Ý NGHĨA MỘT LOÀI HOA

Sống trong cuộc đời này, đa phần ai cũng có những nỗi khổ, nghịch duyên, nhưng mình than nghiệp dày quá, tu bao nhiêu năm mà vẫn khổ. Hôm nay chúng tôi tha thiết mong đại chúng lắng tâm nghe Pháp để rồi chiêm nghiệm lại xem thử mình có phước hay vô phước. Nghe bài Pháp này rồi, mình thấy sự có mặt trong cuộc đời này có giá trị và ý nghĩa rất lớn, chứ không như mình nghĩ, mình ra đời không có ý nghĩa gì hết.
Tôi nhấn mạnh điểm này vì hôm nay là ngày kỷ niệm Đức Phật đản sanh, chúng tôi chia sẻ cho Quý Phật tử về một ý nghĩa lớn với đề tài: Ý Nghĩa Một Loài Hoa.
Có những loài hoa chúng ta bỏ tiền mua về và bỏ công chăm sóc nhưng chúng không có ý nghĩa gì. Nhưng loài hoa này, theo Kinh cổ đại Ấn Độ, mỗi khi xuất hiện là có bậc thánh nhân hoặc bậc chuyển luân thánh vương ra đời. Tuy nhiên phải đến ba ngàn năm loài hoa này mới xuất hiện một lần. Đó là hoa Ưu đàm. Loài hoa này rất thơm, các loài hoa mình có ở đây cũng thơm, nhưng hương hoa chỉ tỏa ra trong khoảng cách ngắn. Thí dụ hoa nguyệt quế ở trong nội viện rất thơm, nhưng mùi thơm không bay ra tới nhà khách. Hương hoa Ưu đàm thơm đến mức độ Phật từng dạy trong Kinh Pháp Cú:
Hương các loài hoa thơm,
Không bay ngược chiều gió.
Hương của người đức hạnh,
Ngược gió khắp tung bay
Chỉ có bậc chân nhân
Tỏa khắp mọi phương trời.
Hoa trồng ở đây tỏa hương thơm nhưng người ở Sài Gòn không biết. Còn người làm việc vì lợi ích cho tất cả mọi người, thì đức hạnh, sự cống hiến của người đó dù ở Sài Gòn, Nha Trang … người ta cũng biết. Cho nên hương này đặc biệt, đó là hương của người đức hạnh.
Đức Phật có mặt trong cuộc đời này để thành Phật, quả vị tối thượng cuối cùng, là phải đủ một trăm Pháp Ba-la-mật. Sinh ra là một người bình thường đã khó huống chi sinh ra một vị Phật. Kết tinh thân ngũ uẩn của một Đức Phật ra đời phải gọi là công đức, vô lượng diệu hạnh. Chúng ta ngày hôm nay có mặt trong cuộc đời này có sáu căn đầy đủ, nghe được diệu pháp, như Đức Phật nói: “Này các Tỳ-kheo! Chúng sanh này đã từng cúng dường vô lượng chư Phật cho nên mới được hình hài này, mới được nghe diệu pháp.”
Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy:
Khó thay được làm người,
Khó thay được sống còn,
Khó thay nghe diệu pháp,
Khó thay Phật ra đời.
Phật nói: “Này các Tỷ-kheo! Ở đời này có bốn cái khó:
– Khó thứ nhất là khó được làm người.
– Khó thứ hai là được sống còn.
– Khó thứ ba là được nghe diệu pháp.
– Khó thứ tư là Đức Phật ra đời.”
Bây giờ nghiệm lại, mình được mấy điều? Ba điều: Được làm người, được sống còn, được nghe diệu pháp. Qua trận dịch Covid-19 mà mình còn được sống. Tôi cũng bị Covid, nếu không may mắn được sống thì hôm nay đâu có ngồi cùng quý Phật tử nói chuyện. Phật nói trong Kinh Tương Ưng Bộ: “Được làm thân người khó như con rùa mù tìm bọng cây.”
Chẳng hạn như mình về biển Phan Thiết, thấy trên biển nổi lên một cái bọng cây. Gió thổi cuồn cuộn bốn hướng, cái bọng cây trôi giạt Đông, Tây, Nam, Bắc chớ không đứng yên một chỗ. Giữa biển có con rùa mù đang hết sức khó khăn tìm bọng cây để vào trú ẩn, vì gió thổi liên tục thì cái bọng cây cũng di chuyển liên tục. Phật nói được làm người khó như là con rùa mù tìm được bọng cây giữa biển vậy. Mình đang làm người mà không thấy giá trị đang được sống, được nghe Pháp, được tu tập. Tôi tu đúng ba mươi năm rồi mới thấy được giá trị của sự tu, chớ ngày xưa tôi không thấy. Bây giờ tôi biết rồi, tôi nói để Phật tử đừng có lầm như tôi.
Trong thiền thoại kể câu chuyện:
Tổ Xà Dạ Đa chứng được thiên nhãn thông nên Ngài thấy hết các loài ngạ quỷ mà mắt phàm không thấy. Một hôm có việc đi vào thành, Ngài gặp con quỷ ốm chỉ còn bộ xương. Nó khóc, nói với Ngài:
– Thưa Ngài, xin Ngài từ bi thương xót dẫn con ra thành.
Tổ nói:
– Cửa thành lúc nào cũng mở cần gì dẫn.
– Con vào thành kiếm thức ăn cho con của con còn ở ngoài thành. Giành giựt mấy ngày nay mới được chút thức ăn, nhưng chuẩn bị ra khỏi thành thì mấy con quỷ lớn giựt hết.
