấy với một tâm tĩnh lặng”.

Có thể nhận thấy, tất cả tướng danh tự, lời nói đều do vọng tưởng tạm đặt cho hiện tượng sự vật trên thế gian này nên đều là tướng của phân biệt vọng tưởng. Biết dứt trừ vọng niệm là trở về nhất tâm, trở về Chân như còn theo vọng niệm là đi trong sanh diệt.

Như vậy, Tâm Chân Như không sanh không diệt, không thể phá hoại, không thể dùng lời nói luận bàn, không thể dùng danh tự để kêu gọi, cũng không thể dùng tâm để suy nghĩ lý luận được. Từ xưa đến nay, ‘nó’ vốn rốt ráo bình đẳng không sai khác.

Cho nên Kinh Pháp Hoa nói:

Thị pháp trụ pháp vị

Thế gian tướng thường trụ.

Nghĩa là: Pháp ở địa vị của pháp, tướng thế gian thường tự vắng lặng.

Cho nên, Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải dạy:

Linh quang riêng chiếu, vượt khỏi căn trần

Thể bày chân thường, chẳng kẹt văn tự

Tâm tánh không nhiễm, vốn tự viên thành

Chỉ lìa vọng duyên, tức như như Phật.

Linh quang là chỉ cho tâm thể rỗng rang sáng suốt, vượt khỏi căn trần, không bị vướng mắc bởi bất cứ thứ gì. Thể của nó luôn luôn hiển hiện chân thường, không hạn cuộc trong văn tự, tức không lý giải suông. Tánh của nó vốn thanh tịnh vô nhiễm, chiếu soi mầu nhiệm, chỉ lìa vọng tưởng duyên theo sáu trần tức như như Phật.

Hay Tổ Bồ Bồ Đề Đạt Ma nói:

Ngoài dứt các duyên, trong không nghĩ tưởng.

Tâm như tường vách, khả dĩ vào đạo.

Con người khi tiếp xúc với trần cảnh, thường duyên theo trần cảnh khởi niệm phân biệt. Chính sự phân biệt này nên các pháp ở thế gian luôn được nhìn theo hai khía cạnh – hơn – thua, phải – quấy, tốt – xấu, hay – dở, của tôi – của anh, cao – thấp, v.v……

Như câu chuyện Ngài Phật Ấn và Tô Đông Pha:

Đời Tống, Tô Đông Pha đến chùa Kim Sơn tọa thiền, luận đạo với Thiền sư Phật Ấn. Tô Đông Pha cảm thấy thân tâm thông suốt, do đó hỏi Thiền sư:

– Thiền sư! Ngài nhìn tôi ngồi giống cái gì?

– Rất trang nghiêm, giống một ông Phật.

Tô Đông Pha nghe xong vô cùng phấn khởi. Kế đó, Thiền sư Phật Ấn hỏi Tô Đông Pha:

– Học sĩ! Ông nhìn tư thế của tôi ngồi giống cái gì?

Tô Đông Pha từ trước đến giờ không bỏ qua cơ hội nào đùa giỡn với Thiền sư, lập tức đáp:

– Giống một đống phân bò!

Thiền sư Phật Ấn nghe xong cũng rất khoan khoái.

Thiền sư Phật Ấn bị Tô Đông Pha ví mình là phân bò cho nên không trả lời trả vốn gì cả. Còn Tô Đông Pha cho mình thắng Thiền sư Phật Ấn, do đó gặp người liền nói: “Hôm nay tôi thắng Thiền sư Phật Ấn rồi!”.

Tin này vang đến tai cô em gái của ông là Tô Tiểu Muội, cô em hỏi:

– Anh ơi! Nghe nói anh thắng Thiền sư Phật Ấn, vậy anh thắng Thiền sư thế nào?

Tô Đông Pha mặt mày hớn hở, thần thái phơi phới kể lại. Tô Tiểu Muội thiên tư hơn người, tài hoa xuất chúng. Cô nghe Tô Đông Pha kể lại xong, nghiêm nét mặt nói:

– Anh ơi! Anh thua rồi! Tâm của Thiền sư như tâm Phật, còn tâm anh như phân bò cho nên nhìn Thiền sư giống như phân bò!

Tô Đông Pha nghẹn lời, mới biết công phu tu thiền của mình không bằng Thiền sư Phật Ấn.

Đây là mẫu chuyện thiền nổi tiếng, nói đến tính chất về tâm thức của con người, trong tâm ta chất chứa rất nhiều hạt giống. Có những hạt giống ma mà cũng có những hạt giống Phật. Nếu chúng ta không có chánh niệm, để những hạt giống ganh tỵ, ích kỷ, tật đố… phát sinh thì ta nhìn đâu cũng thấy “ma cảnh” hết. Ngược lại, nếu ta biết nuôi dưỡng và phát triển những hạt giống từ bi hỷ xả, những chất liệu thương người, bao dung và tha thứ… thì nhìn đâu cũng thấy:

Được mắt vô ngại

Thấy tất cả Phật.

Cho nên, tâm ta thế nào thì nhìn cảnh thế ấy. Thật ra cảnh không có buồn vui, tốt xấu, nhưng do tâm thức ta tác động lên hoàn cảnh mà chiêu cảm nên quả khổ hoặc quả vui. Khi đối duyên xúc cảnh chúng ta nên có chính kiến của mình, không được tùy ý buông lung, tán loạn theo ngoại cảnh. Hơn nữa cần ra sức nhắc nhở bản thân, mỗi phút mỗi giây luôn ấp ủ lòng quyết tâm và dũng khí:

Thân trụ thiền môn vạn sự buông

Tâm nương cảnh tịnh muôn duyên nhàn.

Cho nên người tu Phật phải biết nuôi dưỡng và phát huy chất liệu sống từ nơi tự thân của mình. Đó là chất liệu: “Thương yêu và hiểu biết”. Khi tâm ta có năng lượng tùy hỷ, tha thứ và bao dung, đó chính là chất liệu sống để chúng ta hòa nhập vào thế giới tâm linh này. Nếu ta nhìn đâu cũng có thể thấy Phật, thì dù thời thế có vô thường biến động như thế nào, hoặc ai đó có chửi mắng, chê bai, phỉ báng, vu khống hay khen ngợi, v.v. thì tâm chúng ta cũng không hề dao động, vẫn có thể an yên tự tại trước mọi loạn động của cõi ô trược này. Một trạng thái mà vua Trần Nhân Tông cảm khái trong “Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca”:

Sống yên giữa cảnh lặng lòng không,

Gió mát hiu hiu lọt bóng thông.

