Tỳ Ni – Con Đường Chuyển Hóa Nội Tâm – Tập 2

VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC VIỆT NAM
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG THIỀN HỌC BẮC TRUYỀN

THÍCH ĐẠT MA KHẾ ĐỊNH

Tỳ Ni – Con Đường Chuyển Hóa Nội Tâm 

TẬP 2

Mục Lục

Bài 20: Ngọa Cụ
Bài 21: Cúng Tịnh Bình
Bài 22: Thọ Thực
Bài 23: Xuất Sanh
Bài 24: Thị Giả Tống Thực
Bài 25: Kết Trai
Bài 26: Tẩy Bát
Bài 27: Triển Bát
Bài 28: Thọ Sấn
Bài 29: Thủ Dương Chi
Bài 30: Tước Dương Chi
Bài 31: Sấu Khẩu
Bài 32: Xuất Tích Trượng
Bài 33: Phu Đơn Tọa Thiền
Bài 34: Thùy Miên
Bài 35: Thủ Thủy
Bài 36: Dục Phật
Bài 37: Tán Phật
Bài 38: Nhiễu Tháp
Bài 39: Khán Bệnh
Bài 40: Thế Phát
Bài 41: Mộc Dục

Bài 42: Tẩy Cước



Bài 20: NGỌA CỤ

(Đồ nằm)

Ngọa cụ: tiếng Phạn là Chấn việt, những đồ dùng lúc nằm như: giường, chõng, mền, nệm…

Luận Đại Trí Độ nói:

Ngọa cụ là giường, chõng, mền, nệm, mùng màn, gối… Tức tổng danh của ba y. Bởi Ấn Độ khí hậu nóng nực, ba y tùy thân, bình thường mặc một y đã đủ, lúc nằm trải tọa cụ (ni sư đàn) rồi ngủ trên tọa cụ, trước đắp y năm điều, kế đắp y bảy điều, lấy y Tăng già lê xếp làm bốn gối đầu, nằm bên hông phải. Nếu lúc lạnh thì ngồi kiết già, lại đem Đại y đắp lên thêm.

Đây là nói về ngọa cụ, nghĩa là người xuất gia, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, cũng đều lấy ba y bình bát làm tiêu điểm. Cho nên hành giả nhờ ngồi trên tọa cụ mà phát sanh định tuệ, nuôi lớn pháp thân huệ mạng, chóng thành Phật quả. Do đó nói:

Ngọa cụ ni sư đàn

Trưởng dưỡng tâm miêu tánh

Triển khai đăng Thánh địa

Phụng trì Như Lai mạng.

Nghĩa:

Ngọa cụ ni sư đàn

Nuôi dưỡng lúa tâm tánh

Mở ra lên đất Thánh

Phụng giữ mạng Như Lai.

Vậy Ngọa cụ (tọa cụ) cần thiết đối với hàng xuất gia như thế nào?

Tọa cụ là dịch nghĩa của chữ “nisadana” hoặc là nisadana thuộc Sanskrit, có nghĩa là tấm vải nhỏ của nhà Sư được phép mang theo để trải ra ngồi hoặc nằm khi cần thiết. Chữ Pali cũng viết giống như vậy. Nó còn được phiên âm là ni-sư-đàn hoặc ni-sư-đãn-na. Vì công dụng của nó là để lót chỗ ngồi, nên có chỗ dịch là “tùy tọa y”, nghĩa là tấm vải mang theo để ngồi. Nó cũng được dùng khi nằm nghỉ, nên có chỗ dịch là “tọa ngọa cụ” nghĩa là dụng cụ để ngồi hoặc nằm. Tọa cụ là một trong sáu vật tùy thân mà một vị Tỳ-kheo được phép sở hữu. Do đó, các tỳ-kheo thường mang theo bên mình, đôi khi trải nó ra để lót nơi đảnh lễ các vị tôn đức.

Bồ đoàn là một danh từ kép được phối hợp bởi hai thành tố: Bồ là cỏ bồ, đoàn là tròn. Người xưa dùng cỏ bện lại thành nệm có hình dáng tròn để ngồi thiền, lạy Phật hoặc ngồi tụng kinh. Bồ đoàn có thể là biến hình của tọa cụ, vì trong Luật hệ Pali hoặc Sanskrit, không thấy từ gốc của nó. Luật Tạng quy định một số vật dụng nhu yếu cho một vị Tỳ-kheo, cũng không thấy bồ đoàn, mà chỉ có tọa cụ thôi.

Trước khi đức Phật thành đạt quả vị tối thượng chánh đẳng chánh giác, lịch sử cũng đề cập việc Ngài ngồi thiền trên nắm cỏ Kusa do Svastika cúng dường đức Thế Tôn. Cho nên cũng có thể hiểu đơn giản bồ đoàn là biến thể của tọa cụ nhằm tạo thế ngồi vững chắc cho công phu thiền định. Nó giúp cho hành giả ngồi vững chắc, dễ chịu hơn, để chống chọi với những ma trận của thân và tâm. Ngồi bao lâu, ngồi yên thế nào cho cánh cửa thiền định mở ra, thấu suốt vấn đề sinh tử, đó là việc của người tu.

Thiền sư Huệ Lăng ở Trường Khánh tham học nơi Tuyết Phong và Huyền Sa, qua lại 20 năm, ngồi rách bảy cái bồ đoàn mà chưa tỏ ngộ. Nhà thiền ghi lại chuyện này bằng câu “Trường Khánh bồ đoàn”, ý nói tính cách quyết tâm gian khổ. Đâu phải một lần ngồi mà xong việc! Bởi hành thiền không dễ. Nó đòi hỏi thời gian và nghị lực. Nó cũng đòi hỏi sự kiên định, kỷ luật và đam mê. Nó đòi hỏi nhiều cá tính mà chúng ta thường xem là khó chịu và tránh né chúng bất cứ khi nào có thể. Ta có thể tóm tắt rằng thiền đòi hỏi một tinh thần dám nghĩ, dám làm.

Đây là bài kệ Tỳ Ni thứ 17 nói đến tinh thần siêu thoát của hành giả. Vì sao? Vì một người khi tu đạo, dù bất cứ hoàn cảnh nào, khi bước chân vào cửa thiền, đều phải buông xả tất cả, chỉ giữ bên mình ba y bình bát. Cho nên ngọa cụ này còn gọi là tọa cụ, tùy tọa y.

Khi xưa chính Đức Thế Tôn, bậc Ứng Cúng của chúng ta, cũng nhờ ngồi trên tọa cụ, dùng cung thiền định và kiếm trí tuệ, để hàng phục ma quân thẳng đến con đường Vô thượng giác. Do đó tọa cụ này còn là biểu tượng của tự tâm chúng sanh sẵn đủ Phật tri kiến, nếu không thì ta có ngồi bao nhiêu kiếp, cũng không tăng trưởng thiện tâm, phát huy đến chỗ chí thiện.

Nên Thiền Sư Đạo Nguyên nói:

“Tọa cụ là trạng thái chư Phật xuất hiện trong hào quang tự chiếu, ba hành động của thân, khẩu và ý được in sâu bằng Phật ấn và biểu thị cho chư Phật”.

Như vậy, chúng ta thấy rõ nhờ năng lực của tọa thiền mà phát triển định huệ, nuôi lớn pháp thân huệ mạng. Do đó tọa cụ này còn có công năng chấm dứt sự cuồng loạn của nội tâm, giải phóng sự xung đột của chấp ngã. Cho nên dù chưa đạt ngộ hay đã đạt ngộ, chư Tổ cũng đều khuyên ta tọa thiền mỗi ngày.

Có người nghĩ rằng tọa thiền là để chứng ngộ, và khi giác ngộ hoàn toàn không cần tọa thiền nữa.

Đó là thiền “đợi ngộ”, hơi khác với pháp tu mà tọa thiền tự nó là Phật hạnh. Theo pháp tu đầu, tọa thiền trong tinh thần mong chứng ngộ và chỉ biết đạt đến chỗ đó; sau khi ngộ, tọa thiền không được xem là quan trọng nữa. Nhưng Thiền Sư Đạo Nguyên nhấn mạnh rằng: đường lối chân truyền của chư Phật, chư Tổ, ngồi thiền tức thể hiện cứu cánh và không chỉ là một phương tiện chờ đợi giác ngộ. Thật ra khi tập trung vào một công án, toàn thể cuộc sống phải được dồn vào thực hành với mục đích đạt ngộ. Nhưng thiền của chư Phật và chư Tổ truyền thống ngày xưa được gọi là Phật quang tam muội, thì không xem tọa thiền là phương tiện để đạt ngộ. Trong tư thế tọa thiền, hào quang của chư Phật và chư Tổ hiện hành, đó là Phật hạnh và Phật đạo.

Như vậy, chúng ta thấy rõ năng lực của tọa thiền chính là biểu tướng của chư Phật, là cửa ngõ cực tắt đưa ta đến chân trời giác ngộ. Do đó trong cuộc sống giữa đời thường này, thiền đóng vai trò rất thiết thực, nó giải phóng những cù cặn của tâm thức chấp ngã, xóa tan những mây mù vô minh chấp ngã. Cảm nhận sâu xa về ý nghĩa tọa thiền.

Thiền sư Đạo Nguyên cũng nói:

“Nếu mười phương chư Phật có vô số như cát sông Hằng, dùng hết sức lực và trí huệ Phật mong đo được công đức của một người tọa thiền, cũng không bao giờ làm được”.

Như vậy, muốn thể nghiệm được chân lý của thiền, cảm nhận sâu xa về công đức của thiền, ta phải thực sống với chính mình, nhìn thẳng vào lòng mình, đào xới và đi sâu vào thực tại, phải tự mình thực nghiệm và thân chứng cái tâm thái tự do tuyệt đối đó, chứ không bảo ta lý luận và định nghĩa. Khái niệm và lý luận về thiền, thì giống như con vẹt biết nói. Chỉ khi nào mọi toan tính, mọi suy nghĩ dừng bặt, bấy giờ ta mới thấu thoát được câu:

Ngọa cụ ni sư đàn

Nuôi lớn lúa tâm tánh

Mở ra lên đất Thánh

Phụng giữ Như Lai mạng.



21: CÚNG TỊNH BÌNH

(Cúng bình sạch)

Tiếng Phạn là Quân trì, dịch là bình. Có hai thứ bình dùng vào việc sạch và dơ; bình sạch làm bằng sứ sành, bình dơ làm bằng đồng sắt. Nước bình sạch dùng để rửa tay sạch, uống…Nước bình dơ dùng để rửa tay dơ, cũng gọi là bình rửa.

Sách Tam Thủy Yếu hành pháp nói:

“Bình sạch bình dơ đã phân định rõ ràng, đều do chính Đức Phật nói ra, chẳng phải người khác tự đặt ra”.

Như vậy, đều từ kim khẩu của Thế Tôn, hàng Thánh giả từ bậc Tam thừa đều phải vâng giữ. Cho nên hành giả phải thâm đạt nghĩa này, nên lúc cầm bình tụng thầm kệ chú:

Thủ chấp tịnh bình

Đương nguyện chúng sanh

Nội ngoại vô cấu

Tất linh quang khiết.

Nghĩa:

Tay cầm bình sạch

Nguyện cho chúng sanh

Trong ngoài không dơ

Tất cả sạch sẽ.

Bài này nói đến tinh thần chuyển hóa nội tâm trong sạch thanh tịnh của hành giả, bình này chính là bình ngũ uẩn của hành giả vậy. Song muốn tẩy sạch thân tâm tịnh bình ngũ uẩn này, hành giả phải thường xuyên tịnh tâm quán chiếu.

Như trong Kinh Pháp Bảo Đàn, phẩm Tọa Thiền, Lục Tổ dạy:

“Này thiện tri thức! ngoài lìa tướng tức là thiền, trong chẳng loạn tức là định, ngoài thiền trong định, ấy gọi là thiền định”.

Kinh Bồ Tát Giới nói:

“Bản tánh của ta vốn tự thanh tịnh. Này thiện tri thức, trong mỗi niệm tự thấy được bản tánh thanh tịnh, tự tu tự hành, tự thành Phật đạo”.

Như vậy, Tổ chỉ thẳng tẩy rửa bình ngũ uẩn này bằng phương pháp là: “Ngoài lìa tướng, trong chẳng loạn” thì tự tịnh, tự định. Vì bản tánh của ta vốn tự thanh tịnh, song do một niệm vọng động đuổi tìm mà ta phải lưu lãng trong sanh tử chịu nhiều tai ương. Ngày nay nhờ hạt giống Bồ đề còn sót lại, ta gặp được Tam Bảo phát túc siêu phương, dấn mình vào con đường Vô thượng. Nên thường xuyên ta phải tẩy rửa tịnh bình:

Trong ngoài không dơ

Tất cả sạch sẽ.

Cho nên muốn định vị đến chỗ này, ta phải thiền tập để kiểm soát lại tâm hành của chính mình, nếu không thì dễ ngoài hiện tướng oai nghi, trong thì mưu tính hại người.

Như trong Kinh A Hàm Phật dạy:

Một hôm Phật bảo các Tỷ kheo rằng:

– Này các Tỷ kheo! Trong hàng đệ tử của Ta có chia ra làm bốn hạng người. Thế nào là bốn?

– Hạng người ngoài chín trong sống.

– Hạng người ngoài sống trong chín.

– Hạng người ngoài sống trong sống.

– Hạng người ngoài chín trong chín.

Thế nào là hạng người ngoài chín trong sống? Tức là những người tu hành bên ngoài thì thanh tịnh nghiêm trang mà bên trong thì buông lung, tư tưởng không thể điều phục.

Thế nào là hạng người ngoài sống trong chín? Tức là những kẻ bên trong thanh tịnh, nhưng ngoài thì hạnh thô tháo phóng túng.

Thế nào là hạng người ngoài sống trong sống? Tức là những kẻ trong ngoài đều không thanh tịnh.

Thế nào là những kẻ ngoài chín trong chín? Tức là những kẻ trong ngoài thanh tịnh.

Này các Tỷ kheo! Chính hạng người sau cùng này mới là hạng thanh tịnh chân thật, xứng đáng là người giữ gìn gia bảo Như Lai.

Do đó, lúc cầm tịnh bình, thì hành giả phải phát đại nguyện, nguyện cho tất cả chúng sanh tu tập thánh pháp của Phật, sạch nghiệp trần cấu phiền não từ vô thỉ, trong ngoài đều thanh tịnh, được 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp diệu nghiêm của Thế Tôn.

Nên sách Tỳ Nại Da nói:

“Nên quán chiếu trong thân, cần sửa niệm chỉnh ý, xa lìa các tâm bất thiện. Đối với tất cả chúng sanh, nơi nội thân, ngoại thân, nội ngoại thân, nội thọ ngoại thọ, nội ngoại thọ. Nội tâm, ngoại tâm, nội ngoại tâm. Nội pháp, ngoại pháp, nội ngoại pháp, thấy pháp tùy thuận, cần tu tinh tấn. Đối với tất cả hữu tình, xa lìa các điều ác chánh niệm mà trụ”.

Như vậy, qua bài kệ Tỳ Ni này đã toát lên lý thiền rất sâu sắc, hành giả một khi đã đột phá vào thân tâm ngũ uẩn, rửa sạch phiền não cấu nhơ siêu thoát pháp trần thì mới thấu thoát được câu:

Tay cầm bình sạch

Cầu cho chúng sanh

Trong ngoài không dơ

Tất cả sạch sẽ.



Bài 22: THỌ THỰC

(Thọ trai)

Thọ (Vedana) là lãnh nạp. Thực (ahara) thì nuôi lớn cho thân tâm.

Trong Luận Tỳ Bà Sa nói:

“Ăn có thể thực hiện trong hai thời, đều được gọi là ăn. Một là lúc ăn sáng trừ được đói khát, hai là ăn trưa tiêu hóa rồi nuôi thân thể là việc lớn”.

Kinh Ngũ Bách Vấn nói:

“Không mặc ba y mà thọ thực thì phạm tội đọa”.

Luật dạy: chúng Tăng trước khi thọ thực phải rửa tay, miệng sạch. Đây là ngầm tiêu biểu trước khi thọ thực, ba nghiệp phải thanh tịnh thấu thoát pháp trần đều do duyên hội tụ, nên khi ăn tâm không đắm nhiễm nơi sắc trần mà đọa lạc.

Thiền Môn Cảnh Tỉnh Truyện ghi:

Xưa có một Sa di tâm thường ưa thích váng sữa, Sa di được mỗi phần thừa, tâm sanh đắm nhiễm, vui mừng khôn nguôi. Sau khi mạng chung, bị đọa làm loài trùng trong bình váng sữa thừa ấy.

Thầy của Sa di đã chứng quả A-la-hán, mỗi khi Tăng chia váng sữa thì thầy nói:

– Hãy cẩn thận từ từ! Chớ làm tổn thương chú Sa di ưa váng sữa ấy.

Mọi người lấy làm lạ nói:

– Đó là loại trùng, sao gọi là Sa di ưa váng sữa?

Thầy đáp:

– Con trùng ấy vốn là Sa di đệ tử của tôi, chỉ vì tham ăn váng sữa thừa nên sanh trong bình này.

Thầy được phần váng sữa, trùng từ từ bò ra, thầy nói:

– Ngươi ưa váng sữa sao mà đến nơi đây.

Liền lấy váng sữa đưa cho.

Cho nên Kinh Phật Tạng chép:

“Nếu Tỳ kheo nào một lòng hành đạo thời có ngàn ức Thiên thần nguyện cúng dường. Chỉ hay một lòng hành đạo thôi trọn không hề có một niệm nào khác về ăn mặc, thì trong trăm ngàn ức phần ánh sáng nơi tướng lông trắng của Như Lai sẽ có một phần ánh sáng chiếu đến các đệ tử vậy. Giả sử hết thảy mọi người trong cõi thế gian này đều xuất gia thì trăm ngàn ức phần ánh sáng do tướng lông trắng phát ra ấy cũng không hết trong một phần”.

Sách Căn Bản Tát Bà Đa, Bộ Luật Nhiếp nói:

“Lúc ăn ngồi thỏng chân, oai nghi nghiêm chỉnh, không nên quay nhìn, nên sanh tư tưởng nhàm chán. Trụ ở chánh niệm, tâm thanh tịnh không lay động rồi mới ăn. Nếu khác điều này thì phạm tội vượt pháp”.

Đoạn này nhắc nhở người tu tập khi ăn phải luôn có ánh sáng chánh niệm, vì chánh niệm có mặt nên tâm hành giả không có tâm thủ xả, vượt thoát cảnh giới nhị nguyên phân biệt của phàm tình, mà siêu thoát lên cảnh giới tự tại của bậc Thánh triết. Do đó nhà thiền chủ trương ngay động tức tịnh, ngay niệm tức vô niệm, ngay sanh tức vô sanh.

Đạo sư Dogen Zenji (Đạo Nguyên, 1200-1253), nhà sư đầy bí ẩn khai sinh trường phái Soto Zen tại Nhật, đã nắm bắt những quy luật của tu viện thiền trong suốt 4 năm Ngài ở Trung Quốc. Khi ngài trở về Nhật, Ngài chắt lọc những quy luật đó, thẩm thấu sự tập trung chú ý vào chi tiết và quán chiếu nội tâm sâu xa vào quy luật. Lấy thức ăn, theo đạo sư, trở thành ōryōki. Đạo Nguyên viết, “Ngay chính lúc ta ăn, ta sở hữu thực tại tối thượng, tinh túy, vật chất, năng lượng, hoạt động, quan hệ nhân quả. Vì vậy, pháp là ăn, và ăn là pháp”.

Như vậy, “Thiền” là sống nơi cái “Động” mà nhận ra cái “Bất động”, ngay nơi “Tạo tác” mà nhận ra cái “Vô tác”, ngay nơi “Thọ thực” mà nhận ra cái “Vĩnh hằng” thường tại, chỉ trong khoảng sát na này bậc đại trí không bỏ mất công phu đó mới chính là:

Tùy duyên tiêu nghiệp cũ

Hồn nhiên mặc áo xiêm.

Nên trong Thiền Thoại có ghi:

Tăng hỏi Thiền sư Triệu Châu: – Chẳng lẽ ngày nào cũng mặc áo, ăn cơm?

Thiền sư Triệu Châu hỏi: – Vậy chứ ông muốn sao?

– Làm sao để không mặc áo, ăn cơm?

Thiền sư Triệu Châu nói: – Thì hãy mặc áo, ăn cơm!

Tăng ngơ ngác: – Con chưa hiểu.

Thiền Sư Triệu Châu bảo: – Thôi cứ về mặc áo, ăn cơm đi!”

Mặc áo, ăn cơm, rửa chén, súc miệng… là những chuyện bình thường, những chuyện sinh tử. Song muốn thoát vòng sinh tử này, hành giả phải ngay nơi sanh tử mà nhận ra cái bất tử, ngay nơi cái hữu hạn mà nhận ra cái vô hạn. Do đó, Thiền sư mới khai thị ông Tăng: “Thôi, cứ về mặc áo, ăn cơm đi”.

Trong bài Cư Trần Lạc Đạo của Sơ Tổ Trúc Lâm cũng nói:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cơ tắc san hề khốn tắc miên

Gia trung hữu bảo hưu tầm mích

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

Nghĩa:

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên

Đói đến thì ăn mệt ngủ liền

Trong nhà sẵn báu thôi tìm kiếm

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.

Cho nên trong bài Tỳ ni này dạy trước khi cầm bát thọ thực hành giả phải chánh niệm thầm tụng kệ chú:

Nhược kiến không bát

Đương nguyện chúng sanh

Cứu cánh thanh tịnh

Không vô phiền não.

Nghĩa:

Nếu thấy bát không

Nguyện cho chúng sanh

Rốt ráo thanh tịnh

Không có phiền não.

Tại sao “thấy bát không” lại mong chúng sanh được hoàn toàn thanh tịnh, tâm không còn phiền não?

Tinh thần này được Phật nói trong Kinh Lăng Già rằng:

“Lấy tâm làm tông, cửa không là cửa pháp”

Nhà thiền cũng nói: “Đàn không dây, bát không đáy”. Do đó hành giả một khi chiếu kiến vào tự thể của nội tâm đột phá đến cảnh giới vô niệm mới hay ra rằng:

Ba thuở tìm tâm, tâm chẳng thấy

Tấc lòng kiếm vọng, vọng hoàn không.

Đến đây rồi, hành giả đâu thể an hưởng niềm vui tịch diệt này cho riêng mình, nên mới đồng phát nguyện:

Nếu thấy bát không

Cầu cho chúng sanh

Rốt ráo thanh tịnh

Không có phiền não.

Như vậy, hành giả một khi chiếu kiến vào nội tâm, thấu tột ngã không, pháp không thì tức khắc thanh tịnh. Không còn phiền não, từ đây đất trời luôn rộng mở ung dung tự tại mà siêu thoát, mới hay ra rằng: “Cảnh đời là mộng huyễn, tạm mượn thân huyễn này, dùng chút ít vật huyễn để hoàn thành Phật đạo huyễn. Song huyễn mà vẫn thường như, nên gọi là: “Như huyễn Tam muội”.

Song dù tu hành đạt đến cửa không vẫn phải tâm niệm nhớ ơn của thí chủ, đàn việt cúng dường vật thực cùng vô số trợ duyên khác khiến ta no đủ mà có thể hành trì pháp Phật. Điều này được Đại sư Châu Hoằng từng dạy trong “Tăng huấn nhật ký”:

“Từ khi cày cấy gieo trồng cho đến lúc được ăn được mặc, đâu phải chỉ có sức người sức trâu gánh chịu, mà cả loài bàng sanh cũng bị tổn hại vô cùng. Nhọc nhằn công sức của chung để làm lợi ích cho ta còn không nên thay, huống là giết đến sinh mạng để nuôi sống mình? Sao có thể nỡ lòng?

Người nông phu thường chịu nỗi khổ đói lạnh, kẻ thợ dệt miệt mài mà chẳng có che thân. Huống chi ta quen sống thảnh thơi, thì sự đói lạnh sao lại chán sợ nơi lòng? Mặc áo nhuyễn, ăn thức ăn ngon phải mang ân nặng mà tổn đạo; chẳng thà ăn rau, mặc áo vá mà lòng thảnh thơi chứa nhóm đức thầm. Đời này chưa sáng tâm, dầu một giọt nước cũng khó tiêu!”

Hay:

Chẳng lẽ nói: Không cần cày ruộng, dệt vải cũng có cơm ăn áo mặc chính là lợi ích của xuất gia sao? Hoặc nói: Không cần mua nhà, thuê phòng cũng có chỗ ở, chính là lợi ích của xuất gia sao? Hoặc lại nói: Vua, quan, đại thần ủng hộ, Phật tử cung kính cúng dường, trên không bị quan lại sai sử, dưới không phiền nhiễu gì dân, rong chơi tự tại, chính là lợi ích của xuất gia sao?

Người xưa cũng có một bài kệ:

Một hạt cơm tín thí,

Nặng hơn núi Tu-di;

Nếu vẫn chưa liễu đạo,

Sau làm trâu ngựa đi.

Lại có người nói: Ngày sau lão Diêm vương đòi ông tiền cơm gạo, nếu không chịu tu hành, coi ông trả làm sao?

Từ đó có thể thấy, xuất gia ngược lại thầm mang một tai họa lớn, còn nói gì đến lợi ích? Gọi là lợi ích của xuất gia, chính là phá phiền não, đoạn vô minh, chứng vô sanh pháp nhẫn, liễu thoát sinh tử. Đây mới là việc thiên thượng nhân gian tối tôn nhất, đồng thời cha mẹ dòng họ mới có thể được che mát bằng đức hạnh ân trạch của mình. Nếu không, cho dù giàu có tiền rương bạc vựa, được làm quốc sư vinh quý đến bảy đời vua cũng chẳng có lợi ích nào đáng nói! Tôi quả thật rất lo sợ, e mắc đại họa này, đồng thời báo cho chư vị để cảnh giác lẫn nhau!

Vì vậy trong giờ thọ trai Phật răn: Chúng Tăng khi ăn phải nhớ năm pháp quán vì tán tâm nói chuyện, của tín thí sẽ khó tiêu. Chư Tăng Ni thọ nhận cúng quá đường và nâng ngang tầm trán chiếc bình bát đựng thức ăn cúng dường với 5 điều quán tưởng (chánh niệm khi dùng thức ăn):

  • Quán thức ăn này từ đâu đem đến, công của người nhiều hay ít. (Con xin nhớ ơn người đã phát tâm cúng dường những thức ăn trang nghiêm thanh tịnh này).
  • Quán công đức của mình đủ hay thiếu, mà nhận thức ăn này. (Con nguyện nỗ lực tu học, trau dồi giới hạnh để xứng đáng thọ dụng những thức ăn này).
  • Quán thức ăn này cốt dẹp trừ tham sân si. (Trong khi ăn, con nguyện gột sạch những phiền não tập khí cố hữu để thân tâm được thanh tịnh).
  • Quán thức ăn này như thuốc uống để trị bệnh ốm gầy. (Con quán chiếu những thức ăn này như những vị thuốc, để cho thân thể con khỏi bệnh tật hỗ trợ cho việc tu tập).
  • Quán vì thành đạo nghiệp, mới nhận thức ăn này. (Con nuôi dưỡng chánh niệm, chỉ vì để thành tựu đạo nghiệp giải thoát giác ngộ nên con mới thọ dụng những thức ăn này).

Đức Phật dạy người xuất gia xem việc ăn uống như là dùng thuốc chữa bệnh đói, để duy trì sự sống chứ không phải ăn với tâm thái hưởng thụ ngũ dục. Vì ăn với tâm hưởng thụ nó cũng đồng nghĩa là chúng ta đang tham đắm vào thức ăn mà mất chánh niệm trong giờ phút thực tại. Trái lại người tu sĩ cần tỉnh thức thọ trai trong ý niệm biết ơn sâu sắc đàn na tín thí đã trợ duyên cho mình trên bước đường hành trì tu tập hướng đến giác ngộ giải thoát, nên đồng phát nguyện:

Nhược kiến mãn bát

Đương nguyện chúng sanh

Cụ túc thạnh mãn

Nhất thiết thiện pháp.

Nghĩa:

Nếu thấy bát đầy

Nguyện cho chúng sanh

Đầy đủ sung mãn

Tất cả pháp lành.



Bài 23: XUẤT SANH

(Lấy cơm thí cho chúng sanh)

Xuất sanh là tên khác của sanh phạn, chính là nói tắt của xuất chúng sanh thực (trích phần cơm cho chúng sanh). Trước khi ăn, trong cơm của mình, vì chúng sanh xuất ra một ít bố thí cho họ ăn, là một nghi thức trong luật của người trì giới.

Pháp lực bất tư nghì

Từ bi vô chướng ngại

Thất lạp biến thập phương

Phổ thí châu sa giới.

Nghĩa:

Pháp lực chẳng nghĩ bàn

Từ bi không chướng ngại

Bảy hạt biến mười phương

Bố thí khắp pháp giới.

Ở đây không chỉ là “do nguyện lực thần chú của Phật mà bảy hạt cơm kia sẽ biến thành cam lồ pháp nhũ khiến cho loài đại bàng ăn no đủ mà chính nhờ năng lực lan tỏa tâm từ bi của Đức Phật nên chúng sanh thọ nhận được. Bởi Từ là cho vui, Bi là cứu khổ. Cứu khổ cho vui nên gọi là từ bi.

Luận Đại Trí độ nói:

“Đại từ là ban vui cho tất cả chúng sanh; đại bi là cứu khổ cho tất cả chúng sanh”.

Cho nên trong kinh Từ Bi (thuộc Kinh Tiểu bộ), Đức Phật cũng dạy:

Nguyện cho mọi người và mọi loài được sống trong an toàn và hạnh phúc, tâm tư hiền hậu và thảnh thơi.

Nguyện cho tất cả các loài sinh vật trên Trái Đất đều được sống an lành, những loài yếu, những loài mạnh, những loài cao, những loài thấp, những loài lớn, những loài nhỏ, những loài ta có thể nhìn thấy, những loài ta không thể nhìn thấy, những loài ở gần, những loài ở xa, những loài đã sinh và những loài sắp sinh.

Nguyện cho đừng loài nào sát hại loài nào, đừng ai coi nhẹ tính mạng của ai, đừng ai vì giận hờn hoặc ác tâm mà mong cho ai bị đau khổ và khốn đốn.

Kinh Niết Bàn nói:

“Vị nào chẳng thí thực, chẳng phải đệ tử ta”.

Vì vậy Phật chế pháp thí thực, vốn do nghiệp lực của ngạ quỷ mà phải làm thế. Thức ăn khi đến miệng ngạ quỷ, luôn biến thành lửa đỏ, cho nên mới tụng chú tạo nước cam lộ để trừ những nóng bức cho chúng, khiến được mát mẻ.

Cũng nói rộng thêm là trong sáu Ba-la-mật: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ, thì Bố thí là pháp đứng đầu vì nó làm nền tảng cho cả sáu Ba-la-mật. Bố thí thường có ba bậc:

Khi mới bắt đầu bước chân vào đạo, Bồ tát tập bố thí trong sạch những vật dụng bình thường như: Đồ ăn, nước uống, đèn, dầu v.v… đó gọi là bố thí bậc hạ.

Tiến thêm một bước nữa, Bồ tát bắt đầu tăng trưởng tâm lành bằng việc bố thí rộng hơn như: Quần áo, thuốc men, nhà cửa, vàng bạc v.v… đó gọi là bố thí bậc trung.

Từ chỗ thực hành bố thí bậc trung, hảo tâm của Bồ tát phát triển tới mức cùng tột, tức là bố thí tất cả những gì mình có (nội thí và ngoại thí) – không ngần ngại hay hối tiếc chính cả thân thể mình như: Đầu, mắt, tay, chân v.v… đó gọi là bố thí bậc thượng.

Trong Kinh Tăng nhất A-hàm, Phẩm Hộ Tâm, Kinh số 6 – Đức Phật dạy pháp bố thí cho các Tỳ kheo như sau:

Tôi nghe như vầy!

Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ Đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

Như Ta ngày nay biết rõ căn nguyên tội phước, chỗ đến và đi của chúng sanh, có khi Ta nhịn ăn để bố thí cho người khác một nắm cơm. Lúc ấy Ta không có khởi tâm phân biệt, hối tiếc hay tật đố, ganh ghét dù bằng một sợi tóc. Chúng sanh vì không biết ý nghĩa và phước báo của sự cúng dường, bố thí, thế nên chúng sanh không thể cúng dường, bố thí bình đẳng, vì họ thường có tâm phân biệt, keo kiệt tật đố, ái nhiễm, buộc trói tâm ý.

Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ:

Chúng sanh chẳng tự giác,

Lời dạy của Như Lai,

Bố thí còn phân biệt,

Nên không thoát luân hồi.

Thường nên bố thí rộng,

Chuyên hướng chỗ chân nhân,

Chỉ tánh cho thanh tịnh,

Thu hoạch phước rất nhiều,

Bố thí này lành thay!

Tâm hướng ruộng phước lớn,

Ở cõi đời này chết,

Ắt sanh lên cõi trời.

Khi đến chỗ lành kia,

Khoái lạc tự vui thú,

Tốt lành rất hân hoan,

Tất cả không thiếu dở,

Do phước trời oai đức,

Ngọc nữ theo vây quanh,

Phước bố thí bình đẳng,

Mau chứng quả Niết bàn,

Nên được phước đức này.

Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

Ngoài ra còn một phương pháp bố thí khác mà Đức Phật muốn nói đến đó là giữ gìn năm giới (không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu). Bởi giữ năm giới là ta đã âm thầm bố thí hạnh phúc an lạc cho chúng sanh và nêu gương lành cho đời rồi.

Trong Kinh Tăng Chi Bộ, Chương VIII, Phẩm Bố thí, Đức Phật dạy về điều này: Này các Tỳ-kheo, có tám nguồn nước công đức này, là nguồn nước thiện, món ăn cho an lạc, làm nhân sanh Thiên, quả dị thục an lạc, đưa đến cõi Trời, dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc. Đó là: Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng là ba nguồn nước đầu.

Năm nguồn nước kế là giữ tròn năm giới căn bản sẽ đem lại sự không sợ hãi cho vô lượng chúng sanh, đem lại sự không hận thù cho vô lượng chúng sanh, đem lại sự không tai nạn cho vô lượng chúng sanh; sau khi cho vô lượng chúng sanh sự không sợ hãi, không hận thù, không tai hại, vị ấy sẽ hưởng được vô lượng phước báu – không còn sợ hãi, không còn hận thù, không còn tai hại. Này các Tỳ-kheo, nếu người nào giữ gìn năm giới là đã thực hành được ngũ đại bố thí vậy.

Như vậy, Đức Phật dạy các Tỳ-kheo, nếu người nào không có điều kiện bố thí, cúng dường thì giữ tâm tịnh tín, quy y Tam bảo – thọ trì năm giới, đó cũng là nguồn công đức vô lượng, vì người ấy chỉ cần thọ trì như vậy cũng có công năng đem lại hạnh phúc, an lạc đến mọi người, mọi loài sống chung quanh.

Kệ xuất sanh thứ hai:

Đại bàng kim sí điểu

Khoáng dã quỷ thần chúng

La sát quỷ tử mẫu

Cam lồ tất sung mãn.

Nghĩa:

Chim đại bàng cánh vàng

Chúng quỷ thần rừng núi

Mẹ con quỷ La sát

Cơm bảy hạt no đầy.

Kinh Đại Bát Niết Bàn nói về kim sí điểu:

Kim sí điểu có thể ăn thịt loài rồng chỉ không ăn thịt người thọ tam quy. Kinh thuật lại có một con chim cánh vàng đuổi theo bắt một con rồng để ăn thịt, rồng sợ hãi chạy đến chỗ Phật, vì chim kính Phật nên không dám làm gì. Phật vì chim thuyết pháp và trao giới sát, chim nhận được thức ăn của tăng xuất sanh, nên ủng hộ Phật pháp.

Kinh Đại Bát Niết Bàn nói về Khoáng Dã Quỷ Thần Chúng:

Một hôm Đức Phật đi khất thực, đến dưới gốc cây thọ thực, thấy ở đó có một con quỷ tên là Khoáng Dã Quỷ toàn dùng máu và thịt làm món uống, mỗi ngày vào làng, hiện ra ban đêm bắt ăn một người, dân chúng kinh sợ.

Đức Phật dùng pháp khuyên bảo mà quỷ không nghe, vẫn còn bắt người ăn thịt. Phật bèn hóa thân làm quỷ Đại Lực, rung chuyển cung điện của nó, khiến nó mê man. Đợi khi nó tỉnh, phát lòng kính tin, Phật bèn thuyết pháp nhân quả cho nghe và bảo nó giữ giới không sát sanh.

Phật dặn rằng: “Từ nay mỗi trưa giờ ngọ, các đệ tử của ta thọ trai, có cúng thí cho các ngươi một phần cơm (bảy hạt biến hóa thành vô số cơm), hãy đến đó sẽ được no đủ”.

Quỷ Khoáng Dã và quyến thuộc liền quy y thọ năm giới làm đệ tử Phật.

Trong Pháp thí thực Du-già-diệm-khẩu bắt đầu từ câu chuyện:

Ngài A-nan bị ngạ quỷ dọa, nói A-nan sau ba hôm sẽ chết, đọa làm ngạ quỷ, trừ phi bố thí trăm ngàn vạn ức quỷ đói ăn uống và cúng dường Tam Bảo mới có thể khỏi. A-nan hỏi Phật phải làm phương tiện thí thực như thế nào mới thoát được khổ này? Phật bảo A-nan:

Có thần chú Đà-la-ni tên là Vô Lượng Oai Đức Tự Tại Quang Minh Thù Thắng Diệu Lực. Nếu ai tụng thần chú Đa-la-ni này, thì sẽ được đầy đủ thức ẩm thực ngon cho bách thiên hằng hà sa số ngạ quỷ, chư Bà-la-môn và tiên nhân, hết thảy ngạ quỷ, mỗi mỗi đều được no đủ. A-nan, đời trước ta là một Bà-la-môn, nhờ thọ trì chú Đà-la-ni này nơi chỗ đức Quán Thế Âm và chỗ đức Tự Tại Oai Đức Như Lai, mà làm cho biết bao ngạ quỷ được no đủ. A-nan ông nay thọ trì, phước đức thọ mạng đều tăng trưởng.

Trên đây là kinh thuộc Mật giáo. Mật pháp do hai pháp sư Kim Cang Trí và pháp sư Bất Không nhà Đường cật lực hoằng dương mà phát triển mạnh. Mật pháp có năng lực sai sử quỷ thần, dời non lấp bể. Sau Truyền Cơ Đại, không ai kế thừa, chỉ còn lại pháp thí thực mà thôi. Tay kiết Thủ ấn, miệng niệm chú, tâm quán tưởng, ba nghiệp thân, khẩu, ý tương ưng, gọi là “du-già”, điều này thật không phải dễ. Người bây giờ tay bắt ấn, miệng niệm chú chưa chắc thông làu, huống hồ gì công phu quán tưởng khó hơn nhiều? Như vậy, thân khẩu ý không chuyên nhất sẽ không tương ưng; không tương ưng thì không những không lợi ích cho chúng sanh mà ngược lại còn hại cho chính mình.

Trong quyển “Thiền định Ba-la-mật”, Hòa Thượng Tinh Vân kể lại giai thoại tướng quân Thích Kế Quang, tụng kinh Kim Cang như sau:

Vào một đêm nọ, tướng quân Thích Kế Quang mơ thấy vong hồn của một anh lính đã hy sinh trên chiến trường, xin ông giúp anh ta tụng Kinh Kim Cang để cầu siêu cứu độ. Trong mơ, anh lính nói rằng: “Vợ tôi ngày mai sẽ đến gặp tướng quân”.

Ngày hôm sau người vợ của anh lính đó quả thật đã đến gặp Tướng quân y như lời anh lính nói trong giấc mơ đêm qua. Tướng quân Thích Kế Quang cũng theo lời mà thắp hương tụng kinh, đem công đức hồi hướng cho anh.

Vị tướng quân nghĩ rằng làm như vậy là đã trọn vẹn, không ngờ đêm hôm đó ông lại nằm mộng thấy anh lính kia về báo với ông rằng: “Cảm ơn tướng quân đã tụng kinh cho tôi, nhưng trong kinh lại bị xen tạp vào hai chữ “không cần” khiến công đức không được vẹn tròn, vì vậy tôi vẫn chưa thể giải thoát được”.

Tướng quân Thích Kế Quang sau khi tỉnh lại, không hiểu do đâu mà trong kinh văn lại bị lẫn hai chữ “không cần” vào như vậy. Nghĩ đi nghĩ lại ông chợt nhớ ra lúc bản thân đang tụng Kinh Kim Cang thì phu nhân của mình sai người đem đến một bình trà, ngay lúc đó tâm ông khởi lên một ý niệm là “không cần”, do đó mới khiến công đức tụng kinh không thể viên mãn.

Đại sư Liên Trì cũng thuật lại một câu chuyện về các vị cúng thí mà mất chánh niệm thì hệ quả cũng không lường được:

Có một vị thầy khi đi cúng quên khóa tủ tiền, trong lòng chỉ nghĩ đến chùm chìa khóa không biết để đâu, nên chúng quỷ chỉ thấy toàn là chìa khóa sắt, nên không ăn được.

Lại có một vị thầy phơi áo lông, khi đi cúng quên lấy vào, vừa đi thì trời mưa, khi cúng, trong lòng chỉ nghĩ đến chiếc áo lông, bọn quỷ cũng chỉ thấy trên mâm toàn lông thú, không ăn uống gì được. Hai vị ấy đều bị quả báo hiện tiền …

Có thể thấy sức mạnh của một ý niệm thật không thể nghĩ bàn, cho nên trong kinh Đức Phật thường dạy: “Nhất niệm tam thiên” tức là một ý niệm khởi lên là đầy đủ ba ngàn các pháp, hay “không từng khởi một tâm niệm sai lầm, như thế có thể diệt trừ được hết các khổ.

Hoặc trong Kinh Di Giáo, Đức Phật càng dạy rõ hơn:

“Trong năm căn này, tâm làm chủ, do đó các ông phải khéo chế ngự tâm mình. Tâm còn đáng sợ hơn cả rắn độc, ác thú, giặc cướp hay lửa lớn”.

Cũng chính vì vậy mà nhà Phật coi trọng sự tu tâm, Phật dạy: “Cũng như chú bé chăn trâu, cầm gậy canh chừng, không để trâu chạy rông ăn lúa mạ nhà người”. Chúng ta phải từng phút, từng giây theo dõi từng ý niệm khởi lên trong tâm mình, chớ để tâm buông lung, làm dấy khởi những vọng tưởng sai lầm.

Trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Tịnh Hạnh:

Bố tát Văn Thù cũng chỉ dạy người tu hành trong đời sống, khi gặp gỡ mọi người, lúc tắm rửa, vệ sinh, ăn cơm, bước đi, tọa thiền, bố thí, v.v. cho đến tất cả các việc nhỏ nhặt trong ngày nên nuôi dưỡng tâm hồn mình để một tâm niệm khởi lên đều trong sáng, đầy đủ nét đẹp thiện lương và đầy đủ lòng từ bi, hỷ xả.

Tóm lại, thông qua pháp thí thực, người đệ tử Phật thực hành bố thí, ban rải từ bi cho chư vị vong linh, hương linh, ngạ quỷ, cô hồn không chỉ được no đủ mà nhờ các Pháp ngữ sẽ nhận thức được chân lý Phật dạy để tỉnh thức và chuyển hóa những tập nghiệp xấu ác. Nhưng muốn những chúng sanh này nhận được lợi lạc thật sự thì người trì niệm phải thu thúc ba nghiệp thân, khẩu, ý (mà quan trọng nhất vẫn là tỉnh giác trong từng ý niệm), thì họ mới có thể được che mát và no đủ nhờ năng lực tỏa ra từ đức hạnh ân trạch của mình.



Bài 24: THỊ GIẢ TỐNG THỰC

(Thị giả đưa thức ăn)

“Thị giả” là người gần gũi, kề cận bên cạnh vị trưởng lão (bậc thầy lớn tuổi), để các Ngài nhờ vả, sai bảo các việc. Vị làm thị giả có đủ tư cách, sức khỏe, thông thạo mọi việc, đầy đủ lòng tin với thầy, tinh tấn cần cầu chánh pháp, khiêm hạ và luôn chánh niệm khi phục vụ Phật sự cho thầy.

“Tống thực” là vâng lời thầy dạy. Nếu thầy tự đi thì chúng ắt đều đứng dậy, làm cho kinh động, không an, nên khiến thị giả thay bưng đi tống thực vậy.

Trong Kinh Trung A -hàm, Phẩm Vị Tằng Hữu, Kinh Thị giả nói về Tôn giả A Nan:

Tôn giả A Nan xuất gia hồi 25 tuổi, thường theo hầu Phật trong nhiều hội thuyết pháp, nên nghe được rộng biết được nhiều. Trong hàng đệ tử Phật, tôn giả được xem là đa văn bậc nhất. Tôn giả thọ trì mười hai bộ kinh và hội đủ tiêu chuẩn của một vị thị giả là:

  1. Tín căn được bền chắc.
  2. Tâm hằng giữ chất trực.
  3. Thân không có bệnh khổ.
  4. Thường siêng năng tinh tấn.
  5. Tâm nhớ nghĩ tròn đủ.
  6. Tâm không kiêu mạn.
  7. Có ý chí kiên định.
  8. Trí tuệ và học thức được đầy đủ.

Mỗi Đức Phật khi đi nơi này đến nơi khác, thường có một vị đệ tử làm thị giả theo hầu. Những vị có nhiều nhân duyên phước đức, đã từng gần gũi, liên hệ với một đức Phật trong tiền kiếp, mới được làm thị giả của đức Phật ấy. Như ngài A Nan là thị giả của Đức Phật Thích Ca, ngài Thiện Hữu Lập Quân là thị giả của Đức Phật Ca Diếp, ngài An Hòa Tử Đạo Sư là thị giả của Đức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni…

Đại sư Liên Trì thuật lại câu chuyện “Nghiêm huấn thị giả”:

Pháp sư Trí Chính ở chùa Chí Tướng, núi Chung Nam, triều nhà Đường, người Định Châu. Năm thứ ١٠ niên hiệu Khai Hoàng, đời vua Tùy Dạng Đế. Ngài phụng sắc lệnh của Hoàng đế làm trụ trì chùa Thắng Quang và chùa Nhân Thọ, sau đến chùa Chí Tường núi Chung Nam làm bạn với Pháp sư Uyên, một người hiểu, hành tương ưng, được cả kinh thành ngưỡng mộ. Họ sống với nhau 28 năm, không hề nói chuyện thế gian.