– Thức ăn của con là gì? Tổ hỏi.
Con quỷ xòe bàn tay ra, thức ăn của nó là máu mủ của người bị bệnh ung thư, nhưng khi ra tới cổng là bị những con quỷ khác giành hết.
Tổ hỏi:
– Con của con bây giờ đang ở đâu?
– Nó đang ở ngoài thành.
– Con vào trong thành này tìm thức ăn bao lâu rồi?
– Thưa Ngài, từ khi con vào thành kiếm thức ăn, con nhớ cái thành này đã bảy lần xây lên, bảy lần sập xuống.
Cái nhà mình xây lên, cho là một trăm năm sẽ sập. Cái thành bên Ấn Độ xây một ngàn năm sau mới sập. Như vậy là bảy ngàn năm! Nghe vậy sợ rồi về phải tu thôi, không suy nghĩ nữa. Về nhà bước vô cửa, ông chồng nói: “Bà sáng giờ đi đánh bài phải không?” Mặc kệ không cãi chi nữa. Nghe rớt trong loài quỷ bảy ngàn năm, hơi sức đâu mà cãi, bây giờ chỉ muốn tu thôi.
Khi Ngài đưa được quỷ mẹ ra cho đứa con ăn, rồi Ngài đi một đoạn đường thấy con quạ đậu trên cây, Ngài mỉm cười. Đại chúng thấy vậy mới hỏi, tại sao Ngài mỉm cười. Ngài nói đó chính là con của Ngài. Chín mươi chín kiếp về trước lẽ ra Ngài đã xuất gia trong kiếp đó và chứng quả, nhưng người vợ không muốn cho chồng đi xuất gia nên kêu đứa con đến ôm chân khóc nói: Cha đi rồi ai nuôi con. Do luyến ái, Ngài thương con nên ở lại gần bốn mươi kiếp. Bây giờ Ngài chứng quả thành Tổ rồi mà đứa con của Ngài vẫn còn là súc sinh!
Tôi kể thêm một câu chuyện:
Sau khi Phật nhập Niết-bàn khoảng một trăm năm, ở nước Kế Tân có Tỳ-kheo tên là Đạt Ma Mật Đa. Ngài chứng quả vô sanh, quả A-la- hán, là bậc thượng thủ trong vùng đó, đạo cao đức trọng, ai cũng quý kính. Một hôm có hai thầy Tỳ-kheo ở nước kế bên, nghe đức của Ngài lớn quá nên tìm đến. Hai thầy vào một tinh xá, không thấy ai nên đi thẳng xuống bếp, thấy một thầy Tỳ-kheo mặc áo rách rất lam lũ đang ngồi quạt lửa ba cái lò để nấu cơm cho gần sáu trăm chúng. Hai thầy Tỳ-kheo đến hỏi:
– Bạch Thượng tọa, Thượng tọa có biết một vị Trưởng lão tên là Tỳ-kheo Đạt Ma Mật Đa không?
– Hai ông tìm có chuyện gì?
– Chúng tôi nghe đức tu của Ngài lớn quá nên muốn đến đảnh lễ.
– Ông Tỳ-kheo đó đang ở trên tầng ba, các ông lên đó gặp.
Vị thầy nấu cơm dùng thần thông đi lên, khi hai vị khách lên đến tầng ba thì thấy Ngài đang ngồi đợi. Hai vị khách ngạc nhiên:
– Thưa Ngài, Ngài là Viện trưởng, đã lớn tuổi, sự tu tập chuyển hóa cũng như sự giáo hóa đồ chúng của Ngài cả vùng này ai cũng biết, sao Ngài phải tự mình nấu cơm cho đại chúng? Việc đó cư sĩ làm cũng được.
Ngài nói:
– Giả như ta chặt hai cánh tay, hai cái chân đem làm củi nấu cơm cho đại chúng, ta thấy cũng chưa đủ, huống chi chỉ là ngồi quạt lò nấu cơm.
– Tại sao Ngài lại có ý nghĩ dùng tay dùng chân chụm lửa mà còn cho là chưa đủ?
– Khi ta chứng được thần thông, nhìn lại quá khứ mới phát hiện ra mình năm trăm đời làm chó, mà chỉ được hai lần no đủ! Lần thứ nhất đói quá, bất ngờ có một người say rượu ói ra nên ăn được một bữa no. Lần thứ hai ở trong gia đình hai người nông dân nghèo. Bữa nọ người chồng làm thuê được nắm gạo, ông về nấu nồi cháo xong hai vợ chồng có việc đi ra ngoài. Lúc đó đói quá, con chó thọc đầu vào nồi cháo, ăn no rồi rút đầu ra không được. Người chồng về giận quá, lấy dao chặt rớt cái đầu con chó. Như vậy năm trăm đời làm chó, một lần no là nhờ người ta ói ra mới có ăn. Lần thứ hai được no rồi chết. Bây giờ tôi sợ lắm, tôi làm tất cả mọi việc cho đại chúng mà không suy nghĩ gì.
Cho nên Phật nói, khó thay được làm người. Đức Phật nói, mình chỉ cần cắm một cây kim xuống đất là thân xác mình ở đó.
“Này các Tỳ-kheo! Như Lai xác chứng được rằng cứ mỗi cây kim cắm xuống đất là một thân của Như Lai, đầy khắp hết tất cả các cõi khi Như Lai thọ thân qua các uẩn xứ.”
Như Lai còn xác chứng thọ thân qua các cõi như vậy, huống chi là mình.