Dưới gốc, giường thiền, kinh một quyển,

Thanh nhàn hai chữ, đáng muôn đồng.



Bài 18: TÁN PHẬT

(Ca tụng Phật)

Tán: tiếng phạn là Thủ-đát-la (stotra), là xưng dương ca tụng công đức; đó là xưng dương công đức của Phật, tán thán thân tướng tốt của Phật, xưng dương các thứ mỹ đức của Phật, tán thán các thứ diệu hạnh của Phật.

Tại sao chúng ta lại tán thán công đức của Phật? Vì trong đời hiện tại Đức Phật dám rũ bỏ tất cả mọi quyền uy, danh vị, cung vàng điện ngọc… ra đi tìm cầu chân lý, mở ra con đường bất tử cho nhân loại, và giải thoát những giai cấp nô lệ, đang chìm đắm trong bể khổ kỳ thị tại xứ Ấn Độ thời bấy giờ.

Ngay trong những kiếp sống quá khứ, khi còn hành Bồ tát đạo, chúng ta thấy rằng Thế Tôn thậm chí còn bố thí cả thành quách, thê tử, thân thể của Ngài v.v… với một mục đích duy nhất là: cầu đạt đến quả vị Vô thượng bồ đề.

Trong Kinh Tăng chi bộ, Chương Một pháp, Phẩm Một người ghi lại:

Một người, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Một người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Chính một người này, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

Sự xuất hiện của một người, này các Tỷ-kheo, khó gặp được ở đời. Của người nào? Của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sự xuất hiện của một người này, này các Tỷ-kheo, khó gặp được ở đời.”

Nói Đức Phật là một chúng sinh, bởi vì Bồ tát thị hiện nơi đời bằng thân tứ đại giả hợp với vương vị Thái tử, hưởng thụ tất cả những vật chất ngũ dục thế gian, đầy đủ nỗi niềm cảm xúc vui buồn như bao nhiêu người khác. Nhưng duy nhất trong hàng chúng sinh, Phật là một con người phi thường, sống trong ngũ dục sung túc mà không đắm nhiễm say sưa, cố chấp bảo thủ, sẵn sàng buông bỏ tất cả để tìm tột cội rễ của sinh tử luân hồi. Trong tâm của Ngài luôn khắc khoải về kiếp sống con người trước quy luật vô thường nghiệt ngã, niềm ưu tư cháy bỏng đó khiến Ngài cương quyết thoát ly sự ràng buộc của thế tình tìm đường giải thoát.

Chúng ta sẽ thấy được một con người vĩ đại như vậy được diễn tả trong Đại Kinh Sư Tử Hống, Trung Bộ Kinh:

Vào những ngày nắng khốc liệt của mùa nóng cách đây hơn 2500 năm tại xứ Ấn Độ, Bồ-tát Gotama đang ngày đêm miệt mài thực hành những pháp môn khổ hạnh, ép xác để tìm một con đường giải thoát. Vì ai? Vì lòng bi mẫn của Ngài dành cho tất cả chúng sinh, vì lợi ích của tất cả chư thiên và loài người:

– Ta theo hạnh thường đứng không dùng chỗ ngồi.

– Ta là người ngồi chõ hỏ, sống tinh tấn theo hạnh ngồi chõ hỏ.

– Ta dùng gai làm giường, thường ngủ nằm trên giường gai.

– Ta sống để bụi và nhớp che dính thân mình, sống và ngủ ngoài trời, theo hạnh bạ đâu nằm đấy.

– Trong những đêm đông lạnh lẽo, giữa những ngày mồng tám, khi có tuyết rơi, trong những đêm như vậy, Ta sống giữa trời, và ban ngày sống trong khu rừng rậm rạp. Ta sống trong những ngày cuối tháng hè, ban ngày thì sống giữa trời, còn ban đêm trong khu rừng rậm rạp.

– Ta nằm ngủ trong bãi tha ma, dựa trên một bộ xương.

– Những đứa mục đồng đến gần Ta, khạc nhổ trên Ta, tiểu tiện trên Ta, rắc bụi trên Ta và lấy que đâm vào lỗ tai.

– Vì Ta ăn quá ít, các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột nhà sàn hư nát….

Chỉ vài câu từ trích đoạn trong Kinh cũng đủ để chúng ta hình dung được phần nào sự hy sinh to lớn của Ngài đối với chúng sinh. Nhưng quan trọng hơn, hình ảnh vị Thái tử độc hành dũng mãnh, khổ nhọc thanh lọc thân tâm, soi tột nguồn chân lý, xé tan màn vô minh tăm tối bao đời, chứng ngộ tam minh lục thông trở thành bậc Vô thượng chánh đẳng chánh giác cho chúng ta thấy rằng:

Trí tuệ hiểu biết về những bí mật và chân lý của thế gian do chính Đức Phật nỗ lực bản thân để tìm ra, chứ không phải là loại kiến thức có được từ giáo dục hay từ một vị thầy nào khác. Chính vì điều này mà Đức Phật đã luôn khuyên dạy hàng hậu học sau khi có được những kiến thức từ học tập giáo pháp, thì chúng ta nên tiếp tục rèn luyện tâm để đạt đến trí tuệ giác ngộ của chính mình. Sự thăng tiến về tâm linh và giác ngộ bản tâm do mỗi người tự nỗ lực mới có được, không ai có thể giác ngộ hay giải thoát thay cho mình.

Như vậy, bằng tất cả tâm thành, tín lực và tấn lực, dù chúng ta có tán dương công đức của Phật, từ đời này sang kiếp khác, cũng không thể nào xứng đủ. Vì sao? Vì năng lực của Thế Tôn, đã trải thân qua vô lượng kiếp, cần khổ tu tập pháp hạnh ba la mật, nên ngày hôm nay chúng ta mới có cơ duyên học hỏi và tu tập pháp môn giải thoát nhiệm mầu này.

Trong Kinh có ghi:

Bấy giờ vua Ba Tư Nặc thỉnh Phật và Tăng chúng vào cung thọ trai. Khi ấy có một thầy Tỷ kheo, miệng thở ra thơm như hoa sen. Vua sanh tâm nghi hoặc, sợ quyến rũ người trong cung, vua sai bảo thầy Tỷ kheo súc miệng, thầy Tỷ kheo càng súc miệng càng thơm. Vua thân hành đến thưa Phật, Phật xác chứng rằng: Trong vô lượng kiếp về trước, thầy Tỷ kheo này, thường thăng tòa tán thán về công hạnh chư Phật khắp mười phương, bởi do nhân duyên này, nay được quả báo thù thắng.