Đại sư Trí Chính có một đệ tử tên Trí Hiện. Vâng lời thầy, mỗi khi Đại sư Trí Chính viết sách hay ngồi tư duy, Trí Hiện cầm bút hầu một bên. Đại sư nghĩ ra điều gì, đọc cho chú chép. Mấy năm vẫn cứ một việc ấy không thay đổi.

Ban đầu Trí Hiện đứng. Sau, có một hôm, đứng lâu quá, run chân chú té bịch xuống đất. Đại sư trách rằng:

– Xưa kia, thời Phật Phất-sa, đức Thích-ca Mâu-ni lên núi Tuyết hái thuốc cho ngoại đạo tiên nhân, thấy Phật Phất-sa ngồi trong hang đá nhập hỏa định phóng ánh sáng, thấy vậy sinh lòng hoan hỷ, đứng chắp tay bảy ngày bảy đêm, mắt không hề nháy. Khen Phật rằng: “Trên trời dưới trời không ai bằng Phật, ngay cả tất cả các thế giới trong mười phương cũng không có ai sánh kịp, hết thảy những người con gặp trong đời, tất cả không ai bằng Phật cả”. Nhờ đó vượt qua 91 kiếp, vào kiếp thứ 91 đắc thành Phật quả. Chú mới đứng có một chút mà đã ngã, là do tâm không tha thiết!

Người xưa có câu “vì pháp quên thân” như Tổ thứ hai của Thiền tông Trung Hoa – ngài Thần Quang – khi xưa cầu pháp với Tổ Bồ-đề-đạt-ma đã đứng dưới tuyết một đêm, tuyết phủ lên tới đầu gối.

Hay câu chuyện hai vị Pháp Viễn Viên Giám và Thiên Y Nghĩa Hoài, nghe nói cao phong của thiền sư Quy Tĩnh, ở Diệp Huyện, cho nên đồng đến tham vấn.

Gặp lúc mùa đông, tuyết bay hỗn loạn. Trong số huynh đệ đồng tham gồm có tám người đến chỗ thiền sư Quy Tĩnh. Thiền sư Quy Tĩnh vừa trông thấy liền chửi mắng xua đuổi, nhưng tất cả nhất định không chịu đi. Thiền sư Quy Tĩnh lấy nước tạt vào mình, quần áo đều ướt cả. Có sáu người không chịu nổi, đều nổi giận bỏ đi, chỉ riêng Pháp Viễn và Nghĩa Hoài chỉnh y phục, trải tọa cụ quỳ gối cầu thỉnh mãi.

Không bao lâu, thiền sư Quy Tĩnh lại hét, nói:

  • Các ông còn chẳng chịu đi, chẳng lẽ đợi ta đánh các ông sao?

Thiền sư Pháp Viễn thành khẩn đáp:

  • Hai đứa con ngàn dặm đến đây tham học, há vì một gáo nước mà bỏ đi sao? Dù cho thầy có dùng gậy đánh, chúng con cũng nhất định không đi.

Thiền sư Quy Tĩnh bất đắc dĩ nói:

  • Nếu thật là người tham thiền, hãy vào cất hành lý đi!

Qua đó thấy rằng ý chí người xưa cao tột. Còn người thời nay, ngồi đàm đạo mà cũng còn thấy mệt mỏi hay tham học nơi nào nhưng nếu ăn uống, chỗ ở, đối đãi không tốt, thì vội vã bỏ đi nơi khác. Nếu nhân tình không đủ lễ liền tức giận ra đi.

Cho nên vị Thị giả phải luôn sanh tâm hoan hỷ phục vụ Thầy như một ước nguyện, trách nhiệm và đó cũng là cơ hội được học tập trực tiếp trong lúc đang làm thị giả. Bởi những kinh nghiệm sống động, cung cách ứng xử của quý Ngài đều là bài học bổ ích, thâm thuý, nếu chúng ta chịu khó ứng dụng, gia tâm hành trì sẽ có rất nhiều lợi ích trên đường tu của chính mình.

Hơn thế nữa, vị thị giả hay hành giả tu tập nói chung, còn phải có ý chí kiên định về con đường, về pháp môn tu tập mình đã chọn khi nương tựa học pháp nơi Thầy để dấn thân một cách trọn vẹn và khám phá tận đầu nguồn pháp vị giải thoát đó.

Trong thiền thoại Tinh Vân dẫn câu chuyện Thiền sư Phật Quang dùng tâm lão bà tùy thuận hàng hậu học khi họ chưa thật sự kiên định về đường tu:

Thiền sư Phật Quang lãnh đạo chùa Truyền Đăng, đồ chúng theo sư tham học rất đông. Có một hôm, thiền sư Phật Quang giảng Thiền Môn Chân Thuyên xong, đệ tử Giáp thưa với sư rằng:

-Thưa thầy! Sanh tử là việc lớn, muốn liễu sanh thoát tử chỉ có niệm Phật vãng sanh Tịnh độ, cho nên đệ tử muốn đến đạo tràng Niệm Phật Linh Nham để học pháp môn niệm Phật.

Thiền sư nghe xong, rất hoan hỷ đáp:

– Tốt lắm! Ông đi học pháp môn niệm Phật trở về, làm cho đất này được tiếng Phật không dứt, khiến cho đạo tràng của chúng ta chân chính như thế giới Liên Hoa.

Thiền sư Phật Quang và đệ tử Giáp vừa nói xong, đệ tử Ất liền đứng dậy chắp tay bạch:

– Giới trụ thì pháp trụ, cửa Phật so ra không có việc gì trọng yếu hơn giới luật. Do đó, bạch thầy! Con muốn đến Học Giới Đường, núi Bảo Hoa để học Luật.

Thiền sư nghe xong vẫn vui vẻ đáp:

– Tốt lắm! Ông học Luật trở về, làm cho đạo tràng của chúng ta mọi người đều có đủ ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh, thành một tăng đoàn lục hòa chân chính, thật là tốt lắm!

Thiền sư Phật Quang vừa dứt lời, đệ tử Bính cũng chỉnh y đảnh lễ, thưa:

– Bạch thầy! Học đạo không gì bằng tức thân thành tựu, đệ tử nghĩ kỹ, muốn đến Tây Tạng để học Mật.

Thiền sư mỉm cười, liền đáp:

– Tốt lắm! Mật tông giảng cứu tức thân thành Phật. Ông học Mật trở về, ảnh hưởng đến chúng ta ở đây, nhất định sẽ có nhiều người thành tựu thân kim cang bất hoại.

Thiền sư Phật Quang trả lời cho các đệ tử Giáp, Ất, Bính như thế xong. Thị giả đứng bên tòa không đồng ý, nói:

– Bạch thầy! Thầy là thiền sư một đời nay. Thiền là pháp môn lấy tâm truyền tâm của đức Phật ban đầu để lại, thành Phật thành Tổ. Không có việc nào trọng yếu hơn học đạo tham thiền. Các vị Giáp, Ất, Bính v.v… nên ở lại dưới tòa của thầy mà học thiền để mong trực chỉ nhân tâm, minh tâm kiến tánh mới đúng. Sao thầy lại khuyến khích họ đi?

Thiền sư Phật Quang nghe xong, cười to ha hả, nói:

– Ta còn có ông mà!

Người học đạo trẻ tuổi, không dễ chuyên tâm ở một đường. Bởi tâm lý “đứng núi này trông núi nọ”, nếu trải qua một vài sự cố mới nhận ra “đạo” đang ở rất gần bên cạnh mình. Một câu nói của thiền sư Phật Quang “Ta còn có ông mà!”. Rốt cuộc thị giả mới chợt hiểu rõ “tâm lão bà” từ bi tha thiết của thiền sư.

Nghiệm lại mỗi người tu chúng ta một khi đã lựa chọn pháp môn để hành trì thì phải có ý chí quyết định – phải tu thật thuần thục và có sự thành tựu rốt ráo. Chứ không nên tu với thái độ sáng tu pháp này, chiều lại tu pháp khác.

Một yếu tố nữa không kém phần quan trọng đối với vị thị giả là “trí tuệ và học thức phải đầy đủ”. Bởi người thị giả phải có trí tuệ sáng suốt đoán biết được thầy mình muốn làm gì hay cần việc gì trong các Phật sự, đồng thời khi nghe được các sự việc quan trọng phải khéo léo bảo mật thông tin cho thầy.

Khi đưa thức ăn, trước tụng thầm chân ngôn biến thực ba lần:

Nhữ đẳng quỷ thần chúng

Ngã kim thí nhữ cúng

Thử thực biến thập phương

Nhất thiết quỷ thần cộng.

Nghĩa:

Chúng quỷ thần các ngươi

Nay ta cho đồ cúng

Thức ăn biến mười phương

Cả quỷ thần chung hưởng.

Trong Lục Đại Tập của Đại sư Hoằng Tán có nói về Nẻo Quỷ Thần như sau:

Hỏi: Thế nào gọi là nẻo quỷ?

Đáp: Vì bọn đó có những hành động tàn ác, vô cùng tham lam bỉ ổi về các mặt thân, khẩu, ý nên phải đến nơi đó, sinh ở nẻo đó cho nên bị nghiệp báo phải đói khát, trải qua trăm ngàn vạn năm chẳng nghe thấy tiếng nước, nói chi là chuyện được ăn được uống. Bởi vậy gọi là nẻo quỷ. Hơn nữa vì chúng còn ấp ủ hy vọng nên gọi là Quỷ, ý nói trong sáu đường, bọn chúng còn đặt hy vọng vào con người để được ăn uống.

Sở dĩ chúng ta đi tu, cổ nhân thường nói “Nhất nhân hành đạo cửu huyền thăng”. Tại sao cửu huyền được siêu thăng? Bởi cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp của chúng ta trong vòng lục đạo luân hồi không tránh khỏi sa vào “nẻo quỷ” này, luôn khởi tâm trông chờ vị hành giả tu tập vốn là quyến thuộc trong quá khứ hồi hướng công đức lành đến với họ.

Trong Kinh “Ngạ Quỷ bên kia bức tường” – Kinh Tiểu Bộ thuật lại:

Vào thời Đức Phật Ca Diếp, có một số ngạ quỷ đến khóc với Phật Ca Diếp nhờ Ngài cứu giúp vì quá đói khổ. Phật bảo các ông không có duyên với ta, nhưng sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời có một vị vua tên là Tần-bà-sa-la vốn là quyến thuộc của các ông. Hãy nhờ vị vua này cúng dường cho chư Tăng và Đức Phật Thích Ca Mâu Ni hồi hướng năng lực an lành cho các ông được siêu thoát cảnh giới ngạ quỷ.

Như vậy từ thời Phật Ca Diếp đến thời Phật Thích Ca Mâu Ni cho thấy nhóm ngạ quỷ này phải chịu cảnh thống khổ trong thời gian rất dài. Cho nên khi Đức Phật Thích Ca thành tựu quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác rồi, vua Tần-bà-sa-la là vị vua đầu tiên đến Tịnh Xá Trúc Lâm thỉnh Phật và Tăng đoàn đến cung điện để vua cúng dường. Sau khi cúng dường xong nhà vua chỉ hồi hướng công đức chung cho pháp giới chúng sanh chứ không tác ý đến nhóm ngạ quỷ “quyến thuộc quá khứ”.

Ngạ quỷ chưa thoát khổ nên lại đến Đức Phật Thích Ca than khóc thảm thiết. Hôm sau Phật mách bảo vua Tần-bà-sa-la biết rằng vua phải tiếp tục cúng dường và hồi hướng công đức trực tiếp đến cho loài quỷ này. Như lời Phật dạy, quả nhiên sau khi hồi hướng công đức, các ngạ quỷ quyến thuộc của vua này được sanh về cõi trời Đao Lợi. Không lâu sau đó các tân thiên tử xuống đảnh lễ Đức Thế Tôn đồng thính pháp nghe đạo.

Qua câu chuyện chúng ta thấy rất rõ cõi ngạ quỷ luôn hy vọng dù rất mong manh – mong mỏi nhận được công đức mà người thân hồi hướng đến, nhất là thân nhân chúng lại là những hành giả tu tập Phật pháp. Nên người tu sĩ phải luôn tâm niệm việc tu tập của mình có ý nghĩa quan trọng vì có khả năng hướng về cửu huyền thất tổ, cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp. Hay nói khác hơn, sự công phu hành trì của mình không chỉ tự lợi mà còn lợi tha mà gần nhất là người thân đã mất sẽ được siêu thăng và thân quyến hiện tiền được tăng trưởng phúc lạc, an ổn.

Ngoài người thân hiện tiền, chúng ta còn phải hồi hướng công đức lành đến đàn na tín thí đang hộ trì cho mình tu tập nữa. Vì vậy việc tu tập cần phải trang nghiêm giới đức thì việc hồi hướng mới được thành tựu vì năng lực giữ giới bất khả tư nghì có thể cảm đến trời đất, quỷ thần.

Trong “Thiên Thai Cửu Tổ truyện” và “Phật tổ thống ký”, có nêu lên một mẫu chuyện liên quan đến trang nghiêm giới hạnh làm lay động quỷ thần:

Năm 592, Trí Khải đại sư, người sáng lập Phật giáo Thiên Thai Tông đến Kinh Châu thấy nơi đất thiêng, muốn xây tịnh xá, liền dựng một lều cỏ để tịnh tâm tu hành. Có một ngày, khi Đại sư đang tọa thiền, thấy Quan Vũ cùng con trai là Quan Bình đến vấn an và muốn giúp Đại sư xây chùa, để hộ trì Phật pháp. Sau bảy ngày nhập định, Trí Khải đại sư mở mắt ra đã thấy chùa xây xong. Quan Vũ cùng dân chúng tham gia nghe Đại sư giảng Phật pháp, cảm nhận được sự huyền diệu và xin Đại sư cho được thọ tam quy ngũ giới.

Còn trong “Ngọc truyền tự chí” ghi:

Thời Tùy Văn Đế, Trí Giả đại sư đến Ngọc Tuyền, Quan Đế dùng thần lực xây nên chùa và xin thọ giới. Quan Vũ là Già Lam Bồ Tát mà Phật giáo nói tới, là thần bảo hộ chính pháp; cùng với Bồ Tát Vi Đà là hai đại hộ pháp nổi tiếng nhất trong Phật giáo. Già Lam giữ hộ pháp bên phải.

Đây cũng là lý do tông Thiên Thai khởi sự thờ Quan Công làm thần hộ pháp, và gọi ngài là Già Lam Bồ Tát.

Cho nên vua Nhân Tông đời nhà Tống cảm khái chuyện quỷ thần đến quy y các vị Hòa Thượng đạo cao đức trọng, vua làm kệ tán thán rằng:

Không Vương đệ tử Phật

Quyến thuộc chư Như Lai

Thân mặc y trăm mảnh

Miệng ăn cơm ngàn nhà

Tối ngủ giường vô úy

Sáng thấy Phật Di Đà.

Vua Nhân Tông muốn nói rằng người tu sĩ tuy mặc y bá nạp khác hơn người thường, ăn cơm thì của tín thí ngàn nhà, ngủ trên giường vô úy – không sầu, ưu, bi, khổ, não bởi hạn cuộc của thế gian. Nhưng đây chính là con đường hướng thượng đi đến Phật quả mà hình ảnh “sáng thấy Phật Di Đà” là biểu trưng cho tinh thần vô lượng thọ, vô lượng quang ấy.

TĂNG BẠT

Tăng-bạt: Tiếng Phạn là tam-bạt-la-già-đa, dịch là thiện chí, chánh chí, đẳng chí.

Trong sách Nhất thiết hữu bộ Mục-đắc-ca ghi:

Ngoại đạo Thất-lợi-cấp-đa có ác ý thỉnh Phật và Tăng chúng đến nhà ông thọ sự cúng dường để ngầm hãm hại. Ông làm trước một hầm lớn trong nhà, trong đốt lửa than, không có khói và lửa ngọn, lấy đồ vật làm cầu treo, phủ cỏ xanh và trên cỏ rải một lớp đất mỏng; lại bỏ thuốc độc trong thức ăn. Tuy nhiên khi Thế Tôn dẫn chúng tăng vào đến cửa trong nhà, chân vừa mới bước vào thì hoa sen hồng bỗng từ hầm vọt lên, mọi người bước lên hoa sen mà vào.

Đến giờ ăn, thấy thức ăn đã có thuốc độc. Thế Tôn sai Ngài A-nan bảo tất cả xướng Tam-bạt-la-già-đa không một người nào được thọ thực trước. Ngài A-nan như lời Phật dạy bảo các vị Tỳ kheo đều biết. Kế bảo từng người cầm bát thức ăn, ở trước vị Thượng tọa, cúi người cung kính, xướng Tam-bạt-la-già-đa; do uy lực này nên các chất độc trong thức ăn uống đều trừ.

Trong lúc đánh tăng bạt, người tu sĩ chánh niệm tỉnh giác – trụ nơi tâm bất sanh bất diệt của mình để nghe rõ từng tiếng khánh một. Khi ta biết sống với “người nghe ấy” thì trong khoảnh khắc đó độc dược “tham, sân, si” mới không tác hại được mình và hành giả thọ thực trong niềm hỷ lạc của “thiền duyệt pháp hỷ”.

Trái lại, tai nghe nhưng tán tâm vào dòng chảy của ý niệm sanh diệt thì chắc chắn không tránh khỏi chất độc vọng tưởng thẩm thấu vào thân tâm mình. Như sách Ma-ha chỉ quán nói:

Tán tâm là mê hoặc trong điều ác, như voi say không móc sắt đạp nát ao hoa; như lạc đà chúi mũi lật đổ đồ mang trên lưng nhanh hơn lằn chớp và tán tâm độc hơn lưỡi rắn.

Cho nên chư Tăng chưa xướng tăng bạt mà thọ thực thì mắc tội ác tác.

Phật chế tỳ-kheo

Thực tồn ngũ quán

Tán tâm tạp thoại

Tín thí nan tiêu.

Đại chúng văn khánh thanh, các chánh niệm!

Nghĩa:

Phật dạy tỳ-kheo

Ăn quán năm điều

Tâm rong nói tạp

Tín thí khó tiêu

Đại chúng nghe khánh

Tất cả chánh niệm.

Việc “tam đề, ngũ quán” trước lúc thọ thực có nghĩa vô cùng quan trọng đối với hành giả tu Phật vì đó cũng được xem là thời khóa tu ngay trong trai đường trang nghiêm thanh tịnh. Bằng cách quán tưởng ân đức của đàn na tín thí hộ pháp cho mình tu tập, chúng ta sẽ chánh niệm, ý thức hơn khi dùng vật thực để gắng sức hành trì miên mật đem lại lợi lạc cho tha nhân.

Hơn nữa, chính nghi thức tam đề, ngũ quán này trong quả đường mới đem lại công đức trọn vẹn khi thọ trai. Còn nếu khi chúng ta ăn dưới nhà bếp hay ngoài giờ quả đường đều không có năng lực chánh niệm tỉnh giác với diệu lực như vậy.

Trong “Chuyện về thân trung ấm” cho thấy ý nghĩa quan trọng của việc quán tưởng “tam đề, ngũ quán” mà Đức Phật đã dạy hàng xuất gia:

Chuyện về lạt ma Dugpa Kunleg, ẩn tu nhiều năm trong động đá tại Tây Tạng, không màng đến thế sự.

Trong thời gian Ngài ẩn tu, trong vùng có một tăng sĩ trụ trì một ngôi chùa lớn. Vị này vốn chăm chỉ tu hành và giữ giới luật nghiêm cẩn, nhưng từ khi nhận chức trụ trì thì trở nên lười biếng, không chịu công phu khuya sớm mà chỉ thích được cúng dường, xưng tụng. Sau một thời gian, vị trụ trì mắc bệnh và qua đời.

Sau khi ông trụ trì nọ qua đời ít lâu, lạt ma Dugpa Kunleg một hôm bỗng rời hang động đi xuống một dòng suối gần đó, đúng lúc có một cô gái đang đến lấy nước. Lạt ma Dugpa Kunleg không nói không rằng lao đến ôm chầm cô gái toan cưỡng bức. Nhưng cô gái thì trẻ khỏe hơn hẳn vị Lạt ma cao tuổi, lại ẩn tu nhiều năm trong hang, nên cô chống cự kịch liệt và chạy thoát về làng. Về đến nhà, cô kể cho mẹ nghe, bà mẹ ngạc nhiên vì trai làng vốn rất thuần hậu, xưa nay chưa có vụ việc kiểu này, họa chăng có người từ nơi khác đến. Nhưng theo mô tả của cô gái, thì bà mẹ giật mình nhận ra đó chính là Lạt ma Dugpa đang nhập thất tu thiền trên núi. Đã nhiều năm nay vị này không rời am thất, chỉ chuyên tâm tu hành. Không hiểu sao hôm nay lại hạ sơn làm chuyện tồi bại như vậy.

Tuy nhiên, bà cũng biết rằng những bậc tu chứng đôi khi có những hành động mà một người thường không thể hiểu được. Các Ngài đã đạt đến trạng thái tâm không phân biệt, đã phá chấp, vượt ra ngoài những thói thường, vậy nếu quả đúng là Lạt ma Dugpa thì chắc phải có một nguyên nhân nào đó. Bà bèn nói với con gái rằng: “Kẻ toan cưỡng bức con chẳng phải ai xa lạ mà chính là Lạt ma Dugpa, một vị tu chứng nổi tiếng của miền này. Ngài là một bậc tu hành cao thượng mà khắp miền đều kính trọng. Bất cứ ngài làm việc gì cũng đều có lý do chính đáng. Vậy con hãy tìm đến Ngài, sẵn sàng chấp thuận mọi điều mà ngài sai khiến.

Cô gái trở lại bờ suối thì thấy Lạt ma Dugpa đang tham thiền nhập định gần đó. Cô vội quỳ xuống xin lỗi về việc đã chống cự lúc nãy, nhưng ông cho biết: “Con hỡi, sắc dục không có nghĩa lý gì đối với ta cả. Ta đang nhập định bỗng thấy vong linh một vị trụ trì ngôi chùa lớn vừa đi qua. Vị này vốn lười biếng, chẳng chịu tu hành để giải thoát, sống nhờ các phẩm vật dâng cúng của tín đồ mà không chịu lo báo đáp, ăn thiếu Tam đề, uống không Ngũ quán, không ý thức gì đến sự vô thường ở cõi đời mà chỉ ham thích những gì xa hoa phù phiếm… Vong linh này đang vất vưởng nơi cõi thân trung ấm và bị nghiệp lực dẫn dắt đi đầu thai. Vì lòng thương xót một kẻ tu hành nên ta mới rời hang đá để cứu cho vị này được đầu thai vào kiếp người, bởi thế ta mới hành động lỗ mãng như vậy. Tiếc thay nghiệp lực người đó quá nặng nên khiến con chạy thoát được. Sau khi con về làng thì có hai con lừa đang giao cấu gần đó và thần thức vị trụ trì này đã nhập vào bào thai con lừa cái. Từ nay và trong nhiều kiếp nữa, vị này sẽ mang thân súc sanh, lao động khổ cực, bị những người chủ hành hạ đánh đập để trả lại cái nợ hưởng thụ những phẩm vật cúng dường của tín đồ mà không chịu tu hành để báo đáp… Tuy ta rất thương xót nhưng cũng không thể thay đổi gì được.

Chấp trì ứng khí

Đương nguyện chúng sanh

Thành tựu pháp khí

Thọ thiên nhân cúng.

Nghĩa:

Cầm nắm ứng khí

Cầu cho chúng sanh

Thành tựu pháp khí

Nhận trời người cúng.

Pháp khí là gì? Pháp khí cũng gọi là Phật khí, Phật cụ, Đạo cụ. Nói theo nghĩa rộng thì tất cả những dụng cụ dùng cho các loại Phật sự như trang hoàng Phật đàn, pháp hội, tu pháp, cầu nguyện, cúng dường, hoặc đem theo bên mình như tràng hạt, tích trượng v.v… đều được gọi chung là Pháp khí. Tuy nhiên ý nghĩa pháp khí thâm sâu hơn là muốn nói người có khả năng làm Phật đạo sau này.

Trong thiền thoại thuật lại cốt cách của “bậc pháp khí” trong cuộc đối đáp giữa Sa di Cao đến tham vấn Thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm, Trung Hoa đời nhà Đường:

Không biết tung tích và quê quán của Sư thế nào. Chỉ biết khi Sư mới đến tham vấn Thiền sư Dược Sơn, Dược Sơn hỏi:

– Ở đâu đến?

Sư thưa: – Ở Nam Nhạc đến.

– Ði lại đâu?

– Ði Giang Lăng thọ giới.

– Thọ giới mong làm gì?

– Mong khỏi sanh tử.

– Có một người không thọ giới cũng khỏi sanh tử, ngươi biết chăng?

– Thế thì giới Phật dùng làm gì?

– Vẫn còn quải môi lưỡi.

Sư lễ bái lui ra.

Ðạo Ngô đến đứng hầu, Dược Sơn bảo:

– Vừa rồi có một Sa-di mới đến, có chút khí tức này.

Ðạo Ngô thưa:

– Chưa nên toàn tin, cần phải khám phá mới được.

Ðến chiều, Dược Sơn thượng đường gọi:

– Sa-di mới đến ở đâu?

Sư ra khỏi chúng đứng im.

Dược Sơn hỏi:

– Ta nghe ở Trường An rất náo loạn, ngươi có biết chăng?

Sư thưa:

– Nước con an ổn.

– Ngươi do xem kinh được hay thưa hỏi được?

– Chẳng do xem kinh được, cũng chẳng do thưa hỏi được.

– Có lắm người chẳng xem kinh, chẳng thưa hỏi, sao chẳng được?

– Chẳng nói họ không được, chỉ vì không chịu thừa nhận.

Dược Sơn ngó Ðạo Ngô, Vân Nham, nói:

– Sa di là bậc pháp khí sau này.

Các bậc trưởng thượng chỉ cần một cuộc đối đáp là biết được ai có thể trở thành bậc pháp khí sau này. Ngài Dược Sơn thượng đường, hỏi: Ta nghe ở Trường An rất náo loạn, ngươi có biết chăng? Đây là một cái bẫy lớn để thử nghiệm Sa-di Cao. Sa-di thưa: Nước con an ổn. Quả thật là thứ thiệt. Cái bẫy của ngài Dược Sơn đã được sa-di nhảy qua nhẹ nhàng. Người sống được với bản tâm, trung thành với “chỗ chân thật” nên những thứ bên ngoài không dính dáng. Mặc Trường An náo loạn, nước con vẫn an ổn – quả là phong thái đĩnh đạc của bậc xuất cách trong tùng lâm thiên hạ.

Hay Pháp sư Huyền Trang ở chùa Từ Ân, triều đại nhà Đường cũng thể hiện một cung cách bậc pháp khí mô phạm như vậy.

Sư họ Trần, hậu duệ của Trần Trọng Công, triều nhà Hán. Từ nhỏ, theo anh là pháp sư Trường Tiệp xuất gia, mới 11 tuổi đã đọc kinh Duy Ma Cật, kinh Pháp Hoa. Sư thanh tịnh chánh trực, không nhiễm tục trần.

Có một hôm, thấy chúng Sa-di ngồi lại nói chuyện thị phi, chú nói:

– Trong kinh Phật không phải có nói sao? Xuất gia là phải tu pháp vô vi, sao có thể rong chơi, sống vô ích qua ngày như vậy được? Cứ như vậy, oan uổng cho cả cuộc đời!

Bậc trưởng thượng thấy việc này, biết ngay chú sẽ là rường cột, bậc cao đức bất phàm.

Khi tu tập, chúng ta quan sát trong đại chúng nếu thấy vị nào tuy tuổi nhỏ đã có đức hạnh siêu quần thì nên nghiệm rằng họ hoàn toàn không phải do trời ban, mà chính là căn khí đã gieo trồng từ nhiều kiếp. Biết được lý này, chúng ta có thể tạo cho mình một đời sau bắt đầu từ hôm nay bằng cách tu tập tinh tấn, đàng hoàng hơn trong thời khắc hiện tại. Còn đối với những vị trẻ tuổi tư cách hơn người chúng ta không nên có thái độ tỵ hiềm hay đố kỵ mà trái lại, phải phát tâm trợ lực cho vị ấy sớm thành tựu bản nguyện. Vì Phật pháp có thêm bậc pháp khí thì tùng lâm hưng thịnh và chúng sanh nhờ đó cũng được nhiều lợi lạc ân triêm công đức lớn. Đó là tâm hạnh hướng thượng của người tu.

Câu “Thọ thiên nhân cúng” trong bài kệ nhắc chúng ta nhớ lại Tôn giả Kiều Phạm Ba Đề được thiên nhân cúng dường.

Vị Tôn giả này có động tác rất là lạ, tức là mỗi khi ăn cơm xong, thì giống như bò gặm cỏ, trong mồm cứ nhai nuốt không ngừng, cho nên gọi là Ngưu Từ Tôn Giả, lại gọi là Ngưu Vương. Vì Ngài có tập khí này, cho nên Ðức Phật sợ người đời thấy Ngài mà sinh hủy báng, sẽ bị đọa lạc, do đó mới kêu Ngài lên sống ở trên cõi trời, thọ nhận chư thiên cúng dường. Tại sao Ngài có tập khí này? Vì quả báo ác khẩu.

Chuyện kể rằng trong 500 kiếp đời quá khứ, Tôn giả Kiều Phạm Ba Đề là một chú Sa di nhỏ, thấy một vị Tỳ Kheo già có hàm răng lung lay, rụng gần hết, nên mỗi khi ăn uống rất khó khăn, ông thấy vậy mà cười chế nhạo rằng: “Xem kìa, ông kia ăn cơm như bò nhai cỏ vậy.” Vị kia nghe vậy khuyên rằng: “Này chú Sa di kia! Chớ có nói lời như vậy. Tôi là bậc La-hán, chú hủy báng như vậy sẽ bị đọa địa ngục. Hãy nên phát tâm sám hối lời nói của mình đi!

Sau khi làm đệ tử của Đức Phật và chứng đạo rồi nhưng dư báo ấy vẫn không trị được. Thấy ông thường bị mọi người khinh khi hủy báng, đức Phật cho ông lên sống trên Thi Lợi Sa Viên của cung Trời Đao Lợi để tu tập Thiền định. Sau khi Đức Phật nhập diệt, lúc Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp cùng với các Trưởng Lão khác kết tập kinh điển lần đầu tiên, họ sai người lên cung trời đón ông, lúc đó ông mới biết là đức Phật và Tôn Giả Xá Lợi Phất đã nhập diệt, cho nên tương truyền ông cũng tự đốt thân mình và nhập diệt.

Tóm lại qua pháp hành Tỳ ni được đề cập trong bài này cho thấy rằng vị Sa di khi còn trong giai đoạn tập sự phải cố gắng áp dụng thực hành để sau này mới mong trở thành “bậc pháp khí”. Hay nói khác hơn, chính oai nghi phép tắc chánh niệm trong pháp hành của vị xuất gia cũng khiến người Phật tử phát tín tâm hướng về Tam bảo hơn là lời nói suông giáo điều mà “hạnh giải không tương ưng”.

TAM ĐỀ

Sơ chủy: Nguyện đoạn nhất thiết ác.

Nhị chủy: Nguyện tu nhất thiết thiện.

Tam chủy: Thệ độ nhất thiết chúng sanh.

Nghĩa:

Muỗng thứ nhất: Nguyện dứt tất cả điều ác.

Muỗng thứ hai: Nguyện tu tất cả điều thiện.

Muỗng thứ ba: Thệ độ tất cả chúng sanh.

Tại sao trong lúc chúng ta uống nước không “Nguyện đoạn nhất thiết ác” mà lại phát nguyện này trong lúc thọ trai?

Bởi trong lúc ăn chúng ta hiện hữu về các pháp hay trong khi ăn chúng ta tâm niệm với lời nguyện rằng: “Con nguyện từ đây cho đến cuối đời và mãi mãi về sau nữa cho đến khi thành Phật thì con luôn nỗ lực tinh tấn hết sức mình để dứt trừ mọi điều ác.” Vậy điều ác đó là gì?

Đó là: Sát sanh, trộm cướp, dâm dục, nói dối, uống rượu.

Vậy thực sự người tu hành có sát sanh không? Dĩ nhiên người tu không sát sanh nhưng trong đời sống thường nhật, một khi lời nói không có ái ngữ, gây xúc não cho người khác thì chính ở điểm đó là chúng ta đang sát sanh. Bởi lời nói của ta làm họ phiền não không tu được.

Hay khi thấy người nào đó tài năng hơn mình, an ổn hạnh phúc hơn mình, chúng ta sanh tâm tật đố. Đó là gì? Đó là tâm mình đang có “tội trộm cướp”.

Theo tinh thần Duy thức học, một tâm niệm xấu ác vừa dấy lên nếu chúng ta không biết cách chuyển hóa thì nó không mất. Ngược lại nó vẫn nằm yên đó đợi đủ nhân duyên thời tiết sẽ nảy nở và khởi lên hiện hành tác động đến với chính mình.

Nên cổ đức có câu:

Ninh động thiên giang thủy

Mạc nhiễu đạo nhơn tâm.

(Dẫu rằng khuấy động ngàn sông

Cũng đừng nhiễu loạn cõi lòng người tu.)

Ngay lúc chúng ta nói, làm hay suy nghĩ khiến huynh đệ đồng tu tán tâm không thể nhất niệm thì đồng nghĩa trong lúc ấy ta đang phá kiến – là phạm giới. Đó là con đường đi đến khổ đau chứ không phải con đường hướng thượng đưa đến sự an vui, hạnh phúc. Cho nên ta cần tâm niệm bản thân giữ giới được thì tốt, còn không giữ được mà còn cố tình làm cho người khác phạm – ở trong đạo được xem là nặng hơn phá giới nữa vì nó “phá kiến” đại chúng, khiến số đông thối thất tâm bồ đề.

Khi chúng ta khởi một niệm xấu ác mà không chuyển hóa thì chắc chắn nó sẽ tác động đến thân mình. Trong Tinh Vân thiền thoại có thuật lại câu chuyện:

“Đầu đời nhà Tống, có một ngôi chùa gọi là Bạch Vân tự (chùa Bạch Vân). Lúc đó là niên hiệu của vua Tống Thái Tổ (là Triệu Khuông Dẫn), có một vị Thiền sư Văn Thông Huệ. Lúc ngài còn trẻ (ngài xuất gia sớm, 7-8 tuổi đi xuất gia, làm Sa-di) thì ngài có một nhiệm vụ trong chùa là gánh nước từ dưới chân núi lên trên chùa Bạch Vân. Khi gánh hai thùng nước đi thì một ngày nọ gặp một bà bán cá gánh một gánh cá đi ngang qua, vô tình một con cá nhảy vào một thùng nước của Ngài. Ngài không để ý và cũng không biết điều đó. Ngài gánh lên trên núi, đến chùa rồi, thì Ngài mới thấy con cá nằm trong thùng nước. Dĩ nhiên con cá rất là tanh hôi, rớt vào thùng nước thì nó làm hôi, tanh thùng nước, nên Ngài rất là tiếc công: Mình gánh thùng nước vất vả như vầy, mà con cá này nó làm hư thùng nước của mình. Cho nên tức quá, cầm con cá đập nó mấy cái. Tất nhiên làm con cá chết.

Chuyện đó dần chìm vào quên lãng. Ngài bắt đầu lớn lên việc tu hành rất tốt, về sau trở thành trụ trì ngôi chùa đó. Khoảng 30 năm sau, có một ngày, Thiền sư Thông Huệ nói với đại chúng: “Ngày xưa có một công án (là sự kiện), hôm nay sẽ phải kết thúc rồi!”. Ngài nói như vậy với đại chúng. Lúc đó đại chúng hỏi là công án gì thưa ngài. Ngài bảo là hãy đợi đúng trưa nay sẽ biết. Lúc đó Ngài lên Thiền đường ngồi xếp bằng. Lúc Ngài ngồi trong Thiền đường thì có một vị tướng quân tên là Trương Lăng, kéo một đoàn quân binh đi ngang qua, thấy chùa Bạch Vân thì cầm một cung tên đi thẳng vào Thiền đường, thì thấy Hòa thượng Văn Thông Huệ, lập tức rất nổi giận, tự nhiên thay đổi sắc mặt. Vị tướng quân này là người chuyên tu Tịnh độ.

Đây không phải là người không biết Phật pháp, mà là người chuyên tu Tịnh độ, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc, mà tự nhiên vô gặp vị Thiền sư này thì tức lắm, lúc đó tự nhiên muốn giết ngài. Lúc tính giương cung lên bắn thì ngài mới nói: “Ta đã chờ ngươi lâu lắm rồi”. Lúc đó tướng quân Trương Lăng mới nói: “Sao lạ vậy? Đây là lần đầu tiên tôi gặp Ngài, mà Ngài nói là chờ tôi lâu lắm rồi? Mà tại sao tôi thấy Ngài, dù tôi chưa bao giờ gặp Ngài mà tôi muốn giết Ngài quá? Tôi tức quá!”.

Lúc đó Thiền sư Thông Huệ nói: Ta chờ ٣٠ năm rồi. ٣٠ năm trước (Ngài mới nói lại câu chuyện) ta là chú Sa-di, vì tức giận con cá mà giết nó (đập cho nó chết), cho nên ta đã chờ mối thù đó; và con cá ấy chính là ngươi. Trong suốt 30 năm qua ta luôn luôn hồi hướng cho con cá đó”. Như vậy, con cá đó nói chung là cũng có phước, sanh ra đời làm tướng quân, còn biết Phật pháp, biết niệm Phật nữa. Sau khi nghe như vậy thì tướng quân Trương Lăng chợt tỉnh ngộ, lúc đó giống như hốt nhiên đại ngộ, làm một bài kệ như sau:

Trả thù qua lại bao giờ dứt

Kiếp kiếp gặp nhau há ngẫu nhiên

Nếu mà không được sư giải thích

Nay sao đứng thẳng vãng Tây Thiên.

Lúc đó Trương Lăng đọc lên bài kệ, hốt nhiên đại ngộ vì bao nhiêu năm tu hành niệm Phật, lúc đó mới hiểu ra là nhân quả, luân hồi nó ràng buộc mình như vậy. Mình có công phu niệm Phật như thế mà mình còn tức giận, còn muốn giết người, cho nên nghĩ nếu tiếp tục luân hồi nữa thì sẽ như thế nào, nên Ngài mới tỉnh ngộ, giống như chứng được nhất tâm bất loạn. Sau khi làm hết bài kệ đó, đứng chắp tay vãng sanh (Nay sao đứng thẳng vãng Tây Thiên).

Thiền sư Thông Huệ thấy tướng quân Trương Lăng đã vãng sanh, cũng liền làm một bài kệ:

Ba mươi năm trôi giạt

Bao phen đổi tướng hình

Ai ngờ hôm nay gặp

Liền đó giải oán xưa.

Nói kệ xong Ngài cũng ngồi toạ thiền nhập định và ra đi luôn. Một người tu Thiền, một người tu Tịnh độ đã biểu diễn công phu và giải nghiệp oán thù như vậy.

Trở lại nguyên nhân ban đầu từ việc Thiền sư Thông Huệ lúc còn Sa di. Tại sao Ngài có thể đánh chết con cá? Đó là do hàng ngày niệm sát khởi lên mà không biết cách chuyển hóa nên khi thời khắc nhân duyên đến thì những niệm sát đó khiến ông không ngần ngại giết cá để rồi hệ lụy nhân quả kéo dài đến 30 năm sau. Song nhờ cả hai vị đều miên mật tu hành nên công năng Phật pháp vi diệu đã hóa giải được mối oan cừu đền mạng không còn tiếp diễn nữa.

Đây cũng là bài học cho người tu nhất là hàng Sa di mới vào đạo phải luôn chánh niệm, tỉnh giác đối với mỗi tâm niệm khởi lên – dù nó tốt hay xấu đều phải nhận biết rõ để ngăn dừng nhằm tránh những hậu quả xấu ngoài ý muốn sau này. Đặc biệt trong môi trường tu tập đại chúng cùng sinh hoạt tập thể, nếu có huynh đệ nào lỡ làm xúc não mình, hãy tỉnh giác đừng khởi niệm ác. Bởi nếu ta dấy niệm bất thiện thì có thể nó vẫn chưa thành quả trong kiếp hiện tại, nhưng trong vị lai nếu quả trổ ra mà chúng ta không còn tu tập thì duyên thù hận gặp lại sẽ không dễ dàng hóa giải được.

Thế còn việc thiện? Trong cuộc sống tu hành, chúng ta làm việc thiện nhiều hay việc ác nhiều? Cổ đức nói: “Suốt đời làm điều thiện, điều thiện vẫn chưa đủ. Một lần làm điều ác, điều ác đã dư thừa.”.

Đức Phật dạy: “Ta có một pháp thù thắng là ta đã thành Phật rồi nhưng vẫn làm những điều thiện.”

Đối với ý nghĩa làm việc thiện chỉ đúng là khi chúng ta làm mà tâm mình không chấp trước vào công việc đó. Nên Tổ Quy Sơn nói:

Thật tế lý địa bất thọ nhất trần,

Vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp.

Chỗ tột cùng của lý chân thật đó không dính một mảy bụi – giống với ý của Lục Tổ: “Xưa nay không một vật, chỗ nào mà dính bụi dơ”, nhưng trong muôn việc không buông bỏ việc gì hết. Câu này Tổ Quy Sơn muốn nói là trên chỗ cứu kính thì không bị ô nhiễm, nhưng mà trên chỗ phương tiện thì tùy duyên ứng dụng giáo hóa chúng sanh cũng không bỏ phương tiện nào hết. Hay nói khác hơn, trong cửa muôn hạnh phải tu tất cả các việc thiện (về chỗ lý tánh chơn thật viên giác thì không thọ mảy trần, nhưng về sự tướng tu hành, thì không bỏ một việc nhỏ).

Như vậy chúng ta hằng đoạn những việc ác và làm những việc thiện mà không chấp trước trong tâm niệm bởi vì chúng ta nguyện thệ độ tất cả chúng sanh. Đó là thành tựu cả ba pháp. Ba pháp này cũng được hiểu là Tam tụ tịnh giới:

  1. Nhiếp luật nghi giới: Người con Phật phải nguyện từ bỏ mọi điều ác.
  2. Nhiếp thiện pháp giới: Người con Phật vâng làm các việc lành.
  3. Nhiêu ích hữu tình giới: Người con Phật phải đem lại lợi ích cho tất cả chúng sinh.

Chư Phật, chư Tổ đều khẳng định rằng nếu chúng ta muốn thành tựu được quả vị giác ngộ tối thượng thì chúng ta phải đi trên lộ trình Giới, Định và Tuệ. Mà muốn thành tựu Giới – Định – Tuệ thì phải:

Không làm các điều ác

Siêng làm những điều lành

Giữ tâm ý trong sạch

Đó là lời Phật dạy.

Mà cụ thể khi thọ thực vị tu sĩ luôn tâm niệm với ba muỗng cơm, chánh niệm hằng nhắc nhở bản thân cũng như bổn phận của mình khi nhận thức ăn này:

Muỗng thứ nhất: Nguyện dứt tất cả điều ác.

Muỗng thứ hai: Nguyện tu tất cả điều thiện.

Muỗng thứ ba: Thệ độ tất cả chúng sanh.

NGŨ QUÁN

Nhất: Kế công đa thiểu, lượng bỉ lai xứ.

Nhị: Thổn kỷ đức hạnh, toàn khuyết ứng cúng.

Tam: Phòng tâm ly quá, tham đẳng vi tông.

Tứ: Chánh sự lương dược, vị liệu hình khô.

Ngũ: Vị thành đạo nghiệp, ưng thọ thử thực.

Nghĩa:

  1. Quán thức ăn này từ đâu đem đến, công của người khó nhọc bao nhiêu.
  2. Quán đức hạnh của mình đủ hay thiếu mà nhận sự cúng dường.
  3. Quán đề phòng tâm ý, lìa sự lỗi lầm trị tận gốc tham, sân, si là chủ yếu.
  4. Quán thức ăn này trị bệnh ốm gầy.
  5. Quán vì thành tựu đạo nghiệp nên mới thọ nhận thức ăn này.

Người xuất gia cầm bát cơm đặt trước ngực quán tưởng năm điều trên. Thầm hiểu rằng sự quán tưởng có lý trung đạo lìa hai bên – lìa có không, phải quấy, tốt xấu, thương ghét … lìa hết tất cả mới thọ thức ăn này.

Tại sao phải có sự quán tưởng trung đạo này? Bởi vì “nhất mễ trọng như sơn” có nghĩa là một hạt gạo nặng hơn núi Tu di.

Trong Luật Tăng Kỳ nói:

“Này chư tỳ-kheo, hãy xét một hạt gạo này, có phải dùng trăm công mới thành, thí chủ bớt phần ăn của vợ con vì cầu phước mà cúng dường”.

Như vậy, sở dĩ họ cúng dường cho người xuất gia vật thực là vì cầu phước họ mới làm như vậy.

Còn trong Luật Thiện Kiến ghi:

Đức Phật hỏi Ngài A-nan: “Tiếng này là tiếng của vật gì?”

A-nan đáp: “Bạch Thế Tôn, đó là tiếng chày giã lúa mạch của các Tỳ-kheo!”

Đức Phật nói: “Lành thay! lành thay! Này A-nan có hiểu vì sao Phật tán thán không? Trong tương lai tỳ-kheo ở trong chùa, thức ăn uống dễ có được mà sinh tâm kiêu mạn; nói cơm gạo thô, hoặc nói quá chín, hoặc nói quá cứng, hoặc nói gạo nát, hoặc nói chua mặn. Nói như thế tức là tìm nhục dục trong lúa gạo”.

