Kinh Viên Giác Trực Giải – Trọn Bộ 3 Tập

VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC VIỆT NAM
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG THIỀN HỌC BẮC TRUYỀN


GIỚI THIỆU TÁC GIẢ 

THƯỢNG TỌA THÍCH ĐẠT MA KHẾ ĐỊNH

Trụ trì Thiền viện Trúc Lâm Chánh Thiện – Lâm Đồng

Sinh năm 1970 tại Ninh Thuận, trong gia đình thấm nhuần Phật pháp. Từ thuở bảy tuổi, Thầy đã gieo duyên tụng niệm bái sám Kinh Pháp Hoa tại Tịnh xá Ngọc Bảo, Tháp Chàm – hạt giống đạo tâm sớm nảy nở. Duyên lành hội đủ, Thầy đến Thiền viện Thường Chiếu, được Hòa Thượng Thường Chiếu truyền pháp, mở hướng tu tập. Năm 1998, Thầy lên Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt, trực tiếp thọ học cùng Hòa Thượng Trúc Lâm, nay là Tông chủ Thiền phái.

Miên mật hành trì suốt 30 năm, Thầy đã kế thừa và phát huy tinh thần cốt tủy: Nội tâm sáng tỏ, Ngoại duyên lợi lạc.

Với hạnh nguyện nhập thế, Thầy dốc lòng tiếp độ Tăng Ni, hướng dẫn Phật tử tu học, mở khóa thiền, giúp người học hiểu và ứng dụng Phật pháp, chuyển hóa khổ đau và dựng xây đời sống an lành giữa cuộc đời.



CHÍNH THỨC PHÁT HÀNH SÁCH:

KINH VIÊN GIÁC TRỰC GIẢI – TRỌN BỘ 3 TẬP

Mục Lục

Lời Giới Thiệu

Lời Ngỏ

Phần Tựa

Chương 1: Bồ Tát Văn Thù Thưa Hỏi
Chương 2: Bồ Tát Phổ Hiền Thưa Hỏi
Chương 3: Bồ Tát Phổ Nhãn Thưa Hỏi
Chương 4: Bồ Tát Kim Cang Tạng Thưa Hỏi
Chương 5: Bồ Tát Di Lặc Thưa Hỏi
Chương 6: Bồ Tát Thanh Tịnh Huệ Thưa Hỏi
Chương 7: Bồ Tát Oai Đức Tự Tại Thưa Hỏi
Chương 8: Bồ Tát Biện Âm Thưa Hỏi
Chương 9: Bồ Tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng Thưa Hỏi
Chương 10: Bồ Tát Phổ Giác Thưa Hỏi
Chương 11: Bồ Tát Viên Giác Thưa Hỏi
Chương 12: Bồ-tát Hiền Thiện Thủ Thưa Hỏi

 


Lời Giới Thiệu

Trong kho tàng kinh điển Đại thừa, Đại Phương Quảng Viên Giác Tu-đa-la Liễu Nghĩa Kinh là một bộ kinh đặc biệt thù thắng, được chư Tổ sư Đông Á suy tôn là một bản kinh liễu nghĩa thượng thừa, trực chỉ bản tâm, khai thị con đường giác ngộ viên mãn vốn sẵn nơi tất cả chúng sinh.
Danh xưng “Đại Phương Quảng” biểu thị giáo pháp rộng lớn, viên dung và cứu cánh “Viên Giác” chỉ bản giác thanh tịnh, viên mãn còn “Liễu Nghĩa” khẳng định đây là giáo pháp rốt ráo, dẫn hành giả đi thẳng vào con đường giải thoát. Xuyên suốt mười hai chương kinh là những lời vấn đáp giữa Đức Thế Tôn và mười hai vị Đại Bồ Tát, từng bước khai mở phương pháp tu tập từ chỗ đoạn trừ vọng tưởng đến chứng nhập Viên Giác. Chính vì vậy, cổ đức đã nhận định bộ kinh này “lấy viên chiếu giác tướng làm tông”, nghĩa là lấy sự soi chiếu viên mãn nơi bản giác làm tông chỉ xuyên suốt. Người có đủ nhân duyên thâm nhập bộ kinh này, y giáo phụng hành, sẽ nắm được cốt tủy của con đường tu học và chuyển hóa tự thân.
Tác phẩm “Kinh Viên Giác Trực Giải”, do Thượng tọa Thích Đạt Ma Khế Định biên soạn trên cơ sở tập hợp những bài giảng của Thượng tọa cho chư Tăng Ni tại Thiền viện Trúc Lâm Chánh Thiện và các đạo tràng Phật tử Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam.
Với lối trình bày mạch lạc, gần gũi nhưng vẫn giữ chiều sâu học thuật, tác phẩm Kinh Viên Giác Trực Giải giúp người đọc từng bước thâm nhập giáo nghĩa tinh yếu của bộ kinh bằng ngôn ngữ sáng rõ, dễ tiếp cận, gợi mở nhiều phương diện ứng dụng thiết thực trong đời sống tu học. Đặc biệt, tác giả đã khéo léo dẫn chiếu và đối chiếu lời dạy trong nhiều kinh điển Đại thừa như Kinh Lăng Già, Kinh Duy Ma Cật, Kinh Kim Cang, cùng thiền ngữ của chư vị Tổ sư Thiền tông Trung Hoa và Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam, qua đó làm sáng tỏ ý chỉ của Kinh Viên Giác, giúp người đọc thấy được sự dung thông giữa giáo và thiền, giữa lý luận và thực chứng. Vì vậy, đây không chỉ là tài liệu tham khảo quý giá dành cho người nghiên cứu Phật học, mà còn là cẩm nang tu tập hữu ích cho đông đảo Phật tử hữu duyên với giáo pháp Đại thừa.
Xin trân trọng giới thiệu tác phẩm đến chư Tôn đức Tăng Ni cùng quý độc giả gần xa và rất mong tác phẩm được lưu truyền rộng rãi, mang lại nhiều lợi lạc cho những ai hữu duyên thọ trì, nghiên cứu và thực hành theo giáo pháp Viên Giác, góp phần làm cho Chánh Pháp được trường tồn, Phật Pháp ngày càng hưng thịnh.

Hòa thượng Thích Minh Nhật

Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN
Trưởng Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Lâm Đồng


Lời Ngỏ

Như chúng ta đã hiểu, Kinh Viên Giác là một bộ kinh Phật nói về giáo lý Đại thừa viên đốn, nhằm chỉ thẳng “Diệu giác minh tâm” sẵn có ở ngay thân năm uẩn của mọi chúng sanh. Nghĩa là tất cả chúng sanh đều có đầy đủ “Diệu giác minh tâm” này, nhưng vì một niệm bất giác vô minh, ban đầu ở trong tánh giác vốn thanh tịnh sáng suốt, chợt dấy lên cái niệm chiếu soi trở lại tánh giác, nhân đó tâm cảnh hiện tiền lần lượt phát khởi mọi thứ điên cuồng sai biệt. Thế giới và chúng sanh do đó tiếp nối xoay vần mãi mãi không biết đâu là ngằn mé. Nay muốn trở về “Diệu giác minh tâm” ấy, Phật dạy chủ yếu phải rõ “Nhân địa bổn khởi pháp hạnh của Như Lai”.
1. Đấng Pháp vương có pháp môn Đại-đà-la-ni tên là “Viên Giác”.
2. Phải nhận rõ đây là gốc phát sinh vô minh điên đảo.
3. Phải phát tâm như thế nào để khỏi lạc vào tà kiến.

Lại bộ kinh Viên Giác này còn có nhiều điểm đặc biệt đáng chú ý.
1. Kinh này chỉ ra cái Viên Giác vô sanh ngay nơi thân năm uẩn, để làm nhân địa tu hành hợp với quả vị thường trụ.
2. Chỉ đường lối tu hành quả rõ ràng khế hợp với Thiền tông. Tức điều kiện cần yếu cho người hành giả trước đốn ngộ, sau phương tiện tiệm tu, như Thiền tông trước phải kiến tánh rồi sau khởi tu. Nghĩa là dạy cho tất cả chúng sanh ngay nơi thân sanh diệt giả dối này nhận ra “Diệu giác minh tâm trùm khắp pháp giới” đâu khác với Thiền tông trước phải nhận ra “Ông chủ” hay “Bộ mặt thật xưa nay”, lấy đây làm nhân địa pháp hạnh để tiến tu.
3. Tôn chỉ kinh này lại rất phù hợp với kinh Pháp Hoa viên đốn. Kinh Pháp Hoa nhằm khai, thị, ngộ, nhập “Diệu giác minh tâm”. Đây là điểm đặc thù giữa hai bộ kinh viên đốn.
4. Kinh này đặc biệt Đức Thế Tôn chỉ dụ rất cặn kẽ rõ ràng Tu như thế nào khỏi rơi vào chủng tánh ngoại đạo… phát tâm như thế nào khỏi lọt vào tà kiến.
5. Kinh này rất đặc thù trong các bộ kinh viên đốn Đại thừa. Vì sao? Vì mở đầu bộ kinh lần lượt xuất hiện mười hai vị Đại sĩ thưa hỏi áo nghĩa uyên thâm bí tạng.
6. Ngoài những áo nghĩa uyên thâm khó nghĩ bàn trên, về hình thức kinh này lại còn là một áng văn chương hùng hậu lưu loát, toát ra từ mười hai vị Đại sĩ thưa hỏi Đức Tôn Sư về nghĩa lý nhân địa phát tâm tu hành của Đức Như Lai thế nào.
7. Nói chung, kinh Viên Giác là nêu bày sự giác ngộ viên mãn của Phật. Bộ kinh này là trung tâm đi thẳng tới Phật quả, là chỗ cực tắc của thiền môn, là nhân địa tu hành đến diệu quả.

Vì thế, chương đầu xuất hiện Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi, là bậc thượng thủ chánh pháp, là pháp vương tử của Như Lai, đứng lên thưa hỏi về mật tạng pháp hạnh của Thế Tôn. Vì sao? Vì trong sáu pháp Ba-la-mật, Trí là đầu các công đức, có trí tuệ chúng ta mới thấy được như thật, từ đó mới đốn dứt vô minh, hiển bày giác địa thanh tịnh như như bất động.

Tóm kết và cô đọng những điều kể trên đây đủ cho chúng ta thấy bộ kinh Viên Giác này thật là tối hệ trọng, nhất là những người tu Thiền cần yếu phải xét soi tường tận để làm tư lương trên bước đường lần về cố quốc.
Để đền đáp công ơn giáo hóa của Phật Tổ và công ơn Thầy Tổ đã đem hết tâm huyết soi đường chỉ nẻo, chúng tôi cố gắng dịch giảng quyển kinh Viên Giác Trực Giải này ra Việt Văn, để phổ biến lời Phật dạy, hầu làm lợi ích cho mọi người.
Với việc làm còn nông cạn, không thể tránh khỏi những điều sai sót. Cúi mong các bậc cao minh từ bi chỉ dạy, và bằng một tấm lòng bé nhỏ của chúng tôi chỉ mong người xem đạt ý quên lời, được cá quên nơm, và nhận chân ra được tánh Viên Giác của chính mình, để đốn dứt vô minh vào nhà Diệu giác.
Nguyện đem công đức dịch giảng này, hồi hướng cho bốn ơn ba cõi và chúng sanh trong khắp pháp giới đều trọn thành Phật quả.

Cẩn bút

Thích Đạt Ma Khế Định


CẨN NGUYỆN

Kính lạy Tam thế Phật
Bồ tát chúng hiền thánh
Nhiều như cát sông Hằng
Từ bi vô hạn lượng
Cứu vớt khắp quần sanh
Ba cõi cùng sáu đường
Đồng qui y Tam bảo
Thoát khỏi cảnh Tam đồ
Mau siêu thăng Phật đạo
Cùng tất cả chúng sanh
Khắp hằng sa các cõi
Đều phát tâm Bồ đề
Ngày đêm niệm Bát nhã
Đời đời luôn tinh tấn
Như lửa củi cháy đầu
Đến lúc đắc Bồ đề
Lập nguyện độ chúng sanh
Thoát khỏi cảnh tăm tối
Nam mô Phật Pháp Tăng
Nguyện cho thảy chúng sanh
Đồng trọn thành Phật đạo.

Thích Đạt Ma Khế Định



 PHẦN TỰA

I – LƯỢC KHẢO LỊCH SỬ KINH VIÊN GIÁC

Kinh Viên Giác nói đủ là Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa. Chúng ta học Kinh Viên Giác qua cái thấy của nhà thiền bởi vì mình tu thiền. Chúng tôi dẫn những vị thiền sư, trong này có Thiền sư Hám Sơn, những kiến giải của Ngài rất là sâu sắc.

Kinh này lấy riêng Pháp làm tên.

Có những bộ kinh Phật giảng lấy tên người đặt tên Kinh, chẳng hạn Kinh Địa Tạng đặt theo tên của Bồ-tát Địa Tạng, Kinh Duy Ma Cật lấy tên của ngài Duy Ma Cật. Còn Kinh này lấy riêng pháp Viên Giác làm tên. Viên là tròn. Giác là giác ngộ. Viên Giác là giác ngộ tròn đầy viên mãn.

Nhất chơn pháp giới Như Lai tàng làm thể.

Như Lai tàng là cái kho Như Lai tròn đủ làm gốc, làm thể.

Lấy viên chiếu giác tướng làm tông.

Tức là làm tông chỉ. Nếu đủ nhân duyên học bộ Kinh này là chúng ta nắm được pháp tu. Trong này có nói về nhân địa bổn khởi của Đức Phật tu như thế nào để thành Phật. Đức Phật giải thích: nhận được tánh viên giác rồi mới tu, nhà thiền gọi là kiến tánh rồi mới khởi tu, như vậy là tu đúng. Nếu không nhận ra tánh viên giác thì mình tu lờ mờ, nửa tin nửa ngờ, hoặc tu một thời gian rồi bỏ không tu nữa. Còn khi nhận được tánh viên giác rồi thì dù gặp nghịch cảnh gì mình vẫn tin tưởng pháp môn mình đang tu tập. Cho nên có những vị tu hai, ba chục năm vẫn bỏ vì nhận cái ngọn mà không nhận cái gốc.

Lấy lìa vọng chứng chơn làm dụng, lấy nhất thừa viên đốn làm giáo tướng.

Đây là phần của ngài Hám Sơn trực giải.

Đây có nhiều tên gọi, cũng gọi là ‘Đại viên mãn giác.’

Nếu mình dịch chữ Hán, đại là lớn, tiểu là nhỏ thì không đúng. Chữ Đại trong ‘Đại viên mãn giác’ của Kinh Viên Giác vượt qua lớn và nhỏ, chữ đại này gọi là viên dung.

‘Mãn’ là đủ, cũng gọi là ‘diệu giác minh tâm’, cũng gọi là ‘nhất chơn pháp giới’, cũng gọi là ‘Như Lai tàng chơn tâm thanh tịnh’. Thể gọi tuy nhiều mà gom lại chỉ có một tên là ‘Viên giác diệu tâm’.

Tức là tâm vi diệu.

Chỉ một tâm này chính là mười pháp giới, là gốc của nhân quả, phàm thánh, mê ngộ, y báo và chánh báo.

Chúng sanh và Phật ai cũng có tâm này, nhưng do sự dụng công tu học nên từ tâm này có những cảnh giới sai biệt gọi là tứ thánh lục phàm. Chỉ một tâm này, nếu nhận ra được tánh viên giác mình tu học, chuyển hóa, gạn lọc, nhắm mình đi trên con đường nào:

  • Y nơi tánh viên giác thì tu con đường Phật thừa, nhân tu vô sanh thì gặt quả vô sanh.
  • Y nhân sanh diệt thì gặp quả sanh diệt.

Kinh Lăng Nghiêm nói, nấu cát mà muốn thành cơm. Điều này không thể. Ai cũng có tâm này (Viên giác diệu tâm), nhận được tâm này thì bây giờ mình tu.

Tứ Thánh

  1. Phật thừa

Muôn pháp trọn thông, muôn pháp đầy đủ, tất cả nhiễm, lìa các pháp tướng, một cũng không được, vô sở đắc.

Tu như thế thì gọi là Phật thừa.

Muôn pháp trọn thông có nghĩa là ở trên các tướng mà không trụ tướng sanh tâm. Đơn giản nhưng không phải một sớm một chiều, không phải sáng làm được, chiều không được, mà phải tu từng niệm.

Tất cả đối với pháp nhiễm tức là người tu không nhiễm.

Lìa các pháp tướng, một cũng không được tức là con đường vô sở đắc thì gọi là Phật thừa.

  1. Bồ-tát thừa: Y nơi tánh viên giác, tu lục độ vạn hạnh: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ. Nhân tu con đường này thì quả được trên con đường Bồ-tát thừa.
  2. Duyên Giác thừa: Tu về con đường thập nhị nhân duyên.
  3. Thanh văn thừa: Tu về pháp tứ đế: khổ, tập, diệt, đạo.

Lục phàm:

  1. Mình cũng có tâm này nhưng mình quên, mình không đi con đường giải thoát mà tu về mười thiện nghiệp, sanh về cõi trời. Mười thiện nghiệp: Thân tam: không sát sanh, không trộm cướp, không dâm dục; Khẩu tứ: không ác khẩu, không thêu dệt, không ỷ ngữ, không hai lưỡi; Ý tam: không tham, không sân, không si.
  2. Cũng tâm này mà thích bố thí, cũng thích đấu tranh thì tu về pháp giới A-tu-la.
  3. Pháp giới của loài người là tu giữ 5 giới.
  4. Pháp giới của súc sanh là chúng sanh tham, sân, tật đố, ngu muội không có trí tuệ. Sống trong cuộc đời này mình cứ tham, sân, tật đố, si mê, ngày nào mình cũng đi trên con đường đó thì mình chết, chắc chắn rớt vào loài súc sanh.
  1. Sống trong cuộc đời mà bỏn xẻn, keo kiệt, hận thù thì khi chết chắc chắn đi về pháp giới của ngạ quỷ.
  2. Không phân biệt đâu là thiện, đâu là ác, không tin nhân quả, nghĩ chết là không còn gì nên tạo vô số việc ác thì chắc chắn chết rớt xuống địa ngục.

Từ bản thể viên giác thanh tịnh nếu đi đúng thì gọi là tứ thánh. Nếu đi lệch, đi sai thì gọi là lục phàm. Tứ thánh thì không còn luân hồi sanh tử nữa, sáu cõi phàm thì chắc chắn còn lên xuống ba đường sáu nẻo.

Thể tánh Viên giác này là cội nguồn của chư Phật nên gọi là Pháp thân. Là tâm địa của chúng sanh nên gọi là Phật tánh.

Viên giác ngay nơi Phật thì gọi là Pháp thân, viên giác ngay nơi chúng sanh thì gọi là Phật tánh.

Đức Phật có ba thân: 1- Pháp thân, 2- Công đức hóa thân, 3- Báo thân.

Công đức hóa thân, chẳng hạn muốn nhiếp phục chúng sanh ở địa ngục, Ngài đến cõi địa ngục hóa thành ông Diêm Vương y như đúc; hoặc biến hiện thành Trời Đế Thích khi Ngài đến cõi trời Đao Lợi. Lên cõi trời Phạm Chúng Thiên thì hóa hiện như y như vị trời ở cõi đó.

Tánh viên giác của Đức Phật như vàng ở trong quặng đã được đãi và sàng lọc, bây giờ đã trở thành vàng, không còn là quặng cho nên gọi là Pháp thân.

Ngay nơi mình có Phật tánh nhưng còn ẩn, chưa là Pháp thân mà gọi là thân tổng báo. Thân tổng báo có thiện có ác, nó chưa đủ gọi là báo thân hay hóa thân, nó đi bằng nghiệp lực nên có những lúc mình thấy vui, thấy khinh an, có những lúc mình bức bối khó chịu vì bị những vọng tưởng điên đảo cản trở.

Đừng nói chúng sanh với Phật là bình đẳng. Bình đẳng trên tánh viên giác nhưng cái dụng một bên là Pháp thân, một bên là Phật tánh. Cái dụng của Phật tánh chưa hiện tiền. Mình chưa có được Tứ vô sở úy, mười tám pháp bất cộng, cũng chưa có thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thần túc thông, túc mạng thông, lậu tận thông. Phật thì có đủ hết, cho nên nói: “Cội nguồn của chư Phật nên gọi là Pháp thân. Là tâm địa của mỗi chúng sanh nên gọi là Phật tánh.”

Tu được pháp này đầy đủ rồi thì tự nhiên nhận từng phần, gọi là phá từng phần vô minh để nhận được từng phần pháp thân, từ Phật tánh trở thành Pháp thân, giống như đứa nhỏ còn ở trong bào thai chưa ra ngoài được. Tu ở trong tùng lâm, mài giũa lâu lắm chứ không phải dễ.

Đại Phương Quảng, đó chính tâm pháp này đầy đủ ba nghĩa lớn: thể, tướng, dụng. Tiếng Phạn gọi Tu-đa-la, Trung Hoa dịch Khế Kinh, gồm các Kinh Phật nói đều gọi khế kinh, nghĩa lời dạy của Phật ứng ứng lý. Chỉ ứng cơ thì có lớn có nhỏ. Vì người tiểu thừa mà nói, gọi Kinh bất liễu nghĩa. người đại thừa nói, gọi là Kinh liễu nghĩa, nghĩa là hiển bày diễn nói đến chỗ cùng cực rốt ráo.

Liễu nghĩa là chỉ ngay nơi chơn tâm, ngay nơi Phật tánh, là chỗ cực tắc. Bất liễu nghĩa chỉ đây là sanh tử, kia là Niết-bàn, bỏ sanh tử để gặp Niết-bàn; đây thiện, đây ác là bất liễu nghĩa. Phi thiện, phi ác là liễu nghĩa.

Kinh Niết Bàn nói: “Y Kinh liễu nghĩa, chẳng y Kinh bất liễu nghĩa”. Y nơi Kinh liễu nghĩa thì tu mới thành Phật, còn y nơi Kinh bất liễu nghĩa thì tu thành A-la-hán chứ không thành Phật.

Phiên dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán:

Người xưa từ Ấn Độ qua Trung Quốc phiên dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán:

  • Ngài La Hầu Mặc Kiện dịch tại Đạo tràng Bảo Vân ở Đàm Châu, đời Đường niên hiệu Trinh Quán thứ 21, nhằm ngày rằm tháng 7 năm Đinh Mùi, 647 Tây lịch.
  • Ngài Phật Đà Đa La, Trung Hoa dịch là Giác Cứu, người nước Kế Tân, Bắc Ấn, dịch tại chùa Bạch Mã ở Đông Đô, đời Đường niên hiệu Trường Thọ thứ hai, 693 Tây lịch. Bấy giờ Võ Tắc Thiên đổi nhà Đường thành nhà Chu.

Chú giải:

Kinh Viên Giác có rất nhiều người chú giải.

Theo ngài Đại sư Thái Hư, Kinh Viên Giác được chú giải rất là nhiều. Các tông phái ở Trung Hoa thời bấy giờ đều có chú giải, phần lớn là Thiền Tông và Hoa Nghiêm Tông chú giải:

  • Đời Đường có ngài Duy Phát, ngài Đạo Tuyên, ngài Khuê Phong. Ngài Khuê Phong chú giải thành hai bản, một bản đề Lược Sớ, một bản đề Đại Sớ.
  • Đời nhà Minh có Thiền sư Hám Sơn ẩn dật ở Phu Sơn trực giải, để tên là Viên Giác Trực Giải.
  • Đời Nam Tống có ngài Nguyên Túy làm tập chú, trong bản này gom hết lời chú giải của những nhà chú giải trước thành một tập. Gần đây đại sư Thái Hư giảng giải đề tựa là Viên Giác Lược Thích. (lược giải và chú thích)

Phiên dịch từ chữ Hán ra chữ Việt:

  • Ngài Huyền Cơ dịch Kinh Viên Giác xuất bản năm 1951.
  • Tổ Thiện Hoa dịch, đề tựa là Kinh Viên Giác.
  • Hòa Thượng Trí Hữu dịch, đề tựa là Kinh Viên Giác.
  • Hòa Thượng Trung Quán dịch Kinh Viên Giác gồm hai quyển.
  • Hòa Thượng Hoàn Quang dịch, đề tựa Đại Phương Quảng Viên Giác Kinh lược giải.
  • Sư Ông Trúc Lâm dịch Kinh Viên Giác vào thập niên 70 và giảng tại Pháp hội Thiền Viện Chơn Không, núi Tương Kỳ Vũng Tàu.
  • Gần đây nhất, Hòa thượng Thường Chiếu cũng dịch và giảng vào năm Kỷ Hợi.
  • Cư sĩ Đoàn Trung Còn cũng dịch từ chữ Hán ra chữ Việt.

II-   ĐỀ KINH

Về Đề Kinh, chương 7, Bồ-tát Hiền Thiện Thủ hỏi Phật tên Kinh này, Phật trả lời đến năm tên:

  1. Đại Phương Quảng Viên Giác Đà La Ni

Viên giác là trí tuệ. Đại Phương Quảng là rộng lớn không có bờ mé. Đà La Ni là tổng trì.

  1. Tu Đa La Liễu Nghĩa
  2. Mật Vương Tam Muội
  3. Như Lai Quyết Định Cảnh Giới
  4. Như Lai Tàng Tự Tánh Sai Biệt

Kinh này dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán, rồi từ chữ Hán ra chữ Việt, rất nhiều người dịch, chú giải cũng rất là nhiều, cho thấy tầm giá trị của bộ Kinh này.

Thiền sư Tông Mật nói:

Mỗi chúng sanh Thể chân thật rộng lớn trùm khắp pháp giới nên gọi là Đại.

Mỗi chúng sanh có cái Thể gọi là tâm viên giác, trùm khắp không có ngằn mé nên gọi là Đại.

Thể chân thật ấy hay gìn giữ tất cả quy tắc, và hay sanh khởi ra muôn pháp nên gọi là Phương. Thể chân thật ấy có đầy đủ diệu dụng không thể nghĩ bàn nên gọi là Quảng.

Như vậy, hằng ngày chúng ta dành thời gian tụng kinh, ngồi thiền, tu tập để làm gì? Để có sức diệu dụng, gọi là Quảng. Bây giờ mới xuất gia mình chưa có diệu dụng gì hết. Diệu dụng trong nhà thiền là khi người ta chửi mắng, nhục mạ, khi gặp nghịch cảnh thì mình bất động. Dụng của Phật tánh chưa có, ai nói nặng mình buồn không? Bị dịch Covid sợ không? Hoảng hốt, sợ hãi là mình chưa có cái Dụng.

Người xưa nói, “khi đầm nghiêng núi đổ thì như thế nào?” Các Ngài nói, “chớ nói ướt góc cà sa của lão tăng”, đó là dụng. Tu 10 năm nó khác, tu 30, 40 năm nó khác, mình bất động đối với các pháp. Cho nên phải tụng kinh, ngồi thiền, tu tập. Sức diệu dụng chưa có thì bây giờ mình phải tu. Cái Thể ai cũng có, bây giờ đòi hỏi mình phải bào mòn tập khí để có cái Dụng. Dụng đầy đủ rồi mình bắt đầu làm các việc Phật sự mới thành công.

Có những người hiểu trên cái lý, nhưng phát ra diệu dụng thì chưa có, tưởng là xong, đi làm Phật sự, ra giành chùa, chửi mắng Thầy Tổ, gặp danh lợi rồi bám vào. Cho nên, mình phải ở trong tùng lâm. Tại sao các Ngài ở trong tùng lâm 30, 40 năm? Để phát huy cái diệu dụng này.

Ngày xưa, tôi có nhân duyên học võ thuật, thầy của tôi phát đòn ra nghe tiếng gió vù vù, cây đèn cầy để từ xa nó tắt luôn. Mình cũng phát đòn giống như ông thầy mà đèn không tắt. Khi học 10 năm, 15 năm, mình vẩy một cái là cây đèn cầy nó tắt, nó có lực dụng bên trong.

Tu cũng vậy thôi. Lên tụng kinh mình thấy ai cũng như ai, ai cũng đắp y mặc hậu, nhưng người tu 10 năm hoặc 20 năm, hoặc tu đã nhiều đời thì sức diệu dụng người ta có. Người tu lâu, tự nhiên mình thấy sức sống người ta khác hơn mình. Mình mới tu, lụp chụp nhìn vào là biết, lực dụng chưa có đủ.

Vào thời Đức Phật, ông Cấp Cô Độc bệnh nặng sắp mất, Đức Phật sai tôn giả Xá Lợi Phất, tôn giả A Nan đến khai thị cho ông. Ông nghe, ông thấm từng lời, rồi ông ngộ được lý duyên sinh của các pháp và lý vô ngã nên ông khóc. Có nghĩa là lực dụng của tôn giả Xá Lợi Phất và tôn giả A Nan tác động đến ông. Cho nên khai thị cho người bệnh hoặc người sắp mất đòi hỏi mình phải có lực dụng, có sự tu tập. Đây gọi là đầy đủ diệu dụng không thể nghĩ bàn, tu rồi thì tự mình biết.

Lại nữa, theo ngài Thái Đại thì Đại chỉ cho cái thể tuyệt đối vượt ngoài các pháp đối đãi. Đại không có nghĩa là lớn đối với tiểu là nhỏ.

Vượt ngoài đối đãi, gọi là ở trong cảnh giới bất nhị. Nó không phải nằm ở trên cái nhị nguyên nhỏ và lớn, có và không. Nó vượt thoát cái đó.

Phương chỉ cho phương sở. Thể tuyệt đối này rộng lớn không ngằn mé, vượt khỏi không gian thời gian.

Thường mình nói “phương” là chỗ đến, nhưng mà đây gọi là không có không gian và thời gian.

Quảng rộng lớn không thể nghĩ bàn. Đại Phương Quảng chỉ cho nghĩa của viên giác. Viên là tròn, giác tức là giác ngộ, giác ngộ một cách viên mãn gọi là viên giác. Viên giác này chỉ cho cảnh giới Phật. Chứ mình chưa có, mình học để tu.

Cho nên chia ra 5 phần:

  1. Phàm phu không có giác mà bất giác nên không thấy Phật tánh.

Đại chúng thấy mình có bất giác không? Chẳng hạn đang rửa chén, người ta nói chuyện mình vui rồi nói theo. Huynh đệ bên cạnh nhắc “đừng nói chuyện”, giật mình biết đã bất giác. Hoặc nghe bài nhạc ngày xưa mình hay hát, mình gõ gõ, nhịp nhịp theo hồi nào không hay, là bất giác rồi! Huynh đệ nhắc “tu mà còn vậy nữa”, giật mình! Mình giật mình nhiều lắm cho nên gọi là phàm phu, bất giác nên không thấy tánh Phật.

  1. Ngoại đạo thì giác, tuy biết nhưng biết lệch, đi sai lầm.

Đi sai lầm không đúng đường gọi là tà giác.

  1. Hàng nhị thừa tuy được chánh giác nhưng giác chưa lớn, chưa rộng, chưa có trùm khắp cho nên gọi là nhị thừa chánh giác.

Cái giác chân chánh nhưng mà không rộng lớn. Cái giác rộng lớn là thương chúng sanh, muốn cứu khổ chúng sanh dẫu lên xuống ba đường, sáu nẻo. Cái giác chưa rộng lớn, chưa phủ, chưa trùm khắp cho nên các ngài nhập Niết-bàn vĩnh viễn.

  1. Bồ-tát tuy thấy Phật tánh nhưng thấy từng phần nên gọi là phần giác. Phá từng phần vô minh để chứng từng phần pháp thân.

Mình dự trong hàng Bồ-tát cũng được. Ví dụ khi tụng kinh mình cố gắng tỉnh sáng, chuyện gì đến thì dẹp, buông xả từng phần, giống như cái áo rách nhiều thì vá từng miếng, từng miếng rồi mặc. Hoặc áo dơ thì giặt, phơi rồi cũng mặc được.

  1. Phật thì toàn giác. Phật thì trụ trì trong cái tính viên giác đó. 

Ngài Hám Sơn nói: “Trọn ngày viên giác mà chưa từng viên giác là phàm phu.” Nếu không có tính viên giác làm sao mình ăn, ngủ nghỉ. Nhưng mà mê theo duyên nghiệp của mỗi chúng sanh, chẳng hạn mình thích ăn món đó mà huynh đệ không thích, đó là duyên nghiệp của mỗi chúng sanh. Bởi vì tự tính viên giác bị lấp kín quá nên mình tùy theo cái nghiệp dụng của phàm phu, nghiệp dụng của duyên theo nghiệp. Cho nên ở trong viên giác mà chưa từng viên giác, hằng ngày sống trong viên giác mà không biết nên gọi là phàm phu.

Trong từng phần viên giác thì nên gọi là Bồ-tát. Phật hằng ngày sống trong viên giác trụ trì trong viên giác, thì gọi cảnh giới của Phật. đây, hành giả dụng tâm tu hành, công phu viên mãn, tính Phật hiển hiện tròn đầy thì gọi là viên giác.

Cho nên phải tu tập hằng ngày. Thiền sư Đại An nói: “Ở núi Quy mà không ăn cơm núi Quy, không học thiền núi Quy, chỉ coi chừng con trâu thôi.” Các Ngài nói ông cứ tu đi, đừng suy nghĩ gì hết. Sáng thức dậy, ông đánh răng rửa mặt rồi ngồi thiền. Chiều, tụng kinh, tối, ngồi thiền, ngày qua tháng lại. Như con chim đại bàng, khi mới sinh ra, nó không bao giờ nghĩ nó bay được. Hằng ngày, mẹ nó tha mồi về, cho nó ăn, tập cho nó vỗ cánh từng bước, từng bước. Đủ nhân duyên, mẹ nó gắp nó thả xuống vực thẳm; rớt xuống vực thẳm chạm đất, nó tự vỗ cánh bay vút lên. Mình tu cũng như vậy.

Tôi kinh qua con đường Phật sự, bây giờ mới thấy người tu cảnh giới thắng trí là cuối cùng nhất, là để cho ngày ra đi thôi, không có con đường nào khác. Tôi được bầu vào Ban Trị sự, cái gì làm được tôi làm hết cho Tăng Ni, không bao giờ để Tăng Ni khúc mắc. Chuyện Phật sự mình làm đúng trách nhiệm bổn phận, nhưng phải nghĩ: Bất cứ làm gì, trụ trì, phó trụ trì, trưởng ban, phó ban, quản chúng v.v.. chỉ là phần phụ, việc chính của mình là giải quyết sinh tử.

Tổ Lâm Tế nói, mấy ông mặc áo Bồ-đề, áo giải thoát, áo Niết-bàn, cởi lớp áo ra, ông phải nhận được chỗ đó. Làm trưởng ban, phó ban… mà giống như ông vua thì Kinh Viên Giác nói là vô minh. Việc cấp bách của ông là giải quyết con đường sinh tử, là việc sống còn của ngày ông ra đi. Còn mình làm ban này ban kia trong thiền viện, hoặc sau này đủ nhân duyên mình phụ với Giáo Hội, phải nhớ đây là cái áo: Áo trưởng ban, áo phó ban, áo thư ký… Chuyện của mình là chuyện sinh tử, là công phu, dụng công để ngày cuối cùng vỗ cánh bay vút lên như chim đại bàng.

Người xưa nói, thời thịnh thế mua đồ cổ về dự trữ, thời mà nước nào cũng hưng thịnh mua đồ cổ về bán có lời. Thời trung thế, tức là thấp hơn một chút, thì mua vàng bạc về dự trữ. Thời này là thời mạt pháp thì dụng công tu tập dự trữ, chứ đừng chứa gì hết. Nhà cửa, nơi ăn, chốn ở mình phải có, nhưng mục đích chính là phải dụng công tu thôi.

Vừa rồi, những người bị Covid được chỉ cho một phương pháp thoát chết là tập thở. Khi bị Covid, tôi mới biết 30 năm tu thiền đã cứu mình, vì mình đã tập thở 30 năm rồi. Cho nên, nhớ một điều, hằng ngày tọa thiền, dụng công, mình không thấy gì hết, nhưng có những lúc đem ra sử dụng.

Tu-đa-la nguyên là chữ Phạn, Trung Hoa dịch là Kinh. Phàm những lời Phật dạy được kết tập lại có hệ thống gọi là Kinh.

Chẳng hạn Kinh A Hàm, Kinh Bát Nhã, Kinh Niết Bàn. Những bộ Kinh này không phải Đức Phật nói một lần. Kinh Bát Nhã nói 22 năm. Khi kết tập Kinh điển, sắp xếp lại thành hệ thống gọi là Kinh.

Kinh có Kinh Liễu Nghĩa và Kinh Bất Liễu Nghĩa. Trong Kinh Đại Bảo Tích, có những đoạn Phật nói với tôn giả Xá Lợi Phất. Nói những việc thế gian là Bất Liễu Nghĩa, nói về thắng nghĩa là Liễu Nghĩa.

Nói việc thế gian: đây là thiện, kia là ác; đây là Niết-bàn, kia là sanh tử; đây là phiền não, kia là Bồ-đề… là bất liễu nghĩa. Vượt thoát sanh tử và Niết-bàn, phiền não và Bồ-đề tức là liễu nghĩa.

Nói tạo nghiệp phiền não bất liễu nghĩa. Nói để nghiệp phiền não sạch là liễu nghĩa.

Nói chán lìa sanh tử, tìm cầu Niết-bàn bất liễu nghĩa. Nói sanh tử Niết-bàn không hai tức liễu nghĩa.

Nói văn sai biệt bất liễu nghĩa. Nói pháp sâu xa khó thấy, khó giác tức liễu nghĩa. Kinh Viên Giác thuộc liễu nghĩa vì kinh Viên Giác nói tột lý cứu cánh, không qua phương tiện.

Kinh Viên Giác gọi là “Liễu nghĩa thượng thừa.”

PHẦN TỰA

Khi nêu lên một bộ Kinh, từ kinh Nguyên thủy đến Kinh Đại thừa, theo thông lệ, mở đầu tôn giả A Nan nói về thời gian và nơi chốn Phật và các vị đệ tử hiện đang ở:

“Như thị ngã văn, nhất thời Phật ở tại vườn của ông Cấp Cô Độc, cây của thái tử Kỳ Đà.”

Nhưng bộ Kinh này rất lạ, không nói nơi chốn:

“Như thị ngã văn, nhất thời Bà-già-bà…”

Từ đây đến đoạn tổng danh pháp hội bình đẳng là phần chứng tín. Vì đầu của các Kinh đều có phần này gọi là phần thông tự. Do Ngài A Nan hỏi Phật: “Khi kiết tập kinh điển, mở đầu các kinh nên để câu gì để làm chứng pháp là có chỗ trao truyền?” “Như thị ngã văn” là khi Ngài A Nan kiết tập Pháp tạng, là miệng nói lời của Phật, nghĩa là Pháp như thị.

Dịch sang tiếng Việt, Như thị ngã văntôi nghe như thế này. Như thị dịch sang tiếng Việt là như thế, nhưng chữ thị dịch không lột hết cái ý trong phần Pháp như thị, cho nên tại sao đại chúng phải học chữ Hán. Như thị có nghĩa Ngài A Nan ở trong trạng thái như thị. Chẳng hạn mình ngồi nghe Pháp mà muốn được công đức viên mãn trong thời Pháp là chúng ta phải nghe trong như thị, tức là không có người nói và đối tượng nghe. Khi tôi nói thì đại chúng nghe, nhưng khi tôi không nói nữa đại chúng vẫn nghe, tức là nghe trong như thị. Chữ như rất là hay. Im lặng, mặc nhiên là ở trong trạng thái như.

Cho nên, người xưa có câu:

Kinh điển lưu truyền tám vạn tư,
Học hành không thiếu cũng không dư,
Hôm nay ngẫm lại chừ quên hết,
Chỉ nhớ trên đầu một chữ như.

Khi nghe lời khen hoặc chửi mắng mà mình ở trong như thị thì mình không có dấy niệm được và mất, thương và ghét. Tinh thần Pháp Hoa gọi là Thập như thị.

  • Nhìn một hình ảnh mà chúng ta bất động, không dấy niệm, không chia chẻ, không phân tích thì gọi là Tướng như thị.
  • Cái gì thấy được đối tượng đó? Tánh như thị.
  • Ngay trong giờ phút đó bản thể nhất như: Thể như thị.
  • Khi chúng ta luôn ở trong như thị, mình làm tất cả các việc mà không mệt vì dùng Lực như thị, Tác như thị.
  • Chúng ta làm tất cả các việc từ đâu? Từ nhân duyên thù thắng. Kinh Lăng Nghiêm nói nhân phải trụ trong vô sanh: Nhân như thị.
  • Nhân như thị kéo theo Duyên như thị, Quả như thị, Báo như thị, Tiền hậu cứu cánh như thị.

Rốt ráo đều như thị.

Như vậy, tôn giả A Nan nghe là tôi nghe như thị, ngay trong giờ phút đó cái nghe và cái bị nghe đồng thời có mặt, nó viên dung trong tinh thần đốn ngộ.

“Ngã văn” là ngài A Nan nghe từ nơi Phật nói, chẳng tự mình ức thuyết mà nói.

Khi tôn giả A Nan nhận làm thị giả Đức Thế Tôn, tôn giả xin Phật chấp nhận 8 điều kiện, trong đó điều kiện thứ 7 là: Xin Đức Phật nói lại những bài pháp về con đường đưa đến giác ngộ giải thoát Đức Thế Tôn đã thuyết giảng ở trụ xứ nào đó mà Tôn giả không có mặt.

“Nhất thời” thời gian không nhất định, chỉ Phật cùng các đệ tử cơ cảm hội tập, nên phàm nói Kinh đều nói “Nhất thời”. Hoặc khi đệ tử hỏi Pháp Đức Thế Tôn nói, khi tự Đức Phật nói ra gọi “vô vấn tự thuyết”.

“Bà-già-bà” cũng gọi là Bạc-già-phạm, là tiếng Phạn, là quả hiệu của Đức Phật. Tên hiệu này từ xưa chẳng có phiên dịch. Vì hợp nhiều nghĩa nên chẳng phiên dịch, nghĩa là một lời này đầy đủ có 6 nghĩa:

1. Tự tại.
2. Xí thịnh.
3. Đoan nghiêm.
4. Danh xưng.
5. Kiết tường.
6. Tôn quý.

Nhập ư Thần thông Đại quang minh tạng, Tam-muội Chánh thọ, nhất thiết Như Lai quang nghiêm trụ trì.

Khác hơn những bộ Kinh khác, đây không nói nơi chốn nào, ở giảng đường, trú xứ hay khu rừng nào, mà ngay trong giờ phút Đức Phật muốn nói Kinh này là phải “nhập ư thần thông đại quang minh tạng, ở trong tam muội chánh thọ”.

Tạm dịch là:

Một hôm, Thế Tôn nhập chánh định thần thông đại quang minh tạng, là nơi an trụ quang nghiêm của tất cả Như Lai, cũng là giác địa thanh tịnh của chúng sinh.

Như vậy, chúng ta thấy thiền đốn ngộ nằm trong này, nhập vào chỗ thần thông đại quang minh tạng là đi đứng nằm ngồi đều có định này, gọi là na già thường đại định. Cái định này là tự tịnh tự định, không phải đợi ngồi thiền mới định. Như Lai nhập vào thần thông đại quang minh tạng này thì chúng sinh cũng có cái định này, gọi là giác địa thanh tịnh của mỗi chúng sinh. Mỗi chúng sinh đều có Phật tính mà mình có vào cái định này được hay không thôi.

Tôi đưa một ví dụ đơn giản: mình chưa bao giờ đi Mỹ hoặc đi Pháp nhưng trong chúng có người đi về kể thành phố bên đó rất đẹp, có dòng sông, có thác, có vườn nho… Tuy chưa đi đến đó nhưng mình cũng tưởng tượng được thành phố đẹp như thế nào, bởi vì mình tin lời người kể. Cũng vậy, mình chưa có nhập được vào chỗ thần thông đại quang minh tạng tam muội chánh thọ, nhưng mình tin lời Phật dạy nên dấn thân vào con đường này mình tu tập. Phần này gọi là Phật ngôn lượng.

Hoặc mình ra đường thấy một người bị tai nạn gãy tay, họ ôm cánh tay gãy họ khóc thì mình biết họ đang bị đau. Mình không bị sao mà mình biết? Là do so sánh, suy luận. Cũng vậy, so sánh với việc tu, khi mình thấy một vị tu ba, bốn mươi năm tự tại, an ổn và bất động trước các pháp thì mình biết mình tu pháp này cũng sẽ được đến đó. Phần này gọi là tỷ lượng.

Tỷ lượng là so sánh. Khi Trang Tử nhìn dưới cầu thấy cá bơi lội, ông nói mấy con cá này an nhàn, hạnh phúc, thảnh thơi. Một người bạn ông nói ông không là cá sao biết nó thảnh thơi. Trang Tử nói, tôi nhìn chúng, tôi hình dung, so sánh được.

Mình tu một thời gian ba, bốn mươi năm chứng nghiệm vào cảnh giới đó. Chứng nghiệm khi mình ở chỗ định tĩnh, không có vọng tưởng thì có ánh sáng, rõ ràng thường biết, bất động, lạ lắm. Nó tự tại không còn vướng bận chuyện gì bên ngoài.

Ngài Dược Sơn hỏi Sa-di Cao:

  • Nghe nói Trường An náo loạn ông biết không?
  • Nước con an ổn.

Là chỗ đó. Phần này gọi là hiện lượng, tức là chứng nghiệm vào chỗ hiện tại, thực tại đó.

Một hôm, Thiền Động Sơn, lúc còn Sa-di, đến hỏi Thiền sư Hưng Bình:

  • Thế nào là tâm Phật? Thiền sư Hưng Bình nói:
  • Chính tâm ông. Động Sơn thưa:
  • Tuy nhiên như thế chính chỗ con còn Thiền sư Hưng Bình nói:
  • Nếu ông nghi, ông hỏi người gỗ đi. Ngay đó Ngài ngộ.

Chiều nay, mình đến trước tượng Hòa thượng đảnh lễ rồi hỏi: “Bạch Hòa thượng! Con nghi cái tâm con không biết phải là tâm Phật không?” Hòa thượng trả lời: “Nếu ông nghi ông đến hỏi người gỗ đi.” Cái tượng Hòa thượng trả lời được không?

Do đó, Tổ Lâm Tế dạy:

Người học đạo cốt phải tự tin, chớ tìm kiếm bên ngoài, thảy lên trên cảnh trần rỗng của người khác, đều chẳng nhận đó là tà chánh. Chẳng hạn có Phật, có Tổ đều là việc trong Kinh giáo để lại chứ không phải Phật của ông.

Đều là trần cảnh hết. Mình học chư Phật chư Tổ là trên giấy mực thôi. Ông Phật ông Tổ của mình ngay nơi chính mình, mình phải tin nhận để tu, để gạn lọc, chuyển hóa, phần này là phần của mình; còn Phật Tổ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp chỉ là trên hình tướng, trên chữ nghĩa, giấy mực nếu mà chúng ta không khéo.

Đặc biệt nhất là chỗ, Kinh Viên Giác này có ba thân: một là Pháp thân, hai là Báo thân, ba là Hóa thân. Chỗ nương tựa cũng có ba cõi: một là Tịch quang, hai là Thật báo Trang nghiêm, ba là Phương tiện Hữu dư.

Khi nhập vào chỗ “thần thông đại quang minh tạng”, ngay trong giờ phút đó là Báo thân, Pháp thân, Hóa thân, đầy đủ ba thân.

Thí dụ, buổi sáng mình nghe tin gì đó ở nhà, tâm mình loạn động bất an, cái tướng của mình, người ta nhìn thấy khác. Huynh đệ mình ai nhập thất chừng 2, 3 tháng, khi ra thất nhìn thân tướng trang nghiêm thanh tịnh, mắt sáng, đi đứng nhẹ nhàng đạo mạo. Nhưng chừng 6, 7 tháng sau thì mất hết; giống như ở trong thất được lau chùi, dọn dẹp, ra ngoài bị bụi phủ lại. Đa phần như vậy, bị nghiệp lực cuốn. Người xưa nói đạo nghiệp không thắng được nghiệp lực. Mình bị nó cuốn, một thời gian mất mình nên vào thất tiếp, mình nghĩ kỳ này chắc ổn, nhưng ra thất đâu lại vào đó, rồi lại vào thất, năm tháng cứ mài giũa như vậy. Giống như mình có hòn đá để làm tượng Phật, vào thất mình đục tỉa được 5-10 ký, ra thất mình tiếc nên đắp vô lại.

Pháp thân của Phật thì nương nơi cõi tịch quang.

Tịch là lặng, yên; quang là ánh sáng. Ở trong trạng thái tịch lặng, yên, rõ biết tức là đang ở trong Pháp thân chớ không phải là Phật tính nữa. Lâu ngày dài tháng có sức diệu dụng, gọi là lực dụng của người tu thiền, ngày cuối cùng, mình ra đi an ổn, không vướng bận. Ngay chỗ “đại thần thông quang minh tạng” chính là cõi thường tịch quang.

Trong Kinh diễn tả Phật Di Đà ở cõi Tây phương, Phật Dược Sư ở cõi Đông phương, nhưng tất cả Kinh tạng đều không nói Phật Thích Ca ở cõi nào. Đặc biệt nhất là Phật Thích Ca có cõi của Ngài, là cõi Thường Tịch Quang. Mình ở trong chỗ Ánh Sáng Thường Hằng, Lặng Lẽ Rõ Biết là mình đang ở trong cảnh giới của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Phạn ngữ gọi Tam Muội, Trung Hoa gọi Chánh Định.

Từ tam muội là thuật ngữ, không được dịch. Có người dịch tam là ba, muội là lửa, tam muội là ba ngọn lửa tham sân si. Không đúng. Xé lẻ dịch là trật. Thuật ngữ là không dịch được. Tam muội là chánh định và chánh thọ.

Nói chánh thọ chính ý thọ dụng trong chánh định. Kinh này hiển bày chỗ Phật nói Pháp thân Báo thân đồng thể. Chánh định, chánh thọ chỗ tự thọ Pháp lạc.

Chiều, mình ăn nhiều là phải coi lại cái tu của mình, bởi vì khi tâm định tĩnh thì có tự thọ Pháp lạc, lấy Pháp lạc nuôi cái thân nên ăn rất ít. Quý thầy quý cô có bệnh thì chiều uống sữa, uống bột để uống thuốc, hết bệnh rồi thì thôi.

Có những vị tu trên núi tuyết, ba tháng không ăn. Khi đạt tới chánh định, chánh thọ, cái tự thọ Pháp lạc nuôi lại cái thân. Sở dĩ, chiều, mình không ăn mà không đói là vì tâm không có lo lắng vọng tưởng nhiều mà chỉ chuyên sâu trong tu tập. Khi tu được là tự nhiên có được tự thọ Pháp lạc, năng lực đó nuôi lại cái thân này làm cho thân tâm được an ổn. Mình ăn buổi sáng, buổi trưa đủ rồi, chiều ăn nữa người ta nấu nướng cực nhọc. Hôm nào, tâm yên ổn không có vọng tưởng điên đảo, luôn ở trong thực tại hiện tiền, thì ngồi thiền chừng một tiếng, khi xả thiền thấy khỏe và an ổn.

Nhất thiết Như Lai quang nghiêm trụ trì. Nói tất cả Như Lai quang nghiêm trụ trì là nói về cõi Pháp tính, chính là chỗ chứng của chư Phật.

Tại sao không nói về cõi Phật tính mà nói về cõi Pháp tính? Từ ngữ Kinh điển càng đọc, càng tu mình mới thấy chỉ có trí tuệ Phật mới nói được cảnh này. Một nghìn vị tôn giả Xá Lợi Phất nói không được chứ đừng nói Bà-la-môn ngoại đạo mà nói Kinh này. Vị nào nói những Kinh Đại thừa không phải Phật nói, thì vị đó chắc chắn đời đời không gặp chánh pháp. Vì sao? Vì chối bỏ tính Phật của mình.

Từ tứ thánh, lục phàm, bò bay máy cựa, tức là những loài có sự sống, là hữu tình có tính Phật. Vô tình là gạch, ngói, đá, sạn, cát… gọi là Pháp tính. Nhìn cái linh này, nếu ở trong trạng thái như thị bất động, tức là mình trở về Phật tính, phóng chiếu ra nhìn các vật, thì mới gọi là Pháp tính. Nhìn với tâm vọng tưởng thì không phải.

Khi Phật nhập vào thần thông này, tất cả các cõi đều trang nghiêm thanh tịnh gọi là “tình dữ vô tình đồng viên chủng trí”. Tình là tất cả chúng hữu tình, vô tình là gạch, cây, sỏi, đá… đều ở trong chủng trí.

ông tăng thắc mắc điều này, ông nghĩ như vậy tình cũng chủng trí của Phật, cho nên ông đến hỏi ngài Pháp Nhãn:

  • Bạch Hòa thượng, chừng nào cỏ cây, ngói đá thành Phật? Thiền sư Pháp Nhãn:
  • Chừng nào trời sập!
  • Bạch Hòa thượng, chừng nào trời sập?
  • Chừng nào cỏ cây ngói đá thành Phật!

Như vậy, chúng ta mới hiểu các vị thiền sư nói “trúc biếc hoa vàng đều là Bát-nhã”, với điều kiện mình ở trong trạng thái Phật tính, trạng thái Như Lai tạng thì trong giờ phút này mới gọi là các cõi đều là Pháp tính.

Đại chúng có điều kiện nhập thất lâu chừng 3 – 4 tháng, có những lúc mình thấy cảnh này, không phải là cảnh của thế giới này nữa, lạ lắm. Cho nên khi ngộ đạo các Ngài cười, khóc; ở trong trạng thái như thị nên thấy các Pháp đều là Pháp tính, nó không rời Phật tính cho nên nói là chỗ chứng của chư Phật.

Cõi Thường Tịch Quang lấy ánh sáng làm trang nghiêm, chẳng phải lấy bảo vật khác mà trang nghiêm, vì cõi tịch quang chính là nhà an ổn của Pháp thân nên nói là trụ trì.

Khi tâm mình lặng lẽ rõ ràng thường biết là tự nhiên toát ra thân năm uẩn. Cho nên, khi Đức Phật nói với Long Vương: “Này Long Vương, thân tướng của Như Lai là do kết tụ trăm ngàn phước đức trong vô lượng kiếp. Trăm ngàn Phạm vương hợp lại, ánh sáng cũng không bằng Như Lai”, tức là Đức Phật thường ở trong cảnh giới đó.

Bây giờ, đại chúng hình dung, sau này, đường cao tốc làm xong, thiền viện mình xây dựng xong hết, là lúc đó mình thường ở trong cõi này, đừng suy nghĩ gì hết, lúc đó tự nhiên thân tướng mình toát ra sự an yên, người ta nhìn biết. Cho nên nói lấy ánh sáng làm chỗ trang nghiêm chứ không phải lấy bảo vật nào khác.

Đến chỗ này, ông Bàng Long Uẩn nói:

Người đời quý trân bảo,
Ta quý sát-na tịnh.
Báu nhiều loạn lòng người,
Tịnh nhiều thấy Phật tính.

Khi ở trong cảnh giới đó thì:

Thân tâm vắng lặng, bản tế bình đẳng.

Bản tế tức là bờ mé của cái gốc bình đẳng không có sai khác. Nếu không ở trong thân tâm vắng lặng thì thấy có phàm thánh, mê ngộ, sanh tử, Niết-bàn, phiền não, Bồ-đề, trói buộc, giải thoát; tức là thấy có hai, không có được bình đẳng. Vì sao? Vì tướng đều là tướng hư vọng, cho nên Kinh Kim Cang nói: “phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng.”

Ngồi thiền mà tâm mình không được vắng lặng cho nên thấy có sự sai biệt. Khi ngồi thiền, tâm mình lặng thì ngồi một, hai tiếng thân vẫn an ổn. Nhưng khi tâm chưa yên, mình ngồi thiền chừng nửa tiếng là thấy thân khó chịu, bứt rứt, bởi vì mình thấy hai, thấy mình đang ngồi thiền, còn một tiếng nữa mới xả thiền; thấy hai cho nên bản tế nó không được bình đẳng.

Tướng thì hư vọng mà đương thể thì vắng lặng, vì vắng lặng nên bình đẳng đều đồng một bờ mé. Đó là Viên giác bản tế khi tâm mình vắng lặng.

Người xưa có câu:

Khi tâm ta bất động,
Biển động cũng thành không.
Khi tâm ta dậy sóng,
Êm đềm hóa bão giông.

Ngài Bá Trượng có làm bài kệ:

Nhân nhân tị thử tẩu như cuồng,
Độc hữu Thiền sư bất xuất phòng.
Bất thị Thiền sư vô nhiệt não.
Chỉ duyên tâm tĩnh tự nhiên lương.

Tạm dịch:

Người người nóng bức phát cuồng điên,
Chỉ có thiền Tăng chẳng ra phòng.
Chẳng phải thiền Tăng không bị nóng,
Chỉ do tâm tĩnh mát tự nhiên.

Các vị Thiền sư cũng giống như mình, trời nóng các Ngài biết nóng, trời lạnh cũng biết lạnh chứ không phải không biết, mà các Ngài làm chủ được nóng lạnh cho nên ở chỗ nào cũng được chứ không có bứt rứt khó chịu. Chỗ này để mình ráng cố gắng ngày cuối cùng mình ra đi, khi tứ đại phân tán.

ông tăng đến hỏi Ngài Động Sơn:

  • Khi lạnh nóng đến làm sao vượt thoát được nóng lạnh?

Những người chết rồi sống lại họ kể, khi cái lạnh đến, lạnh rất khủng khiếp, giống như âm 10 độ, 20 độ; nóng thì cũng không chịu nổi. Ông tăng dùng thuật ngữ để hỏi, khi lạnh nóng đến, là khi cái chết đến, thì làm sao vượt qua.

Thiền Động Sơn trả lời:

  • Lạnh thời lạnh quá Xà-lê, nóng thời nóng quá Xà-lê.

Nóng mà mình tột được chỗ nóng thì hết nóng, lạnh mà tột được chỗ lạnh thì hết lạnh. Lúc đó tâm mình phải định tĩnh, an yên.

Tôi hay hỏi thăm mỗi khi các vị niên cao lạp trưởng trong tùng lâm chuẩn bị ra đi. Hồi sáng, tôi có gặp các vị đệ tử của Hòa thượng trụ trì Phật Quang, các vị cho biết Hòa thượng rất bình thản, từ ánh mắt đến hình tướng không một chút gì sợ hãi. Đệ tử vây quanh, Ngài nhẹ nhàng trút hơi thở ra đi. Ngài đã làm chủ được chỗ này, không hoảng hốt, không sợ hãi khi cảnh đến.

Thiền Đức Sơn một hôm khai thị chúng: Nơi mình vô sự thì chớ vọng cầu. Vọng cầu mà được, cũng chẳng phải được. Các ông chỉ vô sự nơi tâm, vô tâm nơi sự, thì hư mà linh.

Hư là rỗng mà linh diệu, tức là ở nơi tâm mình đừng có vọng cầu gì hết, ngay đó vô sự, ngay đó vô tâm.

Không mà diệu. Nếu có nói gốc ngọn chừng đầu mảy lông đều là tự dối. Còn có mảy may nghĩ nhớ, là nghiệp nhân tam đồ bất chợt sanh tình (vọng khởi), là muôn kiếp bị khóa kín (trong địa ngục). Danh thánh, hiệu phàm trọn là tiếng rỗng. Tướng đặc biệt, hình xấu xa đều là sắc huyễn. Các ông muốn cầu đó mà không bị lụy, và các ông chán đó lại thành bệnh lớn, cả hai đều vô ích.

Ngài Đức Sơn Tuyên Giám khai thị cho mình, ngay nơi đó mà tu tập để chuyển hóa. Nếu ngay đó chợt sanh tình là rớt xuống ba đường khổ. Ngay chỗ chuẩn bị từ giã cuộc đời vừa khởi niệm sanh tình là rớt liền, cho nên mình phải thực tập hằng ngày, ráng cố gắng tu để ngày ra đi có con đường nào khác.

Cũng là giác địa thanh tịnh của chúng sinh, thân tâm đều lặng lẽ, bản tế bình đẳng tròn đầy cả mười phương, tùy thuận không hai. Ở cảnh giới không hai này mà hiện các cõi tịnh độ cùng 10 muôn vị Bồ-tát lớn câu hội tên là: Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi, Bồ-tát Phổ Hiền, Bồ-tát Phổ Nhãn, Bồ-tát Kim Cang Tạng, Bồ-tát Di Lặc, Bồ-tát Thanh Tịnh Tuệ, Bồ-tát Oai Đức Tự Tại, Bồ-tát Biện Âm, Bồ-tát Tịnh Chương Nghiệp Chướng, Bồ-tát Phổ Giác, Bồ-tát Viên Giác, Bồ-tát Hiền Thiện Thủ…

Chẳng hạn hôm nào mình để một đồ vật chính giữa, mười tấm gương để xung quanh, chỉ một món đồ vật mà hiện ra hết tất cả. Khi tâm mình vắng lặng, khi tâm được an yên thì không phải một phương mà tròn đầy cả 10 phương, lạ lắm, chỗ tu này hay lắm, cho nên mới gọi là thú hướng hồi hướng có kết quả.

Muốn vượt chỗ sanh tử sống chết này mình phải tu tập để tìm cầu Niết-bàn, để yên ổn vắng lặng. Sanh tử-Niết-bàn là một hay là hai? Thấy hai là chưa tùy thuận được. Sanh tử và Niết-bàn là hai, mà phàm phu thì thuận dòng sanh tử, Nhị thừa thì các Ngài hướng đến Niết-bàn. Sợ sanh tử cho nên vào Niết-bàn gọi là thối chí độ sanh. Đặc biệt hàng đại Bồ-tát không thuận dòng sanh tử cũng không trụ cảnh giới Niết-bàn nên gọi là “tùy thuận không hai.”

ông Tăng đến hỏi Thiền Duyên Quán:

  • Khi giặc nhà khó giữ thì thế nào?

Sáu căn đối xúc sáu trần sinh ra sáu thức, lúc đó nó quậy mà mình không biết, bởi vì giặc nhà khó giữ. Giặc ở bên ngoài thì giữ được, nó đi đến mình thấy. Còn bất thình lình thì sao? Chẳng hạn có người nào đó chửi mình, căn tai tiếp xúc thanh trần sinh ra thức, mình phân tích liền: “Sao bà này khi dể mình quá!”. Có những vụ án đột nhiên người này tức giận đâm người kia chết, vì giặc bên trong không giữ được nó ứng ra hành động bên ngoài. Bảo mình bứng 10 – 20 gốc cây mình bứng được, còn bảo làm chủ 6 ông giặc này, được chừng 10 phút là tẩu tán chạy rong. Cho nên người xưa nói “nhận giặc làm con.”

Thiền Duyên Quán trả lời rất hay:

  • Biết được chẳng phải oan gia.

Biết nó là vọng tưởng cho nên không theo nó. Không theo nó thì không phải là oan gia trái chủ gì hết. Sáu căn của ông chính là cội gốc luân hồi sanh tử, mà ngay nơi sáu căn của ông cũng chính là cội gốc Bồ-đề, Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nằm ở đây.

Ông Tăng hỏi:

  • Sau khi biết được thì thế nào?

Sau khi biết rõ là vọng rồi thì tâm nó tự lặng, tu càng lâu càng lặng. Mình tu 5 năm nó khác, 10 năm, 20, 30, 40 năm sẽ khác, tu lâu ngồi thiền rất yên. Có những vị thiền sư như ngài Huệ Khả, Ngài ra những nơi công cộng thử coi tâm mình có duyên theo như ngày xưa không, cho nên Ngài uống rượu ăn thịt. Có một số người nói sao Ngài tu mà như vậy, Ngài nói: Chuyện này chuyện của tôi, không dính gì tới ông; là các Ngài kiểm cái tâm mình coi còn cái gì hay không. Các Ngài tu đến mức độ đó.

Thiền trả lời:

  • Tiến đến nước vô sanh.

Lâu ngày càng yên càng lặng.

Ông Tăng cũng rất hay:

  • Nước sanh đâu không phải chỗ y an thân lập mệnh? Thiền sư trả lời:
  • Nước chết không chứa rồng.

Rồng không ở đầm, hồ, một là ở trên trời cao, hai là ở vực thẳm, biển sâu, nó có sức quẫy. Đại Bồ-tát cũng như thế, các Ngài không trụ Niết-bàn nhỏ hẹp mà phải ở trong cảnh giới thế gian mới vùng vẫy được. Mình đến chỗ nào mà giáo hóa khó chừng nào thì công đức mình viên mãn chừng đó. Bởi vì khi gặp nghịch cảnh thì ngay trong giờ phút đó công đức tăng trưởng viên mãn, thuận quá ít có công đức.

Ông Tăng hỏi tiếp:

  • Như vậy thì thế nào nước sống chứa rồng? Thiền sư trả lời:
  • Dậy mòi chẳng thành sóng.

Các vị Bồ-tát không theo dòng sanh tử, không hướng tới Niết-bàn; các Ngài phục vụ chúng sanh mà chưa thành Phật. Vì chưa thành Phật nên còn dậy mòi, tức là niệm vi tế còn. Dậy mòi là có những lúc làm việc mệt mỏi quá, mình khởi niệm: “Thôi chắc tịch quá! Chịu hết nổi!”. Khởi niệm thôi chớ không lao theo nó, nó không thành nghiệp gọi là “dậy mòi mà không thành sóng.” “Dậy mòi” mà đang ở trong cảnh giới vô niệm, chỗ này rất đặc biệt: Có niệm vi tế mà không lao theo, không đắm đuối để không thành nghiệp lực đưa mình vào những cõi xấu.

Ông Tăng rất là hay:

  • Bỗng khi đầm nghiêng núi đổ thì sao?

bước xuống giường thiền nắm đứng ông Tăng nói:

  • Chớ nói ướt góc cà-sa của lão tăng.

Đầm nghiêng núi đổ là gì?

Tổ Đề Bà qua Bắc Ấn giáo hóa, Ngài có duyên với chúng sinh, các đệ tử ngoại đạo Bà-la-môn đều theo Ngài. Bữa nọ, ông giáo chủ gặp Ngài nói:

  • Ông dùng miệng thắng tôi, thì tôi sẽ dùng dao thắng ông.

Một hôm, Ngài đang ngồi thiền, ông này sai đệ tử đến mổ bụng Ngài, ruột rớt ra Ngài bịt lại, rồi nói:

  • Ông đến gốc cây lấy bình bát và cái y của tôi rồi chạy lên núi, một con đường mòn để trốn, chứ ông đi xuống đệ tử tôi gặp sẽ giết ông đó. 

Mình làm vậy được không? “Đầm nghiêng núi đổ” là chỗ này, nghịch cảnh nghịch duyên đến cùng cực nhưng mà “không ướt góc cà-sa”, không dính dáng gì chỗ đó hết. Khi Đại Bồ-tát ra làm các việc Phật sự, có những lúc sẽ gặp nghịch cảnh. Ai chửi cứ cười, chửi cách mấy cũng không dính dáng cà-sa, ai nói gì kệ, tâm vẫn bất động như nhiên.

Khi tùy thuận không hai rồi, trong cảnh giới không hai này mà hiện ra các cõi tịnh độ.

Cho nên, mình phát nguyện đi trên con đường Bồ-tát đạo, đời này độ sanh đời sau tiếp tục, chừng nào thành Phật mới thôi.

Thiền sư Khuê Phong nói:

niệm ứng duyên, như gương sáng tâm ảnh hiện các sắc tượng.

Có những người nói tu thiền chết không biết đi về đâu là người đó không hiểu. Mình cứ vô niệm đi, vô niệm mà ứng duyên. Có khi nào mình đứng thẳng trước gương mà bóng trong gương nó nghiêng qua một bên không? Người xưa nói hình ngay thì bóng thẳng. Mình cứ tu thẳng một đường, tự nhiên nó ứng ra các tịnh độ, đừng lo sau này chết không biết đi về đâu.

Đại sư Tăng Triệu nói:

Tịnh độ hay uế độ cũng đều tùy nghi của chúng sinh. Tịnh thì chỉ thấy châu ngọc, uế thì chỉ thấy ngói gạch.

Tâm tịnh thì thấy chỗ nào cũng yên ổn. Sơ Tổ Trúc Lâm Ngài làm bài kệ:

Tịnh độ lòng trong sạch,
Mựa phải tìm về cõi Tây phương.
Di Đà là tính sáng soi,
Đâu nhọc phải tìm về nơi cực lạc.

Tịnh độ là tâm mình trong sạch, tâm trong sạch là nó hiện ra các cõi tịnh độ. Khi sắp mất mà tâm thanh tịnh an yên thì tức khắc 10 phương tịnh độ hiện tiền, tùy hiện tái sanh. Đúng tuổi thọ mạng của mình thì tịch, nghỉ ngơi một thời gian, dưỡng sức rồi tiếp tục nữa. Muốn được như thế là phải tùy thuận không hai.

Hình dung được chỗ này thì công việc lao tác, làm các việc Phật sự là làm cho mình. Phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật. Khi người ta đến đây, thấy cảnh thiền viện sạch sẽ trang nghiêm, người ta hoan hỉ nói “sao cõi này giống cõi tịnh độ quá”, là trong đó có phần mình. Mình chẻ củi, gánh nước… làm tất cả mọi việc trong tùng lâm đều là làm cho mình, gọi là trang nghiêm cõi tịnh độ ngay thực tại. Là nhân như thị, duyên như thị, quả như thị thì báo như thị. Cuối cùng đều ở trong như thị.

Kinh Duy Ma Cật, Đức Phật dạy:

Thị cố Bảo Tích, nhược Bồtát dục đắc tịnh độ, đương tịnh kỳ tâm, tùy kỳ tâm tịnh, tất Phật độ tịnh.

“Thị cố” là thế nên. Thế nên Bảo Tích, nếu Bồ-tát muốn được tịnh độ, nên tịnh cái tâm mình. “Kỳ tâm” là tịnh cái tâm đó, tùy theo tâm mình tịnh, tức Phật độ tịnh. Muốn được tịnh độ phải tịnh cái tâm mình trước. Khi tâm mình tịnh thì cõi Phật đều tịnh.

Lúc bấy giờ, tôn giả Lợi Phất nghe Đức Phật nói như thế, nương oai thần của Phật phát ra ý niệm: “Nếu tâm của Bồ-tát thanh tịnh, chắc cõi Phật phải thanh tịnh. Như vậy, Thế Tôn khi trước làm Bồ-tát, tâm ý đâu chẳng phải thanh tịnh, mà cõi Phật này sao chẳng được thanh tịnh như thế.”

Tôn giả Xá Lợi Phất khởi niệm: Phật nói là hễ tâm mình thanh tịnh là cõi nước thanh tịnh. Như vậy trong thời quá khứ khi Phật còn làm Bồ-tát chắc tâm Ngài cũng phải thanh tịnh, mà Ngài xuống cõi này sao mà nó xấu quá, toàn là gò nỗng với đá sạn.

Phật biết ý niệm ấy liền bảo: “Ông Xá Lợi Phất, ý ông thế nào? Mặt trời, mặt trăng chẳng thanh tịnh ư mà kẻ mù sao không thấy?” “Bạch Thế Tôn, chẳng phải vậy. Đó là lỗi của người mù, chẳng phải nói mặt trăng, mặt trời.”

Phật đưa ra ví dụ, mặt trời, mặt trăng có nhưng người mù họ không thấy, lỗi ai? Lỗi tại người mù chứ không phải lỗi không có mặt trời, mặt trăng.

Cũng vậy, này Xá Lợi Phất, bởi chúng sanh tội chướng nên chẳng thấy cõi Phật Như Lai trang nghiêm thanh tịnh, đó không phải là lỗi của Như Lai.”

Mình mà buồn là cảnh buồn theo, tâm mình không yên thì cảnh cũng không yên; do tội chướng, do nghiệp lực của mình. Chẳng hạn như ngày xưa, đại chúng mới xuất gia, mỗi lần có việc đi đâu thì cái tâm mình muốn về nhà nghỉ ngơi một hai ngày. Ngày xưa, tôi mới xuất gia chừng 1 – 2 năm, sư phụ kêu vô Bàu Cạn lấy đá, 5 – 6 giờ chiều đi ra thấy người ta ngồi xúm lại ăn cơm ngoài sân, thấy khói bay lơ lửng nhớ nhà khủng khiếp chỉ muốn về. Tu thời gian lâu tự nhiên hết nhớ nhà mà ngược lại nhớ thiền viện. Nhớ thiền viện cũng là nhớ. Mình tu làm sao mà nhà hay thiền viện cũng không nhớ, ở chỗ nào cũng là thiền viện, ở nơi nào cũng như thị.

“Này Lợi Phất, cõi nước đây của ta vốn thanh tịnh ông chẳng tự thấy.” Nói rồi Phật dùng ngón chân ấn xuống đất thì cõi tam thiên đại thiên thế giới tức thì nghiêm sức bằng vô vàn thứ trân bảo rực rỡ, cũng như cõi vô lượng công đức bảo trang nghiêm của Phật Bảo Trang Nghiêm. Tất cả đại chúng đều ngợi khen chưa từng đều thấy mình ngồi trên tòa sen báu.

Mình tu sao để ấn đúng cái tâm của mình. Ấn trật nó xì ra mắt mũi miệng; ai đụng mình, mình ấn nó xì ra, con mắt trợn lên, miệng nói lời độc ác, tay chân thì múa may. Còn Đức Phật, Ngài ấn đúng cái tâm, tức khắc hiện ra cõi trang nghiêm thanh tịnh, đặc biệt là đại chúng đều thấy mình ngồi trên tòa sen báu. Tòa sen là vô nhiễm, trở về chỗ Phật tính, trở về tâm địa của mình, tức khắc thế giới này đều ở trong trạng thái vô nhiễm.

Khi Đức Phật nhập vào thần thông Đại Quang Minh Tạng, cùng với các đại Bồ-tát ma-ha-tát 10 vạn người, tên các vị ấy là gì lần sau chúng ta sẽ đề cập trong phần giới thiệu các vị Bồ-tát. Tên của mỗi vị Bồ-tát này biểu hiện đức hạnh và sự tu tập hướng đến để thành Phật đạo.

Đại chúng thấy sư phụ đặt tên cho mình, ví dụ tên tôi là Khế Định; có người nói tên tôi hay quá, chắc vì tôi chuyên tu thiền định. Thật ra không phải, sư phụ đặt tên tôi, kêu tôi lại hỏi: “Chú biết cái Định của chú là gì không?” Định này không phải thiền định, mà là định hướng. Bởi vì Thầy đã từng biết, ngày xưa tôi ở ngoài đời, thấy gì lạ lạ tôi cũng học: Thần chú, chuyển luân xa… tôi đều học qua hết. Cho nên Thầy nói: “Bây giờ, chú phải định hướng lại, Khế hợp Định hướng, mình tu một con đường thôi.” Đại chúng phải nhớ điều đó, tên của mình hợp với chỗ tu của mình, đừng có tu nhiều pháp quá. Tên các vị Bồ-tát thì ứng ra công hạnh và lực dụng tu tập hướng thành Phật quả chớ không phải tên suông.

Đây là quyển kinh đặc biệt, khi Đức Phật nhập vào Thần thông Đại Quang Minh Tạng, không phải với người thường mà cùng với các đại Bồ-tát Ma-ha-tát.

Có người thắc mắc, mình còn là chúng sinh có nghe Kinh Viên Giác được không? Chúng ta phải thực hiện theo tiêu chí để nghe và liễu ngộ được Kinh Viên Giác.

Ở đây, thường chúng ta nghe chữ Đại Bồ-tát, chữ Đại đây chỉ cho hàng Bồ-tát sơ địa trở lên: Sơ địa, Nhị địa, Tam địa, Tứ địa, Ngũ địa, Lục địa … đến hàng Thập địa Bồ-tát.

Người này có giác liễu ngộ, nhưng còn sót lại chút tình thức duyên lự nên gọi là Bồ-tát.

Đại chúng thấy Kinh Duy Ma Cật hay ở chỗ, A-la-hán thì chứng lục thông, còn Bồ-tát chỉ chứng ngũ thông. Chẳng lẽ Bồ-tát thua hàng A-la-hán? Các hàng A-la-hán chứng lục thông, mà thông cuối cùng là lậu tận thông. Lậu là rỉ chảy, tức là những hạt giống có thể tái sanh vào trong cuộc đời này không còn nữa. Hàng Bồ-tát chỉ chứng ngũ thông: thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thần túc thông, túc mạng thông; lậu tận thông không chứng. Tại sao? Nếu không còn sót một chút ít duyên lự thì không vào thế giới này để mà rộng độ chúng hữu tình.

Như vậy, Bồ-tát muốn thành Phật là phải nhờ chúng sanh. Chúng sanh muốn đi từ bậc hiền lên bậc thánh là phải nhờ Bồ-tát. Mình ngồi ngẫm kỹ, khi làm việc thiện pháp thì mình cám ơn người đến nhận mới đúng, nhờ người đó mình mới làm thiện pháp được. Các cõi trời từ cõi sắc giới đến cõi vô sắc giới, mình làm từ thiện được không? Không được! Bằng chứng nhất là ngày xưa tôi ở bên Canada, người ta cúng dường bánh rất nhiều, con nít đến, cho nó đâu thèm ăn, vì nhà nó có dư rồi. Ở đây có cơm thừa cho chim hoặc chó ăn, nhưng bên đó không được. Tôi không biết, tưởng giống như ở Việt Nam, có đàn quạ sà xuống tôi lấy cơm nguội cho ăn, chừng 10 phút sau có 2 cảnh sát đến hỏi chuyện. Họ nói lần sau muốn cho mấy con quạ này ăn phải ra siêu thị mua thực phẩm cho quạ, chim ở rừng ăn. Như vậy muốn làm việc thiện pháp bên đó rất là khó, còn chuyện phóng sanh thì ngàn đời không có.

Lại nữa, đây hữu tình cầu Bồ-đề nên gọi Bồ-tát.

Khi Lục Tổ nghe Kinh ngộ đạo, Ngài đến gặp Ngũ Tổ, Ngũ Tổ hỏi Ngài đến đây làm gì, Ngài đáp: Đến chỉ cầu làm Phật, gọi là cầu Bồ-đề; những vị cầu Bồ-đề đó là Bồ-tát. Vua Trần Thái Tông vào núi Yên Tử gặp Quốc sư Phù Vân, Quốc sư hỏi vào núi tìm gì, vua nói chỉ cầu tìm Phật ngoài ra không có gì khác, cũng gọi là Bồ-tát.

Như vậy, muốn nghe Kinh này, liễu Kinh này, phải thực hiện cầu Bồ-đề, đi đến con đường này trực thẳng thì cũng gọi là Bồ-tát.

Ma-ha-tát, ma-ha là Đại, nghĩa là hữu tình này. Muốn trở thành một vị Bồ-tát phải làm 6 điều sau, không làm được thì không phải Bồ-tát.

1.  Tin nhận Pháp Đại thừa

Không tin nhận thì không phải Bồ-tát. Tinh thần Pháp Đại thừa là chỉ thẳng về tâm, từ tâm tu ra. Nói khác hơn, Pháp Đại thừa là pháp đi đến con đường Phật quả, “Trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật”, tin chắc tâm mình là Phật, ngoài ra không con đường nào khác.

2.  Phải hiểu nghĩa Đại thừa

Đọc kinh điển Đại thừa phải hiểu nghĩa Đại thừa; phải hiểu Phật muốn nói gì; Phật muốn nhấn mạnh con đường để chúng ta đi và đến. Không hiểu thì “Y Kinh liễu nghĩa tam thế Phật oan, lìa Kinh nhất tự đồng với ma thuyết.”

3.  Phát tâm Đại thừa

Hiểu nghĩa Đại thừa rồi thì phát tâm Đại thừa. Đại thừa là cỗ xe lớn. Phát tâm đại thừa vì lợi ích tha nhân, làm cho chúng sanh được lợi lạc, an ổn và hạnh phúc lâu dài. Làm vì mọi người chớ không phải vì mình. Đó là cái tâm lớn, không phải tâm nhỏ hẹp.

4.  Hướng đến quả Đại thừa

Khi phát tâm đại thừa tu tập như thế là hướng đến quả Đại thừa, tức là quả Phật.

5.  Tu hạnh Đại thừa

Hướng đến quả Đại thừa không phải hướng suông mà phải tu hạnh Đại thừa, là phải tu hạnh bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ, lục độ ba-la-mật. Để làm gì? Để tự lợi và lợi tha.

6- Chứng đạo Đại thừa

Chứng được đạo Đại thừa, bước lên quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tức là thành tựu được ý nghĩa và học được Kinh Viên Giác.

Nếu không thực hiện được 6 điều này thì không bao giờ liễu ngộ được Kinh Viên Giác Phật muốn nói gì.

Những vị Bồ-tát này không phải là ít: 10 vạn. Ở đây nêu lên 12 bậc thượng thủ đứng lên thưa hỏi. Đệ tử ngài Mã Tổ có cả ngàn người mà đặc biệt chỉ 6 người được nhập thất. Nhập thất không giống như mình mà được tự do, nghi cái gì có quyền vào thất thưa hỏi Hòa thượng Đường đầu về pháp yếu bất cứ giờ nào. Những vị không được nhập thất phải chờ lên pháp đường khai thị mới được hỏi.

Mười hai vị Bồ-tát đứng lên thưa hỏi gồm:

1. Bồ-tát Văn Thù Lợi

Tiếng Hán dịch Diệu Thủ hoặc Diệu Cát Tường, biểu thị cho căn bản trí. Cũng gọi là Diệu Đức, biểu thị cho trí chứng.

Mở đầu bài Kinh Viên Giác tại sao ngài Phổ Hiền không hỏi mà phải là Bồ-tát Văn Thù? Như vậy, muốn tu tập nhân địa ban đầu là phải trở về căn bản trí, không có con đường nào khác. Trở về căn bản là cái gốc trí tuệ, từ đó tu ra thì không rơi vào tà kiến. Ngoài ra, tu bất cứ cái gì không khéo là rơi vào tà kiến.

Bồ-tát Văn thù thưa hỏi nhân địa bản khởi, cứu xét chân vọng để thành chánh giải, thành tựu tín căn.

Cứu xét cái nào là vọng, cái nào là chơn, cái nào là hoa đốm giữa hư không, cái nào là tính biết của chúng sanh để từ đó tu ra. Chỉ cần biết các pháp là hoa đốm thì dứt sinh tử. Học xong bài Kinh này là mình tu đủ rồi chứ không cần nhiều nữa. Phật dạy rất là kỹ để thành tựu tín căn. Ban đầu mà không có tín căn, không có căn bản trí, không từ đó tu ra là mình đi một vòng, các thiền sư nói “đến ngã ba đường mất dê” nếu mà chúng ta không khéo tu, giống như anh nông dân chăn dê, đến ngã ba đường mỗi con chạy một hướng, cuối cùng mất hết không còn con nào.

2.  Bồ-tát Phổ Hiền

Tiêu biểu cho sai biệt trí hoặc là phương tiện trí.

Trở về căn bản trí mà muốn giáo hóa lợi ích cho các chúng sinh thì phải có phương tiện trí, sai biệt trí thì đi vào từng lớp xã hội, từng ngõ ngách để mà nhiêu ích cho chúng sinh. Có 3 điểm hình thành nên một vị Bồ-tát Phổ Hiền:

Căn cứ theo tự thể thì thể tính cùng khắp nên gọi Phổ.

Đại chúng có thể tính cùng khắp không? Chẳng hạn như bây giờ mình nhìn lên tượng Sư Ông mà trụ vào cái tượng, thì thấy tượng cao khoảng 80cm, bề ngang khoảng 60cm, nó không cùng khắp. Cho nên nhìn các tướng mà suốt qua tất cả các tướng, không trụ trên tướng sanh tâm, đó là thể tính cùng khắp, gọi là Phổ. Cái biết này là cùng khắp. Chẳng hạn như chiều nay mình ra vườn thiền nhìn lên bầu trời, chỉ thấy đám mây, thì thể tính mình có nhiêu đó thôi. Còn mình không trụ trên đám mây sanh tâm ra các tướng, thì thể tính mình cùng khắp hư không, cho nên gọi là Phổ. Khi có được diệu dụng đó rồi thì:

Tùy duyên thành tựu đức hạnh nên gọi Hiền.

Chẳng hạn kêu mình nấu nồi cơm, mình nói: “Tôi không nấu cơm, tôi thích làm vườn”, thì ngay trong giờ phút đó mình không có tùy duyên, đức hạnh không có. Tùy duyên để thành tựu đức hạnh là làm cho đại chúng mà không dính mắc vào đó. Bất cứ việc gì mình làm thông suốt mà không chen ngã tưởng vào trong đó thì đức hạnh dần dần bắt đầu có lực dụng, trở thành một vị Phổ Hiền Bồ-tát.

Học các vị Bồ-tát là học theo cái hạnh của các Ngài. Có người lễ Bồ-tát Quán Âm mà không biết hạnh Quán Âm là gì. Học hạnh Bồ-tát Quán Âm chỉ một câu duy nhất: “từ nhãn thị chúng sanh – mắt thương nhìn cuộc đời”. Lạy Quán Âm mà ai đụng thì sân si là mắt trợn nhìn cuộc đời, không phải mắt thương. Các vị thiền sư nói mình lạy mà không học hạnh của các Ngài thì chi bằng đừng lạy.

Căn cứ theo giai vị thì cứu giúp không bỏ sót loài nào nên gọi là Phổ.

Nguyện lực rộng độ các hữu tình có nhân có duyên, không bỏ sót một ai hết nên gọi là Phổ.

bậc á thánh nên gọi Hiền.

Căn cứ theo giai vị hiện tại thì đức hạnh tròn đủ nên gọi là Phổ.

Có đủ đức hạnh, nói khác hơn là lực dụng của giai vị của Bồ-tát Phổ Hiền, gọi là Phổ.

Điều hòa thiện thuận nên gọi Hiền.

Khi ở trong đại chúng 60 – 70 người, lâu ngày cũng xảy ra những chuyện không vừa ý. Ở đây, vào tháng 7 gió nhiều, mình ngủ gần cửa sổ mà huynh đệ mình sợ gió, đóng cửa sổ lại nên nóng. Ngay trong giờ phút đó vì huynh đệ, mình điều phục, điều hòa để huynh đệ hoan hỉ, tu được thì đây là bậc Hiền chứ không phải thường. Đầy đủ đức hạnh, điều hòa ở trong đại chúng mình tu tập, ai nhìn mình cũng thấy vui và hoan hỉ, là trở thành một vị Bồ-tát gọi là Phổ Hiền Bồ-tát, đại chúng thấy đơn giản không?

Đơn giản mà khó lắm. Ở đây, sáu bảy mươi người mà ai cũng tu như thế thì ai cũng là Bồ-tát Phổ Hiền, không có đụng chạm, ở cả ngàn người cũng giống như một người. Còn ở một hai người mà mình không thực hiện theo hạnh của Bồ-tát Phổ Hiền thì ở không được.

3.  Bồ-tát Phổ Nhãn

Do pháp môn này khiến mọi người quán thân tâm thể, căn, thức, trần.

Căn là 6 căn, thức là 6 thức, trần là 6 trần.

Thế gian, xuất thế gian, thân mình, thân người, tất cả đều thanh tịnh, biến khắp pháp giới đồng với chư Phật. Nếu thành tựu quán hạnh sẽ chóng thấy được cảnh giới như vậy. Đó là Phổ Nhãn chân thật.

Nhìn ra pháp giới bên ngoài nhiều khi mình thấy không thanh tịnh. Sở dĩ thấy các pháp bất tịnh là do tâm không thanh tịnh. Đại chúng thường nghe câu chuyện Tô Đông Pha và ngài Phật Ấn ngồi thiền, một người tâm Phật thấy đâu cũng Phật, một người tâm không thanh tịnh thì thấy đúng là bất tịnh. Quán xuyên suốt, thấy tất cả mọi chúng sanh thân tâm đều đồng với thân tâm của chư Phật, còn dám coi thường ai, dám đụng chạm ai nữa không? Quán sâu như thế các Ngài nói giống như con rùa rụt cổ, con trâu rụng sừng. Con trâu rụng sừng thì đâu dám báng ai.

Phổ Nhãn bao gồm Bi Trí, nghĩa thấy khắp các pháp thanh tịnh, là Đại Trí Phổ Nhãn.

Thấy tất cả các pháp đều thanh tịnh không có gì nhơ uế, đều là cõi tịnh độ ngay nơi nhân gian này thì trở thành Phổ Nhãn Bồ-tát.

Thấy khắp chúng sinh thành Phật là Đại Bi Phổ Nhãn.

Mình thấy huynh đệ là Phật thì có khi nào dám làm Phật xúc não không? Làm tri sự dám nạt nộ huynh đệ không? Mình hiểu nhưng nhiều khi cũng hổ thẹn. Mỗi lần về Thường Chiếu gặp Sư Ông hay Sư phụ đảnh lễ, giai vị của những vị Hòa thượng lớn bằng Phật không mà tại sao mình cung kính các Ngài, còn đối với huynh đệ ở chung thì không có tâm độ lượng, tâm cung kính?

Học theo hạnh của Ngài Phổ Hiền: “nhứt giả lễ kính chư Phật”, gặp những vị đó chắp tay xá là “nhị giả xưng tán Như Lai”. Sáng nay, mình chẻ củi nấu cơm cho chúng; trưa, người ta vô dùng ngọ thì “tam giả quảng tu cúng dường”. Thấy khắp chúng sanh là Phật thì gọi là Đại Bi Phổ Nhãn. Lúc đó mình còn chê, còn tật đố không? Có ai dám tật đố với Phật không?

Nhiều khi đọc suông: “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”, độ chúng sanh chi cho xa, huynh đệ gần bên. Tuy rằng mình cạo tóc, đắp y rồi nhưng không thực hiện chút xíu nào trong những phần Đức Phật dạy, nên các Ngài nói mình cứ phàm phu mãi là có lý do. Vậy bây giờ thực hiện theo hạnh của Ngài là thấy khắp chúng sanh đều thành Phật.

4.  Bồ-tát Kim Cang Tạng

Kim Cang cứng mà bén. Cứng thì không vật gì phá hoại, bén thì có thể phá hoại tất cả các vật khác. Trí của Bồ-tát này cũng như vậy.

Cứng thì không có vật gì phá hoại được, cũng như không có phiền não cấu nhiễm làm cho vị Bồ-tát này bị ngăn ngại trong cuộc sống mà Ngài có thể phá tất cả các thứ đó. Bởi vì cái gì biết được nó là vọng tưởng điên đảo làm cho đau khổ, bứt, phá nó thì trở thành Kim Cang Tạng Bồ-tát. Bây giờ bảo lấp biển Phan Thiết chắc làm không được. Sở dĩ mình tu được là ngay nơi mình có Kim Cang Tạng Bồ-tát.

Cứng thì phiền não không xâm hại được, ngoại đạo thiên ma không làm lay động được.

Cứng là tánh biết, trở về chỗ tánh biết thì phiền não không xâm nhập được.

Bén thì phá được các chướng, lại đoạn trừ nghi hoặc cho người khác.

Thể nhập sự tu tập của ngài Kim Cang Tạng, thì

tất cả những mối nghi của chúng sanh đến nhờ giải đáp, mình giải thích làm cho người ta thông suốt không còn nghi hoặc trong đường tu nữa.

Cho nên, Ngài khởi ba câu hỏi sâu xa để trừ mối nghi cho người đời sau. Tâm nghi không còn thì đầy đủ tận công đức nên gọi là Tạng.

Giảng dạy, hướng dẫn sao cho tâm nghi của người ta không còn, từ đó, người ta thẳng tiến tu tập thì công đức vô tận. Giải mối nghi cho người khác tu gọi là công đức chứ không phải phước nữa.

5.  Bồ-tát Di Lặc

Hán dịch là Từ Thị. Từ là họ, A Dật Đa là tên, Hán dịch là Vô Thắng. Vì thắng đức vượt hơn người, nay gọi theo họ nên chỉ gọi là Di Lặc.

Gọi là Bồ-tát Di Lặc vì cái thắng đức vượt hơn người khác. Tâm Ngài rộng lớn, vào trong cuộc đời này để nhiêu ích cho các chúng sinh hữu tình. Chúng ta thường thấy Ngài thị hiện mang một cái túi to. Một hôm, trên đường đi, một vị cư sĩ hỏi: “Thế nào là thiền?” Ngài buông cái túi xuống. Ông cư sĩ hỏi tiếp: “Như vậy có bao nhiêu đó hay sao?” Ngài vác cái túi lên đi. Muốn đến cảnh giới thiền là phải buông. Buông rồi tự nhiên có diệu lực để nhiêu ích chúng sinh chứ không phải không có gì.

Do pháp môn này chi cấu sâu xa gốc ái, đoạn trừ phiền não vi tế, vì thế nên năm đời tu chứng đều thuộc luân hồi. Di Lặc là vị Bồ-tát đẳng giác nhất sanh bổ xứ, biểu thị cho ý nghĩa: Nếu đã trừ tập khí phiền não vi tế thì được chánh giác tròn sáng.

Tu chứng năm đời vẫn còn luân hồi, tập khí sâu ở bên trong vẫn còn vi tế, đoạn trừ luôn thì lúc đó mới thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

6.  Bồ-tát Thanh Tịnh Huệ

Bồ-tát này biểu thị cho việc ở trong môn tu chứng tướng giai vị nhân quả này mà trí tuệ chẳng trụ, chẳng chấp. Rỗng tâm, bặt tướng, chẳng bị tướng hành vị sai biệt làm cho nhiễm ô, cho nên gọi là Thanh Tịnh Huệ Bồ-tát.

Tức là cũng tu qua 51 giai vị Bồ-tát mà không trụ vào giai vị nào hết: Thập tín, thập hạnh, thập trụ, thập hồi hướng, thập địa, đẳng giác, diệu giác, mà không trụ, không dính. Tâm rỗng bặt các tướng, không bị những cái tướng giai vị này làm cho nhiễm ô, vượt lên hết thì gọi là Bồ-tát Thanh Tịnh Huệ.

7.  Bồ-tát Oai Đức Tự Tại

Oai, tức là biểu thị người ta kính, nghi tức là dung nghi người ta thấy kính nể.

Bồ-tát này biểu thị cho nghĩa: ba quán đã thành tựu thì công dụng mạnh mà sắc bén, tà ma không thể quấy nhiễu, vọng hoặc không thể xâm hại được.

Đạt được đến chỗ này rồi, tu tập có chánh kiến, chánh hạnh, tự tại trong cuộc đời không bị tà ma ngoại đạo quấy nhiễu.

8.  Bồ-tát Biện Âm

Đức Phật dùng một âm giọng thuyết pháp hợp với muôn loài. Tuy môn này nói chung ba quán nhưng tùy đơn phức khác nhau. Cho nên, đoạn sau nói 25 luân, mỗi một luân đều chứng nhập. Vị Bồ-tát này năng lực giỏi phân biệt, tùy loại viên âm nên nhận lời thưa hỏi.

Ở đây nói Đức Phật chỉ dùng một âm thuyết pháp tất cả muôn loài đều nghe, chứ không phải như mình, nói tiếng Việt thì chỉ người Việt Nam nghe, con chim, con ếch không nghe được. Đặc biệt là khi thành Phật rồi thì chỉ cần thuyết một lời tất cả muôn loài đều thấm đều nghe, gọi là nhiếp phục chúng sanh bằng một âm giọng chứ không cần nhiều.

9.  Bồ-tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng

Tất cả nghiệp chướng đều nương vào bốn tướng sinh.

Thấy huynh đệ tu tiến nhanh còn mình tu hoài không tiến chắc do nghiệp chướng. Nghiệp chướng từ đâu có? Từ tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sanh, tướng thọ giả sinh ra. Tại sao bị chướng? Tại chấp ngã! Thấy hai huynh đệ nói chuyện với nhau, tối về mình trằn trọc: chắc họ nói xấu mình. Chướng mình tự đem về. Khởi niệm như thế các Ngài nói không phải một cửa nghiệp chướng mà trăm ngàn cửa nghiệp chướng mở ra.

Người xưa có câu rất hay:

Thiên đường hữu lộ nhơn đáo,
Địa ngục môn hữu khách tầm!

Thiên đường có cửa mà không ai chịu đến, địa ngục đóng cửa mà gõ cửa xin vào! Do chấp ngã, chướng nó tự nơi thân mình. Tôi thấy có những huynh đệ tu rất nhàn, đơn giản là do không chấp ngã, không chấp nhơn, không chấp chúng sinh, thọ giả. Chướng từ bốn tướng này mà sinh ra.

Những lời hỏi đáp trong môn này là để trừ bốn tướng.
Bốn tướng đã trừ thì nghiệp tự nhiên thanh tịnh.

Trong truyện kiếm hiệp, những vị hoàn tất chương trình võ đạo mới được xuống núi. Chúng ta tu cũng như thế, không có văn bằng nào được cấp, nhưng tu như thế nào đó để thanh lọc nghiệp chướng. Nghiệp chướng đã trừ thì tự nhiên thân tâm thanh tịnh. Muốn được như thế là phải phá bốn tướng, quan trọng nhất là tướng ngã. Tướng ngã chi phối tất cả từ quá khứ đến hiện tại và vị lai. Bị dẫn dắt đi trong những con đường khổ não luân hồi cũng do sự chấp ngã. Chấp ngã từ đâu? Tu mà nhìn lỗi người ta nhiều quá, không có một phút giây nào nhìn lại bản thân mình thì tu một thời gian gặp đủ chướng hết.

10.  Bồ-tát Phổ Giác

Từ trước các lỗi đã lìa, bốn tướng cũng đã trừ diệt. Nhưng đối với ý dụng, tâm hành vẫn còn bệnh “tác”, bệnh “chỉ”, bệnh “nhậm”, bệnh “diệt”. Sự giác ngộ chưa cùng khắp, đến đây thì quyết đoạn bốn bệnh, tính giác không còn tì vết, giác ngộ khắp các bệnh chính ngay tại chỗ này.

Tính giác giống như viên ngọc lưu ly không có lỗi, không có tỳ vết, tròn sáng thanh tịnh. Lúc đó là chứng nhập viên giác.

Bệnh “tác” là tu tập, ngồi thiền, tụng kinh, sám hối, làm các việc thiện sự mà mong cầu đến cảnh giới viên giác.

Bệnh “chỉ” là muốn dừng lại hết các vọng tưởng để thể nhập viên giác.

Bệnh “nhậm” là mặc kệ. Nói rằng tính viên giác sẵn có rồi, bây giờ không cho tạo tác, không cho “chỉ” thì mặc kệ, ăn uống ngủ nghỉ thoải mái, muốn đi ngồi thiền, tụng kinh thì đi; muốn ngủ thì ngủ. Huynh đệ ăn cơm thì mình đi chơi, chừng nào đói bụng thì vô ăn; huynh đệ tụng kinh mình đi dạo bờ hồ. Đó cũng là bệnh.

Bệnh “diệt” tức là đoạn diệt, cũng là bệnh.

Đoạn sau, chúng ta sẽ học tiếp, đoạn bốn bệnh để mà tùy thuận tính viên giác.

11.  Bồ-tát Viên Giác

Đây là Bồ-tát quan trọng nhất trong bộ Kinh này.

Trong phần chính tông, các Bồ-tát hỏi đáp với Đức Phật, hiển phát ý mình là muốn hiển lộ tính viên giác cho mình và chúng sinh.

Nhưng mà hiển lộ chưa được. Tại sao chưa được?

Nhưng do từng lớp, từng lớp lỗi lầm chưa hết, ý nghĩa chưa tròn đầy, chưa tóm thâu toàn bộ các căn cơ. Đến đây ba ý nghĩa được gọi viên giác.

Cho nên tinh thần của Bồ-tát Địa Tạng là: “Chúng sanh độ tận phương chứng Bồ-đề, địa ngục vị không thề bất thành Phật.” Cái hạnh của Bồ-tát là chúng sanh thành Phật mình mới thành, chúng sanh chưa ngộ thì mình chưa ngộ, chúng sanh đầy đủ mình mới được, viên giác mới tròn đủ. Mình được viên giác mà những người đi theo mình chưa viên giác thì chưa tròn cái hạnh viên giác. Phải làm như thế nào để cùng nhau tu tập trở về tính viên giác của mỗi chúng sinh. Như vậy phải đi sâu bên trong từng ngõ ngách của vọng gọi là “ngộ vọng để chứng chơn” thì tính viên giác mới hiển lộ.

Thứ nhất là:

Tuy bệnh đã hết, lý đã tròn đầy, nhưng sợ hàng hạ căn khó vào nên đến đây lại tùy lòng từ bi mở cửa phương tiện, lập đạo tràng ba kỳ, thì thượng, trung, hạ căn đồng trở về viên giác.

Lập đạo tràng tu một mình thì chưa đủ, cho nên hàng tháng mở khóa tu một ngày, rồi 6 tháng mở khóa tu 3 ngày. Có nhiều người hỏi tôi là mình xây dựng cũng nhiều rồi, vậy còn xây nữa không? Tôi nói: “Tính xây 33 cái thất, mới xây được mười mấy cái, còn mười mấy cái nữa.” Họ nói: “Xây chi nhiều vậy!”. Tôi ví dụ, bây giờ bệnh mình dứt rồi, lý hiểu rồi nhưng những người gia duyên nhiều việc, bỏ mặc họ thì viên giác mình không tròn. Nên phải lập hạnh, cho người ta về tu tập, để đồng chứng nhập viên giác thì hạnh mới tròn, không có khuyết. Vì vậy đừng có thắc mắc tại sao tôi xây dựng hoài.

Hôm trước, có bốn vị Hòa thượng và mười mấy vị Thượng tọa ra làm đám tang cho Hòa thượng ở Phan Thiết. Về nghỉ ở thất Thiền viện, gần bờ hồ, gió mát, các vị hoan hỉ lắm. Khi tâm các Ngài vui và tùy hỉ thì công đức mình tăng trưởng. Mỗi người về đây tu tập, thấy đạo tràng trang nghiêm thanh tịnh, người ta dễ nhập tính viên giác thì công đức mình tăng trưởng, tính viên giác mới tròn đủ không khuyết.

Khổng Tử có câu: “Người có cái nhìn xa thì không có cái buồn gần.” Khi Sư Ông Trúc Lâm cắt cử tôi về đây làm Phật sự, tôi vào thất riêng của Sư Ông hỏi Ngài 3 điều:

  1. Con thấy chánh điện ở Trúc Lâm nhỏ quá, những ngày lễ lớn người ta đứng ngoài xa, giờ Sư Ông cho con xây như thế nào? Sư Ông nói: “Chú về xây lớn gấp 4 lần ở đây.” Khi Sư Ông nói là Ngài đã Yết-ma. Yết-ma thành tựu thì mình xây không có lỗi gì hết.
  1. Con thấy các thiền viện một tháng có một ngày tu tập. Con hay tin đất ở đây rộng lắm, nếu đủ duyên sau này 6 tháng con mở khóa tu 3 ngày được không Sư Ông? Sư Ông nói được: “Chú về chú làm.”
  2. Con thấy có những vị cư sĩ theo Sư Ông tu học đã lâu, nhưng bận rộn công ăn việc làm, đời sống gia đình. Họ kiến giải rất sâu, có những người muốn nhập thất vài tuần hoặc một tháng mà nhiều chỗ không có điều kiện. Vậy mai này tụi con làm được không? Sư Ông nói được, chú cứ làm.

Vì Sư Ông Yết-ma rồi nên tôi làm không có lỗi, không bị ai nói gì hết. Bây giờ, cư sĩ vào nhập thất bình thường. Cư sĩ trình Sư phụ xong về đây vào thất tu. Những vị cư sĩ được Hòa thượng chứng minh vào nhập thất thì khi vào tu đều có kết quả. Những vị cư sĩ chưa được Hòa thượng chứng minh, vào thất coi chừng bị trục trặc.

Thứ hai là:

Do lớp trước hạnh giải đã viên, đến đây gọi là chứng tột, cảnh chứng tột lại không một thể nào khác, chỉ viên giác thôi.

Không có gì khác, không còn con đường nào khác, không có một cái cảnh nào đến được hết.

Thứ ba là:

Đầu tiên thỉ giác. Thỉ giác cũng chính viên giác, chỉ môn Đà-la-ni, đó từ gốc khởi ngọn. Đến đây thì hiển ý nghĩa đã khắp, lại trở về đến viên giác thì đó là thâu ngọn về gốc. Vì biểu thị 3 ý đó cho nên lập cái môn này gọi là Bồ-tát Viên giác.

12.  Bồ-tát Hiền Thiện Thủ

Điều nhu, thiện lương, hòa thuận gọi là Hiền. Hiền và Thiện ý nghĩa không khác. Hiền là bậc á thánh, Thiện thì thuận lý, Thủ là đứng đầu. Muốn khiến muôn thiện đồng hưng khởi đều phải thuận chân lý, thành giai vị chính nhân thì bậc kế sau thành thánh quả, ắt mượn Kinh giáo để lưu thông. Kinh giáo lưu thông là đứng đầu trong các việc hiền thiện.

Như vậy, muốn trở thành một vị Bồ-tát cũng đơn giản lắm. Điều nhu là gì? Thứ nhất là điều phục cái tâm cho nó nhu nhuyến thanh tịnh. Thứ hai là người lớn sai việc gì đều thuận theo, chỉ sao làm vậy không có chống trái, tức là điều phục tâm và sống đúng với chân lý. Thứ ba là khi điều phục được tâm rồi thì thiện lương, hòa thuận với tất cả bạn đồng học. Đó gọi là Hiền Thiện.

Thiện thì thuận lý, Thủ là đứng đầu muôn việc. Muốn khiến muôn thiện đồng hưng khởi thì phải thuận chân lý. Muôn thiện đồng hưng khởi là gì? Nếu mình vào đây mà không tuân thủ nội quy, không tuân thủ quy chế thì đừng có vào. Vào đây phải thuận theo quy chế thì muôn điều thiện từ đây phát sinh. 6g30 tụng kinh thì mình tụng kinh. Hôm nào mệt mình trình trưởng liêu hay quản chúng không lên tụng kinh được thì bình thường, nhưng nhớ là phải xin. Không phải tự nhiên mà chúng tôi giữ ngôi chùa này, phải có người cắt đặt, phải có Hòa thượng chỉ định yết-ma đâu đó hết rồi. Trong tùng lâm phải đi thưa về trình, phải đầy đủ phép tắc. Mình trái thì Long thần Hộ pháp họ quở mình. Tin những điều này đi, tin để mà tu chứ không phải để làm gì hết.

Chúng ta đã học 12 vị Bồ-tát.

Những vị Bồ-tát này bậc thượng thủ, cùng với các quyến thuộc đều nhập tam muội, đồng trụ trong pháp hội bình đẳng Như Lai.

Kinh Viên Giác chúng ta nên học kỹ. Ngày xưa học lướt qua không thấy gì, bây giờ học kỹ mới thấy phần đầu này rất là quan trọng cho người tu.

  • Hạnh nguyện độ sanh của Bồ-tát là các Ngài đi trong các cõi, đặc biệt là lúc nào cũng cùng với các quyến thuộc, tức là những vị có nhân duyên với các Ngài. Đủ nhân đủ duyên các Ngài độ trước, kế mới rộng độ chúng Người xưa nói “nhất nhơn hành đạo cửu huyền thăng”, nhưng mà “ai ăn nấy no, ai tu nấy chứng” thì làm sao thăng được? Thật ra Bồ-tát hiện thân trong cuộc đời này, những người có nhân duyên với các Ngài, gọi là quyến thuộc, cùng tu với các Ngài. Đọc những bộ Kinh điển Đại thừa, mới thấy điểm đặc biệt nhất là hạnh nguyện của Bồ-tát là lúc nào cũng ở trong tam giới, nói khác hơn là ở trong 3 cõi để cứu vớt chúng hữu tình có nhân duyên với các Ngài.
  • Nếu mình không phải là quyến thuộc của Bồ-tát, không có nhân duyên tu pháp đốn ngộ thì mình vào không được. Như vậy mình có túc duyên nhiều đời tu pháp này, tức là nguyện lực của mình có đủ. Trong bài sám pháp hằng đêm bên các chùa tụng, khi tụng kinh xong, người ta thường có lời nguyện:

Sanh phùng trung quốc,
Trưởng ngộ minh sư,
Chánh tín xuất gia,
Đồng chơn nhập đạo.

Trung quốc ở đây là giữa nước. Mình phát nguyện sanh nơi trung tâm, chẳng hạn thủ đô Hà Nội hoặc Thành phố Hồ Chí Minh, hoặc Đà Nẵng… nơi có đầy đủ những bậc hiền, bậc thánh để học hỏi, tìm hiểu giáo pháp của Phật dễ hơn ở vùng biên địa hạ tiện.

Trưởng ngộ minh sư là lớn lên mình gặp ông thầy phải sáng. Người xưa nói, thà một ngày không ngộ còn hơn ngàn năm đi lệch đường. Kết nhân duyên với thầy tà bạn ác thì đời đời mình lầm lũi trong vô minh, luân hồi sanh tử không thoát ra được. Cho nên học Kinh Viên Giác thấy rất vi diệu, phải nhận ra được nhân địa bổn khởi, là tự tính viên giác, từ đó tu ra. Còn không, đi lệch gọi là tà kiến hoặc dị kiến. Vì vậy, chúng ta nên phát nguyện đời đời, kiếp kiếp lúc nào cũng gặp nhân duyên thầy lành, bạn tốt để tu cho xong đời này hoặc là đời sau, đời sau nữa chứ không đi mãi trong luân hồi sanh tử nữa.

Lớn lên mình xuất gia bằng hạnh nguyện, bằng nguyện lực chứ không phải vì nghèo khổ, thiếu thốn nợ nần, mà là chánh tín xuất gia.

Đặc biệt nhất là đồng chơn nhập đạo, nghĩa là chưa có gia đình, vào con đường này để tu cho đến chỗ rốt ráo; như thế mới gần gũi, làm các quyến thuộc của Bồ-tát.

Vào thời Đức Phật, chư tăng thường ở từng nhóm. Cũng giống như chúng ta bây giờ, huynh đệ đồng cảm với nhau thường đi chung từng nhóm 4 – 5 người. Ở trong đại chúng thời nào cũng vậy. Một hôm Đức Phật ngồi trên núi Linh Thứu. Lúc bấy giờ, tôn giả Ca Diếp dẫn một đoàn người đi trước, Phật nói với tôn giả A Nan: “Những thầy Tỳ-kheo đi với ông Ca Diếp nhiều đời tu khổ hạnh với nhau bây giờ gặp lại.” Phật nói tiếp: “Những thầy Tỳ-kheo đi với

tôn giả Xá Lợi Phất nhiều đời tu về trí huệ, giờ có nhân duyên gặp nhau. Những vị thầy đi với tôn giả Mục Kiền Liên nhiều đời, nhiều kiếp tu thần thông nên giờ có duyên gặp lại. Còn những thầy đi với Đề Bà Đạt Đa là nhiều đời về danh lợi, tham ái.”

Trong thiền sử ghi, Ngài Đơn Hà đầu tiên đến với Ngài Mã Tổ, Ngài Mã Tổ nói: “Ông không có duyên với tôi, hãy qua bên Thạch Đầu.” Người xưa hay vậy đó, người ta không có giành đệ tử. Nhìn là biết có duyên ở đây hay không, nếu không thì giới thiệu qua chỗ khác tu.

Như vậy, chúng ta thấy, nhân duyên quyến thuộc nhiều đời mới gần gũi được pháp mà mình tu học. Cho nên ở đây nói: là những bậc thượng thủ cùng với các quyến thuộc. Quyến thuộc rất quan trọng. Tu pháp nào thì đời đời, kiếp kiếp gặp pháp đó, tu mãi đến khi chứng đắc quả vị vô thượng.

Cho nên, ở đây không nói là tiểu hay đại, ai có nhân duyên pháp nào thì gặp pháp đó, tự nhiên họ tu dễ dàng không có gì khó khăn. Còn nếu không có nhân duyên với pháp đó, không kết nhân duyên làm quyến thuộc thì tu không được. Chẳng hạn bây giờ, chúng ta kết nhân duyên với Sư Ông Trúc Lâm thì đời nào ra mình cũng gặp. Nhiều khi mình nói xuất gia chừng một hai năm rồi đi, điều này không đúng. Mình đừng có nghĩ là một đời xong, đến một hai năm rồi bỏ đi, gọi là đoạn duyên, cái duyên chưa sâu. Ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng sau khi ngộ đạo Ngài ở với Lục Tổ 15 năm. Còn mình ở một hai năm rồi đi thì duyên không sâu, đời sau cũng gặp mà chỉ lướt lướt thôi.

Tôi ở Trúc Lâm tính ra gần 17 năm, khi Sư Ông cắt đi công việc Phật sự tôi mới đi. Cái duyên là phải ở, giống như mưa lâu mới thấm đất. Gọi là cùng với các quyến thuộc là phải có nhân duyên lớn, mà quyến thuộc của những bậc thượng thủ. Ngày xưa, tôi đi xuất gia, tìm con đường này, đâu có biết Hòa thượng là ai, nhưng đã có hạt giống nhiều đời, có nhân duyên rồi thì tự nhiên gặp. Tu tập thấy pháp này sao gần gũi, đơn giản dễ tu. Đó là đã nhiều đời tôi tu pháp này rồi.

  • Phần quan trọng nhất trong đời tu là làm sao nhập vào tam muội. Làm người đã khó, sáu căn đầy đủ càng khó, gặp được chánh pháp càng khó hơn nữa thì làm sao phải nhập được vào tam muội. Tam muội gọi là chánh định. Định này không phải là định xuất nhập; định này là tự tịnh tự định, bản tánh của định, không phải dễ nhập. Nếu không đủ nhân duyên, không đủ phước thì vào không được; giống như cái nhà, cửa bị khóa kín không vào được. Trong lịch sử, những vị vua, những vị quan đi tu nhanh lắm. Bằng chứng là vua Trần Nhân Tông ở Việt Nam, bởi vì phước lực Ngài đủ, cộng với thời tiết nhân duyên và túc duyên trong quá khứ.

Tổ Đạt Ma khai thị, muốn tu pháp này phải kiệm đức. Kiệm đức là phải có tâm khiêm hạ đối với những người khác, coi các chúng sinh là Phật thì mới nhập được. Bố thí cúng dường, làm việc thiện pháp nhiều nhưng chỉ cần ngô ngã, coi thường người khác là mất hết.

Ngài Sơ Sơn là sư thúc của Ngài Ngưỡng Sơn, là sư đệ của Ngài Quy Sơn. Khi Ngài Ngưỡng Sơn đến hỏi pháp Tổ Quy Sơn, Ngài Sơ Sơn ngồi phía sau ụa giống như muốn ói, ý là chê Ngài Ngưỡng Sơn. Ngài Ngưỡng Sơn quở: “Ông chưa đạt đến cảnh giới đó mà dám chê, từ đây ông tiêu ngược 30 năm.” Đúng y như vậy, Ngài ăn xong là ói, đúng 30 năm thì tịch. Cho nên mình tu học phải dè dặt, coi thường người khác hoặc không kiệm đức, không kiệm lời, còn ngô ngã chê bai là phước tức khắc giảm.

Trong Đạt Ma Tổ Sư Luận, Tổ Đạt Ma khai thị:

Nếu người chẳng thấy tánh, tức chẳng nên tùy tiện chê bai điều lương thiện của người, tự dối mình vô ích.

Nếu không thấy tánh, mình đâu có biết người ta làm gì mà chê. Mình đến cái làng đó, nghe người ta nói ông đó thiện, Khổng Tử nói chưa chắc thiện. Hoặc có người nói ông đó ác, Khổng Tử nói chưa chắc ác. Mình đâu có biết mà cứ tùy tiện chê bai. Các Ngài đến với đối cơ, mục đích để khai thị, để nhổ cái gốc nghi thì đúng, bởi vì các Ngài đã thấy tánh. Còn mình chưa thấy tánh mà chê bai, chẳng hạn nói ông này tu mà còn bố thí, phóng sanh. Hoặc như lúc trước có lễ rước Phật ngọc, một số người học thiền chút chút rồi chê, nói ngọc mình không rước đi rước ngọc ở ngoài. Đâu phải chúng sanh nào cũng thấy tánh, nhờ hình tướng, người ta mới nhận ra bên trong. Người chê này cũng chưa chắc gì thấy tánh mà chỉ hiểu trên cái lý thôi.

Hiểu trên cái lý mà để chê thì có nhân ngã. Chê người này, trách người kia là còn tâm kia đây. Có những người lạ lắm, thấy người ta làm cái gì cũng chê, như vậy làm tổn phước, giảm công đức nhiều lắm. Ở trong đại chúng cũng vậy, có người trên người dưới, có chủ có khách, có phân chia rõ ràng chứ không phải cá mè một lứa. Mỗi người mỗi hạnh nguyện, mỗi dụng công, cho nên mình phải dè dặt, không thì không thể nào tu tập để nhập chánh định tam muội được.

Thiện ác rõ ràng, nhân quả rành rẽ, thiên đường, địa ngục ở ngay trước mắt ông.

Khi chê bai là có thiện có ác rồi, nhân quả rõ ràng, thiên đường, địa ngục ở trước mắt. Chẳng hạn mình chê bai người ta, người ta hay được chửi mình, lúc đó mình khổ không? Khi mình đau khổ là địa ngục. Chúng ta đừng chê bai ai hết, sống an ổn tùy thuận các pháp, vui vẻ thong dong trong cuộc đời này thì không ai trách móc mình, đó là thiên đường. Khi người ta biết bị mình chê bai, họ tìm cách làm cho mình đau khổ thì đó gọi là hoa báo của địa ngục. Còn khi rớt xuống cõi xấu thì gọi là quả báo.

Kinh Pháp Cú Phật dạy:

Người ngu tưởng ngọt,
Khi ác chưa chín muồi.
Ác nghiệp chín muồi rồi,
Người ngu thấy khổ đau.

Mình tưởng là ngọt, là hay. Nhân quả rõ ràng, thiên đường địa ngục ở trước mắt chứ không đâu xa hết.

Người ngu chẳng tin, hiện rơi trong địa ngục hắc ám cũng chẳng hay biết.

Khi chê bai người ta là có tâm ngô ngã đây kia là đang ở trong địa ngục mà không biết. Bởi vì vô minh, tánh viên giác không hiển lộ tức là không có sáng. Vô minh thì rớt trong chỗ hắc ám.

Người chẳng tin ánh sáng, dẫu nói với y cũng chẳng tin, chỉ vì họ bị mù.

Như với người mù từ lúc mới sanh, ta nói với họ có ánh sáng mặt trời, có ánh sáng mặt trăng họ cũng không tin. Phật dạy bởi vì hạt giống của họ bị cháy xém, hoặc bị luộc chín. Họ không có niềm tín kính với ba ngôi Tam Bảo hoặc với người đồng tu. Thấy vậy nhưng mà hạt giống họ không còn nữa cho nên họ không tin.

Nên chẳng biết dựa vào đâu biện ánh sáng mặt trời. Người ngu cũng lại như thế, hiện nay rơi vào trong tạp loại chúng sanh, sanh chỗ bần cùng hạ tiện, cầu sống chẳng được, cầu chết chẳng được. Mặc dầu chịu khổ, khi hỏi đến cũng nói ta vui sướng chẳng khác thiên đường.

Tổ dạy, khi chê bai trách móc người ta là đi trong tạp loại. Một niệm sanh khởi lên là địa ngục, là ngạ quỷ, súc sanh, là ở trong tạp loại. Mà sao mình cũng vui vẻ không thấy gì hết? Tại mình không tin nhân quả, không biện rõ chánh tà cho nên không thể nào nhập vào chỗ tam muội được. Phải kiệm phước, kiệm đức, kiệm lời nói mới tu được pháp này. Thấy nó có sẵn nhưng nhiều đời bị vô minh che rồi, bây giờ phải dụng công, tìm đủ mọi phương pháp để đi lần vào con đường này, gọi là đốn ngộ hiểu lý nhưng mà phải tiệm tu.

Khi nhập trong tam muội, đồng trụ trong pháp hội bình đẳng của Như Lai.

Thiền tam muội không chỉ ngồi mà trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi. Tổ Huyền Giác nói: “Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, nói nín, động tịnh thể an nhiên.” Thiền tam muội này không có xuất nhập, mà

tâm tỉnh, tâm sáng, tâm không có vọng niệm tức là có tam muội. Cho nên mới trụ trong pháp giới bình đẳng, mới không phân chia xuất và nhập. Khi nhập tam muội rồi mới nghe được âm thanh vi diệu của Phật.

Khi tôn giả Tu Bồ Đề ngồi trong thất, chư thiên rải hoa tán thán: “Tôn giả, Ngài thuyết Bát-nhã rất là hay!”. Tôn giả Tu Bồ Đề nói: “Ta ngồi trong hang động, có thuyết pháp gì đâu.” Chư thiên nói: “Ngài không nói Bát-nhã, chúng con cũng không nghe Bát-nhã. Không nói, không nghe là chơn thật Bát-nhã.”

Như vậy, muốn nghe âm thanh của Phật nói Kinh Viên Giác này là phải bặt đường ngôn ngữ, gọi là tâm hành xứ diệt. Khi tâm bặt đường ngôn ngữ, những tâm niệm, gọi là hành xứ, đoạn tận rồi thì lúc nào cũng nghe Phật thuyết pháp chứ không phải đợi đến pháp hội mới nghe.

PHẦN CHÍNH TÔNG

Trong phần chính tông này có 11 lớp hỏi đáp, quy kết thành hai chương. Một lớp hỏi đáp đầu tiên mục đích khiến người tin hiểu chân chính thành cái nhân bản khởi.

Đây là điều quan trọng nhất cho người tu viên giác, hay nói khác hơn, cho người tu thiền. Nếu không tin hiểu chân chánh, không nhận ra được cái nhân bản khởi ban đầu là càng đi càng xa, càng tu càng phiền não, tu mà không được lợi ích gì hết.

Tin hiểu chân chánh không phải là làm thiện được thiện, làm ác gặp ác; không phải tin là tôi tu Lục độ tôi thành Bồ-tát. Tin hiểu chân chánh đây là nhận ra được tính viên giác để tu, chứ không phải tin những thứ thường nữa.

Mười lớp hỏi đáp sau, mục đích khiến người nương vào chỗ tin hiểu đó để tu hành, rồi tùy căn cơ bắt đầu chứng nhập, gọi là chứng nhập từng phần.

Phần này cũng rất là quan trọng. Mười hai vị đại sĩ hỏi, mình có nhân duyên, chẳng hạn với Bồ-tát Văn Thù thì nhập vào tính viên giác mình tu luôn. Nếu không có nhân duyên với ngài Văn Thù thì có nhân duyên với ngài Phổ Hiền, hoặc ngài Phổ Nhãn, ngài Oai Đức Tự Tại… Mười hai vị, mình chọn vị nào thấy khế hợp thì ứng dụng, bắt đầu tu. Ở đây chúng ta tu thiền là chắc có nhân duyên với Bồ-tát Văn Thù.

MỘT LỚP HỎI ĐÁP THỨ NHẤT

Đốn ngộ diệu tâm viên giác vốn có, vốn không vô minh sanh tử, đó mới gọi là chân thật tin hiểu.

Khi nhận được tính viên giác rồi thì giống như Kinh Bát-nhã: Không có vô minh, cũng không hết vô minh; không có sanh, không có già, không có bệnh, không có chết. Tin như thế gọi là tin chân thật.

không nhận vọng niệm, không chấp dị kiến thành nhân bản khởi, đó là cái nhân phát khởi đầu tiên.

Tức là ta không có chấp nhận vọng tưởng là của mình nữa, biết vọng tưởng điên đảo dẫn dắt nhiều đời rồi, đó là thành cái nhân bản khởi ban đầu bước vào con đường thiền.

Nhưng nhân địa của đốn giáo có ba lớp:

1- Đầu tiên mình phải liễu ngộ giác tính

Nếu không thì càng tu càng sân hận, càng tu càng bực tức. Cho nên tại sao Sư Ông phải làm những ngôi thất cho mình tu. Vào trong thất rồi mới có cơ may đốn ngộ lại tự tính. Tôi nói thật, 10 năm nay tôi không nhập thất là cả một sự thiếu sót, chứ ngày xưa ở trên Trúc Lâm một năm tôi nhập được hai lần, còn ở Thường Chiếu rảnh là vào thất. Đại chúng là thiền sinh phải vào thất! Có cơ hội cho nhập thất là phải vào, ở ngoài tu khó lắm. Bữa nay, ở đây, tôi mới nói hết ruột gan.

Chúng tôi vào thất bốn, năm tháng mới phát minh được những cái lạ, còn ở bên ngoài nó bị lấp hết. Đại chúng nếu rảnh, không có công việc gì thì nên nhập thất. Sau này cáng đáng Phật sự rồi rất là khó có cơ hội. Như tôi làm Trưởng ban Ban Trị sự huyện ở đây làm sao nhập? Muốn nhập cũng không được, phải chịu thôi chứ sao. Sư phụ Thường Chiếu cũng vậy, Trưởng ban Ban Trị sự tỉnh Đồng Nai, phải ký giấy tờ, ký thọ giới, chẳng lẽ nói tôi nhập thất không ký được.

Thành ra huynh đệ mình đủ nhân đủ duyên là vào thất tu. Phải tìm ra con đường này thôi! Thời hạn của mình ngắn lắm, 80 năm là hết. 80 năm là nói cho vui thôi chứ chỉ 70 năm. Năm 80, 90 ngồi chơi chứ sao tu nổi nữa! Lúc đó, mình còn cái gọi là dư âm, hơi hám để dụng công nhanh hơn một chút chứ thật ra giờ đó mòn mỏi rồi. Cho nên, bây giờ phải có sức dụng công, mà phải ở yên một chỗ.

Như vậy, đầu tiên là phải liễu ngộ cái giác tính ban đầu, nhận ra được mà sống. Khi liễu ngộ giác tính thì chỉ một mình được. Chẳng lẽ mình bỏ những người quyến thuộc đi theo phụng sự cho mình lúc mình còn là thiền sinh hay còn là nhân địa Bồ-tát? Cho nên:

2-   Kế là phát tâm Bồ-đề

Mình tu được thì phải tạo mọi điều kiện cho tất cả những người cùng tu với mình đạt được giác tính Bồ-đề này. Con đường mình tự tu nó dễ, nhưng con đường rộng độ chúng sanh thì rất nhiêu khê, không phát tâm Bồ-đề thì làm không nổi, cho nên kế là phải phát tâm Bồ-đề. Người ngộ được rồi phát tâm Bồ-đề khác hơn người chưa ngộ. Chưa ngộ giác tính thì phát nguyện chơi cho vui vậy thôi.

3-  Sau cùng là tu Bồ-tát hạnh. Nếu không liễu ngộ giác tính thì tự tâm đâu biết chính đạo, nên nhiều kiếp tu hành cũng chẳng phải là Bồ-tát chân thật.

Phải nhận ra chỗ đó, không nhận ra là tu chơi chơi, lăn lộn ba đường sáu nẻo lên xuống hoài, cũng đầu tròn áo vuông nhưng chưa phải là Bồ-tát chân thật. Tổ Huệ Khả là một bậc thông kinh hiểu sử, giảng pháp thao thao bất tuyệt nhưng tâm chưa có an nên Ngài phải đi hỏi, để nhận ra cốt lõi là tâm bất an từ đâu mà có. Nhận được rồi bắt đầu lúc đó Ngài mới thật tu. Con đường này, huynh đệ mình đang đi, hằng đêm ngồi thiền là đang cố gắng để liễu ngộ chỗ này.

Kế đến nếu không phát tâm Bồ-đề thì không có cách gì khởi hạnh.

Không phát tâm Bồ-đề, khởi hạnh không được. Chẳng hạn mình phát tâm Bồ-đề, âm thầm làm việc đó cho đại chúng, cho tha nhân. Có mục đích rõ ràng, ai nói mặc kệ, mình cứ đi xuyên suốt con đường đó.

Cho nên, Thiện Tài trước tiên trình bày mình đã phát tâm, rồi mới hỏi về cái môn tu hành tu như thế nào.

Mục Lục

Chương 1: Bồ Tát Văn Thù Thưa Hỏi
Chương 2: Bồ Tát Phổ Hiền Thưa Hỏi
Chương 3: Bồ Tát Phổ Nhãn Thưa Hỏi
Chương 4: Bồ Tát Kim Cang Tạng Thưa Hỏi
Chương 5: Bồ Tát Di Lặc Thưa Hỏi
Chương 6: Bồ Tát Thanh Tịnh Huệ Thưa Hỏi
Chương 7: Bồ Tát Oai Đức Tự Tại Thưa Hỏi
Chương 8: Bồ Tát Biện Âm Thưa Hỏi
Chương 9: Bồ Tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng Thưa Hỏi
Chương 10: Bồ Tát Phổ Giác Thưa Hỏi
Chương 11: Bồ Tát Viên Giác Thưa Hỏi
Chương 12: Bồ-tát Hiền Thiện Thủ Thưa Hỏi