Như vậy, chúng ta thấy rõ nhân quả rất là tương ưng. Khi ta tán thán ca ngợi công hạnh của người nào đó, bằng vào tấm lòng từ bi – hỷ – xả, thì chính trong giờ phút thực tại này, từ nơi năng lực của tự thân, phát khởi chất liệu an vui hạnh phúc, chính nhờ vào năng lực này, nó đi theo chúng ta từ đời này sang kiếp khác. Đây chính là hạt giống thiện pháp, gieo vào trong tâm thức của chúng ta. Do đó mỗi một lời nói, một ý nghĩ ta phải luôn luôn chánh niệm và tỉnh giác, cẩn trọng lời nói. Vì sao? Vì lời nói ra có thể cứu người, và cũng có thể giết người.

Nên Thiền sư Tuyết Đậu Trùng Hiển (980–1052), một vị thiền sư nổi tiếng thuộc tông Vân Môn (Trung Quốc) dạy rằng:

“Hãy để miệng lên meo như cây quạt mùa đông, như tro tàn trong miếu cổ đi”.

Ở đây, Thiền sư dạy chúng ta dè dặt lời nói, chớ nghĩ đâu nói đó. Vì sao? Vì khi chúng ta nói ra dễ làm người thân chúng ta xúc não, di hại đến công phu tu tập của chính mình.

Nên Cố Hòa Thượng Thiện Hòa dạy:

Người khôn nói ít nghe nhiều,

Lựa lời đối đáp lựa lời hỏi han.

Trước người hiền ngỏ khôn ngoan

Nhường trên một bước rộng đường dễ đi

Chuyện người chớ nói làm chi

Chuyện mình, mình biết vậy thì mới khôn.

Như vậy, chúng ta thấy rõ sự tu hành điều kiện cần yếu là giữ gìn khẩu nghiệp cho được thanh tịnh, một khi ta nói điều gì đều trong tinh thần thương và hiểu. Ta luôn luôn phát nguyện là sứ giả của lòng thương và tha thứ, bao dung và độ lượng… Trong cuộc sống giữa đời thường này, với từng cạm bẫy của sự lọc lừa và phản trắc, bằng tất cả tâm thành, ta luôn luôn hướng đến chỗ chí thiện. Song chỗ chí thiện này, ta đừng tưởng lầm phải tìm kiếm tận chân trời góc bể nào! Mà chính ngay nơi hành động của tự thân ta, một lời nói thiện, một hành động thiện, là nhân tố trợ duyên cho ta đạt đến con đường chân lý tối thượng.

Trong Khóa Hư Lục vua Trần Thái Tông nói:

“Tâm là gốc thiện ác, miệng là cửa họa phúc. Nghĩ một niệm thì hưởng ứng không sai, nói một lời thì bóng theo chẳng lệch. Quân tử trọng lời nói như biện, cổ nhân ngừa nói như bình. Nói ra thì ngay thẳng công bằng, mở lời thì không cong queo tà vạy. Không nói đây hay kia dở, chẳng bàn mình phải người sai. Đâu dám khua môi múa lưỡi, cần phải giữ miệng gìn lời. Vả lại nghiệp của thân là nặng, song họa của miệng là trước. Chẳng những kẻ nói là vọng ngôn, còn khiến người nghe làm bậy. Đời này bị người khinh rẻ, sau khi chết bị nghiệp kéo lôi. Hoặc kềm sắt kéo lưỡi cam chịu chua cay hoặc nước đồng sôi rót vào miệng lòng ôm đau đớn”.

Đây chính là quả khổ, khi ta gieo những hạt giống bất thiện vào trong tâm thức ta, có những người khi còn khỏe mạnh, hay nói những lời thô tục, song đến khi bệnh nằm tại giường, các khổ tranh nhau bức ngặt, thì mới ăn năn, đợi đến khát đào giếng sao cho kịp, sao không ngay đây, ngay trong giờ phút thực tại, ta luôn luôn thầm tưởng và tán thán:

Pháp Vương Vô Thượng Tôn

Tam giới vô luân thất

Thiên nhân chi đạo sư

Tứ sanh chi từ phụ

Ư nhất niệm quy y

Năng diệt tam kỳ nghiệp

Xưng dương nhược tán thán

Ức kiếp mạc năng tận.

Nghĩa:

Đấng pháp Vương Vô Thượng

Ba cõi chẳng ai bằng

Đạo sư của trời người

Cha lành chung bốn loài

Đối một niệm quy y

Diệt được nghiệp ba kỳ

Xưng dương hay tán thán

Ức kiếp không thể hết.

Bài kệ Tỳ Ni thứ 19 nói đến sự vi diệu, khi một hành giả tán thán về công đức của chư Phật. Thật vậy, sự vi diệu của Đức Phật thật không thể nghĩ bàn. Hành giả nào đã kinh qua sự vi diệu này, mới cảm nhận được sức đại nguyện và hùng lực của chư Phật.

Vì thế trong Kinh Tương ưng bộ (chương XI, Tương ưng Sakka, phần III. Dhajaggam: Ðầu lá cờ) diễn tả việc chúng sanh có thể hóa giải được bất an nếu nghĩ niệm hay xưng tán danh hiệu Phật:

Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, khi các ông đi vào rừng, đi đến gốc cây hay đi đến nhà trống, nếu run sợ, hoảng hốt, hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, trong khi ấy hãy niệm nhớ đến Ta: ‘Ngài là Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn.

– Này các Tỷ-kheo, khi các ông niệm nhớ đến Ta, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, sẽ được tiêu diệt.

– Nếu các ông không niệm nhớ đến Ta, hãy niệm nhớ đến Pháp: ‘Ðây là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, do người trí tự mình giác hiểu.

– Này các Tỷ-kheo, khi các ông niệm nhớ đến Pháp, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên sẽ tiêu diệt.

– Nếu các ông không niệm nhớ đến Pháp, hãy niệm nhớ đến chúng Tăng: ‘Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Thiện hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Trực hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Chánh hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Như lý hạnh, tức là bốn đôi, tám chúng. Chúng Tăng đệ tử này của Thế Tôn đáng được cúng dường, đáng được hiến dâng, đáng được bố thí, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở trên đời.

– Này các Tỷ-kheo, khi các ông niệm nhớ đến chúng Tăng, thời sợ hãi, hoảng hốt, hay lông tóc dựng ngược có khởi lên sẽ tiêu diệt.

