Tham vấn Giáo lý và Tu tập
Tham vấn Giáo lý và Tu tập
(trích “Thiền Tông Quyết Nghi – Tập 1) – Thích Đạt Ma Khế Định
– NXB Tôn Giáo
Câu 1: Xin Thầy giảng cho con được hiểu rõ hơn về còn sót chút ít nguyện lực Bồ-đề tâm ở đời này.
Đáp:
Sở dĩ ngày hôm nay quý Phật tử đến chỗ này là do còn sót một chút duyên, nếu mình quên không phát nguyện lực Bồ-đề tâm thì mình mãi chìm đắm trong biển khổ giống như những người khác. Tôi nói thiếu chút nữa có nghĩa là giờ đó nếu mình không phát nguyện lực Bồ-đề tâm thì giờ này không bao giờ mình biết đến Phật pháp, cho nên nói còn sót chút ít may mắn. Nếu tròn đủ thì giờ này mình thành Phật, Bồ-tát chứ không lặn hụp trong biển khổ nữa. Nhưng may mắn mình có mặt trong cuộc đời này, mình vẫn còn bơi lội trong biển Pháp tức là nắm được cái phao, con thuyền để dừng lại, để tu tập chuyển hóa. Cho nên mình ráng cố gắng củng cố, đừng bỏ mất cơ hội được làm người, được sanh nơi có đầy đủ mọi thứ.
Câu 2: Khi vào trong Thiền viện, tránh hết các duyên thế tục thì tự nhiên tu tập an ổn, tâm không lăng xăng, giống như trạng thái ngộ đạo vậy. Xin Thầy giải thích cho con là tại sao?
Đáp:
Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương Phật dạy: “Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện” nghĩa là chế tâm một chỗ thì việc nào cũng thành. Trong kinh A Hàm, Đức Phật dạy: Một là thiện, hai là ác, ba là trung tính. Trung tính là không phải thiện cũng không phải ác nhưng gặp duyên thì nó phát tác chứ chưa phải cảnh giới mà Phật ngộ đạo. Mình không có phiền não là do chưa gặp duyên, chưa gặp chuyện. Khi gặp duyên thì nó bùng phát, có nghĩa là nó ngủ ngầm. Ba tâm đó Đức Phật nói phải loại trừ.
Cho nên Lục Tổ dạy “không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lại diện mục của Thượng tọa Minh” tức là không trụ trên một pháp nào mà đều sáng suốt rõ ràng thì đó mới được giải thoát. Lục Tổ dạy:
Ngơ ngơ chẳng tu thiện,
Ngáo ngáo chẳng làm ác,
Lặng lẽ dứt thấy nghe,
Thênh thang tâm không dính.
Nghĩa là việc thiện thì mình làm nhưng mà ngơ ngơ chẳng dính mắc, cho nên mình phải rà soát lại thật kỹ về chỗ tu tập để thẳng tiến vào con đường công phu.
Câu 3: Tự tánh mình đã thanh tịnh tại sao mình còn đi trong luân hồi?
Đáp:
Mình phải hiểu đã là bổn lai vô nhất vật mà khi mình mất rồi thì đâu phải dễ như là ăn cơm ăn ớt. Mình đã có “xưa nay không một vật” mà quên, không phải chỉ quên một đời mà vô lượng kiếp đã quên, gọi là mất gốc. Trong kinh Lăng Nghiêm, chúng sanh gọi là bối giác hiệp trần, chư Phật và thánh chúng là bối trần hiệp giác. Bối giác hiệp trần là bỏ cái giác mà hiệp với trần cảnh, nó khằn dính.
Trong Thiền Tông Cuối Thế Kỷ Hai Mươi, Hòa thượng kể:
Có một người mặt mày đang sáng sủa đẹp đẽ, một hôm không biết nghĩ gì mà vào trong chợ mua sơn về quệt lên mặt, mỗi ngày quệt một chút. Quệt một thời gian khuôn mặt nhìn giống như La sát, đủ thứ màu trắng, vàng, đen, đỏ. Một hôm có người nói sao anh vô minh quá, ngày xưa khuôn mặt anh sáng sủa đẹp đẽ mà bây giờ anh tô lên đủ thứ màu. Người này hối hận đi rửa mặt. Đại chúng thấy khuôn mặt mình trét đủ thứ màu rửa chừng nào mới hết?
Khi mình sống thể nhập, chứng nghiệm vào bản thể thanh tịnh thì chết không bị dính mắc vào nghiệp lực. Còn mình chưa sống, chưa chứng nghiệm thì khi chết vẫn bị nghiệp lực lôi. Mình xuống địa ngục Phật tánh cũng đi xuống mà Phật tánh không chịu khổ. Chỉ cần ngay trong giờ phút mình bị khổ mình biết ai chịu khổ, trở về cái biết đó thì giải thoát. Nhưng mà trở về không được vì bị nghiệp lực chèn nó ép.
Khi chết mà muốn được sống với bản thể, theo thiền sư Lâm Tế thì một vị thiền sư khi bỏ thân xác được chín mươi phần trăm năng lực thể nhập Phật tánh. Bên Tây Tạng họ phân tích một người có tu tập thì năng lượng của bản thể ba ngày ba đêm, người tu sơ sơ thì một ngày một đêm, còn chúng sanh thì có một tích tắc thôi, một phút giây ngắn ngủi. Ngay trong giờ phút đó mình không nắm thời cơ thì nó sẽ tuột mất rồi qua thân trung ấm trải dài bốn mươi chín ngày, từng bước từng bước khai thị nhắc nhở để họ nhớ sống, tu lại.
Câu 4: Khi mình đi trong sanh tử luân hồi thì có phải mạt-na thức đi theo?
Đáp:
Nói chung, khi chúng ta từ bỏ thân xác này rồi thì không còn gọi là thức thứ mấy nữa mà gọi là thần thức. Thần thức đi ra, tùy nghiệp mà thọ lãnh quả báo trong lúc sống tạo tác. Tạo tác thành thói quen, chẳng hạn đi ngang quán rượu thì thèm rượu, đi ngang quán thuốc thì thèm thuốc. Ý thức làm chủ lực để dẫn dắt qua ba đường sáu nẻo. Giống như Tôn Ngộ Không trong Tây Du Ký, ông lên xuống thiên đường, địa ngục …. nơi nào cũng có mặt trong tích tắc. Nhưng chỉ cần trở về gặp Tam Tạng Pháp sư chỉ cho Kinh Luật Luận, chỉ cho Giới Định Tuệ chuyển hóa thì tức khắc dừng được tâm dong ruổi và chứng thành Phật quả, gọi là Đấu Chiến Thắng Phật.
Câu 5: Do một niệm bất giác mà chúng ta đi trong sanh tử luân hồi?
Đáp:
Trong kinh Hoa Nghiêm: Khi Đức Phật thành đạo, Ngài nói:
“Chúng sanh đều có thắng trí giống như ta không khác. Ta có thiền định, thắng trí như thế nào, ta có gì thì chúng sanh đều có đầy đủ. Do một niệm bất giác vô minh chạy theo vọng tưởng cho nên chìm trong biển khổ sanh tử.”
Đức Phật không có nói “trước niệm”. Nhà Phật luôn luôn muốn chúng ta an trú trong giờ phút thực tại chứ không có nói trước niệm, gọi là vô thủy vô chung. Mà ngay trong giờ phút này mình tu cái gì để giải quyết vấn đề sanh tử, chứ các ngài không phân tích, không cho mình tìm tòi đằng trước là cái gì, không cho mình ngồi đây mà suy nghĩ trước niệm là cái gì. Bởi vì ngay trong giây phút này mình là chúng sanh. Chừng nào mình thành Phật hoặc chứng quả rồi thì tự nhiên mình biết hết. Không cho nói để mình khỏi vọng tưởng viển vông rồi tu không được.
Cho nên đến với các thiền sư các ngài không nói dài dòng, cũng không trả lời câu hỏi “trước niệm tôi là cái gì” hoặc “tôi không dấy niệm là gì”, đó cũng chỉ là vọng tưởng. Mà các ngài đập hoặc hét để cho mình trở về với giây phút thực tại. Ngay trong giờ phút ngồi thiền này mình giải quyết vấn đề sanh tử: đừng dấy niệm, đừng vọng tưởng, đừng chạy theo những niệm lăng xăng, đừng khởi tham sân si, đừng phiền não.
Đến mức độ hỏi cái vi diệu trong Phật pháp mà còn bị đánh. Hỏi thế nào là đại ý Phật pháp bị ăn ba gậy, ba lần đến hỏi đều bị đánh ba gậy. Ngài Vân Môn gặp ngài Trần Tôn Túc vừa hỏi diệu lý của đạo bị đạp ra cửa, hỏi đến lần thứ ba ngài bị cửa dập gãy chân. Được đạo gãy cái chân! Nói về diệu lý của đạo mà còn bị vậy huống chi là nói chuyện vẩn vơ.
Câu 6: Xin thầy giải thích về “Bất muội nhân quả”?
Đáp:
Trong Thiền Sư Trung Hoa Tập 1 có kể: Ngài Bá Trượng là đệ tử của ngài Mã Tổ, mỗi lần giảng kinh thường có một cụ già theo chúng nghe pháp. Một hôm, sau thời giảng, đại chúng hồi hướng rồi ra về nhưng cụ già còn ở lại. Ngài Bá Trượng hỏi:
– Ai cũng về hết sao ông không về?
Cụ già đáp:
– Hồi xưa con trụ ở núi này, có người đến hỏi con, bậc đại tu hành còn rớt trong nhân quả hay không. Con nói không có nhân quả, không còn rớt nữa. Do chuyển ngữ một lời nói sai cho nên con rớt trong năm trăm kiếp chồn. Nhờ ơn Hòa thượng chỉ dạy cho con.
Thiền sư Bá Trượng nói:
– Bây giờ ông hỏi đi.
Ông già hỏi:
– Bậc đại tu hành có còn rớt trong nhân quả không?
Tổ Bá Trượng nói:
– Bất muội nhân quả.
Muội tức là mê lầm. Bất muội nhân quả có nghĩa là không lầm nhân quả. Bậc đại tu hành là những người kiến tánh, ngộ đạo, những người triệt ngộ.
Đời trước mình gieo nhân thì đời nay quả chín muồi. Tổ Huệ Khả khi đến chùa Khuôn Cứu, Ngài giảng kinh Niết Bàn trước cổng tam quan. Vị pháp sư Biện Hòa giảng kinh Niết Bàn trong chùa, vì chưa chứng đạo còn tâm hơn thua, không chịu được nên báo quan bắt Tổ Huệ Khả bỏ vào tù.
Tổ Sư Tử bị vua Kế Tân chặt đầu. Ngài biết đời trước ngài và vua Kế Tân là hai cư sĩ rất thân với nhau. Khi luận bàn về Phật pháp, ngài thua nên ngài bỏ thuốc độc cho bạn chết. Đời sau bạn ngài làm vua Kế Tân, còn ngài làm Tổ Sư Tử, vì nợ trước nên ngài phải trả. Trả nhưng các ngài không lầm cho nên không buồn khổ.
Chẳng hạn như hôm nào đó có người đòi nợ mình trăm triệu, mình quên nên không trả. Nhưng khi ngồi lắng tâm mình nhớ lại ngày mấy tháng mấy mình đến nhà người ta mượn thì mình vui vẻ trả. Những việc khổ, vui trong cuộc đời này đều do mình tạo tác mà bây giờ mình quên. Nhưng nhờ tu học Phật pháp, mình bị người ta chửi mắng mình biết đời trước đã gieo nên bây giờ phải gặt, mình không lầm, không buồn khổ thì tức khắc mình vượt qua nhân quả.
Ngài Hạo Nguyệt hỏi ngài Trường Sa:
– Tổ Huyền Giác nói “liễu tức nghiệp chướng bổn lai không, vị liễu ưng tu hoàn túc trái”. Chưa liễu thì chắc chắn đền nợ trước. Vậy Tổ Sư Tử, Tổ Huệ khả đã liễu đạo rồi tại sao đền nợ trước?
Ngài Trường Sa nói:
– Đại đức không biết bổn lai.
Hạo Nguyệt hỏi:
– Thế nào là bổn lai?
Ngài nói: – Nghiệp chướng.
Đại đức hỏi:
– Thế nào là nghiệp chướng?
Ngài nói: – Xưa nay không.
Có nghĩa là khi nghiệp chướng đến các ngài thấy rỗng không, không có mê mờ.
Có một ông tăng đến hỏi Sơ Tổ Trúc Lâm “Bậc đại tu hành còn rớt trong nhân quả không?” Thiền sư Việt Nam khác các thiền sư Trung Quốc, ngài nói bài thơ:
Khẩu tợ huyết bồn ha Phật Tổ,
Nha như kiếm thọ chủy thiền lâm.
Nhất triêu tử nhập A-tỳ ngục,
Tiếu sát Nam-mô Quán Thế Âm.
Nghĩa là:
Miệng dường chậu máu chê Phật Tổ,
Răng như kiếm bén gặm rừng thiền.
Một mai chết đọa A-tỳ ngục,
Cười ngất Nam mô Quán Thế Âm.
Khổ đến mà cười, còn mình khổ đến thì khóc. Đức Phật sai tôn giả Mục-kiền-liên, tôn giả A-nan xuống thăm Đề-bà-đạt-đa khi đọa địa ngục:
– Sư huynh rớt địa ngục có khổ không?
Ngài trả lời:
– Sư huynh ở cõi này như ở cõi trời ba mươi ba.
Mình rớt địa ngục thì khóc la còn các ngài ở địa ngục giống như không có gì. Khi việc khổ đến mình đừng lầm, đừng mê muội thì tức khắc mình chuyển. Tinh thần nhân quả nhà Phật không mê mờ một chỗ nào mà rõ suốt hết. Hiểu được như thế thì cuộc đời không khổ.
Câu 7: Đức Phật là người đã đạt tới Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và đã vượt qua sanh tử, vậy thì tại sao ngài không trụ được ở cõi trần gian này mà Ngài phải nhập diệt?
Đáp:
Vừa rồi chúng tôi về Thường Chiếu họp, sư phụ tôi nói: “Giờ tôi dạy mà cũng có mấy ông thầy trốn học.” Trong khi giờ học của Thầy tôi ở Chánh Thiện không thiếu người nào, mặc dù chỉ học bằng hình ảnh, học bằng cái bóng. Bởi vì xa Thầy mình mới khao khát pháp của Thầy. Còn có Thầy kế bên mình nghĩ Thầy còn sống mà lo gì.
Đức Phật cũng vậy, Phật biết dù có sống ngàn năm tuổi thì chúng sanh cũng như thế nên Ngài nhập Niết-bàn. Ba lần Phật nói với tôn giả A-nan, người nào tu đến tứ thần túc thì có thể kéo dài mạng sống vô lượng. Lúc đó tôn giả A-nan, vì bị Ma Ba Tuần che cái tâm, chỉ khóc mà không cầu thỉnh Đức Thế Tôn trụ thế. Nếu Đức Thế Tôn trụ thế thì đời này chưa chắc gì có những bậc thánh ra đời, mà lại trái với qui luật, bốn tướng mà Đức Phật chỉ dạy: sanh, già, bệnh, chết.
Vì vậy Đức Phật mới thuận theo thế gian: Thế giới tất đàn, đối trị tất đàn, các các vị nhân tất đàn và đệ nhất nghĩa đế tất đàn. Thế giới tất đàn là chúng sanh như thế nào thì Phật tùy thuận chúng sanh thế đó. Chúng sanh sinh ra rồi chết thì Thế Tôn cũng phải tùy thuận. Dù Thế Tôn tùy thuận thế gian nhưng vẫn lấy đệ nhất nghĩa đế làm căn bản.
Nói về bậc hạ thì thấy Đức Phật có sanh ra đời, lớn lên xuất gia thành đạo và nhập niết-bàn. Bậc trung thì thấy Đức Thế Tôn thị hiện trong cuộc đời này, sanh ra, lớn lên ngài tu. Bậc thượng thì thấy Đức Thế Tôn chưa từng sanh ra cũng chưa từng mất đi, tất cả muôn pháp đều có Phật. Một niệm ác khởi lên là Phật nhập niết-bàn, khởi niệm thiện giúp đỡ người khác là Phật đản sanh.
Với cặp mắt của bậc giác ngộ thì họ thấy Phật chưa từng sanh ra đời mà cũng chưa từng nhập diệt. Người như mình thì thấy Phật tùy thuận thế gian, bây giờ nói mãi họ cũng không tu. Kinh Pháp Hoa nói, có ông thầy thuốc con bị bệnh mà ông đưa thuốc không chịu uống. Một hôm ông bỏ đi biệt tích, người con mới lấy thuốc ra uống. Phật nói khi chúng sanh thấy Phật nhập niết-bàn thì mới bắt đầu lục lọi kinh điển ra đọc tụng rồi tu.
Đức Phật ra đời trong cõi ta-bà này, Ngài đều thị hiện, nhắc nhở, đánh thức không chỉ vào thời của Ngài mà ngay cả thời này. Đức Phật là một vị hoàng thái tử mà tại sao không sinh trong cung vua mà thị hiện ra đời tại cây vô ưu, thành đạo ở cây bồ đề, nhập niết bàn ở cây sa-la? Đức Phật ra đời đều thị hiện để mình thấy mình tu và làm. Những việc Ngài làm đều là những việc phải làm.
Câu 8: Hình tượng Tổ Bồ-đề Đạt Ma quảy một chiếc dép bên vai phải có ý nghĩa gì?
Đáp:
Hồi xưa khi làm ở nhà khách Trúc Lâm, tôi thấy hai ông Phật tử đứng trước tượng Tổ Đạt-ma tranh cãi về việc tại sao Ngài chỉ quảy một chiếc giày. Một ông nói do Tổ đi qua một bến đò ở Giang Tây bị cướp chặn đường, Ngài có võ nên đá bay mất một chiếc còn lại một chiếc. Ông kia không chịu nên hai người cãi nhau.
Trong sử kể, Bồ Đề Lưu Chi cho Ngài uống thuốc độc năm lần mà Ngài không uống. Đến lần thứ sáu, lúc đó Ngài đã có truyền nhân là Tổ Huệ Khả nên ngài uống rồi hiện thân thị tịch. Tống Vân đi sứ về thấy ngài quảy một chiếc giày đi về Tây nên về báo cho nhà vua là Hiếu Trang Đế vừa lên ngôi. Vua nghe báo tin rất ngạc nhiên, ra lệnh đào mộ để kiểm chứng. Khi quan tài được mở ra, trong quan tài chỉ có một chiếc giày. Vua ra lệnh đem chiếc giày về chùa Thiếu Lâm để thờ.
Nhưng tinh thần của nhà thiền là gì? Tại sao không quảy hai chiếc mà quảy một chiếc? Đó là tinh thần Trung đạo đế, Đệ nhất nghĩa đế, tức là không dính mắc vào thế giới nhị nguyên phân biệt mà thẳng một đường. Không dính mắc phải quấy, hơn thua, thương ghét, chủ khách…, còn dính tức là còn kẹt. Tại sao không quảy chiếc giày bên trái mà quảy chiếc giày bên phải? Phải là nghịch chiều sanh tử mà thuận chiều niết-bàn. Đó là tinh thần biểu hiện một chiếc giày của Tổ Bồ-đề-đạt-ma.
Câu 9: Chữ “Đạt-ma” có nghĩa gì?
Đáp:
Phật là Buddha, Pháp là Dharma, Tăng là Sangha. Đạt-ma tức là pháp. Ngày xưa Tổ Bồ-đề-đạt-ma là thái tử Bồ-đề-đa-la. Vua Hương Chí cúng dường Tổ Bát-nhã-đa-la một hạt châu, Tổ gọi ba vị hoàng tử con vua Hương Chí ra để biện về hạt châu. Bồ-đề-đa-la nói “Trong các thứ bảo chỉ có pháp bảo là tột, trong các thứ tâm chỉ có tâm chân thật là tột”. Tổ Bát-nhã-đa-la biết người này sau sẽ trở thành bậc pháp khí cho nên đổi tên Bồ-đề-đa-la thành Bồ-đề-đạt-ma tức là đạt được pháp. Thầy chúng tôi muốn kỷ niệm tinh thần của Tổ Bồ-đề-đạt-ma nên đặt cho chúng tôi là Thích Đạt-ma …., tức là dòng họ Thích thêm tên dòng họ Tổ vào nữa.
Câu 10: Sau khi ngồi thiền hoặc nghe pháp thường đọc câu:
Nguyện đem công đức này,
Hướng về khắp tất cả,
Đệ tử và chúng sanh,
Đều trọn thành Phật đạo.Vậy khi đọc câu trên con muốn hướng tâm về mọi người xung quanh hoặc con thấy có người nào khổ quá con hướng tâm về họ được không?
Đáp:
Mình đọc như thế thì tâm mình được rộng mở. Ban đầu mình hướng người thân trước, rồi mới ra số đông. Mình sống với người thân, giành từng chút đất, giành từng chút tài sản mà đọc cái này là mình dối. Ở đây gọi là thực tập thôi chứ không hướng được. Biết bao nhiêu vị cao tăng thạc đức đều hướng, nếu hướng được thì các vị cao tăng hướng về Châu Phi cho người dân ở đó đỡ khổ. Cho nên mình phải hiểu đây là nghiệp lực của chúng sanh.
Bên Tây Tạng những vị sư có thần thông nhưng cũng bị ở khu tự trị của nước khác, giải thoát không được là do nghiệp lực của chúng sanh phải chịu những nạn này… Như vậy chúng ta nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả là chúng ta đang bước vào con đường thực tập để cho tâm mình cởi mở rộng thêm. Mình chú tâm nguyện đến con người đó thì bằng phương tiện thiết thực nhất là mình giúp đỡ người đó.
Khi phát nguyện tâm mình rộng mở, không còn keo kiệt nữa thì mình bắt đầu làm thiện pháp, làm những việc từ thiện thiết thực: nơi nào có động đất, sóng thần, nơi nào có khổ đau thì có mặt mình ở đó.