Trong Kinh Tăng Chi Bộ:
Một hôm Đức Phật đến một khu rừng gặp ba mươi thầy Tỳ-kheo. Phật nhìn thấy những vị này còn vướng mắc về thọ mạng, về ái nhiễm, nghĩ rằng mình còn sống dài, sống lâu cho nên không chứng quả được. Phật biết trong ngày hôm nay ba mươi thầy Tỳ-kheo này sẽ chứng quả. Ngài tập hợp các thầy lại để khai thị:
– Này các thầy Tỳ-kheo, nước mắt của các ông nhiều hay nước bốn biển nhiều?
– Bạch Đức Thế Tôn, nước trong bốn biển nhiều hơn nước mắt của chúng con.
– Mấy ông nói chưa đúng. Như Lai xác chứng được rằng nước mắt của các ông nhiều hơn nước trong bốn biển. Các ông khóc cho cha, cho mẹ, cho người thân, trải dài vô lượng kiếp, bây giờ gom lại nhiều hơn nước trong bốn biển. Này các thầy Tỳ-kheo! Máu của các ông nhiều hay là nước con sông Hằng cuồn cuộn chảy về xuôi nhiều hơn?
Các thầy Tỳ-kheo bây giờ mới xác chứng:
– Bạch Đức Thế Tôn! Chắc chắn máu của chúng con nhiều hơn nước con sông Hằng cuồn cuộn chảy về xuôi.
– Này các Tỳ-kheo, như vậy chừng đó đủ rồi, đủ rồi, chừng đó đủ để các ông giải thoát tất cả các hành.
Tức khắc ba mươi thầy Tỳ-kheo ngay giờ phút đó chứng quả A La Hán.
Sau khi các thầy Tỳ-kheo chứng quả A-la -hán, Phật nói bài kệ trùng tuyên:
Ôi luân hồi dài dài,
Bao lần máu tuôn chảy,
Bao lần giáo gươm đâm,
Khi ta làm heo dê.
Phật nói máu của mình tuôn chảy vì bị giáo gươm đâm không biết bao nhiều lần khi mình làm các loài súc sinh.
Bây giờ mình được làm người, một khi lỡ mất thân người rất khó tìm lại được. Tại sao khó? Con heo, con gà, con bò, con chó, con ngựa nó không biết thân phận nó. Chỉ có con khỉ, con tinh tinh là biết chút chút. Thân phận nó không biết, cái tâm nó cũng mờ mịt luôn. Cho nên những con thú kiếm ăn no bụng xong rồi ngủ. Con người kiếm ăn no bụng xong rồi còn kiếm để dành gọi là tích chứa, vì con người biết không dự trữ thì sẽ đói. Con người biết rõ thân phận mình mà không biết cái tâm. Cho nên mình sống như thế nào để người ta nói là mình là “người”, chứ không là “con”. Mình sống dở quá, mình ích kỷ, xan tham thì gọi là “con”. Còn mình bao dung tha thứ, giúp đỡ người khác thì gọi là “người”.
Bao lần máu tuôn chảy,
Bao lần giáo gươm đâm,
Khi ta làm giặc cướp.
Và đây tìm khắp chốn,
Không một chúng sanh nào,
Chẳng phải cha mẹ ta,
Không một chúng sanh nào,
Chẳng phải bạn bè ta.
Này hỡi các hiền hữu,
Chừng ấy đủ cho ta,
Cảm nghiệm bao thống khổ,
Chừng ấy đủ cho ta,
Thương xót tất cả loài.
Đức Phật xác nhận rằng tìm khắp chốn, người nam ai cũng là cha, người nữ ai cũng là mẹ mình, và tất cả mọi người đều là bạn bè mình. Nghe vậy mình không còn dám thị phi, hơn thua phải quấy, chửi rủa ai nữa vì ai cũng là cha mẹ, bạn bè của mình hết. Chừng đó đủ cho mình cảm nghiệm những thống khổ trong cuộc đời. Tôi năm nay năm mươi ba tuổi, bây giờ tôi ngồi suy nghiệm lại, khổ nhiều mà vui rất ít. Nếu chúng ta không khéo tu, thì cảm nghiệm những thống khổ sanh tử dài triền miên phải nói là khủng khiếp.
Cho nên Phật nói:
Khó thay được làm người,
Khó thay được sống còn.
Có người chết trong bào thai, có người ra khỏi bào thai một tuổi chết, có người tám, chín, mười tuổi chết. Cắt đứt mạng căn làm sao mình tu. Được sống còn là may mắn. Được làm người sáu căn đầy đủ, được nghe diệu pháp và được quy y Tam Bảo là phải biết rằng mình đã kết tụ những phước báo từ vô lượng kiếp. Khó lắm chứ không phải dễ.
Trong bài kệ Khuyên Đời Vào Đạo của Tuệ Trung Thương Sĩ:
Thời tiết xoay vần Xuân lại Thu
Xăm xăm tuổi trẻ đã bạc đầu.
Giàu sang nhìn lại một trường mộng
Năm tháng ôm suông muôn hộc sầu.
Nẻo khổ luân hồi xe chuyển bánh
Sông yêu chìm nổi tợ bọt chùm.
Gặp trường chẳng chịu sờ lên mũi
Muôn kiếp duyên lành chỉ thế thôi.
Gặp trường là gặp môi trường, gặp điều kiện tu tập mà mình không chịu dấn thân, không có sức chuyển hóa lớn, nên Ngài nói là “muôn kiếp duyên lành chỉ thế thôi.” Duyên lành đến một lần chứ không đến hai lần. Mình không chịu gắng gổ thì nó mất.
Phật nói tiếp:
Khó thay nghe diệu pháp.
Khó thay Phật ra đời.