Phật lại bảo A-nan: “Các thầy là người lành, nên vì tỳ-kheo đời sau mà tạo nhân duyên pháp lành. Nhờ pháp của các thầy mà tỳ-kheo đời sau nếu được thức ăn đồ uống dù ngon dù dở cũng không sinh lòng thêm bớt. Nghĩ rằng: Thuở xưa bậc pháp vương còn ở đời và vì các vị đại A-la-hán còn ăn lúa mạch của ngựa, huống là bọn chúng ta đối với thức ăn đồ uống này mà có sự khen chê”.

Khi ăn không khởi tâm thức ăn ngon dở thì ăn mới đúng pháp hàng sa môn đệ tử Phật. Cho nên một khi ta khởi niệm về thức ăn hãy quán tưởng khi xưa, Đức Phật và các vị đại đệ tử đức trí vẹn toàn mà còn phải dùng lúa mạch độ thực, thế thì chúng ta là phàm tăng há sao lại phân biệt ngon dở? Nếu biết quán chiếu như thế thì không còn vướng mắc chuyện ăn uống, vì còn chê khen là đang “tìm nhục dục trong sự ăn uống”.

Hơn nữa, Phật dạy đời sống sung túc dễ sanh tâm ngạo mạn. Do đó nếu chúng ta muốn chuyển hóa tâm ngạo mạn này thì phải:

  • Thúc liễm thân tâm.
  • Cần cầu sự giác ngộ tối thượng.
  • Thoát ly sanh tử.

Nhờ luôn nhớ nghĩ ba pháp này thì tự nhiên món ăn nào người tu hành cũng ăn được hết, không mong cầu hay đòi hỏi – vì biết rõ rằng ăn uống chỉ là phương tiện, còn ba pháp hướng thượng mới là cứu cánh rốt ráo.

Còn trong Kinh Tỳ-ni mẫu nói:

“Nếu không ngồi thiền tụng kinh, không lo việc của Tam bảo mà nhận vật của người đem đức tin hiến cúng, là bị đồ cúng dường ấy làm đọa lạc”.

Sách Minh liễu luận sớ nói:

  1. Với thức ăn ngon thì nổi tham, vì vậy nên lìa:
  • Lìa bỏ sự tham đắm hương vị.
  • Lìa bỏ lối ăn uống say sưa vô độ.
  • Lìa sự mong cầu ăn uống bổ dưỡng để có nhan sắc đẹp.
  • Lìa sự mong cầu ăn uống để thân này béo tròn sung túc.
  1. Với thức ăn dở sanh tâm bực tức, giận dữ.
  2. Với thức ăn trung bình không muốn đoái hoài ngó tới.

Cho nên khi thọ trai chúng ta nhìn thấy thức ăn ngon khởi lòng tham tức là đã đọa vào cõi dữ. Trái lại khi thấy đồ ăn không ngon sanh lòng bực bội, giận hờn tức ngay thời khắc đó ta đang trong cõi ngạ quỷ rồi. Lại đối với thức ăn tầm thường có tâm nhàm chán muốn bỏ đi thì trong tâm mình đang tương ưng với cảnh giới súc sanh ngu muội, si mê.

Sách Hành sự sao nói:

Quán nghiệp thành đạo có ba:

1- Vì muốn thân trụ lâu, nên phải mượn đoàn thực là thức ăn của cõi Dục, nếu không thì không được trụ lâu, và đạo duyên không chỗ nương nhờ.

2- Mượn thân giả tạm này để thành tựu Pháp thân huệ mạng.

3- Vì tu Giới, Định, Tuệ nên hàng phục diệt trừ phiền não.

Người tu muốn thành tựu đạo nghiệp nên mới thọ thức ăn ở cõi Dục này, vì nếu không ăn uống sắc thân tứ đại sẽ không trụ được, dẫn đến cái chết mất thân. Mà chết thì đạo nghiệp ta không thành và sự giáo hóa chúng sanh cũng không thể nào thành tựu. Nên phải dùng thức ăn ở cõi này vì sự hành đạo lâu dài.

Thứ hai, muốn nhận ra con người chân thật của mình thì thân ngũ uẩn này phải tồn tại lâu dài vì tu tập cũng cần thời gian đào luyện, hun đúc đạo quả mới chín muồi.

Thứ ba, nhờ việc ăn uống cộng thêm năng lực giữ giới, được định phát tuệ và hàng phục được giặc phiền não.

Như vậy, qua phần Tam đề Ngũ quán thấy rằng, hành giả luôn tâm niệm trách nhiệm của mình trong suốt cuộc đời tu tập là:

Nguyện dứt tất cả điều ác.

Nguyện tu tất cả điều thiện.

Nguyện thệ độ tất cả chúng sanh.

Đồng thời quán tưởng việc ăn uống là một trợ duyên vô cùng quan trọng trên bước đường hành đạo. Do đó chính trong khi ăn cũng là một pháp tu vừa có tính nhắc nhở người xuất gia, vừa giúp ta luôn có chánh niệm tỉnh giác để hỗ trợ vững chắc cho lộ trình Giới – Định – Tuệ, hướng đến giác ngộ giải thoát mà chư Phật, chư Tổ đã đi.



BÀI 25: KẾT TRAI

(Kết thúc sự thọ trai)

Trai: tiếng Phạn là Ô-bộ-sa-đà (Upavasatha), nghĩa là ăn không quá ngọ, nghĩa là ăn không quá lúc giữa ngày. Chính ngọ về trước là thời gian cho việc thọ thực (đúng giờ Ngọ từ 11 – 13 giờ).

Kết (kiết): là hoàn tất, xong, chấm dứt.

Kiết trai: tức là ăn cơm xong. Trước khi kiết trai phải tụng chú Chuẩn đề, kế niệm bài kệ. Lúc tụng lời chú nguyện cho thí chủ, thì mọi người phải ngừng ăn. Nếu không ngừng ăn thì mắc tội vượt pháp.

Sách Tỳ-nại-da, mục Phá tăng sự nói:

Bốn vị Thiên vương, mỗi vị dâng cúng một cái bát bằng đá cho Phật. Phật dùng thần lực chồng vào nhau thành một cái bát rồi liền dùng nó mà làm lợi ích cho loài hữu tình – nhận sự cúng dường của thương chủ. Khi thọ sự cúng dường xong, Phật liền nói lời chú nguyện bằng bài kệ:

Sở vị bố thí giả

Tất hoạch kỳ lợi ích

Nhược vị lạc cố thí

Hậu tất đắc an lạc.

Phạn thực dĩ ngật

Đương nguyện chúng sanh

Sở tác giai biện

Cụ chư Phật pháp.

Nghĩa:

Gọi là việc bố thí

Ắt được sự lợi ích

Vì vui nên bố thí

Sau ắt được an vui

Thọ thực hoàn tất

Cầu cho chúng sanh

Việc làm đều xong

Đầy đủ Phật pháp.

Bố thí: Tiếng Phạn là Đàn-na (Dana), nghĩa là dùng phước lợi mà thí cho người. Bố thí có ba loại:

  1. Tài thí (bố thí tài vật)
  2. Pháp thí (giảng nói Phật pháp)
  3. Vô úy thí (bố thí sự không sợ hãi bằng cách cứu giúp cho người khác, chúng sanh khác khi họ gặp điều nguy hiểm, khó khăn, làm cho họ vơi bớt hoặc hết đi những nỗi lo lắng, sợ hãi).

Kinh Bồ-tát thiện giới nói:

“Pháp thí là những gì nói ra trước nhất không điên đảo, đó là pháp thí. Khéo răn dạy được tất cả chúng sinh, đó là tịnh pháp thí. Bồ-tát bố thí tiền của chỉ lợi ích hiện tại, người thực hành pháp thí thì làm lợi ích hiện tại và cả đời sau. Tài thí không làm cho chúng sanh hết khổ trong đời này; ngược lại, pháp thí làm cho đời này và đời sau được an vui. Tài thí thì bất tịnh, pháp thí thì thanh tịnh, làm việc tài thí thì không gọi là vô biên, bố thí pháp thì gọi là vô biên thí; tài thí dễ được, pháp thí khó gặp: đó là bố thí lợi ích cho mình và người”.

Kinh Đại Bảo Tích nói:

“Nếu trân bảo đầy trong thế giới như cát sông Hằng, đem cúng dường chư Như lai, không bằng một lần pháp thí. Bố thí trân bảo phước tuy nhiều nhưng không bằng một lần pháp thí. Một bài kệ phước còn thù thắng huống là đạo lý khó nghĩ bàn”.

Luật Tăng-kỳ nói:

“Bố thí cả chân kim, trong trăm ngàn thế giới, không bằng một lần pháp thí, tùy thuận thấy chân đế”. Pháp thí làm cho chúng sanh lìa khổ, bố thí nửa bài kệ còn làm cho hành giả chứng đạo, huống nữa là nhiều ư? Bố thí nếu không chấp tướng, gọi là ba luân đều rỗng lặng (tam luân không tịch), tức là bố thí thanh tịnh, được phước rất nhiều.

Kinh Đại Bảo Tích lại nói:

Người cho chẳng chấp có,

Kẻ nhận thấy là không,

Ai thí được như thế,

Gọi là thí thanh tịnh.

Bố thí trong bài kệ này nói chính là bố thí ẩm thực. Do cho đồ ăn thức uống nên được xa lìa vĩnh viễn tất cả phiền não khát ái, được lợi ích vô cùng. Nếu vui vẻ mà bố thí, bình đẳng mà bố thí, nhu hòa mà bố thí, cung kính mà bố thí, thì đều được công đức rất là thù thắng, nên đều cảm được quả báo an lạc ở tương lai.

Xét về nhân quả của việc bố thí, kinh luật chép rõ, có cả thế gian và xuất thế gian, cái quả phú quý, vĩnh viễn an vui, thù thắng tốt đẹp đều do đời trước từng làm việc bố thí, cúng dường Tam bảo mà được thành tựu. Nên trong Lục độ, bố thí độ là đứng đầu.

Ngật là xong, chấm dứt, hoàn tất.

Sở tác giai biện nghĩa là việc làm đã đầy đủ.

Chúng sanh trong sáu đường nghiệp thức mù mịt, hàng Nhị thừa thì còn đang ở giữa đường, hàng Bồ tát thì phía trước cũng còn có đường đi, cho nên đều gọi là việc làm chưa đầy đủ. Chỉ có Đức Phật Thế Tôn mới rốt ráo viên mãn, làm điều người chưa làm, thành tựu việc mà chưa ai thành tựu, nên gọi đầy đủ Phật pháp (cụ chư Phật pháp). Cho nên khi hành giả thọ trai xong, nên phát nguyện cho tất cả chúng sanh làm điều Phật đã làm, đủ việc Phật đã đủ.



BÀI 26: TẨY BÁT

(Rửa bát)

Ăn cơm xong lấy nước sạch mà rửa bát.

Luật Tăng-kỳ nói: “Lúc rửa bát, không được dùng tro và cát để chà rửa làm cho tróc màu sơn, mà phải dùng nước của các loại cây, lá, hoa, củ, quả để chà rửa”. Lại nói: “Phải rửa bát ở nơi đất bằng phẳng. Nếu đất bùn dơ, rác rến, không có chỗ ngồi thì phải đứng khum lưng cách mặt đất khoảng một gang tay, rửa bát rồi phơi nắng cho khô”.

Không nên đứng mà rửa bát. Bát sau khi rửa xong thì phải lau cho khô. Còn nước rửa bát thì đem đổ ở nơi đất sạch, rồi tụng chú, khảy móng tay gọi các loài quỷ thần đến mà bố thí, không được dùng để uống. Xưa có vị thiền sư vì tiếc nước rửa bát mà uống, lâu ngày sanh bệnh. Sau được thần hộ pháp chỉ cho biết, đem nước rửa bát bố thí cho quỷ thần, bệnh liền khỏi.

Dĩ thử tẩy bát thủy

Như thiên cam lộ vị

Thí dữ chư quỷ thần

Tất giai hoạch bảo mãn.

Nghĩa:

Đem nước rửa bát này

Nước như vị cam lồ

Bố thí cho quỷ thần

Tất cả được no đủ.

Cam lộ (hay đọc là cam lồ, nghĩa đen là nước sương ngọt hay nước ngọt): tức là vật thực của người trời dùng, cũng có tên gọi khác là thiên tửu. Lấy nước rửa bát này, thêm lực của chân ngôn, nên nước trong bát có mùi vị thơm ngon, như nước cam lồ của trời. Lấy một bát nước, thí khắp cho hà sa quỷ thần đều được no đủ, chính là nhờ năng lực không thể nghĩ bàn của thần chú vậy.

Như vậy nước cam lộ biểu trưng cho nguồn an lạc vô biên. Khi chúng sinh bị thiêu đốt bởi lửa phiền não và thành tâm cầu xin sự giúp đỡ của Bồ Tát, Ngài mang đến cho họ nước cam lộ để dập tắt lửa phiền não và mang lại cho nhân sinh sự mát mẻ và bình an. Và nguồn an lạc “cam lộ” này không gì khác hơn chính là lòng từ bi, là tình thương không tư lợi, không phân biệt, là tình thương chân thật và bình đẳng. Nhưng muốn tâm ta được tưới mát bởi nguồn nước cam lộ tinh khiết ấy thì phải tu như thế nào?

Pháp môn của Bồ tát Quán Thế Âm chính là phương pháp phản văn văn tự tánh (không xuôi dòng đuổi theo âm thanh mà trở ngược lại tánh nghe). Trong cái nghe của Ngài, Ngài chuyển dụng khả năng nghe tiếng bên ngoài, để nghe lại tự tánh nghe của mình. Đến lúc những cái sinh diệt diệt hết thì tánh vắng lặng hiện ra và khi ấy chứng được “nhĩ căn viên thông”, được hai thứ thù thắng: đồng với từ lực của mười phương chư Phật và cảm thông lòng cầu mong thương cứu của chúng sanh trong sáu nẻo luân hồi.

Lắng nghe cũng được xem là một phương pháp thực tập quan trọng giúp chuyển hóa thân tâm, là nhịp cầu cảm thông giúp cho ta định tĩnh, sáng suốt khai mở trí tuệ để trải rộng tâm từ chia sẻ nỗi khổ, niềm đau với người khác cùng vượt qua nghịch cảnh và đến gần hơn với hạnh phúc chân thật.

Niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm là biểu trưng lòng từ bi thì những tiếng nói huyền diệu phát ra từ trong bản tâm của chúng ta tức là Diệu Âm sẽ là những giọt nước cam lộ tươi mát làm diệu đi và dập tắt cơn phiền não, buồn giận. Nói cách khác chúng sanh chỉ cần quay về sống với tỉnh thức, chánh niệm để kiểm soát từng ý niệm diễn tiến trong tâm thì lúc đó mới thấy được sự nóng giận bên trong mình. Đây chính là diệu lực của nước cam lồ mát ngọt được lưu xuất từ tâm từ bi cao tột.

Nói tóm lại, hằng ngày tham, sân, si, mạn, nghi luôn sai sử chúng ta trên mọi phương diện của cuộc sống. Vì thế chỉ có chánh niệm tỉnh thức mới giúp chúng sanh quay về để lắng nghe tiếng nói Diệu Âm trong suốt thanh tịnh trong lòng mình và đánh thức con người quay về sống đúng với chân tánh tức là chính mình đã chặt đứt những sợi dây vô hình đã cột chân, cột tay chúng ta vào con đường bất thiện. Đây cũng là tinh thần “nước như vị cam lộ” mà bài kệ tỳ ni muốn nói đến:

Đem nước rửa bát này

Nước như vị cam lồ

Bố thí cho quỷ thần

Tất cả được no đủ.



Bài 27: TRIỂN BẤT

(Mở bát)

Như Lai ứng lượng khí

Ngã kim đắc phu triển

Nguyện cộng nhất thiết chúng

Đẳng tam luân không tịch.

Nghĩa:

Ứng lượng của Như Lai

Nay con được mở ra

Nguyện cùng với mọi người

Ba luân đều rỗng lặng.

Ứng lượng của Như Lai muốn nói đến bình bát của Đức Phật. Trong bài Tỳ ni này dạy bình bát của Như Lai khi được mở ra thì nguyện cầu cho tất cả mọi người tam luân đều vắng lặng. Tam luân là nói về tinh thần bố thí bao hàm người thí, vật thí và đối tượng nhận sự bố thí đều được rỗng lặng. Và sự bố thí với tâm rộng mở thì mới dung nhiếp được tất cả pháp giới.

Tại sao trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, Đức Phật dạy: “Một người bố thí và một người không bố thí nhưng tùy hỷ thì phước bằng nhau”?

Vì người bố thí xả bỏ tâm tham chấp, còn người tùy hỷ thì xả tâm tật đố ích kỷ nên phước bằng nhau.

Như vậy chúng ta nghiệm ra rằng: một khi nhìn thấy người khác an ổn, hạnh phúc, họ làm gì cũng được hơn mình, liệu ta có còn tùy hỷ được không? Sở dĩ chúng ta thấy người khác an ổn, hạnh phúc, thành tựu hơn mình mà vẫn không thể tùy hỷ theo được vì lòng mình chưa thực sự mở ra một cách trọn vẹn.

Trong Thiền thoại có ghi lại câu chuyện:

Thiết Chu đi tham vấn rất nhiều danh sư. Một hôm, ông đến chùa Tướng Quốc ra mắt Thiền sư Độc Viên, thưa rằng:

“Tâm, Phật, chúng sanh cả ba đều không. Tánh thật của hiện tượng là không: Không ngộ, không mê, không Thánh, không phàm, không kẻ thí, không người nhận, không vật thí.”

Nghe đến đó, Thiền sư Độc Viên tiện tay lấy cái dùi chuông đánh lên đầu Thiết Chu thật mạnh. Ngay đó, Thiết Chu đổi sắc mặt tỏ vẻ tức giận. Lúc này Thiền sư nói:

Ông nói cái gì cũng không hết, mà sao ông giận dữ vậy?

Thiền sư Độc Viên lại nói: Không thiện, không ác, không phàm, không thánh, không người thí và đối tượng nhận thí rốt ráo đều là không. Nhưng cần phải tự thân mình chứng nghiệm.

Chúng ta luôn nói lý thuyết một cách rất thông suốt hoàn hảo – không mê, không phiền não, không dính mắc … Miệng thì nói rất hay nhưng khi gặp cảnh chướng duyên, thì từ không lại thành có – không chấp trước nhưng lại có xuất hiện phiền não. Như vậy, chỉ khi nào chúng ta chứng nghiệm vào bản tâm chân thật thì khi đó ta mới thật sự thấu hiểu được “cái không” là gì!

Do đó muốn đi đến chỗ tam luân không tịch, hay để hiểu rằng làm tất cả Phật sự mà đạt đến chỗ tam luân không tịch không phải là việc đơn giản. Bởi trong các công hạnh của một vị Bồ-tát có bố thí Ba-la-mật. Tức là bố thí không thấy người nhận, không thấy vật thí và không thấy người bố thí; nghĩa là tâm mình không còn dính mắc khi bố thí mới gọi là bố thí đúng nghĩa. Và người nào có thể bố thí như vậy sẽ đem lại lợi ích cho mình và người nhận.

Chúng ta thực hành hạnh bố thí còn có nghĩa là chúng ta buông xả hết các vọng niệm, các tạp niệm, để an trụ tâm, để thanh tịnh tâm thì mau tiến đến chỗ giải thoát. Câu chuyện về tấm lòng cao cả của vị Bồ-tát – tiền thân của Đức Phật là một minh chứng rõ ràng nhất về lòng từ bi cao thượng của Ngài. Nhờ xả thân vì chúng sinh trong nhiều kiếp, thực hành bố thí Ba-la-mật, Ngài đã thành tựu chí nguyện, mở ra con đường thoát khổ cho chính mình và chúng sinh. Do vậy một khi bố thí phải làm với tấm lòng rộng mở, vì người quên mình, không cầu danh lợi, không cầu báo đáp, không vì hơn thua, không mê hoặc lòng người, không chọn lựa món xấu đem cho, món tốt giữ lại, không phân biệt nam phụ lão ấu, người tu hay người đời …

Trong câu chuyện “Cầu đá của Triệu Châu” thuật lại:

Tại Viện Quan Âm tỉnh Hà Bắc người ta đồn có cây cầu đá của Triệu Châu vô cùng nổi tiếng. Tăng đến hỏi Triệu Châu:

– Nghe nơi này có cây cầu đá của Triệu Châu. Nhưng đến đây tôi chỉ thấy cây cầu khỉ bằng một thân cây, thế còn cây cầu đá ở đâu?

Triệu Châu đáp:

– Ông chỉ thấy cầu khỉ mà không thấy được cầu đá Triệu Châu.

Vậy cầu đá Triệu Châu như thế nào?

– Độ lừa, độ ngựa, độ tất cả chúng sanh từ bờ mê đến bờ giác.

Các vị Thiền sư sau khi đã ngộ nhập cảnh giới vô niệm, các Ngài tùy duyên giáo hóa chúng sanh nhưng giống như “cây cầu đá” – chiếc cầu tượng trưng tâm từ bi, đá tượng trưng cho lòng nhẫn nhục. Với tâm từ và sức nhẫn, các Ngài mới có thể phát thệ nguyện làm “chiếc cầu bằng đá” để cho chúng sanh đi qua, dù là người hay súc vật đều có thể đi mà không sợ ngăn ngại. Đó chính là phát nguyện độ tất cả chúng sanh mà không thấy có chúng sanh nào được độ. Hay nói khác hơn, khi chúng ta xả bỏ được hết tất cả vọng niệm, tức là chúng ta đã thực hành hạnh bố thí ở mức độ cao nhất rồi.

Nên trong kinh Tâm địa quán nói:

“Năng thí, sở thí và vật thí trong ba đời đều vô sở đắc, chúng con an trụ ở tâm tối thắng, cúng dường tất cả mười phương chư Phật”.

Khi ta cho một vật với “tâm tối thắng” – mà tâm tối thắng này Lục Tổ Huệ Năng thường gọi là “vô nhất vật”, có nghĩa là sự bố thí luôn có ánh sáng bát nhã hiện hữu mà tinh thần này cũng được kinh Kim Cang diễn bày một cách cặn kẻ trong câu:

“Bất ưng trụ sắc sanh tâm. Bất ưng trụ sanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm.Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.”

Ngay trong lúc chúng ta bố thí, cúng dường nếu muốn đạt đến chỗ tam luân không tịch thì phải an trụ trong “tâm tối thắng” và lúc đó người nhận cũng được ân triêm diệu lực từ bản tâm siêu việt này. Bởi vì sao? Vì tâm không có chỗ trụ sẽ sanh tâm kia. Vậy “tâm kia” là tâm nào? Đó là tâm từ bi, hỷ xả, trí tuệ với vô lượng công đức từ bản thể chân thật lưu xuất ra diệu dụng như vậy.

Đây cũng là ý mà thiền sư Thần Hội muốn diễn tả:

Vô niệm mà niệm tức niệm chân như

Vô sanh mà sanh, tức sanh thật tướng.

Đó là khi ta làm mọi việc đều rõ biết tất cả với tự tánh bát nhã chiếu soi hay bố thí tam luân không tịch đều trong cảnh giới Vô niệm. Mà vô niệm thì không có tâm phân biệt. Bởi trong lúc ta bố thí thấy người này thiện cần cho nhiều, thấy người ác không nên cho là ta đã có tâm phân biệt. Mà nếu có tâm phân biệt thì ngay giờ phút thực tại đó pháp bố thí không tăng trưởng công đức, có chăng chỉ là phước đức hữu lậu.

Hay rộng hơn nữa khi ta thấy người khác làm việc bố thí với tâm “vô niệm” thì ta cũng có thể tạo được phước đức từ năng lực tùy hỷ đó. Nên Lục Tổ Huệ Năng dạy: “Tự tánh thường sanh trí tuệ tức là phước điền”. Ở đây Tổ muốn nói tự tánh của mình lúc nào cũng thanh tịnh khi thấy người khác bố thí cúng dường liền khởi tâm tùy hỷ, hoặc thấy người ta giàu sang, xinh đẹp, tài ba hơn mình v.v… cũng đều tùy hỷ, như thế là tự tánh thường sanh trí tuệ, đó chính là phước điền.

Như vậy muốn bố thí thành tựu “tam luân không tịch” thì trước nhất mỗi người chúng ta phải quán chiếu được sắc thân ngũ uẩn của này là vô thường, khổ, không, vô ngã. Quán như thế rồi mới thấy được người khác cũng là huyễn mộng. Song tuy thấy mọi thứ đều là duyên hợp nhưng vẫn khởi lên tâm đại bi và làm việc bố thí mà không chấp, không trụ – bởi tự tánh thanh tịnh mà lưu xuất ra muôn pháp chứ không phải bố thí bằng tâm phân biệt tầm thường, thì việc bố thí đó chắc chắn từ công đức pháp thân chứ không gì khác hơn.


Bài 28: THỌ SƠN

(Nhận đồ cúng dường)

Trong lúc nhận đồ cúng dường, người xuất gia đọc bài kệ:

Tài pháp nhị thí

Đẳng vô sai biệt

Đàn ba la mật

Cụ túc viên mãn.

Nghĩa:

Tài thí pháp thí

Bình đẳng không khác

Thí ba la mật

Đầy đủ trọn vẹn.

Tài thí là gì? Tài là tài sản, gồm có tài sản vật chất và tài sản tinh thần. Vật chất là cơm, gạo, áo, tiền, nhà cửa, ruộng vườn, thuốc men trị bệnh… Tài sản tinh thần là công sức, tình cảm, tình thương, hiểu biết… Tài thí là đem những tài sản, của cải mình có cho người khác, giúp đỡ người khác.

Còn Pháp thí là gì?

Trong Kinh Bồ tát Thiện Giới nói:

“Pháp thí là những gì nói ra, trước nhất không điên đảo, đó là Pháp thí. Khéo răn dạy được tất cả chúng sanh, đó là Tịnh Pháp thí. Bồ tát bố thí tiền của chỉ lợi ích hiện tại, người thực hành pháp thí thì làm lợi ích hiện tại và mai sau. Tài thí không làm cho chúng sanh hết khổ trong đời này, mà chỉ có pháp thí mới làm hết khổ”.

Đem lời dạy của Phật trùng tuyên lại, bởi vì Ngài đã nhập Niết-bàn nên giáo pháp này cần phải được tuyên dương cho mọi người biết. Đó là nhiệm vụ của chư Tăng – chỉ có Tăng đoàn đệ tử Phật ra sức xiển dương thì giáo lý này mới được trường tồn và phổ biến rộng rãi. Sự truyền bá giáo lý đến quần chúng gọi là Pháp thí.

Lợi ích của việc bố thí pháp ở chỗ nếu người nhận hiểu và thực hành được pháp thì không những hiện tại mà về sau cũng sẽ hết khổ. Tại sao? Vì người đó không còn sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu. Mà không làm những điều bất thiện đó nên vị ấy an ổn trong đời này, trong vị lai tiếp tục được an ổn và chắc chắn ba đường ác bị đóng cửa nên nói hết khổ về mai sau.

Trong Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương, quyển ba, phẩm Diệt Nghiệp Chướng, Phật dạy:

Này thiện nam tử! Giả sử có người đem bảy báu chất đầy cả tam thiên đại thiên thế giới cúng dường Như Lai, nếu lại có người khuyến thỉnh Như Lai chuyển Đại Pháp Luân, thì người này được công đức nhiều hơn người kia.

Lại nữa, này thiện nam tử! Nếu có người đem bảy báu nhiều như hằng hà sa tam thiên đại thiên thế giới cúng dường tất cả chư Phật, thì công đức khuyến thỉnh pháp vẫn hơn cả sự cúng dường ấy, do vì pháp thí có năm điều thù thắng. Những gì là năm?

Một là, pháp thí gồm lợi mình, lợi người, còn tài thí chẳng vậy.

Hai là, pháp thí hay khiến chúng sanh ra khỏi ba cõi, còn phước tài thí chẳng ra khỏi ba cõi.

Ba là, pháp thí có thể tịnh pháp thân, tài thí chỉ tăng trưởng được sắc thân.

Bốn là, pháp thí thì vô cùng, còn tài thí thì có giới hạn.

Năm là, pháp thí dứt được vô minh, còn tài thí chỉ khuất phục được tham ái.

Thế nên, này thiện nam tử! Công đức khuyến thỉnh pháp vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn.

Kinh Đại Bảo Tích nói:

“Nếu như trân bảo nhiều như thế giới cát sông Hằng đem cúng dường chư Như Lai không bằng một lần pháp thí. Bố thí trân bảo phước tuy nhiều, không bằng một lần pháp thí. Một bài kệ phước còn thù thắng, huống là đạo lý khó nghĩ bàn.”

Kinh Duy Ma Cật nói:

“Luận về bố thí, không có sự bố thí nào lớn hơn bố thí pháp”.

Kinh Tăng nhất A-hàm cũng nói:

“Trên hết trong bố thí, không gì hơn pháp thí”.

Vì sao? Bởi chỉ có Phật pháp mới đưa chúng sinh thoát khỏi khổ đau sinh tử luân hồi. Pháp thí chân chính là giảng dạy những giáo pháp nhà Phật như Tứ Diệu Đế, Bát chánh đạo, luật nhân quả, … đưa con người hướng đến giải thoát, đến sự giác ngộ. Khi ta giúp ai đó về vật chất, sự giúp đỡ ấy chỉ có giới hạn tạm thời. Nhưng khi ta giúp người khác nhận hiểu và tu tập hướng đến mục đích giải thoát thì lợi ích mà người ấy nhận được trong hiện tại là hết sức lớn lao, và điều đó cũng tiếp tục mang đến lợi lạc trong tương lai cho thấy sự không giới hạn của Pháp thí.

Trong đời sống chúng ta dễ dàng nhận thấy khó khăn, thiếu thốn về vật chất làm cho con người khổ đau, nhưng khi mất mát về tinh thần người ta sẽ cảm thấy lạc lõng và bất hạnh hơn rất nhiều. Nỗi khổ về tinh thần nhiều khi còn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và tính mạng của con người hơn là sự là cái khổ về vật chất. Đau khổ về tinh thần có xu hướng gây ra nhiều đau đớn hơn những tổn thương về thể chất vì nó có khả năng tái phát và làm chúng ta đau nhiều lần – nghĩ lại về một sự kiện đau buồn trong quá khứ và đắm chìm trong đó sẽ làm chúng ta tăng căng thẳng và dẫn đến một số vấn đề sức khỏe như thay đổi chất hóa học trong não, cao huyết áp, ung thư, tiểu đường và hệ miễn dịch suy yếu…Y học đã chứng minh rất nhiều trường hợp loét dạ dày, tá tràng, bệnh tim mạch, và đặc biệt là hội chứng kích động thần kinh là hậu quả của sự căng thẳng, lo nghĩ hay buồn phiền lâu ngày. Nên khi Phật pháp được truyền bá rộng rãi, chúng sanh nương vào đó tu hành thì cuộc đời sẽ được an lạc, xã hội cũng được bình yên thịnh vượng.

Tuy nhiên cách thí pháp hay nhất vẫn là tự mình ứng dụng Phật pháp vào trong cuộc sống hàng ngày, tức là tự mình tu tập chuyển hóa thân tâm có kết quả thù thắng. Khi năng lượng chuyển hóa này thành tựu sẽ có sức lan tỏa rất lớn – mình không cần nói gì hết, người ta vẫn cảm nhận được năng lượng từ bi, an lạc, thảnh thơi, giải thoát của mình (thân giáo) khiến họ phát tâm bồ đề nguyện tu tập theo con đường Đức Phật. Pháp thí bằng cách này là bài pháp sống động mà không có ngôn từ nào có thể so sánh được.

Vậy tại sao bài kệ Tỳ ni này dạy rằng: “tài thí và pháp thí” lại bình đẳng không khác?

Trong lịch sử thiền tông thuật loại câu chuyện nổi tiếng giữa Tổ Bồ Đề Đạt Ma và vua Lương Võ Đế như sau:

Năm 520, thuyền của Tổ Bồ Đề Đạt Ma mới đến Quảng Châu. Nghe tin thánh nhân đến, quan đầu tỉnh Quảng Châu ra cửa khẩu đón tiếp. Bấy giờ là đời nhà Lương, niên hiệu Phổ Thông năm đầu ngày 21/9 Canh Tý (năm 520 Tây lịch). Trong lúc chuẩn bị đi đón Tổ Bồ Đề Đạt Ma, quan đầu tỉnh Quảng Châu cũng dâng sớ về triều tấu trình tin tức cho vua Lương Võ Đế. Được sớ, vua liền sai sứ thỉnh Tổ về thành đô Kim Lăng. Trong cuộc diện kiến, vua Võ Đế hỏi Tổ:

– Từ khi tức vị đến nay, trẫm tạo lập nhiều chùa, chép nhiều kinh điển, độ tăng không thể kể hết, những việc làm như thế có công đức gì chăng?

Tổ đáp:

  • Đều không có công đức.
  • Tại sao không có công đức? Vua hỏi.
  • Vì đó chỉ là quả hữu lậu của cõi người, cõi trời, như bóng theo hình tuy có nhưng chẳng phải thật.
  • Như thế nào mới là công đức chân thật?
  • Trí thanh tịnh tròn đầy thể tự vắng lặng, công đức như thế chẳng thể tìm ở thế gian.
  • Như thế nào là Thánh đế đệ nhất nghĩa?
  • Rỗng rang không Thánh.
  • Đang đối diện với trẫm là ai?
  • Không biết.

Như vậy, trong giờ phút thực tại này vua Lương Võ Đế muốn có công đức thì phải làm sao? Vua đã làm việc tài thí, nhưng muốn đồng đẳng với pháp thí thì phải như thế nào?

Có nghĩa khi vua Lương Võ Đế chỉ cần bố thí, cúng dường mà tâm ông không dấy niệm thì tài thí ngay lúc đó đồng đẳng với pháp thí. Tuy nhiên ở đây Tổ muốn khai thị về tâm nhưng vua Lương lại không thấy được điểm đó mà chỉ nghĩ đến cái công mình đã làm thiện pháp sâu dày cho Tam bảo – mà làm với tâm phân biệt thì đó chỉ là phước đức hữu lậu chứ không phải công đức vô lậu. Chỉ cần vua chuyển tâm ý thì ngay đó phước đức cũng chuyển thành công đức.

Vua lại hỏi Tổ: “Thế nào là đệ nhất nghĩa đế?”, Ngài nói: “Rỗng rang không Thánh”. Tổ Bồ Đề Đạt Ma lại một lần nữa khai mở tâm cho vua Lương Võ Đế rằng chỗ công đức đó cũng chẳng có Thánh hay phàm. Nhưng vua vẫn còn trụ tướng bố thí, tưởng mình không có công đức gì hết bởi công sức biết bao năm nhiêu gầy dựng vô ích. Mà có tướng sanh khởi trong tâm thì không bao giờ có được sự đồng đẳng thanh tịnh giữa tài thí và pháp thí. Bởi đơn giản, nếu chúng ta chấp ngay cả việc thiện mình làm thì cũng sinh tâm ngã mạn như thường.

Nên Lục Tổ Huệ Năng dạy:

“Trong tâm khiêm hạ là công, bên ngoài hành lễ phép là đức; tự tánh dựng lập muôn pháp là công, tâm thể lìa niệm là đức; không lìa tự tánh là công, ứng dụng không nhiễm là đức.”

Chúng ta ngày nay hay lầm lẫn cho rằng cất chùa, giúp chư Tăng, bố thí cúng dường là lập nhiều công đức và tự hào rằng mình làm công đức vô lượng vô biên cần phải được tán thán, không ngờ làm những việc ấy chỉ là tạo phước đức mà thôi. Ví như ta bố thí tiền của, hy vọng tương lai được phước giàu có, việc làm và dụng tâm ấy tạo ra phước đức. Song cũng việc lành bố thí đó nhưng chỉ thuận theo lòng từ, không có bất cứ mong cầu nào và cũng chẳng có bất cứ điều kiện gì thì trở thành công đức. Bởi bố thí mà tuyệt nhiên không nghĩ đến báo đáp thì tâm được thanh tịnh. Tâm thanh tịnh thì tuệ phát sinh, phiền não rơi rụng đồng thời phước lành đó sẽ bao trùm khắp pháp giới hư không.

Như vậy công đức là nhằm thẳng bản tâm mình, ngộ được tự tánh mình rồi từ đó khởi dụng làm những hành động hợp đạo lý, thuyết pháp độ sanh hay tu các công hạnh, đó gọi là công đức. Tổ muốn dạy từ nơi “vô niệm” mà chúng ta có thể dựng lập muôn pháp – hay trên bước đường Phật đạo, chúng ta làm tất cả nhưng ứng tác từ tự tâm, làm mà không có tâm dính mắc thì “tài thí – pháp thì đều bình đẳng”. Đó cũng là pháp thí Ba-la-mật. Ngược lại nếu thí pháp với mục đích mong cầu danh lợi và để cho mọi người kính nể, thì đó là pháp thí cầu danh, cầu lợi không trong sạch thanh tịnh cũng như không đưa đến quả báo vô lậu thuần tịnh hướng đến giải thoát rốt ráo.



Bài 29: THỦ DƯƠNG CHI

(Lấy nhành dương)

Dương chi: Tiếng Phạn là Đan-đa-gia-sắc-xá, dịch là Xỉ mộc. Nay bảo thành nhành dương, thường lấy cành liễu thay thế. Cành liễu là cành yếu rủ xuống, tục gọi là dương nhỏ.

Thời Phật chưa có kem đánh răng như bây giờ, nên Phật bảo các thầy Tỳ-kheo sau khi dùng ngọ thời xong thường dùng nhành dương (hoặc loại cây nào khác mà có vị đắng chát) có thể chà đánh răng để trừ hôi miệng. Đây là cách chà đánh răng súc miệng thời xưa.

Thủ chấp dương chi

Đương nguyện chúng sanh

Giai đắc diệu pháp

Cứu cánh thanh tịnh.

Nghĩa:

Tay cầm nhành dương

Cầu cho chúng sanh

Đều được diệu pháp

Rốt ráo thanh tịnh.

Đức Phật dạy khi tay ta cầm nhành dương, lại nguyện cầu cho chúng sanh được diệu pháp thanh tịnh. Vậy diệu pháp ở đây, Phật muốn nói lên điều gì? “Diệu pháp” ở đây chính là tri kiến Phật. Mà tri kiến Phật khi dùng nhành dương biểu thị ý nghĩa như thế nào?

Trong đời sống thế gian hay trong nếp sống sinh hoạt của người tu sĩ, việc giao tiếp nói năng qua lại giữa người với người là một điều tất yếu. Song khi ai cố ý hay vô tình dùng lời chửi mắng xúc phạm mình, ngay đó nếu ta không khéo chuyển hóa sẽ chắc chắn dùng lời lẽ không hay để trả đũa lại. Điều này cho thấy sự phẫn nộ, tức giận là một thói quen phản ứng rất khó buông xả trong mỗi con người chúng ta. Như vậy “nhẫn nhục” là một pháp tu tối quan trọng trên bước đường hành đạo của người con Phật – vì nhẫn nhục được với mọi việc đó là thành tựu rất lớn mà không phải ai cũng thực hiện được.

Có một vị Bồ tát tay phải cầm nhành dương liễu đó là Bồ tát Quán Thế Âm. Hình ảnh tay cầm nhành dương này tượng trưng cho đức hạnh nhẫn nhục của ngài. Bởi Quán là xem xét, Thế có nghĩa là thế gian, Âm tức là âm thanh – Ngài lắng lòng nghe những âm thanh, nỗi khổ niềm đau của chúng sanh. Hay nói cách khác, mỗi khi chính chúng ta lắng nghe âm thanh khổ đau của người khác thì điều trước tiên ta phải có là đức nhẫn, bởi đó là con đường hành Bồ tát đạo với tình thương và sự tha thứ. Khi mỗi hành giả thực tập lắng nghe tất cả với tâm cảm thông muốn chia sẻ và giúp đỡ thì vị ấy liền trở thành một hóa thân “Bồ tát Quán Thế Âm” đầy lòng từ bi lân mẫn.

Như vậy phẫn nộ, sân giận khởi lên ta phải ứng phó như thế nào? Nếu ta càng đè nén thì càng làm lòng sân tăng trưởng. Ngược lại chỉ có chất liệu “tình thương” mới có thể thực sự hóa giải được sự phẫn nộ này. Mà chúng ta muốn yêu thương được mọi người, mọi loài thì phải có một tâm bao dung rộng lớn. Bởi chỉ có tâm bao dung mới có thể thâu nhiếp được tâm chúng sanh vốn chất chứa nhiều tập khí cố hữu nhiều đời mà thói quen hay chỉ trích, đánh giá người khác là một tiêu biểu điển hình trong cuộc sống giữa đời thường này.

Đức Phật đã đề cập đến “sự chỉ trích” đó trong bài kinh Pháp Cú mà Ngài nói tại tinh xá Kỳ Viên, có liên quan đến nam cư sĩ Tu Lại:

Tu Lại là một thiện nam sống ở Xá Vệ cùng với một nhóm bạn năm trăm Phật tử. Một hôm, ông cùng nhóm bạn này đến Tinh xá nghe pháp. Đầu tiên, ông đến Tôn giả Ly Bà Đa (đệ nhất độc cư về thiền định), nhưng Tôn giả lặng thinh không nói một lời. Họ thất vọng, mới cùng nhau đến Tôn giả Xá Lợi Phất, cung kính trình bày về việc họ đã bất mãn khi đến gặp ngài Ly Bà Đa không giảng nói một lời.

Khi ấy, Tôn giả Xá Lợi Phất (đệ nhất về trí tuệ) bảo họ ngồi xuống và ngài thuyết giảng cho họ nghe về giáo lý A-tỳ-đàm. Vì A-tỳ-đàm là một bộ luận lớn, nên Tôn giả Xá Lợi Phất phải diễn giảng sâu xa, tế nhị trong thời gian dài. Tuy nhiên với trình độ nông cạn, Tu Lại và cả nhóm đi cùng nghe cũng không hiểu chi cả, nên bực mình liền kéo đến hội kiến với Tôn giả A Nan. Sau khi cung kính chào hỏi, Tu Lại liền trình bày những việc đã xảy ra khi gặp Ly Bà Đà và Tôn giả Xá Lợi Phất cho ngài A Nan nghe.

Ngài A Nan liền giảng một bài pháp ngắn gọn cho họ nghe, nhưng họ vẫn không hài lòng, liền kéo đến gặp Phật. Sau khi đảnh lễ Phật, họ liền bày tỏ cho Phật biết những việc bất bình của họ. Họ chê Ngài Ly Bà Đa chỉ biết lặng thinh, Tôn giả Xá Lợi Phật thì nói dài dòng quá, còn Tôn giả A Nan thì nói quá ngắn gọn.

Nghe xong, Phật quở trách bọn họ rằng, trên đời này từ xưa đến nay, không ai mà không bị khen chê, kể cả Như Lai cũng bị khen chê. Khi đó, Phật nói lời Pháp Cú cho Tu Lại và nhóm bạn rằng:

Tu Lại, nên biết,

Xưa vậy, nay cũng vậy,

Ngồi im bị người chê,

Nói nhiều, bị người chê.

Nói vừa phải, bị chê.

Làm người không bị chê,

Thật khó tìm ở đời.

Xưa, vị lai, và nay,

Đâu có sự kiện này,

Người hoàn toàn bị chê,

Người trọn vẹn được khen.

(Pháp Cú 227)

Phật dạy tiếp:

“Lời khen chê của người ngu không quan trọng. Nhưng khi người học thức, thông minh khen hay chê, đó mới là đích thực.”

Cho nên Tổ Lâm Tế mới nói:

“Kẻ trí biết ta, người ngu cười ta.”

Còn Khổng Tử lại nói:

“Một ngàn người ngu biết, không bằng một người trí biết.”

“Người trí” ở đây có thể hiểu là trong thâm tâm mình tự nhận biết rõ việc làm đó của mình có đúng chánh pháp hay không, đúng với tinh thần chánh kiến của đạo Phật hay không. Đó là “người trí” biết mình, còn chuyện bên ngoài không phải là vấn đề quan trọng. Bởi theo lời Phật nhận định trên đời này không có ai hoàn toàn bị chê bai chỉ trích hoặc được trọn vẹn ca ngợi tán thưởng. Nhưng ngược lại khi chúng ta phản ứng với lời nói của dư luận thì sẽ dễ dàng chiêu cảm những nghiệp ác đến với mình. Đặc biệt khi ta phẫn nộ với những lời chỉ trích hướng về mình, và tạo khẩu nghiệp cho hả cơn giận thì hệ lụy của nó là không thể lường được, nhất là đối với người xuất gia đã bỏ những hỉ nộ ái ố của cuộc đời.

Trong Nghệ Thuật sống có câu chuyện về dư âm của lòng sân như sau: “Một cậu bé có tính xấu rất hay nổi nóng. Một hôm người cha đưa một túi đinh và nói với cậu bé rằng mỗi khi con nổi nóng thì hãy chạy ra đằng sau nhà đóng một cái đinh lên hàng rào gỗ.

Ngày đầu tiên cậu bé đã đóng rất nhiều đinh lên hàng rào. Nhưng sau vài tuần cậu bé đã tập kiềm chế cơn giận của mình và số đinh đóng lên hàng rào mỗi ngày một ít đi. Rồi cậu nhận thấy rằng kiềm chế cơn giận của mình thì dễ hơn là phải đóng cây đinh lên hàng rào. Một ngày kia, cậu đã không nổi giận một lần nào suốt cả ngày. Cậu nói với cha và ông bảo cậu hãy nhổ một cái đinh ra khỏi hàng rào nếu một ngày cậu không hề nổi giận với ai dù chỉ một lần.