Có nhiều Phật tử giàu lắm nhưng không cúng dường, cũng không làm từ thiện. Tôi nói:
– Cô giàu quá, cô không cúng dường ở đây cũng được nhưng sao cô không làm từ thiện nơi này nơi kia?
Cô Phật tử nói:
– Khỏi thầy, con nghe nơi nào làm từ thiện con vui con tùy hỉ là con đồng.
Tôi hỏi:
– Cô học pháp ở đâu vậy?
Cô nói:
– Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, Phật nói tùy hỉ là đồng với nhau.
Tôi nói:
– Tùy hỉ là đồng với nhau nhưng cô phải nhớ một điều, người ta nghèo cùng khốn khổ không có đồng nào thì tùy hỉ là người ta xả tâm tật đố. Còn cô giàu, cô tùy hỷ cô xả tâm tật đố thì đúng, nhưng tâm tham cô chưa xả.
Tùy hỷ đúng là nhân tốt nhưng tùy hỷ là cái bóng, thì quả sau này cũng là cái bóng. Giống như mình làm giám đốc một ngân hàng quản lý nhiều tiền nhưng xài không được. Mình tùy hỷ là bỏ tâm tật đố nhưng mình cũng phải cúng dường chút ít để xả tâm tham đắm vào của cải tài sản của mình.
Nguyện đem công đức này là mình tập hướng tâm đến. Hướng tâm nhưng mình phải có mặt trong cuộc sống của chúng sanh đang đau khổ, phải đích thân đến để xoa dịu nỗi khổ của họ, chứ không phải ngồi hướng suông. Mình học Phật pháp phải hiểu, hướng tâm đến cho người xung quanh thì phải chế tác năng lượng mình dồi dào, sung túc. Muốn được như vậy thì phải cộng trú hai phương diện vật chất và tinh thần.
Nhà họ Triệu vợ mất đến thiền sư Vô Đức, ông nói:
– Con cúng dường Hòa thượng một ngàn quan tiền, xin Hòa thượng làm bữa cơm cầu siêu cho vợ con.
Thiền sư nói:
– Ông đừng lo, trước khi cầu siêu, cầu an thì tôi luôn cầu cho vô lượng chúng sanh.
Ông nói:
– Không, Hòa thượng đừng làm vậy, Hòa thượng làm như vậy thì vợ con yếu mà cầu vô lượng chúng sanh, nó lên không nổi.
Thiền sư nói:
– Tinh thần nhà Phật là luôn luôn mong muốn chúng sanh đều hết khổ đau, đều được an lạc nên ông đừng lo.
Ông họ Triệu suy nghĩ một hồi rồi nói:
– Thôi cũng được, cầu cho vô lượng chúng sanh, cầu cho ai cũng được nhưng đừng cầu cho ông hàng xóm vì hồi xưa ổng giành đất con.
Tinh thần của nhà Phật là mình tập hướng tâm cho rộng, vô lượng vô biên. Tâm rộng vô lượng vô biên thì nó cộng trú vào con đường thiết thực.
Câu 11: Nhờ Thầy chia sẻ thêm, theo ngài Lục Tổ Huệ Năng thì bổn tánh mình vốn thanh tịnh, tức là tánh và gốc mình vốn tự thanh tịnh.
Đáp:
Bên kinh Dịch hay Tứ thư ngũ kinh Luận Ngữ cũng đều nói câu mà chúng ta thường nghe: “Nhân chi sơ tánh bổn thiện”. Con người ban đầu vốn tánh là thiện mà do gặp hoàn cảnh, môi trường rồi cộng trú với đời sống xã hội thành ra con người không phải như ngày xưa nữa, giống như dòng nước trong từ thượng lưu chảy dần xuống hạ lưu thành đục.
Nhưng bên nhà Nho hoặc bên kinh Dịch họ chỉ thấy có một góc. Đành rằng gốc vốn thanh tịnh nhưng do khách trần phiền não đeo bám, đối với những người tu tập công phu sâu dày nhiều đời nhiều kiếp như ngài Lục Tổ Huệ Năng thì chỉ cần nghe một câu kinh là màn vô minh vén mở, ngài đốn ngộ trực nhập con đường thành Phật tác Tổ. Còn bổn tánh mình vẫn thanh tịnh mà mình chỉ mới lau chùi. Tinh thần đốn ngộ nhưng con đường tiệm tu thì mình mới một hai đời.
Nếu bảo không tu mà được chỗ đó thì không có, không có Di Lặc trời sanh, Thích Ca tự nhiên. Không có một ông Phật nào tự nhiên từ trên trời xuống mà thành Phật. Đâu phải Thích Ca tự nhiên thành Phật Thích Ca mà Ngài tu ba A-tăng-kì-kiếp, năm năm tìm đạo, sáu năm khổ hạnh, bốn mươi chín ngày đêm ngồi dưới cội Bồ-đề, đầy đủ một trăm pháp ba la mật.
Như vậy bổn tánh mình thanh tịnh nhưng tùy theo nghiệp dụng của chúng sanh mà hiện khởi trong cuộc sống giữa đời thường này. Bổn tánh mình thanh tịnh nhưng tại sao có những người vẫn còn chấp ngã, định kiến? Nhơn chi sơ tánh bổn thiện mà tại sao có những người sanh ra đời lớn lên họ vẫn thiện nhưng có những người không được như thế? Do trong quá khứ người này không có tu tập, không có sức chuyển hóa. Phật nói ai cũng có Phật tánh nhưng khác nhau ở chỗ mỏng hay dày. Mỏng là nhiều đời nhiều kiếp mình dọn dẹp lau chùi cho nên nghe Phật pháp mình trở thành con người hiền thiện liền. Còn có những người tập khí sâu dày nghe cách mấy họ cũng không trở về tự tánh thanh tịnh được.
Như vậy tự tánh thanh tịnh ai cũng có mà do sức công phu tu tập mau hay chậm, có những đám mây chỉ cần ngọn gió thổi qua thì tan liền, nhưng có những đám mây gió thổi cách mấy cũng không bay. Như vậy tự tánh ai cũng thanh tịnh mà do sức công phu sâu hay cạn. Nếu mình tu sâu nhiều đời thì đời này chỉ cần nghe bài kinh là mình ngộ liền. Còn đời quá khứ mình chưa tu thì dù tự tánh thanh tịnh nhưng nghe mãi cũng không thấy. Lục Tổ phát hiện ra được đâu ngờ tự tánh có sẵn bên trong nhưng đối với chúng ta phải lau chùi, dọn dẹp, tu tập, chuyển hóa, quán chiếu đủ hết.
Câu 12: Trong Thiếu Thất Lục Môn Tổ Bồ-đề-đạt-ma nói mình còn cầu thì còn khổ, hết cầu mới được vui. Xin Thầy giảng cho chúng con được rõ.
Đáp:
Tinh thần của nhà thiền là nói về Bát-nhã. Bát-nhã là vô sở đắc, vô sở cầu, nghĩa là mình làm việc gì đều từ bản thể, từ chỗ chân không. Từ chỗ bản thể chân không thì không có tác ý. Nhà thiền có chỗ đặc biệt là tu chứng tức chẳng không, mà nhiễm ô không thể được.
Khi Ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng đến gặp Lục Tổ Huệ Năng, Lục Tổ hỏi:
– Ở đâu đến?
Sư thưa:
– Ở Tung Sơn đến.
Tổ hỏi:
– Vật gì đến?
Sư thưa:
– Nói một vật tức không trúng.
Tổ hỏi:
– Lại có thể tu chứng chăng?
Sư đáp:
– Tu chứng tức chẳng không, nhiễm ô tức chẳng được.
Mình làm việc gì đó không mong cầu, không tác ý nhưng nói không không được mà nói có cũng không được. Bởi vì các pháp hữu vi thì có tướng, có tướng thì có phước, có tội đủ hết. Mình làm từ bản thể, từ vô tác diệu lực gọi là không mong cầu.
Khi mình làm một việc phước thiện, mong cầu được việc này việc nọ, nhưng quả thiện đời này chưa chín mà quả khổ đến trước do nhân ngày xưa mình đã gieo. Mình chưa hiểu hết nhưng do mong cầu không được xứng ý nên đau khổ. Còn mình làm việc không mong cầu, chuyện gì đến mình hóa giải thì không khổ, có cầu là có khổ.
Đa phần làm gì mình cũng mong cầu, mà mong cầu quá sức. Việc thiện mình làm đời trước không bao nhiêu đời này cũng không bao nhiêu mà mình xin thần thánh đủ hết. Cầu không được thì khổ, cầu được thì vui. Suốt cả kiếp người luôn luôn chạy theo cái vui cái buồn nên đánh mất đi bản thể thanh tịnh.
Cho nên đến chỗ rốt ráo gọi là vô sở đắc, không có gì mà chứng mà đắc, không có gì được hết. Từ chư Phật đến chư Tổ đều nhắn nhủ mình làm trong cảnh giới Ba-la- mật, từ trong bản thể chân không tức là thấy làm mà không tác ý. Làm mà tác ý thì khổ sẽ đến.
Câu 13: Phiền não và sân hận sẽ tạo nên nghiệp chướng, làm cho ta chướng đạo và rớt xuống những đường khổ thì làm sao để trừ?
Đáp:
Trong nhà Phật có những pháp đối trị gọi là ngũ đình tâm quán. Mình hay sân hận phiền não thì quán khởi lòng từ. Mỗi khi ngồi thiền mình bỏ ra năm phút để quán chiếu cha, mẹ, chồng, con mình thương nhất. Đối với người mình hận nhất trong cuộc đời, mình quán họ giống như là cha, mẹ, là chồng con mình thì từ đó bớt sân hận, bớt phiền não. Thương được người mình thù nhất giống như thương cha, thương mẹ, thương người thân tức là mình thành tựu. Quán chiếu như thế thì mình có được tâm từ vô lượng.
Tại sao mình hay sân hận phiền não? Do chấp ngã lớn quá. Chấp ngã lớn chừng nào thì cái ngã lớn chừng đó. Cái ngã lớn thì sân hận, phiền não, bực tức nhiều. Cộng thêm đời trước ít tu tập mà gieo những chủng tử xấu, cho nên bây giờ gặp chuyện hay bực tức, sân hận, là do tập khí nhiều đời nhiều kiếp.
Đức Phật nói, người vừa đẹp vừa giàu là do đời trước họ tu hạnh nhẫn nhục, bố thí cúng dường. Đời này có những chúng sanh nào vừa xấu lại vừa nghèo là do đời trước hay sân hận bực tức mà không biết bố thí cúng dường. Mình quán chiếu thì từ từ sẽ hết. Tiếp đó mình quán sân hận như lửa dữ, như rắn độc hại mình hại người không những đời này mà tiếp tục đời sau. Quán chiếu thật kỹ thì từ từ mình bớt.
Có một vị Phạm Chí đến hỏi Phật:
– Giết gì được an ổn, giết gì được giàu có, giết gì được hạnh phúc, giết gì được an lạc?
Phật nói:
– Giết sân được an ổn, giết sân được hạnh phúc, giết sân được giàu có, giết sân được an lạc.
Mình muốn hạnh phúc, an lạc, giàu có đầy đủ hết thì mình phải bớt sân hận. Tại sao mình phiền não? Do mình thấy không ai qua mình rồi bây giờ người ta chạm vào tự ái của mình nên mình sanh phiền não, bực tức. Muốn bớt sân hận không phải một sớm một chiều mà mình phải tu hạnh nhẫn nhục. Có những câu mình nên treo trong nhà, mình đọc tới đọc lui từ từ sẽ thấm, sẽ bớt sân hận và bực tức mọi người. Chẳng hạn câu:
Có khi nhẫn để yêu thương,
Có khi nhẫn để tránh tàn sát nhau.
Câu 14: Tại sao một vị cư sĩ khi chứng quả A-la-hán trong vòng bảy ngày thì phải: một là xuất gia, hai là xả bỏ báo thân.
Đáp:
Thường thường vào thời Đức Phật các cư sĩ chứng quả thứ ba như Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, còn chứng quả vị A-la-hán thì rất hiếm.
Ông Cấp Cô Độc chứng quả vị đầu tiên bước vào dòng thánh là Tu-đà-hoàn. Ông đến thăm người con gái bệnh nặng sắp mất, cô nói:
– Em ở lại ráng tu học và phụng sự Đức Phật, phụng sự Tăng đoàn, chị ra đi. Chị thấy sống trong cuộc đời này đủ rồi.
Ông đến gặp Phật buồn bã nói:
– Bạch Đức Thế Tôn, con gái con xưa giờ rất tốt, chưa có người nào có hiếu bằng nó. Vậy mà sắp mất nó dám xưng chị với con và gọi con là em.
Đức Phật nói:
– Con gái ông nói đúng bởi vì nói về chỗ xuất thế gian. Ông là cha nhưng ông mới chứng quả thứ nhất, còn con ông đã chứng quả thứ ba tức là quả A-na-hàm.
Giống như những người lớn tuổi gặp quý Thầy xưng con, không phải con thế gian mà là chỗ xuất thế gian. Cư sĩ dù lớn tuổi cũng chỉ giữ năm giới, quý thầy nhỏ tuổi mà giữ hai trăm năm mươi giới. Cho nên thầy tỳ-kheo, kể cả sa-di nếu cha mẹ mất thì không được để tang. Trước khi đi tu đã đảnh lễ cha mẹ ba lạy rồi.
Thời Đức Phật chỉ có hai cư sĩ chứng quả vị A-la-hán. Người thứ nhất là vua Tịnh Phạn. Được Đức Phật về khai thị, vua chứng quả vị cuối cùng lúc mạng sống sắp chấm dứt.
Người thứ hai là Hoàng hậu Khema, thứ phi của vua Tần-bà-sa-la. Bà rất đẹp. Bà không thích Đức Phật, vì Đức Phật thường nói thân dù đẹp đến đâu cũng chỉ là túi da hôi thúi bởi vì có ba mươi sáu uế trược, chín lỗ bất tịnh ngày đêm tuôn chảy. Do nể đức vua nên bà đi theo vua Tần-bà-sa-la nghe pháp.
Khi Đức Phật giảng pháp, bà thấy có cô gái đứng quạt hầu, đẹp đến mức bà cảm thấy nhan sắc bà không thể nào sánh bằng. Đức Phật dùng thần thông làm cho cô gái già đi trước đôi mắt của Hoàng hậu Khema. Làn da của cô gái đẹp ấy trở nên nhăn nheo, mái tóc đổi màu bạc trắng, thân thể đầy đặn phút chốc trở thành bà lão lưng còng run rẩy, cuối cùng “cô gái” ấy quỵ xuống, nằm im một lúc rồi tắt thở.
Hoàng hậu Khema lập tức hiểu rằng không ai sau khi sanh ra mà có thể tránh khỏi già, bệnh, chết. Bà quán chiếu và đắc quả A-la-hán. Đức Phật nói với vua rằng trong bảy ngày nếu hoàng hậu không xuất gia thì sẽ nhập niết-bàn, còn nếu xuất gia thì làm lợi ích lớn cho chánh pháp. Vua Tần-bà-sa-la nghĩ nếu nhập niết-bàn thì vĩnh viễn ông không còn thấy mặt. Ông cho xuất gia với điều kiện, hàng ngày đi khất thực bà phải đi ngang thành để từ trên cao ông nhìn xuống thấy, nếu không thì ông cho nhập Niết-bàn. Đức Phật đồng ý và cho bà xuất gia. Sau này trong mười đại đệ tử ni bà trở thành tỳ-kheo ni trí tuệ đệ nhất.
Câu 15: Những bậc chứng quả vị A-la-hán khi có người phát hiện thì vị đó phải thị tịch. Chúng con chưa rõ kính xin thầy hoan hỷ giải nghi cho chúng con.
Đáp:
Những bậc chứng quả A-la-hán khi có người phát hiện mà tịch là khi Đức Phật không có mặt trong cuộc đời này. Còn vào thời Đức Phật có những vị tu chứng A-la-hán hiển thị thần thông thì ai cũng biết, bởi vì Đức Phật kiểm chứng, chẳng hạn như Tôn giả Mục-kiền-liên. Đức Phật có di chúc: Sau này khi Như Lai nhập Niết-bàn, những vị nào tu chứng những quả vị cao như Bồ-tát, A-la-hán, nếu có người biết thì phải nhập niết-bàn liền.
Ngài Đỗ Pháp Thuận có một ông thị giả rất gần gũi. Một hôm ông xin lên Ngũ Đài Sơn lễ ngài Văn Thù. Ngài nói:
– Ông lễ Văn Thù làm chi, ông lễ tôi là đủ rồi.
– Hòa thượng là phàm tăng lễ làm sao có phước.
Cuối cùng thị giả cũng khăn gói lên đường, đến hang Kim Cang gặp ông già cho bài kệ:
Những chàng du tử lang thang,
Đi lên núi Đài lễ ghềnh đất khô.
Di Đà ở tận nơi mô,
Văn Thù kề cận mà hồ đồ không nghe.
Thầy ông là Văn Thù, ông chạy nhanh về đi. Thị giả lật đật chạy về thấy thầy mình kiết-già thị tịch. Vì đệ tử đã biết nên phải tịch. Cho nên bây giờ ai tự xưng là Bồ-tát, A-la-hán đều là giả, không phải thật.
Câu 16: Chúng con ở đời trước đã gieo nhân gì mà đời này chúng con sinh ra đã có nhiều hạng người: thứ nhất là đủ duyên gặp pháp môn Thiền tông, thứ hai là chưa bao giờ nghe hoặc biết đến pháp môn này, thứ ba là có người phải trải qua các pháp tu khác rồi mới có duyên trở về pháp môn Thiền tông. Xin thầy định hướng cho chúng con phải lập nhân, phát nguyện và phải có cách tu như thế nào để hiện tại và khi cận tử nghiệp đến chúng con tin chắc rằng sau khi bỏ thân rồi chúng con sẽ tái sanh trở lại làm người gặp pháp môn Thiền tông để tiếp tục được tu được học cho đến ngày thành Phật.
Đáp:
Vào thời Đức Phật những đại đệ tử lớn của Ngài đa phần là từ ngoại đạo đến: Tôn giả Xá-lợi-phất, tôn giả Mục-kiền-liên, tôn giả Đại-ca-diếp đều là những bậc long tượng của những pháp môn khác đến. Chính những vị này sau này mới có cơ duyên khai mở cho những người ngoại đạo Phạm chí Bà-la-môn thấy được con đường sáng.
Tôn giả Xá-lợi-phất khi chứng quả vị A-la-hán rồi, Đức Phật đưa Ngài đến những vùng Phạm chí Bà-la-môn. Khi xây dựng tinh xá Trúc Lâm, Phật cũng đưa tôn giả Xá-lợi-phất tới, bởi vì vùng này Phạm chí Bà-la-môn rất nhiều.
Đức Phật cũng biết rành pháp môn ngoại đạo. Đầu tiên Đức Phật đâu phải tu thiền Phật giáo, Ngài cũng đi qua từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền rồi tứ không, diệt tận định Ngài đi qua hết.
Sư Ông Trúc Lâm ban đầu đâu phải tu pháp môn Thiền tông. Từ ông nội đến cha Ngài đều theo đạo Cao Đài. Lên chín tuổi nghe tiếng chuông Sư Ông sực tỉnh làm bài kệ. Khi xuất gia Sư Ông cũng không tu pháp môn này mà tu pháp môn Tịnh Độ, nhưng hạt giống Thiền tông trong vô lượng kiếp Ngài đã gieo rồi. Tuy nhiên các ngài phải thị hiện qua từng pháp môn.
Như vậy, chưa chắc gì mở mắt ra là mình nhảy vào pháp này, chưa chắc là duyên của mình lớn. Có những người đi lang thang từ pháp này pháp nọ, rồi qua pháp môn này thì cũng chưa chắc là người này dở. Tôi hồi xưa nếu không đi qua nhiều pháp thì khi làm ở nhà khách Trúc Lâm người ta đến hỏi chắc tôi mù tịt, bởi vì chưa từng đi qua pháp đó làm sao tôi trả lời. Chẳng hạn như người ta hỏi pháp ông Tám Lương Sĩ Hằng là gì, ngày xưa duyên mình cũng biết chút chút. Có người hỏi pháp tu xuất hồn, ngồi đây mà đi dạo tám phương bốn hướng, rồi pháp chuyển luân xa…, nếu mình không lướt qua thì mình cũng không biết, không những mình đi qua mà còn dạy cho người ta thấy con đường này bế tắc, thì bắt đầu mình mới hướng dẫn người ta từng bước.
Mình vừa ra đời gặp pháp môn Thiền tông là mình có duyên, do đời trước mình đi thẳng con đường, không có đi chỗ này chỗ nọ. Còn người nào chưa bao giờ nghe hoặc chưa bao giờ biết pháp môn thiền thì đời trước chưa từng bao giờ gieo hạt giống này. Dù cho mưa lớn cách mấy mà rớt trên xi măng thì ngàn đời cũng không mọc hạt giống nào hết. Còn mưa chánh pháp rớt xuống người nào có hạt giống về pháp môn nào thì nó mọc lên. Người thích niệm Phật, người thích trì chú, người thích tu thiền, người thích bố thí cúng dường …
Ở đây Phật tử hỏi lập nhân, phát nguyện như thế nào. Đơn giản lắm. Mình phát nguyện: Khi biết được pháp môn này rồi thì con có nguyện lực, đời này nếu con chưa sáng đạo, đời này nếu con chưa kiến tánh, đời này nếu con chưa giải thoát thì khi xả bỏ thân này, kiếp sau mở mắt ra con vẫn tiếp tục gặp pháp môn này tu đến ngày thành Phật.
Câu 17: Nghĩa của từ “phan duyên” trong nhà Phật là gì?