Kinh Tăng Chi Bộ chương Một Pháp ghi:
“Một người, này các Tỳ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người. Một người đó là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.”
Đức Phật ra đời đem lại hạnh phúc, an lạc không những cho loài người mà cho cả chư thiên. Như vậy, khi mình đem lại lợi ích, an lạc cho người thân, cho xã hội thì mình biết rằng ông Phật của chính mình xuất hiện. Còn mình bực tức nhục mạ, chửi rủa người ta thì ông Phật của chính mình nhập diệt.
Tại sao mình ra đời không gọi là Đản sanh mà chỉ có Phật ra đời mới gọi là Đản sanh? Chữ “Đản” dịch ra nghĩa tiếng Việt: rõ ràng, minh bạch, xán lạn, tươi đẹp, vui mừng, hạnh phúc. Khi mình có chánh niệm tỉnh thức, rõ ràng sáng suốt, thì đúng là Phật Đản sanh, chứ không phải đến ngày mười lăm tháng tư hay ngày mùng tám tháng tư. Mình tu được an ổn, tự nhiên khuôn mặt sáng láng thì biết là Phật của mình hiển hiện. Tâm khinh an, hoan hỉ cho nên hạnh phúc có kế bên, mình thấy cảnh tươi đẹp thong dong, cuộc sống này đáng sống. Hạnh phúc của người tu là thong dong, tự tại, khinh an, an ổn. Còn mình bực tức, cau có, khó chịu là biết không có Phật. Tâm kết tụ hình thành nên cái tướng.
Một hôm có ông Phạm Chí Bà-la-môn đến gặp Phật:
– Thưa Sa-môn Cồ Đàm, tôi nghe Sa-môn Cồ Đàm có những triết lý rất là vi diệu. Tôi đến chỉ hỏi Sa-môn Cồ Đàm một câu thôi, nhờ Ngài chỉ cho tôi.
– Ông cứ hỏi.
– Thưa Sa-môn Cồ Đàm, tôi muốn hạnh phúc.
Phật nói:
– Dễ lắm. Ông muốn hạnh phúc phải không? Ông bỏ chữ “tôi” xuống.
“Tôi” là gì? “Tôi” là cái ngã của mình. Ai đụng vào cái ngã là mình nổi sân, bực tức, cau có, khó chịu, tức tối nổi lên thì không có hạnh phúc. Muốn hạnh phúc phải bỏ cái “tôi”.
Dưới đây là câu chuyện có thật:
Hai vợ chồng ở miền Tây đang ngồi ăn cơm trên sàn nhà thì thấy con chuột chạy ngang. Người vợ nói con chuột chạy xuống giường, chồng thì nói con chuột chạy lên bàn thờ. Ai cũng cho mình đúng, không ai chịu nhường ai nên quyết định ly hôn mặc dù mới cưới nhau được một tuần. Cha mẹ khuyên người chồng là đàn ông nên nhường nhịn vợ. Anh chồng nghe lời, về nói với vợ rằng con chuột nhảy xuống giường hay lên bàn thờ cũng được. Người vợ cũng không chịu:
– Bữa đó rõ ràng ông thấy nó xuống giường mà sao cứ nói nó lên bàn thờ?
– Bà đui thì có! Tôi thấy nó chạy lên bàn thờ mà sao bà nói xuống giường?
Trong cuộc sống này chúng ta sẽ thấy rất nhiều con chuột. Nếu không khéo, những con chuột như vậy sẽ làm cho mình bất ổn. Do cái gì? Do chấp ngã thôi. Do chấp ngã nên mình dính mắc. Ngã nhiều chừng nào mình khổ nhiều chừng đó. Cho nên Phật bảo ông Bà-la-môn bỏ cái “tôi” đi.
Phật tiếp tục dạy ông Bà-la-môn:
– Nếu ông thấy người hàng xóm cất cái nhà đẹp, ông muốn cất cái nhà đẹp hơn, ông bỏ cái “muốn” đi. Ông bỏ chữ “tôi”, ông bỏ chữ “muốn” thì hạnh phúc kế bên.
Đơn giản như vậy mà mình làm không được.
Trong Kinh Trung Bộ dạy:
Khi Bồ-tát nhập vào thai mẹ, mẹ Bồ-tát giữ giới một cách tự nhiên: không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Giữ giới một cách tự nhiên mà chưa từng được nghe dạy về giới, bởi vì Đức Phật ra đời mới có giới này. Đức Phật chưa ra đời mà bà đã giữ được, minh chứng là do thai nhi.
Ngược lại, bà Vi Đề Hy khi mang thai vua A Xà Thế bà rất thèm máu của vua Tần Bà Sa La. Thèm đến tiều tụy vì bà ăn không được, ngủ không được. Vua Tần Bà Sa La ngạc nhiên hỏi, bà khóc nói với vua là không hiểu sao bà thèm máu của vua. Vua thấy bà tiều tụy quá bèn lấy dao cắt tay cho máu chảy ra, bà mút chỗ máu đó bà mới tỉnh. Vua ngạc nhiên cho mời các nhà chiêm tinh, các vị chiêm tinh nói đứa bé này còn nhỏ mà thèm máu bệ hạ như vậy chắc chắn là khi lớn lên nó sẽ giết bệ hạ. Họ khuyên vua nên bỏ đứa bé này. Nhà vua đã quy y Tam Bảo nên không nghe theo lời khuyên của các vị chiêm tinh. Quả thực, khi lớn lên, vua A Xà Thế bắt vua Tần Bà Sa La bỏ ngục và hành hạ cho đến chết.