Ngày lại ngày trôi qua, rồi cũng đến một hôm cậu bé tìm cha mình báo rằng không còn một cái đinh nào trên hàng rào nữa. Cha cậu đã cùng cậu đứng bên hàng rào và ông nói với cậu rằng: “Con đã làm rất tốt! Nhưng hãy nhìn những lỗ đinh trên hàng rào. Hàng rào đã không giống như xưa nữa rồi. Nếu con nói điều gì trong cơn giận dữ, những lời nói đó cũng giống như những lỗ đinh này, để lại những vết thương trong lòng người khác. Dù sau đó con có nói bao nhiêu lần xin lỗi đi nữa, vết thương đó vẫn còn ở lại.

Qua câu chuyện chúng ta thấy rõ mỗi khi sân hận, phẫn nộ mà nói ra những lời không hay đối với người khác – mà nhất là trong môi trường tự viện, đối với huynh đệ đồng tu – thì ta đã vô tình gây oan trái nội kết với họ. Do vậy ta cần đình chỉ niệm sân sớm, để bảo vệ sức khỏe và gìn giữ cái tâm hiền thiện, duy trì tập quán tâm tốt lành cho mình đời này lẫn đời sau. Chúng ta phải quán xét cẩn trọng từng tâm niệm của mình trong giây phút hiện tại, đừng tự hào cho rằng mình hiền lành không bao giờ sân giận, bởi chúng ta biết rất rõ một khi tâm sân nổi lên thì những tác hại, những hệ lụy mà nó gây ra không ai có thể lường hết được.

Hòa thượng Tuyên Hóa kể lại trong tích truyện “Tánh như tro lạnh”:

Trước đây cũng có một người tu nhẫn nhục, đã rất lâu chưa thấy mình cáu giận, trong lòng bèn nẩy sanh tâm kiêu hãnh, quảng cáo cho mọi người hay. Ông treo một tấm bảng trước cửa nhà, trên đề mấy chữ: “Tánh như tro lạnh,” ý muốn cho tất cả biết rằng mình là một người không biết bực tức nóng giận. Không rõ treo bảng trong bao lâu, có một hôm, Quán Thế Âm Bồ tát đi ngang qua trông thấy bảng đó, Ngài liền biến hóa thành một người cùng khổ đi xin ăn, tới hỏi vị tu hành:

– Tấm bảng của ông treo đó đẹp lắm, trên lại có mấy chữ nữa. Mấy chữ này đọc ra sao, xin ông nói cho biết?

Vị này nghĩ rằng, người xin ăn muốn hiểu ý nghĩa mấy chữ “tánh như tro lạnh,” liền đáp:

– Mấy chữ này đọc là “tánh như tro lạnh,” bổn tánh ví như tro lạnh, nghĩa là trong đám tro một đốm lửa cũng không còn, bất cứ gặp chuyện gì chẳng xứng ý cũng không nổi nóng.

Người xin ăn cám ơn và bước ra, nhưng đi được ba bước thì quay lại hỏi:

– Mấy chữ này đọc như thế nào tôi lại quên mất?

– “Tánh như tro lạnh” nghĩa là người tu hành này không nổi nóng, lòng như tro lạnh, ráng ghi nhớ đi.

– Cám ơn lắm!

Nhưng đi không xa, người ăn mày lại trở lại hỏi nữa:

– Tôi lại quên nữa rồi. Mấy chữ này là gì đây? Tánh như tro lạnh.

Người ăn mày đi ra, rồi trở lại, cứ như vậy mười mấy lần luôn. Lòng của vị tu hành lúc này như tro mà lại có lửa, ông nổi nóng:

– Tánh như tro lạnh! Tánh như tro lạnh! Cứ hỏi mãi!

Người ăn mày nói: Hóa ra tro của ông vẫn còn lửa a! Thôi xin chào!

Nói rồi bay lên trên không, hiện thành Bồ tát Quán Thế Âm.

Vị này nghĩ: “Bấy lâu nay tu, mong được gặp Quán Thế Âm Bồ Tát một lần, không dè tu mãi mà lòng vẫn chưa nguội lạnh, gặp Ngài mà không nhận ra, thật uổng! Đáng thương biết bao nhiêu!” Nghĩ rồi khóc sướt mướt, y có dè đâu lửa còn âm ỉ trong đám tro, phút giây bốc cháy, chút nữa đốt luôn cả thân mình.”

Nên Đức Phật dạy có ba loại sức mạnh:

  1. Sức mạnh của phụ nữ là sắc đẹp.
  2. Sức mạnh của trẻ con là tiếng khóc.
  3. Sức mạnh của Sa môn là đức nhẫn.

Hạnh tu của Sa môn không gì hơn đức nhẫn. Bởi đức nhẫn có thể hàng phục mọi điều bất thiện trên đời. Vì nhẫn là sự tu tâm dưỡng tánh, là yếu tố cần thiết cho ta muốn bảo toàn một cuộc đời bình an, tĩnh tại.

Trong Kinh Di Giáo, Đức Phật có dạy rằng: “Thực hành đức nhẫn nhục, mới đáng gọi là bậc thượng nhân có sức mạnh”.

Nhẫn không phải là sự dồn nén một cách mù quáng, lại càng không phải là biểu hiện của sự hèn nhát mà là cách hành xử khéo léo nhu hòa cốt để lại chút ân nghĩa thiện duyên cho chính mình và người – đó cũng là dũng khí và năng lực để gánh vác đại sự: bình thản tiếp nhận nghịch cảnh, cảm thông với mọi người, bao dung với mọi việc thì sẽ được an nhiên tự tại giữa cuộc đời đầy biến động này.

Thị phi thương ghét khắp trần gian

Suy đi tính lại khổ muôn vàn

Nuôi dưỡng tâm từ rèn hạnh nhẫn

Lòng càng rộng lớn lại càng an.

(Trích trong Chỉ Nguyệt Lục)



 Bài 30: TƯỚC DƯƠNG CHI

(Nhấm nhành dương)

Tước dương chi thời

Đương nguyện chúng sanh

Kỳ tâm điều tịnh

Phệ chư phiền não.

Nghĩa:

Khi nhấm nhành dương

Cầu cho chúng sanh

Tâm họ thuần tịnh

Chuyển hóa phiền não.

Vậy chuyển hóa phiền não là chuyển hóa điều gì? Chính là chuyển hóa những chủng tử xấu ác trong tàng thức của tâm mình.

Theo Duy Thức Học có đề cập về chủng tử như sau:

Chủng tử có nhiều loại

Mê ngộ và khổ vui,

Sanh tử và Niết-bàn,

Danh xưng và tướng trạng.

Chủng tử còn gọi là hạt giống. Chuyển hóa phiền não là chuyển hóa những hạt giống trong tâm mình từ nhiều kiếp – có mê, có ngộ, có khổ, có vui, có sanh tử, có Niết bàn …. Nhưng ta phải biết cách mới có thể chuyển hóa được những hạt giống này. Tại sao? Bởi không biết cách thì hành giả khó mà biết được những ý niệm sầu, ưu, bi, khổ, não đang hiện diện trong tâm mình. Nên sáng thì ta vui nhưng chiều có thể ta lại buồn, tâm tư thay đổi liên tục bởi ta chưa nhận diện được những hạt giống phiền não này. Vậy nhận diện bằng cách nào?

Hình ảnh “nhấm nhành dương” trong bài kệ Tỳ ni biểu thị cho sự chánh niệm trong thời khắc hiện tại. Chánh niệm không để tâm ý buông lung theo dục vọng. Đây cũng được gọi là hàng phục vọng tâm. Tuy nhiên hàng phục vọng tâm là việc khó làm còn buông xuôi theo vọng tình thì lại rất dễ dàng thực hiện.

Nên trong “Thiền Tông trực chỉ”, Thiền sư Thiên Cơ dạy rằng:

“Hạ thủ công phu tu thiền, một ngày qua phải thấy là một ngày tinh tấn. Nếu là lơ thơ lững thững, dù trải qua trăm kiếp ngàn đời cũng không có ngày được thành công. Người xưa khi dụng công, đốt một cây hương, thấy cây hương tàn rồi, liền tự nhắc rằng: “Công phu như trước không có thêm bớt, một ngày bao nhiêu cây hương, một năm bao nhiêu cây hương? Năm tháng dễ qua, ngày giờ không đợi người, việc lớn chưa sáng, ngày nào mới xong?” Do đó, đau xót hối tiếc, lại thêm phần cố gắng.”

Như vậy, không phải chúng ta ngồi thiền nhiều là tinh tấn mà tinh tấn ở đây muốn đề cập là không khởi những niệm xấu ác và luôn đi trên con đường giới luật thanh tịnh. Người biết tu, thật tu là phải tự kềm chế mình, tự kiểm tra lại những lỗi lầm sai quấy của bản thân để chừa bỏ. Siêng năng sửa lỗi hằng ngày hằng giờ mới có thể chuyển hóa những hạt giống phiền não mà tiến lên được.

Có một vị tu sĩ trẻ, dù mỗi ngày tinh tấn tọa thiền, nhưng vọng niệm vẫn dấy khởi triền miên, dục vọng như thác nước không ngừng tuôn chảy. Vị ấy cảm thấy rất chán nản, liền thỉnh giáo với sư phụ: “Thưa sư phụ! Con phải làm thế nào để điều phục được vọng tâm đang chạy nhảy như ngựa, như vượn kia của mình!”

Sư phụ nghe xong câu chuyện của đệ tử, không dạy đạo lý gì cao xa, chỉ bảo vị ấy ra chợ mua trái dứa mang về.

Khi vị sư trẻ mang trái dứa về, sư phụ hỏi: “Tại sao con mua những trái dứa này về?”

Đệ tử trả lời: “Con mua về ăn”.

Sư phụ lại hỏi: “Con ăn luôn cả vỏ nó sao?”

Đệ tử đáp: “Đương nhiên là con không ăn vỏ, con chỉ ăn ruột bên trong thôi!”

Sư phụ bỗng dưng la lớn: “Con thật là ngốc nghếch, đã không ăn vỏ sao lại mua cả trái dứa về?” Vị đệ tử lặng thinh không nói, dường như ngộ ra điều gì, như người rơi xuống giếng tối tăm, bỗng nhiên nắm được dây thừng.

Sư phụ nhấp ngụm trà rồi thong thả nói tiếp: “Tu hành không tránh khỏi dục vọng giống như hoa sen thanh tịnh, tinh khiết kia, không thể thiếu đi bùn đất. Nếu như không có dục vọng thì chúng ta cũng không cần tu hành, giống như những trái dứa kia, lẽ nào con cũng nuốt được cái vỏ cứng sần sùi của nó sao? Nhưng vì sao chúng ta lại cần cái vỏ ngoài của trái dứa? Bởi vì vỏ dứa có nhiệm vụ là bao bọc trái dứa. Chúng ta nên ăn dứa xong rồi hãy vứt vỏ đi. Việc tu hành cũng giống như vậy, không phải vì cái vỏ thô xấu bên ngoài, chỉ là chưa phải lúc chúng ta vứt vỏ đó thôi”.

Ngũ dục, lục trần cũng giống như cái vỏ cứng của trái dứa. Con người muốn nếm được vị ngọt của trái dứa thì phải ý thức được sự tồn tại và giá trị của vỏ cứng sần sùi kia; đồng thời có thể dùng trí tuệ của mình để gạn đục khơi trong.

Rất nhiều người mong muốn có được hạnh phúc một cách dễ dàng nhưng lại không muốn chịu đựng cái giá buốt của cuộc đời; hay cũng có nhiều người mơ tưởng sung sướng đến với mình, nhưng lại trốn tránh sự tôi luyện ở thế gian. Khai ngộ vốn không quá khó, thánh hay phàm cũng đều do tâm này, thanh tịnh hay uế trược không phải hai. Trong vũng bùn phiền não, chỉ cần chúng ta gieo xuống hạt sen thì một ngày nào đó bông sen hồng nhất định sẽ đua nở.

Cho nên:

Khi nhấm nhành dương

Cầu cho chúng sanh

Tâm họ thuần tịnh

Chuyển hóa phiền não.



Bài 31: SẤU KHẨU

(Súc miệng)

Sấu khẩu liên tâm tịnh

Vẫn thủy bách hoa hương

Tam nghiệp hằng thanh tịnh

Đồng Phật vãng Tây phương.

Nghĩa:

Súc miệng lòng sạch luôn

Nước miệng thơm trăm hoa

Ba nghiệp luôn trong sạch

Cùng Phật về Tây phương.

Đức Phật dạy muốn súc miệng mà được tâm trong sạch thì phải dùng hương giới, hương định, hương huệ, hương giải thoát, giải thoát tri kiến. Tại sao phải dùng những hương này?

Trong một ngày chúng ta có thể súc miệng rất nhiều lần nhưng chuyện không nói có, chuyện có lại nói không thì súc miệng như thế chưa làm trong sạch khẩu nghiệp được. Do đó cổ đức dạy: “Phàm bậc tu nhân tích đức phải thận trọng lời nói” – dù không đi theo con đường Phật đạo cũng phải thận trọng ở lời nói để tích đức về sau. Khổng Tử cũng nhắc nhở: “Kiệm lời để nuôi cái đức của mình.”

Hay Châu Tử nói:

“Thủ khẩu như bình, phòng ý như thành.”

Còn trong ngữ lục của ngài Bàn Sơn ghi lại rằng:

“Người tu hành rất kỵ là: nói chuyện phải quấy, hay dở của người, cho đến tất cả những việc chẳng liên quan đến mình. Miệng không được nói, lòng không được nghĩ. Nhưng nếu miệng thốt lời, tâm khởi nghĩ tức thời làm mê muội chính mình rồi. Nếu chuyên ròng luyện tâm, thường dò xét lỗi mình thì đâu có rảnh công phu mà đi dòm ngó việc của nhà người? Dù cho tan xương nát thân cũng chỉ mong làm sao tâm không loạn động. Nắm chặt tâm mình như một pho tượng Thánh bằng gỗ, ngồi ở trong nhà trọn ngày không có một ai, cũng như thế! Dù cho phướn lọng bao che, hương hoa cúng dường, cũng như thế! Dù cho ai khen ngợi cũng như thế! Hay hủy báng, cũng như thế! Người tu hành lúc nào cũng để tâm trên vô sự. Từng giờ, từng phút thể cứu xét lấy chỗ manh mối của bổn mạng nguyên thần của chính mình.”

Tại sao Ngài nhấn mạnh “Dù cho phướn lọng bao che, hương hoa cúng dường, cũng như thế! Dù cho ai khen ngợi cũng như thế! … Người tu hành lúc nào cũng để tâm trên vô sự”?

Đây là điểm người tu cần lưu ý trong quá trình dụng công tu hành. Bởi nếu chúng ta thích được khen ngợi hay thú vị trong cảnh phướn lọng bao che vì được vua quan kính trọng, Phật tử cung kính cúng dường thì vô hình chung người xuất gia đã bị trói buộc trong “danh sắc” thế gian mất rồi!

Nên thiền sư Đạo Giai Phù Dung dạy:

“Ngộ thinh ngộ sắc như thạch thượng tài hoa,

Kiến lợi kiến danh như nhãn trung trước tiết.”

Nghĩa:

“Nghe tiếng, thấy sắc như trồng hoa trên đá,

Thấy lợi thấy danh như bụi rơi trong mắt.”

Khi chúng ta dính mắc vào danh lợi thì tâm thức luôn hướng đến con đường này để đạt được nó bằng mọi cách – đây là tâm lầm chấp tà kiến chứ không phải chánh kiến ở chốn Phật môn. Hơn nữa tranh giành đoạt lợi chưa bao giờ đưa đến hòa bình vì trong lịch sử phong kiến của nhân loại đã chứng minh cho ta thấy do tranh ngôi đoạt vị, huynh đệ sẵn sàng tiêu diệt, tương tàn nhau không thương tiếc. Cho nên người tu phải giữ mình luôn dè chừng trước “danh – sắc”.

Ngay từ thời cổ đại rất xa xưa, ẩn sĩ Hứa Do cũng cự tuyệt đế vị mà quy ẩn, không theo đuổi cuộc sống tiền tài danh vọng tột đỉnh nhất.

Thời Nghiêu Đế trị vì, thiên hạ thái bình, dân chúng khắp nơi đều sinh sống an ổn. Nghiêu Đế cảm thấy bản thân đã già yếu, con là Đan Chu lại không tốt nên không muốn nhường ngôi cho con, không muốn làm hại thiên hạ. Ông mong muốn tìm người đức hạnh để nhường ngôi vị. Nghiêu Đế nghe nói Hứa Do là người thanh cao đại chí, liền phái người đến cầu hiền, muốn nhường đế vị cho Hứa Do.

Hứa Do nói rằng: “Nghiêu Đế trị vì, quốc gia thịnh vượng, tôi tiếp nhận để cầu hư danh ư? Con chim nhỏ tìm được chỗ đứng trên cành cây trong rừng, đã vui mừng hót không ngừng. Con chuột đồng uống nước bên bờ sông, chỉ một chút nước thôi cũng khiến bụng chướng lên. Tôi không có hứng thú với thiên hạ.

Nghiêu Đế biết rằng không dễ lay chuyển ý chí của Hứa Do, bèn đến tận nhà thăm. Hứa Do vẫn từ chối, nói rằng: “Tôi tuổi đã cao, nhu cầu không nhiều, hãy cứ để tôi làm một người dân bình thường”. Thế rồi ngay trong đêm đó, Hứa Do trốn đến bên sông Dĩnh ở Ky Sơn, tự cày cấy mà ăn, ẩn cư không chịu ra.

Nghiêu Đế thấy Hứa Do khiêm tốn như vậy lại càng thêm kính trọng, phái người đi mời, nói rằng: “Nếu ông quyết không tiếp nhận đế vị, thì hi vọng ông có thể ra làm Cửu châu trưởng.”

Hứa Do nghe qua, liền bỏ chạy. Hứa Do nghĩ: “Nghiêu Đế không hiểu tâm tư của ta”. Thế là Hứa Do liền tới bên sông mà rửa tai ngay trước mặt sứ giả, vờ tỏ ý rằng chuyện làm đế làm vương là chuyện dơ bẩn…

Người thế gian còn có những bậc khước từ danh vị mà vui thú điền viên như vậy. Huống hồ con nhà Thích tử đã từ bỏ thế gian sao lại đắm say trong danh lợi phù du? Chính cái dính mắc trong danh lợi khiến hành giả vô tình tạo khẩu nghiệp mà không hay biết.

Câu chuyện Ngài Thập Đắc dùng trâu khai thị cho tăng chúng cũng có đề cập đến hai chữ “danh vị”:

Ngài Thập Đắc hiện thân trong chùa Quốc Thanh là đứa bé mồ côi bị bỏ ngoài đường, ngài Phong Can đem về giao cho chùa nuôi, nên đặt tên là Thập Đắc. Thường ngày, ngài Thập Đắc chăn trâu ở trang sở của chùa Quốc Thanh, vừa chăn trâu vừa ca hát vang trời.

Một hôm, chư tăng nhóm họp làm lễ Bố-tát thuyết giới, ngài Thập Đắc lùa trâu tới, dựa vào cửa vỗ tay cười to, nói: “Đông đảo tụ đầu” tức là một nhóm đông đảo tụ đầu lại.

Lúc đó vị thủ tọa Trì Luật thấy vậy quở: “Kẻ cuồng này! Vì sao lại đến làm ồn ào, cản trở việc thuyết giới vậy”.

Ngài Thập Đắc nói: “Tôi chẳng phải là thả trâu, vì bầy trâu này đa số là những người trông coi chức việc của chúng tăng trong chùa đây thôi”. Nói xong, Ngài gọi pháp hiệu của từng vị tăng đã chết, rồi chỉ con trâu nào là vị tăng tên gì đó đã tịch rồi …, liền khi đó con trâu đi tới. Ngài bèn đọc kệ:

Đời trước chẳng trì giới

Mặt người mà lòng thú

Ngươi nay tạo lỗi này

Lại oán hận người nào?

Sức Phật tuy rất lớn

Mà ngươi phụ ơn Phật.

Lúc đó chúng tăng kinh sợ và cũng từ đó trong chúng tăng tự kiểm tra mình rồi sửa đổi tu hành.

Ngài muốn khai thị rằng: Mình được thân người nhưng lại có lòng thú – khi chúng ta có một niệm ác khởi lên muốn hại người, mình phải biết rằng tâm đó là của loài thú chứ không phải của con người. Ngay khi quán chiếu như thế chúng ta liền chuyển hóa cái “tâm thú” này cũng tức là “hằng chuyển các điều ác”. Bởi nếu người tu không biết nội quán, mà cứ miên man duyên theo những niệm xấu ác như thế thì ngay trong lúc còn sống chúng ta đã đi trong con đường súc sanh, ngạ quỷ – đó là những mầm mống ban đầu cho đạo lộ ấy.

Đọc lại sách xưa chúng ta thấy rằng khái niệm “bậc quân tử” của Trung Hoa cổ đại muốn hàm nghĩa những con người sống có đạo đức. Khổng Tử đã từng nói: “Lời nói của bậc quân tử là phát xuất từ trong tâm bởi vì họ thực sự quan tâm đến hạnh phúc của người khác”. Cho nên bậc quân tử ở thế gian còn nghĩ đến đức hạnh – vì người mà quên mình, lời nói và hành vi của họ đều là kết tinh của tình thương, lòng tốt và sự vị tha. Vậy cớ sao hàng Thích tử con Phật lại có những tâm niệm bất chính hại người? Chúng ta cần xét nét kỹ điều này: Chớ vì những danh vị ảo huyền mà có tâm niệm trái với đạo lý hướng thượng xuất thế của nhà Phật. Do đó người tu hành muốn đối trị với tâm bất thiện thì phải phát thệ nguyện rộng lớn mới có thể khắc phục và vượt qua được cái tập khí thế tục không tốt này.

Ở hai câu kệ Tỳ ni đầu dạy rằng:

Súc miệng lòng sạch luôn

Nước miệng thơm trăm hoa.

Về điểm này trong kinh Pháp cú, Đức Phật cũng dùng hình ảnh hương hoa để ẩn dụ cho người có đức hạnh:

Hương các loài hoa thơm

Không bay ngược chiều gió

Nhưng hương người đức hạnh.

Ngược gió khắp tung bay.

Chỉ có bậc chân nhân.

Hương tỏa mọi phương trời.

Vì vậy việc “súc miệng” được dùng bằng các phương tiện hương Giới, Định, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến thì kết quả sẽ được hương “công đức” tỏa khắp không cùng tận. Ngược lại nếu người tu không dùng ngũ phần hương để “súc rửa” tâm mình thì những hạt giống của tâm niệm bất thiện sẽ đưa chúng ta đến cảnh giới tương ứng khi ở giai đoạn cận tử nghiệp.

Cho nên:

Ba nghiệp luôn trong sạch

Cùng Phật về Tây phương.

Ba nghiệp là thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Tuy nói ba nghiệp nhưng ý nghiệp vẫn là quan trọng nhất. Tại sao ý nghiệp là quan trọng nhất trong ba nghiệp? Bởi tất cả những việc làm trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta đều là biểu hiện của tâm ý động niệm mà khởi ra. Hành vi từ thân và miệng bên ngoài có gốc từ tâm niệm bên trong. Cho nên nếu không ngăn dừng ý nghiệp thì nói và làm có thể xảy ra liền theo đó.

Trong thiền sử có ghi lại cuộc đối đáp nổi tiếng giữa Bạch Cư Dị (được xem là “thi tiên” của Trung Hoa đời nhà Đường) và Thiền sư Ô Sào. Trong đó quan điểm về thực hành chuyển hóa tâm ý cũng được nhắc đến:

Chuyện kể rằng ở phía Bắc Tây Hồ, nơi núi Tần Vọng có một cây tùng cao lớn, cành lá sum suê, uốn quanh như cái lọng, có một vị Sư tu hành trên cây đó. Vì thế, người thời bấy giờ gọi Sư là Thiền Sư Điểu Khòa (Tổ Chim).

Đời Đường (772-846), khoảng niên hiệu Trường Khánh năm thứ hai (822), quan Thái thú Hàng Châu là Bạch Cư Dị, tự là Lạc Thiên, một thi hào nổi tiếng thời bấy giờ, nhân vào núi yết kiến, thấy Sư ngồi trên tổ chim, liền hỏi:

– Sao Thiền sư ngồi nơi nguy hiểm quá vậy?

Ngài đáp:

– Chỗ ngồi của Thái thú còn nguy hiểm hơn nhiều.

Bạch Cư Dị nói:

– Đệ tử là viên quan trọng yếu của đương triều, địa vị trấn cả giang sơn, có gì mà nguy hiểm?

Thiền sư nói:

– Củi lửa giao nhau, thức tánh chẳng dừng, quan trường thay đổi, tranh chấp lẫn nhau. Chỗ ngồi của đại quan là dưới vua, mà trên các quan và trăm họ. Vua thương thì quần thần ghét, được lòng dân thì không vừa lòng vua, tính mạng của đại quan và thân quyến đều lệ thuộc vào lòng thương ghét của vua và sự tật đố tị hiềm của mọi người, một chiếc ghế được kê trên đầu lưỡi thiên hạ thì không nguy hiểm sao được!

Bạch Cư Dị như hiểu được phần nào, nên hỏi tiếp:

– Thế nào là đại ý Phật pháp?

Thiền sư đáp:

Không làm các điều ác

Làm tất cả điều lành

Giữ tâm ý trong sạch

Đó là lời Phật dạy.

Bạch Cư Dị nghe xong thầm nghĩ, ngỡ là Thiền sư sẽ khai thị đạo lý thâm sâu cho mình, không ngờ Ngài lại nói ra điều tầm thường đến thế. Cảm thấy quá thất vọng, Bạch Cư Dị nói:

– Đạo lý này đứa bé ba tuổi cũng biết nói.

Thiền sư mỉm cười:

– Đúng thế! Đứa bé ba tuổi cũng nói được, nhưng ông lão 80 tuổi làm chưa xong.”

Thật vậy đối với Phật giáo, đoạn trừ tất cả việc ác, thực hành các điều lành, vẫn chưa phải là toàn diện, điều quan trọng và phải thiết yếu hơn hết đó là phải “giữ tâm ý trong sạch”. Bởi vì trong dòng chảy của cuộc đời, chúng ta luôn luôn cảm thấy bất an, lo lắng, và điều đáng lo ngại nhất là ta không biết cách để ổn định và hàng phục vọng tâm của chính mình. Hay hiểu đơn giản nếu chúng ta muốn khẩu nghiệp “thơm ngát hương hoa”, thì điều phục ý nghiệp vẫn là cốt lõi trong tu tập.



Bài 32: XUẤT TÍCH TRƯỢNG

(Lấy tích trượng)

Tích trượng tiếng Phạn là Khiết-khí-la (khakkara), cũng dịch là “khí trượng” hay “đức trượng”. Nguyên nhân Phật chế cho tỳ-kheo được dùng tích trượng (gậy thiết) là do có một vị tỳ-kheo đi khất thực vào trong nhà có nhiều cửa không biết lối ra, bị gia chủ hiểu lầm đánh thương tích và bể bát. Vì vậy công dụng của tích trượng là để báo cho tín thí biết có tu sĩ bộ hành khất thực.

Hình dạng của tích trượng là ở đầu gậy có ba ngấn, bốn múi, và treo mười hai cái vòng đều bằng kim loại để lắc tạo ra tiếng động mà báo hiệu cho người ta biết.

Ba ngấn tượng trưng cho Tam bảo.

Bốn vòng tượng trưng cho Tứ Đế (Khổ – Tập – Diệt – Đạo).

Mười hai vòng khoen tiêu biểu cho Thập nhị nhân duyên.

Các pháp khí trong đạo Phật điều hàm chứa ý nghĩa pháp hành của người xuất gia. Cho nên trong Kinh Địa Tạng có câu:

Tích trượng cầm trong tay

Mở toang cửa địa ngục.

Ngài Địa Tạng Vương Bồ tát đã dùng tích trượng để đi vào địa ngục hướng dẫn cho thập loại chúng sanh đang bị đọa biết được chánh pháp để tự giải thoát khỏi cảnh khổ đau hướng về Phật đạo – đạo lý này được biểu trưng bằng hình ảnh Ngài dùng tích trượng ấn xuống đất để mở toang các cửa địa ngục trong câu “Chấn khai địa ngục chi môn”.

Trở lại nội dung trong bài kệ Tỳ ni “Xuất tích trượng”, kệ tụng rằng:

Chấp trì tích trượng

Đương nguyện chúng sanh

Thiết đại thí hội

Thị như thật đạo.

Nghĩa:

Cầm nắm tích trượng

Cầu cho chúng sanh

Thiết hội đại thí

Chỉ đạo như thật.

Vào thời xưa ở Ấn Độ, người ta đã rất tôn kính những vị đi khất thực, nhưng ngược lại theo quan điểm của người Trung Hoa việc đi khất thực chẳng khác nào hạng ăn xin thấp kém trong xã hội. Từ đó, Hoàng đế Võ Tắc Thiên không muốn cho chư tăng ở Trung Hoa đi khất thực nữa nên đã nghiêm cấm việc hành khất này. Song chư Tăng trú xứ cố định ở các tự viện lại được thí chủ dâng tín vật đến cúng dường. Kể từ đó công năng của của tích trượng có thay đổi đôi chút so với mục đích sử dụng ban đầu – tích trượng hay gậy trong thiền môn trở thành phương tiện “đánh thức” học nhân trở về với thực tại trong bối cảnh mới.

Về sau, các vị thiền sư hay dùng tích trượng nhằm khai thị đồ chúng. Chúng ta hãy thử nghe Thiền sư Vân Môn nói về “tích trượng”:

“Thiền sư Vân Môn đưa gậy lên bảo: Cây gậy này phàm phu gọi nó là gậy. Nhị thừa phân tích nó thành Không. Duyên giác thì nói nó như huyễn. Bồ tát thì nói đương thể tức Không. Thiền sư thì cây gậy nói là cây gậy mà không được đụng đến.”

Ngài nói phàm phu gọi nó là gậy, tức chấp gậy là thật có – mà thấy có thật thì tham ái muốn đạt được, nếu không sở hữu được thì lại khởi lòng sân. Cho nên phàm phu thấy cái gì thì nói có cái đó.

Nhị thừa lại phân tích nó là Không vì nó không có thực thể – tuy có đó nhưng vô thường, nghĩa là sẽ bị hoại diệt thành Không.

Duyên Giác gọi là huyễn có – như huyễn, như hóa nhưng không thật, do duyên hợp mà thành.

Bồ-tát thì nói đương thể tức Không, các Ngài không phân tích, không quán chiếu nhưng ngay đây biết nó là Không. Ngay sắc ngộ ra Không liền.

Nhưng thiền giả thì sao? “Cây gậy” là “cây gậy”, bặt niệm đối đãi có hay không – tức không động đến cảnh mà chỉ nhận lại tâm của mình: biết đó là “cây tích trượng”, ngay đó không có bất kỳ niệm nào khác nữa.

Cho nên một hôm, có một vị tăng sĩ hỏi Hòa thượng Càn Phong:

“Bạch Hòa Thượng, thế nào là Thập phương bạt già phạm, nhất lộ Niết bàn môn? Thử hỏi đầu đường ở chỗ nào?”

(Kinh Lăng Nghiêm nói: Thập vạn chư Phật đều đi theo một con đường để được vào cửa Niết Bàn thanh tịnh. Nhưng vị tăng vẫn chưa biết con đường đó bắt đầu từ đâu)

Hòa Thượng Càn Phong mới cầm cây tích trượng giơ lên, vạch một đường trên không trung và nói:

Đây!

(Kiến sắc minh tâm – tức từ cửa nhãn căn, con mắt mà nhận ra trực tâm vốn sẵn có của mình. Nếu ngay đó ta không dấy niệm thì đó là chỗ đi vào con đường Niết-bàn)

Còn trong quyển Chứng Đạo Ca có thuật lại câu chuyện giữa Ngài Huyền Giác và Lục Tổ Huệ Năng với hình ảnh “chống tích trượng” độc đáo của Thiền tông:

“Huyền Giác vừa gặp Lục Tổ đi quanh ba vòng chống tích trượng đứng thẳng.

Lúc này, Lục Tổ quở rằng:

– Phàm là bậc Sa môn phải đủ ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, nhân giả từ đâu đến mà sanh cái tâm ngã mạn như thế!”

Tuy nhiên, khi thiền sư Huyền Giác vừa chống tích trượng thì ngay đó Lục Tổ Huệ Năng cũng đã nhận ra đây là một bậc pháp khí. Vì sao Tổ nhận định như vậy? Bởi đi ba vòng tiêu biểu cho trong thân ngũ uẩn này đã có Phật, Pháp, Tăng rồi. Nhưng cái gì biết điều này? Và có mấy ai nhận ra được trong thân tứ đại lại có một năng lực diệu dụng như vậy?

Như vậy bước đầu ngài Huyền Giác diện kiến với Lục Tổ thì Tổ đã thầm ấn chứng cho Ngài. Sau này Lục Tổ có nhấn mạnh điểm này trong Kinh Pháp Bảo Đàn: “Tự tâm quy y giác, tà mê chẳng sanh. Thiểu dục tri túc hay lìa tài sắc, gọi là Lưỡng túc tôn.”

“Tự tâm quy y giác” tức là trở về với Phật của mình thì “tà mê chẳng sanh” nữa – có nghĩa một niệm bất thiện vừa dấy lên, ta liền nhận biết thì tà kiến, mê lầm không thể tăng trưởng. Rồi “Thiểu dục tri túc hay lìa tài sắc” – khi ta có tâm tham ái ngũ dục chẳng qua là vì ta không biết “thiểu dục tri túc”. Khi không biết hài lòng với những gì mình đang có, điều đó đồng nghĩa ta đang là nô lệ của lòng tham, bị tâm tham chi phối và nó gây ra nhiều phiền não loạn tâm trong tiến trình tu tập.

Do đó, trong kinh Di Giáo, Phật dạy:

“Này các Tỳ kheo! Nếu các ông muốn thoát khỏi sự khổ não, nên suy nghiệm hai chữ ‘Tri túc’”. Hễ biết đủ thì ở cảnh nào cũng yên vui. Người không biết đủ, tuy giàu mà nghèo; người biết đủ tuy nghèo mà giàu. Người không biết đủ thường bị năm thứ ham muốn kéo dắt, làm người biết đủ thương hại.”

Vậy tại sao “Thiểu dục tri túc hay lìa tài sắc, gọi là Lưỡng túc tôn”?

Một người lìa được tài sắc và tà mê chẳng sanh thì ngay đó phước huệ đầy đủ. Bởi “Lưỡng túc tôn” là một bậc có phước huệ tròn đủ. Hay nói khác hơn, pháp tu thiểu dục tri túc mang lại phước huệ viên mãn cho hành giả tu Phật vì ta tìm được sự bình an nơi tâm hồn và tự tại giữa cuộc sống, không bị ngũ dục chi phối trong mọi hoàn cảnh.

Lục Tổ Huệ Năng lại nói:

“Tự tâm quy y chánh, niệm niệm không tà kiến. Vì không tà kiến tức không nhân ngã cống cao, tham ái chấp trước gọi là Ly dục tôn”

Tà kiến là chấp thân này của mình là thật, chấp địa vị mình đang có cũng là thật – chấp viện chủ, chấp trụ trì … là thật. Đây là những tà kiến chấp trước ở thế gian, nhưng người tu sĩ khi chấp vào những chức vị trong tùng lâm thì cũng chẳng khác nào hình tướng xuất gia mà tâm thế tục. Hơn nữa, chính những cái chấp này khiến người hành đạo vô hình chung sanh tâm ngã mạn cống cao mà không hay biết.

Theo tinh thần “tuệ giải thoát” được Phật dạy trong kinh Tăng Chi Bộ:

Khi chưa học đạo mình chấp thân này là thật, tài sản của cải là thật. Sau khi vào đạo tu tập ta mới khám phá ra rằng cuộc đời này là vô thường. Thì ngay trong giờ phút thực tại đó gọi là “tuệ giải thoát”, chứ không phải tới lúc chết bỏ thân này mới được giải thoát. Phương pháp mà Đức Phật nêu lên ở đây là từng niệm tỉnh giác về sự vô thường thì ngay đó ta đang có “tuệ giải thoát”.

Cho nên đem tự tâm trở về nương tựa với Chánh, là lìa bỏ những thiên lệch sai lầm kia đây. Nơi mỗi niệm đều hướng về Chánh nên không để tà kiến sanh khởi, trong tâm không có tà kiến thì các thứ nhân ngã, cống cao, tham ái, chấp trước không có chỗ sanh. Không sống theo những tâm nhân ngã, cống cao, tham ái, chấp trước thì không đi lệch ra ngoài nghĩa Chánh của Pháp, thành tựu được Ly Dục Tôn.

Lục Tổ Huệ Năng dạy tiếp:

“Tự tâm quy y tịnh, tất cả cảnh giới trần lao ái dục, tự tánh đều không nhiễm trước gọi là Chúng trung tôn”.

Đem tự tâm trở về nương tựa với Tịnh, tức xa lìa các cảnh giới trần lao, ái dục, sống trở về với tự tánh thanh tịnh thì không có những nhiễm trước, thành tựu an ổn trong chỗ chúng đông người, nên gọi Chúng trung tôn.

Tóm lại, tích trượng trong thiền tông gọi là cây gậy thiền. Trong khi cây tích trượng có công năng giúp tăng nhân đi một cách vững chãi trên bước đường hóa duyên hành đạo, thì cây gậy thiền lại có công dụng giúp hành giả dẹp hết mọi vọng tưởng, buông hết mọi dính mắc và nhận ra bản tâm thanh tịnh vốn có của mình.



Bài 33: PHU ĐƠN TỌA THIỀN

(Bày đơn ngồi thiền)

Nhược phu sàng tọa,

Đương nguyện chúng sanh

Khai phu thiện pháp

Kiến chân thật tướng.

Nghĩa:

Nếu bày giường ngồi

Cầu cho chúng sanh

Mở bày pháp tánh

Thấy tướng chân thật.

Bài Tỳ ni này dạy về công phu: khi hành giả bày giường ngồi thì phát nguyện cho chúng sanh mở bày pháp tánh, thấy được tướng chân thật.

Vậy làm thế nào mở bày được “pháp tánh” và thấy được “tướng chân thật”?

Trong kinh Di Giáo, Đức Phật dạy:

“Tỳ kheo các ông! Nếu nhiếp tâm lại thì tâm sẽ được định. Nhờ tâm được định, có thể biết được các tướng của pháp sanh diệt ở thế gian. Vậy nên các ông thường phải tinh tấn tu tập các pháp định. Nếu người được định thì tâm chẳng tán loạn. Ví như người muốn giữ nước, phải khéo đắp sửa bờ đê. Người tu cũng thế, vì giữ nước trí tuệ, nên khéo tu thiền định, chẳng để cho rỉ chảy mất. Như vậy gọi là Thiền định”.

Như vậy trong kinh Di Giáo, Phật dạy khi nhiếp tâm được định nên có thể biết được “các tướng của pháp sanh diệt ở thế gian” – đây là “tướng chân thật” mà bài kệ Tỳ ni đang đề cập đến. Mà muốn nhiếp được tâm thì phải tu Thiền định.

Vậy Thiền định là gì?

Thiền, gọi đầy đủ là Thiền-na, là thuật ngữ Hán-Việt được phiên âm từ dhyāna trong tiếng Phạn. Tất cả các trào lưu triết học Ấn Độ đều hiểu dưới gốc động từ này là sự tư duy, tập trung lắng đọng và vì vậy, ta cũng tìm thấy từ dịch ý Hán-Việt là Tĩnh lự.

Tĩnh lự có nghĩa là để tâm vắng lặng không để khởi các vọng tưởng tư lự (tức là chỉ) để cho tâm thể được sáng tỏ.

Còn chữ Định nguyên tiếng Phạn là Samadhi (hợp nhất người suy tư và đối tượng suy tư). Trung Hoa phiên âm là Tam muội, nghĩa là tập trung tư tưởng vào một cảnh duy nhất không cho tán loạn.

Như vậy Thiền định có một ý nghĩa chung như sau:

“Tập trung duy nhất, không cho tán loạn, để cho tâm thể được vắng lặng, tâm dụng sáng tỏ, mạnh mẽ, đặng quan sát và suy nghiệm chân lý” (trích Phật học Phổ thông – Thiền Nguyên Thủy)

“Ngoài không vướng bận nơi tướng là Thiền, trong chẳng loạn là Định”; “Ngoài đối với tất cả cảnh giới thiện ác tâm niệm chẳng khởi gọi là tọa, trong thấy tự tánh chẳng động gọi là Thiền” (trích Pháp Bảo Đàn Kinh – Thiền Thượng Thừa).

Tuy nhiên, Thiền sư Đạo Nguyên (Tông Tào Động – Nhật Bản) khẳng định rằng:

“Thiền không phải là một tôn giáo, một học thuyết, một triết lý, một khái niệm suy luận. Những cái gì thêu dệt bằng ý niệm, khuôn phép cơ cấu tưởng tượng thì Thiền vắng bóng. Thiền không phải vậy mà Thiền trực nghiệm trong cuộc sống thực tại để trở về với con người chân thật của chính mình”

Tại sao Thiền không phải là một tôn giáo? Bởi vì tất cả các tôn giáo khác nói chung đều có thiền nhưng nghịch lý ở chỗ trong thân họ có thiền nhưng họ không bao giờ nắm bắt và thấy được điều đó – nếu không có thiền thì ăn cơm, “ai biết” ăn cơm? Mặc áo, “ai biết” mặc áo? Hay nói khác hơn, trong sự vận hành của muôn pháp, họ đều có “Thiền” nhưng họ không phát hiện được thực tại tối hậu này.

Riêng người Phật tử nhờ nhân duyên được lĩnh hội Pháp từ chư Phật, chư Tổ, nên thấy được rằng trong tự thân mình, nếu chúng ta chịu khó tu tập thì sẽ “mở bày được pháp tánh và thấy được cái tướng chân thật”. Do đó, Thiền sư Đạo Nguyên khi nói: Thiền không phải là một tôn giáo, học thuyết, triết lý, suy luận bởi Ngài muốn nhấn mạnh rằng đã là con người thì đều có “Thiền” nhưng lạ thay khi ta vọng tưởng, suy niệm về Thiền thì ngay đó Thiền vắng bóng.

Tuy nhiên trong cuộc sống này, nếu chúng ta thể nghiệm vào khoảnh khắc hiện tại, sống hết mình trong khoảnh khắc đó với những suy nghĩ, lời nói và hành động tỉnh thức thì ngay đó Thiền hiện hữu – bởi Thiền không phải là một lý thuyết, một ý tưởng hay một phần của kiến thức. Nó không phải là niềm tin, tín điều hay tôn giáo, mà đó là một kinh nghiệm thực tế.

Vậy tại sao Thiền cũng không phải là một phần của kiến thức?

Một vị giáo sư của một trường đại học danh tiếng đến tìm gặp Thiền sư vì đã được nghe nói về trí tuệ cũng phẩm hạnh cao quý của Ngài. Để chứng tỏ bản thân với Thiền sư, ông ta giới thiệu một cách đầy tự hào về tất cả các danh hiệu, bằng cấp mà ông ta đã đạt được trong suốt những năm dài vất vả học tập và làm việc. Sau đó, vị giáo sư nói lý do của chuyến viếng thăm, đó là muốn tìm hiểu tất cả những trí tuệ của Thiền.

Thay vì đưa ra lời giải đáp, Thiền sư mời ông ta ngồi xuống và pha một ấm trà. Ngài rót cho giáo sư một chén trà và khi đầy chén, ngài vẫn tiếp tục rót. Vị giáo sư nhìn nước trà tràn ra bàn cho đến khi không nhịn được nữa, bèn lên tiếng: “Trà đã đầy tràn rồi, không thêm được nữa đâu!”. Bấy giờ, Thiền sư mới thong thả đặt ấm trà xuống và nói: “Thì cũng như chén trà này, ông mang đầy những tư kiến và thành kiến. Làm sao tôi có thể chỉ cho ông về Thiền nếu ông không tự làm cạn cái chén của mình.”

Câu chuyện cho thấy rằng với một tâm trí đầy những thành kiến, những suy nghĩ bảo thủ, chúng ta không thể học hỏi, tiếp thu những tri thức mới, những triết lý cao đẹp ở đời, nhất là triết lý Thiền. Trừ khi ta tự làm cạn những “chén trà tri giải” trong tâm hồn mình với một thái độ khiêm cung, dẹp bỏ sự chấp ngã cố hữu từ bao đời.

Có sự khác biệt giữa các loại Thiền hay không?

Đối với Thanh văn Thiền thì dùng pháp tùy bệnh mà đối trị (tham dục quán bất tịnh, sân hận quán từ bi …) tức là có pháp đối trị và có pháp tu chứng, đây là điểm khác biệt với Tổ sư Thiền (Tự tánh thanh tịnh Thiền – ngồi thiền để mở bày pháp tánh thấy được tướng chân thật).

Còn các pháp thiền định của Đại thừa rất đa dạng như: Lục Diệu Pháp Môn, Tam Quán, Pháp Hoa Tam Muội, Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội, … v.v

Điển hình Thiền Đại thừa ứng dụng về pháp Tam quán (quán Không, quán Giả, quán Trung) y cứ bài kệ trong quyển Trung Quán Luận của Bồ tát Long Thọ:

Nhân duyên sở sanh pháp

Ngã thuyết tức thị không

Diệc danh vi giả danh

Diệc danh trung đạo nghĩa.

Nghĩa:

Nhân duyên sanh các pháp

Ta nói tức là Không

Cũng gọi là giả danh

Cũng gọi nghĩa Trung đạo.

Chung quy, dù là Thanh văn Thiền hay Đại thừa Thiền đều phải có pháp quán để tu – mà có pháp quán thì tu theo từng thứ bậc. Như vậy nếu hành giả chấp vào pháp thiền mình đang tu sẽ có sở chứng, sở đắc. Điều này được thiền sư Tịnh Không (1091 – 1170, đời thứ 10, thiền phái Vô Ngôn Thông) đề cập đến trong bài kệ:

Trí nhân vô ngộ đạo,

Ngộ đạo tức ngu nhân.

Thân cước cao ngọa khách,

Hề thức ngụy kiêm chân.

Nghĩa:

Người trí không ngộ đạo,

Ngộ đạo tức kẻ ngu.