Đáp:
Từ phan duyên rất là rộng. Ví dụ tôi lấy chai dầu thơm đổ trên bàn thì con ruồi không đến đậu nhưng nếu lấy tô mắm tôm để bất cứ chỗ nào thì con ruồi bay đến. Như vậy phan duyên là cái gì xấu ác, thị phi, hơn thua là tâm mình dính mắc. Hoặc mình ngồi niệm Phật tọa thiền mà tâm thì đang phan duyên ở ngoài chợ, ở nhà hay ở bất cứ đâu chớ không phải có mặt trong giờ phút này. Khi chúng ta nhìn bình hoa mà không nhìn ngắm trong giờ phút thực tại đó mà tâm gá vào phan duyên “bình hoa này kỳ quá; hoa này là hoa giả; tại sao bình hoa này bằng gỗ mà không phải bằng sứ…” tức là trong giờ phút đó mình đánh mất thực tại mà tâm mình phan duyên tất cả nơi, tất cả chỗ. Thiền sư Lâm Tế nói giống như con dê đụng cái gì ăn cái đó, đụng lá ăn lá, đụng cỏ ăn cỏ, đụng cái gì cũng phan duyên vào hết. Tâm của mình luôn luôn gá vào cảnh và dính mắc mà không có ở trong giờ phút thực tại đó.
Mình tụng tâm kinh mở đầu là “Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã ba-la-mật-đa ngài chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách” mình đừng nghĩ Bồ-tát Quán Tự Tại là Bồ-tát Quán Thế Âm. Bồ-tát Quán Tự Tại có nghĩa là ngay trong giờ phút thực tại đó mình nhìn năm uẩn, chiếu kiến nó không có thật. Mà đã không có thật thì người ta chửi mắng mình cũng không có khổ cho nên vượt qua khổ nạn.
Chẳng hạn người ta chửi mình là con chó thì tại sao mình tức giận? Vì mình chiếu kiến không được, nghĩ người ta nói con chó mình thành con chó liền nên mình tức. Còn khi người ta nói mình con chó mình nói “Không, chị nói không đúng, tôi là con người chứ không phải con chó” thì mình hết giận. Mình dùng bất cứ phương pháp nào chiếu kiến để làm sao đừng phan duyên dính mắc.
Cho nên “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng thệ nguyện học” là chỗ đó. Tất cả các pháp mình tu như thế nào cho đời sống mình đừng khổ, đừng phiền não, đừng dính mắc mà mình chuyển, trong nhà Phật gọi là chuyển một đường gươm sống còn.
Bồ-tát chiếu kiến năm uẩn không có thực thể thì ngài qua cái khổ, còn mình chiếu kiến năm uẩn là có thật cho nên ai nói gì mình cũng buồn khổ, ai nói mình là con chó mình tin liền. Phật nói mình làm Phật mình không chịu tin mà bà Bảy bà Tám nói mình là con chó mình tin. Mình giận tức là tin lời của bà, còn nếu không tin thì bà nói gì mặc kệ. Tâm mình không phan duyên, không gá cảnh thì không khổ mà muốn được như thế thì phải thực tập.
Câu chuyện Trang Tử viết: Có ông lái đò đang chèo giữa dòng sông, thình lình một chiếc thuyền từ xa đâm vào đò ông thật mạnh. Quá tức giận, ông nhảy qua thuyền định sẽ chửi hoặc đánh người lái chiếc thuyền nọ. Nhưng khi nhảy qua thì bao nhiêu tức giận tiêu tan, vì chiếc thuyền đó không có người. Gió thổi thuyền đứt dây neo nên đụng vào đò của ông.
Hôm nào đó mình bị người ta chửi, về nhà kể cho bạn nghe, người bạn nói “bà đó bị điên” thì mình hết giận. Cho nên ai chửi mình thì chỉ cần mình quán chiếu người này bị điên thì mình qua cơn giận. Ông lái đò nhảy qua chiếc thuyền không thấy người nào tức là vô ngã. Quán chiếu được như thế thì tức khắc cảnh giới thực tại có mặt, khổ đau không còn nữa tức là tâm mình không phan duyên dính mắc.
Câu 18: Xin thầy giảng lại tam tự quy y: tự quy y Phật, tự quy y Pháp, tự quy y Tăng.
Đáp:
Thường thường chúng ta quy y Tam bảo: quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng là quy y trên sự tướng. Khi chúng ta quy y thì vị giới sư giải thích là Đức Phật có mặt tại xứ Ấn Độ, cha là vua Tịnh Phạn, mẹ là hoàng hậu Maya, mấy ngàn năm mới có một vị Phật ra đời cho nên gọi là Phật bảo. Pháp bảo là vô giá, nhờ con thuyền pháp bảo này chúng ta mới không bị khổ đau, không bị trầm luân trong sanh tử. Bây giờ Phật đã nhập niết-bàn, Pháp thì ở trong tủ, trên kệ ai mà hiểu, ai mà trùng tuyên cho nên phải nhờ Tăng gọi là Tăng bảo. Đó là Tam bảo ở thế gian.
Quy y tự tâm là tinh thần Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục Tổ.
Quy y Phật, Phật là giác.
Quy y Pháp, Pháp là chánh.
Quy y Tăng, Tăng là tịnh.
Quy y Phật tà mê cuồng vọng chẳng sanh tức là lưỡng túc tôn.
Quy y Pháp tâm tật đố, ích kỷ, xan tham cũng không sanh.
Quy y Tăng tức là trở về tâm thanh tịnh của mình.
Như vậy, Tam bảo tự tâm là phải quy chiếu về mình. Quy y Phật là trở về bản giác thanh tịnh của mình. Ích kỷ, tật đố, xan tham mình chuyển hóa không còn có mặt trong tâm mình nữa thì gọi là quy y Pháp. Phật là giác, Pháp là chánh, Tăng là tịnh tức là ba ngôi Tam bảo này ngay nơi tự tâm mình chớ không tìm đâu hết.
Hôm nào ra chợ thấy tiền rớt dưới đất, mình chuẩn bị lượm thì nhớ lại mình là Phật tử, của rơi không phải của mình nên giữ giới cho trong sạch, thì trong giờ phút đó chính tâm giác ngộ nhắc nhở mình đã giữ giới. Khi đó là trở về với tâm giác của mình tức là quy y Phật. Hoặc mình khởi niệm tật đố, ích kỷ, xan tham với người khác, mình nghĩ tu Phật rồi tại sao còn những tâm niệm như thế, mình chuyển tức là trở về với Pháp, gọi là tự tánh quy y mà Lục Tổ nói trong Kinh Pháp Bảo Đàn.
Câu 19: Cuộc đời Đức Phật thuyết giảng bốn mươi chín năm, nhưng cuối cùng Phật nói suốt bốn mươi chín năm Ta không nói lời nào.
Đáp:
Trong các tôn giáo, Phật giáo có kinh điển nhiều nhất, hơn năm ngàn tám trăm bộ, cộng chung lại gồm ba tạng: Kinh, Luật và Luận. Trong suốt bốn mươi chín năm Đức Phật nói thì mười hai năm đầu nói về các bộ A Hàm: Trung A Hàm, Trường A Hàm, Tạp A Hàm, Tăng Nhất A Hàm. Hai mươi năm sau Phật nói Kinh Bát Nhã. Cuối đời ngài nói về Kinh Phương Đẳng, chuyển qua hệ tư tưởng về niết-bàn, về Phật tánh, về tri kiến Phật. Trong Kinh Lăng Già Đức Phật nói suốt bốn mươi chín năm Như Lai chưa từng nói lời nào, đó gọi là vô tự chân kinh, kinh đó không có chữ gọi là tâm kinh. Thiền sư Bạch Ẩn có bài kệ:
Trong động Tất-bát-la,
Chưa có bài kinh này.
Đồng Thọ không lời dịch,
A-nan chưa từng nghe.
Gió Bắc qua song cửa,
Nhạn Nam tuyết rơi đầy.
Ngàn Phật và Thánh chúng,
Không nói nên một lời.
Bài kinh này là bài kinh gì mà A-nan chưa từng nghe, Đồng Thọ là ngài Cưu-ma-la-thập không có lời dịch kinh này? Tôi giảng thiền một chút, vì ở đây qua tinh thần của nhà thiền.
Một hôm tướng quốc Bùi Hưu đến một ngôi chùa, thấy hình một vị Hòa thượng treo trên vách ông hỏi:
– Hình này là hình cao tăng mà cao tăng ở đâu?
Thầy trụ trì không đáp được.
Tướng quốc hỏi:
– Chỗ này có thiền sư không?
Thầy trụ trì bảo:
– Có, hồi nãy tôi thấy một người giống thiền sư lắm.
Lúc đó ngài Hoàng Bá đi ra. Bùi Hưu nói:
– Hồi nãy tôi có một câu mà tiên đức tiếc lời không nói.
Thiền sư Hoàng Bá:
– Thỉnh ngài nói.
Bùi Hưu:
– Hình cao tăng ở đây mà cao tăng ở đâu?
Thiền sư Hoàng Bá kêu:
– Bùi Hưu!
Bùi Hưu:
– Dạ!
Thiền sư Hoàng Bá:
– Ở đâu?
Bùi Hưu nhận ra được. Đó là kinh không lời.
Một hôm có bà già đến gặp thiền sư Nột, bà nói:
– Thưa Hòa thượng, con nuôi một con trâu mà bây giờ bị mất, thỉnh hòa thượng bói giùm con một quẻ xem thử trâu mất ở đâu.
Thiền sư gọi:
– Bà già!
– Dạ!
Thiền sư:
– Trâu không có mất, còn sờ sờ mà bà nói mất. Về!
Như vậy hồi nãy giờ tôi nói quý Phật tử nghe không? Cái tánh nghe và cái bị nghe hoặc nói khác hơn là lời của tôi nói ra thì quý Phật tử thấy có hình tướng không? Như vậy cái nghe và cái bị nghe ngay trong giờ phút thực tại có mặt thì đó là một bài kinh vô tự. Ví dụ cái chai này cân nặng một ký, cái bình hai ký… cái gì có hình tướng tức là cân, đong, đo, đếm được nhưng có một cái quý Phật tử không cân được. Bây giờ tôi gọi:
– Phật tử!
– Dạ!
Cân được không? Đó là vô tự.
Không có tướng mà biểu hiện ra tất cả tướng để đưa chúng sanh vào con đường niết-bàn, cho nên bốn mươi chín năm giả lập văn tự giống như ngón tay chỉ mặt trăng, mà cái gì nhận ra được mặt trăng đó? Bản hoài của chư Phật. Cho nên Đức Phật tuyên bố bốn mươi chín năm nói pháp mà chưa từng mở một lời, chỗ đó nói không được, chạm không đến mà hiện ra tất cả, dung nhiếp tất cả vạn pháp.
Càn khôn tận thị mao đầu thượng,
Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung.
Càn khôn tận thị mao đầu thượng là đầu sợi lông trùm cả trời đất, nhật nguyệt bao hàm giới tử trung là mặt trời, mặt trăng ở trong hạt cải.
Một hôm Đức Phật vào rừng hái một nắm lá, Ngài nói:
– Này các thầy tỳ-kheo! Nắm lá trong tay ta nhiều hay là nắm lá trong rừng nhiều?
Các thầy tỳ-kheo nói:
– Bạch Đức Thế Tôn, lá trong rừng nhiều hơn lá trong tay Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói:
– Này các thầy tỳ-kheo! Những gì ta nói ra các ông hiểu biết ghi nhận để tu tập giống như lá trong tay, mà những gì Như Lai hiểu và chứng nghiệm được thì giống như lá trong rừng.
Ba tạng kinh điển giống như lá ở trong bàn tay Đức Thế Tôn, mà những gì chúng ta chứng nghiệm được, thân chứng được là lá trong rừng. Như vậy chúng ta học hỏi tất cả kinh điển Phật chỉ là việc nhỏ, mà việc chính yếu của mình là nhận ra, chứng nghiệm và sống được để chúng ta giải thoát tất cả những khổ nạn trong cuộc đời. Đó là vô tự chân kinh.
Câu 20: Tại sao gọi vua Ba Tư Nặc là nghèo nhất?
Đáp:
Phật nói sở dĩ vua Ba Tư Nặc là người nghèo nhất vì ông không biết được chân lý Phật Đà, không biết được giáo lý của Đức Phật. Nghèo ở đây không phải là nghèo về vật chất mà nghèo về tâm linh, nghèo về tinh thần. Thiền sư Bạch Ẩn nói:
– Nếu bạn làm chủ được tâm bạn thì dầu cho bạn là người lái đò, người tiều phu, người đánh cá nhưng ta nói bạn là người giàu có nhất. Còn nếu bạn không làm chủ được tâm bạn thì dầu cho bạn là vua, là quan, là tướng quốc thì ta cũng nói bạn là người nghèo khổ nhất.
Quý Phật tử nghe một thời pháp, tâm quý vị an thì tiền của mua không được. Nhờ pháp âm của Đức Phật tâm mình an thì bao nhiêu nghiệp chướng nghiệp lực mình gieo vô lượng đời trước trong chốc lát được hóa giải.
Dãy thiên hà quay xung quanh Trái Đất, nếu nó rớt xuống thì Trái Đất tan tành, nhưng nhờ Trái Đất khi quay có một lực đẩy ra nên nó không rớt xuống. Khi ác nghiệp đến thì nhờ thiện pháp đẩy ác pháp này ra.
Đạo Phật trả lại tất cả tự do cho con người, những gì của con người đều do con người tự do lựa chọn. Muốn cất một ngôi nhà đẹp thì người thợ phải có bàn tay khéo léo. Mình muốn xây dựng ngôi nhà ngũ uẩn của mình đẹp thì mình cũng phải làm như thế nào đó để tô điểm cho nhà ngũ uẩn của mình. Tất cả thiện ác, vui buồn mình tạo thì mình gánh, không than trời trách đất gì hết. Nhân mình gieo thì quả sẽ đến với mình tương xứng.
Ở cõi Tây phương có nước mát công đức, chim ca lăng tần già niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm giới, niệm thiên; ngoài đường thì vàng vô số. Muốn ở cõi đó thì phải lập hạnh ở cõi này tu như thế nào mình mới hưởng được quả đó.
Cho nên Đức Phật khẳng định: “Muốn được Tịnh độ phải tịnh tâm mình, tâm tịnh thì Phật độ tịnh”. Muốn cải cách vận mệnh thì chỉ có một con đường là cải cách tâm. Tướng xấu mà tâm tốt thì một thời gian chuyển tướng. Còn tướng đẹp mà tâm xấu thì một thời gian sẽ chuyển sang tướng xấu.
Khi làm thiện pháp tâm mình vui, trên đường đi mình vui, về nhà cũng vui. Ba thời đều vui thì khi chết mình được an vui. Hôm nào mình làm việc gì hơi trái lương tâm thì cảm thấy khó chịu, mình suy nghĩ, tư duy thì cái khổ đến với mình. Nhà Phật nói “Hình ngay thì bóng thẳng”, cái gì khổ đến với mình thì biết đời trước mình đã từng gieo, đây là bóng dáng của mình. Khi hiểu rồi thì phải phát nguyện: “Một đời làm thiện vẫn thấy thiếu, một ngày tạo ác thì quá dư”.
Câu 21: Khi mình biết chắc chắn rằng mình có nghiệp, trên bước đường tu, nghiệp đến dồn dập làm sao tu được? Mình nguyện cho cái nghiệp đến để mình trả?
Đáp:
Tổ Lâm Tế nói “tuỳ duyên tiêu nghiệp cũ, hồn nhiên mặc áo xiêm.” Tùy duyên là khi nghiệp đến mình thấu thoát, rõ rồi thì ráng cố gắng để tiêu nghiệp cũ đừng vay nghiệp mới nữa. Tức là mình không phát nguyện trả hết mà duyên đến đâu mình giải quyết đến đó.
Trong thiền thoại kể câu chuyện: ở tỉnh An Huy có thầy tỳ-kheo tên là Hàm Uy, ngài tu hành rất miên mật. Một hôm ngài đi qua chợ nghe mùi thịt chó bốc lên, ngài khởi tâm thèm, về nhà sau lưng ngài mọc mười tám mụt nhọt hình mặt người đau nhức thấu xương. Ngài biết rồi, ngài đến trước bàn Phật nói: “Con biết đời trước con đã từng gieo nghiệp này. Nhưng bây giờ nhức quá chịu không nổi thì làm sao con sám hối, tụng kinh để hóa giải.” Nói xong ngài gục xuống. Ngài thấy mười tám người lính không đầu bước vô nói: “Ông có nhớ cách đây hai trăm năm vào đời nhà Kim, ông là một vị tướng. Một hôm có hai người lính vào rừng gặp một phụ nữ đang lượm củi, hai người lính này hãm hiếp. Cô về mách người chồng, chồng cô đến báo ông. Ông lôi hai người này ra chém đầu thì đúng, còn mười tám người chúng tôi không có can hệ gì đến việc này, ông cũng giận lôi tụi tôi ra chém luôn. Mười tám người tụi tôi theo dõi ông đã mười đời, mà đời nào ông cũng giữ giới tu hành thanh tịnh, nhưng đời này vì mùi thơm mà ông khởi niệm thèm thịt chó nên chúng tôi vô. Nhờ ông thành tâm sám hối tụng niệm chúng tôi tạm bỏ qua nhưng ba năm sau chúng tôi sẽ đến.”
Hàng ngày ngài bắt đầu tụng kinh Kim Cang, ba năm sau công lực ngài đầy đủ. Sau ba năm mười tám mụt nhọt cũng vỡ mủ ra ngài chết. Đời trước mình đã gieo cho nên mình tùy duyên, nghiệp đến thì mình hóa giải từ từ nó sẽ hết.
Câu 22: Ham tu nhưng bận rộn quá nhiều công việc, làm cách nào vượt qua khó khăn để tu?
Đáp:
Nếu nói rảnh thì chắc chắn không có lúc nào mình rảnh. Nếu đợi yên thì chắc chắn không có lúc nào mà yên. Hoặc nói đợi có tiền sẽ bố thí thì chắc chắn sẽ không có tiền nhiều để bố thí.
Ví dụ của Trang Tử: hai con cá vì nước rút nên bị khát, chúng xin người qua đường cho chút nước, có một ông nói:
– Nước ở đây đục không tốt, để tôi về Giang Tây có dòng suối nước rất thơm ngon tôi đem đến cho mấy ông.
Hai con cá nói:
– Đợi ông về Giang Tây lấy nước chắc tụi tôi chết khát, chết nắng.
Cuộc sống của mình cũng giống như thế, công việc ở bên này tôi thấy rất là bề bộn, mà mình làm như thế nào đó để có một thời khóa.
Một Phật tử kể rằng hồi xưa gia đình bà sống rất an ổn. Từ ngày bà đi chùa ông chồng trở nên khó chịu. Bà tụng kinh gõ mõ thì ông kêu nhức đầu chịu không nổi. Tôi nói vậy cô tụng kinh ra tiếng thôi đừng gõ mõ. Một thời gian sau bà kể chồng bà không cho tụng kinh ra tiếng. Tôi nói nếu vậy thì bà hãy tụng thầm. Được ít lâu bà lại đến và nói chồng bà cũng không cho tụng thầm. Tôi nói chồng bà không cho tụng ra tiếng, không cho tụng thầm thì bà hãy đếm hơi thở. Chắc chắn không khi nào ông cấm bà thở.
Mình đừng đợi khi rảnh mới tu, mà khi một niệm ác khởi lên mình chuyển hóa đừng chạy theo nó. Khi một niệm thiện khởi lên thì mình tiếp tục làm, và phát nguyện: “Bao nhiêu công đức lành mong ngày nào đó con được rảnh rang một chút để con tọa thiền, đi trên con đường của Đức Phật.” Chắc chắn quý Phật tử sẽ như nguyện.
Về mình thử ra chợ mua hai ký đậu, một ký đậu đen một ký đậu trắng. Hôm nào mình khởi niệm ác nhiều quá thì bỏ hạt đậu đen, hôm nào mình khởi niệm thiện thì bỏ hạt đậu trắng. Mỗi tháng mình kiểm tra một lần xem đậu nào nhiều hơn. Mới tu đậu đen sẽ nhiều hơn nhưng bảo đảm một thời gian sẽ toàn đậu trắng. Mình làm như vậy rồi hồi hướng, phát nguyện cho con đủ nhân đủ duyên thì công việc từ từ sẽ bớt. Như vậy ở đây ai cũng có thể rảnh, rảnh nửa tiếng thì tu nửa tiếng, rảnh mười lăm phút thì tu mười lăm phút.
Có một anh nọ ngày nào cũng phàn nàn than vãn nhà sao bề bộn. Anh khó chịu với vợ con, với người thân. Một hôm anh gặp một nhà hiền triết, vị này bảo đảm sẽ làm cho anh không còn đau khổ, không còn cằn nhằn, khó chịu nữa. Nhà hiền triết hỏi:
– Nhà anh có nuôi bò, dê, heo, chó không?
– Có.
– Kể từ ngày mai anh hãy để những con thú đó ở chung trong nhà với anh.
Khi cho các con thú ở chung thì sự bực bội tăng gấp trăm gấp ngàn lần. Anh gặp nhà hiền triết nói:
– Ông bắt tôi ở chung với mấy con thú này tôi muốn khùng luôn.
– Muốn hết khùng thì anh thả chúng ra.
Thả hết những con thú ra ngoài, anh nhận ra là từ xưa tới giờ mình sống trong hạnh phúc mà không biết hưởng.
Cũng vậy, mình lúc nào cũng đổ thừa hoàn cảnh, đổ thừa cái này cái kia. Đến lúc bệnh thì không còn đổ thừa hoàn cảnh được nữa. Cho nên bây giờ phải chuẩn bị trước.
Có một người chưa từng biết Phật pháp, ai nói cô tu thì cô nói rảnh đâu mà tu. Một hôm cô phát hiện bị ung thư, bác sĩ khẳng định một tháng nữa sẽ chết. Chị của cô qua Vạn Phật Thánh Thành thỉnh hai vị sư đến nhà hướng dẫn cô tu thiền. Lúc này cô buông hết, cô tu ngày tu đêm. Tu đúng một tháng, trước khi mất cô nói với người chị: “Em rất cám ơn chị đã cho em một phương pháp, một con đường để em đi.”