Qua việc này đại chúng thấy khi người mẹ mang thai mà có sự kiện gì, là biết đứa con đến với mình nó có phước hay không có phước. Có những người sanh con ra bắt đầu làm ăn khấm khá là do phước của đứa bé. Cũng như Thiện Tài Đồng Tử khi sanh ra, tự nhiên ai thiếu nợ gia đình người ta đều đem trả hết.
II. Những điều đặc biệt khi Bồ-tát sanh ra
Điều đặc biệt thứ nhất: là “sự kết tinh vô lượng phước báo, nên khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt nào, không bị nhiễm ô bởi loại máu mủ nào, … thanh tịnh, trong sạch.” 
Mình sanh đứa con, máu, nước nhờn, nước nhớt là kết tinh của nghiệp lực, nó đầy đủ thứ trần gian gọi là trần sa hoặc. Ví dụ có hai người, mỗi người ở trong một cái thất. Một người ăn cá thịt, hành tỏi ngũ vị tân đủ hết. Còn người kia chỉ ăn rau củ. Sau một tháng mình bước vô phòng sẽ thấy khác nhau. Phòng của người ăn ngũ vị tân có mùi nặng nề không thanh tịnh như phòng của người chỉ ăn rau củ. Thức ăn và sự tu tập của mình phóng ra năng lượng. Cho nên mình thấy có những người mới đến đầu làng là chó đã sủa inh ỏi, bởi vì năng lượng người đó phát ra, nó biết được người này đã từng giết chó hoặc ăn thịt chó.
Năm uẩn của Đức Phật thanh tịnh trang nghiêm, được kết tinh từ vô lượng thanh tịnh, vô lượng diệu pháp. Vô lượng, vô lượng kiếp mới hình thành một con người như thế, cho nên khi ra đời không có máu mủ dơ bẩn. Mình ráng tu tập và trưởng dưỡng để kết tinh những năng lượng trong sạch ngay thân năm uẩn của mình.
Đức Phật đưa ví dụ: “Ví như một viên ngọc ma ni bảo châu đặt trên một tấm vải Ba-la-nại, viên ngọc không làm nhiễm ô tấm vải Ba-la-nại, tấm vải cũng không làm nhiễm ô viên ngọc. Vì sao? Vì cả hai đều thanh tịnh.”
Viên ngọc ví dụ cho Đức Phật, tấm vải ví dụ cho người mẹ. Trước khi xuống cuộc đời này, Đức Phật nhìn xem ai đủ nhân, đủ duyên là mẹ của Như Lai. Người này phải thanh tịnh nhu nhuyến, nhiều đời làm những công hạnh tốt mới mang được hình hài của một vị Phật. Cho nên cả hai đều thanh tịnh hết. Khi bà Ma Gia phu nhân mang thai Đức Thế Tôn, lạ một điều là bà không khởi dục nhiễm nữa, cho nên bà thanh tịnh mà hình hài Đức Thế Tôn cũng thanh tịnh.
Điều đặc biệt thứ hai: Bồ-tát Sĩ Đạt Đa sanh ra đời không như mình. Mình sanh ở nhà hoặc ở bệnh viện, còn Đức Phật nào cũng đều sanh dưới cội cây Vô ưu. Vô ưu tức là không còn phiền não, không còn ô nhiễm. Cuộc đời Đức Phật thị hiện toàn ở gốc cây, sanh ra dưới cội cây Vô ưu, thành đạo dưới cội cây Bồ-đề, chuyển pháp luân trong vườn Lộc Uyển, nhập Niết-bàn dưới gốc cây Sa-la.
Liên Hợp Quốc nói:
Sự sống của vạn vật trong vũ trụ bắt nguồn từ cây cối.
Điều đặc biệt thứ ba: Khi Bồ-tát sanh ra đời có hai dòng nước từ hư không hiện ra để tắm cho Bồ-tát, một dòng nước lạnh, một dòng nước nóng. Trong Kinh diễn tả nước lạnh thì cực lạnh, nước nóng thì cực nóng. Như vậy một đứa bé sơ sinh mới ra đời sao chịu nổi? Ý nghĩa ở đây là sống trong cuộc đời này nếu mình vượt qua được cái nghịch và cái thuận thì mình là Phật. Nghịch là nước nóng, thuận là nước lạnh. Không vượt được thuận nghịch thì mình là chúng sanh. Nghe người ta khen mình vui, chê mình buồn thì mình là chúng sanh chứ không làm Phật được.
Trong thiền thoại có ghi:
Trời đêm khuya thanh vắng, bậc tam cấp ở trước chánh điện cảm thấy buồn, nó mở cửa chánh điện hỏi tượng Phật:
– Tôi thắc mắc, ông là đá, tôi cũng là đá. Ông là đá hoa cương, tôi cũng là đá hoa cương mà sao ai cũng giẫm lên mình tôi, vừa giẫm đạp vừa khạc nhổ. Còn ông thì người ta lạy lục cúng dường cam, bưởi, xoài, bánh đủ hết. Tôi thấy bất công quá. Ông đừng nói nhân quả tôi không tin đâu. Rõ ràng nhân ông là đá, tôi cũng là nhân đá, tại sao ra cái quả này?
Tượng Phật nói:
– Ông nói đúng, tôi và ông đều là đá. Nhưng người ta chỉ chặt hai ba nhát dao là ông đã thành hình. Còn tôi bị đục đẽo, mài giũa trăm ngàn vạn mũi dao đau không chịu nổi mới được thành hình như ngày hôm nay.