Khách nằm thẳng duỗi chân,

Nào biết ngụy và chân.

Thiền sư muốn khẳng định “người trí” thì không nói ngộ đạo, ngược lại người nào tự xưng là mình ngộ đạo, ngộ pháp rồi thì chắc chắn không phải lời của bậc chánh nhân.

Và thế nào là ngoại đạo Thiền?

“Ngoại tâm cầu Phật, danh vi ngoại đạo” – có nghĩa là một hành giả tu thiền nếu khi dụng công mà hướng tâm đến một vị Phật hay cảnh giới bên ngoài thì cũng xem là “ngoại đạo” (Thiền xuất hồn – bay đến cảnh giới khác hay mong có được phép màu thần thông…). “Ngoại đạo” ở đây muốn nói là đi ra ngoài tinh thần mà Đức Phật chỉ dạy. Đây cũng là điểm khác biệt lớn giữa Thiền ngoại đạo và Thiền tông.

Trong Thiền sư Trung Hoa có thuật lại câu chuyện liên quan “thần thông” như sau:

Quốc Sư Huệ Trung (675-772, đời thứ 1 sau Lục Tổ), sau khi được tâm ấn nơi Lục tổ Huệ Năng, Sư về ở cốc Đảng Tử trên núi Bạch Nhai, Nam Dương. Nơi đây tu hành, hơn bốn mươi năm Sư chưa từng xuống núi. Đạo hạnh của Sư được dân chúng đồn đãi đến tai nhà vua.

Đời Đường niên hiệu Thượng Nguyên năm thứ hai (٧٦١) vua Túc Tông sai Trung sử Tôn Triều Tiến mang chiếu đến thỉnh Sư về kinh đô. Sư về đến triều, Vua kính Sư làm Thầy. Lúc đầu thỉnh Sư ở Tây Thiền viện tại chùa Thiên Phước, sau Vua thỉnh về chùa Quang Trạch gần nội cung. Hơn mười sáu năm, Sư tùy cơ thuyết pháp.

Một hôm, có Đại Nhĩ Tam Tạng người Ấn sang đến kinh đô, tự nói được tuệ nhãn và tha tâm thông. Vua muốn trắc nghiệm nên mời ông đến ra mắt Quốc sư. Tam Tạng đến, vừa thấy Sư, liền lễ bái khoanh tay đứng hầu bên hữu.

Sư hỏi: Ông được tha tâm thông chăng?

Tam Tạng đáp: Chẳng dám.

Sư hỏi: Ông nói xem, hiện giờ lão tăng đang ở chỗ nào?

Tam Tạng đáp: Hòa thượng là thầy một nước, sao lại đến Tây Xuyên xem đua thuyền.

Sư lại hỏi: Ông nói xem, hiện giờ lão tăng đang ở chỗ nào?

Tam Tạng đáp: Hòa thượng là thầy một nước, sao lại đứng trên cầu Thiên Tân xem khỉ làm xiếc?

Lần thứ ba, Sư cũng hỏi y như trước. Tam Tạng lặng thinh không biết chỗ đi.

Sư nạt: Dã hồ tinh! Tha tâm thông ở chỗ nào?

Tam Tạng lặng câm.

Chúng ta thấy hai lần đầu Đại Nhĩ Tam Tạng nói được là do Quốc sư thị hiện khởi tâm đến bến đò Tây Xuyên, đến cầu Thiên Tân, còn lần thứ ba ông không thấy, như vậy thì ông có thật thấy Quốc sư Huệ Trung hay không? Bởi vì Quốc sư là bậc đạt đạo cho nên Ngài tự tại. Hễ muốn nghĩ thì nghĩ, muốn dừng thì dừng; không phải giống như mình, không muốn nghĩ mà nó cứ nghĩ, còn muốn dừng nó lại không dừng. Khi Quốc sư khởi niệm đến bến đò Tây Xuyên, khởi niệm đến cầu Thiên Tân thì ở trong tâm có tướng hiện nên ông thấy được. Lần thứ ba, Quốc sư dừng lại không khởi niệm thì đâu có tướng gì nên ông không thấy được. Nhưng chính đó mới thật là Quốc sư. Như vậy, nếu như tâm ông thật sự sáng rõ ràng, thì ngay khi Quốc sư hỏi “Tôi ở đâu?”, ông lễ bái là xong. Ngay lúc Quốc sư đang đối diện trước mắt ông mà ông không thấy được, còn hai lần trước Quốc sư đi chỗ này chỗ kia mà thấy, thì đó chỉ là cái bóng của Quốc sư.

Đây là điểm cần lưu ý vì tâm thái của “Đại Nhĩ Tam Tạng” chẳng khác nào căn bệnh chung của phần lớn chúng ta: luôn chạy theo sáu trần hay ngũ dục bên ngoài mà đánh mất con người thực tại đang hiện tiền. Điều này minh chứng cho thấy tha tâm thông thường chỉ thấy được cái bóng, còn khi cái chân thật hiện thì không thấy được. Như vậy thần thông chỉ thấy được bên ngoài, còn “ông Phật thật” bên trong thì không nhận ra được do hàng ngày chúng ta cứ rong ruổi, phóng dật chạy theo bóng dáng sáu trần.

Cho nên có vị tăng hỏi Điều Ngự:

– Đại tôn đức khổ nhọc tu hành đã trải qua nhiều năm, đối với sáu thông của Phật, Ngài đã được mấy thông?

Ngài đáp:

– Cũng được sáu thông (chứng được lục thông)

– Năm thông kia xin gác lại, thế nào là tha tâm thông?

– Đầy cả quốc độ (cõi nước), trong đó chúng sanh có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai đều biết hết, Như Lai đều thấy hết…

Đây là “Tha tâm thông” của nhà Thiền: Không phải thấy vọng tưởng của người khác mà chính là thấy có bao nhiêu thứ tâm (tham, sân, si) đang hiện diện trong tâm trí mình. Mà cái gì thấy suốt được các vọng niệm đó đang vận hành trong tâm mình. Phải “tánh giác” của mình không? Nên nói “Như Lai đều biết, thấy hết” – Như Lai muốn chỉ đến tánh giác thường hằng mà chiếu soi rõ từng niệm vọng động. Mà thấy rõ được rồi thì cái vọng nó không lừa được mình.

Cho nên theo tinh thần của nhà Phật thì đạo thông quan trọng hơn là thần thông. Vì sao? Vì đạo thông là hiểu rõ tâm mình nên dễ dàng cảm thông với tâm của chúng sanh vạn loại – đạo thông có khả năng thấy được từng ý nghiệp nên mới dừng được sức mạnh của nghiệp. Còn thần thông thì không thể dùng nó để tránh được nghiệp đã tạo.

Do đó, Thiền của Phật giáo không đặt nặng vấn đề sức khỏe, thần thông hay phát ra những tướng lạ diệu kỳ. Không đặt nặng nghĩa là không lấy những tướng đó làm mục đích hướng đến.

Thiền Phật giáo giúp hành giả phá bỏ cái ngã chấp và pháp chấp để nhận ra chân tâm bản tánh của mình. Đó là tri kiến Phật được nói đến trong kinh Pháp Hoa, Phật tánh trong kinh Đại Bát Niết Bàn, Tâm Ma-ha trong kinh Pháp Bảo Đàn, Chân như trong Luận Đại Thừa Khởi Tín, Vô sanh trong Trung Luận v.v…

Song muốn nhận ra tâm đó đòi hỏi hành giả phải đi trên con đường Trung Đạo. Trung Đạo là lìa nhị biên phân biệt – bất cứ niệm nào hiện khởi ở tâm đều phải được nhận biết (tu Quán) và dừng lại (tu Chỉ) không để cho nó sinh khởi tiếp tục. Đó là cách làm cho lực khởi của dòng vọng niệm suy yếu dần. Lực khởi đó Phật gọi là nghiệp lực.

Khi hành giả được tâm tịch diệt rồi, cũng không trụ nơi tâm tịch diệt đó. Không trụ tâm sanh diệt của phàm phu cũng không trụ tâm tịch diệt của Nhị thừa thì ngay đó là vô sanh.

Trên thực tế, không đợi tâm phải hoàn toàn tịch diệt, cái “chân thật” mới hiện bày. Mà cái thật luôn sẵn đó, nên chỉ cần trong một thời ngồi thiền, tâm không rơi vào nhị biên phân biệt thì tâm chân thật ngay tức thời có mặt. Thiền tông gọi là kiến tánh – là thấy được Phật tánh của chính mình. Đây cũng chính là tinh thần “Cầu cho chúng sanh, mở bày pháp tánh, thấy tướng chân thật” mà bài kệ Tỳ ni Phu đơn tọa thiền muốn răn nhắc.



Bài 34: THÙY MIÊN

(Ngủ nghỉ)

Bài kệ Tỳ-ni:

Dĩ thời tẩm tức

Đương nguyện chúng sanh

Thân đắc an ổn

Tâm vô loạn động.

Nghĩa:

Đến giờ ngủ nghỉ

Nguyện cho chúng sanh

Thân được an ổn

Tâm không loạn động.

Trong kinh Nguyên thủy, Đức Phật thường nhấn mạnh về phần ngủ nghỉ. Điển hình là pháp “lục niệm” tức sáu sự nhớ nghĩ của một vị Tỳ kheo trước khi ngủ là:

– Niệm Phật: Luôn luôn nhớ tưởng công đức vô lượng của Đức Phật đã vì chúng sanh tìm ra con đường giải thoát.

– Niệm Pháp: Luôn luôn nhớ tưởng đến giáo pháp của Đức Phật, tư duy tu tập để giải thoát.

– Niệm Tăng: Luôn luôn nhớ tưởng đến hình ảnh trung kiên của Tăng đoàn. Tăng đoàn là những bậc đạo cao đức trọng, đang tiến đến con đường giác ngộ, đang hoằng dương chánh pháp, để ngọn đèn đạo pháp luôn luôn sáng tỏ.

– Niệm Giới: Luôn nhớ nghĩ về giới luật mình đã lãnh thọ để tu trì.

– Niệm Thí: Suy xét về hạnh bố thí, cúng dường hạnh thí xả mọi vọng niệm điên đảo, để tâm được an ổn.

– Niệm Thiên: quán tưởng về chư Thiên với công hạnh bố thí và trì giới nên thành tựu phước lực ở cõi trời.

Vị Tỳ kheo nào quán tưởng những điều trên thì sẽ có giấc ngủ an ổn, không mộng mị. Ngược lại, tâm không nhiếp niệm sẽ gây ức chế không nhỏ cho việc ngủ nghỉ. Điều này trong Luật Thập tụng có nói:

Nhớ nghĩ tán loạn, không nhất tâm, ngủ có năm lỗi:

  • Khổ khó ngủ. (trằn trọc không ngủ được)
  • Khổ khó thức. (thức dậy mệt mỏi)
  • Thấy ác mộng.
  • Lúc ngủ thiện thần không ủng hộ.
  • Lúc thức tâm khó vào phép thiện giác quán (tầm tứ – bám sát và hợp nhất với đối tượng khi thiền tập).

Còn chư Tổ sư thiền cũng có những giai thoại răn nhắc về điều này:

Một hôm, có vị tăng đến hỏi Thiền sư Huệ Hải (Đại Châu Huệ Hải, là một Thiền sư Trung Hoa, môn đệ đắc pháp của Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất):

Hòa thượng tu có dụng công chăng?

Sư đáp: – Có dụng công.

– Dụng công như thế nào?

– Khi đói thì ăn, khi mệt thì ngủ.

– Tất cả người đều như vậy, đồng chỗ dụng công của Hòa thượng chăng?

– Chẳng đồng.

– Tại sao chẳng đồng?

– Họ khi ăn chẳng chịu ăn, đòi trăm thứ cần dùng, khi ngủ chẳng chịu ngủ, tính toán ngàn chuyện, do đó chẳng đồng.

Qua cách trả lời của Thiền sư Huệ Hải ta thấy rằng việc tu hành không có gì quá cao siêu mà nó nằm ngay trong sinh hoạt đời thường, trong đó việc ăn uống ngủ nghỉ điều độ của hành giả đóng vai trò quan trọng đối với công phu thiền định.

Trong kinh Tăng Chi Bộ II, chương 5, phẩm Vua, phần Chúng ngủ rất ít, Đức Phật cũng đề cập đến 5 hạng người ngủ ít mà thức nhiều:

Một thời, Thế Tôn trú ở Vesali, tại Đại Lâm, giảng đường có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn cho gọi các Tỳ kheo:

Này các Tỳ-kheo, có năm hạng người ban đêm ngủ ít, thức nhiều. Thế nào là năm?

Người đàn bà, này các Tỳ-kheo, thao thức đến đàn ông, ban đêm ngủ ít thức nhiều.

Người đàn ông, này các Tỳ-kheo, thao thức đến đàn bà, ban đêm ngủ ít thức nhiều.

Người ăn trộm, này các Tỳ-kheo, thao thức đến đồ ăn trộm, ban đêm ngủ ít thức nhiều.

Vị vua, này các Tỳ-kheo, lo lắng các công việc của vua, ban đêm ngủ ít thức nhiều.

Vị Tỳ-kheo, này các Tỳ-kheo, thao thức đến ly hệ phược, ban đêm ngủ ít thức nhiều.

Phật khẳng định một thầy Tỳ kheo sở dĩ khó ngủ là chưa đoạn tận lậu hoặc nên có tâm trạng lo lắng không biết sau khi chết sẽ đi về đâu? Vì vẫn còn nhiều phiền não, tập khí chưa đoạn trừ nên không dám ngủ nhiều (hoặc là khó ngủ).

Trong kinh Đại Niết Bàn, Phẩm Phạm Hạnh thứ 19, Phật dạy:

“Thân không tạo nghiệp ác. Miệng lìa bốn tội lỗi. Tâm không có nghi ngờ là được ngủ an ổn.

Thân tâm không bức rứt ở yên chỗ vắng lặng hưởng pháp lạc vô thượng là được ngủ an ổn.

Tâm không có chấp trước, xa lìa các oán thù, hòa thuận không tranh cãi là được ngủ an ổn.

Nếu chẳng tạo nghiệp ác, tâm thường biết hổ thẹn, tin ác có quả báo là được ngủ an ổn.

Điều phục các giác quan, gần gũi thiện tri thức, ngũ ấm phá hoại bọn tứ ma là được ngủ an ổn”.

Tại sao “thân tâm không bứt rứt ở yên chỗ vắng lặng … là được ngủ an ổn”? Trong kinh A Hàm có thuật lại câu chuyện khi Đức Phật thấy một vị Tỳ-kheo đang nằm ngủ dưới gốc cây trong rừng và Phật vẫn tán thán vị đó. Còn khi Phật thấy một vị Tỳ-kheo khác ngồi thiền định trong thôn làng thì Ngài vẫn không hoan hỷ. Vì sao Phật lại có hai thái độ khác nhau như vậy?

Vì Ngài biết rằng vị Tăng tọa thiền trong xóm làng sẽ không thiền định được lâu bởi sẽ có nhiều chướng ngại (do môi trường, cộng đồng, xã hội chung quanh là những nhân tố chi phối khiến vị Tỳ-kheo đó không thể tĩnh tại một cách trọn vẹn). Còn vị Tăng ở trong rừng, mặc dù đang ngủ, nhưng sau khi ngủ dậy không còn mệt mỏi, tỉnh táo tinh tấn hành thiền trở lại và vị ấy sẽ đạt được mục đích của Sa môn hạnh. Nên ngủ nghỉ trong A-lan-nhã được an ổn để sau đó hưởng pháp lạc vô thượng vẫn được Đức Phật đồng tình hơn.

Cho nên cổ đức có bài kệ:

Tăng trụ thành hoàng Phật-Tổ ha

Tiên hiền đô thị ẩn nham a

Sơn tuyền lưu xuất nhân gian khứ

Thanh thủy y nhiên thành trược ba.

Nghĩa:

Tăng ở thành đô Phật Tổ rầy

Chư hiền đều ẩn chốn an mây

Non cao suối chảy về hạ thế

Trong vắt y nguyên hóa đục nhầy.

Nội dung bài kinh A-hàm trên chỉ là một khía cạnh nhỏ nói về những thuận duyên và nghịch duyên cơ bản đối với hành giả tu thiền. Tuy nhiên trong thời đại ngày nay, chúng ta không nên có tâm phân biệt môi trường tu tập với nhau, bởi mỗi vị Tỳ-kheo hành đạo lại có một nhân duyên và hạnh nguyện riêng. Hơn nữa trong kinh điển Đức Phật cũng đã dạy: Mỗi vị Tỳ-kheo đi mỗi hướng tùy căn cơ chúng sanh mà giáo hóa cho phù hợp – điều này cho thấy ngoài pháp môn thiền còn có vô lượng pháp môn khác nữa.

Do đó người xuất gia phải luôn khởi nghĩ: Nhờ những vị Thầy ở xóm làng dạy giáo lý nên Phật tử mới biết tìm đến quý Thầy chốn sơn môn mà thực tập thêm pháp hành. Ngược lại, nhờ những vị tu hành trên núi nên người Phật tử mới biết Phật pháp vẫn còn cửu trụ ở đời – nhất là những pháp hành thiền chốn thâm sơn cùng cốc mà danh từ nhà Phật gọi là A-lan-nhã.

Song môi trường núi rừng A-lan-nhã vẫn được xem là thù thắng vì giúp hành giả thuận duyên để viễn ly với thế tục dễ dàng hơn. Trong kinh Tâm địa quán, phẩm Vô cấu tín, Đức Phật dạy như sau:

Lại nữa, này Trí Quang, Bồ-tát xuất gia phải xa lìa chỗ huyên náo, ở nơi A-lan-nhã. Chư Như Lai trong ba đời đều bỏ những nơi huyên náo mà ở nơi không nhàn, vắng lặng, tu thêm muôn hạnh, chứng quả Bồ-đề. Các bậc Duyên giác, Thanh văn và hết thảy chư hiền thánh, chứng được thánh quả xưa nay cũng đều ở nơi tĩnh mịch như thế. Nơi A-lan-nhã có mười thắng đức, làm cho người tu chứng được đạo quả Bồ-đề. Những gì là mười thắng đức?

– Một là được tự tại. Bởi vì ở nơi A-lan-nhã, trong bốn uy nghi không bị lệ thuộc nơi người khác.

– Hai là bỏ ngã và ngã sở. Không còn chấp trước vào cái ta và cái của ta.

– Ba là đối với các đồ ngồi, nằm như giường nệm, bàn ghế, không còn tham đắm.

– Bốn là ba độc tham, sân, si sẽ bớt đi dần dần.

– Năm là tu hạnh xa lìa, không mong cầu ngũ dục của trời người.

– Sáu là ở nơi nhàn tịch, tu tập Phật đạo không tiếc thân mạng.

– Bảy là thích tịch tĩnh, thiện nghiệp dễ dàng thành tựu bởi vì không có môi trường thuận tiện để phóng túng.

– Tám là sự nghiệp giải thoát sẽ dễ dàng, không chướng ngại.

– Chín là mau thành tựu được Tam muội.

– Mười là mau được đại trí huệ.

Trí Quang nên biết, nơi A-lan-nhã có vô lượng công đức như thế. Do vậy nên người Phật tử xuất gia thề bỏ thân mạng chớ nhất định không bỏ núi rừng.

Một yếu tố quan trọng khác để được “ngủ an ổn” được kinh Đại Niết Bàn nói đến là “Điều phục các giác quan, gần gũi thiện tri thức, ngũ ấm phá hoại bọn tứ ma là được ngủ an ổn”.

Vậy gần gũi thiện tri thức lợi ích như thế nào đối với người xuất gia?

Thiện tri thức có ba hạng:

  • Giáo thọ thiện tri thức là bậc thầy dẫn dắt, giảng dạy chánh pháp cho ta.
  • Đồng hạnh thiện tri thức là những người cùng một lý tưởng tu hành, mong cầu giải thoát giác ngộ.
  • Ngoại hộ thiện tri thức là những người bảo hộ cho ta được yên ổn được có đủ điều kiện tốt để ta hành đạo.

Trong môi trường tu tập đại chúng thì đồng hạnh thiện tri thức được xem là quan trọng nhất bởi cùng nhau tu tập, động viên khích lệ sách tấn lẫn nhau vượt qua những chướng ngại, khó khăn.

Cho nên Luật Tứ Phần nói bậc Thiện tri thức phải hội đủ 7 điều kiện:

“Cho được những gì khó cho, làm được việc khó làm, nhẫn được việc khó nhẫn, việc kín nói cho nhau biết, bảo bọc cho nhau, gặp khổ không bỏ, gặp nghèo không khinh.”

Còn trong kinh Thi Ca La Việt, Phật dạy:

“Chọn người lành nên theo, kẻ ác nên xa, ta theo thiện tri thức từ đó cho đến lúc thành Phật.”

Phật dạy sở dĩ Ngài thành tựu quả vị Phật sớm bởi từ vô lượng kiếp Ngài luôn bước theo dấu chân của các bậc thiện tri thức và không theo ác tri thức. Tại sao Đức Phật nhấn mạnh điều này? Vì bậc Sa môn, đạo sĩ hay dạy người bỏ ác, làm lành mở bày chánh đạo ân lớn hơn cha mẹ – người nào hướng dẫn mình vào chánh đạo được xem là bậc thiện tri thức lớn.

Trong kinh Lời Vàng có nói 10 pháp của thiện tri thức như sau:

Thiện tri thức ưa thích chỗ an lạc, nhàn tịnh, chỗ chốn núi rừng, nên thân cận vì có thể ngăn chặn tâm vọng động của hành giả.

Thiện tri thức nghiêm trì giới luật nên thân cận vì có thể làm giảm bớt dục vọng điên cuồng của hành giả.

Thiện tri thức có trí tuệ rộng lớn nên thân cận vì có thể đưa hành giả vượt khỏi bến mê.

Thiện tri thức có văn tự tổng trì nên thân cận vì có thể đưa hành giả giải tỏa các điều nghi ngờ.

Thiện tri thức trầm tĩnh nên thân cận vì có thể đưa hành giả đến chỗ điềm đạm.

Thiện tri thức khiêm tốn, nhẫn nhục nên thân cận vì có thể làm tiêu tan tâm ngã mạn của hành giả.

Thiện tri thức tâm thẳng, nói thật nên thân cận vì có thể kiềm chế điều lỗi lầm của hành giả.

Thiện tri thức tinh tấn, dũng mãnh nên thân cận vì có thể giúp hành giả thành tựu đạo quả một cách nhanh chóng.

Thiện tri thức xem thường của cải, ưa thích bố thí nên thân cận vì có thể phá bỏ tâm keo kiệt của hành giả.

Thiện tri thức có tâm nhân từ, che chở loài vật không tiếc thân mạng nên thân cận vì có thể bẻ gãy sự chấp chặt về nhân ngã của hành giả.

Như vậy, Phật dạy khi chúng ta thân cận các bậc thiện tri thức có đạo hạnh thì tâm mình cũng được thanh tịnh và nhu nhuyến hơn rất nhiều. Do đó nên gần gũi các thiện tri thức sẽ có được lợi ích cho việc điều phục thân tâm mình.

Còn về phần oai nghi của người tu khi ngủ, Trong Luật Tăng kỳ nói:

“Không cho nằm như loài ngạ quỷ, không cho nằm như loài a-tu-la, không cho nằm như người tham dục; nếu nằm ngước lên là loài a-tu-la, nằm sắp xuống là loài ngạ quỷ, nằm hông bên trái là cách nằm của người tham dục, tỳ-kheo nên nằm ngó lại mình như sư tử chúa”. Lại nói: “Chồng hai chân, lưỡi ngậm trong miệng, chống lên lợi trên, đầu gối lên tay phải, tay trái buông xuôi theo thân trên. Không xả niệm tuệ, suy nghĩ nhớ tưởng. Không được ngủ đến mặt trời mọc, đến cuối đêm nên dậy, ngồi ngay suy nghĩ về đạo nghiệp của mình. Nếu đêm ngủ không được không tự biết sáng thì không tội. Nếu già bệnh, nếu hông phải có mụt nhọt thì không tội. Cách nằm của tỳ-kheo nên như thế. Nếu không như thế thì phạm pháp vượt oai nghi.”

“Ngủ như sư tử chúa” muốn nói lên điều gì? Đây còn gọi là tư thế ngủ kiết tường của chư Phật – nằm nghiêng bên phải, hai chân gác lên nhau như sư tử là tư thế hội đủ oai nghi, một trong những tế hạnh của người tu, cũng chính là cách nằm của Đức Phật: Đây là tư thế nằm cát tường, tạo ra sự yên lành, an ổn cho thân thể và nhất là tâm luôn đạt được sự thức tỉnh.

Về mặt khoa học, ở tư thế này lục phủ, ngũ tạng sẽ nằm đúng vị trí giúp cho máu lưu thông tốt hơn. Đây là cách nhanh chóng xóa tan mệt mỏi và giúp ta phục hồi được sức khỏe sau giấc ngủ ngon. Ngoài ra, tư thế này còn giúp cột sống được kéo giãn, giảm áp lực do sức nặng từ phần trên cơ thể đè lên. Khoa học hiện đại cũng chứng minh rằng với tư thế này, các bó cơ bắp trên toàn thân sẽ được thư giãn nhiều nhất, giúp ta có giấc ngủ ngon, sâu hơn.

Còn các tư thế nằm kia còn có những khiếm khuyết nơi tâm nên có những biểu hiện như:

Nằm ngửa thường thể hiện nỗi khát khao, khó nhiếp phục tâm khát ái, vọng tưởng hơn các tư thế khác. Nó còn dễ tạo ra sự hớ hênh, nhất là lúc ngủ say có thể đánh mất oai nghi.

Nằm sấp là kiểu nằm thể hiện sự dằn vặt, đau khổ, dễ gặp ác mộng, và chính người nằm cũng khó có được cảm giác thoải mái.

Nằm nghiêng bên trái phản ánh tâm trạng của phần lớn những người ưa thích thọ hưởng dục vọng.

Theo các nghiên cứu khoa học thì nằm sấp, nằm ngửa và nằm nghiêng bên trái ảnh hưởng không tốt đến hệ tuần hoàn, nội tạng và xương khớp. Vì thế, người tu thường không nằm theo 3 tư thế này.

Còn trong bài “Kệ vô thường thời này”, vua Trần Thái Tông nói:

Pháp cổ kích hồi phù thế mộng,

Phạm chung chàng phá đại gia thanh.

Do tham bắc thủ miên điềm hắc,

Bất quản đông nhan nhật chiếu hồng.

Trường dạ man man thì hữu đán,

Minh đồ mặc mặc lộ nan thông.

Kim triêu nhược bất cần hành đạo,

Tha nhật na phùng hoàng diện công.

Nghĩa:

Tiếng pháp khua tan mộng thế trần,

Chuông chùa phá vỡ điếc ngu mông.

Còn ưa gối đầu trong tối ngủ,

Chẳng quản trời đông đã rạng ngời.

Mù mịt đêm dài thì có sáng,

Mờ mờ đường tối lại khó thông.

Ngày nay nếu chẳng siêng hành đạo,

Khi khác làm sao gặp Thế Tôn.

Ở đây, vua Trần Thái Tông khuyên chúng ta khi nghe tiếng chuông phải cố gắng tỉnh thức không nên đắm chìm trong mê ngủ. Ngài nói thêm nếu không tinh cần siêng năng hành đạo thì sẽ khó gặp được chư Phật trong vị lai – hay nhận chân được Phật tánh của chính mình ở khía cạnh quán chiếu tự thân.

Cho nên Luật Tăng kỳ lại nói:

“Nằm trên giường không được tụng kinh, không được tham tiếc nghĩ việc thế gian. Không được làm cho giường có tiếng. Ngủ nghỉ đúng pháp thì được thân an điều hòa. Chẳng tham ngủ nghỉ mới là Phật tử tu hạnh trí tuệ.”

Tại sao “chẳng tham ngủ nghỉ mới là Phật tử tu hạnh trí tuệ”?

Vì ngăn trở đạo lý trong nhiều kiếp lâu xa không gì lớn bằng ma ngủ. Do đó, các bậc cổ đức thường dạy:

Lỡ như một đời bỏ không qua suông, chợt nghĩ lại lòng tiếc nuối ngậm ngùi. Vô thường chóng vánh, ngày tháng lấy đó làm lo sợ; mạng người trong khoảnh khắc, từng giờ thật khó hòng gìn giữ. Nếu chưa thấu qua cửa Tổ làm sao yên lòng ngủ nghỉ được.

Giăng giăng mây ngủ ánh trăng lòng

Lắm kẻ ngang đây chẳng lối thông

Khi ấy khơi lên thanh kiếm bén

Mây tan hiện rõ ánh trăng trong.

(Đại sư Châu Hoằng)

Sự tỉnh giác khi quán chiếu về sự vô thường của cuộc đời là pháp tu hữu hiệu nhất để chống lại cơn buồn ngủ. Luôn tỉnh thức và chánh niệm, bởi sự ngủ và sự tập trung khi thiền là hai trạng thái hoàn toàn trái ngược nhau. Chúng ta chẳng bao giờ có được trí tuệ gì từ việc ngủ, chỉ có thiền mới mang lại trí tuệ cho mình.

Cho nên thiền sư Tuyết Nham Tổ Khâm là thiền sư Trung Hoa, thuộc dòng Hổ Khâu, phái Dương Kỳ, Tông Lâm Tế nhắn nhủ rằng:

“Chư huynh đệ, lâu nay ngồi trên bồ đoàn mà ngủ cũng chẳng có ích gì. Nhược bằng có buồn ngủ, thì nên bước xuống đất mà đi một vòng, rửa mặt, súc miệng, rửa sạch hai con mắt bằng nước mát. Rồi lại lên bồ đoàn ngồi, thẳng xương sống, trấn tĩnh tâm trí như thể mình đang đứng trên vách đá cao ngàn trượng, và tham thoại đầu. Nếu dụng công như thế suốt bảy ngày nhất định sẽ đến chỗ Ngộ. Đó chính là cái công phu mà lão sư núi này bốn mươi năm trước đây đã ra công”.

Tuy nhiên “Ngủ nghỉ đúng pháp thì được thân an điều hòa”, đây là lý do thời khóa tùng lâm thường chế định việc đi ngủ đúng giờ, và được xem là một cách để giúp hành giả rèn luyện thân tâm. (Bởi theo khoa học, ngủ nhiều làm tăng nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường tuýp 2, nhưng ngủ ít và thức khuya cũng làm rối loạn đường huyết).

Câu chuyện về Tôn giả A Na Luật là một minh chứng cho thấy vai trò của giấc ngủ trong quá trình điều hòa thân tâm để dụng công tu tập có kết quả:

Tôn giả A Na Luật là một trong mười đệ tử lớn của Đức Phật, cũng là anh em họ của Phật (A Na Luật là em ruột của Ma Ha Nam, con thứ của Cam Lộ Phạn Vương dòng Sát Đế Lợi. Ma Ha Nam đã được Phật Thích Ca đưa lên ngôi vua nước Ca Tỳ La Vệ, sau ngày vua Tịnh Phạn băng hà. Cam Lộ Vương là em thứ hai của Tịnh Phạn Vương, do đó Ngài A Na Luật là đường đệ của Phật Thích Ca).

Sau khi Đức Phật thành đạo, trở về hóa độ tại quê nhà, A Na Luật và sáu vị vương tử khác là Bạt Đề, A Nan, Đề Bà Đạt Đa, Kiếp Tân Na, Bà Sa và Nan Đề cùng xuất gia quy y theo Phật để học đạo.

Một hôm, khi Phật đang thuyết pháp nhìn thấy A Na Luật đang ngủ gục, Ngài liền nói bài kệ:

Thương thay kẻ mê ngủ

Trong vỏ ốc mê mờ

Ngủ một giấc ngàn năm

Không nghe danh hiệu Phật.

Nói kệ xong, Phật hỏi: “Này A Na Luật! Thầy xuất gia là vì trốn vương pháp hay là sợ hãi đạo tặc?”

A Na Luật trả lời: “Bạch Thế Tôn! Không phải như vậy. Con xuất gia là vì con chán cảnh sinh, lão, bệnh, tử và muốn giác ngộ, giải thoát hết các khổ não”.

Đức Phật nói: “Tuy đạo tâm thầy kiên cố, nhưng tại sao khi nghe pháp lại ngủ gật như vậy?”

Nghe Phật quở, Ngài A Na Luật quỳ lạy sám hối và phát lời thệ nguyện rằng: “Bạch Thế Tôn con xin sám hối tội hay ngủ gục trong lúc nghe Pháp, từ nay về sau, con nguyện suốt đời tinh tấn tu hành”.

Sau đó, A Na Luật tu hành càng thêm tinh tấn, suốt ngày đêm không chợp mắt. Đức Phật vì chuyện này mà lo lắng, liền khuyên bảo: “Chúng sanh nhờ ăn mà sống, ngủ chính là thức ăn của mắt, đạt được Niết-bàn cũng cần ăn uống!”

A Na Luật hỏi: “Bạch Thế Tôn! Thế thức ăn của Niết Bàn là gì?”

Đức Phật dạy: “Tu hành không được buông lung! Nhưng trước khi đạt đến Niết-bàn thì vẫn phải cần ăn uống thích hợp”.

Tuy vậy, A Na Luật vẫn giữ lập trường của Ngài, dũng mãnh, tinh tấn trong tu hành, không chút giãi đãi. Trải qua thời gian dài, cuối cùng mắt Ngài cũng bị mù.

Sau khi không còn nhìn thấy, trong sinh hoạt hằng ngày, Ngài gặp rất nhiều bất tiện. Đức Phật với lòng từ bi, không những giúp xỏ kim may vá y phục cho Ngài, mà còn dạy tu tập pháp Kim Cương Chiếu Minh Tam Muội. A Na Luật y theo lời chỉ dạy của Phật mà hành trì, không bao lâu thì Ngài chứng được thiên nhãn thông.

Qua câu chuyện về Tôn giả A Na Luật chúng ta nhận ra rằng: Ngay cả ngủ nghỉ cũng phải điều tiết đúng với tinh thần trung đạo. Vì sao? Bởi Đức Phật từng dạy người tu hành hãy tránh hai thái cực: Bất cập hoặc thái quá đều chẳng đạt đạo. Dây đàn căng quá hoặc chùng quá khiến đàn không kêu, dây đàn vừa phải, tiếng đàn mới thánh thót. Sự tu hành phải đi theo con đường trung đạo.

Người nhiều tham luyến, mê đắm lối sống an nhàn, coi trọng sự hưởng thụ, đối với việc tu đạo không thể phát huy được tâm dũng mãnh, tinh tiến. Nhưng nếu dũng mãnh một cách thái quá thì cũng không đạt được kết quả, ngược lại còn phản tác dụng vì khiến thân tâm hao kiệt. Chỉ khi nào chúng ta “trung đạo” khi thực hành Pháp Phật mới có thể thành tựu thánh trí, đưa đến an tịnh, giác ngộ, Niết-bàn.



Bài 35: THỦ THỦY

(Lấy nước)

Bài kệ “Lấy nước”:

Nhược kiến lưu thủy

Đương nguyện chúng sanh

Đắc thiện ý dục

Tẩy trừ hoặc cấu.

Nghĩa:

Nếu thấy nước chảy

Nguyện cho chúng sanh

Được ý muốn lành

Rửa phiền não dơ.

Thế nào là phiền não?

Có mười loại phiền não căn bản. Mười phiền não nầy gọi là kiết sử, vì chúng nó có mãnh lực trói buộc loài hữu tình không cho ra khỏi ba cõi và sai sử chúng sinh phải quay lộn trong vòng sanh tử luân hồi, từ đời nầy đến kiếp nọ, và phải chịu không biết bao nhiêu điều khổ não.

Tuy đều có tính chất sai sử, trói buộc, nhưng mười kiết sử này có thứ mạnh, thứ yếu, thứ chậm chạp, thứ mau lẹ, nên Đức Phật chia chúng ra làm hai thứ với hai tên gọi khác nhau là: Lợi sử và độn sử.

Nếu nói theo tinh thần của Lục Tổ Huệ Năng, Ngài dạy: “Phiền não tức Bồ-đề” nhưng theo pháp hành của Phật giáo nguyên thủy: muốn dứt trừ phiền não thì phải quét sạch kiến hoặc và tư hoặc.

Kiến hoặc là cái thấy mê lầm – là sự mê lầm về lý, làm che lấp trí não của chúng ta, không cho thấy rõ được chân lý. Hay còn gọi là lợi sử gồm thân kiến (chấp thân là của mình), biên kiến (chấp thường hay chấp đoạn), kiến thủ, giới cấm thủ, tà kiến. Tuy những phiền não về lý là sắc bén, bén nhạy nhưng lại dễ đoạn trừ.

Tư hoặc là suy nghĩ mê lầm – là điều mê lầm về sự, nghĩa là những sự tham nhiễm, chấp trước theo sự vật, hoàn cảnh. Hay còn gọi là độn sử gồm tham, sân, si, mạn, nghi, tuy là thô, dễ thấy, không sắc bén nhưng lại khó đoạn trừ.

Vậy tại sao nói “phiền não tức Bồ đề”?

Phiền não là si mê bực bội đau khổ. Bồ-đề là giác ngộ yên tĩnh an vui. Hai thứ bản chất trái ngược nhau, tại sao lại nói cái này tức cái kia? Bởi phiền não bản chất không cố định, khi biết chuyển hóa hoặc biết cách buông xả liền thành Bồ-đề.

Thiền sư Văn Thù Tư Nghiệp ở Thường Đức, Trung Hoa, khi chưa xuất gia từng làm đồ tể chuyên mổ heo. Có một lần trong lúc mài dao, bỗng dưng Ngài thức tỉnh, bèn từ bỏ nghiệp sát sanh mà quy y cửa Phật. Khi xuất gia, Ngài làm bài kệ:

Hôm qua tâm Dạ-xoa,

Ngày nay mặt Bồ Tát

Dạ-xoa cùng Bồ-tát

Chẳng cách một mành tơ.

Biết dừng phiền não tức Bồ-đề, không phải nhọc nhằn tìm kiếm đâu xa. Bồ-đề đã sẵn có nơi mình, do phiền não dấy khởi phủ che nên Bồ-đề bị ẩn khuất. Một khi phiền não lắng xuống thì Bồ-đề hiện tiền. Chúng ta ôm đầy một bụng phiền não chạy tìm Bồ-đề, dù chạy cùng ngàn sông muôn núi tìm vẫn không thấy Bồ-đề. Chỉ khéo ngồi yên lại cho phiền não lắng xuống thì Bồ-đề hiện tiền.

Chúng ta hoàn toàn có đủ khả năng thoát khỏi tham, sân, si, nếu chúng ta chịu kiên trì, bền lòng không nản chí. Dù trước đây lòng dạ mình có nham hiểm độc ác như thế nào thì ta vẫn có thể chuyển hóa chúng. Thật ra, phiền não là do ta buông thả bản thân, không kiểm soát suy nghĩ của mình, mỗi giây phút luôn tìm kiếm những thú vui phù phiếm bên ngoài mà phát sanh. Mắt muốn thấy, nhưng thấy những điều trái ý nghịch lòng thì phiền não; tai muốn nghe, nhưng nghe những lời chua chát thì hẳn sẽ không vui; ăn thức ăn không hợp khẩu vị thì đâm ra khó chịu; miệng không làm chủ được lời nói mà đa ngôn loạn thuyết, thì dễ đem đến vô vàn những rắc rối, phiền não trùng điệp …

Do đó, phiền não dụ cho sóng, còn Bồ-đề dụ cho nước. Ta thấy rằng sóng hay làm lật thuyền, mà nước lại đưa thuyền đến chỗ an toàn.

Có câu chuyện vào đời Đường, Tướng công Vu Địch đến hỏi thiền sư Đạo Thông ở núi Tử Ngọc:

“Thế nào là gió đen thổi thuyền bè trôi dạt vào nước quỷ La-sát?

Ở đây, ông dẫn trong kinh Pháp Hoa phẩm Phổ Môn: “Người đi biển khi gặp gió đen (gió dữ, gió bão) thổi thuyền bè trôi vào trong nước quỷ La-sát, nếu thành tâm niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm thì liền được khỏi.

Thiền sư Đạo Thông bèn đáp:

– Cái gã khách Vu Địch này hỏi chuyện ấy làm gì?

Vu Địch là một tướng quân trong triều, nghe vậy bèn chạm tự ái nên đỏ mặt lên liền! Thiền sư Đạo Thông ngay đó liền chỉ và nói:

– Chính đó là trôi dạt vào nước quỷ La-sát!

Ở đây, Vu Địch lấy câu trong kinh đem ra hỏi nhưng thiền sư Đạo Thông không giải thích theo chữ nghĩa, không nói gió đen là gió dữ, gió này, gió kia v.v… mà đi thẳng vào khiến ông soi lại ngay chính mình để thấy được chân nghĩa của nó như thế nào, thì đó mới là nghĩa sống. Tức là vừa nghe nói ông bèn nổi sân lên thì đó là gió dữ thổi vào nước quỷ La-sát. Ngay đó thì ông tỉnh lại.

Cho nên người tu tập cần phải tìm cho rõ nguồn gốc của phiền não. Nhưng phiền não nằm ở đâu?

Trong kinh Phật danh nói:

Ba thứ phiền não chướng – Tam Chướng. Cũng gọi Tam trọng chướng. Chỉ cho Phiền não chướng, Nghiệp chướng và Dị thục chướng làm chướng ngại thánh đạo và các thiện căn gia hạnh từ đời trước.

Phiền não chướng là tham, sân, si rất khó trừ bỏ, khó dạy bảo, khó khai ngộ, khó viễn ly, khó được giải thoát (do câu sanh ngã chấp). Đây cũng chỉ cho phiền não thường xuyên sinh khởi.

Nghiệp chướng tức chỉ cho những nghiệp ác do thân, miệng, ý tạo tác ra (ngũ nghịch, thập ác thường nằm trong sở tri chướng và phiền não chướng). Mà sở tri chướng thì che lấp trí tuệ của hành giả. Và sở tri chướng lại đi cùng với phiền não chướng làm che lấp Niết bàn.

Dị thục chướng (cũng gọi Báo chướng, Quả báo chướng): là những quả báo 3 đường ác do nhân phiền não và nghiệp đưa đến.

Đã biết các loại phiền não, vậy hóa giải phiền não bằng cách nào?

Trong “Thiền tông trực chỉ”, Ngài Thiên Cơ có nói:

“Hạ thủ công phu tu thiền hoàn toàn ở chỗ giác ngộ. Cần biết một niệm giác là một niệm Phật, một niệm chẳng giác tức là một niệm phàm phu. Bởi vì, giác tức là Phật, Phật tức là giác. Phật khác với phàm phu chính là chỗ giác và không giác.

Tâm người có giác tức là có Phật. Giác hay mở cửa lục độ, hay vượt qua kiếp hải ba a-tăng-kỳ, khắp làm lợi ích như cát bụi, khuếch trương phước tuệ, được sáu thứ thần thông, tròn đầy quả Phật trong một đời. Cảnh khổ trong địa ngục, nào vạc dầu sôi, sông băng, nghe đến giác liền biến thành hương lâm (rừng hương); uống nước đồng sôi, nuốt hoàn sắt nóng, nghe đến giác thảy đều sanh Tịnh độ”.

Ngay chỗ phàm phu mà có tỉnh giác thì liền là tâm Phật – ngay trong giờ phút thực tại này, nếu chúng ta giác được rồi thì đó chính là mở cửa Lục độ. Vì sao?

Bởi trong sáu Ba La Mật (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ) thì bố thí đứng đầu, nó làm nền tảng cho các Ba La Mật còn lại. Hay nói khác hơn, khi ta chánh niệm tỉnh giác không sân giận là đang bố thí về mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý vì:

  • Bồ-tát không chỉ diệt trừ xan tham mà còn tăng cường bố thí.
  • Giới của Bồ-tát không chỉ “chỉ trì” mà còn “tác trì” (chỉ trì: là đình chỉ, đình chỉ không làm các điều ác, quy định về điều giới, đó là giới, thuộc chỉ trì. Tác trì: là tu thiện, là các điều thiện, tức quy định về các pháp yết-ma, đó là Luật, thuộc tác trì).
  • Bồ-tát nhẫn nhục một cách có trí tuệ để độ chúng sanh. Thực hành bố thí, cốt để cầu giác ngộ thành Phật, tại sao phải nổi giận? Suy tư như vậy, Bố-tát thực hành nhẫn nhục. Đây là năng lực của tỉnh giác có thể biến những cảnh khổ ở địa ngục thành cảnh giới Tịnh độ an lành vì nó tương ưng với tâm thanh tịnh.
  • Bồ-tát tinh tấn làm việc thiện (Thanh văn tinh tấn diệt phiền não).
  • Thiền của Bồ-tát là các tam muội để hóa độ và làm lợi ích chúng sanh (khác với tứ thiền bát định của Thanh văn).
  • Trí tuệ của Bồ-tát là để thực hiện các phương tiện giáo hóa chúng sanh, lợi ích cộng đồng, xã hội.

Trong Thiền thoại có câu chuyện:

Một vị Tăng đến hỏi thiền sư Lâm Tế: “Làm sao rửa sạch phiền não để chóng thành quả Phật?

Ngài đáp: Ông hãy tạo tội ngũ nghịch đi.

Tại sao cách lý giải của thiền sư Lâm Tế lại có vẻ mâu thuẫn?

Chúng ta đã biết tội ngũ nghịch là: Giết cha, giết mẹ, giết một vị A-la-hán, làm thân Phật chảy máu và chia rẽ Tăng đoàn (được xem năm tội nặng nhất mà người phạm phải sẽ bị đọa vào địa ngục vô gián). Nhưng theo tinh thần nhà Thiền, tội ngũ nghịch – giết cha được hiểu là “cha vô minh”, giết mẹ được hiểu là “mẹ tham ái”, giết A-la-hán là hành giả không được chết chìm trong cảnh trầm không trệ tịch, làm thân Phật chảy máu với quan điểm “phùng Phật sát Phật, phùng ma sát ma” tức là dù hình ảnh Đức Phật có khởi hiện trong tâm cũng phải buông xả, và phá hòa hợp Tăng là căn trần không cho dính mắc với nhau (sẽ sanh ra sáu thức).