Thời gian trôi rất nhanh. Mình phải chọn một con đường, một hướng đi, chắc chắn mình sẽ có cách sắp xếp. Lúc nào mình cũng nói bận rộn, nhưng khi bỏ những thứ đó ra rồi tự nhiên mình thấy xưa giờ mình sống rất an ổn, hạnh phúc. Khi bệnh đau, khi cái chết rình rập thì lúc này mình sẽ thấy rất là rảnh, chi bằng bây giờ mình chuẩn bị sắp xếp. Bận rộn gì thì một ngày cũng phải có nửa tiếng rảnh rỗi. Ngặt một điều khi rảnh mình không chịu tu học mà tìm những chỗ nào vui vui đến. Cho nên mình phải cố gắng vượt qua những chướng duyên này để tiếp tục con đường tu tập công phu.
Câu 23: Sau khi nghe bài pháp Thầy giảng hôm nay, con cảm thấy cuộc đời con cũng rất là hạnh phúc, có nghĩa là con biết đủ là đủ và con biết vừa lòng với cuộc sống của con. Nhưng ở xứ Úc này có nhiều người khi qua đây họ không làm gì hết. Họ xin được tiền trợ cấp của chính phủ, tuy không giàu có nhưng có thể bảo đảm đời sống bình thường. Con nói với họ sao không kiếm việc làm để có thể khá hơn và giúp đỡ người khác. Họ nói họ thấy đời sống như vậy là đủ, họ cảm thấy hạnh phúc rồi nên cứ lãnh trợ cấp thất nghiệp hoài. Có người ban ơn bố thí cho mình mình cứ sống vậy hoài thì như vậy là đúng hay sai? Trong trường hợp này biết đủ có phải là hạnh phúc hay không?
Đáp:
Có một người khi biết mình bị ung thư phổi không còn sống được bao lâu, ông muốn vay ngân hàng một trăm ngàn đô. Ông hỏi tôi ông vay như thế có được không. Tôi nói ông đã biết ông không sống được bao lâu mà ông vay số tiền này, tuy rằng ông chết thì vợ con ông hưởng, nhưng nhớ rằng cái nghiệp này ông sẽ mang vì ông đã tác ý. Hơn nữa đồng tiền này không trong sạch. Cuối cùng ông cũng làm theo ý của ông. Một tháng sau ông mất. Sau khi ông mất thì số tiền đó vợ con ông cũng không giữ được bao lâu.
Đồng tiền mình ăn của an sinh xã hội không phải là đồng tiền của nhà nước Úc, mà lấy từ mồ hôi xương máu của những người trẻ tuổi, họ làm việc và bị đánh thuế rất cao để dư ra đồng tiền an sinh xã hội này. Khi thân thể mình làm việc không được thì mình hưởng đồng tiền này nhưng cái đó cũng là mình vay mượn. Cho nên tôi nói thẳng với quý Phật tử một điều, khi mình làm được thì ráng cố gắng làm. Có khi nào sinh ra đời mình lại thích đi ăn xin, hay thích có điều kiện để cho người khác.
Nhân gieo như thế này thì chắc chắn mai kia ra đời sẽ bị thiếu thốn, cô độc. Cho nên mình cố gắng làm có đóng thuế để trang trải cho đất nước, môi trường, cho đời sống. Tri túc ở đây không phải là đi mượn vay như thế này, tri túc ở đây chính từ nơi thân mình làm ra đồng tiền này, chẳng hạn một tháng được một ngàn đô, thấy như vậy là vừa đủ không thiếu thốn, mà phải chính tự mình làm. Trường hợp bất đắc dĩ khi lớn tuổi làm không được nên cần số tiền này để sống thì theo tinh thần nhà Phật: một là đời trước gieo ruộng phước đời này hưởng; hai là nếu đời trước không gieo mà có pháp tùy hỉ, đời này được hưởng thì cũng gọi là vay mượn từ mồ hôi nước mắt của người khác chớ không sung sướng gì.
Câu 24: Con xem trong duy thức, bình thường là ký ức của mình lưu ở trong A-lại-da thức. Khi mình tiếp xúc các thức thì thức Mạt-na sẽ lấy thông tin từ lớp A-lại-da đưa lên. Làm sao khi mình tiếp xúc hằng ngày khi nó vừa đưa lên mình xóa nó luôn. Cái đó mình có thể làm được không?
Đáp:
A-lại-da thức ghi tất cả thiện hay ác do Mạt-na thức chuyển về từ ngũ tiền thức, mắt tai mũi lưỡi thân, thành pháp trần trong ý thức, hình ảnh Tề thiên đại thánh trong Tây Du Ký; rồi ý thức nương mạt-na thức, hình ảnh Sa tăng, mà khởi phân biệt pháp trần và ghi nhận vô. Khi những vị này đắc quả Phật rồi thì Tôn Ngộ Không đến gặp Bồ-tát Quán Thế Âm để xin gỡ vòng kim cô, Bồ-tát nói ông sờ lên đầu xem còn không, khi đắc quả Phật thì tự nó mất. Khi chưa đắc quả Phật thì phải có vòng kim cô tức là trì giới, làm thiện pháp, kham nhẫn, tu tập,…. Rồi đến một lúc tự nhiên nó không tiếp nhận các pháp trần, nhà thiền gọi một là đại ngộ hai là triệt ngộ. Còn đây mình lý luận chỉ trên sách vở chơi vậy thôi.
Khi mình ngồi thiền khởi niệm hồi xưa ghét người đó, rồi tiếp tục tác ý thì sẽ thành tập khí lớn, từ đó sanh ra sân hận và bực tức; còn khi khởi lên mình chỉ nhìn và ghi nhận mà không có tác ý trên niệm thì từ từ nó sẽ mất. Giống như mình ghi lên tờ giấy mà ngày nào cũng ghi thì từ từ nó sẽ đậm lên, còn mình ghi qua một lần rồi không ghi nữa thì từ từ nó sẽ mờ dần.
Câu 25: Khi xem tin tức tivi hàng ngày, cố gắng bỏ vọng niệm nhưng mà bỏ không được. Có những tin tức bình thường thì bỏ qua được, nhưng có những cái khó bỏ quá. Thầy có phương pháp nào giúp con.
Đáp:
Hỏi “Thế nào là vô minh?” Theo giáo tông, không rõ được nghĩa tứ đế gọi là vô minh. Theo đại thừa, không thấu tột được đệ nhất nghĩa đế là vô minh. Nhà thiền thì quên tánh giác gọi là vô minh. Muốn không có vọng tưởng nữa thì đừng xem, bởi vì tất cả các pháp trần thiện hay ác đều ghi vô hết.
Một ông tăng đến hỏi thiền sư Triệu Châu:
– Con chó có Phật tánh không?
Ngài trả lời:
– Có.
– Đã có Phật tánh tại sao lại còn chui vào đãy da hôi thúi?
– Biết mà cố phạm.
Rồi một ông tăng khác hỏi:
– Con chó có Phật tánh không?
– Không.
– Tất cả hàm thức đều có Phật tánh, tại sao con chó không có Phật tánh?
– Nghiệp thức mênh mang.
Cho nên mình phải khéo ở chỗ tu tập.
Câu 26: Nhà Phật dạy phải từ bi, phải thương yêu người khác, con nghĩ nếu mình tỏ lòng từ bi thì đâu cho xa, mình thương dân mình đi. Nhưng nếu cứ lo tu học rồi mình nói rằng mình đừng có coi để dính mắc, vậy thì con chọn đường nào?
Đáp:
Đức Phật chia ra ngũ thừa Phật giáo: nhân thừa, thiên thừa, thanh văn thừa, Bồ-tát thừa, Phật thừa. Tu nhân thừa Phật giáo đời sau được làm người, sáu căn đầy đủ. Chuyên ròng làm việc thiện là thiên thừa. Sâu hơn nữa, lìa tất cả các pháp sống đời xuất gia tu tập đạm bạc là Thanh văn thừa. Vào rừng tu một mình quán chiếu tất cả các pháp là Duyên giác thừa. Thấy chúng sanh khổ thương quá là bức tranh số mười thõng tay vào chợ là Bồ-tát thừa.
Đến giai đoạn như các thiền sư nói là vào rừng không động lá, vào nước không quậy sóng, vào trần mà không nhiễm trần, đó là Phật thừa. Đức Phật thương chúng sanh, trong nhà Phật gọi là “đa tình tâm thị Phật”, tình nhiều tức là tâm Phật. Người khóc có hai hạng: người khóc cho sự đau khổ của mình và gia đình mình; còn Bồ-tát khóc tức là thương chúng sanh nên khóc. Tu tới giai đoạn đó mình làm lợi ích phổ độ chúng sanh.
Như vậy nói tóm lại là mình thấy cảnh, nhưng mà cứ việc làm những gì mình cần phải làm?
Câu chuyện trong kinh Tương Ưng Bộ: Một ông có người con mới chết nên đi đâu ông cũng khóc. Khi nghe các thầy tỳ-kheo kể lại, Đức Phật nói “Có thương tức là có khổ.” Nghe như thế ông không chấp nhận, ông nói “Thương là vui sao lại khổ?” Các bạn của ông cũng không chấp nhận lời của Đức Phật. Câu chuyện đến tai hoàng hậu Mạt Lợi phu nhân. Vua Ba Tư Nặc nói:
– Thế gian này không có thương thì biến thành sa mạc. Tại sao Thầy của Hậu nói thương là khổ?
Hoàng hậu tin Đức Thế Tôn nói là đúng. Một hôm hoàng hậu hỏi vua:
– Bệ hạ có thương con gái của bệ hạ không?
Vua trả lời:
– Rất thương.
Hoàng hậu nói:
– Nếu công chúa chết thì bệ hạ thấy sao?
Nghe thế vua giật mình và đến gặp Đức Thế Tôn, ông nói:
– Bạch Đức Thế Tôn, con nghe Thế Tôn nói thương là khổ, nếu con không thương thì làm sao con lo cho công chúa, hoàng tử, hoàng hậu, lo cho thần dân của con?
Đức Phật nói:
– Có hai loại tình thương. Tình thương chấp ngã nếu người mình thương bị gì thì mình sẽ khổ. Còn tình thương không chấp ngã thì không có đau khổ.
Thương như Đức Phật là thương không chấp ngã, biết được tính chất duyên khởi của các pháp có đến rồi có đi. Đức Phật cũng thương mà các pháp đến hay đi Ngài rất bình thản, vì vậy thương mà không chấp thủ thì thương không có khổ.
Hỏi thật quý Phật tử, ngày xưa ở Việt Nam mình nuôi con gà con heo mình thương nó không? Mình thương mình mới nuôi, nó bệnh mình lo chích thuốc cho nó. Mà thương cho ai? Thương cho mình, nuôi nó lớn để mình ăn.
Ví dụ ngày xưa khi tôi còn ở với gia đình, tôi thấy cha hoặc mẹ tôi có chuyện gì tôi rất sợ. Tại sao tôi sợ? Bởi vì khi cha mẹ mất mình còn trẻ chưa làm gì được, mình nghĩ không ai nuôi mình nên rất sợ. Lớn lên khi tôi vào thiền viện tu học thì tôi thấy Thầy tôi hoặc Hòa thượng bị gì tôi cũng rất sợ, Thầy mà theo Phật chắc mình chết. Cuối cùng nghiệm lại là thương cho mình.
Một hôm hoàng hậu Mạt Lợi hỏi vua Ba Tư Nặc:
– Trong thế gian này bệ hạ thương người nào nhất?
Vua trả lời:
– Trẫm thương hậu nhất chứ còn ai nữa?
Hoàng hậu hỏi:
– Giả như một hôm nào đó bệ hạ hay tin thần thiếp yêu người khác thì bệ hạ tính sao?
Vua trả lời:
– Chắc tôi chém.
Vua hỏi Hoàng hậu:
– Trong thế gian này hậu thương ai nhất?
Hoàng hậu trả lời:
– Trong thế gian này thần thiếp thương yêu thần thiếp nhất.
Khi vua đến gặp Đức Thế Tôn, Ngài nói bài kệ:
Tâm ta đi cùng khắp,
Khắp cả bốn phương trời.
Không thương ai hơn mình,
Thương mình hơn tự ngã.
Thương tự ngã của mình thì đừng làm khổ tự ngã của người khác. Trong cuộc sống gia đình vợ chồng, con cái, tất cả mọi thứ đều phải rất khéo léo tức là thương chính mình, đừng để cho xung đột.
Thiền sư Suzuki nói người ngộ đạo giống như người mới biết yêu, có thể nhảy xuống sông, nhảy vào lửa để cứu người. Bởi vì mới biết yêu thì người yêu kêu gì cũng làm, không làm sợ bị người yêu bỏ. Ca dao Việt Nam có câu:
Ước gì anh lấy được nàng,
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.
Nhưng nàng dắt người thứ hai là anh chém liền, tức là thương chấp ngã, chấp thủ. Còn thiền sư sẵn sàng xây một ngàn hồ bán nguyệt cho tất cả mọi người vào rửa chân.
Như vậy ai cũng có tình thương. Nếu không có tình thương thì làm sao Đức Phật thuyết pháp bốn mươi chín năm độ sanh? Sư ông Trúc Lâm nếu không có tình thương thì tại sao nhập thất? Sáng được việc lớn rồi, đáng lý ra ngài bảo nhậm thêm ba năm hay mười năm nữa, nhưng ngài thương chúng sanh không hiểu con đường này nên mở cửa thất ra để độ chúng sanh. Các ngài thương nhưng tình thương của các ngài không dính mắc, không chấp thủ. Tình thương này giống như thiền sư Hương Hải nói:
Nhạn bay trên không
Bóng chìm đáy nước
Nhạn không có ý để dấu
Nước không có tâm lưu bóng.
Vua Trần Thái Tông nói:
Bóng trúc quét thềm bụi chẳng động,
Vầng trăng xuyên biển nước không chao.
Nước giọt chẳng mục đích,
Ngàn núi chẳng lộ thân.
Đại chúng thấy nước giọt có mục đích không? Ai cần thì dùng, người nghèo hay giàu, ngu hay trí đến rửa cũng được. Nó cũng không có mục đích làm để cho sạch tay. Giọt nước khi xả xuống nó không nói là chỉ rửa rau thôi, rửa cái khác không được. Cho nên nước giọt không có mục đích, ngàn núi cũng chẳng bày thân phận người đó ra.
Câu 27: Vương tử Tỳ-la-tiễn-na (ý dịch là Dũng quân) được Phật cho biết 7 ngày nữa sẽ chết và đọa vào địa ngục. Nhưng nếu xuất gia thì sẽ không bị đọa vào địa ngục và sinh cõi trời và sau này chứng đạo quả. Vị Vương tử này ăn chơi 6 ngày, và chỉ còn 1 ngày là xuất gia tu tập. Như vậy chỉ trong 1 ngày thì làm sao tu tập có kết quả. Điều này làm con khó tin, có ẩn dụ nào hay là không?
Đáp:
Khi Đức Phật nói một bài pháp nào ra thì có các chúng sanh hay nghi. Để làm sáng tỏ về vấn đề này tôi kể câu chuyện trong kinh A Hàm:
Một hôm Đức Thế Tôn đến vùng nọ, ông trưởng làng Bà La Môn cấm không cho người nào sớt bát để cúng dường Đức Thế Tôn. Ông nói người nào cúng dường thì phải nộp thuế. Đức Thế Tôn đi mãi đến một ngôi nhà nọ thì có một người rất có tín tâm với Đức Thế Tôn, bà sẵn sàng nộp thuế, sẵn sàng hy sinh tiền của kể cả tính mạng để được sớt bát cúng dường Như Lai. Đức Thế Tôn nói do phước lực cúng dường hôm nay của bà, khi bà mất trải qua chín mươi mốt kiếp, dầu sanh bất cứ nơi nào bà cũng hưởng được phúc lạc, mà ba đường ác bị đóng cửa.
Lúc đó chồng bà về tới, ông nói:
– Cồ Đàm! Đâu có vì chút cơm mà nói không đúng sự thật.
Thế Tôn nói:
– Hồi nãy ông đi qua thành có thấy cây xoài không?
Ông nói:
– Thấy.
Đức Thế Tôn hỏi:
– Ông thấy trên cây xoài có bao nhiêu trái?
Ông nói:
– Cả ngàn trái.
Thế Tôn hỏi:
– Khi gieo xuống đất thì có gieo một ngàn hạt xoài không?
Ông nói:
– Gieo một hạt.
Thế Tôn nói:
– Quả lành cũng như vậy.
Bài pháp Đức Thế Tôn nói cho vị hoàng tử là bài Công Đức Xuất Gia. Công đức xuất gia lớn đến mức độ dầu cho ông làm những việc bất thiện nhưng ông phát khởi niệm thiện tín xuất gia mà được Đức Phật chứng minh, nghĩa là ông đã có thiện nghiệp, thiện pháp nên mới sanh ra vào thời Đức Phật và có niềm tin tịnh tín với Đức Thế Tôn.
Trong kinh diễn tả có người làm nghề đao phủ năm mươi năm, Đức Phật thọ ký ông chết là đọa địa ngục a-tỳ liền, do những người ông chém có người bị oan ức. Một hôm trên đường đi ông gặp tôn giả Xá-lợi-phất với dung nghi thù thắng. Ông nhịn đói bữa đó cúng dường ngài Xá-lợi-phất. Khi chết đúng lý ra ông sinh lên cung trời Đao Lợi nhưng do có một niệm luyến ái cô gái, ông sanh vào làm thần cây.
Như vậy khi ông hoàng tử Dũng Quân này chỉ có một niệm thiện tín thôi thì tức khắc ông tái sanh luôn huống chi tu một ngày. Trong kinh Pháp Cú Đức Phật dạy bài kệ đầu tiên:
Tâm dẫn đầu các pháp,
Tâm làm chủ, tạo tác.
Nếu nói hay hành động,
Với tâm niệm bất tịnh,
Khổ não liền theo sau,
Như xe theo bò vậy.
Tâm dẫn đầu các pháp,
Tâm làm chủ, tạo tác.
Nếu nói hay hành động,
Với tâm niệm thanh tịnh,
An lạc liền theo sau,
Như bóng không rời hình.
Đức Phật kể câu chuyện:
Có ông trưởng giả giàu có, con của ông bệnh rất nặng nhưng ông không chịu mua thuốc mà giã lá cây cho con uống. Khi con ông sắp chết, ông sợ chết trong nhà không tốt nên đem đứa nhỏ ra để nằm trước mái hiên. Sáng đó ngồi thiền định, Đức Thế Tôn biết chú bé này có nhân duyên với Ngài nên Ngài đắp y mang bình bát đi. Trong kinh diễn tả chú bé này chưa bao giờ làm thiện pháp, nhưng khi thấy dung nghi Đức Thế Tôn chú phát khởi tín tâm, tắt thở sanh lên cung trời ba mươi ba làm thiên chủ. Lúc này ông trưởng giả thương con khóc lóc, vị chư thiên xuống nói nhưng ông không tin. Khi ông gặp Đức Phật giải thích ông mới tin.
Thấy dung nghi thôi mà được như vậy huống chi xuất gia tu học một ngày một đêm. Cho nên trong nhà Phật các ngài dùng từ bất khả tư nghì.
Có bài kệ:
Xuân một hạt giống gieo,
Thu gặt ngàn thóc mễ.
Người đời tạo lành dữ,
Quả báo cũng như thế.
Mùa xuân gieo một hạt lúa, mùa thu gặt một bao lúa. Trong nhà Phật gọi là tín sát-na tâm. Chẳng hạn tôi đang ở Việt Nam, anh Chánh Huệ điện đúng số điện thoại của tôi là gặp liền. Nhưng nếu điện sai một số là không gặp. Muốn được tương ưng là phải đúng tần số tương ưng. Sự tu tập cũng vậy. Ông Dũng Quân biết chết sẽ đọa địa ngục, tin lời Phật ông buông hết, tu hành tha thiết một ngày một đêm là xong.
Bản thân chúng tôi kinh nghiệm, Sư Ông cho nhập thất bốn tháng, khi bước chân vào thất là quyết tử, đến mức độ bốn tháng tôi không hề tắm, bởi vì tắm mất thời gian, thời gian liên tục dồn vô công phu không cho hở. Quả tình đến tháng thứ ba thì có kết quả. Bốn tháng vô thất coi như mình vĩnh biệt hết tất cả.
Câu 28: Xin Thầy giải thích hai câu đối trên Chánh điện: “Chánh Đạo nghiêm trì tuyên diễn chân tông thiền môn thịnh đạt. Thiện Hạnh huân tu truyền thừa đốn giáo tổ nghiệp hưng long”.
Đáp:
Muốn truyền bá chánh pháp, muốn truyền bá tâm tông của chư Phật thì chúng ta thứ nhất là phải trang nghiêm tự thân, thứ hai là phải trang nghiêm đạo tràng, trang nghiêm xong rồi phải gìn giữ. Mình bỏ công sức ra làm xong hết những hạng mục rồi mà không trang nghiêm gìn giữ tăng thân và đạo tràng. Đạo tràng không trang nghiêm thanh tịnh mà đủ thứ chuyện trong đó thì người ta mất niềm tin: “người này tu gần hai chục năm, có người tu mười lăm năm, có người tu mười năm mà sao đạo tràng giống Bà-la-môn vậy!” Cho nên muốn truyền bá chánh pháp thì phải trang nghiêm gìn giữ.
Tuyên diễn tức là tuyên thuyết, diễn bày chân tông. Người đứng đầu lèo lái con thuyền trang nghiêm, đạo tràng thanh tịnh hòa hợp thì người ta đến, từ đó thiền môn ở tỉnh Bình Thuận sẽ hưng thịnh lên. Ý Thầy muốn như vậy.