Mình thấy người ta được tự tại an ổn mình nói vô chùa sướng, chỉ ăn với ngủ. Ở chùa sáu giờ mười lăm chiều sám hối, bảy giờ rưỡi tối ngồi thiền, ba giờ khuya dậy ngồi thiền nữa. Sáng tu, trưa tu, chiều tu là mài giũa, là đục đẽo. Đại chúng thấy chúng tôi làm Phật sự nhiêu khê lắm đâu phải yên. Cách đây khoảng năm năm, cháu thầy Bảo Tú chở tôi đi giảng ở Tiền Giang. Lúc đó trời chạng vạng tối, vì muốn quay đầu xe, cháu Thầy Bảo Tú lái đầu xe vô nhà bên đường, gặp một ông ngồi trước cửa uống trà. Không nói không rằng, ông cầm bình trà đổ lên đầu tôi. Cháu lái xe bực lắm nhưng tôi nói thôi, đây là nghiệp của mình. Rõ ràng trên bước đường mình làm Phật sự, có người thương, người ghét, đó là mài giũa, là đục đẽo chớ đâu phải dễ. Cho nên Phật nói khi mình vượt qua thuận nghịch, vượt qua đau khổ bầm dập trong cuộc đời, lúc đó là Phật có mặt.
Trong Kinh Nikaya kể câu chuyện:
Một hôm Đức Phật đang đi khất thực, ông Bà-la-môn ra đón đường Ngài và bắt đầu chửi mắng. Phật vẫn đi thong thả như không có chuyện gì. Ông Bà-la-môn tức giận hỏi:
– Sa-môn Cồ Đàm, ông có điếc không?
Phật trả lời:
– Ta không điếc.
Ông Bà-la-môn tiếp tục:
– Ông không điếc, sao tôi chửi ông mà ông không chửi lại?
Phật nói:
– Này Bà-la-môn! Khi nhà ông có đám giỗ, ông đem bánh trái, đồ ăn tặng người ta mà người ta không nhận thì những phần quà ấy thuộc về ai?
Ông Bà-la-môn trả lời:
– Nếu người ta không nhận thì quà ấy về tôi chứ ai.
Phật nói:
– Cũng vậy, sáng giờ ông chửi tôi, tôi không nhận thì chính ông nhận thôi.
Bây giờ mình áp dụng, ai chửi mình, mình nói: “Tôi không nhận” thì mọi sự chửi mắng thuộc về người đó. Còn mình chửi mắng người ta xối xả, người ta bất động thì nghiệp quả về mình hết. Nhưng mình làm chưa được, mình làm được thì đúng là Phật ra đời.
Điều đặc biệt thứ bốn: Bồ-tát Sĩ Đạt Đa sanh ra đời bên hông phải, mà bên phải là tiêu biểu cho nghịch chiều sanh tử, thuận chiều Niết-bàn. Đức Phật minh chứng rằng con đường Phật đi là con đường Niết-bàn chứ không đi con đường sanh tử nữa.
Nên Thiền sư Huyền Giác nói:
Thường độc hành thường độc bộ
Đạt giả đồng du Niết-bàn lộ.
Điều đặc biệt thứ năm: Khi Bồ-tát sanh ra đời, mỗi bước đi của Ngài đều có một đóa hoa sen. Bồ-tát đi bảy bước có bảy đóa sen nâng bước chân Ngài. Tại sao mình đi không có hoa sen mà toàn là gai? Muốn đóa hoa sen nâng bước chân mình là mình phải đi trong chánh niệm, đi trong vô nhiễm, đi chỉ biết đi, không truy cầu ba thời quá khứ – hiện tại – vị lai. Vì sao? Vì quá khứ đã đi qua, tương lai lại chưa đến, chỉ an trú trong giờ phút thực tại nên nói, đi chỉ là đi chứ không có mục đích đến, đi như một dòng sông.
Vua Trần Thánh Tông có bài kệ:
Nước tuôn xuống núi không có ý,
Mây bay về động vốn vô tâm,
Người đời nếu được như mây nước,
Cây sắt trổ hoa khắp chốn Xuân.
Nước tuôn xuống núi có ý không? Không! Mây bay về động có ý không? Không! Ngài nói nếu mình được như mây như nước thì cây sắt cũng trổ bông.
Tại sao Ngài không đi tám bước, bốn bước, năm bước; không đi mười bước hay chín bước mà Ngài đi có bảy bước? Có chỗ người ta giải thích bảy bước là tiêu biểu Đức Phật vào trong cuộc đời này sẽ cho tất cả chúng sinh bảy thứ tài sản quý, bởi vì Đức Phật là cha lành đem của cải phân phát cho mình, mình nhận hay không nhận là do mình.
Một hôm có thầy Tỳ-kheo đến gặp Đức Phật:
– Bạch Đức Thế Tôn, con chưa bao giờ thấy người giàu đến mức độ của cải họ bỏ trong kho mà tràn cả ra ngoài.
Phật hỏi:
– Ai giàu như thế?
– Bạch Đức Thế Tôn, vị đại thần ở nước Kosala.
Phật nói:
– Ông phải nhớ cái giàu này nó nằm trong năm nhà.
– Bạch Đức Thế Tôn, năm nhà là gì?
Thế Tôn nói:
– Thứ nhất là nước, thứ hai là lửa, thứ ba là trộm cướp, thứ bốn là vua chúa, thứ năm là con phá sản. Này các Tỳ-kheo, thế nào là nước? Khi ông dành dụm của cải bất chính, một hôm nào đó lũ lụt cuốn trôi hết. Này các Tỳ-kheo, khi của cải bất chính, lửa đốt sạch hết. Rồi có lúc trộm cướp lấy hoặc bị vua chúa tịch thu. Cái thứ năm là kẻ thừa tự, bởi vì của cải không phải do mồ hôi nước mắt làm ra cho nên nó xài phá.
Như Lai có bảy thứ tài sản cho ông và tất cả chúng sanh. Này các Tỳ-kheo, bảy thứ tài sản này không thuộc về năm nhà, không thuộc về nước, lửa, giặc cướp, vua chúa và kẻ thừa tự. Này các Tỳ-kheo, thế nào là bảy? Bảy thứ này gọi là thất thánh tài, là bảy thứ tài sản của bậc thánh chứ không phải của người phàm, Như Lai trao cho mấy ông, nếu mấy ông có thì cuộc đời gọi là đệ nhất giàu có.
1. Tài sản thứ nhất: Tín tài
“Này các Tỳ-kheo, mấy ông có lòng tin về Phật, lòng tin về Pháp, lòng tin về Tăng, lòng tin về Tam Bảo, tin chắc rằng tu là vượt thoát ba cõi, gọi là tín tài. Mấy ông tin rồi mới nghe Pháp, mới tu tập. Văn, tư, tu rồi mấy ông mới kết tụ thành giới định tuệ. Tin chắc như thế, tin tu là giải thoát, tin Pháp mình đang tu gọi là tín tài.”
2. Tài sản thứ hai: Tấn tài
“Trong cuộc đời này, người ta đang say sưa trong giấc ngủ mà ông thức dậy tu tập là ông tinh tấn, gọi là tấn tài. Ông sợ cái gì? Ông sợ sanh tử, sợ vô thường, sợ những cái khổ đến. Ông tinh tấn tu là ông có tài sản thứ hai, tấn tài.”
Sáng sớm bốn giờ hay năm giờ cũng được, mình chịu khó dậy, kéo chân kiết già ngồi thiền, tối tụng bài kinh, tức là mình có tài sản tấn tài. Mình giống như con chiến mã hay, bỏ sau lưng những con ngựa gầy kém yếu hèn thì mình có tài sản thứ hai.
3. Tài sản thứ ba: Giới tài
Mình giữ được năm giới, mười giới hoặc hai mươi tám giới thì gọi là giới tài. Sống trong cuộc đời này hơn nhau không phải chỗ giàu có mà hơn nhau chỗ đạo đức, hơn nhau ở năng lượng của sự tu tập, giữ giới.
Hôm bữa tôi xuống tỉnh hội giảng, có vị thầy hỏi tôi:
– Tôi thấy sư huynh đi chỗ này kia giảng, đông cách mấy sư huynh cũng không sợ. Tôi mà giảng chừng bốn, năm chục người là tôi sợ, tôi run.
– Tôi chỉ ông bí quyết, dễ lắm. Ông lên giảng ông cứ nghĩ ở dưới người ta dù cho là tiến sĩ thì cũng có những cái người ta không biết. Cái gì người ta biết thì tôi học, cái người ta không biết tôi chia sẻ, vậy thôi.
Thiền sư Bạch Ẩn nói: “Này các bạn, nếu bạn là vua, là chúa, là những người chức tước lớn, bổng lộc lớn, là những người giàu sang sung túc mà chưa một lần nhận ra được cái tâm của mình, ta nói người này là người nghèo khổ nhất. Này các bạn, nếu bạn là người phu xe, là người chèo đò, là người nghèo cùng khổ cực mà nhận ra được cái tâm, ta nói bạn là người giàu có nhất.”
Vào thời Đức Phật, ở thành Ba La Nại có một thầy Tỳ-kheo tu rất tinh tấn. Ngài được chư thiên tặng một cái khánh bằng vàng. Ngài ra giữa ngã tư đường, cầm khánh đưa lên nói: “Ở trong thành Ba La Nại này, ai tự cho mình là nghèo nhất nhận được cái khánh này.” Người người lũ lượt kéo đến, ai cũng nói nghèo nhưng Ngài có thần thông biết họ không nghèo. Cuối cùng ngài xác chứng rằng người nghèo nhất trong thành này là vua Ba Tư Nặc. Cho nên về sau vua Ba Tư Nặc đến học pháp với Phật.
Mình nói mình giàu nhưng không nhận ra được, không sống được với cái tâm, thì mình cũng là người nghèo.
4. Tài sản thứ bốn: Tàm quý tài
Tàm quý tức là hổ thẹn. Hổ thẹn khi thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Hổ thẹn mình mới sám hối tu tập. Còn thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác mà không biết sợ hãi thì dù giàu có cũng như không. Sợ thân làm ác, sợ miệng nói ác, sợ ý nghĩ ác là có tài sản thứ bốn.
5. Tài sản thứ năm: Văn tài
Mình nghe Pháp để lưu giữ, chiêm nghiệm rồi phổ ra hành động là văn tài.
6. Tài sản thứ sáu: Xả tài
Khi bị người ta nói nặng, mình buông xả. Hoặc mình giúp đỡ những người nghèo khổ hơn mình, tức là xả tài.
7. Tài sản thứ bảy: Tuệ tài
Nhờ tín tài, tấn tài, giới tài, tàm quý tài, văn tài, xả tài nên cuối cùng mình được tuệ tài. Sự nghiệp của mình là lấy trí tuệ làm sự nghiệp để bớt khổ được vui.
Đó là bảy thứ tài sản bậc thánh không bao giờ mất mà Thế Tôn đã trao.
Lại nữa, bảy bước đi của Bồ-tát Sĩ Đạt Đa tiêu biểu cho: thời gian tức là quá khứ, hiện tại, vị lai; và không gian Đông, Tây, Nam, Bắc. Từng bước đi của Đức Phật siêu việt trong một niệm không gian và thời gian.