Hay trong kinh Tạp A-hàm (số 980, kinh Niệm Tam bảo) có nội dung tương đồng:

Các ông sắp vào nơi hoang mạc, sẽ gặp nhiều khủng bố, tâm kinh hoàng dựng đứng cả lông tóc, lúc ấy nên niệm Như Lai sự: Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, … cho đến Phật, Thế Tôn. Niệm như vậy thì mọi khủng bố đều tiêu trừ. Lại niệm Pháp sự, ‘Chánh pháp luật của Phật, được thấy trong hiện tại, có thể xa lìa sự thiêu đốt, không đợi thời tiết, được thấu suốt, được thân cận, duyên vào tự mình mà giác tri. Lại niệm Tăng sự, Đệ tử của Thế Tôn thiện hướng, chánh hướng… cho đến là ruộng phước của thế gian’. Niệm như vậy, thì mọi sự khủng bố đều được tiêu trừ.

Nên trong Kinh Pháp Hoa nói:

Nếu người tâm tán loạn

Vào ở trong tháp miếu

Nhất tâm Nam mô Phật

Đều được thành Phật đạo.

Tâm tán loạn tức là tâm vọng tưởng, vọng tưởng về quá khứ vọng tưởng về tương lai… nên không nhận chân được tri kiến Phật. Một khi trở về giác tâm tức là thành Phật. nên nói: “Một niệm mê là chúng sanh, một niệm giác tức là Phật”.

Như vậy, nhất tâm hướng về Phật, tán dương công đức Phật là thành tựu nhân Phật, từ nhân Phật là tiến thẳng đến quả Phật, cho nên nói: “Nhất tâm Nam mô Phật, đều được thành Phật đạo”. Lại nữa, tâm ta mê chạy theo ngoại cảnh, nên sanh ra nhân ngã – bỉ thử… Tâm ta giác chiếu diệu ra muôn pháp nên phát khởi năng lực từ bi và trí huệ, từ nhân tố này hành giả luôn luôn có chiều hướng chí thiện, do đó dùng tâm chánh trực đi vào cuộc đời này, tô điểm cho dòng Thánh Pháp bất tận. Nhân tố này có được là do ta dùng tâm hoan hỷ, tán dương công đức Phật.

Hay:

Hoặc dùng tâm hoan hỷ

Ca tụng công đức Phật

Cho đến một âm nhỏ

Đều đã thành Phật đạo.

Như vậy, hành giả dùng tâm hoan hỷ tán dương công đức của Phật, dù là một âm nhỏ thì công đức đó cũng không thể nghĩ bàn. Vì sao? Vì công đức vi diệu của Như Lai, dù hành giả có xưng dương tán thán ức kiếp cũng không tính hết, nên hành giả dùng tâm hoan hỷ ca tụng một pháp khúc của đấng Thiện Thệ, thì phước đức làm sao sánh kịp! Cho nên nói:

Cho đến một âm nhỏ

Đều đã thành Phật đạo.

Một âm nhỏ này với một tâm thái hoàn toàn vắng lặng, thì dung lượng của nó thật không thể nghĩ bàn, thoát ra thì bao trùm pháp giới, thu vào thì không có hình tướng, nó vượt thoát không gian và thời gian, nó xuyên suốt ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai, nó bàng bạc khắp hương đồng cỏ nội… Sở dĩ nó dung chứa năng lượng lớn như thế, vì bản chất của nó là “Vô tướng”, nó bao trùm khắp pháp giới mà không có hạn lượng. Vì bản chất của nó là “Vô thanh”, nên không có một thế lực quyền uy nào nắm bắt và đong đếm nó được! Vì bản chất của nó là “Vô trụ”.

Ngay trong khoảnh khắc thực tại này, khi hành giả với tâm thái tĩnh lặng, dùng tâm hoan hỷ tán dương công đức của Như Lai, thì công đức này không thể nào tính đếm được. Vì bản chất của dòng âm thanh này là “Vô niệm”. Song muốn đạt đến trạng thái này, thì trong cuộc sống giữa đời thường ta luôn luôn tùy hỷ và tán thán việc tốt của người:

Ngay một niệm trở về

Thì hằng sa tội diệt

Muốn tột pháp đốn này

Tùy xứ Tát bà ha.

Như vậy, sự thành tựu Phật quả, do công đức tán dương Đức Phật thật không thể nghĩ bàn. Hành giả nào khi gia công tu tập nên chín chắn xem kỹ, khỏi phải: “Thần khẩu hại xác phàm”.

Trong Kinh Bồ Tát Bổn Hạnh nói:

“Giáo hóa vô số ức, độ người thành Bích Chi Phật, hay có người dùng tứ sự cúng dường 100 năm thì được công đức rất nhiều, nhưng không bằng có người dùng tâm hoan hỷ, với một câu hay bốn câu kệ tán thán Như Lai thì công đức vô lượng”.

Trong Kinh A Hàm nói:

Người nào tâm thành tán thán và tưởng niệm ân đức Phật thì được thành tựu 16 pháp sau:

  1. Có tâm biết đủ.
  2. Khi chết được sanh về nhàn cảnh.
  3. Kiếp sau được gặp Phật vị lai, dễ dàng hiểu biết được bốn sự thật của thế gian.
  4. Được sanh vào dòng tộc cao quý.
  5. Được người khác cung kính.
  6. Là người xứng đáng được tán dương khen ngợi.
  7. Sắc thân được xinh đẹp.
  8. Thân thể tỏa mùi hương thơm.
  9. Miệng có mùi thơm tỏa ra khi nói.
  10. Trí huệ được phát sanh đầy đủ.
  11. Có sự thông suốt về trí huệ.
  12. Kiến thức cao quý được đầy đủ.
  13. Trí huệ nhạy bén và cực kỳ nhanh nhẹn.
  14. Tâm trí đầy đủ sự thông minh và nhiều an vui.
  15. Đầy đủ các trí huệ đặc biệt.
  16. Lời nói hay chính xác.

Như vậy, hành giả dùng tâm chí thiện tán dương về công hạnh của đức Phật, được quả báo tối thượng, đây chính là sự thành tựu về con đường vô thượng. Vì sao? Vì sự tán thán về công đức của Phật nó chính là những hạt giống thiện pháp, tưới tẩm vào dòng tâm thức của chúng ta, những hạt giống này là lộ trình đưa ta đến Phật vị, nhờ những hạt giống thiện pháp này mà trên bước đường tầm cầu chân lý, ta ít gặp sự trở ngại nào khi nghịch duyên đưa đến. Vì sao? Vì Phật chính là giác, một khi tâm Phật phát sanh thì mê tình tự ẩn, do đó người học Phật phải luôn luôn thầm tụng niệm:

Đấng Pháp Vương Vô Thượng

Ba cõi chẳng ai bằng

Đạo sư của trời người

Cha lành chung bốn loài.