Đạo tràng phải hòa hợp, không lục đục, người Phật tử tu tập như thế nào đó để hòa hợp như sữa với nước. Những người đến đây là có thiện duyên với mình, đã nhiều đời làm quyến thuộc với nhau chớ không phải không không mà đến. Đi trên một chiếc xe đò, một chiếc thuyền, Phật dạy năm trăm kiếp đã từng gặp gỡ. Trên một con đường chúng ta đi chỉ chạm mặt là đã có một trăm kiếp chúng ta gặp gỡ. Vợ chồng con cái là đã có một ngàn kiếp gặp gỡ. Như vậy ở đây là thân bằng, là quyến thuộc, thì mỗi người “A Di Đà Phật, mỗi người mỗi tật.” Đơn giản vậy buông xả dễ.
Mình có tật người khác cũng có tật. Khi hiểu ra rồi thì tự nhiên đạo tràng thanh tịnh, người ở chỗ khác thấy hay thì người ta vào tìm hiểu. Tông phong này của Sư ông Trúc Lâm. Quý Phật tử đến đây không phải là đến thiền viện của chúng tôi. Đến đây thứ nhất là đến thiền viện chung của Tam Bảo: Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Thứ hai là tông phong của Hòa thượng nằm ở đây. Hòa thượng cắt cử chúng tôi về đây thì cái này là của Hòa thượng. Mình đến đây là mình hộ trì Tam Bảo, mình làm cái gì cũng là làm cho Sư ông Trúc Lâm, Sư phụ Thường Chiếu, chúng tôi chỉ là thừa đương để mà lèo lái tiếp tục. “Tuyên diễn chân tông thiền môn thịnh đạt” đó là mong mỏi của Sư phụ Thường Chiếu, mong mỏi ở tỉnh Bình Thuận này thiền môn hưng thịnh lên. Mình tu sao mà người ta gần, cảm thấy nhẹ nhàng thanh thoát là tu đúng pháp. Mình tu sao mà thấy gai góc không là trật.
Ở vùng biển chỗ nào sóng lớn mình thấy những hòn đá nhẵn. Ban đầu những hòn đá này có cạnh có góc nhưng sóng vỗ một thời gian nó nhẵn. Chúng ta vào đây tu tập có những đợt sóng vỗ, đại chúng tu tập như thế nào giống như người điêu khắc.
Không phải một đời chúng ta tu là xong. Có những người buông xả rất nhanh, có những người buông xả rất chậm. Có những người thấy việc thiện làm tức khắc là nhờ huân tu nhiều đời cho nên gọi là thiện hạnh huân tu. Huân là xông ướp những thiện pháp như bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định. Xông một thời gian người ta gần mình thấy có mùi hương. Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy:
Hương các loài hoa thơm,
Không bay ngược chiều gió.
Chỉ hương người đức hạnh,
Tỏa khắp bốn phương trời.
Khi thiện hạnh huân tu thì truyền thừa đốn giáo, Tổ nghiệp hưng long. Cho nên mỗi người chúng ta phải huân, phải xông, phải ướp, thành tựu con người chúng ta tu tập, trưởng dưỡng đạo tâm. Khi biết được rồi thì làm cái gì cũng thấy còn thiếu, tu cũng thấy thiếu, làm thiện pháp cũng còn thấy thiếu nên gắng gỗ làm.
Câu 29: Trong bài phục nguyện có câu “Phật tử lòng tin sâu ruộng phước càng tăng trưởng”, con không hiểu “tin sâu” sao lại có phước, làm bố thí mới có phước. Xin thầy giải nghi?
Đáp:
Có những lúc mình tin cạn: “tu vậy không biết có giải thoát không? Bố thí cúng dường không biết được không?” Khi chúng ta tin cạn như vậy thì chúng ta sẽ không làm và cũng không tu luôn. Trong kinh Hoa Nghiêm nói “Niềm tin là mẹ của công đức, trưởng dưỡng thiện pháp sanh ra những ruộng phước.”
Niềm tin giống như hạt ngọc bỏ trong nước dơ, nước sẽ tự trong, tức là mình tin sâu việc làm của mình là đúng, sự tu tập là đúng. Tin sâu tức là chứng nghiệm vào con đường đó. Có niềm tin sâu sắc vững chắc như thế thì bắt đầu ruộng phước tăng trưởng. Bố thí, cúng dường phải có niềm vui, có niềm tịnh tín thì ruộng phước tăng trưởng. Ví dụ mình cúng dường một vị thầy mà mình còn nghi ngờ không biết thầy có cho ai không tức là niềm tin của mình cạn, ruộng phước của mình không lớn.
Câu 30: Phật tử có mặc cảm thân bệnh và nghèo thiếu thốn.
Đáp:
Trước khi chia sẻ phần này tôi dẫn một đoạn nhân duyên trong kinh Bảo Tích:
Có một thầy tỳ-kheo tu tập tinh tấn, một hôm cảm được Trời Đế Thích xuống tặng khánh bằng vàng. Được tặng khánh vàng, thầy tỳ-kheo đứng giữa ngã ba đường hỏi ai nghèo nhất thì thầy tặng lại cái khánh. Người nào cũng nói mình nghèo nhưng thầy nói các ông giàu chứ không nghèo. Cuối cùng thầy tặng khánh cho vua Ba Tư Nặc. Ai cũng ngạc nhiên vì ông vua sao lại nghèo. Khi đến gặp Phật, Thế Tôn xác nhận vua Ba Tư Nặc nghèo lắm. Ông nghèo Phật pháp, nghèo sự tu tập, nghèo sự chứng nghiệm, nghèo sự đi vào dòng công phu chuyển hóa nội tâm. Lúc đó vua bừng tỉnh, từ đó ông theo Đức Phật tu tập.
Như vậy mình không nghèo. Mỗi sớm mai thức dậy tôi thường nhắm mắt, mở ra ba lần rồi mới đi ngồi thiền. Tôi cám ơn cuộc đời cho tôi đôi mắt này vẫn còn thấy đường, thấy hình ảnh Phật, thấy Sư Ông, thấy Thầy tôi, thấy quý Phật tử, thấy bông ly bông lan, thấy hết… Từ nhãn thị chúng sanh tức là mắt thương nhìn cuộc đời, mình có đôi mắt này mình nhìn thấy. Quá giàu!…. Tôi duỗi hai tay, tay mình duỗi được, mừng quá! Bàn tay duỗi được, mừng là biết mình còn đôi tay để sáu giờ mười lăm mình đảnh lễ Tam bảo. Nhìn xuống thấy mình giàu quá, còn đôi chân ngồi thiền. Tài sản cha mẹ để lại cho mình không phải là tài sản về vật chất, mà tài sản cha mẹ để lại là mình có sức tu tập, gọi là có huệ trí.
Có đi vào con đường công phu này thật ra mình không có nghèo. Bệnh thân bệnh tâm thì ai cũng bệnh, tôi từng nói thiền viện là bệnh viện. Khi chúng ta tu tập thì thứ nhất là đừng tự ti vì chướng đường công phu của mình, thứ hai là đừng tự tôn, cũng chướng đường công phu.
Con đường của Đức Phật là con đường trung đạo. Đức Phật nói “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành.” Mình cố gắng tu tập như thế nào để hình thành giống như một Đức Phật. Vượt qua tự ti mặc cảm nhưng cũng đừng tự tôn mình là Phật. Mình vẫn là chúng sanh đang đi trên lộ trình của Đức Phật. Đó là mình vượt thoát nghèo hèn, mặc cảm, vượt thoát hết tất cả. Một ngàn con sông chảy về biển, bỏ hết các tên sông thì chỉ mang duy nhất tên biển. Trong một ngàn con sông đổ về có rất nhiều thứ nước, chảy về biển rồi thì chỉ mang duy nhất một vị mặn. Giáo pháp của Đức Phật rất nhiều pháp môn tu tập, con người chủng nghiệp trùng trùng nhưng chỉ có một vị là vị giải thoát. Từ đó mình hết tự ti, hết mặc cảm để tu tập.
Câu 31: Vì sao cùng trong tông môn mà có thiền viện có chữ Trúc Lâm, có thiền viện lại không có chữ Trúc Lâm?
Đáp:
Ngày xưa khi Sư ông Trúc Lâm dạy ở Ấn Quang, Huệ Nghiêm, Phật học Lưỡng Xuyên, tất cả các nơi … Sư ông nói mình hiểu là hiểu trên cái lý. Có lần Sư ông về miền Tây giảng về tứ thiền, tứ quả thì có một người hỏi: “Thầy dạy rất là hay mà trong bốn cái thiền đó thầy chứng được cái thiền nào chưa?” Lúc đó có một vị Thầy giảng sư nổi tiếng là Hòa thượng Huyền Vy, Ngài nói: “người tu thì nóng lạnh tự biết.” Sư ông nói Hòa thượng Huyền Vy “cứu” như vậy cũng hay nhưng Sư ông cảm thấy không ổn. Bởi vì người tu chạm đến chỗ đó rồi thì có những thao thức, cho nên Sư Ông quyết tìm con đường sáng cho riêng mình.
Từ giã Phật Học Viện và tất cả các nơi, Sư ông lên Chân Không, ngày xưa gọi là Pháp Lạc thất. Tu khoảng ba tháng Ngài ngộ được lý sắc không, ngài mở cửa và bắt đầu lập thiền viện Chân Không. Thiền viện Chân Không có hai nghĩa: một là chỉ về chỗ tự tánh bát-nhã, hai là nói về một vị thiền sư rất nổi tiếng đời Lý tức là thiền sư Chân Không. Sau này khi trên đó không ổn thì Sư ông về, được người ta cúng năm mươi hai mẫu đất tại Long Thành, Ngài lập thiền viện đặt tên là thiền viện Thường Chiếu. Thường Chiếu cũng là tên một vị thiền sư.
Khi Sư ông từ Chân Không về Thường Chiếu và lập ra các thiền viện có chữ “Chiếu”: Viên Chiếu, Linh Chiếu, Huệ Chiếu,… thì chưa có sám hối sáu căn mà sám hối ba nghiệp. Mãi đến năm 1994, Sư Ông thành lập Thiền viện Trúc Lâm Phụng Hoàng, từ đó sám hối sáu căn ra đời, các thiền viện bắt buộc phải sám hối sáu căn. Sám hối sáu căn của vua Trần Thái Tông, tức là ông nội của vua Trần Nhân Tông, Sơ Tổ Trúc Lâm.
Khi lập ra sám hối sáu căn, lúc này Sư ông mới nhấn mạnh việc khôi phục lại tinh thần thiền Trúc Lâm. Từ đó về sau khi bắt đầu nhận một cuộc đất mới, khi thành lập những thiền viện mới, Sư ông dạy các đệ tử, đệ tôn khi đặt tên thiền viện, lấy chữ Trúc Lâm để kỷ niệm tinh thần của Sơ Tổ Trúc Lâm.
Chúng tôi được may mắn là khi về đây Sư ông dạy cho chúng tôi một đoạn cây trúc, lấy từ Ngọa Vân Am về, bây giờ nó sống thành bụi trúc. Từ đó về sau, vâng lời Sư ông dạy, các thiền viện có thêm chữ Trúc Lâm: Thiền viện Trúc Lâm Chánh Giác, Trúc Lâm Chánh Thiện, Trúc Lâm Từ Giác, …. Ví dụ ngày xưa trên các bảng tên thiền viện ghi: “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam – Thiền Viện Thường Chiếu”. Hiện nay, bên dưới hàng chữ “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam”, ghi thêm “Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử” rồi mới đến tên thiền viện.
Kể từ năm 1994, Sư ông nhấn mạnh để khôi phục tinh thần thiền Trúc Lâm, mà thiền Trúc Lâm là thiền giáo đồng hành. Từ đó các thiền viện Trúc Lâm ra đời.
Câu 32: Làm sao để dẹp trừ bản ngã?
Đáp:
Bản, tiếng Hán là cái gốc. Khi quý Phật tử vừa sanh ra đời thì cái ngã đi theo gọi là câu sanh ngã chấp. Câu sanh ngã chấp tùy theo trong quá khứ mình nhiều hoặc ít.
Ngài Tất Lăng Già Bà Ta đã chứng thánh quả và có năng lực thần thông. Một hôm ngài đi qua sông Hằng, nước lớn cuồn cuộn, Ngài nói với thần sông Hằng:
– Con tiện tì sông Hằng, mày dẹp đường cho tao đi.
Do năng lực của vị thánh tăng này nên sông Hằng rẽ làm hai cho ngài đi qua. Bà thần sông đến gặp Đức Thế Tôn:
– Bạch Đức Thế Tôn, con nghe nói những bậc thánh hay các hàng tỳ-kheo của Thế Tôn nói lời gì ra cũng là lời chuyển hóa, ai cũng thích thú, vậy mà thầy tỳ-kheo này nói mày tao với con. Con là thần nữ giữ sông Hằng này mà gọi con là tiện tì.
Buổi trưa vị tỳ-kheo về, Đức Thế Tôn hỏi:
– Có phải hồi sáng ông đi khất thực ông nói như thế không?
Ngài trả lời:
– Bạch Đức Thế Tôn, có thật con nói như thế.
Thế Tôn bảo ông phải ra xin lỗi, sám hối.
Ngài tỳ-kheo đến sông Hằng nói:
– Này con tiện tì, tao xin lỗi mày.
Bà đến gặp Đức Thế Tôn nói:
– Bạch Đức Thế Tôn, con thấy vị tỳ-kheo này xin lỗi kỳ quá.
Thế Tôn nói:
– Con đừng trách vị tỳ-kheo này, bởi vì năm trăm đời vị này là trưởng giả Bà-la-môn, sống trong nhung lụa và cai quản đồ chúng.
Cho nên câu sanh ngã chấp đi theo, trong nhà thiền gọi là tập khí, hàng Thanh Văn phá không được vì còn trong biển độc vô sanh. Phải bước qua con đường thập địa phá trần sa hoặc vô minh thì mới dứt được. Trần sa là cát bụi, đến hàng Bát địa nhảy qua hàng Thập địa rồi vẫn còn sót một chút. Dẹp được bản ngã là cả một quá trình tu tập, trong nhà thiền gọi là “thùng sơn lủng đáy”, tức là quán chiếu thật sâu về năm uẩn có thật hay không. Rõ ràng khi quán chiếu, thấy năm dòng sông liên tục trôi chảy không có gì là thực thể thì từ đó bắt đầu cái ngã rơi rụng lần lần.
Một hôm vua Đường Đại Tông đang luận bàn với thiền sư Bất Không, quan thừa tướng Ngũ Triều Ân nói:
– Phật nói tất cả chúng sanh đều là Phật thì như vậy cái bản ngã, cái vô minh này từ đâu mà có?
Thiền sư hỏi:
– Ông là gì?
– Tôi là thừa tướng đương triều, dưới một người mà trên ngàn người, ông không biết tôi sao?
Thiền sư nói:
– Nói thật với ngài, từ ngày tôi vào cung điện này tôi tưởng ngài là người ở đợ, chứ không biết ngài là thừa tướng.
Ông thừa tướng đỏ mặt liền, bản ngã từ đây sanh ra. Muốn dẹp bản ngã thì phải tu tập, phải quán chiếu. Chúng ta sở dĩ bị khổ là do dính vào cái ngã. Bồ-tát Quán Tự Tại hành thật sâu, quán thật kỹ, chiếu kiến năm uẩn là không thì qua hết khổ nạn. Còn mình chiếu kiến ngũ uẩn giai có thì gặp nạn. Như vậy mình dẹp bản ngã dễ hay khó? Hôm qua Thầy Thông Không có nói: Cũng không khó, cũng không dễ. Đói ăn khát uống mệt ngủ khò.
Câu 33: Thế nào là cửa không của tự tánh?
Đáp:
Mình đừng có nhìn tướng bên ngoài. Mình tu là tu nhân thì quả mới được. Trong kinh Lăng Nghiêm nói “tu nhân vô sanh, quả mới thường trụ”. Đại chúng lấy quả mà tu thì ngàn đời tu, ngàn đời chết.
Câu “thấy biết là chơn tâm” của Hòa thượng là cái quả sáu mươi năm Hòa thượng mới thành tựu. Bây giờ mình thấy biết không phải là chơn tâm, là vọng tưởng mà mình lầm đây là chơn tâm thì chết. Chỗ thấy biết là chơn tâm của Hòa thượng đạt đến chỗ siêu xuất giống người đi qua bờ vực thẳm. Quả Hòa thượng thành tựu rồi, Hòa thượng chỉ ra để mình sau này đi đến chỗ đó rồi thì không còn nghi ngờ gì nữa, chỗ nào cũng là chơn tâm, chỗ nào cũng là Phật.
Phật nói “Nếu Như Lai ban đầu giáo hóa các thầy mà nói chỗ nào cũng là sắc Phật thì địa ngục không có chỗ.” Cho nên Đức Phật mười hai năm chỉ bày phương tiện là bốn bộ A Hàm, chỉ các thầy tỳ-kheo quán chiếu về năm uẩn, về sắc thân, rồi quán chiếu về con đường vô thường khổ như thế nào, cuối cùng mới chỉ sắc là sắc Phật, cầm hoa sen lên.
Thế nào là cửa không của tự tánh? Ví dụ như buổi sáng nhìn trên cửa kiếng thấy sương bám, mình muốn không còn sương bám vào cửa kiếng nữa thì lấy khăn lau. Cái khăn lau là cái biết mà cái biết đây là trí dụng. Ban đầu mượn trí dụng để mình lau gọi là phương tiện biết vọng, biết đây là vọng không có thực thể không có theo nữa. Khi cái vọng này lặng thì cái biết cũng lặng luôn đây gọi là tự tánh về cửa không.
Khi mình tu thuần thục rồi thì vọng đến tự tan vì trí tuệ quá mạnh, nhìn là biết nhìn là mất cho nên gọi là “tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu.” Đến giai đoạn này là phải trải qua hai hay ba chục năm. Đó gọi là tự tánh về ngay nơi mình, là tánh biết vọng chứ không phải dùng cái dụng biết vọng nữa. Tự tánh biết vọng vọng tự nó lìa cho nên ngồi thiền giống như ngồi chơi bình thường, vọng lên tự nó lặng một hồi tự nó hết.
Đại chúng mà sợ vọng hay muốn kháng cự vọng thì tôi kiểm thiền, nhìn là biết. Hồi xưa ở một thiền viện tôi giấu tên, có ông thầy ngồi thiền, tôi đi trị nhật thấy ông ngồi trên ghế: “Đi, đi, đi không!” Tôi chạy lên hỏi “Thầy đuổi ai vậy?”. Ông thầy trả lời “Vọng tưởng nhiều quá đuổi không đi”.
Bởi vì mình thấy vọng tưởng thật nên mới đuổi, còn biết vọng tưởng là bóng dáng của sáu trần, do dính mắc hồi sáng, hồi trưa, hay hồi chiều gì đó, bây giờ nó tái hiện lại mình biết nó là bóng không có thật.
Vua Trần Thái Tông nói:
Trúc ảnh tảo giai trần bất động,
Nguyệt luân xuyên hải thủy vô ngân.
Nghĩa là:
Bóng trúc quét thềm bụi chẳng động,
Vầng trăng xuyên biển nước không chao.
Từ nơi tự tánh phóng ra sáu cửa chiếu phá sáu cõi trời. Cho nên mình phải tu cái nhân, tức là biết tất cả các vọng tưởng không có thật, một thời gian vọng tưởng không còn thì thấy biết đều là chơn tâm. Còn bây giờ không khéo là mình dính.
Câu 34: Thưa thầy con là cư sĩ, vậy con phải hiểu và tu làm sao để đúng với chữ tùy duyên như trong bài kệ của vua Trần Nhân Tông:
Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,
Đói đến thì ăn mệt ngủ liền.
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.
Đáp:
Tổ Lâm Tế nói:
Tùy duyên tiêu cựu nghiệp,
Nhậm vận trước y xiêm.
Nghĩa là:
Tùy duyên tiêu nghiệp cũ,
Hồn nhiên mặc áo xiêm.
Tùy duyên là sao? Chẳng hạn ở đây yết ma, yết ma là trước một tăng đoàn, một quy chế, quý Phật tử ngồi thiền tối một tiếng rưỡi, sáng hai tiếng đó là tùy duyên. Mình đến đây tu học ba ngày thì tùy duyên ngồi hết giờ xuống. Hoặc là đến đây tùy duyên là không được gọi điện thoại, lên bàn ăn không có trái ớt, tùy duyên. Tức là đến chỗ có quy chế mình tuân theo là tùy duyên. Mà tùy duyên trong cái trí chớ không phải trong vô minh tức là thuận theo duyên mình sống thì đạo kế bên. Khi ngủ cũng vậy, ở nhà giường nệm êm ấm nhưng lên đây mình ngủ một chiếc chiếu, cái gối, ngủ dưới đất tùy duyên nghiệp cũ mình tiêu.
Khi mình tu học ba ngày từ ăn uống, ngủ nghỉ mình theo quy chế trường thiền đưa ra mình tu tập đúng thì đó là tùy duyên, nghiệp cũ của mình hết. Còn mình không tùy duyên mà bức xúc khó chịu thì nghiệp cũ không tiêu, đó là tinh thần tùy duyên của Sơ Tổ Trúc Lâm.
Ở Miến Điện có một trường thiền rất lớn, khóa tu tổ chức thường là ba tháng hoặc sáu tháng. Tham dự khóa tu ở đây đặc biệt không được nói chuyện, ai nói chuyện bị mời ra và vĩnh viễn không được đến các trường thiền khác. Trong khóa tu, đến tháng thứ ba mới được gặp Hòa thượng trưởng lão mà chỉ được nói hai câu, nói câu thứ ba là bị đuổi.
Có ông người Mỹ tham dự khóa tu, trong sinh hoạt ông ráng tuân theo quy chế vì sợ bị đuổi và mất tiền. Tới tháng thứ ba chịu hết nổi ông lên gặp trưởng lão Hòa thượng nói một câu: “Giường cứng!” Vị trưởng lão gật đầu. Ông tiếp tục ở ba tháng, đến tháng thứ sáu ông lên gặp trưởng lão Hòa thượng nói: “Tôi đi!” Tức là không tùy duyên. Mình tu học ba ngày, ngủ dưới đất mà mình vượt qua được, mình tùy duyên là tu thiền đúng.