Điều đặc biệt thứ sáu: Khi Bồ-tát sinh ra đời, một tay chỉ lên trời một tay chỉ dưới đất, Ngài nói:
Thiên thượng thiên hạ,
Duy ngã độc tôn,
Nhất thiết thế gian,
Sanh, lão, bệnh, tử.
Tức là trên trời dưới trời chỉ có ta là độc tôn. Ta đây là chơn ngã. Người nào nhận ra được chơn ngã, nhận ra được cái thường lạc ngã tịnh thì không bị trầm luân trong sanh tử nữa, còn không nhận ra được thì tất cả thế gian đều sanh, già, bệnh, chết. Nếu mình không nhận ra được tâm Phật của mình, không nhận ra được tính viên giác thì mình sẽ chìm đắm trong sanh, già , bệnh, chết.
Điều đặc biệt thứ bảy: Bồ-tát sanh ra có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Vua Tịnh Phạn mời tiên A Tư Đà đến xem tướng cho thái tử, ông cười ba lần, khóc ba lần. Vua Tịnh Phạn hỏi, ông nói chắc chắn thái tử lớn lên sẽ đi tu đắc quả Bồ-đề giáo hóa vô lượng chúng sanh, ông mừng quá nên ông cười. Ông khóc là vì ông chỉ còn sống được ba tháng. Sau khi mất ông được tái sanh lên cõi trời vô sắc giới, cõi trời này thọ tám mươi bốn ngàn tiểu kiếp. Hiện bây giờ ông vẫn còn ở trên đó. Mình bây giờ được may mắn nghe thánh pháp, còn ông không còn dịp nào để nghe thánh pháp nên ông buồn khóc.
Điều đặc biệt thứ tám: Khi Bồ-tát dạo bốn cửa thành Ngài thấy già, bệnh, chết, Ngài thức tỉnh. Gặp Sa-môn đi kinh hành tự tại an ổn quá, Ngài quyết chí tu. Bồ-tát gặp cảnh già, bệnh, chết thức tỉnh liền. Mình không được như Ngài, thấy những cảnh này mình ráng làm thiện pháp rồi tu tập, trưởng dưỡng.
Tóm lại, Phật Đản sanh ở đâu? Là trong tâm của mỗi người. Phật Đản sanh khi tâm vắng bóng phiền não. Tâm sanh khởi phiền não thì Phật nhập Niết-bàn.
Một hôm vua Đường Thuận Tông hỏi thiền sư Phật Quang Như Mãn:
– Phật từ đâu đến? Tịch diệt đi về đâu? Nghe nói Phật thường trụ ở đời, bây giờ Phật ở đâu?
Thiền sư Như Mãn đáp:
– Phật từ vô vi đến, tịch diệt về vô vi, Pháp thân như hư không, có trụ về vô trụ, đến vì chúng sanh đến, đi vì chúng sanh đi. Thanh tịnh biển chân như, lặng lẽ thể thường trụ, người trí khéo tư duy, chớ có sanh nghi ngờ.
Phật đến trong cuộc đời này vì chúng sanh mà đi cũng vì chúng sanh. Ngài nói, Ngài trụ ở đời lâu quá chúng sanh họ làm biếng tu. Giống như ông thầy thuốc giỏi nếu còn ở đời thì mấy người con ỷ lại.
Vua Thuận Tông không bằng lòng nên hỏi lại:
– Phật sanh ở vương cung, tịch diệt ở Song lâm, trụ thế bốn mươi chín năm còn nói không có thuyết Pháp. Núi sông và biển cả, trời đất cùng nhật nguyệt thời đến cũng phải hoại, cớ sao nói không sanh không diệt?
Tức là ông đem cái hình tướng ra ông hỏi, còn thiền sư thì nói về thể Pháp thân. Cho nên ông nói núi sông còn phải hoại sao nói là không sanh không diệt.
Thiền sư Như Mãn đáp:
– Thể Phật vốn vô vi, do tâm mê khởi vọng phân biệt, pháp thân như hư không chưa từng có sanh diệt. Đủ duyên Phật ra đời, hết duyên Phật nhập diệt, giáo hóa chúng sanh như trăng trong nước, không thường cũng không đoạn, không sanh cũng không diệt. Sanh cũng chưa từng sanh, diệt cũng chưa từng diệt. Liễu ngộ sẽ thấy chỗ vô tâm, tự nhiên không có thuyết pháp.
Vua Thuận Tông nghe xong vô cùng hoan hỷ, càng kính trọng thiền sư Như Mãn.
Thể Phật vốn vô vi, tức là không tạo tác. Do tâm mình mê, mình khởi vọng phân biệt Phật này Phật nọ. Pháp thân như hư không mà chưa từng sanh, chưa từng diệt. Đủ duyên Phật ra đời, hết duyên Phật nhập diệt, giáo hóa chúng sanh như trăng trong nước, như hoa đốm hư không thôi. Có nghĩa là mình làm tất cả các việc thiện sự giống hoa đốm giữa hư không, đừng dính mắc, đừng chấp trước thì như vậy Phật ra đời mà không phải là ngày mười lăm hay mùng tám tháng tư. Nếu tâm mình thanh tịnh nhu nhuyến thì lúc nào cũng có Phật, Phật này chính là Phật của mình.
Nhân ngày Phật Đản, chúng tôi nêu lên cho đại chúng ráng cố gắng làm thế nào cho ông Phật mình ra đời để thế gian hết khổ. Ông Phật mình chưa ra đời thế gian khổ mãi thôi.