Đức Phật ra đời vì một đại sự nhân duyên, khai thị cho chúng sinh ngộ nhập tri kiến Phật. Ngài chỉ cho chúng ta nhận ra và sống với tâm Phật của chính mình. Mà giác là Phật, mê là chúng sinh. Tỉnh giác sáng suốt thanh tịnh thì Phật đản sanh ngay giây phút hiện tiền. Có như thế, chúng ta mới có thể thẩm thấu và chứng nghiệm được giáo pháp nhiệm mầu của đức Từ Phụ. Bởi không gì hơn, người con Phật có bổn phận tôn kính, hộ trì và duy trì mạng mạch Phật pháp bằng cách thể nhập bản tâm để hòa vào dòng đại nguyện công đức trí tuệ, từ bi của chư Phật.



Bài 19: LỄ PHẬT

(Lạy Phật)

Lễ: tiếng Phạn là bàn-đề (Vandana), phiên âm là Hòa-nam hoặc Na-mô-tất -yết-la (Namas-kara), dịch là lễ bái; ý cung kính biểu hiện ở thân tướng.

Đây là nói đến tinh thần lễ Phật, mà trong các tông phái Thiền, Tịnh, Mật… đều tôn kính và thường xuyên lễ sám. Chúng ta tự đặt câu hỏi, tại sao ta phải lễ Phật? Lễ Phật có được năng lực gì?

Chúng ta lễ Phật không vì van xin tha tội, không vì mong cầu ban ân bố đức, mà lễ Phật là để tập sống với đức tính vị tha và bao dung của Phật. Lễ Phật để thấy mình còn cống cao ngã mạn, tật đố, ích kỷ, san tham… và phát nguyện từ bỏ những hành động xấu dở đó. Phước đức lễ Phật là tại chỗ đó.

Đọc câu chuyện vua A Dục trong lịch sử, ta thấy:

Vua A Dục trước là người độc ác, đã vậy mà vua còn lập ra một chỗ gọi là: “Địa ngục ở chốn nhân gian”, đặt tên là vườn “Ái lạc”. Từ khi hướng tâm đến Phật Đà, vua đổi thành người rất nhân từ. Hồi mới theo đạo, vì lòng cảm mộ quá dồi dào nên mỗi khi ngự ngoài đường hễ gặp vị Tỷ kheo nào đi ngang qua, vua liền xuống kiệu khấu đầu lạy. Tại sao một ông vua cực ác lại hướng đến chúng Tăng thành kính lễ lạy như thế?

Suốt một đời ngang dọc ngọn trường thương

Uy vũ lệch ngang trời đất

Đầu lâu rắc nẻo biên cương

Mà hôm nay

Khi chiến thắng hồi loa vừa ngây ngất

Núi xương máu vút trời lên chất ngất

Vương gục đầu ngấn lệ nuốt trong sương

Đầu gục trên niềm hối tiếc

Tay buông nhẹ hết triều nghi

Chắp lại một lời tha thiết

Thân tâm này sẽ là bát là y

Con thành kính dâng lên niềm tin tưởng

Trên khung trời tạc lại nét từ bi. (Trúc Thiên)

Cho nên, Lạy Phật là sự thể hiện lòng cung kính đến Đức Phật, vì cảm niệm ân đức của Ngài đối với mình. Lạy Phật là một cách tu tập để làm thanh tịnh ba nghiệp thân, khẩu, ý vì giây phút nào chúng ta thành khẩn quỳ trước tượng Phật là giây phút ấy lắng đọng tâm tư sâu thẳm nhất và ít nhất trong giây phút đó, chúng ta không làm các điều ác qua 3 nghiệp: thân, khẩu và ý.

Lạy Phật đúng cách là khi lạy, ngoài sự tôn kính chư Phật, chúng ta cúi đầu sát đất cũng là để hạ thấp nhất bản ngã của mình, vất bỏ cái tôi cố hữu để hòa nhập với Pháp thân thanh tịnh của chư Phật, không thấy có mình lạy, và người để cho mình lạy, nên nói: “Năng lễ, sở lễ tánh không tịch.” – Năng lễ là người lễ bái, sở lễ là Tam Bảo, tánh không tịch là bản chất tịch tịnh vắng lặng. Tự tánh của Tam Bảo là tịch tịnh nên khi lễ bái với tâm rỗng lặng thì không còn năng và sở, cả hai đều đồng tánh tịch tịnh. Đó là sự cảm ứng đạo giao hay sự tương thông không thể nghĩ bàn. Vậy khi lễ bái Tam Bảo tâm cần rỗng lặng mới có cảm ứng nhiệm mầu. Đó là một cách để tích lũy công đức và tiêu trừ nghiệp chướng.

Kinh Tăng nhất A-hàm, tập II, phẩm Thiện tụ, nói rõ những công đức có được khi lễ Phật như sau:

Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc.

Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Phụng sự, lễ Phật có năm công đức. Thế nào là năm? Đoan chánh; tiếng tốt; nhiều tiền lắm của; sanh dưỡng trong nhà trưởng giả; chết sanh cõi lành, lên trời. Vì sao thế? Như Lai không ai sánh bằng. Như Lai có tín, có giới, có văn, có tuệ, có sắc lành thành tựu nên thành tựu năm công đức.

Lại do nhân duyên gì lễ Phật được đoan chánh? Vì thấy hình tượng Phật rồi phát tâm hoan hỷ. Do nhân duyên này được đoan chánh.

Lại do nhân duyên gì có âm thanh tốt? Vì thấy hình tượng Như Lai rồi, ba lần xưng danh hiệu: Nam-mô Như Lai Chí Chân Đẳng Chánh Giác. Do nhân duyên này được âm thanh tốt.

Lại do nhân duyên gì được lắm tiền nhiều của? Do họ thấy Như Lai mà bố thí lớn: rải hoa, đốt đèn và thí những vật khác. Do nhân duyên này được giàu có.

Lại do nhân duyên gì sanh nhà trưởng giả? Nếu thấy thân Như Lai rồi, tâm không dính mắc, gối phải chấm đất, quỳ thẳng chắp tay chí tâm lễ Phật. Do nhân duyên này sanh nhà trưởng giả.