Câu 35: Hằng ngày con đều đọc kinh sám hối:
Tam bảo chứng minh con sám hối,
Dứt tâm tương tục kể từ đây,
Không hề tái phạm dù lỗi nhỏ,
Nguyện gìn ba nghiệp như giá băng,
Nguyện đạt chân tông giáo viên đốn,
Kiến tánh viên minh tâm nhất như,
Vọng tình ngoại cảnh dường mây khói,
Nghiệp thức vốn không trí sáng ngời.Tất cả nội dung này là lời sám hối rất dứt khoát, quyết tâm, nhưng mà xem ra thì rất khó thực hiện, dường như là không thể. Hằng ngày sám hối như vậy nhưng mình không thể thực hiện những điều trên, vậy sám hối này có phải là sám hối suông hay không?
Đáp:
Chúng ta học kinh Bát-nhã, Bồ-tát Quán Tự Tại chiếu kiến năm uẩn đều không liền qua hết khổ nạn. Vậy tại sao mình đọc hoài, ăn cơm cũng tụng, ngồi thiền cũng tụng mà chiếu không nổi? Là vì mình đang ở trên văn tự của Bát-nhã. Mình nhờ văn tự Bát-nhã chiếu lần lần từng ngày. Mình không phải là chư Tổ chiếu một lần là xong. Buổi sơ khai ban đầu chư Phật và chư Tổ cũng giống như mình không khác mà các ngài cố gắng tinh tấn chiếu. Quán chiếu Bát-nhã một thời gian thì chúng ta mới thể nhập vào thật tướng Bát-nhã, trong con người mình hình thành hun đúc một người như Đức Thế Tôn.
Cũng giống như chúng ta, Đức Thế Tôn từng phạm tội bất hiếu bước qua đầu mẹ khi mẹ Ngài nằm xuống cản không cho Ngài đi biển. Bị rớt xuống địa ngục đội vòng lửa, Ngài hỏi cai ngục chừng nào vòng lủa của Ngài mới mất. Cai ngục bảo chừng nào có người bất hiếu giống như ông xuống đây thay thế. Lúc đó Ngài phát nguyện đời đời đội vòng lửa này, mong cho đừng có ai bất hiếu giống như Ngài. Tức khắc ngài sanh lên cung trời do nguyện lực. Lần thứ hai ngài phát nguyện dưới cội bồ đề: “Dầu cho thịt nát xương tan nếu không tìm được lý đạo quyết không rời chỗ này.”
Khi chúng ta sám hối những điều đó là chúng ta đang ở trên văn tự, hằng ngày mình sám hối không thấy gì nhưng khi gặp chuyện thì mình hơn những người khác. Giống như học võ thuật, ngày nào cũng đánh đấm không thấy gì nhưng khi học mười năm, múa quen rồi thì người khác đụng vào, gạt ra rất dễ. Nếu không học bị đấm là chảy máu mũi liền vì xưa giờ không chịu gạt không chịu đỡ.
Tôi đi giảng ở Sóc Trăng, có bà Bảy chơi thân với bà Tám. Một hôm bà Tám hỏi:
– Sáng nay bà đi đâu vậy?
Bà Bảy trả lời:
– Hằng tháng có vị thầy xuống giảng Phật pháp, hôm nay là ngày Thầy về giảng, tôi thấy hay quá nên tôi đi nghe.
Bà Tám nói:
– Bà đi nghe giảng Phật pháp, vậy bà nói tôi nghe Tam bảo là gì?
Bà Bảy nói:
– Tôi không biết Tam bảo là gì, quên rồi.
Bà Tám nói:
– Bà nghe Phật pháp cũng như không. Tam bảo mà không biết thì nghe làm gì.
Lát sau, bà Bảy lấy cái rổ dính đầy bụi xuống ao múc nước. Bà Tám nói:
– Càng học bà càng tửng tửng, tôi hỏi Tam bảo là gì mà bà đem cái rổ múc nước.
Bà Bảy hỏi bà Tám:
– Bà thấy cái rổ sao?
Bà Tám trả lời:
– Cái rổ hồi nãy dơ bây giờ múc nước nó sạch.
– Thì tôi cũng vậy, tôi tụng kinh, sám hối, ngồi thiền, nghe pháp không có dính gì hết, đúng là nghe xong tôi quên hết. Nhưng mà ngày xưa con trai, con dâu, con rể tôi mà làm gì không xong là chết với tôi nhưng bây giờ tôi chỉ cười.
Bà Tám nói:
– Công nhận Phật pháp rất hay.
Từ đó bà Bảy, bà Tám cùng đi học Phật.
Mình sám hối không thấy gì nhưng khi đụng cảnh, đụng duyên tự nhiên có sức dừng hơn những người thường, cho nên mình mới bỏ công tu. Quý phật tử coi truyền hình, tắt rồi nhưng màn hình vẫn còn những hột li ti. Chiếc xe đổ dốc chúng ta thắng rồi vẫn còn trớn đi xuống. Nghiệp lực của chúng sanh cũng vậy, chúng ta phải đào thải nhiều, từ văn tự đến quán chiếu, rồi thật tướng. Bồ Tát Quán Tự Tại chiếu kiến một lần là xong, còn mình chiếu mãi. Nhưng mà đừng sợ, cứ chiếu đi, đừng có nghỉ, đừng tắt đèn pin mà cứ chiếu….
Lục Tổ nói: “Mê văn kinh lụy kiếp, Ngộ tắc sát-na gian” nghĩa là mình mê coi kinh nhưng mà cứ coi đi, coi ngàn kiếp ngàn đời mà chỉ cần ngộ là xong hết. Cuộn chỉ rối mà mình không gỡ thì không bao giờ nó ra, cố gắng gỡ từ từ nó sẽ ra. Cứ học, cứ nghe, cứ tu. Ngày xưa mình nghe người đối diện nói gì mình không bỏ qua được nhưng bây giờ mình chỉ cười tức là tu tiến. Đường tu mình đừng cần ngộ gì hết mà mình đào thải ngày một chút là mình tiến, đừng nói ngộ đạo cao siêu hay kiến tánh gì hết mà từng ngày mình bỏ bớt, bỏ bớt rồi đến một lúc nào đó gùi mang đá của mình sạch hết thì nhẹ.
Câu 36: Trong Kinh thường hay đề cập đến con số 84000, ví dụ 84000 pháp môn, 84000 vi trùng, 84000 tòa sư tử. Như vậy, con số 84000 là gì?
Đáp:
Kinh Duy Ma Cật là một bản kinh đại thừa nói về lý tánh, bản thể. Kinh Duy Ma còn gọi là Kinh Tịnh Danh. Tịnh là tánh, Danh là tướng, tánh tướng không có hai gọi là Tịnh Danh. Kinh Duy Ma Cật còn gọi là pháp môn bất nhị, vượt thoát phiền não và bồ-đề, vượt thoát khổ và vui, vượt thoát chủ và khách. Đây là bản kinh đại thừa nói thẳng về cái lý rất là sâu, chẳng hạn như trong kinh nói thất của ông Duy Ma Cật rất nhỏ mà chứa tám mươi bốn ngàn tòa sư tử.
Khi chúng ta phát tứ hoằng thệ nguyện:
Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ,
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
Như vậy con số này không phải là con số có hình tướng, mà là con số trừu tượng nhắm vào thân ngũ uẩn của mỗi người chúng ta. Trong thân ngũ uẩn mình cũng có tám mươi bốn vạn những trần lao phiền não. Khi uống một bát nước, Đức Phật thấy có những con vi trùng.
Phật quán nhất bát thủy,
Bát vạn tứ thiên trùng.
Khi uống nước chúng ta không có chánh niệm, không có tỉnh thức, mình uống nước mà không biết đang uống nước thì đó là mình đang ăn nuốt chúng sanh. Còn mình uống nước mà tỉnh thức không có dấy niệm thì ngay trong giờ phút đó phiền não không có mặt. Phiền não không có mặt là mình không có uống chúng sanh, không làm chết chúng sanh. Ngay thân ngũ uẩn có tất cả trần lao phiền não thì phải dùng tất cả những phương pháp mà Đức Phật chỉ dạy để hóa giải những trần lao phiền não này. Chẳng hạn có người thèm khát về dục thì Phật dạy phương pháp quán thân bất tịnh; tâm họ loạn tưởng nghĩ đủ thứ chuyện thì Phật dạy sổ tức quán; tâm họ sân hận hay bực tức thì Phật dạy quán từ bi.
Những phương pháp để đối trị có tất cả tám mươi bốn ngàn pháp môn thì làm sao mình học hết? Ở đây ý muốn nói, tất cả pháp môn đều bắt buộc mình quán chiếu tất cả các pháp, kể cả thân phận của mình cũng như vạn pháp đều không có thực thể, như mộng huyễn bào ảnh, như sương cũng như điện. Quán chiếu thật sâu như thế thì ngay trong giờ phút đó mình thấu tột tất cả các pháp môn.
Thất của ông Duy Ma Cật tiêu biểu cho thân ngũ uẩn của mình, đầy đủ sự diệu dụng khi chúng ta tỉnh thức. Khi chúng ta giác ngộ thì thân này thất đại biến thành thất bảo. Cũng lời nói đó hồi xưa không tu tập thì mình làm cho người ta buồn khổ. Bây giờ mình có tu tập thì lời nói đó làm cho người ta vui, hạnh phúc. Mình biến khổ thành vui, biến phiền não thành bồ đề thì tức khắc thành tựu tất cả các pháp môn.
Câu 37: “Cư trần bất nhiễm trần” là gì?
Đáp:
Ở trần mà chẳng nhiễm trần, đây là nói cho các vị có tu tập. Những vị này ở trong trần làm hết tất cả các việc, cũng có vợ, có chồng, có con mà chuyện này không dính dáng gì hết. Giống như ông Bàng Long Uẩn, Bồ-tát Duy Ma Cật, Tuệ Trung Thượng sĩ. Nói khác hơn, ở đời này quý Phật tử mà tu tập được, ở trong trần mình làm cho có làm thôi, làm để vì thân bằng quyến thuộc mà con đường tu tập chúng ta không bỏ; chúng ta không khao khát, không mặn nồng về con đường danh lợi trong cuộc đời này nữa thì gọi là ở trần mà không nhiễm trần.
Câu 38: Kiến giải và hạnh giải giống nhau hay khác nhau?
Đáp:
Trong nhà thiền gọi hạnh giải tương ưng tức là lời nói và hành động phải tương ưng. Kiến giải là lời chúng ta học hiểu được mà việc làm thì chưa đến. Giống như mình nói từ đây lên Sài Gòn chỉ có bốn tiếng, khi vừa nói “bốn tiếng đồng hồ” là ý nghĩ lên Sài Gòn rồi, nhưng mà thực tế đi sau 4 tiếng mới tới. Mình thấu hiểu về chân lý của nhà Phật nhưng về tu tập phải trải dài năm này qua tháng khác thì mới tương ưng nên kiến giải và hạnh giải khác nhau.
Câu 39: Tùy thuận chúng sanh nhưng lỡ chúng sanh đòi làm việc ác thì làm sao tùy thuận được thưa thầy?
đáp: Cái này mình phải sáng suốt. Chẳng hạn mình có người em, biết nó lấy tiền để chích, hút ma túy hay làm việc ác mà tùy thuận cho tiền là không có trí huệ. Tùy thuận tất cả các pháp với điều kiện đối tượng mình tùy thuận phải làm các việc thiện pháp, phải tu tập, trong nhà thiền gọi là từ bi phải có trí huệ.
Câu 40: Chúng con đến thiền viện Bửu Minh thấy có hai câu đối:
Gì phàm, gì thánh? Sống chết ngay lúc này.
Hỏi trong hỏi ngoài! Ai kia dẫn đi mất.
Đáp:
Thầy Trúc Lâm để câu “Gì phàm, gì thánh? Sống chết ngay lúc này.” Cái gì phàm? Cái gì thánh? Nghĩa là dù phàm, dù thánh, cái chết đến mà trong giờ phút thực tại này ai biết sự sống, ai biết sự chết? Phàm thánh gì cũng đi con đường này gọi là “Tiền lộ mang mang, vị tri hà vãng.” Nếu chúng ta không biết tu thì đường trước mờ mịt. Chúng ta biết tu thì ngay giờ phút này chúng ta tỉnh táo sáng suốt, đường trước mở ra. Phàm hoặc thánh cũng đi con đường này, mà thánh thì khác:
Như nhau dọc mũi ngang mày,
Lòng phàm dạ thánh cách nhau ngàn trùng.
Cái chết đến mà các ngài cười các ngài vui. Cũng cái chết đến mình thì đau khổ.
Cho nên nói “Gì phàm, gì thánh? Sống chết ngay lúc này.” Ngay trong giờ phút thực tại này. Muốn được như vậy thì hàng ngày chúng ta phải quán chiếu. Sở dĩ Bồ-tát Quán Tự Tại không còn sợ chết nữa là vì không còn sợ hãi, chiếu kiến năm uẩn đều không cho nên vượt qua sự khổ nạn, vượt qua sự chết chóc. Còn mình chiếu kiến không được, năm uẩn mình thấy vẫn sờ sờ, đụng một chút là mình khóc la.
Trong thiền thoại có câu chuyện:
Một hôm trong đêm khuya thanh vắng, cái chuông nói với tượng Phật:
– Anh cũng làm bằng đồng, tôi cũng làm bằng đồng mà sao ai cũng đến đảnh lễ anh hết còn tôi thì không ai đảnh lễ?
Tượng đồng nói:
– Tôi suốt ngày ngồi một chỗ, ai sờ hay thọt lét tôi cũng không la. Ai khen ai chê tôi cũng ngồi yên bất động. Còn anh chỉ cần gõ nhẹ là anh la lên rồi.
Cho nên việc mình tu là đảm bảo chắc chắn không còn nghi ngờ gì nữa.
“Hỏi trong hỏi ngoài! Ai kia dẫn đi mất”
Nghe những câu chuyện chẳng hạn như chuyện ngày xưa Tổ Đạt-ma qua Trung Hoa, sau này các vị tăng đi hành cước đều hỏi “Thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang?” Hoặc nghe câu chuyện ngài Nam Tuyền chém mèo, mình suốt ngày đặt câu hỏi ngài Nam Tuyền chém mèo có lỗi hay không lỗi, có phạm vào nghiệp sát sanh hay không. Mình đã chạy theo con mèo ngài Nam Tuyền, bị nó dẫn đi mất mà con mèo của mình mình không chịu chăn. Mình không chịu nhìn lại con mèo của mình mà chỉ nhìn con mèo của ngài Nam Tuyền cho nên bị dẫn dụ đi mất.
Câu 41: Nhà con có một người dì 80 tuổi qua đời được một trăm ngày. Anh con ở chung với dì, bị bệnh lâu mà không đi khám, dì con mất được hai tuần thì anh mất. Đi coi thầy nói dì con chết nhằm cung càn, anh con cũng chết nhằm cung càn, nên tổ mai táng nói phải thiêu anh con rồi gởi hũ cốt vô chùa để cầu siêu bốn chín ngày, sau đó rải xuống sông để người đó không về bắt thêm người nhà đi. Rải xuống sông xong rồi anh con về nói với người chị thứ hai em lạnh quá cho em xin cái mền. Gia đình con không biết làm sao để giúp anh con.
Đáp:
Vạn vật vũ trụ có ngũ hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ thì con người cũng có ngũ hành. Tức là pháp giới vận chuyển như thế nào đó thì con người cũng thuận theo pháp giới vận chuyển để sống còn, nghịch thì không được: nghịch tắc tử thuận tắc sanh, tức là thuận thì sống mà ngịch thì chết. Từ đó có những nhà phong thủy giỏi ra đời chiếu theo cung mạch tức là tám hướng: càn, khôn, cấn, tốn, khảm, ly, chấn đoài nghĩa là khi tâm thiện thì pháp giới chung quanh đó cũng thiện gọi là chánh báo tốt thì y báo cũng tốt.
Chẳng hạn như chỗ tôi ngày xưa, hai mươi lăm chủ đất đến mua ở, người thì chết, người bị tai nạn, người bị tù, người thì con cái chém nhau, ở không được nên lần lần bán hết. Khi tôi đến thì người trong làng nói đất này rất cứng không ai ở được. Quả tình tôi đến tôi thấy đất đai khô cằn, thiếu sự sống. Bây giờ muốn tạo nên sự sống thì việc đầu tiên là tôi trồng cây, hằng đêm chúng tôi tụng Ma-ha Bát-nhã-ba-la-mật-đa. Khi chánh báo tốt rồi thì tự nhiên vùng đó mưa thuận gió hòa, vì chánh báo tốt thì y báo sẽ tốt.
Cũng vậy, chúng ta đừng ngại chết ngày trùng về bắt gia đình mà chúng ta phải y theo lời Phật dạy. Mỗi con người chúng ta đi từ nghiệp, bệnh cũng từ nghiệp mà chết cũng từ nghiệp. Nghiệp do đâu mà có? Nghiệp do hoặc, hoặc là mê lầm từ xưa chúng ta tạo nghiệp, bây giờ ra hoàn cảnh khổ. Gia đình có người mất, đủ duyên thì còn mà hết duyên thì tan rã. Hiểu được như vậy thì bây giờ muốn cho người thân mình được an ổn khi chúng ta thấy giấc mộng như thế thì việc đầu tiên là mình in kinh, phóng sanh hồi hướng công đức lành này về cho người thân của mình, nhờ năng lực của quý thầy chú nguyện.
Một bàn tay vỗ không bao giờ kêu mà phải nhờ hai bàn tay. Hai bàn tay vỗ không lớn thì phải nhờ một trăm, hai trăm bàn tay vỗ chắc chắn sẽ kêu. Trong số một trăm, hai trăm chư tăng biết đâu có một người có nhân duyên với người đó. Không phải ai khai thị người thân của mình cũng thức tỉnh mà vị thầy phải có nhân có duyên với người đó. Kế nữa là vị thầy đó trong thời quá khứ đã từng phát đại nguyện làm việc này cứu giúp chúng sanh thoát qua biển khổ sanh tử khi chết thì ông làm mới được. Tức là phải cộng nhân, duyên, đại nguyện của vị thầy, nguyện lực của thầy và phần tu tập trong giờ phút thực tại đó thì người thân mình họ mới thức tỉnh, mới an trú vào sự tỉnh thức, an trú vào chánh niệm thì tức khắc họ vượt thoát chỗ đó.
Bây giờ cô về việc đầu tiên là phóng sanh, bố thí cho người nghèo, cúng dường, rồi ghi tên vào giấy gởi đến các thiền viện, các chùa nhờ quý Hòa thượng, nhờ quý thầy chú nguyện cầu siêu cho thân nhân mình được an ổn. Việc của mình là ráng tu tập hằng ngày, tụng kinh chẳng hạn kinh Địa Tạng, kinh Lương Hoàng Sám hoặc kinh Pháp Hoa, những bộ kinh đại thừa lớn để hồi hướng công đức lành này cho người thân.
Câu 42: Phẩm Thí Dụ trong kinh Pháp Hoa gọi là hòn ngọc trong chéo áo.
Đáp:
Trong kinh Pháp Hoa Đức Phật đưa ra câu chuyện:
Có hai người bạn thân, một người làm ăn giàu có, một người nghèo khổ. Một hôm người bạn nghèo đến thăm, anh bạn giàu đãi một bữa tiệc thịnh soạn. Thương bạn nghèo khó, muốn giúp mà sợ bạn không nhận, nhân lúc bạn say rượu nằm ngủ, anh bạn giàu cột viên ngọc quý vào chéo áo của người bạn nghèo. Hai mươi năm sau gặp lại, người bạn nghèo vẫn nghèo. Anh bạn giàu nói: “Ngày xưa tôi tặng anh viên ngọc quý cột trong chéo áo của anh mà sao bây giờ anh vẫn nghèo?” Anh nhà nghèo lật áo ra xem thì thấy viên ngọc.
Ở đây Phật ám chỉ mình, mình có viên ngọc vô giá, một kho tàng gọi là vô tận tạng, trong kho tàng này có đầy đủ hết tất cả mà không chịu nhận, mình lao ra bên ngoài nên vẫn là người nghèo khổ thiếu thốn, lang thang đi đầu đường xó chợ. Một hôm mình tu tập nhận ra được hòn ngọc thì mới hay ra rằng Đức Phật luôn luôn cho mình một viên ngọc vô giá, mà viên ngọc vô giá này từ nơi bản tâm, từ nơi Phật tánh, từ nơi tri kiến Phật.
Quý Phật tử muốn có một viên ngọc trong kinh Pháp Hoa thì phải nhớ lại bài kệ của ngài Phó Đại sĩ:
Đêm đêm ôm Phật ngủ,
Sáng sáng cùng Phật dậy.
Đi, đứng hằng theo nhau,
Mỗi mỗi cùng chung bước,
Không một phút chia lìa,
Nơi nào cũng sẵn có.
Muốn biết nơi Phật đi,
Chỉ chỗ nói nghe đó.
Tối ngủ mình ôm phiền não, ôm chuyện thị phi, chuyện hơn thua, ôm những chuyện lo buồn sướng khổ mà không chịu ôm Phật ngủ. Ngủ biết rằng mình đang ngủ đó là đang ôm Phật ngủ. Còn ngủ mà gác tay lên trán, không biết mai này ra sao, chừng nào mình giàu, chừng nào trúng số độc đắc… thì không bao giờ có viên ngọc. Viên ngọc trong chéo áo không chịu nhận mà mình toàn ôm những chuyện phiền não ngủ.
Hòn ngọc trong chéo áo lúc nào cũng có mà mình quên. Sơ Tổ Trúc Lâm nói một bài kệ:
Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,
Đói ăn khát uống mệt ngủ liền.
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.