Trong kinh Pháp Cú, Phẩm Tạp lục, Đức Phật cũng nói về ý nghĩa của hình ảnh ẩn dụ “giết cha – mẹ” tương tự như Tổ sư thiền:

Câu chuyện xảy ra khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Tôn giả Lakuntaka Bhaddiya.

Một thời, đức Thế Tôn đang ở tại Kỳ Viên, có một số Tỳ-kheo đến viếng thăm Ngài. Sau khi đảnh lễ, các thầy kính cẩn lui ngồi một bên. Khi ấy Tôn giả Lakuntaka Bhaddiya đi ngang đấy không xa. Đức Phật biết tâm của các Tỳ-kheo đúng lúc, Ngài nhìn Tôn giả và nói với các Tỳ-kheo.

– Các ông hãy nhìn kia! Đó là Tỳ-kheo đã giết cha, giết mẹ, thoát khổ đau.

– Đức Thế Tôn nói gì thế?

Các Tỳ-kheo kêu lên, nhìn nhau, nghi ngờ, và hỏi Phật:

– Bạch Thế Tôn! Ngài nói gì?

Phật bèn nói kệ:

Sau khi giết mẹ cha,

Giết hai vua Sát-lợi,

Giết vương quốc, quần thần,

Vô ưu, Phạm chí sống. (Pháp cú 294)

Sau khi giết mẹ cha,

Hai vua Bà-la-môn,

Giết hổ tướng thứ năm (nghi)

Vô ưu, Phạm chí sống. (Pháp cú 295)

Nghe xong các thầy chứng A-la-hán.

Đoạn kệ pháp cú số ٢٩٤ – 295 có thể được hiểu như sau:

Mẹ là ẩn dụ cho lòng tham ái, và cha là ẩn dụ của ngã mạn. Chính vì tham ái và ngã mạn mà ta phải tái sinh nhiều đời, nhiều kiếp trong cõi Ta-bà luân hồi này.

Hai vị vua chính là hai biên kiến của vô minh: thường kiến và đoạn kiến, thường tạo ra nhiều tranh cãi vô ích, cần phải được phá bỏ.

Vương quốc lãnh thổ kia chính là 6 căn và 6 trần: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, và sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Vị quốc khố đại thần là để chỉ lòng tham đắm dục lạc phát sinh và chất chứa từ 6 căn đó.

Hổ tướng thứ năm chính là “nghi” trong 5 triền cái (tham dục, sân hận, hôn trầm, trạo cử, và hoài nghi) làm cản trở sự định tâm nên khó phát sanh trí tuệ.

Như vậy, chỉ khi nào đoạn trừ được tất cả các chướng ngại này thì hành giả mới thong dong, tự tại, đi đến giải thoát.

Trong Tỳ Ni Hương Nhũ ghi:

“Nhãn căn phát thức, gọi là “thấy”. Đầu nguồn nước sóng gọi là “chảy”. Song nước tánh tướng chẳng hai, động tịnh một nguồn. Nếu nước không nguồn không chảy, tức là nước chết. Chảy được nguồn nó, thì lóng nó không trong, khuấy nó không đục …. Tăng được nguồn pháp này thì cư trần chẳng nhiễm, phiền não chẳng xâm, mà hay xoay về biển giới, chở Niết-bàn, lượng đồng pháp giới, giúp cả tứ sanh, cũng không tự cho là thiện … Người phàm mắt thịt thấy đâu được chỗ đại dụng đó ư!”

“Nguồn pháp” này là gì mà khiến cho phiền não chẳng thể xâm nhập?

Chính là sống với một tâm thức hoàn toàn trong sáng, vắng lặng, không bị ám ảnh bởi ký ức quá khứ, không bị thôi thúc bởi vọng tưởng tương lai, cũng không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại, tức là không rơi vào ngã tưởng hay những ý nghĩ liên hệ đến tự ngã “tôi”, “của tôi” khiến cho tâm thức bị dao động, tán loạn quay cuồng trong thế giới của các tư duy phân biệt đối đãi. Giống như thể khi chúng ta ngắm nhìn dòng sông đang trôi chảy hay trông thấy chiếc lá đang rơi mà không động tâm suy nghĩ, ưu tư, lo lắng, hy vọng hay thất vọng – sống với thực tại là “nguồn pháp” bất tận mà ở đó phiền não, đau khổ không hiện hữu. Và đây cũng là pháp yếu mà bài Tỳ ni này muốn nhắc nhở.

Nếu thấy nước chảy

Cầu cho chúng sanh

Được ý muốn lành

Rửa phiền não dơ.

Trong Kinh Tương Ưng Bộ, Kinh Kakudha, chúng ta sẽ thấy được diệu dụng của pháp “sống với thực tại” qua cuộc đối thoại lý thú giữa Đức Phật và vị Thiên tử Kakudha:

Thiên tử tên Kakudha đến hỏi Thế Tôn, bậc Giác Ngộ:

  • Thưa Sa-môn, Ngài có hoan hỷ không?
  • Ta được cái gì, này Hiền giả, mà Ta hoan hỷ?
  • Nếu vậy, thưa Sa-môn, có phải Ngài sầu muộn?
  • Ta mong mỏi cái gì, này Hiền giả, mà Ta sầu muộn?
  • Vậy thì thưa Sa-môn, Ngài không hoan hỷ và không sầu muộn?
  • Thật như vậy, này Hiền giả.

Thiên tử Kakudha:

Làm sao này Tỳ-kheo,

Ngài không có sầu muộn,

Làm sao ở nơi Ngài,

Hoan hỷ không khởi lên?

Làm sao nay Ngài lại,

Ngồi cô độc một mình,

Không có được hoan hỷ,

Cũng không bị dao động?

Bậc Giác ngộ:

Hoan hỷ chỉ có đến,

Với người tâm sầu muộn,

Sầu muộn chỉ có đến,

Với người tâm hoan hỷ.

Do vậy, vị Tỳ-kheo,

Không hoan hỷ, sầu muộn.

Vậy nên, này Hiền giả,

Ông phải biết như vậy.

Thiên tử Kakudha:

Đã lâu, con mới thấy,

Bà la môn tịch tịnh,

Vị Tỳ-kheo không sầu,

Cũng không có hoan hỷ,

Đã an toàn vượt khỏi,

Chỗ người đời đắm say.”

Sống với thực tại tức là sống với những gì đang chuyển biến, trôi chảy không ngừng nhưng với cái tâm hoàn toàn tỉnh thức, vắng lặng, không ái luyến, không tìm cầu, không chấp trước, không suy nghĩ, không ước lượng, không phán xét, không so sánh hay phân biệt – đặc tính này được kinh Kim Cang gọi là “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, và với tâm không bám trụ vào hơn, thua, phải, quấy, tốt, xấu, hay, dở của cuộc đời thì sẽ đưa hành giả đến “sự thanh tịnh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết bàn” theo cách nói của kinh văn nguyên thủy.

Bài kệ thứ 2:

Nhược kiến đại hà

Đương nguyện chúng sanh,

Đắc dự pháp lưu

Nhập Phật trí hải.

Nghĩa:

Nếu thấy sông lớn

Nguyện cho chúng sanh

Được dự pháp lưu

Vào biển trí Phật.

Bài kệ thứ hai này nói về tinh thần của Bồ-tát đạo – trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng, động tịnh hoặc trong cuộc sống giữa đời thường dù chúng ta làm bất cứ việc gì đều hồi hướng cho chúng sanh được pháp lạc thanh tịnh như mình. Đây cũng là tinh thần của Đại chúng bộ, đó là làm bất cứ thiện pháp nào cũng bi nguyện hồi hướng cho pháp giới chúng sanh – mà khi hướng tâm đến chúng sanh cũng là lúc chúng ta bước chân vào đất Phật.

Vậy cái thấy của Bồ-tát có khác chúng ta không?

Hàng Bồ-tát, các ngài thấu tột được muôn pháp nên có năng lực vô cùng to lớn. Hay nói khác hơn, Bồ-tát thấy được muôn pháp vì các ngài mở được con mắt Bát-nhã nên có khả năng phát bi nguyện cứu độ chúng sanh. Còn chúng ta sở dĩ không mở được tuệ nhãn hay không kiến đạo để dự lưu vào biển trí tuệ của Phật là vì hàng ngày chúng ta luôn bị những ngọn lửa hận thù, si mê, tật đố, khát ái … thiêu đốt mình.

Ta thấy được điều này trong “Câu Chuyện Dòng Sông” của nhà văn Hermann Hesse:

Tác phẩm là một câu chuyện dài của hai nhân vật chính là Thiện Hữu và Tất Đạt. Tất Đạt sau khoảng thời gian tìm kiếm giá trị của cuộc sống. Sau cùng mới ngộ ra thương yêu vạn vật là điều quan trọng nhất trên đời. Còn Thiện Hữu dù tu tập bên cạnh Đức Thế Tôn cho đến lúc Ngài nhập diệt vẫn chưa thấy được bình an nơi đâu.”

Sở dĩ Thiện Hữu xuất gia với Phật hai mươi năm mà chưa ngộ đạo vì ông luôn chạy theo cái bóng của Đức Phật. Hay Thiện Hữu biểu trưng cho người xuất gia chỉ có hình tướng bên ngoài nhưng chưa thật sự chuyển hóa nội tâm thì tu muôn kiếp cũng không có sự biến chuyển lớn. Ngược lại, nhân vật Tất Đạt nghe lại “tiếng của dòng sông” với một tâm hồn vắng lặng, không dục vọng, không say mê, không phê phán, không quan niệm, cũng không suy tư mà tỏ ngộ.

Nếu chúng ta biết lắng nghe dòng sông tâm thức của chính mình như Tất Đạt thì ta mới có thể nhìn thấu suốt được về cuộc đời – vì dòng sông sẽ mãi là dòng sông, không thương – không ghét, không giận – không hờn, có lúc ồn ào nhưng cũng lắm khi tỉnh lặng, dòng sông có thể mang theo tất cả mọi thứ ở bên trong nó, dòng sông mang bên mình số lượng vô cùng tận các dòng nước và không thể nào phân biệt được đâu là dòng nước trước, đâu là dòng nước sau. Chỉ biết dòng nước là dòng nước ngay hiện tại khi ta đang đắm mình xuống.

Chỗ này được Khổng Tử cảm khái mà thốt lên rằng:

“Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ”.

(Chảy mãi, chảy mãi ư! Ngày đêm không dừng nghỉ.)

Ngài thấy được dòng sông và phản tỉnh lại khi thấy được dòng sông tâm thức của chính mình đang “chảy mãi” không dừng nghỉ. Nhưng trong sự lưu chuyển bất tận ấy có cái gì bất động? “Lòng sông” vẫn bất động.

Biết các pháp là hư ảo thì toàn sóng tức là nước. Theo tinh thần Thượng tọa bộ, thì mặt biển lặng được hiểu là thể của Niết-bàn, nhưng đối với Đại chúng bộ thì ngay sóng tức là nước, không cần phải chờ sóng yên biển lặng.

Điều này được Kinh Kim Cang diễn tả rất rõ trong câu: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng tắc kiến Như Lai” – nghĩa là phàm những gì có hình tướng, tất cả đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng, không phải là tướng, thì liền thấy Như Lai.

Khi chúng ta đã biết các pháp (sáu trần) là hư ảo, giả tạm không thật – những gì có tướng đều hư giả không thật. Lúc đó tâm chúng ta như thế nào? Biết là giả thì có gì quan trọng mà dính mắc. Khi biết các pháp là duyên hợp hư giả thì thấy tướng mà không phải tướng, do đó tâm chúng ta mới không dính với sáu trần, do tâm không dính với sáu trần nên nói là an trụ, và an trụ là Như Lai. Mà Như Lai chính là tánh biết.

Hay các vị Thiền sư thường nói: “Vọng tâm không chỗ nơi tức là Bồ-đề”. Nghĩa là ngay khi chúng ta biết được vọng niệm tức là Bồ-đề. Chữ “biết” là giác. Nếu chúng ta hằng sống được với tánh giác là sống với Bồ-đề tâm.

Do đó một khi ta nhận chân được các pháp là hư ảo rồi thì tự nhiên tâm thái sẽ ung dung tự tại giữa cuộc đời này. Và cái biết đó được thể hiện bằng cách lan tỏa niềm vui đến tất cả mọi người chớ không phải là thái độ sân hận, ích kỷ, hay tật đố, xan tham. Đó cũng là tinh thần của Thiền – vọng có, vọng không nhưng tánh Bát-nhã luôn luôn có mặt.

Đến lúc dụng công khi ngồi thiền không theo niệm, lúc ra ngoài thấy các pháp đều duyên hợp hư giả như huyễn hóa không có một pháp đáng lưu tâm. Ví dụ như có một người đi chợ, cô ta dạo qua các cửa hàng chen chúc với bao nhiêu người qua lại trên đường phố, nhưng không có vật gì và người nào đáng cho cô để ý. Về đến nhà, người nhà hỏi: Đi chợ có thấy gì không? Cô đáp: Không. Có phải thật không thấy gì chăng? Hẳn không phải thế, chỉ không có gì quan trọng đáng cho cô chú ý nên nói không thấy gì. Khi tiếp duyên xúc cảnh, hành giả thấy rõ các pháp như huyễn, tự nhiên không có gì đáng để lưu tâm. Bên trong có bao nhiêu vọng tưởng đều không tiếp tục chạy theo, lâu ngày tự hết. Bởi vì khi hành giả trực nhận bản tâm, biết rõ nơi mình có cái không sanh diệt tự thuở nào, thì bỗng ngưng cái tâm sanh diệt tạo tác luân hồi.

Nên Tổ Lâm Tế nói:

“Đã khởi chớ tiếp nối, chưa khởi chẳng cần dấy khởi, còn hơn ông đi hành cước mười năm”.

Hay cổ đức cũng dạy rằng:

“Chớ sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”.

Trong “Quy Sơn cảnh sách” Tổ cũng khẳng định pháp này:

“Thử chi nhất học tối diệu tối huyền. Đãn biện khẳng tâm, tất bất tương trám” (Phép học này rất huyền diệu, chỉ người đủ tâm tự nhận, hẳn chẳng lừa dối nhau).

Pháp này tức là pháp Thiền tông thuộc về tâm tông nên nó vượt ngoài ngôn ngữ văn tự nên nói nó rất huyền diệu, mầu nhiệm, khó nghĩ bàn. Người đủ tâm tự nhận thì được lòng tin chắc chắn – thấy được bằng chính trí tuệ của mình, từ nơi tự tâm thầm nhận nên sự nghi ngờ không còn nên công phu dễ dàng thăng tiến, và có năng lực phổ quát đến chúng sanh. Đây là chỗ chân thật, Ngài xác chứng không hề dối gạt nhau.

Trở lại tinh thần Bồ tát đạo theo bài kệ Tỳ ni, chúng ta thấy sở dĩ chư vị Bồ tát, các ngài không nhập Niết-bàn bởi các ngài đủ đại bi và không chìm đắm vào sanh tử vì các ngài đủ đại trí – Đại bi và Đại trí luôn hiện hữu. Với nguyện lực đại bi tác động vào tâm chúng sanh chính là hạt giống thiện pháp của đời này và còn tác động đến đời vị lai.

Trong Luật Nhất Thiết Hữu Bộ có kể lại:

Trong thời quá khứ, tôn giả Xá Lợi Phất đem một xấp vải cúng dường cho một vị Phật Bích Chi. Khi lấy kéo cắt vải, Ngài phát nguyện: ngày hôm nay con phát tâm cúng dường Bích Chi Phật, nguyện đời sau nếu có vị Phật nào đản sanh thì trí tuệ của con cũng giống như chiếc kéo này cắt đến đâu đều đứt sạch lậu hoặc, kiến chấp đến đó.

Đức Phật Thích Ca nói với ngài A-nan: Sở dĩ ông Xá Lợi Phất có được bốn tuệ phân tích, biện tài vô ngại là do trong thời quá khứ ông ấy đã phát nguyện mong được trí tuệ sắc bén như cây kéo này (khi cắt y dâng cúng dường một vị Phật)

Trong Phát Bồ Đề Tâm luận nêu lên năm pháp chấp trì khiến một vị Bồ tát phát nguyện được thành tựu:

  • Phát tâm kiên cố.
  • Thường ngăn ngừa và diệt trừ phiền não.
  • Chế ngự được sự buông lung.
  • Phá trừ được năm điều ngăn che (ngũ cái).
  • Tinh tấn tu tập sáu pháp Ba-la-mật.

Người cầu đạo Vô thượng bồ đề không có buông lung. Hành động buông lung làm phá hoại gốc thiện lành, nếu Bồ tát chế ngự sáu căn (mắt tai mũi lưỡi thân ý) không để nó buông lung thì vị ấy đủ năng lực tu sáu pháp Ba-la-mật. Bồ tát phát tâm trước hết vận lòng chí thành, lập thề quyết định là phát tâm kiên cố. Người đã phát tâm kiên cố thì không bao giờ còn buông lung giãi đãi, trễ nải, khinh lờn nên phiền não không phát sanh. Nhờ vậy vị ấy thành tựu:

Được dự pháp lưu

Vào biển trí Phật.

Pháp lưu có nghĩa là Dự lưu, là quả vị đầu tiên của bốn quả vị thánh giải thoát (Dự lưu, Nhất lai, Bất lai, A-la-hán). Danh từ “Dự lưu” có nghĩa là nhập dòng, để chỉ một người đã nhập dòng thánh giải thoát chắc chắn đưa đến Niết-bàn.

Người đạt quả Dự lưu là người đã đoạn trừ ba kết sử đầu tiên: thân kiến, hoài nghi, và giới lễ nghi thủ (giới cấm thủ). Người này được xem như là một người đã nhập vào dòng giải thoát, tùy theo hạnh nghiệp và tinh tấn mà chỉ tái sinh làm người hoặc trong các cõi trời, tối đa là bảy kiếp, vì vậy có sách gọi là quả Thất lai hay Thất sinh. Người nầy còn được gọi là đã mở “Pháp nhãn”, vì người ấy đã bắt đầu có thanh tịnh về quan kiến, đã trực nhận rõ ràng chánh pháp của Ðức Phật. Người đó không còn xem mình như là một bản thể riêng biệt và thường tồn, kể cả hình sắc và tâm thức. Người đó không còn một chút nghi ngờ nào về sự hiện hữu và lợi ích của Tam Bảo: không còn hoài nghi về sự giác ngộ của Ðức Phật, không còn hoài nghi về con đường mà Ðức Phật đã vạch ra để đi đến giác ngộ, không còn hoài nghi về những đệ tử của Ngài đã đi theo con đường ấy và đã đạt được sự giải thoát tối hậu. Người ấy cũng không còn có ảo tưởng rằng Niết-bàn có thể đạt được bằng cách ép mình vào các hình thức lễ nghi phiến diện hay các điều lệ ước định nào đó.

Trong câu chuyện về công tử Kala, con trai trưởng giả Cấp Cô Độc sẽ cho ta thấy được sự chuyển hóa tâm vi diệu khi một người chứng quả Dự Lưu:

Kala là con trai của nhà cự phú Cấp Cô Ðộc, một vị trưởng giả giàu lòng kính tin và hết lòng phụng sự tăng đoàn Đức Phật. Ngược lại Kala lại có ác cảm rất lớn và đã từng bị mất chức quan và bị đuổi khỏi hoàng cung của vua Ba Tư Nặc. Trưởng giả Cấp Cô Ðộc rất lấy làm khổ tâm. Sau nhiều phen rầy la vô hiệu, ông nghĩ ra một diệu kế trả tiền cho con trai:

– Lần 1: Ông nhờ con đến Kỳ Viên thọ bát quan trai trong vòng 24h và được trả công 100 đồng vàng và Kala đồng ý.

– Lần 2: Ông nhờ Kala đi nghe Phật thuyết pháp giúp vì ông bận đột xuất, phần thưởng sẽ là 200 đồng vàng.

– Lần 3: Ông nhờ Kala nghe và về nói cho Ngài biết, dù chỉ một bài kệ ngắn thôi, phần thưởng lần này 500 đồng vàng. Kala đến Kỳ Viên nghe và thuộc ngay bài kệ và vội vã quay về đi xem hát. Ði được một quãng, Kala sực nhớ là mình chưa hiểu rõ ý nghĩa của bài kệ. Không muốn ấp úng trước mặt cha, Kala đành quay lại ngồi chăm chú nghe Ðức Ðạo Sư thuyết giảng. Như một trái cây vừa chín tới, gặp phải cơn gió giao mùa liền rụng, nhờ những cơ duyên lành đời trước, sau thời thuyết pháp của Ðức Ðạo Sư, Kala chứng ngay sơ quả Tu Ðà Hoàn. Công tử Kala đến quỳ gối trước Ðức Phật, đặt đầu đảnh lễ lên đôi chân trần của Ðức Ðạo Sư, bầy tỏ lòng tri ân vô bờ bến.

Ðức Thế Tôn bảo: này Kala, hôm nay cha con có mời Như Lai đến nhà thọ trai… đã sắp đến giờ rồi chúng ta đi thôi. Kala cung kính đón lấy chiếc bát của Phật và khép nép đi sau Ngài như một thị giả thuần thục. Trưởng giả Cấp Cô Ðộc đẹp lòng hoan hỷ liền mang tiền ra thưởng cho người con Kala 1.000 đồng vàng trước mặt quan khách. Công tử Kala thẹn đỏ mặt, cúi đầu nói nhỏ.

– Thưa cha! Con không cần tiền.

Người cha ngạc nhiên, sững sờ nhìn con rồi quay sang bạch Phật.

– Bạch Thế Tôn! Lần đầu tiên, cháu nó chê tiền.

– Ðức Phật mỉm cười. Kala đã chứng Sơ quả Tu Ðà Hoàn. Và kể từ giờ phút ấy, không một thứ của cải nào trên trần gian này có thể làm lung lạc tâm của Kala được.

Ngài đọc bài kệ.

Dù làm vua cõi đất

Dù làm vua cõi trời

Cũng không so sánh được

Quả vị Tu Ðà Hoàn.

Có nghĩa Đức Phật muốn nói một người dù được làm vua trời Đế Thích hay được làm bậc Chuyển Luân Thánh Vương ở cõi đời cũng không bằng một người đã bước vào dòng Thánh. Đây là một loại hạnh phúc xuất thế gian của người tu đạo.

Hòa Thượng Tuyên Hóa có nói về Quả vị Tu Đà Hoàn như sau:

“Chứng được Sơ quả tức là đã đoạn trừ được kiến hoặc. Chúng ta đều có kiến hoặc và tư hoặc – Đều bị mê hoặc bởi cái thấy (kiến) cũng như bởi ý nghĩ (tư). Chính hai thứ “hoặc” (u mê) này chi phối con người đến nỗi trở nên hồ đồ, mê muội.

Vì thế, nếu muốn chân chánh khai ngộ thì phải đoạn trừ hai thứ “hoặc” này – Kiến hoặc phải được đoạn dứt và tư hoặc cũng phải được trừ khử! Thế nào gọi là “kiến hoặc”? “Kiến hoặc” có nghĩa là “đối cảnh khởi tham ái” – Hễ trông thấy sự vật thì sanh lòng ham muốn và yêu thích. “Tư hoặc” có nghĩa là “mê lý khởi phân biệt” – Bị mê mờ, không hiểu đạo lý, nên nảy sanh lòng phân biệt.

“Kiến” có nghĩa là nhìn thấy, trông thấy. Quý vị trông thấy sự vật và bị chúng mê hoặc, cám dỗ. Vì bị mê hoặc nên quý vị chạy theo cảnh giới, bị cảnh giới lay chuyển. Do bị dao động bởi cảnh giới nên quý vị sanh lòng tham lam và yêu thích. Có lòng tham tất sẽ có sự chấp trước, và có lòng yêu thích thì sẽ không thể buông bỏ.

Vì chấp trước và không thể buông bỏ, nên quý vị không thể chứng được Thánh quả. Nếu quý vị muốn chứng được Thánh quả, thì cần phải đoạn trừ kiến hoặc”.

Bài kệ thứ 3:

Nhược kiến kiều đạo

Đương nguyện chúng sanh

Quảng độ nhất thiết

Do như kiều lương.

Nghĩa:

Nếu thấy cầu đường

Nguyện cho chúng sanh

Hóa độ tất cả

Giống như cầu cống.

Tiếng Phạn tế-đổ, dịch là cầu. Hạ mình và nhịn người lăng nhục, ví như cầu cống. Bài kệ hàm ý Bồ tát khi phát nguyện hóa độ chúng sanh, phải có tâm bình đẳng, khiêm hạ, và nhẫn nhục.

Pháp sư La Thập bảo:

“Nói khiêm hạ là dù bị lấn đạp lên mà nhẫn chịu không khinh thường, giống như cầu cống vậy”.

Vì sao Bồ tát hành nhẫn nhục Ba-la-mật giống như cầu cống? Và tại sao Bồ tát có khả năng nhẫn nhục còn chúng ta thì không?

Câu chuyện Tôn giả Xá Lợi Phất hành pháp kham nhẫn nhưng Ngài vẫn cảm nhận khó phát tâm Đại thừa khi gặp chướng duyên, nghịch cảnh:

Trong thời quá khứ, Tôn giả Xá Lợi Phất từng phát tâm Đại thừa tu hành Bồ-tát đạo, khi sắp trở thành Bồ-tát bất thối chuyển (địa thứ bảy trong mười địa của Bồ-tát) thì có một thiên tử muốn đến thử thách tâm Đại thừa của Ngài. Thiên tử liền biến thành một đứa bé ngồi khóc dưới gốc cây, đợi Tôn giả Xá Lợi Phất đi qua. Thấy đứa bé ngồi khóc, Tôn giả bước tới hỏi:

Có chuyện gì mà sao con lại ngồi đây khóc?

Dạ, chuyện này khó vô cùng, ông không giúp được con đâu.

Có chuyện gì con cứ nói ra, biết đâu ta có thể giúp được con thì sao.

Trước sự hối thúc của Xá Lợi Phất, đứa bé đành buồn bã nói:

Mẹ con mắc bệnh nan y, đại phu nói cần phải dùng mắt của người sống nấu thuốc mới có thể trị bệnh được, lại phải là mắt của Thánh nhân mới được. Mắt người phàm đã khó tìm, huống chi là mắt của thánh nhân? Mẹ con bệnh nặng sắp không qua khỏi, sao con có thể không buồn được?

Tôn giả Xá Lợi Phất nghe xong liền mỉm cười nói với đứa bé:

Đừng lo lắng buồn rầu nữa, ta sẽ giúp con! Chẳng giấu gì con, ta nguyện phát tâm Đại thừa bố thí tất cả tài sản cho chúng sanh. Đúng lúc ta đang tìm cơ hội để bố thí thân này, nên nhất định sẽ giúp con, con cứ yên tâm. Nhưng con giúp ta móc mắt được không?

Tôn giả nói xong thì cúi xuống trước mặt đứa bé. Đứa bé liền xua tay:

Con không dám móc mắt của Ngài đâu, làm như vậy sẽ bị xem là phạm pháp. Nếu thật lòng muốn giúp con, thì Ngài hãy tự móc mắt mình đưa cho con.

Nghe vậy thấy cũng có lý, Tôn giả Xá Lợi Phất liền dứt khoát dùng tay móc mắt bên trái đưa cho đứa bé:

Đây con cầm lấy! Ta rất mong, mẹ con nhanh chóng bình phục.

Lúc này đứa bé bỗng kêu lên:

À, con quên! Đại phu nói cần con mắt bên phải, mắt bên trái không dùng được.

Tôn giả nghe xong liền thất kinh biến sắc, trách mình đã quá bất cẩn. Bây giờ chỉ còn lại mỗi mắt bên phải để nhìn đường, nên Ngài có chút hơi do dự.

Nhưng Tôn giả lại nghĩ các thánh nhân trong quá khứ phát tâm đại thừa tu hành Bồ-tát đạo, các ngài sẵn sàng bố thí đầu, mắt, tủy, não; trải qua không biết bao nhiêu kiếp sống mà chẳng thoái tâm, chẳng lẽ giữa đường ta lại thoái chí hay sao? Cứu người phải cứu đến cùng, mắt bên trái không dùng được thì ta sẽ móc mắt bên phải đưa cho đứa bé này. Nghĩ vậy, Ngài không hỏi gì mà liền đưa tay móc nốt con mắt bên phải đưa cho đứa bé.

Đứa bé cầm lấy con mắt của Tôn giả Xá Lợi Phất đưa lên mũi ngửi rồi ném xuống đất dùng chân giẫm lên, chửi:

Ông là loại thánh nhân gì vậy? Mắt của ông tanh quá sao có thể dùng để nấu thuốc được?

Xá Lợi Phất nghe đứa bé nhục mạ, còn dùng chân giẫm lên con mắt của mình thì không khỏi chán nản. Ngài suy nghĩ, bản thân phát tâm đại thừa cứu độ chúng sanh nên mới sẵn lòng bố thí mắt, mắt bên trái không dùng được mà mắt bên phải thì chê tanh, Ngài đâu có lỗi gì mà phải chịu những lời khó nghe như vậy? Cũng bởi vì thế, tấm lòng muốn cứu độ chúng sanh của Xá Lợi Phất cũng bị thoái lui. Ngài cảm thấy chúng sanh khó độ, không muốn phát tâm đại thừa nữa.

Người phát tâm đại thừa dù gặp phải những chúng sanh ương ngạnh cũng không được thoái chí, nên vui vẻ bố thí mới có thể buông bỏ một phần “ngã chấp ngã ái”, chứng được một phần tự tại Tánh không.

Nên Bồ tát nhẫn nhục được vì các ngài có ba đặc tính lớn:

  • Trí tuệ lớn.
  • Công hạnh lớn.
  • Tình thương lớn.

Bồ tát vào cuộc đời lập hạnh lớn vì tất cả chúng sanh. Cho nên một người mới phát Bồ-đề tâm làm công hạnh thôi cũng hơn một vị A-la-hán. Bởi vì tinh thần Bồ tát đạo là: với lòng từ rộng, không nỡ để chúng sanh chìm đắm trong biển sanh tử nên Bồ-tát đi vào cuộc đời để hóa độ và tu hành.

Trong câu chuyện “Túi vải của sư phụ”, chúng ta sẽ thấy rõ việc phát tâm rộng lớn có giá trị như thế nào:

Có hai thầy trò ra ngoài hoằng pháp độ sanh, vị sư phụ đi trước, đồ đệ mang hành lý đi theo sau. Trên đường đi, vị đệ tử trong lòng khởi niệm: “Ta nhất định phải phát Bồ-đề tâm, rộng độ chúng sanh, tương lai mới có thể cứu giúp cho đời!” – người đồ đệ tuy tuổi còn nhỏ nhưng trong tâm phát ra được ý niệm này, chính là tâm nguyện Bồ-tát: Chỉ nguyện chúng sanh được lìa khổ, không vì bản thân cần an nhàn.

Vị sư phụ là một bậc A-la-hán ngộ đạo, có đủ các thần thông. Trong tâm Ngài thừa biết đồ đệ phát tâm là căn tính của Bồ-tát, thật là tuyệt vời. Tự nghĩ mình không bằng đệ tử, Ngài cảm thấy hổ thẹn: Ta còn chưa phát được cái tâm rộng độ chúng sanh này. Nghĩ vậy, Ngài lập tức kêu to: Này đồ đệ! Túi vải con mang trên lưng, hãy để ta mang giúp cho!

Người đệ tử lòng thầm nghĩ, sư phụ mình hôm nay sao khách khí như vậy?

Thưa sư phụ! Không cần đâu ạ, con tự mang được rồi!

Cứ đưa cho thầy đi! Sư phụ mang túi vải, rồi nói với đồ đệ: Con đi trước, thầy đi sau con.

Trong lòng vị đệ tử cảm thấy có nhiều điều thật khó hiểu.

Cứ đi như thế, bỗng nhiên nhìn thấy phía trước có một hồ nước, rất nhiều kiến đang chơi vơi dưới nước, một số khác đang vùng vẫy, số còn lại đã chết chìm. Vị đệ tử nghĩ: “Trời ơi! Chúng sanh nhiều như vậy, ta làm sao có thể rộng độ hết được chứ? Độ không nổi rồi, thôi bỏ đi! Ta cứ làm người tiểu thừa vậy, cứu chính mình trước đã”. Vị đệ tử vừa khởi tâm động niệm, sư phụ biết, lập tức la lên: “Đứng lại! Ngươi mang túi vải đi! Rồi theo sau ta”.

Câu chuyện này nói lên tâm lượng của một người càng rộng bao nhiêu thì thành tựu sẽ càng lớn bấy nhiêu. Bồ-tát phát tâm Bồ-đề: “Trên cầu thành Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh”, trong mỗi niệm đều biết chúng sanh đang đau khổ, mỗi niệm phải làm cho chúng sanh được an vui. Cho nên, vị sư phụ dù đã chứng quả A-la-hán vẫn phải tôn kính đồ đệ phát tâm Bồ-đề ba phần.

Như vậy, chúng ta nếu muốn hành Bồ-tát đạo phải có tâm khiêm hạ, kham nhẫn nhưng đặc biệt dù khởi bất cứ tâm niệm gì cũng phải nghĩ đến lợi ích của người khác, quên mình mà đem lại niềm an vui cho mọi người – nguyện gian lao khổ nhọc chẳng quản, miễn sao độ được chúng hữu tình quay về bờ giác như tinh thần trong bài kệ “Tứ hoằng thệ nguyện”:

Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học

Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

Đây là bốn lời nguyện rộng lớn mà chư Bồ-tát phát khởi trên con đường hành Bồ-tát đạo mà ở đó Nhẫn là pháp tu, là phẩm hạnh Ba-la-mật – không còn thấy ta người, tất cả chỉ là sự thể hiện tâm bi nguyện mong cứu độ hết thảy muôn loài.



Bài 36: DỤC PHẬT

(Tắm Phật)

Bài kệ “Tắm Phật”:

Ngã kim quán dục chư Như lai

Tịnh trí trang nghiêm công đức tụ

Ngũ trược chúng sanh linh ly cấu

Đồng chứng Như Lai tịnh pháp thân.

Nghĩa:

Nay con rưới tắm thân Như lai

Trí sạch trang nghiêm nhiều công đức

Chúng sanh năm trược lìa dơ bẩn

Đồng được pháp thân của Như lai.

Dục là rửa, nghĩa là rửa bỏ cấu bẩn của thân. Dục Phật còn gọi là quán Phật. Quán Phật theo tinh thần thiền là quán thật tướng.

Tinh thần này được diễn tả trong Kinh Duy Ma Cật, Phẩm Phật A Súc như sau:

Khi ấy Thế Tôn hỏi ông Duy-ma-cật:

– Ông muốn thấy Như Lai, thì lấy gì để quán sát?

Ông Duy-ma-cật thưa:

– Như con quán thật tướng của thân, quán Phật cũng vậy. Con quán Như Lai đời trước không đến, đời sau không đi, hiện tại không ở…

Ý nghĩa đoạn kinh muốn diễn bày: Nếu ba thời ta không dính mắc một pháp nào hết thì lìa vọng tưởng, mà không bị vọng tưởng chi phối tức là thực tướng của Như Lai, và dứt sạch vọng niệm thì nghiệp không kéo lôi nên ra đi tự tại khỏi luân hồi. Cho nên quán thật tướng như thế gọi là sát na tam-muội – tức là từng sát na chánh định.

Quán Phật còn là học theo đức tính công hạnh của Phật, điểm này Lục Tổ Huệ Năng nói:

“Tự tánh mê tức là chúng sanh, tự tánh giác tức là Phật, từ bi tức là Quán Thế Âm, hỉ xả gọi là Đại Thế Chí, hay tịnh tức là đức Thích-ca, bình trực tức là Phật Di-đà. Nhân ngã ấy là núi Tu-di, tà tâm là biển độc, phiền não là sóng mòi, độc hại là rồng dữ, hư vọng là quỷ thần, trần lao là rùa trạnh, tham sân là địa ngục, ngu si là súc sanh.

Này Thiện tri thức, thường làm mười điều lành thì thiên đường liền đến, trừ nhân ngã thì đổ núi Tu-di, dẹp được tham dục thì biển nước độc khô, phiền não không thì sóng mòi mất, độc hại trừ thì rồng cá đều dứt. Ở trên tâm địa mình là giác tánh Như Lai phóng đại quang minh, ngoài chiếu sáu cửa thanh tịnh hay phá sáu cõi trời dục, tự tánh trong chiếu ba độc tức liền trừ địa ngục v.v… Các tội một lúc đều tiêu diệt trong ngoài sáng tột, chẳng khác với cõi Tây phương…”

Trong Tỳ-nại-da tạp sự ghi:

Tỳ-kheo Nan-đà chứng được quả A-la-hán. Lúc này Ngài vui mừng nói kệ:

Tâm kính vâng tắm rửa

Nước sạch và hương xoa

Cùng tu các phước điền

Được báo thù thắng này.

Đại chúng nghe vậy thưa với Phật: Bạch Đức Thế Tôn, Tỳ-kheo Nan-đà trước làm nghiệp gì mà hiện giờ được quả báo thù thắng là sắc thân vàng ròng?

Phật bảo: Vào thời quá khứ khi thỉnh Phật Tỳ-bà-thi vào nhà tắm, Tỳ-kheo Nan-đà sửa soạn nước nóng thơm cho Phật tắm, tịnh tâm phát nguyện. Nhờ nhân lành này, nay là em của Phật có thân sắc vàng ròng.

Chúng sanh trước tiên thấy hình tướng tốt đẹp liền phát tâm Bồ-đề, sau đó mới có thể quán chiếu hình tượng đức Phật một cách trang nghiêm được. Nên chư Phật thị hiện vào cuộc đời là muốn tùy thuận chúng sanh. Tùy thuận ở điểm nào?

Bởi vì chúng sanh ở cõi Ta-bà này chấp âm thanh, sắc tướng nên chư Phật vào cuộc đời này phải thị hiện 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp. Tuy nhiên tướng hảo quang minh này của Đức Phật cũng do thệ nguyện thiện lành trong thời quá khứ đã tạo nên mới có được – chứ không phải ai cũng có năng lực thị hiện như các Ngài. Cho nên hành giả tu Phật mỗi khi làm thiện pháp phải phát thệ nguyện rộng lớn như Phật đã làm để gieo duyên lành trên con đường hành đạo phổ độ chúng sanh.

Nên trong Luật Thiện Kiến có nói:

Như thời nay không có Phật trụ thế mà có chúng sanh nào đập bể tượng Phật, khinh chê tôn tượng là đồng như làm thân Phật chảy máu.

Vì vậy trong kinh Công Đức Tắm Phật nói:

Các hàng tu xuất gia và cư sĩ tại gia đều nên tạo tượng Phật. Nếu không có khả năng dù chỉ tạc tượng nhỏ như hạt gạo lúa mạch, tháp nhỏ như trái táo, cột nhỏ như cây kim, lọng che như vỏ trấu, Xá-lợi như hạt cải, rồi viết bài pháp tụng đặt vào bên trong đó để tôn trọng cúng dường, tùy sức mình chí thành tha thiết lễ cúng dường như đối trước tự thân của Như Lai không khác. Này các thiện nam tử, nếu có chúng sinh nào, biết cúng dường như vậy, được mười lăm công đức rất thù thắng trang nghiêm. Các loại công đức đó là:

  1. Có tâm hổ thẹn. (nhờ quán sâu công đức của Phật)
  2. Phát khởi tín tâm thanh tịnh.
  3. Tâm được ngay thẳng.
  4. Gần gũi bạn lành.
  5. Nhập trí vô lậu.
  6. Thường thấy chư Phật. (ít dấy khởi vọng tưởng mà tâm thường tỉnh sáng – nhờ tôn kính tôn tượng Đức Phật, nên khi công phu tu tập dễ thâm nhập vào sự giác ngộ, ít bị vọng niệm loạn động quấy nhiễu).
  7. Hộ trì chánh pháp.
  8. Y giáo tu hành.
  9. Tùy theo ý muốn, được sinh về Tịnh độ (Tùy ý vãng sinh vào quốc độ thanh tịnh của chư Phật).
  10. Nếu sinh làm người, thuộc dòng tộc tôn quý, được kính trọng, phục vụ, người thấy tâm hoan hỉ.
  11. Khi sinh ở nhân gian thì tự nhiên sẽ luôn tưởng nhớ Phật.
  12. Chúng ma quân không thể tổn hại và não loạn.
  13. Thời mạt pháp, vẫn có thể hộ trì được chánh pháp thanh tịnh.
  14. Được gia hộ của chư Phật mười phương.
  15. Mau thành tựu được năm phần pháp thân.

Còn trong sách Quy Ký truyện nói:

Rõ ràng gốc của sự tu hành không gì vượt qua ba bậc tôn quý, nguyên nhân của tư tưởng khế hợp, không gì hơn Tứ Đế. Nhưng chân lý sâu xa, việc làm phải tránh tâm thô tháo thì nghi thức tắm thánh tượng mới thật là việc lợi ích cộng thông. Bậc đạo sư tuy đã nhập diệt mà hình tượng vẫn còn, tâm ngưỡng vọng của chúng ta như Phật còn hiện tại, lý nên tuân kính. Hoặc thường nên thiết cúng hương hoa, sanh tâm thanh tịnh, hoặc làm việc rưới tắm để đủ sức súc rửa nghiệp hôn trầm.

Nên trong Truy Môn Cảnh Huấn, Thiền sư Vĩnh Minh dạy:

Lễ Phật là kính cái đức của Phật.

Niệm Phật là cảm ân đức của Phật.

Giữ giới là hành theo hạnh của Phật,

Xem kinh là để hiểu rõ chân lý của Phật,

Tọa thiền là để đạt đến cảnh giới của Phật,

Tham thiền là để hợp với bản tâm của Phật,

Kiến tánh là chứng được cái đạo của Phật.

Thuyết pháp là thỏa mãn thệ nguyện của Phật.

Nơi lý thực tế chẳng hấp thụ một mảy bụi, trong cửa muôn hạnh chẳng bỏ một pháp nào. Song tám việc này như bốn phương, tám góc thiếu một chẳng được. Thánh trước, thánh sau phép tắc là một, sáu Ba-la-mật đều phải thực hành cả. Lục Tổ dạy: “Người chấp không thì bị trệ, nói rằng: Phật chẳng lập văn tự. Tự mê thì còn được, nhưng lại báng bổ kinh Phật thì tội chướng quả là sâu nặng. Há chẳng lấy đó làm răn ư?”.

Tại sao khi ta lễ Phật là kính “đức hạnh” của Ngài?

Bởi vì đức hạnh của Đức Phật nằm ở chỗ Ngài được xem là vị đạo sư giàu lòng bi mẫn và rộng lượng khoan hồng hơn tất cả.

Lịch sử ghi lại rất nhiều mẫu chuyện cho thấy rằng: Phật đã khuyên giải kẻ bất hạnh bằng những lời an ủi. Ngài giúp đỡ người nghèo khổ bị bỏ rơi. Ngài biến đổi đời sống kẻ lừa dối thành cao thượng, làm trong sạch đời sống đồi bại của kẻ phạm tội. Ngài khuyến khích kẻ yếu đuối, đoàn kết kẻ chia rẽ, giác ngộ người ngu muội, khai sáng kẻ hoang mang, nâng đỡ kẻ hạ tiện và đề cao người cao thượng. Người giàu lẫn người nghèo, thánh nhân hay tội phạm đều yêu thích Ngài. Hoàng Ðế bạo ngược hay đức hạnh, các vương tôn công tử nổi tiếng hay tầm thường, triệu phú hào phóng hay keo kiệt, bậc học giả cao ngạo hay nhún nhường, kẻ cơ cực, người bần hàn, người quét đường bị áp bức, kẻ giết người độc ác, gái giang hồ bị miệt thị- tất cả đều được lợi lạc từ những lời dạy từ bi và trí tuệ của Ngài để sống một cuộc đời an lành và cao thượng.

Vì vậy, chúng ta tôn thờ tượng Phật không phải vì cầu xin Phật như một đấng tối cao ban phước, tha tội mà là phương tiện để tưởng nhớ đến Đức Phật và công hạnh từ bi, trí tuệ của Ngài. Điều này được thuật lại trong kinh Tăng Chi Bộ câu chuyện Đức Phật giảng pháp cho thân mẫu là hoàng hậu Ma-Da (Maya) đã mất và thác sanh là chư thiên ở cõi trời Tam thập tam. Ngài rời thế giới này trong ba tháng. Vua Ưu Đà Diên (Udaga) nhớ Phật, sai thợ chạm tượng Ngài. Đến khi Đức Phật trở lại, nhà vua trình Ngài bức tượng và Ngài đã giảng về công đức lớn của việc tạo dựng tượng Phật: Nhờ tư duy công đức chư Phật bên ngoài, cho nên thành tựu công đức của Phật tâm bên trong tâm chúng ta. Nhờ tư duy công đức của Phật bên trong tâm chúng ta, cho nên thành tựu các phước báo thuộc sắc thân và hoàn cảnh bên ngoài.

Chúng ta chiêm ngưỡng lễ lạy tôn tượng Đức Phật để tỏ lòng thành kính, biết ơn Ngài đã vạch ra con đường cứu khổ, giải thoát cho loài người và quyết noi theo lời dạy của Ngài nuôi dưỡng trí tuệ, lòng từ bi, thực hành thiền định để thân tâm được thanh tịnh, góp phần biến Ta-bà thành tịnh độ tại nhân gian – xây dựng bình an, hạnh phúc và lan tỏa tình yêu thương rộng lớn đến mọi người, mọi loài.



Bài 37: TÁN PHẬT

(Ca tụng Phật)

Tán: tiếng phạn là Tuất đát la, là xưng dương ca tụng đức; đó là xưng dương công đức của Phật, tán thán thân tướng tốt của Phật, xưng dương các thứ mỹ đức của Phật, tán thán các thứ diệu hạnh của Phật.

Theo Thích thị yếu lãm quyển trung nói:

“Nếu có người khen ngợi Như Lai bằng bài kệ 4 câu với tâm vui mừng thì công đức mà người ấy đạt được còn nhiều hơn cả công đức của người dâng các thứ như y phục, đồ trải để nằm, ngồi, thuốc thang, thức ăn uống… cúng dường vị Bích Chi Phật trong 100 năm”.

Cho nên trong các tự viện ta thấy có bài kệ tán Phật quen thuộc mà chư Tăng thường đọc tụng trong các buổi lễ:

Đấng Pháp Vương vô thượng

Ba cõi chẳng ai bằng

Thầy dạy khắp trời người

Cha lành chung bốn loài

Quy y tròn một niệm

Dứt sạch nghiệp ba kỳ

Xưng dương cùng tán thán

Ức kiếp không cùng tận.

Khi chúng ta lên chánh điện hay thiền đường tác lễ dù có xưng tán chư Phật muôn ức kiếp cũng không bao giờ đủ đối với công hạnh cao tột của các Ngài. Tuy nhiên, với tinh thần trọn một niệm quy y, hành giả có thể diệt được nghiệp ở ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai (ngay một niệm trở về với thực tại thì nghiệp ba tăng kỳ đều hết). Tại sao một niệm quay về nương tựa Phật lại có công năng vi diệu như vậy?

Trong kinh Pháp Cú có các bài kệ 188 – 192 nói về quy y như sau:

Loài người sợ hoảng hốt,

Tìm nhiều chỗ quy y,

Hoặc rừng rậm, núi non,

Hoặc vườn cây, đền tháp.

Quy y ấy không ổn,

Không quy y tối thượng.

Quy y các chỗ ấy,

Không thoát mọi khổ đau.

Ai quy y Ðức Phật,

Chánh pháp và chư Tăng,

Ai dùng chánh tri kiến,

Thấy được bốn thánh đế.

Thấy khổ và khổ tập,

Thấy sự khổ vượt qua,

Thấy đường thánh tám ngành,

Ðưa đến khổ não tận.

Thật quy y an ổn,

Thật quy y tối thượng,

Có quy y như vậy,

Mới thoát mọi khổ đau.

Trong kinh Pháp cú, Đức Phật đã chỉ rõ điều gì xảy ra khi sợ hãi phát sinh trong tâm của kẻ phàm phu, không biết tu tập. Khi họ sợ hãi nhiều thứ, họ đi tìm cầu sự che chở. Do đó, họ nương trú nơi nhiều thứ. Những thứ người thế gian nương tựa không thực sự an ổn, mà chỉ có quy y với Đức Phật mới được xem là chỗ quy y tối thượng đem lại sự an lành nhất.

Nói về quy y Phật thoát được nỗi sợ sanh tử. Trong Hữu bộ Tỳ Nại Da Tạp sự Q.17 có đề cập câu chuyện về Phạm chí Hắc Thị Tu:

Phạm chí Hắc Thị Tu (chỉ người thuộc dòng Bà-la-môn xuất gia tu tập, quyết chí cầu sanh lên cõi Phạm thiên nên gọi là Phạm chí) đắc năm thần thông, thuyết pháp rất hay, đến cả trời Đế Thích cũng xuống nghe pháp. Song, một hôm nghe vị ấy giảng xong, trời Đế Thích tỏ vẻ buồn bã rơi lệ. Phạm chí thấy lạ bèn hỏi:

– Ngài vì sao buồn khóc như thế?

Trời Đế Thích nói:

– Tôi nghe Ngài giảng pháp rất hay, song tôi biết rõ tuổi thọ của Ngài chỉ còn bảy ngày nữa thôi.

Phạm chí nghe xong hoảng sợ, xin trời Đế Thích cứu cho.

Trời Đế Thích từ chối và chỉ ông đến Đức Phật.

Phạm chí bèn vội đến chỗ Phật, trên đường ông thấy hai cây ngô đồng đang trổ hoa đẹp, liền dùng thần thông nhổ cả hai cây bưng trên hai tay đến cúng dường Phật.

Phật gọi tiên nhân Phạm chí bảo:

– Hãy buông đi!

Phạm chí liền buông cây hoa ngô đồng trên tay trái.

Phật lại bảo:

– Buông đi!

Phạm chí buông tiếp cây hoa ngô đồng trên tay phải. Phật lại bảo tiếp:

– Buông đi!

Phạm chí liền thưa:

– Bạch Thế Tôn! Hai tay con đều trống cả rồi, Ngài còn bảo con buông cái gì nữa?

Phật bảo:

Ta chẳng phải bảo ông buông gốc hoa đó, mà chính là bảo ông buông xả sáu trần bên ngoài, sáu căn bên trong và sáu thức ở giữa kia kìa; tất cả một lúc buông sạch hết.

Phạm Chí ngay đó liền tỏ ngộ pháp vô sanh, lễ tạ Phật.

Như vậy, trở về nương tựa với Đức Phật là an ổn nhất và giúp chúng ta thoát mọi khổ đau – như vị Phạm chí sau khi được Phật khai thị giác ngộ thì không còn bị nỗi sợ sanh tử chi phối nữa.

Theo tinh thần quy y của Lục Tổ Huệ Năng, ta sẽ thấy rõ ý nghĩa câu “Quy y tròn một niệm – Dứt sạch nghiệp ba kỳ”, bởi vì Ngài nói:

Qui y Giác Lưỡng Túc Tôn,

Qui y Chánh Ly Dục Tôn,

Qui y Tịnh Chúng Trung Tôn.

Từ ngày nay trở đi xưng Giác làm thầy, lại chẳng quy y tà ma ngoại đạo, dùng Tự tánh Tam Bảo thường tự chứng minh, khuyên thiện tri thức qui y Tự tánh Tam Bảo: Phật là Giác, Pháp là Chánh, Tăng là Tịnh vậy.

Tự tâm quy y Giác, tà mê chẳng sanh, thiểu dục tri túc, hay lìa tài sắc, gọi là Lưỡng Túc Tôn.

Tự tâm quy y Chánh, niệm niệm không tà kiến, vì không tà kiến tức là không nhân ngã cống cao, tham ái, chấp trước gọi là Ly Dục Tôn.

Tự tâm quy y Tịnh, tất cả cảnh giới trần lao ái dục, Tự tánh đều không nhiễm trước gọi là Chúng Trung Tôn

Nếu tu hạnh này, ấy là tự quy y. Phàm phu không hiểu, từ sáng đến tối, thọ Tam quy ngũ giới, nếu nói quy y Phật, Phật ở chỗ nào? Nếu chẳng thấy Phật thì nương vào chỗ nào mà quy, nói lại thành vọng.

Thường ở chùa chúng ta hay đọc: qui y Phật Lưỡng Túc Tôn, qui y Pháp Ly Dục Tôn, qui y Tăng Chúng Trung Tôn, nhưng Lục Tổ lại dạy khác: quy y Giác Lưỡng Túc Tôn, quy y Chánh Ly Dục Tôn, quy Tịnh Chúng Trung Tôn. Tinh thần quy y trong một niệm chính ngay đây, bởi:

Quy y Giác, tức một niệm tỉnh giác thì tà mê chẳng sanh, nên xa lìa được ngũ dục và sống với hạnh biết đủ nên gọi là Lưỡng Túc Tôn.

Quy y Chánh, Chánh tức là chánh kiến; bởi chánh kiến nên không có tà kiến; bởi không tà kiến nên mình không có chấp nhân, chấp ngã, cống cao, tham ái, chấp trước, lìa những tham dục, đó gọi là Ly Dục Tôn.

Quy y Tịnh, tức là trở về tâm thanh tịnh của mình, thì tất cả các trần lao, ái nhiễm v.v… ngay Tự tánh mình đều không nhiễm trước, gọi đó là Chúng Trung Tôn.

Vậy Giác là giác của Tự tâm, Chánh là chánh của Tự tâm, và Tịnh là tịnh của Tự tâm, đây là Phật Pháp Tăng của Tự tâm; còn chúng ta qui y Phật Pháp Tăng ở ngoài, cho nên khác nhau ở chỗ đó.

Như vậy quy y Giác là qui y Phật, đó là Phật của chính mình, không phải Phật nào khác. Giác, Chánh, Tịnh là sẵn nơi Tự tâm của mình, chớ không ở đâu xa.

Cho nên bài kệ Tỳ ni này dạy:

Tán Phật tướng hảo

Đương nguyện chúng sanh

Thành tựu Phật thân

Chứng vô tướng pháp.

Nghĩa:

Khen Phật tướng tốt

Cầu cho chúng sanh

Thành tựu thân Phật

Chứng pháp vô tướng.

Vậy vô tướng là gì?

Vô tướng là phải phá tướng thì mới hiện ra cái vô tướng được. Hay nói khác hơn, Vô tướng là đối với tướng mà lìa tướng (kinh Pháp Bảo Đàn).

Ví dụ như ngay bình bông này mà lìa bình bông là thế nào? Chúng ta cũng nhìn bình bông, nhưng không có niệm phân biệt đẹp xấu, là ngay bình bông mà lìa bình bông. Nếu vừa nhìn bình bông liền phân biệt đẹp xấu là dính mắc nơi bình bông, như vậy lìa bình bông là thấy mà không dính, chớ không phải nhắm mắt đừng thấy nó mới gọi là lìa. Điểm này phải hiểu thật rõ cho khỏi lầm, nghe nói lìa tướng rồi đi đâu cũng che mắt lại, không nhìn cảnh vật vì sợ thấy nó là kẹt với tướng. Không phải như thế. Ngay nơi tướng, thấy vẫn thấy nhưng không thêm niệm gì để phân biệt, để so sánh thì đó là lìa tướng; nơi tướng mà lìa tướng đó là vô tướng.

“Thành tựu Phật thân – Chứng pháp vô tướng” được nhấn mạnh rất rõ trong 4 câu kệ của kinh Kim Cang như sau:

Nhược dĩ sắc kiến ngã

Dĩ âm thanh cầu ngã

Thị nhân hành đạo tà

Bất năng kiến Như Lai.

Nghĩa:

Nếu dùng sắc thấy ta

Đem âm thanh cầu ta

Người ấy hành đạo tà

Không thể thấy Như Lai.

Đức Phật có hình tướng chỉ là Phật ứng hóa thân có sinh có diệt. Còn thể tánh tịch lặng hằng tri hằng giác là Phật pháp thân, mới là Phật thật, không bao giờ sanh diệt. Vì thế trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật bảo Ngài đã thành Phật từ vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức na do tha kiếp. Và một điều rất đặc biệt mà Ngài muốn nói theo tinh thần “khai thị tri kiến Phật” đó là trong mỗi chúng sanh cũng đều có sẵn vị Phật này. Vì vậy không nên theo thanh sắc, quang ảnh mà cầu thấy Phật, vì ngoài tâm cầu Phật đều là ngoại đạo – “Người ấy hành đạo tà. Không thể thấy được Như Lai”.

Như Lai ở đây không có nghĩa là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đang thăng tòa thuyết pháp. Mà “Như” muốn chỉ cho thể tánh bất động hằng hữu, còn “Lai” là từ thể tánh ấy mà đến, mà khởi ra diệu dụng.

Như là bất biến, Lai là tùy duyên. Như là tâm thể, Lai là tâm dụng. Như khi ta nhìn thấy một bông hoa là “Lai”, thấy mà không khởi niệm phân biệt hoa vàng, hoa đỏ, cánh trắng, cánh hồng… là “Như”. Trong cái thấy bông hoa chỉ là cái thấy như thật bông hoa đó, không thêm bớt, không khởi thêm vọng niệm phân tích hay so sánh gì nữa. Mọi người ai cũng đều có đức tánh “Như Lai” thanh tịnh thường hằng như vậy nhưng do bị tập khí nhiều đời che phủ nên thấy biết sai lệch theo xu hướng chấp ngã của riêng mình.

Như vậy, Như Lai là pháp thân thường hằng của chúng ta, Pháp thân đó không thuộc sắc tướng thì đâu có chấp ngã, nó cũng không thuộc âm thanh thì đâu có chấp tiếng. Tất cả âm thanh, sắc tướng sanh diệt đều không chấp tức không hành theo đường tà. Hay nói cách khác, ngay nơi âm thanh, hình sắc mà bặt hết các niệm đối đãi thì liền đó thể nhập pháp thân (còn vừa có niệm phân biệt tốt – xấu, hay – dở, hoặc lấy hoặc bỏ là còn dính mắc, tâm chưa rỗng rang thanh tịnh). Đây cũng chính là tinh thần mà bài kệ Tỳ ni muốn hành giả tu tập đạt được – khi xưng tán Phật bên ngoài, cũng phải nhận được Phật pháp thân của chính mình mới thật sự là cứu cánh rốt ráo.



Bài 38: NHIỄU THÁP

(Nhiễu quanh tháp Phật)

Bài kệ “Nhiễu tháp”:

Hữu nhiễu ư tháp

Đương nguyện chúng sanh

Sở hành vô nghịch

Thành nhất thiết trí.

Nghĩa:

Nhiễu tháp chiều phải

Nguyện cho chúng sanh

Việc làm không nghịch

Thành nhất thiết trí.

Nhiễu tháp: nghĩa là đi vòng quanh tháp của những bậc trưởng thượng để tỏ lòng mến mộ, tôn kính.

Kinh Hiền giả ngũ giới nói:

“Đi quanh tháp ba vòng biểu thị sự tôn kính Tam bảo, diệt được tam độc”.

Kinh Đề-vi nói:

Nhiễu tháp có năm phước:

  1. Đời sau được sắc tướng tốt đẹp đoan chính.
  2. Được giọng nói có âm thanh tốt.
  3. Được sanh lên các cảnh trời.
  4. Được sanh trong quý tộc, vương hầu.
  5. Chứng được Niết-bàn.

Kinh Pháp Hoa nghĩa sớ nói:

“Nơi nào thờ xá lợi của Phật gọi là Tháp, mà không có xá lợi Phật thì gọi là Chi đề”.

Tại sao lại nhiễu tháp theo bên phải?

Hữu nhiễu (nhiễu bên phải) là thuận với chánh đạo. Vì các điển tích ghi lại các dấu hiệu “bên phải” như:

Đức Phật sanh ra từ bên hông phải của hoàng hậu Ma Da là tiêu biểu cho sự thuận chiều Niết-bàn và nghịch chiều sanh tử. Ngoài ra các tướng khác như lông trắng giữa chặn mày của Phật, chữ vạn trước ngực, tóc hình xoắn ốc trên nhục kế đều xoay vòng theo chiều phải.

Chúng ta biết rằng Đức Phật thị hiện trong cuộc đời này là Phật đã thành tựu “Nhất thiết chủng trí” (Tức là dùng một loại trí tuệ mà biết được nhân chủng của tất cả các pháp và tất cả chúng sinh, đồng thời cũng là trí rõ suốt tướng vắng lặng và hành loại của các pháp) nên Ngài từ khước được tất cả mọi bám víu nhục dục và xa lìa mọi sự chấp trước của thế gian. Nhưng do lòng bi nguyện nên Phật thị hiện vào cõi Ta-bà để hóa độ chúng sanh còn nhiều mê lầm, khổ não. Nên trí tuệ này cũng còn gọi là Phật trí – chỉ có đức Phật chứng được. Đó là một trong ba loại trí tuệ (Nhất thiết trí là trí của Thanh văn, Duyên giác. Đạo trí là trí của Bồ tát, còn Nhất thiết chủng trí là trí của Phật).

Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 581 trung) nói:

“Chư Phật Như lai xa lìa tướng thấy, có đại trí dụng, tự thể chiếu rọi tất cả vọng pháp, có vô lượng phương tiện, tùy theo căn cơ của chúng sinh, đều có thể chỉ bày các pháp nghĩa, vì thế gọi là Nhất thiết chủng trí”.

Luận Đại trí độ quyển 27 (Đại 25, 259 thượng) nói:

“Phật biết rõ hết cả tổng tướng và biệt tướng của các pháp thiền định, trí tuệ nên gọi là Nhất thiết chủng trí”.

Kinh Hữu Nhiễu Phật tháp công đức có nói:

Nếu người nào đi hữu nhiễu Tháp của Phật thì được 9 công đức lớn:

  1. Chán bỏ cái khổ trong ba cõi.
  2. Phá được ngã chấp.
  3. Tâm thường trụ trong Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc.
  4. Tâm không còn phiền não.
  5. Đầy đủ đại oai lực.
  6. Vô lậu sáu thần thông.
  7. Sắc thân vàng ròng.
  8. Tướng hảo trang nghiêm.
  9. Hiện đời làm thầy trời người.

Kinh Hiền giả ngũ giới ghi:

“Việc nhiễu tháp ba vòng biểu thị sự tôn kính ba ngôi tôn quí là Phật, Pháp và Tăng, cũng biểu thị nhớ việc diệt ba độc: tham, sân và si”.

Còn trong Luật Ma-ha-tăng-kỳ có viết:

“Bố thí hàng nghìn cân vàng cũng không nhiều công đức bằng việc sửa chữa bảo tháp bằng bùn với tâm không xao lãng”.

Điều này được nói lên trong kinh Pháp Cú thí dụ thuật lại câu chuyện về ٥٠٠ chú khỉ được sanh thiên:

Thuở xưa, đức Phật trú tại thành La-duyệt-kỳ, từng sai một vị La-hán tên là Tu-mạn đem tóc và móng tay Phật đến núi phía nam nước Kế Tân xây tháp thờ cúng. Lúc ấy, trong núi có năm trăm con khỉ thấy các đạo nhân cúng dường bảo tháp, liền kéo nhau đến bên khe núi sâu vác đất đá bùn sình bắt chước xây một ngôi tháp, dựng cây làm cột rồi treo tràng phan lên đầu cây, sớm chiều lễ bái cũng như đạo nhân.

Một hôm, nước trong khe núi dâng cao, nhấn chìm chết cả đàn khỉ. Thần thức chúng liền sinh lên cung trời Đao-lợi thứ hai, ở trong cung điện thất bảo, việc ăn mặc tự nhiên có đầy đủ. Các vị trời mới hóa sinh này bèn suy nghĩ: “Chúng ta do nhân duyên gì được sinh lên cõi trời này?

Rồi họ dùng thiên nhãn xem thấy thân trước của mình là loài khỉ, nhờ bắt chước các vị đạo nhân xây tháp lễ bái, tuy bị nước cuốn chết mà thần thức được sinh lên trời. Vì vậy, họ muốn trở xuống đền ân thân cũ. Chư thiên đó liền mang theo người hầu đem hương hoa, kỹ nhạc đến bên xác cũ rải hoa, xông hương, đi nhiễu quanh xác bảy vòng. Lúc ấy, trong núi có năm trăm vị Bà-la-môn ngoại đạo tà kiến, không tin tội phước, thấy chư thiên rải hoa, trỗi nhạc, đi nhiễu quanh xác khỉ đều ngạc nhiên hỏi:

– Chư thiên quang tướng uy nghi như vậy, cớ sao lại hạ mình cúng dường những xác khỉ chết này?

Các thiên nhân đáp:

– Những xác này chính là thân cũ của chúng tôi. Ngày xưa, chúng tôi ở đây bắt chước các đạo nhân lập chơi tháp miếu để lễ bái, bị nước khe dâng lên nhấn chìm chết hết. Nhờ chút phước mọn đó nên mới được sinh thiên. Hôm nay, xuống rải hoa là để đền ân thân cũ. Chỉ đùa chơi làm tháp mà còn được phước như thế, nếu chí tâm thờ Phật Thế Tôn phước đức đó thật khó mà ví dụ cho được. Các ông tà kiến không tin đạo chân chính, thì dầu cực khổ siêng tu trăm kiếp cũng không được một chút lợi ích. Chi bằng chúng ta hãy cùng nhau đến núi Kỳ-xà-quật đảnh lễ, cúng dường Phật thì sẽ được phước vô lượng.

Các Bà-la-môn nghe vậy vô cùng hoan hỉ, cùng chư thiên đồng đến chỗ Phật, thành tâm đảnh lễ, rải hoa cúng dường. Chư thiên bạch Phật:

– Bạch đức Thế Tôn! Chúng con đời trước mang thân khỉ, nhờ ân đức của Thế Tôn mới được sinh thiên, hận mình không được gặp Phật, nên nay đến để quy y. Bạch đức Thế Tôn! Chúng con đời trước có tội gì phải mang thân khỉ, dầu xây dựng tháp miếu mà vẫn bị nước cuốn chết?

Đức Phật nói với các thiên nhân:

– Việc này có nhân duyên, không phải tự nhiên mà có. Ta sẽ vì các ông mà nói rõ nguyên nhân.

Thuở xưa, có năm trăm vị thiếu niên Bà-la-môn cùng nhau vào núi muốn học đạo tiên. Lúc ấy, trên núi có một Sa-môn định xây một tinh xá. Vị ấy xuống khe suối lấy nước thân thể nhanh nhẹn như bay. Năm trăm Bà-la-môn thấy vậy sinh tâm tật đố, đồng thanh cười nhạo:

– Ông Sa-môn này lên xuống lật đật như khỉ, đâu có gì lạ! Ông ta lấy nước như vậy mãi, có ngày sẽ bị nước nhấn chết chìm!

Đức Phật kể xong bảo với các thiên nhân:

– Ông Sa-môn lên xuống núi thuở đó chính là thân ta, còn năm trăm vị Bà-la-môn thiếu niên chính là thân năm trăm con khỉ đó, vì cười đùa gây tội mà phải mắc quả báo như vậy.

Bấy giờ, đức Thế Tôn liền nói kệ:

Đùa cười gây nên ác

Thân đã tạo nghiệp rồi

Sẽ khóc than thọ báo

Tội đến theo hành vi.

Đức Phật nói với các thiên nhân:

– Các ông đời trước tuy là thân loài thú mà biết chơi đùa xây cất tháp miếu, nên tội diệt phước sinh, được sinh lên cõi trời. Ngày nay, các ông lại biết đến đây phụng trì chính pháp, do nhân duyên này sẽ mãi mãi xa lìa các khổ.

Đức Phật giảng xong, năm trăm thiên nhân đều thấy được đạo. Còn năm trăm Bà-la-môn được nghe giảng về quả báo tội phước đều tự than rằng:

– Chúng ta học theo đạo tiên đã mấy năm mà chưa được chút kết quả nào, không bằng đàn khỉ chỉ đùa chơi làm phước mà được sinh thiên. Đạo của Phật quả thật vi diệu!

Bấy giờ, năm trăm Bà-la-môn đảnh lễ Phật xin làm đệ tử. Đức Phật bảo:

– Lành thay! Hãy lại đây các Tỳ-kheo.

Năm trăm vị đó râu tóc liền tự rụng, thành tướng Sa-môn. Nhờ tu tập tinh tấn, chẳng bao lâu năm trăm vị ấy đều chứng quả A-la-hán.

Hay Câu chuyện về Shrijata:

Shrijata đã hơn tám mươi tuổi khi quyết định xuất gia trở thành tăng sĩ. Mặc dù gia đình đã chế nhạo, nhưng Ngài vẫn quyết định xin xuất gia trong một tự viện. Khi đến tự viện, vị Sư trụ trì không chấp nhận, Ngài Xá Lợi Phất nói với Shrijata rằng:

Khi vào chùa sẽ phải học và ghi nhớ rất nhiều, mà ông thì già quá e khó làm nổi điều này. Hơn nữa, ông chưa đủ nhân duyên để trở thành một Tăng sĩ.

Shrijata hết sức thất vọng và đau buồn. Rời khỏi tự viện, Ngài đi đến một khu vườn rộng và ngồi khóc, khóc mãi. Khi đó, bằng năng lực tâm giác ngộ, Đức Phật Thích Ca luôn quán chiếu nỗi đau khổ của chúng sinh trong luân hồi và biết được điều này. Ngài dùng năng lực thần thông lập tức thị hiện nơi khu vườn nơi Shrijata đang ngồi đau khổ. Đức Phật hỏi ông lão già nua: “Này ông lão, có điều gì xảy đến với ông? Điều gì đã khiến ông đau khổ như vậy?” Shrijata kể lại với Đức Phật mọi chuyện. Đức Phật liền nói “Không giống như Ngài Xá Lợi Phất, ta đã thành tựu giác ngộ tối thượng, đã đạt được viên mãn công đức của phương tiện và trí tuệ. Ta thấy rõ rằng ông đã đầy đủ nhân duyên để xuất gia”.

Sau đó, Shrijata dưới sự kèm cặp và dạy dỗ của ngài Mục Kiền Liên, một trong mười đại đệ tử và là vị đệ tử thần thông đệ nhất của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Nhưng một lần nữa, các tăng sinh trẻ tuổi trong tự viện lại tiếp tục giễu cợt Shrijata. Shrijata đã hoàn toàn chán nản, tuyệt vọng. Một ngày nọ, Ngài lén rời tự viện mà không xin phép thầy mình, định sẽ nhảy xuống sông tự tử. Ngài tha thiết cầu nguyện: “Vì đời này con không thể vào chùa xuất gia, nguyện đời sau có thể vào chùa xuất gia tu học từ bé,” nói rồi nhảy xuống sông.

Với năng lực thần thông siêu việt, Đức Mục Kiền Liên quán chiếu thấy vị Tăng già đã bỏ đi và nhảy xuống sông tự vẫn, ngay lập tức Ngài xuất hiện bên bờ sông và kéo ông lão lên khỏi mặt nước. Ông già vô cùng ngạc nhiên và xấu hổ, tới mức không nói nên lời một hồi lâu. Sau đó Shrijata giải thích tất cả với thầy mình. Ngài Mục Kiền Liên nói rằng những hành động như vậy là do Shrijata chưa biết xả ly luân hồi.

Đức Mục Kiền Liên bảo Shrijata nắm lấy áo cà sa của mình. Họ cùng nhau bay lên và vượt qua một đại dương, nơi có một núi xương khổng lồ. Họ hạ cánh xuống ngọn núi này, và vị Tăng sĩ già hỏi: “Thưa Ngài, đây là gì vậy?” Đức Mục Kiền Liên trả lời: “Đây là xương của một trong những loài động vật lớn nhất sống nơi đại dương này, và đó cũng chính là kiếp trước của ông đó.” Nghe thấy vậy, hốt nhiên tóc Shrijata dựng đứng, và ngay lúc đấy, vị Tăng sĩ già liền phát tâm mạnh mẽ từ bỏ luân hồi. Và mặc dù chỉ bắt đầu thực hành Phật pháp khi đã ngoài tám mươi tuổi, Ngài đã thành tựu quả vị A La Hán ngay trong kiếp đó.

Đức Phật giải thích thêm rằng Shrijata có đủ nhân duyên để xuất gia và thành tựu quả vị A la hán bởi trong một kiếp quá khứ rất lâu xa, Ngài đã từng là một con ruồi, vì bay lần theo mùi phân mà đã vô tình bay quanh một Bảo tháp, như thế vô tình chú ruồi cũng nhiễu Bảo tháp. Dù cho không hề có động cơ tâm linh nào, bất kỳ việc thực hành đi nhiễu xung quanh một biểu tượng giác ngộ linh thiêng và đầy năng lực thù thắng như Bảo tháp cũng trở thành một thiện hạnh – dù thiện hạnh đó đã được làm ở một nơi xa xôi và vào một thời gian rất lâu trong quá khứ không thể tưởng tượng được.

Con ruồi đã hành động hoàn toàn vì tham luyến mùi phân bò. Động cơ của nó hoàn toàn là không phước đức. Tuy nhiên, nhờ năng lực của Thánh vật (bảo tháp) nên việc bay vòng quanh bảo tháp trở nên có phước đức. Đức Phật dạy rằng, thiện hạnh nhỏ của việc bay quanh tháp đã tạo ra nhân khiến Shrijata trở thành người xuất gia.

Ngoài ra cũng có rất nhiều câu chuyện cho thấy rõ những lợi lạc từ năng lực của Pháp bảo với nhiều hình thức khác nhau, mà trong đó loài súc sanh vô tình nhận được để trở thành căn lành cho việc phát triển bồ đề tâm sau này. Chẳng hạn, sau khi Đức Phật Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni giảng Pháp cho 500 con thiên nga thì đến kiếp sau tất cả đều trở thành các vị tăng sĩ và A-la-hán. Nói cách khác, chúng hoàn toàn chấm dứt kiếp luân hồi. Một con chim bồ câu đã từng nghe Tôn giả Long Thọ tụng kinh và sau tái sinh làm người, trở thành một vị sư rồi thành một Tôn giả. Tương tự, Tôn giả Thế Thân nuôi một con chim bồ câu, từng được nghe Tôn giả tụng kinh. Và trong kiếp sau, con chim bồ câu đó tái sinh làm người, trở thành một nhà sư và đã viết bốn bộ luận giảng về các giáo pháp đã được nghe khi còn là con chim bồ câu trong kiếp trước v.v…

Vì thế trong nghi thức phóng sanh, việc giúp tịnh hóa nghiệp chướng của các con vật bằng cách dùng nước đã chú nguyện là rất tốt, nhưng tốt hơn là mang các con vật đi nhiễu quanh những Thánh vật (bảo tháp, tượng Phật, Xá lợi …). Bằng cách này, chúng ta không chỉ giải thoát các con vật khỏi những cảnh giới thấp mà còn mang chúng đến với sự giác ngộ bằng cách giúp chúng tạo ra nhân cho sự giác ngộ.

Đối với loài súc sanh mà năng lực còn tác động mạnh như vậy, nếu loài người thì quả lành từ công đức nhiễu tháp sẽ như thế nào?

Điều này kinh Bồ-tát bản hạnh ghi:

Khi còn tại thế, một hôm Phật cùng A-nan vào thành Xá-vệ khất thực. Bấy giờ, trong thành có một Bà-la-môn từ ngoài thành đi vào. Trông thấy Phật với vầng hào quang rạng ngời quanh thân đang ra khỏi thành, Bà-la-môn vui mừng, phấn khích, nhiễu quanh Ngài một vòng, đảnh lễ, rồi bước đi.

Đức Phật mỉm cười, bảo A-nan:

Bà-la-môn này gặp Phật, liền vui mừng, nhiễu Phật một vòng với tâm thanh tịnh. Nhờ công đức ấy, từ nay đến hai mươi lăm kiếp về sau, ông ta không bị đọa vào đường ác, mà được hưởng hạnh phúc vô cùng ở cõi trời và cõi người. Hết hai mươi lăm kiếp, ông ấy sẽ thành Bích-chi Phật hiệu là Trì-thấn-na-kì-lê. Vì nhân duyên ấy, nếu người nào nhiễu Phật hoặc nhiễu tháp Phật thì sinh nơi nào cũng được phúc đức vô lượng.

Kinh Đại tập ghi:

Đức Phật bảo các Phạm thiên vương:

Đối với các đệ tử Thanh văn của Ta hiện nay và đời sau giữ ba nghiệp tương đương và tương ứng với ba loại Bồ-đề, bậc vô học và hữu học, giữ giới đầy đủ, học rộng, tu các thiện hạnh, độ các chúng sinh trong ba cõi. Các thí chủ xây tháp, dựng chùa và cúng dường mọi thứ cần dùng cho đệ tử Thanh văn của Ta, Ta ủy thác các ông phải bảo vệ họ và thân quyến họ, không để bị vua chúa hung bạo hành hạ một cách vô đạo.

Bấy giờ, Đại Phạm thiên vương, Đế Thích, Tứ thiên vương, Long vương và Dạ-xoa v.v… đều chắp tay hướng về Phật, nói:

Bạch Đại Đức Thế Tôn! Chúng con sẽ cùng bảo vệ tất cả tháp và chùa thờ Như Lai, các nơi thanh tịnh, những người tại gia hoặc xuất gia đời sau xây tháp, dựng chùa cho các đệ tử Thanh văn của Đức Thế Tôn, khiến cho họ tránh khỏi mọi sự sợ hãi, tai nạn. Nếu có thí chủ cung cấp thức ăn uống, y phục, giường ghế, thuốc thang và tất cả những vật cần dùng như thế, chúng con cũng sẽ hộ trì họ.

Các dẫn chứng trên cho chúng ta thấy rằng chỉ một lần đi nhiễu quanh các Thánh vật (tháp xá lợi, tượng Phật, Thánh tăng …) có thể tạo ra nhân để có hàng trăm hay hàng ngàn cơ hội tái sanh tốt ở đời vị lai, vì nghiệp có tính phát triển – sức phát triển của nghiệp mạnh hơn nhiều so với các hiện tượng vật chất bên ngoài tâm. Ví như một hạt giống nhỏ có thể mọc lên thành một cây to với hàng chục ngàn cành lá, hoa quả, nhưng nghiệp thiện gia tăng nhờ thành tâm nhiễu tháp thậm chí còn nhiều hơn thế.

Cho nên Kinh Hoa nghiêm có bài kệ:

Nếu muốn nhiễu tháp,

Nên nguyện chúng sinh,

Thực hành điều phúc,

Thông suốt đạo ý,

Nhiễu tháp ba vòng,

Nên nguyện chúng sinh,

Được tâm rốt ráo,

Không mất tứ hỉ.



Bài 39: KHÁN BỆNH

(Chăm sóc bệnh)

Khán bệnh là coi giúp người bệnh.

Kinh Phạm Võng nói:

“Nếu Phật tử thấy tất cả người bệnh thì thường nên cúng dường như Phật không khác. Trong tám ruộng phước, ruộng phước chăm sóc bệnh là ruộng phước tối thắng nhất”.

Vì vậy, trong môi trường tu tập đại chúng đông, nếu có vị nào có túc duyên sẵn là y tá, y sĩ khi còn ngoài đời, nay vào đạo thì quý Thầy chăm sóc huynh đệ có bệnh chính là đang tạo phước điền rất lớn. Trong kinh Đức Phật từng nói: “Ta là cha, Pháp là mẹ, còn những vị đồng tu là anh em với nhau” – cho nên chúng ta chăm sóc huynh đệ khác khi có bệnh duyên tức đang cúng dường đức Phật.

Trong tám thứ phước điền thì thăm nuôi bệnh là phước điền thù thắng nhất, Bồ-tát Bổn Sớ liệt kê:

  1. Khoán lộ nghĩa tỉnh: Nghĩa là đào giếng bên con đường xa, để giúp người qua lại có nước dùng.
  2. Kiến tạo kiều lương: Sửa tạo lập cầu nơi bến sông đường sá bị nghẽn lối để giúp người qua lại.
  3. Bình trị hiểm ải: San lấp và mở rộng đường ở những nơi quanh co, hiểm trở chật chội.
  4. Hiếu dưỡng phụ mẫu: Hết sức phụng dưỡng thuận theo ý thích của cha mẹ, để báo đáp ân sinh thành khó nhọc.
  5. Cung kính Tam Bảo: Là cung kính quy y ba ngôi Phật, Pháp, Tăng, ba ngôi báu này đầy đủ công đức lớn, cứu độ khắp quần sanh, vượt lên bờ giác.
  6. Cấp sự bệnh nhân: Người bệnh hoạn thân đủ các khổ, thật đáng thương xót nên cung cấp cho họ thuốc thang và đồ vật cần dùng, khiến thân của họ điều hòa an lạc.
  7. Cứu tế bần cùng: Là khơi dậy lòng thương xót đối với người bần cùng đang bị thiếu thốn đói rét bức bách, nên tùy theo khả năng của mình mà cung cấp cho họ được đầy đủ.
  8. Thiết vô già hội: Già hội là cùng khắp, là lập đại hội cùng khắp khiến cho những kẻ hồn phách chìm đắm nương nhờ nơi từ lực của Tam Bảo đều được thoát ly đường khổ mà vượt lên đường lành.

Cho nên:

Kính điền: Chỉ cho ruộng Phật, ruộng Thánh, ruộng Tăng trong 8 thứ ruộng phúc. Do cung kính mà sinh ra các công đức, giống như do ruộng tốt mà sinh ra ngũ cốc, cho nên gọi là Kính điền.

Ân điền: Là đối với những người có ân đức với mình, như cha mẹ, sư trưởng, hòa thượng, A xà lê, hay biết ơn, cảm ơn, báo ơn, thì có thể sinh ra phúc đức, cũng như ruộng nương có khả năng bồi bổ nuôi lớn các loại mễ cốc, cho nên gọi là ân điền.

Bi điền: có nghĩa là ruộng tình thương. Đem lòng thương xót cứu giúp người nghèo khổ, thì được phúc vô lượng, cho nên, cứu giúp người nghèo khổ, hoặc người nghèo khổ nhận sự cứu giúp, đều gọi là bi điền.

Phúc điền: có nghĩa thửa ruộng có năng lực sinh ra phúc đức, ví dụ Phật, Tăng, cha mẹ, người đau khổ… Vì kính thờ Phật, chúng Tăng, cha mẹ và xót thương cứu giúp những người nghèo khổ, đau ốm thì được phúc đức, giống như người nông phu gieo trồng trên mảnh ruộng thì được thu hoạch, cho nên Phật, chúng Tăng, cha mẹ và những người nghèo khổ được gọi là phúc điền.

Tại sao việc tạo phúc điền lại cần thiết và quan trọng đối với tập thể đồng tu trong Tăng đoàn?

Bởi vì trong kinh Tăng Nhất A-hàm, Đức Phật dạy:

“Các thầy sỡ dĩ xuất gia đồng một Thầy, hòa hợp như nước sữa, mà không chăm nom lẫn nhau. Từ nay về sau nên lần lượt chăm sóc thăm nom nhau. Nếu Tỳ-kheo bệnh không có đệ tử, trong chúng nên cử người lần lượt làm khán bệnh. Vì sao? Ngoài việc này ra, không thấy có việc gì hơn phước của người chăm sóc bệnh”.

Nhân duyên Đức Phật dạy như vậy xuất phát từ câu chuyện Phật chăm sóc một Tỳ-kheo bệnh, được thuật lại trong kinh Pháp Cú Thí Dụ, phẩm Đao Trượng:

Vào thời quá khứ, có một quốc gia tên là Hiền Đề. Lúc bấy giờ, có vị tỳ kheo lâm bệnh nặng nằm trên giường rất lâu, sức khoẻ đã suy yếu rất nhiều, đại tiểu tiện đều phải đi trên giường, toàn thân dơ bẩn và hôi hám nên không có ai lui tới chăm sóc. Một ngày nọ, Thế Tôn cùng năm trăm đệ tử đến thăm vị tỳ kheo này và hỏi:

– Thầy bệnh lâu như vậy nhưng không có ai chăm sóc Thầy hay sao?

Vị tỳ kheo đáp:

– Dạ thưa không, bạch Thế Tôn!

Đức Phật hỏi:

– Lúc trước, khi sức khỏe còn tốt, Thầy có từng viếng thăm, chăm sóc qua bệnh nhân nào không?

Vị tỳ kheo đáp:

– Dạ thưa không, bạch Thế Tôn!

Đức Phật dạy:

– Vậy thì đúng rồi! Trong quá khứ, Thầy không gieo nhân lành cho nên nay nhận quả như vậy.

Đức Phật từ bi bảo các vị đệ tử thay phiên nhau chăm sóc, nấu cháo mang đến cho vị tỳ kheo. Nhưng các vị đệ tử nhìn thấy vị tỳ kheo nằm bệnh, toàn thân dơ bẩn, hôi hám nên đã khởi tâm xa lánh. Thế Tôn biết tình hình như vậy, liền nhờ trời Đế Thích mang nước nóng đến, Đức Phật đích thân dùng tay kim cang tắm rửa sạch sẽ cho vị tỳ kheo. Lúc bấy giờ, đại địa chấn động, phóng đại quang minh, tất cả mọi người chứng kiến cảnh tượng như vậy đều vô cùng kinh ngạc, không gian như ngừng lại một cách trang nghiêm.

Quốc vương, thần dân, chúng quỷ thần cùng với vô số người lần lượt đến trước Phật, cung kính đảnh lễ, hướng về phía Đức Thế Tôn mà thưa rằng:

– Bạch Thế Tôn, người là bậc đạo sư tôn quý của thế gian, là thầy của trời người trong ba cõi, phước đức, trí tuệ đã viên mãn, tại sao lại còn đích thân tắm cho vị tỳ kheo vừa bệnh, vừa gầy, vừa hôi hám này?

Thế Tôn nói với toàn thể đại chúng và đức vua rằng:

– Như Lai ra đời không phải để hưởng thụ, mà là để cứu độ cho những mảnh đời cô độc, khổ nạn không nơi nương tựa. Nếu có ai có thể chăm sóc người xuất gia tu hành, người già neo đơn, thì người đó sẽ hưởng phúc đức vô lượng, tâm mong cầu điều gì, đều có thể viên mãn. Giống như sông Hằng được hình thành từ năm dòng sông khác; phúc đức của người đó cũng như vậy, do huân tập mà có được, công đức dần dần viên mãn, đến một ngày không xa thành tựu được đạo quả.

Nhà vua bạch cùng Đức Phật:

– Bạch Thế Tôn, vị tỳ kheo này trong đời quá khứ đã tạo tội nghiệp gì, vì sao bị bệnh nằm lâu ngày như vậy mà không cách nào trị khỏi?

Đức Phật đáp:

– Đời quá khứ, có một vị vua tên là Tác Ác Hạnh, cai trị nhân dân rất hà khắc và tàn bạo. Ông ta tìm một quan cai ngục lực lưỡng bạo tàn; khi có tội nhân, liền gọi quan cai ngục này đến hành hình (thời xưa, người đảm nhận việc xử phạt tội nhân có chức danh là Ngũ Bách).

Ngũ Bách thường mạo danh nhà vua để lộng quyền, tự tung tự tác, tùy theo ý muốn mà hành xử, có lúc rất độc đoán, có lúc lại nhân từ rộng lượng. Thường khi gặp tội nhân, lợi dụng thời cơ đòi hối lộ. Nếu có người đút lót, ông ta đánh nhẹ hơn một chút, nếu không có, sẽ đánh người ta đến nỗi rách da nát thịt. Dân chúng trong nước đều vì Ngũ Bách mà chịu khổ.

Bấy giờ, có một vị hiền nhân đức hạnh, bị người ta vu oan. Lúc sắp bị Ngũ Bách đánh, ông ta liền nói: “Ta là đệ tử của Phật, vốn không phạm tội gì, mà bị người khác vu khống, mong ông tha cho”. Lúc đó Ngũ Bách bỗng khởi từ tâm, tuy cũng cầm roi da múa vài đường, nhưng đều không nhằm đánh trúng vị hiền nhân.

Sau khi Ngũ Bách qua đời, nhân vì tội hối lộ trong quá khứ, cùng vô số tội ác khác nên bị đọa vào địa ngục, nhận chịu vô số roi da, thống khổ vạn phần. Khi đã trả hết tội báo ở địa ngục, lại chuyển làm súc sinh; Làm súc sinh cũng bị đày đọa đánh đập. Trải qua năm trăm kiếp như vậy, tội báo làm súc sinh trả hết thì tái sinh làm người. Tuy được làm người, nhưng cũng phải chịu nhiều sự đau khổ, bệnh tật liên hồi.

Đức Phật bảo rằng:

– Vị quốc vương lúc bấy giờ là Đề Bà Đạt Đa, còn Ngũ Bách chính là vị Tỳ kheo lâm bệnh, còn vị hiền giả chính là ta.

Ta vào đời quá khứ bị quan cai ngục Ngũ Bách đánh roi da, ông ấy vì ta mà nương tay. Do tiền kiếp đã kết chút thiện duyên, cho nên đời này ta đích thân tắm cho vị tỳ kheo này.

Nói đến đây Thế Tôn liền nói bài kệ có nội dung như sau:

– Nếu chúng ta cố ý đánh đập, hủy báng, gán tội cho người lương thiện thì quả báo phải chịu gấp nhiều lần. Mười tội báo này trở lại rất nhanh, khó mà tránh khỏi.

Thế nào là mười?

  1. Lúc còn sống phải chịu vô số thống khổ.
  2. Thân thể hình hài không được khỏe mạnh, chịu nhiều khuyết tật.
  3. Do nhân quả nghiệp báo mà phát sinh khổ não, bệnh tật.
  4. Không đạt chí nguyện, tâm thần bất ổn.
  5. Thường bị người khác vu oan hãm hại.
  6. Thường bị gọi đến quan phủ chịu các hình phạt.
  7. Tài sản không có cách nào giữ được lâu, thường không có cánh mà bay.
  8. Bạn bè rời xa, người ngoài thì phản, người thân thì xa lìa.
  9. Nhà cửa có được thường bị hỏa hoạn thiêu hủy.
  10. Sau khi chết bị đọa vào địa ngục.

Bấy giờ, thầy tỳ kheo lâm bệnh nghe Đức Phật nói như vậy về tội nghiệp trong đời quá khứ, hiểu được nhân duyên giữa mình và Thế Tôn, liền khắc cốt ghi tâm, khẩn thiết phản tỉnh. Ngay lúc đó, tất cả các bệnh khổ, đau đớn đều tiêu tan, thân tâm an định, chứng quả A La Hán. Vua nước Hiền Đề nghe được cũng rất hoan hỷ, phát nguyện thọ trì năm giới làm Ưu Bà Tắc, dũng mãnh tinh tấn, y giáo phụng hành, chứng được Sơ quả”.

Tuy nhiên trong kinh Trung Bộ 124, lại nhắc đến một trường hợp hoàn toàn kỳ lạ về sức khỏe. Kinh nói về 15 điều hy hữu Tôn giả Bạc-câu-la trong đó có đề cập Ngài không hề có bệnh:

Tôn giả Bạc-câu-la đi tu năm tám mươi tuổi, tức vào lúc Phật nói kinh này thì Ngài đã 160 tuổi. Ngài được Phật xem là đệ tử có sức khỏe tốt nhất. Sức khỏe phi thường của Tôn giả Bạc-câu-la thành tựu nhờ muôn vàn công đức mà Ngài đã vun bồi trong vô lượng kiếp quá khứ.

Trong kiếp nào, Ngài cũng mở rộng lòng từ bi và yêu thương mọi sự sống trên đời, từ con người, loài chim, thú, cá sông, côn trùng … đến cả từng nhành cây ngọn cỏ. Ngài cũng thường dùng sức khỏe để cống hiến, phụng sự chúng sinh. Đặc biệt, trong nhiều kiếp quá khứ, Ngài đã cúng dường thuốc quý đồng thời tận tâm chữa bệnh cho Đức Phật và đại chúng. Lúc là một ẩn sĩ trên núi, Ngài đã không quản leo lên những vách đá cao và hiểm trở nhất để hái những thảo dược tốt, trị bệnh cho Đức Phật Anomadassi (Cao Kiến). Lại có lần thời Đức Phật Vipassi (Tỳ Bà Thi), phương thuốc của Ngài đã giải được một loại kỳ độc nguy hiểm đang lây truyền đến tất cả các vị Tỳ-kheo, nhờ vậy giúp duy trì sự ổn định trong giáo đoàn … Không chỉ vậy, dù ở kiếp sống nào, Ngài làm công việc gì cũng luôn chú trọng, quan tâm chu đáo tới sức khỏe của mọi người.

Thời Đức Phật Kassapa (Ca Diếp), khi tu sửa tinh xá cho Tăng đoàn, bên cạnh các khu vực thiết yếu như giảng đường, các am thất, bếp ăn. Ngài còn kỹ lưỡng thiết kế và xây dựng thêm những nơi mới là: nhà sưởi cho mùa lạnh, phòng tắm nước nóng, phòng thăm khám bệnh, kho để những loại thuốc cần thiết … Ngài làm tất cả với mong muốn chăm lo đời sống cho các vị Tăng Ni một cách tốt nhất. Nhờ những công đức sâu dày ấy mà kiếp này Ngài đã thành tựu phước báu về sức khỏe tuyệt vời. Nhờ có sức mạnh thể chất vô hạn và ý chí nghị lực siêu phàm nên trong đời sống tu hành, Tôn giả đã thực hiện nhiều hạnh đầu đà trong niềm hạnh phúc an nhiên tự tại.

Do đó khi chăm sóc người bệnh, Luật chế phải có đủ 5 đức mới được phép săn sóc:

  1. Biết thức ăn nào người bệnh ăn được mới đưa cho.
  2. Không gớm ghiếc đại tiểu tiện và hỷ nhổ của người bệnh.
  3. Có lòng thương xót không vì cơm áo.
  4. Có thể thuốc thang, cho đến lành hay mất.
  5. Có thể thuyết pháp cho người bệnh, khiến người bệnh hoan hỷ, bản thân đối với thiện pháp cũng tăng trưởng.

Nên bài Tỳ-ni này dạy khi thấy bệnh nhân thì hành giả tu Phật nên thầm đọc kệ:

Kiến tật bệnh nhân

Đương nguyên chúng sanh

Tri thân không tịch

Ly giai tránh pháp.

Nghĩa:

Thấy người bệnh tật

Nguyện cho chúng sanh

Biết thân vốn không

Lìa sự chống trái.

Bài kệ muốn răn nhắc chúng ta rằng: trong suốt quá trình tu hành, ai cũng phải có chút bệnh duyên khó tránh khỏi. Nhưng khi có bệnh mà “biết thân vốn không” thì “lìa sự chống trái”, ý này trong Luận Bảo Vương Tam Muội nói: “Nghĩ đến thân thể đừng cầu không bệnh khổ, vì không bệnh khổ thì tham dục dễ sanh”. Tại sao Luận nói chúng ta “đừng cầu”? Điều này có nghĩa khi thân chúng ta không bệnh tật mình vẫn tu tập, nhưng nếu duyên không tốt do nghiệp quá khứ đã tạo thì khi thân bệnh cố gắng đừng để tâm bệnh vì ta biết rằng thân không thật, chỉ do tứ đại hợp thành, mà tứ đại không hòa hợp thì phải có bệnh, đó cũng là lẽ đương nhiên.

Trong giai thoại Thiền Trung Hoa, có một vị thiền sư đã khai thị cho chúng ta thấy rằng tuy thân bệnh nhưng có cái không bệnh luôn hiện hữu ở mỗi người:

Thiền sư Động Sơn Lương Giới quê ở Triết Giang, họ Du, năm hai mươi mốt tuổi thọ giới cụ túc, từng thân cận với các thiền sư Nam Tuyền, Linh Hựu, Vân Nham v.v… sau nhân thấy bóng dưới nước mà triệt ngộ. Vết chân của thiền sư Động Sơn hành cước tham vấn trải khắp các tỉnh Giang Tây, An Huy, Hồ Bắc, Hồ Nam, sau cùng ở viện Phổ Lợi. Động Sơn mở mang giáo hóa, tiếp dẫn người học đông vô số kể. Trong đó, người kiệt xuất là thiền sư Vân Cư Đạo Ưng và thiền sư Tào Sơn Bổn Tịch.

Năm sáu mươi ba tuổi, lúc sắp thị tịch, Tào Sơn hỏi sư:

  • Thân Thầy bệnh, có thân không bệnh chăng?

Thiền sư Động Sơn đáp:

– Có.

– Thân không bệnh có thấy Thầy không?

– Ta đang thấy nó.

Tào Sơn không hiểu, hỏi:

– Chẳng hay Thầy thấy nó thế nào?

Thiền sư Động Sơn thản nhiên nói:

– Khi ta thấy, cái thấy không có bệnh.

Nói đến bệnh, trên sắc thân nhục thể thì không tránh khỏi sanh, lão, bệnh, tử, nhưng trên pháp thân bản tánh lại không có sanh lão bệnh tử. Pháp thân nhục thể không lìa pháp thân bản tánh, và pháp thân bản tánh cũng không lìa sắc thân nhục thể.

Lời Thiền sư Động Sơn khai thị cho vị đệ tử về “cái không bệnh” rất tương đồng với lời khuyên của Đức Phật đối với Nakulapita trong bài Kinh cùng tên thuộc Tương ưng bộ kinh:

Khi Đức Phật trú với cư dân Bhagga tại hang Bhesakala nơi rừng Lộc Uyển, gần một nơi gọi là Samsumaragiri. Vào một hôm, người chủ gia đình Nakulapita thân hành tìm Đấng Thế Tôn để viếng thăm. Nakulapita tiến đến gần Đấng Thế Tôn, đảnh lễ rồi ngồi sang một bên. Sau khi đã ngồi sang một bên liền cất lời như sau:

Bạch Thế Tôn, con quả là một người đã kiệt quệ, già nua, một người đã trọng tuổi; thân xác bệnh tật, lắm khi thật đau đớn. Hơn nữa, không mấy khi con được dịp gặp Đấng Thế Tôn hoặc các đồ đệ của Ngài đã từng tu tập về các phương pháp thăng tiến tâm linh (có nghĩa là không có mấy dịp để được học hỏi). Con xin Ngài ban cho con những lời khuyên bảo, ban cho con những lời chỉ dạy cần thiết giúp con tìm thấy an vui lâu dài.

Đức Phật bèn cất lời như sau:

Thật thế, này người chủ gia đình, quả đúng như thế. Thân xác của con đã yếu, lưng đã còng. Khi đã mang một thân xác như thế mà cứ muốn có một sức khoẻ tốt dù chỉ tạm thời thì đấy quả thật là một ước vọng điên rồ. Vì thế, này người chủ gia đình, con phải luyện tập [bằng cách nhắc nhở mình] như thế này: Dù thân xác tôi yếu đau, thế nhưng tâm thần tôi không bệnh tật gì. Đấy là cách mà con phải cố gắng luyện tập.

Cho nên chúng ta phải luôn quán chiếu rằng tuy thân có bệnh nhưng không để thân làm liên lụy khiến tâm sanh phiền não. Khi thân bệnh mà tâm không bệnh, thì dù thân bệnh nặng cũng không vì vậy mà chúng ta quá đau khổ, ngược lại còn lạc quan, tinh tấn hành trì, thực tập lời Phật dạy, lấy thân bệnh làm đối tượng thiền quán, tập buông xả, sống thảnh thơi, nhờ vậy có thể chuyển hóa được nghiệp lực đã tạo mà vượt qua tật bệnh.

Song bệnh tật vẫn là một nỗi khổ căn bản của chúng sanh – sanh lão bệnh tử bản chất của nó vốn là khổ đau. Hễ có thân thì có bệnh, mà đã bệnh tật đau yếu thì không ai muốn và cũng chẳng vui vẻ chút nào.

Đức Phật dạy rằng bất kể một người nào đó có làm gì cho mình hay không, bổn phận của mình là thấy người bệnh phải chăm sóc. Tại sao? Vì săn sóc người bệnh dù thân hay sơ chính là hạnh nguyện “cứu khổ, ban vui”. Người đời lập gia đình hay kết thân bạn bè quyến thuộc, một phần cũng để nương tựa nhau khi trái gió trở trời, ốm đau tật bệnh. Còn người xuất gia tuy không phải thân bằng quyến thuộc nhưng cùng chí hướng tu đạo giải thoát – hàng Thích tử con Phật cùng đi trên đạo lộ, chẳng lẽ trên hành trình gian khó ấy, chúng ta lại ngó lơ bỏ mặc khi thấy những người bạn đồng hành ngã quỵ vì bệnh tật?

Mình sẵn sàng phụng sự Như Lai, phụng dưỡng Phật, Thầy Tổ, nhưng với bạn đồng tu thì không quan tâm thì không phải lẽ. Bởi người bệnh thì thân đau, tâm khổ nên rất cần được trị liệu, sẻ chia và đỡ đần chăm sóc. Ai làm được như vậy là sự hiến tặng lớn nhất vì đó là việc bệnh nhân cần nhất. Thế Tôn xem việc hiến tặng này là bố thí và khẳng định “bố thí tối thượng không gì hơn thí này”. Rõ rằng kinh điển đã ghi chép lại đích thân Đức Phật cũng thường săn sóc các đệ tử khi lâm bệnh. Cho nên chăm sóc người bệnh luôn gặt hái được phước báo tốt lành và nó có công đức ngang bằng với việc chăm lo cho một vị Phật. Nên hãy săn sóc huynh đệ, người thân, và mọi người bệnh nói chung trong khả năng tốt nhất của mình. Làm được như vậy là chúng ta đang phụng sự Thế Tôn, công đức và phước báo vô lượng. Và một khi chúng ta sống trọn vẹn nghĩa tình với nhau khi đau yếu, già bệnh thì cũng chính là ta đang trọn vẹn với đạo làm người trong cõi đời vốn nhiều vị kỷ này.



Bài 40: THẾ PHÁT

(Cạo tóc)

Bài kệ tụng khi cạo tóc:

Thế trừ tu phát

Đương nguyện chúng sanh

Viễn ly phiền não

Cứu cánh tịch diệt.

Nghĩa:

Cạo bỏ râu tóc

Nguyện cho chúng sanh

Xa lìa phiền não

Rốt ráo vắng lặng.

Thế phát là cạo bỏ râu tóc, là tướng của đệ tử Phật xuất gia, biểu thị pháp trừ kiêu mạn. Lại khác với người xuất gia ngoại đạo, đó là nghi thức của chư Phật ba đời.

Trong “Kinh Mi Tiên vấn đáp” có thuật lại câu chuyện khi đồng tử Na-tiên gặp gỡ đại đức Rohana và thắc mắc thưa hỏi về hình tướng người xuất gia như sau:

Bạch Tôn trưởng! Tại sao Tôn trưởng có phẩm mạo và y phục khác với kẻ thế tục?

Đại đức Rohana thân ái ngồi xuống nói với Na-tiên:

– Này con thân! Vì ta là kẻ xuất gia!

– Người xuất gia là gì?

– Là người tình nguyện lìa bỏ gia đình, quyến thuộc tài sản, vợ con; sống đời đi xin ăn rày đây mai đó, chẳng có trú xứ nhất định, chẳng có nhà cửa, mái che; chỉ mang theo bên mình ba y và một cái bát khất thực.

– Xuất gia như vậy có lợi ích gì không, thưa Tôn trưởng?

– Có chứ! Có lợi ích nhiều lắm chứ con! Người xuất gia thường lánh xa điều ác, thường bỏ dữ làm lành, thường sống đời rỗng lặng, thanh tịnh, không có khổ đau, phiền muộn.

Đồng tử Na-tiên suy nghĩ hồi lâu, lặng lẽ gật đầu, rồi hỏi tiếp:

– Tại sao tôn trưởng cạo bỏ râu tóc?

Đại đức Rohana ân cần giải thích:

– Người xuất gia vì muốn sống đời giải thoát như hư không nên phải cạo bỏ râu tóc; vì cạo bỏ râu tóc là muốn tránh tất cả những công việc bận rộn vô ích sau đây:

1- Tốn tiền và mất thì giờ do kiếm thợ cắt tóc và gội đầu.

2- Tốn tiền và mất thì giờ do mua trâm cài tóc, bối tóc, cột tóc hoặc chải tóc.

3- Tốn tiền mua hương liệu, dầu thơm và mất công xoa ướp.

4- Tốn tiền và mất công mua hoa kết làm tràng hoa.

Ngoài ra, muốn cho đầu tóc được đẹp người ta còn trang điểm bằng những đồ trang sức như vàng, bạc cùng những loại đá quý khác nữa. Vậy, nhờ tránh những bận rộn ấy mà người xuất gia có nhiều thì giờ dành cho sự tu tập đó con …

Như vậy việc cạo bỏ râu tóc là để không tốn quá nhiều thời gian chăm lo cho thân thể này, mà cụ thể là mái tóc. Bởi người đời thường có câu: “Cái răng, cái tóc là gốc con người”, với quan niệm đó họ lấy râu tóc để trang sức cho mình thì ngược lại người xuất gia lại cạo bỏ râu tóc, tức là bỏ đi một thứ trang sức đối với thân thể, hủy bỏ một phần mà người đời rất quý để được trở thành bậc sống đời thoát tục quý báu hơn. Nếu khi người xuất gia sờ trên đầu, thấy đầu mình không còn tóc, thì sẽ nhớ ta là người tu phạm hạnh, cần phải giữ khí tiết của một người xuất thế. Song người tu sĩ Phật giáo mà để đầu tóc của mình quá dài suốt một tháng không hề cạo, mà còn muốn để tóc cao dày thì phải tự biết rằng khi đó khí tiết hay tâm bồ đề của mình đã bắt đầu lay chuyển bởi khi “tâm hình” không “dị tục” thì ta cũng chẳng khác gì thế gian, khiến tâm dễ buông lung vì không có sự khác biệt lớn. Cho nên việc cạo tóc đều đặn, cứ nửa tháng cạo một lần, luôn giữ cho cái đầu của mình khác với cái đầu của thế gian, chính đó là một cơ duyên cho người xuất gia giữ được chánh niệm tỉnh giác về bổn phận của chính mình luôn nhất tâm hướng về lộ trình giải thoát và xa hơn nữa là tiếp tục hoằng dương chánh pháp để dìu dắt chúng sanh có được giải thoát như mình.

Đây cũng là một pháp buông bỏ giúp người xuất gia bớt tâm dính mắc vào chính mình, điều này chung quy không ra ngoài tinh thần vô ngã mà Đức Phật đã từng dạy – quên mình để chuyên cần tu tập mang lại nhiều lợi lạc cho tha nhân. Bởi nếu mỗi người có thể xem cái tôi do năm uẩn hòa hợp này là huyễn hoặc và không thật thì sẽ không còn quá quan tâm chăm lo cho nó và một khi có thể “quên mình” và “vô ngã” thì sẽ giảm được rất nhiều phiền muộn, khổ đau.

Song việc cạo bỏ râu tóc chỉ là bước đầu nhằm trợ duyên nhắc nhở cho người tu sĩ về bổn phận của mình: Với hình tướng đầu tròn áo vuông nhưng tâm phải tương ứng mới thật sự xứng đáng là đệ tử Phật gia xuất trần đúng nghĩa.

Nên ngài Đạo An cũng có khuyên người xuất gia với tinh thần như thế:

“Ông đã xuất gia là bỏ đi hình thể của thế tục thì phải cốt cho cạn hết thức tình, khế hợp vô sanh” – tức là xuất gia là bỏ đi hình dáng thế tục này thì phải làm cho cạn thức tình để hợp với chỗ vô sanh, chứ không phải xuất gia cạo đầu rồi mà vẫn sống như người thế tục được.

Vì vậy trong kinh Hiền Ngu, Phẩm Thứ Mười Tám: Công Đức Xuất Gia ghi:

“Cho người đi xuất gia, hay chính mình đi xuất gia, công đức như trời xanh, như biển thẳm. Người xuất gia lấy kinh điển làm nước, để rửa những cấu nhơ của nghiệp kết sử, trừ bỏ được khổ, sinh, già, bệnh, chết, và làm cái nhân của đạo Niết-bàn, lấy giới làm chân bước lên đất thanh tịnh trang nghiêm, lấy luật làm mắt để coi xem những thiện ác của thế gian, đi trên đường Bát Chánh tới thành Niết-bàn, vì những lợi ích ấy nên cho người đi xuất gia, hay tự mình đi xuất gia”.

Còn trong kinh Tâm Địa Quán Phật dạy:

“Người giữ gìn giới luật dù xuất gia chỉ trong một ngày đêm cũng được hai trăm vạn kiếp không sa đọa ác thú. Người đó thường sanh nơi nhàn cảnh, hưởng phước trí thù thắng, thường gặp Thiện tri thức, vĩnh viễn không thoái chuyển, thường gặp chư Phật được Phật thọ ký, ngồi tòa kim cang thành bậc Đại Giác”.

Nên Tổ Quy Sơn dạy:

“Phàm là người xuất gia, cất bước đến một phương trời cao rộng, thân tâm này phải khác người đời, nối tiếp theo con đường của bậc Thánh, nhiếp phục những cái xấu, cái dở của thân tâm để đền đáp bốn ân: ân tam bảo, ân cha mẹ, ân quốc gia, và ân của đàn na tín thí, nhằm cứu vớt muôn loài”.

Tổ muốn răn nhắc trách nhiệm của người xuất gia là phải phát khởi cái tâm siêu việt, gạn bỏ cái tâm thấp kém, nhỏ hẹp – nhờ tâm rộng lớn này nên không bao giờ có tật đố, ích kỷ, xan tham … mà ngược lại luôn tha thứ, bao dung, thương xót những người khác. Nên mới gọi là “Tâm hình dị tục”, tức là về tâm tư và thân tướng của người tu phải khác thế tục. Thân cạo bỏ râu tóc, mặc áo nhuộm và tâm cũng phải đổi khác mới xứng đáng là người xuất gia (nhẫn những việc khó nhẫn trong đạo, không dính mắc vào ngũ dục ở thế gian), chứ không phải chỉ có thân tướng xuất gia nhưng tâm trí bị quay cuồng với thế tục. Vì xuất gia là đánh dấu một bước đi quan trọng của đời mình, chứ không phải là việc tầm thường dễ thực hiện được.

Nên kinh Tăng Chi Bộ, Phật nói về 3 hạng người xuất gia như sau:

  1. Thân xuất gia mà tâm không xuất gia (là hạng người dầu là đầu tròn áo vuông, mà tâm còn luyến tục).
  2. Thân tâm đều xuất gia (là hạng người kính mộ Tam Bảo, giữ giới thanh tịnh, đoạn dứt các phiền não, quyết đắc quả Bồ Đề).
  3. Thân tại gia mà tâm xuất gia (là hạng người dầu còn ở thế gian mà tinh tấn tu học, không say đắm nhiễm trược).

Chúng ta xuất gia cạo bỏ râu tóc phải phát nguyện xa lìa phiền não dần dần để đạt được cứu cánh cuối cùng là thành Phật. Tuy nhiên muốn thành Phật không phải là chuyện đơn giản mà cần tu hành trong nhiều kiếp, song nếu trong kiếp hiện tại đã giảm bớt phiền não, sân si thì kiếp vị lai sẽ thăng tiến, tốt đẹp hơn và nếu có nhân duyên đi hoằng pháp lợi sanh sẽ còn hanh thông hơn nữa. Ngược lại, người tu tập nhưng không chuyển hóa được thân tâm thì trong tương lai vẫn còn bị đau khổ chi phối bởi sanh ra nơi nào cũng sẽ tương ứng với cảnh giới phiền não của chính mình. Vì vậy mục đích xuất gia là phải chuyển hóa được phiền não.

Vì vậy trong kinh Tăng Chi Bộ I, chương 3, phẩm Người, phần Mù lòa cũng nói về ba hạng người:

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, dạy các Tỷ kheo:

Có ba hạng người, này các Tỷ kheo, có mặt ở đời. Thế nào là ba? Người mù, người một mắt, người có hai mắt.

Này các Tỷ kheo, thế nào là người mù?

Ở đây, có người không có mắt để có thể thâu hoạch được tài sản chưa thâu hoạch, làm tăng trưởng tài sản đã thâu hoạch; không có mắt để có thể biết được pháp thiện và pháp bất thiện, có tội và không có tội, pháp thuộc thành phần đen và trắng. Này các Tỷ kheo, đây gọi là hạng người mù.

Và này các Tỷ kheo, thế nào là hạng người có một mắt?

Ở đây, có người có mắt để có thể thâu hoạch được tài sản chưa thâu hoạch, làm tăng trưởng tài sản đã thâu hoạch; nhưng không có mắt để có thể biết được pháp thiện và pháp bất thiện, có tội và không có tội, pháp thuộc thành phần đen và trắng. Này các Tỷ kheo, đây gọi là hạng người có một mắt.

Và này các Tỷ kheo, thế nào là hạng người có hai mắt?

Ở đây, có người có mắt để có thể thâu hoạch được tài sản chưa thâu hoạch, làm tăng trưởng tài sản đã thâu hoạch; và có mắt để có thể biết được pháp thiện và pháp bất thiện, có tội và không có tội, pháp thuộc thành phần đen và trắng. Này các Tỷ kheo, đây gọi là hạng người có hai mắt.

Thế nào là người chỉ có một mắt?

Nhiều vị có túc duyên khi còn nhỏ tuổi đã xuất gia vào chùa tu học. Nhờ sớm thân cận thiện tri thức nên họ biết được đâu là pháp thiện, đâu là pháp ác. Ngược lại, chúng ta thử hình dung trong cuộc đời này, có những người nghèo khổ không có chút tài sản, của cải mà lại không phân biệt được thiện ác nữa thì khổ vẫn hoàn khổ, không có lối thoát tươi sáng hơn. Những người này được xem là “người mù” như ý kinh muốn nói vì họ “không có mắt để có thể biết được pháp thiện và pháp bất thiện, có tội và không có tội” – có thể hiểu “người mù” ở đây chính là không có chánh kiến và chánh tư duy trong giáo lý Bát chánh đạo mà Đức Phật chỉ dạy.

Cho nên chúng ta tu tập phải biết pháp nào thiện, pháp nào ác. Pháp thiện trong đời sống đại chúng chính là hành đường, trị nhật, làm điện, làm nước … mà quý thầy luôn tùy hỷ không chấp thủ vào việc làm của mình. Còn pháp bất thiện là không tùy hỷ với người khác và luôn phiền não với mọi đối tượng xung quanh, thì người này được coi là bị mù cả hai mắt. Tuy đôi mắt vật lý vẫn còn, nhưng đôi mắt trí tuệ thật sự không sáng tỏ được. Trong khi người đủ hai mắt là người vẹn toàn cả thân và tâm, thân có đôi mắt sáng và tâm có “mắt trí tuệ” sáng.

Trên thực tế, người xuất gia cũng là người đang đi trên đạo lộ tu tập, chưa phải là thánh nhân nên trên đường tu khó tránh khỏi những “phiền não gia” trong đời sống chốn thiền môn – vẫn còn bị xao động bởi những tình cảm thương người này, ghét người kia, thích chỗ này, không thích chỗ kia; được người này thương thì người kia ghét, được chỗ này quý trọng thì chỗ kia khinh nhờn v.v… Vẫn còn bị xao động bởi những lời khen, chê dành cho mình cũng như rơi vào sự khen chê, đánh giá người kia, việc nọ v.v… Vẫn còn bị xao động trước những tình huống làm cho vui sướng, thoải mái hay đớn đau, khổ sở….Hay nói khác hơn, cạo bỏ râu tóc khi xuất gia không chỉ là ở hình tướng đối với người tu sĩ, mà còn là biểu hiện của tâm nguyện mong cầu cho chúng sanh có trí tuệ sáng suốt để quán chiếu được thiện pháp và ác pháp trong cõi đời này. Vì một khi ta có được cái nhìn trung đạo chân thật thì các pháp thế gian khó làm tâm người tu vướng bận khiến sanh phiền não.



BÀI 41: MỘC DỤC

(Tắm gội)

Mộc là gội tóc, gội đầu.

Dục là rửa bỏ dơ bẩn của thân.

Trong Luật Tăng-kỳ nói:

Phật bảo Kỳ-vực về việc làm nhà tắm cho chúng tăng được bảy phước báu thù thắng như sau:

  1. Tứ đại không bệnh, sinh ra thường an ổn, khỏe mạnh được chúng kính ngưỡng.
  2. Sinh ra sạch sẽ sáng láng mắt mặt đoan chính, bụi nước dơ không dính, được người kính trọng.
  3. Thân thể thường thơm, y phục sạch sẽ, người thấy hoan hỷ, không ai không kính mộ.
  4. Cơ thể thắm đượm, đức lớn oai quang không ai không thán phục, độc đáo không ai hơn.
  5. Nhiều người theo hầu hạ lau chùi bụi dơ, tự nhiên được phước, thường biết đời trước.
  6. Miệng răng thơm đẹp, vuông trắng đều đặn, có dạy bảo điều gì không ai không cung kính ứng dụng.
  7. Chỗ sinh ra tự nhiên có áo xiêm sáng đẹp quý báu, người thấy an lạc.

Qua bảy phước báu Đức Phật nêu ra, chúng ta thấy rằng những việc bình thường phục vụ cho đời sống tăng chúng nhưng từ đó lại phát sanh công đức lớn, trổ quả thù thắng. Tại sao được như vậy? Bởi vì khi thân thể được tắm gội sạch sẽ thì công phu tu hành mới thăng hoa được, còn ngược lại thân bứt rứt khó chịu chắc chắn không tránh khỏi tâm phiền muộn bất mãn – một trí tuệ minh mẫn chỉ có trong một cơ thể cường tráng luôn là điều hiển nhiên trong cuộc sống này.

Luật Thập tụng nói:

Tắm rửa có năm điều lợi:

  1. Trừ bụi dơ.
  2. Khiến cho da dẻ của thân thể sạch sẽ.
  3. Tránh lạnh và nóng.
  4. Hạ phong khí điều.
  5. Ít bệnh đau.

Luật Tứ phần ghi:

Tỳ-kheo nửa tháng tắm một lần, không được quá, trừ lúc bệnh, lúc nóng, lúc làm việc, lúc mưa, lúc gió, lúc đi đường. Không được tiểu trong nhà tắm. Không được nói cười với người, không được cùng nói việc đời. Có mụt nhọt ghẻ lở và tất cả bệnh tật ngoài da thì nên tắm rửa sau. Thượng tọa chưa tắm không nên được được tắm trước, trái thì tội đọa. Lúc tắm rửa nên chánh tâm niệm thầm kệ chú sau đây:

Tẩy dục thân thể

Đương nguyện chúng sanh

Thân tâm vô cấu

Nội ngoại quang khiết.

Nghĩa:

Tắm rửa thân thể

Nguyện cho chúng sanh

Thân tâm hết dơ

Trong ngoài sáng sạch.

“Tắm” ở đây còn được hiểu theo lý là tắm rửa sạch sẽ những cấu bẩn, phiền não ở trong tâm – tất cả những thứ tâm ích kỷ, tật đố, xan tham … đều được gột rửa để trở nên thanh tịnh.

Câu chuyện La Hán Quá Giang sẽ cho chúng ta thấy việc tắm gội thân tâm qua lời chỉ dạy của Đức Phật:

La Hán Quá Giang tên thật của Ngài là Bạt-đà-la (Bhadra). Bạt-đà-la còn gọi là Hiền, vì mẹ Ngài hạ sanh Ngài dưới cây Bạt-đà, tức là cây Hiền.

Theo truyền thuyết, Tôn giả rất thích tắm rửa, mỗi ngày tắm từ một lần đến mười lần, và như vậy rất mất thời gian đồng thời trễ nải công việc. Chẳng hạn khi mọi người thọ trai, Ngài lại đi tắm, khi lên ăn thì cơm rau đã hết. Nhiều buổi tối, Ngài lén đi tắm khi mọi đang tọa thiền. Thậm chí ngủ giữa đêm cũng thức dậy đi tắm, có khi một đêm tắm năm, sáu lần. Việc này đến tai đức Phật, Thế Tôn kêu Tôn giả đến bên, chỉ dạy cách tắm rửa thiết thực, nghĩa là ngoài việc tẩy rửa thân thể còn phải tẩy rửa cấu uế trong tâm, gột sạch các tham sân phiền não để cả thân tâm đều thanh tịnh.

Tiếp nhận lời Phật dạy, Tôn giả hành trì theo ý nghĩa đích thực của việc tắm rửa, siêng năng gột rửa tâm nên chẳng bao lâu chứng quả A-la-hán. Từ đó tắm rửa là một pháp tu hữu dụng thiết thực mà Tôn giả thường khuyên dạy mọi người và nhắc nhở ý nghĩa phản tỉnh tư duy ngay cả trong khi tắm gội.

Ngày nào cũng tắm rửa, chúng ta thấy việc ấy rất bình thường, nhưng đó lại là một pháp tu hữu dụng, gần gũi thiết thực nhất trong cuộc sống, bởi khi ở một mình tâm phóng túng sẽ xuất đầu lộ diện. Tâm ta thường bị phiền não tham, sân, si, mạn, nghi, ích kỷ, đố kỵ, ganh tỵ, vị kỷ… làm nhiễm ô, do đó phải dùng nước thanh tịnh tẩy chúng. Tuy không thể một, hai lần là tẩy sạch, nhưng ngày nào cũng tinh tấn thì ắt có ngày thân tâm sẽ được thanh tịnh an lạc.

Ni sư Ayakhema trong quyển “Vô Ngã Vô Ưu” dạy rằng:

Việc ta cần làm trước tiên cho Tâm là tẩy rửa, tắm gội cho nó, không chỉ mỗi ngày một lần hay hai lần như đối với cơ thể, nhưng trong mỗi giây phút tỉnh thức. Để làm được điều đó, chúng ta phải biết phương pháp. Với cơ thể, điều đó khá dễ, chỉ cần dùng xà phòng và nước. Chúng ta đã quen làm như thế từ ngày còn nhỏ. Nhưng tâm chỉ có thể được gội rửa bằng tâm. Những gì tâm đã thâu nhận, chỉ có tâm mới có thể cởi bỏ. Mỗi giây phút tỉnh thức trong thiền là mỗi giây phút tâm được sàng lọc vì may mắn thay, tâm không thể làm hai việc cùng một lúc…

Khi ta thiền quán, ái dục, tham vọng, không thể hiện ra vì tâm chỉ có thể làm một công việc một lúc. Do đó nếu thời gian tọa thiền tăng lên, các vết nhơ bẩn trong tâm ta sẽ được gội rửa ngày một trở nên sạch hơn.

Nên Thiền sư Thiên Nham Trường khai thị cho đồ chúng rằng:

“Tham thiền là thứ nhất, trì giới là thứ hai, lễ Phật đọc tụng kinh điển là thứ ba, và làm phước điền là thứ tư. Đã là kẻ sĩ xuất gia phải thực hành bốn việc này, chẳng có thể phóng túng tâm ông, chẳng có thể buông lung ý ông, chẳng có thể giải đãi thân ông, chẳng có thể mê muội trí ông – oán trách khổ và vui, thống thiết nghĩ sống và chết. Chớ lo buồn về việc mặc và ăn, chớ tham danh và lợi, phải tỉnh tỉnh chẳng chấp trước, trong ngực phải bình dị thảnh thơi, đi ngồi phải khế hợp thanh tịnh, động tịnh nương chỗ phép tắc, thường gẫn gũi thiện tri thức, thường lánh xa bạn chẳng lành. Nếu hay tin lời tôi, thành Phật trọn chẳng khó!”

Như vậy nếu người xuất gia có túc duyên tu thiền, hành trì giới luật, kết hợp tụng kinh, sám hối, đồng thời lại bổ túc thêm phước lực bằng các công việc phục vụ đại chúng thì việc gạn lọc tâm ý thanh tịnh mau chóng được thành tựu. Tuy ta thấy vậy nhưng ở một số môi trường tu tập khác, có trì giới nhưng lại không có tọa thiền hoặc có tụng niệm nhưng giới luật khó được miên mật, hay lại có những nơi chuyên bố thí làm phước thiện nhưng không chú trọng các pháp còn lại v.v…Ở đây thiền sư Thiên Nham Trường muốn nhấn mạnh đến bốn pháp được người tu sĩ thực hành đầy đủ sẽ khiến tâm họ không còn cơ hội phóng dật, buông lung hay bị dẫn dắt cuốn trôi theo những ý niệm thế tục tầm thường. Song trong bốn pháp Ngài vừa nêu ra, tại sao tọa thiền lại đứng đầu?

Xét về ngữ nghĩa của tọa thiền, thì tọa là ngồi; thiền (tiếng Phạn là dhyana) nghĩa là tâm được nghỉ ngơi, hoặc tập trung tinh thần và tâm trí. Thiền không phải là một tâm trạng đặc biệt, mà là tâm bình thường, yên tĩnh, không dao động. Trong tọa thiền không xen vào bất cứ ý niệm, tìm tòi và cố gắng nào. Đó không phải là tưởng tượng, không giả dối, không độc đoán, không kiêu ngạo. Phải bao dung cả những điều trái nghịch khởi lên trong tâm trí mình. Hành thiền là sự biểu lộ của sự sống với một tinh thần trong suốt, cởi mở và thành thật.

Mỗi ngày đầu óc chúng ta chất đầy những tư tưởng phức tạp và những điều mâu thuẫn. Nhưng không cần lẫn trốn những điều trái nghịch và rắc rối này. Khi ngồi thiền đúng cách, đúng tư thế, ta sẽ thấy được chân tâm của mình. Giống như khi ta đặt một ly nước bùn lên bàn, sau một thời gian yên tĩnh, bùn lắng xuống và nước trong ra. Tâm ta cũng thế khi ngồi thiền: vẩn đục yên lắng và tinh khiết hiển bày. Trong tư thế ngồi thiền, ta lấy lại được chân tánh tinh nguyên sâu thẳm mà sẵn có nơi chính mình, và xa hơn nữa ta có thể lần về cội nguồn từ vô thủy kiếp.

Vậy tại sao tâm chúng ta cần phải được gột rửa? Bởi vì tâm luôn chất chứa nhiều cấu uế. Cấu uế đó là gì?

Trong kinh Tăng Chi Bộ III, chương 8, phẩm Lớn, phần Các cấu uế được Đức Phật lý giải như sau:

Một thời Thế Tôn ở Vesàli, tại Mahavàna, dạy các Tỷ kheo: Này các Tỷ kheo, có tám cấu uế này. Thế nào là tám?

Này các Tỷ kheo, không đọc tụng là cấu uế của Thánh điển; không thức dậy là cấu uế của nhà; biếng nhác là cấu uế của dung sắc; phóng dật là cấu uế của phòng hộ; ác hạnh là cấu uế của đàn bà; xan tham là cấu uế của bố thí; các ác pháp là cấu uế của đời này và đời sau. Nhưng này các Tỷ kheo, còn có cấu uế lớn hơn các cấu uế, vô minh là cấu uế lớn nhất.

Tuy nhiên trong các cấu uế, Đức Phật kết luận vô minh là cấu uế lớn nhất. Vì vô minh là không có trí tuệ để phân biệt pháp thiện và pháp ác – được xem là cấu uế nghiêm trọng nhất.

Qua bài kệ Tỳ ni, Đức Phật muốn nhắn nhủ cho chúng ta rằng phải sạch hết các cấu uế thì sẽ được tự tại thanh thản giữa cuộc đời này. Hay nói khác hơn muốn gột rửa thân tâm cho được thanh tịnh thì nhất định không còn những cấu uế phóng dật, biếng nhác, xan tham … trong đời sống tu tập. Đây chính là những mầm mống khiến cấu uế vô minh tăng trưởng làm cản trở tiến trình giác ngộ giải thoát. Và muốn làm được điều đó thì pháp hành thiền là phương tiện thiện xảo đưa hành giả đến sự tự do “giải thoát, giải thoát tri kiến” tuyệt đối. Bởi tọa thiền không phải là vô cảm, trơ lì, lãnh đạm như nhiều người lầm tưởng. Mà ngược lại, tọa thiền là một trạng thái chủ động, chú tâm liên tục và rất năng động, đó là “nguồn sống” đem lại tự do cho nội tâm.

Như trong bài kệ Ma Ha Diễn ghi:

Thiền là kho trí tuệ,

Ruộng phước của công đức,

Thiền như nước trong sạch,

Công năng rửa sạch bụi.

Thiền là giáp kim cương

Ngăn chặn tên phiền não,

Tuy chưa chứng vô vi

Quả Niết-bàn có phần,

Được kim cương tam-muội

Đập tan núi kiết sử,

Chứng được lục thần thông

Độ chúng sinh vô lượng,

Bụi trần che vầng dương,

Mưa lớn đều trôi sạch,

Gió giác quán động tâm,

Thiền định ngăn lặng gió.

Như vậy, tọa thiền không phải là trạng thái tiêu cực hoặc thụ động “trống không” hiểu theo nghĩa thông thường, mà là toàn thể, tự do cùng khắp, không bị ràng buộc, hạn chế và công năng “tắm rửa” cho tâm chúng sanh trở lại trạng thái bình thường là vô cùng thiện xảo.



BÀI 42: TẨY CƯỚC

(Rửa chân)

Bài kệ tụng khi “Rửa chân”:

Nhược tẩy túc thời

Đương nguyện chúng sanh

Cụ thần túc lực

Sở hành vô ngại.

Nghĩa:

Như lúc rửa chân

Nguyện cho chúng sanh

Đủ sức thần túc

Đi không trở ngại.

Tẩy túc là rửa chân cho sạch trước khi vô đất Già Lam.

Khi xưa ở Ấn Độ. Lúc Đức Phật còn tại thế, các vị Tỳ-kheo thường đi chân trần ra ngoài khất thực chân dính bụi đất, vì vậy mỗi khi đến Tăng Già Lam (chùa, nơi thờ phượng) trước phải rửa chân cho sạch, rồi mới vào lễ Phật.

Trong Kinh Kim Cang phần vào kinh có đoạn diễn tả hình ảnh Đức Phật và Tăng đoàn sau khi thọ thực xong “rửa chân” sạch sẽ để tĩnh tâm tọa thiền như sau:

Tôi nghe như vầy, một thuở nọ Phật ở vườn Cấp Cô Độc, rừng Kỳ Đà, nước Xá Vệ, cùng chúng đại Tỳ kheo 1250 người chung hội.

Bấy giờ Thế Tôn đến giờ ăn, Ngài đắp y, mang bát đi vào thành lớn Xá Vệ khất thực. Ở trong thành ấy, theo thứ lớp khất thực rồi trở về chỗ mình, thọ thực xong, thu xếp y bát, rửa chân và trải tòa mà ngồi.”

Tại sao Đức Phật lại hiện tướng tầm thường như đắp y, mang bát, khất thực, thọ thực, rồi sau đó xếp y bát, rửa chân, trải tòa ngồi bình thường như bao nhiêu người, mà không có gì kỳ đặc khác thường?

Theo cái nhìn của nhà Thiền, chính trong những điều bình dị như vậy đã đầy đủ ánh sáng vi diệu. Nghĩa là trong chỗ mang bát, đắp y, khất thực, đi tới đi về, rửa chân, thu xếp y bát vốn đã sáng ngời ánh sáng rực rỡ – ánh sáng Kim Cang Bát Nhã. Người thế gian thường không sống được ở hiện tại với những điều bình thường đó mà luôn hướng tâm đến những điều phi thường viễn vong, mơ hồ. Nên trong nhà thiền thường có câu: “Tâm bình thường là Đạo”.

Vì vậy, Hòa thượng Làng Mai nói:

Ta phải thấy được mỗi bước chân là phép lạ. Ta còn sống đây, còn đủ hai chân để đi và còn hai lá phổi để thở, đó là một sự mầu nhiệm. Bước đi mà ý thức rằng mình đang còn sống và đang bước đi trên hành tinh xinh đẹp này đó là một sự giác ngộ. Có những người đi như bị ma đuổi, đi trong sự quên lãng và thất niệm. Còn ta biết đi trong tỉnh thức. Mỗi bước chân là ta đang thực hiện “địa hành thần thông”. Thần thông không phải là đi trên mặt nước mà là đi trên mặt đất. Chỉ cần nhớ là ta đang còn sống đây, ta đang có mặt thật sự và đang bước những bước thảnh thơi, an lạc. Tia nắng đó, hạt sương kia đều rất đẹp. Nếu ta tư duy thì ta sẽ đánh mất cơ hội để tiếp xúc với chúng. Chỉ cần dừng tư duy thì những mầu nhiệm đang sẵn có đó, tất cả đều là của ta.

Thánh Ni Patacara có bài thơ chứng đạo trong Trưởng lão Ni kệ, trích như sau:

Một hôm, rửa chân, tôi nhìn thấy nước chảy từ cao xuống thấp.

Từ đó, tâm tôi đã an bình y hệt như một tuấn mã thuần chủng.

Về căn lều, tôi thắp ngọn đèn nhìn ngọn lửa.

Tôi lấy kim dìm bấc xuống dần.

Ô, ngọn lửa nhỏ bỗng tắt.

Niết-bàn hiện ra! Tâm tôi hoàn toàn giải thoát.

Cuộc đời bi thương của thánh Ni Patacara được thuật lại trong tích truyện pháp cú. Trải qua nhiều biến cố Ni sư xuất gia tu tập theo tăng đoàn của Đức Phật, bà từng thưa với Phật rằng:

Bạch Thế Tôn, con xin quy y Ngài, nương tựa Ngài. Con có một đứa con bị diều tha, một đứa bị nước cuốn. Chồng con chết, cha mẹ anh em con cũng chết.

Phật bảo:

– Patacara, đừng phiền muộn. Ngươi đã đến với người có thể là nơi ẩn trú, nơi che chở, nơi nương tựa cho ngươi. Những điều ngươi kể đều đúng cả. Cho đến ngày nay, qua biết bao nhiêu vòng luân hồi, ngươi đã khóc vì mất con, mất người thân, nước mắt rơi nhiều hơn nước bốn biển……

Sau đó bà xin Phật gia nhập Tăng đoàn, được nhận và gởi tới Ni chúng. Bà đã làm tròn bổn phận, và vì tánh tình vui vẻ nên được tên là Patacara.

Một hôm, bà múc nước đầy bình và xối rửa chân. Nước chảy ra đất thấm xuống hết. Lần thứ hai nước chảy xa hơn rồi cũng thấm hết. Lần thứ ba xa hơn nữa rồi cũng thấm hết. Bà lấy đó làm đề mục thiền quán. Tức là nước đổ lần đầu giống như chúng sanh qua đời lúc tuổi nhỏ. Lần thứ hai khi tuổi thanh xuân, và lần thứ ba lúc đã già. Cuối bài kệ Patacara chứng quả A la hán, và tham dục, phiền não vi tế nhất trong tâm đều được tiêu trừ.

Qua câu chuyện trên, chúng ta có thể thấy rằng ngay trong hành động rửa chân rất đơn thuần nhưng với mức độ chuyên tâm chánh niệm mãnh liệt, nó cũng có thể khiến ta ngộ đạo. Hay nói khác hơn, giác ngộ không phải là một tâm trạng đặc biệt mà là sự trở về với tâm bình thường. Vì thế ngay trong đời sống hằng ngày cũng có thể ngộ được, miễn là có sự chuẩn bị, sự chín mùi sau một thời gian tu tập tọa thiền chuyên cần tạo điều kiện cho tâm trí yên lắng trở lại bình thường. Đức Phật cũng như các đại thiền sư thuở trước đều trải qua một thời gian dài hành trì thiền định rồi nhờ những hiện tượng như sao mai, tiếng ngói, đóa hoa, cú đánh, v.v… làm yếu tố xúc tác mà bật ngộ. Trong trường hợp Ni sư Patacara đó là khi bà đang rửa chân.

Như vậy nếu hành giả biết dùng đồ cúng dường của đàn na tín thí một cách thận trọng, chánh niệm thì sẽ kiệm phước và tích lũy thêm công đức nhằm trợ duyên cho con đường tu tập ít gặp chướng ngại và dễ ngộ nhập bản tâm ngay trong những sinh hoạt đời thường.



VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ

Thượng Tọa Thích Đạt Ma Khế Định

– Trụ trì: Thiền viện Trúc Lâm Chánh Thiện, tỉnh Lâm Đồng

– Giáo thọ Trường Trung cấp Phật học Tỉnh Bình Thuận;

– Giáo thọ Trường Phật học Trúc Lâm, Long Thành, Đồng Nai.

– Giảng dạy cho Tăng Ni, Phật tử tại các đạo tràng trực thuộc thiền phái Trúc Lâm Việt Nam trong và ngoài nước.

– Thành viên Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam – Trung Tâm Nghiên Cứu và Ứng Dụng Thiền Học Bắc Truyền.

Thượng Tọa Thích Đạt Ma Khế Định sinh năm 1970 tại Ninh Thuận, trong gia đình thấm nhuần Phật Pháp. Từ thuở bảy tuổi Thầy đã gieo duyên tụng niệm bái sám Kinh Pháp Hoa tại Tịnh xá Ngọc Bảo – Tháp Chàm, hạt giống đạo tâm sớm nảy nở. Một ngày khi duyên lành hội đủ, Thầy đến Thiền viện Thường Chiếu truyền pháp, mở hướng tu tập. Năm 1998 Thầy lên Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt trực tiếp thọ pháp của Hòa Thượng Trúc Lâm, nay là Tông Chủ Thiền Phái. Miên mật hành trì suốt 30 năm, Thầy đã kế thừa và phát huy tinh thần cốt tủy: nội tâm sáng tỏ, ngoại duyên lợi lạc. Với hạnh nguyện nhập thế, Thầy dốc lòng tiếp độ Tăng Ni, hướng dẫn Phật tử tu học, mở khóa thiền, giúp người học hiểu và ứng dụng Phật pháp, chuyển hóa khổ đau và dựng xây đời sống an lành giữa cuộc đời.