Lại do nhân duyên gì khi chết sanh cõi lành, lên trời? Theo phép thường của chư Phật, Thế Tôn: Có các chúng sanh đem năm việc nhân duyên lễ Như Lai sẽ sanh cõi lành, lên trời.

Đó là, Tỳ-kheo! Có năm nhân duyên lễ Phật được công đức. Thế nên, các Tỳ-kheo! Nếu có thiện nam, tín nữ muốn lễ Phật, nên tìm phương tiện thành tựu năm công đức này. Như thế, các Tỳ-kheo, hãy học điều này.

Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

Kinh Đại Báo Ân nói:

Vua A Xà Thế tạo tội ngũ nghịch, đúng lý phải đọa địa ngục A tỳ, sau ông sanh tâm sám hối, và hướng đến Phật cung kính đảnh lễ cúng dường tiêu diệt tội lỗi.

Như vậy, chúng ta thấy rõ sự vi diệu tác thành lễ Phật, tuy hữu hình mà vô tướng, tuy vô tướng mà hữu hình. Đây chính là sắc tức là không, không tức là sắc vậy! Người nào thâm nhập vào biển đại giác của Như Lai rồi, thì người này thắp một nén hương, lễ một lạy đều là công đức chân thật cả.

Do đó Hòa Thượng Thần Giai nói:

“Thấu rõ chúng sanh vốn rỗng không chẳng bỏ tâm đại bi, quán xét. Như Lai vốn lặng lẽ, mà chẳng bỏ sót đối với việc cung kính cúng dường, bàn về thật tướng chẳng hủy hoại giả danh, luận về sai biệt mà chẳng phá bình đẳng”.

Lại nói: “Nếu người kia thường lễ bái cung kính cúng dường nơi Tam Bảo, không biết mệt mỏi chán nản. Có thể vượt khỏi bốn cảnh ma, nhanh chóng thành tựu đạo giác ngộ Vô thượng”.

Như vậy, ai dám bảo rằng người ngộ lý thiền rồi không cần lễ bái, tụng Kinh, thiền tọa… Đây chính là khẩu đầu thiền vậy! Người xưa tuy là làm thầy cho thiên hạ, đốn ngộ chơn tâm, khai bày giác thể mà đối với sự lễ lạy tôn kính Như Lai, đều thể hiện trong tinh thần nhất như vô niệm.

Ta hãy nghe câu chuyện của Thiền Sư Hoàng Bá:

Sư lễ Phật tại điện Diêm Quan, bấy giờ vua Đường Tuyên Tông đang làm Sa di hỏi sư:

– Không chấp trước cầu Phật, không chấp trước cầu pháp, không chấp trước cầu Tăng, Trưởng lão lễ bái làm chi?

Sư đáp:

– Không chấp trước cầu Phật, không chấp trước cầu pháp, không chấp trước cầu Tăng, thường lễ bái sự việc như vậy.

Sa di nói: – Thế thì lễ bái làm chi?

Sư tát Sa di.

Sa di nói: – Thô lỗ quá!

Sư nói: – Nơi đây là đâu mà dám nói thô với tế?

Vừa nói Sư vừa tát.

Đây chính là đại cơ, đại dụng của Thiền sư, Thiền sư đã dẫm nát đại địa mà chưa từng dính hạt bụi, nhai nát hạt cơm mà chưa dính kẻ răng. Thật là:

Vào rừng không động lá

Vào nước không quậy sóng.

Nói chung, luận về thật tướng không dính một mảy trần, trên cửa muôn hạnh thì không bỏ một pháp, do đó Thiền sư lễ Phật mà không thấy mình lễ Phật, Thiền sư dùng tâm Phật lễ Phật nên năng sở tương ứng, tánh tướng vô ngại. Đây chính là ở chỗ bất động mà hiện bày diệu thể, ở chỗ hữu tình mà hiện bày vô tướng. Thật là gom càn khôn vào trong hạt bụi, tinh tú gom vào lỗ chân lông… Ấy chính là người đạt đạo nơi nơi đều là đạo, người ngộ pháp nơi nơi đều là pháp… Đâu như chúng ta một pháp cũng chẳng thông, một pháp cũng chẳng tột mà đã vội phế bỏ phép tắc kỷ cương của thường trụ. Cho nên người xưa học đạo rất dè dặt, luôn luôn đề cao kỷ cương của Phật Tổ, khép mình vào khuôn vức của Thiền môn, nên dòng pháp mới lưu truyền khắp năm châu bốn biển.

Do đó người đời sau muốn đạt đến chỗ đất thật, không bị chướng ma quấy nhiễu thì hãy nghe lời tâm huyết của Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ:

“Phước nghiệp sâu rộng, trợ giúp cả phàm lẫn Thánh, phước là cội gốc của an lạc, trí là cánh cửa dẫn đến giải thoát… Bậc cha lành trong mười phương làm vô lượng phước lành, đầy đủ thân công đức Ngài còn đích thân đảnh lễ đống xương khô, tự mình vì đệ tử mà xỏ kim. Huống chi kẻ phàm phu thấp kém, phước ít đức mỏng”.

Như vậy, ta muốn kết thiện duyên sâu dầy với Tam bảo, thì một pháp cũng chẳng sót, huống nữa lại phế bỏ ư? Tự mình lười biếng đã đành, còn khuyến khích người khác chê bai đây là tượng đồng, gỗ đá… lễ bái làm gì, đây chính là nhân điên đảo vậy! Người sau phải dè dặt, chớ gieo nhân dữ gặt quả dữ.

Như trong Kinh Lăng Nghiêm đã cảnh báo:

“Người tu đạo phát khởi tâm chứng Thánh, ma đại ngã mạn nhập vào tâm. Người này chẳng lễ bái chùa tháp, hủy hoại kinh tượng, họ nói với đàn việt: “Đó là đồng, vàng hoặc gỗ đất, kinh là lá cây hoặc là điệp hoa, nhục thân này là chân thật thường còn mà không cung kính, lại tôn sùng gỗ đất”.

Thật là điên đảo! những người tin theo họ, hủy hoại Kinh tượng, chôn vùi xuống đất, khiến cho chúng sanh nghi ngờ lầm lạc rơi vào địa ngục Vô gián. Khi mất chánh định sẽ đọa vào trầm luân.

Đây chính là nhân lành gặp quả xấu, nguyên nhân là tâm đại ngã mạn quá lớn. Có những người học được chút ít đạo lý thiền, hay có tâm cuồng loạn như thế! Họ đâu có hiểu nổi việc làm của các Thiền sư khi muốn khai thị cho người học, để thẩm thấu đến chỗ vô ngôn.

Như Vua Đường Tuyên Tông hỏi Thiền sư Hoàng Biện:

– Thiền sư đã hội ý Tổ, lại có lễ Phật tụng Kinh chăng?

Sư đáp:

– Sa môn Thích tử lễ Phật tụng Kinh là pháp thường của trụ trì, sẽ có bốn quả báo. Song còn phải nương theo giới luật của Phật để tu thân, tham tầm thiện tri thức, lần tu phạm hạnh nối gót Như Lai mà đi”.

Nên Kinh Pháp Hoa nói:

Hoặc có người lễ bái

Có người chỉ chắp tay

Cho đến giơ một tay

Có người lại cúi đầu

Để cúng dường tượng Phật

Sẽ thấy vô lượng Phật

Tự thành đạo Vô thượng.

Như vậy, việc lễ Phật tụng Kinh đều là khuôn phép của Tăng già, là công đức của thường trụ, há cho là việc dung dị ư? Là người tu Phật hành giả phải chín chắn xem lại hành động của mình. Khi lễ Phật có chánh niệm tỉnh giác hay không? Nếu không thì hãy tưởng niệm bài kệ:

Thiên thượng thiên hạ vô như Phật

Thập phương thế giới diệc vô tỷ

Thế gian sở hữu ngã tận kiến

Nhứt thiết vô hữu như Phật giả.

Nghĩa:

Trên trời dưới đất không ai bằng

Mười phương thế giới cũng không sánh

Toàn thể thế gian con thấy hết

Tất cả không ai bằng Phật được!.

Kệ Tỳ Ni này nói đến tinh thần lễ Phật làm sao đạt đến chỗ:

Năng lễ sở lễ tánh không tịch

Cảm ứng đạo giao nan tư nghì.

Lễ Phật như thế! Thì mới tăng trưởng công đức vô lậu được.

Trong Pháp Uyển Châu Lâm nói:

Ngài Tam Tạng ở nước phía Tây, họ Quyết hiệu Lặc Na, thấy dân phàm phu hạ liệt này ở gần miền biên giới, không biết lễ nghi, tính đồng khỉ ngựa, trong lòng thương xót tràn đầy. Ngài dạy họ bảy pháp lễ kính:

  1. Lạy ngã mạn

Đây là nói về các tướng lạy mà trong tâm còn chất chứa ta người, chưa đạt đến chỗ vô ngã, tính chất này còn ẩn chứa những hạt giống chấp ngã, thấy mình giỏi hơn người khác, tuy lạy mà trong tâm không kính…

Như câu chuyện Tăng Pháp Đạt trong Pháp Bảo Đàn Kinh chẳng hạn:

Tăng Pháp Đạt, người ở Hồng Châu, xuất gia lúc bảy tuổi, thường tụng Kinh Pháp Hoa, đến lễ Lục Tổ mà đầu không sát đất. Tổ mới quở:

– Lễ mà đầu không sát đất, chi bằng đừng lễ, trong tâm ông ắt có một vật, vậy ông chứa sự nghiệp gì?

Pháp Đạt thưa: – Tôi tụng Kinh Pháp Hoa đã đến ba ngàn bộ.

Tổ bảo:

– Nếu ông tụng đến muôn bộ, được ý Kinh mà chẳng cho là hơn, ắt cùng với ta sánh vai, nay ông mang sự nghiệp này, trọn không biết lỗi. Nghe ta nói kệ:

Lễ vốn trừ ngã mạn

Sao đầu không sát đất

Có ngã tội liền sanh

Quên công phước vô tỉ.

Đây là nói về Thầy Pháp Đạt đến lễ Tổ mà đầu không sát đất. Vì sao? Vì trong tâm còn chất chứa sự nghiệp tụng ba ngàn bộ Kinh Pháp Hoa. Tăng Pháp Đạt này là đại diện cho chúng ta đấy! Một người tu Phật mà trong tâm còn chất chứa ta người thì khó mà lễ lạy đến tôn tượng Phật, Bồ tát… Huống nữa là phàm Tăng, dẫu cho có lễ lạy mà trong tâm còn ta người, năng sở… thì cũng hoài công vô ích, đâu khác gì con trùng bửa củi.

Nên Tổ nói: “Có ngã tội liền sanh. Quên công phước vô tỉ”.

Như vậy chúng ta thấy rõ, lễ Phật, lễ Tổ… mà trong tâm còn chấp ngã, tức tội liền phát sanh, còn quên ngã buông xả những tâm niệm chấp trước thì phước đức chẳng thể nghĩ bàn.

  1. Lạy xướng họa cầu danh

Hình tướng lễ không phải ngạo mạn mà trong tâm không có chánh niệm, còn chấp trước ta người. Thấy người thì thân nhẹ lạy mau, người đi thì thân mỏi tâm mệt, như tựa tùy thuận. Có chút trợ lực của hình tướng, phước lễ này mỏng ít, chẳng phải thật tâm cung kính cúng dường; bởi do tâm tán loạn, không có chánh niệm tỉnh giác, chỉ có miệng xướng mà thôi, đó là lạy xướng họa cầu danh.

Như Kinh Pháp Cú Phật dạy:

Ai sống một trăm năm

Lười nhác không tinh tấn

Tốt hơn sống một ngày

Tinh tấn tận sức mình.

  1. Lạy thân tâm cung kính

Hình tướng lạy này là đem hết thân tâm cung kính lễ Phật, xướng danh hiệu Phật tưởng Phật trước mặt, đầy đủ tướng hảo. Thân tâm chánh niệm thu thúc sáu căn, liền cảm được từ ân của Phật, rưới nước cam lồ đảnh môn phát tuệ, nghiệp chủng sâu xa chóng dứt tiêu trừ. Đây là thân tâm chánh niệm mà cảm ứng vậy.

Như trong Kinh Pháp Cú nói:

Suốt năm cúng tế vật

Để cầu phước ở đời

Không bằng một phần tư

Kính lễ bậc chánh trực.

  1. Lạy Phật trí thanh tịnh

Do thấu suốt cảnh giới Phật, trí tuệ tỏ thông, thấu tột pháp giới không ngăn ngại, nên khi lễ Phật tùy tâm hiện lượng mà biến hiện khắp pháp giới, lạy một đức Phật là dung thông tất cả Phật, lạy một Đức Phật là dung nhiếp cả bốn loài. Vì tuy là khác loài, đi trong sáu đường mà không rời tâm Phật. Đây chính là phát trí thanh tịnh nơi chơn thường, mà phổ ra hằng sa diệu dụng. Nên người xưa nói: “Người nào muốn biết cảnh giới Phật, phải tịnh ý mình như hư không”.

  1. Lạy khắp pháp giới

Hành giả quán tưởng thân tâm của mình từ xưa đến nay không rời pháp giới, không đến không đi, không trụ không xả… tánh tướng nhất như, nên một khi lễ Phật là trùm khắp mười phương cõi Phật. Đây chính là năng lực thù thắng do ngộ nhập nhất chơn pháp giới, mà phổ chiếu ra muôn hình vạn tượng…

Như trong Đại Trí Độ Luận nói:

“Năng lực thù thắng của một vị Phật bằng năng lực thù thắng của tất cả Phật; năng lực thù thắng của tất cả Phật bằng năng lực thù thắng của một vị Phật. Giả sử tất cả Phật không giáo hóa chúng sanh, thì công đức ấy cũng quay về pháp giới, đức dụng biến khắp tất cả.”

  1. Lạy chánh quán tu hành: Đây là quán chiếu sâu xa thể của mình và thân Phật của mình, không duyên cảnh khác, thân Phật khác, nhất tâm tỉnh giác thâm nhập vào biển tuệ của Như Lai, thì quả báo tương xứng.

Như Kinh Tịnh Danh nói: “Như tự quán thân, quán Phật tướng cũng vậy”.

  1. Lạy thật tướng bình đẳng

Lạy thật tướng này phàm Thánh nhất như, thể dụng bất nhị, như như bình đẳng, người nào đạt đến cảnh giới này tức là thấy rõ mình và Phật là một thực tại duy nhất. Đây là cảnh giới bất khả tư nghì, không thể dùng tâm phàm mà thấu thoát được.

Kinh Đại Phương Quảng nói:

Ngài Trí Đăng hỏi:

– Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi! Sao gọi là thấy Phật thanh tịnh? Sao gọi là lễ Phật?

Ngài Văn Thù Sư Lợi đáp:

– Thưa đại đức Trí Đăng! Nếu thấy pháp tịnh, gọi là thấy Phật tịnh. Hoặc thân hoặc tâm không cúi không ngước, nếu không cúi không ngước chính là trực tức trụ, không dao động, tâm vắng lặng, hành hạnh tịch tĩnh. Này đại đức Trí Đăng! Đó là lễ Phật.

Như vậy lễ Phật ở đây có rất nhiều ý nghĩa, song mục đích chính là làm sao hành giả đạt đến chỗ đất thật, nắm bắt tự tại, co duỗi tùy thời, cúi ngước tùy lúc. Ấy chính là phương tiện lực của Bát nhã vậy! Hành giả muốn tột được lý này thì phải:

Trên trời dưới đất không ai bằng

Mười phương thế giới cũng không sánh

Toàn thể thế gian con thấy hết

Tất cả không ai bằng Phật được!

Nói tóm lại, Người Phật tử không xem Đức Phật như một vị thần linh ban cho sức khỏe, của cải, tài sản, cung cấp cho họ những nhu cầu cần thiết trong cuộc sống, và xin được tha tội.

Người Phật Tử tôn kính hình ảnh Đức Phật là một hành động để tỏ thiện ý tới một bậc thánh thiện cao cả, uyên bác, nhân đức, và từ bi nhất chưa từng có trên thế gian này. Đó là một sự kiện lịch sử vì con người vĩ đại này đã sống trên thế giới và đã triệt để phục vụ nhân loại. Sự lễ lạy Đức Phật thực sự có nghĩa dâng lên lòng kính trọng, tán tụng và thành tâm lên Ngài, và những gì Ngài đã làm chứ không phải lên một hình tượng bằng đá hay bằng kim khí.

Khi người Phật Tử nhìn vào hình ảnh Đức Phật, trong tâm họ không còn những tư tưởng đấu tranh, và chỉ nghĩ đến an lạc, thanh thản, bình tĩnh, và tịch tịnh. Tâm niệm thuần khiết đó khiến hành động lễ lạy của họ trở nên sống động và có ý nghĩa. Hình ảnh thanh tịnh của Đức Phật gây ảnh hưởng và cảm hứng để họ giữ vững chánh đạo về giới hạnh và tư tưởng. Bởi chính Đức Phật cũng từng khẳng định Ngài không phải là thần linh mà chỉ là một con người đã chuyển hóa thân tâm thoát khỏi những lậu hoặc của cõi đời ô trược này.



VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ

Thượng Tọa Thích Đạt Ma Khế Định

– Trụ trì: Thiền viện Trúc Lâm Chánh Thiện, tỉnh Lâm Đồng

– Giáo thọ Trường Trung cấp Phật học Tỉnh Bình Thuận;

– Giáo thọ Trường Phật học Trúc Lâm, Long Thành, Đồng Nai.

– Giảng dạy cho Tăng Ni, Phật tử tại các đạo tràng trực thuộc thiền phái Trúc Lâm Việt Nam trong và ngoài nước.

– Thành viên Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam – Trung Tâm Nghiên Cứu và Ứng Dụng Thiền Học Bắc Truyền.

Thượng Tọa Thích Đạt Ma Khế Định sinh năm 1970 tại Ninh Thuận, trong gia đình thấm nhuần Phật Pháp. Từ thuở bảy tuổi Thầy đã gieo duyên tụng niệm bái sám Kinh Pháp Hoa tại Tịnh xá Ngọc Bảo – Tháp Chàm, hạt giống đạo tâm sớm nảy nở. Một ngày khi duyên lành hội đủ, Thầy đến Thiền viện Thường Chiếu truyền pháp, mở hướng tu tập. Năm 1998 Thầy lên Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt trực tiếp thọ pháp của Hòa Thượng Trúc Lâm, nay là Tông Chủ Thiền Phái. Miên mật hành trì suốt 30 năm, Thầy đã kế thừa và phát huy tinh thần cốt tủy: nội tâm sáng tỏ, ngoại duyên lợi lạc. Với hạnh nguyện nhập thế, Thầy dốc lòng tiếp độ Tăng Ni, hướng dẫn Phật tử tu học, mở khóa thiền, giúp người học hiểu và ứng dụng Phật pháp, chuyển hóa khổ đau và dựng xây đời sống an lành giữa cuộc đời.