Ở đời vui đạo mình cứ tùy duyên. Tùy duyên là gì? Sáng nay ăn cơm, bình thường cứ ăn cơm; sáng nay uống nước, bình thường cứ uống nước. Ăn cơm không chịu ăn mà nghĩ đủ thứ chuyện; uống nước lạnh không chịu uống, phải có nước ngọt, nước ép mới uống thì không có tùy duyên. Mệt không chịu ngủ mà suy nghĩ đủ thứ chuyện, cho nên không nhận được hạt ngọc trong chéo áo. Mình tu tập như thế nào đó ráng cố gắng nhận hạt ngọc trong chéo áo của mình mà Đức Phật trong kinh Pháp Hoa đã đưa ra ví dụ.
Đức Phật đưa ra một ví dụ nữa là chàng cùng tử trong kinh Pháp Hoa. Chàng cùng tử là người nghèo khổ, người nghèo khổ này lang bạt không những trong kiếp này mà vô lượng kiếp. Đức Phật đã nhắc nhở, chỉ dạy cho chúng ta đều có một viên ngọc vô giá. Viên ngọc này nằm trong sáu căn của mình, sáu căn thanh tịnh thì tức khắc hòn ngọc hiển hiện lên; sáu căn không được thanh tịnh thì viên ngọc biến mất.
Ai cũng có viên ngọc này mà phải ráng cố gắng để khám phá, để nhận ra. Cho nên trong tay ngài Địa Tạng Bồ-tát có viên ngọc, mình đừng nghĩ rằng Bồ-tát Địa Tạng mới có mà mình cũng có. Mình không nhận ra được cho nên mình vẫn là người cùng tử lang thang không biết bao giờ dừng chân lại để nhận ra viên ngọc này.
Câu 43:Gần nhà con có người này làm việc thiện rất nhiều nhưng hay đau yếu bệnh tật và làm việc gì cũng không như ý, còn người hàng xóm thì ngược lại nói những lời thô tục với gia đình và hàng xóm mà rất ít bệnh tật và làm ăn rất may mắn.
Đáp:
Vào thời Đức Phật, khi Đức Phật ra đời thì có những bậc thánh tái sanh trở lại trong cuộc đời này, trong đó có người xuất gia kể cả người tại gia. Đặc biệt người nam có cư sĩ Cấp Cô Độc, người nữ có nữ cư sĩ Visakha (Tỳ-xá-khư), là nữ hộ pháp đắc lực nhất thời Đức Phật. Khi mang thai được tám tháng, mẹ bà đến nghe Đức Phật giảng pháp, thì bào thai đó xoay chuyển hướng về Đức Phật chắp tay. Lớn lên Visakha được gả cho một người Bà-la-môn, ông này không bao giờ tin Đức Phật và thánh chúng, cho nên ông chưa từng bao giờ cúng dường.
Một hôm đang ăn cơm, bà Visakha nhìn ra cổng thấy một vị thầy tỳ-kheo đang ôm bình bát khất thực đứng khoảng chừng năm, mười phút mà cha chồng của bà không ngó ngàng gì hết, vì vậy Visakha nói: “Thưa thầy, thầy đi nơi khác khất thực vì cha chồng của con đang ăn những thức ăn thừa mà thức ăn này bị hư rồi.” Cha chồng rất tức giận, bởi vì ông đang ăn thức ăn rất ngon, thức ăn chỉ dòng dõi Bà-la- môn mới có, mà bà lại nói là thức ăn thừa, thức ăn thiu. Ông nói sẽ làm cho ra chuyện nếu không xong sẽ trả Visakha về gia đình.
Quý Phật tử biết thức ăn thừa là gì không? Chẳng hạn trong cuộc sống giữa đời thường này chúng ta làm việc được may mắn, tiền của nhiều là do phước lực của mình từ đời quá khứ. Từ đời quá khứ làm được, cho nên bà Visakha nói là thức ăn thừa, thức ăn thiu. Muốn không ăn thức ăn thừa, thức ăn thiu thì chúng ta phải biết bố thí, cúng dường, tạo các việc thiện pháp.
Ở đây cũng thế, nhìn trên mặt nổi thấy người này làm thiện, ăn nói nhỏ nhẹ, nói lời nhu nhuyến thanh tịnh mà lại hay bệnh tật, làm việc thiếu may mắn thì chúng ta phải biết rằng người hay bệnh tật không dính dáng gì đến việc bố thí cúng dường. Vì bệnh tật là do đời quá khứ chúng ta tạo nghiệp sát. Chẳng hạn như Tổ Quy Sơn năm đời làm vua, đại sư Giới Hiền mười đời làm vua cho nên ngài bị thấp khớp rất nặng do nhiều đời ngài làm vua, mà làm vua thì phải giết nhiều người. Hay bị bệnh tật là do trong đời trước chúng ta sát sanh. Nếu muốn bớt bệnh tật, chỉ có một con đường là chúng ta sám hối, phóng sanh. Còn việc bố thí cúng dường là việc khác.
Khi chúng ta làm việc gì thì có ba phần: một là hiện báo, hai là sanh báo, ba là hậu báo. Hiện báo là khi chúng ta làm việc gì nó trổ ra trong đời này hoặc là thiện hoặc là ác, chẳng hạn mình làm việc thiện pháp cộng với đời trước nữa cho nên đời này trổ ra liền. Sanh báo là chúng ta làm trong đời này mà mãi hai, ba đời sau mới có. Hậu báo là phải nhiều đời nhiều kiếp quả mới trổ ra.
Ví dụ trồng rau muống thì một tháng ăn, trồng giá thì một ngày đêm là ăn được. Nhưng giá, rau muống không làm nhà cửa được, đó gọi là hiện báo. Bây giờ chúng ta muốn trồng cây để làm nhà làm cửa được thì phải trồng cây căm xe, cây lim, cây gõ thì đó gọi là sanh báo, hậu báo.
Khi chúng ta tu tập tức là gieo trồng các việc thiện pháp, vun trồng cội đức là chúng ta trồng cây làm Phật, mà trồng cây làm Phật thì nhiều đời quả mới trổ ra. Cho nên Đức Phật phải trải qua ba A-tăng-kỳ kiếp, trải dài trong con đường sanh tử, tạo những việc thiện pháp rất nhiều thì mới đầy đủ một trăm pháp Ba-la-mật.
Ví dụ hai gia đình cùng buôn bán như nhau, đều cùng mở nhà máy xay gạo. Một năm trôi qua, hỏi anh thứ nhất trong một năm anh làm có dư dả gì không, thì anh này nói không dư. Anh thứ hai nói năm nay làm dư được hai trăm triệu. Nhà thứ nhất không dư bởi vì khi mở nhà máy xay gạo phải vay tiền ngân hàng cho nên phải trả lãi. Trong khi đó nhà anh thứ hai có tiền của cha mẹ để lại cho nên làm bao nhiêu thì hưởng bấy nhiêu. Việc này chúng ta thấy trong cuộc đời rất nhiều.
Chúng ta sống trong cuộc đời này Phật dạy không phải là một đời mà là ba đời: quá khứ, hiện lai, vị lai cộng lại.
Trong Sử Ba Mươi Ba Vị Tổ ghi: Vua nước Nam Ấn hiệu là Thiên-Đức nghe tin Tổ thứ hai mươi lăm (Bà-xá-tư-đa) sang cũng sửa sang xe giá ra đón tiếp, thỉnh Ngài về hoàng cung. Nhân vua có hai Thái tử, vị lớn là Đức Thắng thì thân thể mạnh khỏe mà tánh tình hung bạo, còn em thì hiền lành mà bệnh hoạn liên miên, sẵn dịp vua hỏi Ngài:
– Con tôi kính thờ Phật pháp, ưa làm việc lành, mà sao lại mắc bệnh kinh niên, vậy lẽ báo ứng lành dữ như thế nào ?
Ngài đáp:
– Bệnh của Thái tử là do công đức phát sanh. Song lý sâu xa nầy Đại-Vương phải khéo nghe.Phật dạy người có nghiệp nặng nơi thân, ví như bệnh nội thương quá nặng, uống thuốc không có công hiệu, sắp chết bệnh càng hoành hành. Nếu là bệnh nhẹ, gặp thuốc liền bớt, bớt rồi từ từ mạnh. Người nghiệp nặng cũng vậy, tuy có công đức mà không làm gì được, đến lúc gần chết nghiệp lại càng hiện. Nếu nghiệp nhẹ, làm các việc công đức, nghiệp trước liền hiện, trả xong sau sẽ thanh tịnh. Hiện nay Thái tử làm việc thiện mà bị bệnh lâu, hẳn là do làm các công đức nên phát ra nghiệp nhẹ nầy. Hiện nay tuy có khổ nhỏ, về sau sẽ an ổn. Kinh đã nói: “Nếu phải chịu nghiệp báo trong ba đường ác, nguyện đời này trả xong, để khỏi vào đường ác”. Vua còn nghi gì ư?
Vua Thiện Đức tín nhận, càng phát tâm làm phước.
Khi mình hiểu rồi thì cũng đừng trách cha mẹ sao không để của cải lại mà phải trách mình. Vì đời trước không biết tu cho nên đời này mình gặp những nghịch cảnh khốn cùng. Trong tinh thần này chúng ta phải dùng Tứ quán hạnh của Tổ Bồ Đề Đạt Ma.
– Báo oán hạnh: Hành giả tu đạo, trong khi bị các cảnh khổ bức bách nên nghĩ đây là do quả báo ác nghiệp đời trước thiêu đốt, nay ta cam tâm lãnh thọ không có sự oán thán. Khi tâm ấy sanh khởi, tất cùng lý tánh tương ưng, an tâm tu đạo.
– Tùy duyên hạnh: Tất cả chúng sanh vốn vô ngã , hết thảy theo nghiệp chuyển khổ nào cảm thọ ác quả báo danh dự, lợi dưỡng … tất do nhân đời trước cảm thành, hết duyên thời một vật hoàn không, được mất tùy duyên, tâm không tăng giảm, hỷ lạc không lay động, khiến thân hợp với đạo, gọi là tùy duyên hạnh.
– Vô sở cầu hạnh: Thế gian sống trong sự mê mờ, gặp cảnh đều sanh tâm đắm trước, việc ấy gọi là cầu, bậc trí thấu rõ tâm lý, an tâm vô vị, biết vạn vật đều không chỗ nguyện cầu, đây mới thật vô cầu tùy thuận đạo tu hành.
– Xứng pháp hạnh: Lý của tánh tịnh gọi là pháp, lý của các tướng đều là không, không nhiễm, không đắm trước, không bỉ, không thử. Bậc trí tin hiểu được lý này, thường xuyên xứng pháp để tu hành vậy.
Trang Tử kể câu chuyện: Có một ông lão rớt xuống vực thẳm, mọi người nghĩ ông đã chết, nhưng đến cuối nguồn thì thấy ông bơi lóp ngóp. Người ta hỏi:
– Ai rớt xuống đây cũng chết mà tại sao ông không chết? Ông nói:
– Thuận theo dòng nước nên không chết.
Tức là dòng nước xuống thì ông theo xuống, dòng nước nổi thì ông nổi theo lên. Thuận theo dòng nước cho nên ông sống, gọi là xứng với pháp mà tu, xứng với pháp mà làm. Khi hiểu rồi thì mình thấy là việc này cũng bình thường.
Qua phần này tôi nêu lên cho đại chúng thấy, khi người này nói thô tục với người hàng xóm và gia đình mà ít bệnh tật, gặp may mắn là do đời quá khứ người này tạo việc thiện pháp. Mình thắc mắc đời quá khứ tạo thiện pháp mà sao đời này không biết tu. Là do không quy y Tam bảo, không kết duyên lành với Tam bảo, quên thệ nguyện, quên đại nguyện, gặp hoàn cảnh bị dính mắc nên quên hết.
Khi chúng ta phát tâm Bồ-đề, phát tâm làm các việc thiện pháp, có thệ nguyện rồi thì mình đi tất cả các cõi đều có chư Phật, đại Bồ-tát theo bên mình nhắc nhở. Cũng giống như ngài Phó đại sĩ, ngài ở cung Trời Đâu Suất ngài xuống đây rồi ngài quên. Một hôm ngài đi trong rừng thì có ông tăng người Ấn kéo lại nói:
– Ông nhìn xuống hồ nước coi ông là gì?
Nhìn xuống hồ nước ngài giật mình, ngài thấy rằng ngài ở trên cung Trời Đâu Suất phát nguyện lớn xuống đây, vậy mà ngài quên. Vị Tăng nói:
– Ông đâu phải người thường đâu mà ông lăn lộn trong cõi đời này.
Ngài về bàn với người vợ tên là Thiện Huệ và hai người con, tất cả gia sản đem cho hết, cả gia đình lên núi tu, ba tháng sau hai vợ chồng và hai người con đều chứng đạo. Còn mình nhắc tới nhắc lui mà không chứng là do gốc mê mình nhiều quá nên bây giờ mình gỡ. Hiểu được như thế rồi thì bình thản.
Người tu như chúng tôi có những người tu rất là đắc lực mà gặp những việc không xứng ý, bệnh tật về thân hoặc hoàn cảnh bức ngặt. Nhưng Mạnh Tử nói “Trời muốn giao phó cho ông việc lớn phải làm cho ông khổ cái thân, lập cái chí, làm việc gì cũng nghịch ý ông rồi trời mới trao việc lớn cho ông.”
Người xưa nói:
Vô khảo đảo bất thành đại đạo.
Muốn lên thuyền Bát-nhã Như Lai,
Muốn cho thân được an lành,
Ác duyên trợ đạo chóng thành kim cang.
Mình không đi trong mưa thì không bao giờ biết lạnh, không đi trong gió sương thì không bao giờ biết cái lạnh của gió sương. Thiền sư Hoàng Bá nói:
Trần lao quýnh thoát sự phi thường,
Hệ bả thằng đầu tố nhất trường.
Bất thị nhất phiên hàn triệt cốt,
Tranh đắc mai hoa phốc tỷ hương.
Nghĩa là:
Vượt khỏi trần lao việc chẳng thường,
Đầu dây nắm chặt giữ lập trường.
Chẳng phải một mai sương lạnh buốt,
Hoa mai đâu dễ ngát mùi hương.
Tu mà muốn an lành thì không có, tu phải có những cái nghịch mà chúng ta vượt qua được thì mới thấy giá trị trong một năm hoặc hai năm mình tu. Vượt khỏi con đường trần lao này là việc chẳng thường, chúng ta cứ giữ lập trường tu, dầu ai nói ngả nói nghiêng mình vẫn tu. Hoa mai nếu không trải qua mùa đông thì làm sao có mùa xuân? Nhờ mùa đông nên mới có hoa thơm, có cánh mai của mùa xuân mà chúng ta hưởng. Trong suốt mười năm hoặc hai mươi năm khi chúng ta ngồi thiền đau chân, hôn trầm, khi dã dượi… đó là mùa đông đến. Lúc mình gục xuống ngủ thì mùa xuân không đến, nhưng khi vượt qua được những cảnh giới hôn trầm ngủ gục … thì lúc đó chúng ta mới hưởng được mùa xuân thanh bình.
Câu 44: Trong kinh Phật có dạy các loài hàm thức đều có tánh Phật. Vậy các con nhỏ nhít và cây cỏ có hay không?
Đáp:
Đức Phật dạy, các loài hàm thức, gọi là tứ sanh, đều có Phật tánh. Tứ sanh gồm thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, noãn sanh. Bốn loài này xem Đức Phật như cha lành: “tứ sanh như từ phụ”. Phật không nói cỏ cây có tánh Phật nhưng các loài hàm thức kể cả những con côn trùng nhỏ nhít cũng có tánh Phật gọi là Phật tánh. Cây cỏ không gọi là Phật tánh mà gọi là pháp tánh. Hữu tình gọi là Phật tánh, vô tình gọi là pháp tánh. Khi trở về Phật tánh tâm Phật của mình rồi thì mình nhìn ra vạn pháp cái gì cũng Phật, Phật đó không phải là pháp thân, mà là pháp tánh. Bởi vì khi tâm thanh tịnh thì nhìn tất cả từ cỏ cây, ngói gạch đều có bản thể chơn như nằm ở đó, cho nên nói tình và vô tình đều thành Phật đạo.
Trong thiền thoại có kể câu chuyện:
Thiền sư Chơn Quán tu về pháp môn chỉ quán. Khi ngộ đạo rồi ngài ra mở đạo tràng. Một hôm có vị tăng đến hỏi:
– Bạch Hòa thượng con nghiền ngẫm, con nghiên cứu suốt hai chục năm.
– Ông nghiền ngẫm nghiên cứu cái gì?
– Con nghiền ngẫm nghiên cứu chừng nào cỏ cây thành Phật.
Thiền sư Chơn Quán nói:
– Sao ông vô minh quá, ông bỏ hai chục năm chi uổng vậy. Tại sao ông không ráng tu tập và tự hỏi chừng nào mình thành Phật.
Vị tăng:
– Đúng đó Hòa thượng. Bây giờ con mới nghĩ ra, chừng nào con thành Phật?
Thiền sư nói:
– Cái đó chính là ông hỏi lại chính ông. Ông hỏi ông chừng nào thành Phật.
Ngay tức khắc ông đại ngộ.
Một vị tăng hỏi thiền sư Pháp Nhãn:
– Bạch Hòa thượng, chừng nào cỏ cây thành Phật?
Thiền sư Pháp Nhãn:
– Chừng nào trời sập!
Vị tăng hỏi lại:
– Chừng nào trời sập, Hòa thượng?
Ngài Pháp Nhãn:
– Chừng nào cỏ cây thành Phật.
Như vậy mình nghiền ngẫm nghiên cứu cỏ cây thành Phật để làm gì, mà chúng ta phải tu phải thắc mắc chừng nào mình thành Phật. Đó là điều cốt yếu cho người xuất gia, người tại gia.
Câu 45:Sao gọi là hữu tình không Phật tánh mà vô tình có Phật tánh. Đã là vô tình như ngói gạch, cỏ cây sao có Phật tánh, còn hữu tình là con người tại sao không có Phật tánh?
Đáp:
Câu này nằm trong Thiền sư Trung Hoa tập một. Có vị tăng đến hỏi ngài Bá Trượng “Thế nào là hữu tình không Phật tánh mà vô tình thì có Phật tánh?” Tôi nhớ ngày xưa khi vào Thường Chiếu, tôi còn trẻ, hai mươi ba tuổi. Một năm sau tôi về quê, năm đó tôi hai mươi bốn tuổi. Tôi ngồi trên xe ca trùng hợp lúc học sinh đi thi đại học về. Trên xe chỉ có mình tôi là người xuất gia mà còn trẻ, cho nên những cô gái trẻ và những anh thanh niên nhìn tôi chằm chằm. Tôi hỏi:
– Sao nhìn?
Một anh thanh niên trả lời:
– Xin lỗi thầy, con nghĩ thầy còn trẻ tuổi mà vào chùa tu thì chắc chắn rằng thầy bị thất tình!
Tôi trả lời:
– Đúng là tôi thất tình. Thất là mất, tôi mất tình cha, mất tình mẹ, mất tình người thân mới vào chùa được. Tôi biến sự mất tình này thành tình lớn, không những cho gia đình tôi mà cho tất cả mọi người. Còn các anh các chị sở dĩ không đi tu được vì có cái tình: tình cha, tình mẹ, tình người thân ràng buộc.
Hữu tình là có tình. Thấy nhà lầu mình cũng thích, thấy xe hơi cũng thích, thấy gì cũng thích cho nên có tình.
Mũi đắm các hương lưỡi tham vị,
Mắt mờ chúng sắc tiếng mê tai.
Lang thang làm khách phong trần mãi,
Ngày cách quê hương muôn dặm đường.
Chẳng hạn như chiều mình đi ngang qua quán nghe mùi gì thơm thì đứng lại ngửi, đi qua chỗ nào hôi thì bực, tức là lỗ mũi mình chạy theo mùi hương. Mắt mình chạy theo sắc, gặp cái gì đẹp thì nhìn. Chiều nay về đáng lý mình nghỉ ngơi nhưng vừa về nhà mở ti vi coi là có cái tình rồi, thì đúng là hữu tình không Phật tánh.
Vô tình là không có cái tình ràng buộc thì Phật tánh mới hiển lộ.
Câu 46: Con học hiểu Phật pháp rồi thì ở nhà dành thời gian tu tập, đâu cần thiết tham gia đạo tràng tu tập, chỉ gây thêm phiền phức có phải không?
Đáp:
Trong nghệ thuật sống có kể câu chuyện:
Có ông giáo sư về hưu, vì thương những đứa trẻ thất học trong làng, ông nhóm chúng lại để dạy học. Trong nhóm này có một em học rất giỏi, nhưng học một thời gian thì em không đến lớp của ông nữa. Ông tìm hiểu thì biết rằng em học sinh này học hiểu nhiều quá rồi nên không cần ông và bạn bè nữa.
Một hôm ông đến nhà thăm em vào lúc tuyết rơi nhiều, em nhóm lửa cho ông sưởi. Khi ngọn lửa cháy bùng lên, ông lấy một khúc củi để riêng một bên. Các khúc củi trong lò sưởi vẫn cháy bình thường, riêng khúc củi đem ra ngoài thì không tới năm phút là tắt ngấm. Nhìn khúc củi đã tắt ngấm, đứa trẻ quỳ xuống khóc: “Con hiểu lời thầy dạy.”
Cũng vậy, khi Phật tử đến thiền viện học hiểu, tu tập, có thể ngồi thiền được nửa tiếng hoặc một tiếng, mình tưởng việc của mình đã xong, nhưng khi ở nhà một thời gian ác pháp bắt đầu tăng trưởng. Cho nên người xưa có câu: “Ăn cơm có canh, tu hành có bạn.” Mình ở nhà, tưởng xong việc rồi nhưng khi đụng chuyện còn sân hơn nữa. Nhiều khi ở nhà, mình có tâm ngã như thế này: “Mấy người đi chùa mà sân hận bực tức, tôi ở nhà mới giỏi.” Ngay trong giờ phút đó mình khởi niệm ngã mạn cống cao. Khi đến thiền viện, cọ xát tu tập mới biết mình là cái gì.
Ở biển có những hòn sỏi rất bóng, bởi vì ngày nào nó cũng bị những ngọn sóng đánh tới đánh lui. Hòn sỏi của mình góc cạnh nhiều mà không bị sóng đánh thì làm sao hết góc cạnh. Cho nên chúng ta phải đến thiền viện nghe pháp, tu tập, trưởng dưỡng đạo tâm.
Đức Phật xuống cõi đời này gọi là “Nhất Phật xuất thế, vạn Phật hộ trì”. Khi Đức Phật xuống cõi đời này, ngài Duy Ma Cật là cổ Phật ở phương Đông, các bậc Bô-tát lớn như: Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi, Bồ-tát Đại Hạnh Phổ Hiền, Bồ-tát Quán Thế Âm,…các vị đều là cổ Phật đều thị hiện xuống để trợ giáo cho Đức Thế Tôn. Trong đạo tràng có một cô Phật tử ở Sài gòn rất siêng đi nghe pháp. Sư phụ giảng giờ nào cô cũng đi nghe. Cô nghe nhiều cô hiểu, đâu cần đi tới đây cho cực, nhưng mà nhờ cô đi thì cô kéo theo nhiều Phật tử khác. Như cô Thanh là huynh trưởng đạo tràng Phước Đức, cô ở nhà tu cũng được, tại sao cô đi cho cực? Nếu cô ở nhà, thì mọi người đi một thời gian nản ở nhà hết.
Bồ-tát thị hiện trong cuộc đời này, các ngài hiểu hết, nhưng ngài Tu-bồ-đề hỏi: “Bạch Đức Thế Tôn, đời sau có người an trụ tâm hàng phục tâm phải làm như thế nào?” Ngài hiểu nhưng ngài hỏi cho người sau, hỏi cho chúng hiện tiền ở đó. Các ngài biết các ngài vẫn hỏi, đó gọi là trợ giáo cho đạo tràng. Mình không trợ duyên trợ giáo thì mai kia mình sanh ra đời trở thành người sống cô độc. Quý Phật tử nhớ, cô độc khác với cô liêu. Cô liêu là không dính mắc các pháp, còn cô độc là thui thủi một mình.
Nên nói:
Thầy là đỉnh núi cô liêu ngàn đời tịch mặc
Trò là con sông dài cuồn cuộn chảy ra khơi.
Đức Phật dạy, bố thí cúng dường mà không kêu gọi người khác hùn vào thì đời sau mình giàu mà sống cô độc. Kêu người ta bố thí cúng dường mà mình không bố thí cúng dường thì đời sau quyến thuộc rất đông nhưng mình nghèo. Nếu bố thí cúng dường và kêu gọi người ta thì đời sau mình giàu có và quyến thuộc rất đông.
Khi một vị Phật ra đời thì vô lượng kiếp các ngài cũng giống quý Phật tử, cũng từng tham gia các đạo tràng, cũng từng tu tập. Sư Ông Trúc Lâm, Sư phụ Thường Chiếu các ngài đã gieo duyên rất nhiều với chúng sanh cho nên đạo tràng bây giờ rất đông.
Khi hiểu Phật pháp thì mình đến đây gọi là trợ duyên, trợ giáo. Chẳng hạn mình đến đạo tràng này, xuống phụ nấu cơm để cho ba trăm ông Phật vị lai ăn. Còn ở nhà mình nấu cơm thì chỉ có chồng con ăn, ăn mà có khi còn sanh tật rượu chè cờ bạc. Mình đến đạo tràng nấu nồi nước hay nấu nồi cơm cũng đều là công đức viên mãn. Mình đến đạo tràng làm việc vì Phật pháp vì cộng đồng đó là bản nguyện của mình thành tựu đại Bồ- đề. Có ông cư sĩ đến hỏi thiền sư Vô Tướng:
– Tại sao muốn làm Phật thì phải phát nguyện, phải đi đạo tràng, phải tu tập?
Ngài trả lời:
– Giống như một cội cây, rễ cây là chúng sanh, hoa là hạnh Bồ-tát, quả là hạnh Phật. Bây giờ ông muốn ra hoa kết quả thì ông phải tưới nước gốc cây mỗi ngày.
Cùng đạo tràng tu tập tức là tưới gốc cây. Mình muốn quả mà gốc cây không chịu tưới, thì chừng một hai tháng nó chết.
Người xưa nói “Muốn trở thành bậc long tượng, trước phải làm trâu ngựa cho chúng sanh cỡi”, muốn làm Phật thì phải vượt qua những chướng duyên, cho nên muốn làm bậc long tượng trong thiên hạ thì phải để lưng của mình giống như trâu, ngựa cho người ta cỡi. Người làm huynh trưởng, người dẫn dắt đạo tràng cũng có những phiền phức nhưng tại sao người ta vẫn vui vẫn làm? Vì nhớ thệ nguyện, đại nguyện mà người ta làm. Mình hiểu như thế thì không phải mình tu cho mình mà dìu dắt cho những người khác. Kinh Hoa Nghiêm Phật dạy: “Này các tỳ-kheo! Bồ-tát phát nguyện đời đời kiếp kiếp làm một bậc đại y vương”, tức là làm thuyền trưởng đưa những con thuyền mắc cạn ra biển khơi.
Cho nên, có vị tăng đến viện Quan Âm gặp thiền sư Triệu Châu hỏi: Nghe danh cầu đá Triệu Châu đã lâu, đến đây chỉ thấy cây cầu gỗ.
Thiền sư Triệu Châu trả lời: Ông muốn biết cây cầu đá chăng?
Thế nào là cầu đá của Triệu Châu?
Độ lừa, độ ngựa, độ tất cả chúng sanh.
Câu 47: Sau khi tụng bài sám hối, đến phần phục nguyện có câu: “Cửa thiền thường nghiêm tịnh, toàn chúng mãi thuận hòa”, ở nhà con sửa lại “Toàn gia mãi thuận hòa” có được không?
đáp: Phục nguyện này của Sư Ông Trúc Lâm, rút tỉa trong phần Khoa Nghi Sám Hối của Vua Trần Thái Tông.
Quý Phật tử cố gắng phục nguyện cửa thiền thường nghiêm tịnh, bởi vì mình mong mỏi gia đình ra vào đều từ cửa thiền, tu tập được thanh tịnh giải thoát. Khi tâm thanh tịnh, Lục Tổ nói người này tuy ở nhà nhưng cũng giống như ở chùa. Còn chúng ta ở chùa mà nghĩ ở nhà thì cũng như ở nhà. Phục nguyện cửa thiền thường nghiêm tịnh, mình luôn luôn nhớ sáu cửa mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đều phóng hào quang từ cửa thiền. Mình mong mỏi gia đình từ trong cửa thiền trang nghiêm, thanh tịnh thì đúng lời Phật, đúng lời Sư Ông dạy. Đó là những lời tâm huyết mà Sư Ông đã đưa trong phần Khoa Nghi Sám Hối Sáu Căn.
Câu 48: Chúng con là Phật tử ở xa các thiền viện nhưng lại được nắm đường lối tu thiền của Hòa thượng Trúc Lâm rất rõ, nên con cũng biết điều tâm không theo vọng tưởng, ngồi thiền và xả thiền mà không thường xuyên. Vô chùa có gì vướng mắc con chỉ hỏi những người cư sĩ tu thiền lâu năm được không?
Đáp:
Quý Phật tử tuy ở xa các thiền viện mà cũng hiểu rõ đường hướng của Hòa thượng chỉ dạy, nhưng một hôm nào đó mình tu bị vướng mắc hoặc nghi ngờ gì đó, chúng ta hỏi những người đi trước mình, hỏi huynh trưởng, huynh phó, hoặc những người tu lâu năm. Có những người tu tập với Hòa thượng lâu năm, nếu chúng ta có thắc mắc mình đến hỏi cũng không sao. Nhiều khi gần thầy mình không dám hỏi nhưng huynh đệ thì dễ tâm sự hơn. Nếu huynh đệ giải quyết vấn đề cho mình mà trong đầu còn nghi thì mình chịu khó đón xe vào gặp sư phụ Thường Chiếu để giải mối nghi đó.
Câu 49: Thầy có dạy làm theo mục nữ trong kinh Địa Tạng nhưng con chưa được biết, con kính xin thầy từ bi hoan hỷ dạy cho con.
Đáp:
Trong kinh Địa Tạng diễn tả, người mẹ mục nữ trong cuộc sống đời thường bà tu tập với các Phạm chí Bà La Môn, phỉ báng con đường chánh pháp, không tin Phật pháp. Sau khi chết bà rớt trong đường khổ. Bà có một người con, cô đến Phật Giác Hoa Định Tự Tại để quán chiếu. Do năng lực của Đức Phật nên cô xuống được những chốn khổ đau nhất để gặp người mẹ khuyến khích tu tập.
Muốn cứu vớt những nhân duyên gia đình quyến thuộc thì quý Phật tử ráng tu tập giống như người mục nữ trong kinh Địa Tạng. Tất cả mọi người chúng ta có mặt trong cuộc đời này muốn cứu thoát thân bằng quyến thuộc thì chúng ta phải cố gắng tu tập để hồi hướng công đức lành này về cho những người thân của mình khi họ ra đi mà chưa biết Phật pháp. Mình phát nguyện lớn để gần gũi Tam bảo tu tập, gìn giữ phước đức trong tùng lâm. Phước đức của mình tăng trưởng thì khi hồi hướng công đức lành này đến cho người thân của mình rất có kết quả.
Câu 50: Trong lời Chí tâm phát nguyện có nguyện thứ tám là “Nghe suốt bỏ tam thiên”. Tại sao là nghe suốt bỏ tam thiên, xin thầy từ bi hoan hỷ chỉ dạy.
Đáp:
Trong mười hai nguyện của vua Trần Thái Tông, nguyện thứ tám là “nghe suốt bỏ tam thiên”. Trong kinh Pháp Hoa Đức Phật dạy rất rõ: “Tam giới vô an du như hỏa trạch.” Tam giới là tam thiên đại thế giới nằm trong lửa dữ thiêu đốt ngày đêm, dầu chúng ta sanh lên cõi trời Phi Phi Tưởng Xứ, tám mươi bốn ngàn đại kiếp trôi qua thì cũng rơi rớt trong con đường sanh tử luân hồi. Cho nên chúng ta học và nghe pháp mục đích là vượt thoát ba cõi, không dính mắc vào ba cõi: “tám nguyện nghe suốt bỏ tam thiên.” Cái đó giống như hòn bọt nổi trên biển cả mà chơn tâm bất sanh bất diệt của mình là biển cả. Chúng ta nghe pháp và tu tập để chứng nghiệm vào dòng giáo pháp để vượt thoát ba cõi. Mục đích trong lời phát nguyện là như thế.
Ở đây nói rõ thêm về con đường nhập thất, có một số Phật tử băn khoăn sợ nhưng mà tôi nói từ một ngày đến bảy ngày không có gì đâu, vào đó cũng giống như mình rửa bụi. Có một điều kiện là cư sĩ phải tu lâu năm, phải tha thiết. Nếu tâm ổn thì có thể vào nửa tháng hoặc hai mươi mốt ngày, cho nên đại chúng đừng có lo.
Chúng ta mở những cái thất thường là gần nhau chứ không xa. Một lần mở thường là ba hoặc sáu thất. Vào thất nam thì nam không, nữ thì nữ không, không có lẫn lộn. Chẳng hạn sáu cái thất kỳ này vào là sáu người nam, kỳ sau thì phải là sáu người nữ, chứ nam nữ vào thất gần kề nhau không tốt, kể cả người thân quyến thuộc của mình cũng không được. Đại chúng cố gắng duy trì tu tập thì mới có niềm tin với chánh pháp, chuyển hóa những nỗi khổ trong cuộc đời của mình.
Câu 50: Khi bị bóng người nhập vào thân thì phải làm cách nào để giải thoát?
Đáp:
Giống như nhà của mình bỏ hoang không có người ở thì người khác vào ở. Bởi vì tâm của mình:
Nghĩ vơ nghĩ vẩn không lúc nào dừng,
Mắc mứu tình trần kẹt tâm chấp tướng.
Như tằm kéo kén càng buộc càng bền,
Như bướm lao đèn tự thiêu tự đốt.
Mình nghĩ lung tung thì tâm hở trống và có cảm duyên với loài nào thì loài đó gá vào để ở hoặc đi đến chùa để tu. Bởi vì sinh thời những người này cũng có tu nhưng phạm vào những giới của nhà Phật nên không được làm thân người, không được làm những vị thần. Họ là những cái bóng vất vưởng rớt trong loài tinh mị chớ không phải loài ngạ quỷ. Đại chúng coi trong kinh Lăng Nghiêm, có những người già chết thành tinh gọi là tinh mị, họ gá vào bóng cây, nương vào cây cỏ. Khi biết họ gá vào mình thì mình đến chùa gặp chư tăng nhờ các ngài cầu siêu cho những thần thức đó, hoặc thường xuyên tu tập, sám hối, tọa thiền, thành tâm thì những loài đó cũng cảm được. Ở đây chúng tôi gặp rất nhiều trường hợp đó. Loài đó họ cũng rất có trật tự, chẳng hạn họ nương tựa về thiền viện để tu thì họ cũng giữ những quy chế trong thiền môn chứ không phải họ muốn đi đâu thì đi.
Nói chung gặp trường hợp này khi mình hiểu nguyên nhân rồi thì cố gắng đến chùa sám hối, tu tập, khởi lòng từ bi, phóng sanh hồi hướng thì từ từ sẽ hết.
Câu 52: Xin Thầy giảng cho hiểu ý nghĩa của câu “Đất trên đầu ngón tay và đất trên quả địa cầu” khi Phật hỏi đại chúng?
Đáp:
Một hôm khi đại chúng vân tập đầy đủ, Đức Phật lấy một miếng đất trên đầu ngón tay hỏi:
– Này các tỳ-kheo! Đất trên đầu ngón tay ta nhiều hay đất trên quả địa cầu này nhiều?
Đại chúng nói:
– Đất trên đầu ngón tay của Như Lai rất ít mà đất ở địa cầu rất nhiều.
Phật nói:
– Những người sanh trong thiện cảnh, thiên giới hoặc sanh làm người giống như đất trên đầu ngón tay, còn những người đọa xuống ba đường khổ thì nhiều giống như đất ở quả địa cầu.
Giống như kim cương không bao giờ hấp thụ đất, trên đầu mũi kim cương không bao giờ có đất, những người tin theo pháp tối thượng thừa, tin theo pháp đại thừa rất là hiếm. Tức là mình có chủng duyên sâu dày nhiều đời nhiều kiếp phát nguyện, thọ trì hoặc tu tập như thế nào thì đời này mình mới có nhân duyên ngồi thiền, biết sám hối, biết nghe pháp. Nghe pháp mà không có run sợ, chẳng hạn như nghe nói mình làm Phật mình vui, thích thú chứ không có sợ hãi thì gọi là có chủng duyên. Trong nhiều đời kiếp mình gieo hạt giống tối thượng thừa, chỉ cho một cảnh giới siêu xuất mà mình có niềm tin.
Thiền sư Đại Mai đến hỏi ngài Mã Tổ:
– Thế nào là Phật?
Mã Tổ nói:
– Tức tâm là Phật.
Ngài về núi tu ba mươi năm. Một hôm ngài Mã Tổ sai ông tăng đến nói:
– Bây giờ Hòa thượng không nói tức tâm tức Phật nữa mà nói phi tâm, phi Phật, phi vật.
Thiền sư Đại Mai nói:
– Mặc kệ ông già nói mớ ta cứ tức tâm tức Phật.
Khi trình Mã Tổ nói “Đại chúng! Trái mai đã chín”.
Tức là có niềm tin tâm mình là Phật thì chuyện đó rất hiếm giống như đất trên đầu mũi kim cương.
Câu 53: Trong mười hai lời nguyện của vua Trần Thái Tông thì thập địa là gì?
Đáp:
Thập địa tức là Thập địa Bồ-tát: thập hạnh, thập trụ, thập hồi hướng, tứ gia hạnh, thập địa, đẳng giác, diệu giác … có nghĩa là tâm luôn hướng đến con đường Bồ-tát đi. Trong lộ trình Bồ-tát phải đi phải qua con đường thập địa rồi lên đẳng giác và diệu giác tức là vô thượng chánh đẳng chánh giác nghĩa là thành Phật. Tâm phải luôn luôn thú hướng. Muốn đi trên con đường thập địa này chúng ta phải tu về pháp Lục độ: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ. Khi qua lộ trình đó thì con đường thập địa sẽ đến và từ con đường thập địa chúng ta bước lên con đường đẳng giác và diệu giác.
Lục độ tưởng đâu phải làm cho đủ hết các công hạnh nhưng trong sáu công hạnh đó chỉ một công hạnh mình làm đủ, làm tròn thì năm hạnh kia đến cùng một lúc. Tùy theo công hạnh của mình chứ không phải bắt buộc làm hết sáu công hạnh đó.
Ví dụ khi ngồi thiền thì bất thình lình có một con muỗi nhỏ đậu trên tay, mình nghĩ đập nó chết thì tội quá vì nó cũng là chúng sanh cho nên mình bố thí không đập nó là trì giới. Nó cắn mình đau mà chịu được là nhẫn nhục. Nhẫn nhục để vượt qua giờ ngồi thiền một tiếng gọi là tinh tấn. Trong tinh tấn có thiền định và trí huệ, cái gì thấy được những điểm đó. Lục độ Ba-la-mật thành tựu trong một con muỗi. Nhưng mình làm không được. Đạt đến chỗ vong ngã tức là quên cái ngã này rồi thì mình làm được dễ dàng. Chúng ta nắm được pháp thì thấy tu rất đơn giản.
Câu 54: Xin thầy giảng về ý thiền của bài kệ sau:
Người xây thành bằng đá,
Kẻ đào ao thả cá,
Ta chỉ là chiếc lá,
Phận của lá là sao?
Đáp:
Người xây thành bằng đá nghĩa là dầu cho xây bất cứ công trình nào, chùa tháp hay công trình thiên niên kỷ thì bản chất nó là thành, trụ, hoại, không; sanh, trụ, dị, diệt.
Xây thành quách kiên cố bao nhiêu cũng không bằng đào ao thả cá phóng sanh. Đào ao thả cá phóng sanh cũng không bằng phát nguyện làm một chiếc lá, chiếc lá này lớn lên, già rụng xuống làm phân rồi đi lên làm chiếc lá, đi mãi trong cuộc đời này để nhiếp phục, hóa độ chúng sanh. Dầu cho xây thành bằng đá, đào ao thả cá không bằng phát nguyện là một chiếc lá đi vào trong cuộc đời này để làm vơi bớt nỗi khổ chúng sanh.
Câu 55: Sau khi chết gọi là linh hồn hay thần thức?
Đáp:
Có những tôn giáo nói có linh hồn nhưng nhà Phật không chấp nhận. Nói về người phàm, trong nhà Phật gọi là thần thức, người mới xuất gia thọ giới gọi là chơn linh, người tu lâu gọi là giác linh, nói khác hơn là cái biết hay cái tâm chứ không có nói linh hồn. Không ai sanh ra thần thức mà do nghiệp lực của chúng sanh kết tụ gọi là vô thủy vô chung, tức là không có ngằn mé. Cho nên nhà Phật bắt buộc mình luôn luôn sống trong giờ phút thực tại để mình chuyển hóa, làm cho tâm trong sáng, thanh tịnh để không rớt xuống những đường khổ, đó là việc cấp bách nhất.
Trong kinh Tương Ưng Bộ kể: Vào thời Đức Phật, có một thầy tỳ-kheo đến hỏi Đức Phật:
– Bạch Đức Thế Tôn, thế giới này là hữu biên hay vô biên, thế giới này còn hay là mất? Sau khi chết rồi thần thức sanh về đâu? Thần thức có trở lại không? Ai sẽ sanh ra thần thức?”
Phật im lặng không trả lời. Vị tỳ-kheo nói:
– Thế Tôn không trả lời những câu hỏi này, con sẽ cởi bỏ y áo con hoàn tục không tu nữa.
Đức Phật nói:
– Khi ông vào xuất gia với tôi, ông có nói là tôi sẽ phải trả lời những câu hỏi này, nếu tôi không trả lời thì ông không tu, ông có nói vậy không? Mà ban đầu vào đây ông hỏi tôi “Bạch Đức Thế Tôn cuộc đời này quá khổ, làm sao để chấm dứt sự khổ đau?” Tôi chỉ ông con đường, đó là Tứ Diệu Đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Nguyên nhân nào gây khổ? Tham sân si. Con đường đi là ba mươi bảy phẩm trợ đạo, chấm dứt con đường đó là có niết-bàn, chấm dứt con đường khổ đau. Tôi chỉ dạy cho ông chớ đâu có nói với ông về thế giới hữu vi vô vi, hay thần thức này ai sanh.
Nói cái đó ra thì mình cũng chạy theo những vọng tưởng điên đảo, mà ngay trong giờ phút thực tại này cái gì làm cho mình khổ để mình tu tập. Chấm dứt cái khổ, thì niết-bàn có mặt. Tinh thần của nhà Phật, nhà thiền không đưa mình vào chỗ viễn vông, mơ mộng không có chứng cứ.
(Còn cập nhật)
🌿 Quý Phật tử thương mến, Sư ông Trúc Lâm có dạy:
“Bố thí TÀI chỉ giúp người bớt khổ trong giai đoạn hiện tại. Còn bố thí PHÁP chẳng những giúp người hết khổ trong hiện tại mà mãi về sau cũng không còn khổ nữa, đó là điểm sâu xa.”
🙏 Nếu thấy những lời pháp nơi đây mang lại lợi lạc, xin mời quý vị cùng nhau chia sẻ như một cách bố thí pháp – gieo duyên lành cho nhiều người.
🙏 Nếu được lợi ích trong việc tu tập, nguyện công đức này xin hồi hướng lên Nhị vị Hòa Thượng Tông Sư bệnh duyên dứt sạch, thân tâm tự tại cửu trụ nơi đời, làm bóng cây che mát cho hàng hậu học chúng con.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo