Chương 2: Bồ Tát Phổ Hiền Thưa Hỏi
CHƯƠNG II: BỒ TÁT PHỔ HIỀN THƯA HỎI

Lúc bấy giờ, Bồ-tát Phổ Hiền ở trong đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy đi nhiễu Phật ba vòng, quỳ gối chắp tay mà bạch Phật rằng:
Bạch Đức Thế Tôn đại bi! Nguyện vì các Bồ-tát trong hội này và tất cả chúng sanh đời sau tu về Đại thừa, nghe nói cảnh giới thanh tịnh viên giác này, làm sao tu hành, bạch Thế Tôn?
Nói về cảnh giới viên giác, chỉ có Phật gọi là thượng căn đại tường, chứ chúng ta làm không được. Như câu chuyện: Có một cái nhà kho chứa toàn vàng và kim cương, nhưng ổ khóa của nhà kho đó không chìa khóa nào mở được. Một hôm có anh chàng chỉ cần đẩy là cửa mở ra mà không cần chìa khóa. Thật ra cửa không khóa, ổ khóa chỉ là giả. Cánh cửa viên giác này cũng như thế, nếu chúng ta có nhân duyên hội ngộ, thì do phước lực nhiều đời kiếp, nên lọt vào được, từ đó tu yên.
Bồ-tát Phổ Hiền thương chúng sanh đời sau, không biết họ có tin tự tính viên giác hay không. Nếu không tin thì không tu được, không tu được thì rớt xuống ba đường khổ. Nên Ngài thưa thỉnh Đức
Phật mượn các phương tiện để chỉ bày xuống một lớp nữa, gọi là sai biệt trí, là cái trí sai biệt để chúng sanh nhận rồi bắt đầu tu.
Tu phải học, nhưng nhớ một điều là học xong phải tu. Tu không những làm lợi ích cho mình mà còn làm lợi ích cho người khác. Như xe ủi, có dầu đầy đủ mà không chạy được, kiểm tra mới hay là hết bình ắc quy, cần phải sạc mới có năng lượng cho xe hoạt động. Thân tâm năm uẩn của chúng ta cũng như thế, phải sạc nhiều năng lượng dự trữ để đi vào cuộc đời.
Kinh Tiểu Bộ kể câu chuyện:
Một hôm, tôn giả Xá Lợi Phất ngồi thiền ở một khu núi gần núi Linh Thứu. Tôn giả Mục Kiền Liên ngồi thiền ở ngọn núi bên kia. Khi tôn giả Xá Lợi Phất đang trong đại định thì có hai con quỷ, một thiện một ác đi ngang. Con quỷ ác thấy một vị sa-môn ngồi thiền nó bực, dùng chày đập đầu tôn giả Xá Lợi Phất, mặc cho con quỷ thiện can ngăn rằng vị này là đệ tử lớn của Đức Phật, năng lực rất lớn, là đệ nhất trí huệ, là nguyên soái, là thượng thủ chánh pháp. Trong Kinh diễn tả, chày của con quỷ này đập xuống là núi Tu di cũng bể.
Từ xa, chứng kiến từ đầu đến cuối, tôn giả Mục Kiền Liên vận thần thông bay qua. Khi tôn giả Xá Lợi Phất vừa xả thiền, hỏi tôn giả Xá Lợi Phất thân tâm có thấy gì lạ không. Tôn giả Xá Lợi Phất nói thấy cái đầu hơi ê.
Câu chuyện này được trình lên Đức Phật. Ngài nói:
Như tảng đá kiên cố, Gió thổi không lay động. Bậc trí giữa khen chê,
Tâm bất động thường trụ.
Đức Phật tán thán tôn giả Xá Lợi Phất vào đại định giống như một tảng đá lớn, gió thổi bất động giữa khen và chê trong cuộc đời này, minh chứng được rằng tại sao tôn giả Xá Lợi Phất ở trong đại định con quỷ đánh không bể, đó là năng lượng của tính Không. Khi Tôn giả vào tự tính tính Không giống như có một lớp phủ tròn, con mắt phàm không thấy, mà người xưa thường vẽ hình Phật, Bồ-tát và các vị thánh chúng có vầng hào quang. Bởi vì, những vị này hằng ngày dung nhiếp năng lượng, chính cái năng lượng này bảo bọc, tạm gọi là thiện pháp. Khi có năng lượng thiện pháp, ác pháp đến bị dội ra.
Bây giờ, khoa học đã chứng minh, chỉ cần một thiên thạch rớt xuống trái đất là trái đất nổ tung. Trong trục quay của trái đất lúc nào cũng có thiên thạch, điều lạ là quả địa cầu quay nó đẩy thiên thạch ra. Người tu có năng lượng dự trữ thiền định rồi, khi ác pháp đến tự nó đẩy ra.
Trong Kinh Tương Ưng Bộ, Phật nói, giống như đàn chim bay từ điểm A đến điểm B, nhưng hôm nay chúng đổi hướng không về điểm B vì chúng thấy có người thợ săn đang giương cung lên bắn. Cũng như thế, đúng lý ra chúng sanh sẽ rớt xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Nhưng do có sự tu tập chuyển hóa, năng lượng thiền định như mũi tên giới, định, tuệ đoạn tận các lậu hoặc, gọi là “sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc mình đã làm xong, không còn trở lại con đường này nữa.” Tức là y nơi tự tánh viên giác có năng lượng dự trữ để hóa giải những ác nghiệp trong đời quá khứ.
Cho nên, khi con quỷ lấy cái chày đập lên đầu Ngài Xá Lợi Phất, nhờ năng lượng dự trữ của thiền định cản lại. Giống như tên lửa phòng hộ, được phóng lên để cản phá tên lửa của nước khác bắn qua, cho nó nổ trên hư không, không cho rớt xuống nước mình. Cũng vậy, nếu có năng lượng thiền định dự trữ thì ác pháp không đến được.
Bồ-tát Phổ Hiền sợ chúng sanh nghe nói đến cảnh giới viên giác thì bỡ ngỡ không tu nên Ngài mới thưa thỉnh lập các phương tiện thiện xảo để chỉ bày cho chúng sanh đời mạt pháp. Cho nên, chúng ta phải ngồi thiền ngày hai thời, đi, đứng, nằm, ngồi phải nhiếp tâm, gọi là “chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện” nghĩa là chế tâm một chỗ việc gì cũng thành
tựu. Ai tu thiền một thời gian sẽ thấy việc tu thiền rất khoa học chứ không phải mê tín.
Đức Bồ-tát Phổ Hiền hỏi ba câu:
- Nếu chúng sanh kia biết các pháp như huyễn, thân tâm như huyễn, thì làm sao lấy huyễn tu huyễn?
- Nếu các tánh huyễn đều tận diệt thì không có tâm, thì ai là tu hành? Tại sao nói tu hành như huyễn?
- Nếu các chúng sanh vốn chẳng tu hành, thì ở trong sanh tử thường ở trong huyễn hóa, mà chưa từng biết cảnh giới như huyễn, làm sao dẹp tâm vọng tưởng để giải thoát?
Cúi xin Ngài vì chúng sanh đời sau, dạy phương tiện thứ lớp tu tập như thế nào, để cho các chúng sanh hằng lìa các huyễn. Thưa lời đây rồi năm vóc gieo xuống đất. Thưa hỏi như thế lặp đi lặp lại ba lần.
Bồ-tát Phổ Hiền khi nghe Đức Phật giải thích đoạn trước nên khởi cái nghi. Do trước Phật nói: “Biết hoa đốm ở trong hư không liền không bị luân chuyển, cũng không có thân tâm thọ cái sanh tử kia.” Bây giờ làm cách gì để tin rằng không còn luân chuyển trong sanh tử nữa?
Trong Tuệ Trung Thượng sĩ Ngữ lục có ghi:
Có vị tăng đến hỏi:
– Bạch Thượng sĩ! Tôi vì việc lớn sanh tử vô thường
nhanh chóng, chưa biết thân này sanh từ đâu, lại sau khi chết đi về đâu.
Tuệ Trung đáp:
Trường không túng sử song phi cốc, Cự hải hà phòng nhất điểm âu.
Tức là:
Giữa trời dẫu có đôi vành chuyển, Biển cả ngại gì hòn bọt con.
Buổi sáng, mặt trời mọc, buổi chiều, mặt trời lặn. Đủ nhân đủ duyên mặt trăng mọc buổi tối, buổi sáng lặn mất. Mặt trời, mặt trăng qua lại mà hư không thì bất động.
Tuệ Trung Thượng sĩ nói rất là hay: Giữa trời dẫu có đôi vành chuyển.” Mặt trời, mặt trăng có qua lại cách mấy, sống chết qua lại cách mấy cũng không có động gì đến chỗ tự tính viên giác của ông hết. Biển cả ngại gì hòn bọt con! Biển cả mênh mông hòn bọt con không đáng gì. Tức là sanh tử qua lại nhưng không rời tự tính viên giác. Nhận được tự tính viên giác thì dứt luân chuyển, không còn ngại gì sanh tử nữa.
Đây chính là một niệm đốn ngộ, ngay đó liền đốn dứt sinh tử, thì chẳng có giả lập tu hành, lại không có phương tiện.
Bậc thượng căn nhận ra được, họ sống không có giả lập phương tiện.
Thiền sư Huyền Sách là đệ tử của Lục Tổ Huệ Năng, Ngài ngộ đạo rồi đi hành cước các nơi chứ không ở một chỗ. Một hôm đến chỗ Ngài Huyền Giác, nói chuyện mới biết Thiền sư Huyền Giác đã ngộ đạo. Ngài Huyền Sách hỏi:
- Sư huynh học pháp của ai?
- Tôi không học pháp của ai hết, tình cờ xem Kinh Duy Ma Cật ngộ được tâm tông.
Thiền sư Huyền Sách nói:
- Từ trước Phật Oai Âm Vương, không có thầy ấn chứng thì không Từ Đức Phật Oai Âm Vương trở về sau mà không có thầy ấn chứng thì gọi là thiên nhiên ngoại đạo.
Nghe nói như thế, Thiền sư Huyền Giác nhờ Thiền sư Huyền Sách ấn chứng. Ngài Huyền Sách nói:
- Lời của tôi nhẹ lắm. Ở Tào Khê có Lục Tổ đại sư, hãy đến đó.
“Lời của tôi nhẹ lắm”, đại chúng nhớ câu này để học người xưa. Gặp mình là: Để tôi ấn chứng cho ông. Những cư sĩ sau này cũng vậy, có ai nói: Sư huynh ấn chứng cho tôi, là ấn chứng luôn, lạ kỳ như vậy! Bữa trước có hai vợ chồng trí thức ở Sài Gòn đến xin quy y, tôi dẫn ông về Thường Chiếu, nói để Thầy tôi quy y cho ông. Nếu mình quy y cho họ, họ biết mình còn Thầy Tổ, sau này họ không có phục.
Sư đến Tào Khê, đi quanh Tổ ba vòng rồi chống tích trượng đứng thẳng nhìn Tổ. Tổ quở:
- Phàm là bậc Sa-môn thì phải đủ ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh. Đại đức từ phương nào tới mà sanh cái lòng ngã mạn lớn như vậy?
Lục Tổ quở, hàng Sa-môn phải đủ ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, thưa thỉnh giải bày, ông từ đâu đến mà lớn lối, đi ba vòng chống tích trượng như vậy.
Ngài Huyền Giác thưa:
- Sanh tử sự đại, vô thường tấn tốc.
Ý Ngài nói sống chết là việc lớn, vô thường nhanh lắm. Giờ phút này còn oai nghi tế hạnh, rề rà thưa thỉnh, đắp y là trễ rồi. Lúc này gọi là chủ gặp chủ, là giương cung, điện nhá sấm chớp, không có phân biệt thầy trò. Hai bên bắt đầu giương cờ, rút kiếm vô trận. Nhưng xong rồi thì đắp y đến phương trượng sám hối; trong nhà thiền đặc biệt như thế.
Lục Tổ biết con người này kỳ đặc, Ngài nói:
- Sao chẳng thể nhận cái vô sinh, liễu thấu không mau chóng ư?
Tức là, ông mà nhận được chỗ vô sinh rồi thì không còn mau hay chậm nữa, nhận là xong luôn mà sao không nhận? Còn đến đây đi ba vòng chống
tích trượng là ông đã trễ rồi.
Sư thưa:
- Thể tức vô sanh, liễu không có mau chậm.
Ý Ngài nói, thể của con là vô sanh rồi, liễu là xong chớ không có nói mau chậm.
Khi liễu rồi, thời gian và không gian không còn số đếm, triệt rồi không nói là mau hay chậm nữa.
Tổ bảo:
- Đúng vậy, đúng vậy!
Ngay đó, Sư liền đầy đủ oai nghi lễ bái Lục Tổ rồi chỉ giây lát cáo từ.
Nhận được chỗ đó rồi, đốn ngộ ngay tức khắc.
Nếu chẳng phải là bậc thượng thượng căn thì không thể đốn ngộ, như thế chúng sanh đời sau rất hiếm người thượng căn.
Bây giờ tìm người thượng căn rất là hiếm; xem sử có được bao nhiêu người như Lục Tổ, như Ngài Huyền Giác, như vua Trần Thái Tông?
Nếu chẳng giả lập tu hành ắt khó ngộ nhập, hoặc chẳng giả lập phương tiện thì chẳng có thể tiến tu. Cho nên, phần đầu này là hỏi về phương pháp tu hành để cầu pháp môn tu hành phương tiện, thứ lớp.
Cho nên Thiền sư Huyền Giác nói:
Bậc thượng một quyết là xong hẳn, Trung hạ nghe qua mãi lắm ngờ.
Bậc thượng nghe nói là xong luôn, các Ngài tin không nghi ngờ. Dầu cho ai nói hoa trời rơi rụng hay nói gì, bậc thượng cũng y nơi pháp tự tính viên giác mà tu. Bậc trung, bậc hạ nghe nói thì nghi không biết mình có tự tính viên giác không.
Hãy vứt trong lòng manh áo bẩn, Sá gì tinh tấn hướng ngoài khoe.
Vứt tham, sân, si ở trong lòng đi, đừng có giả trang thiền tướng giống như trang nghiêm thanh tịnh.
Ngài Hàn Sơn nói:
Thượng nhân tâm bén nhạy, Một nghe liền biết diệu.
Trung lưu tâm thanh tịnh, Nghĩ xét cho quan trọng.
Hạ sĩ chậm ngu si, Cứng dầy khó xé vỡ. Đợi đến máu đầy đầu, Mới biết tự trừ diệt.
Ngài nói thượng nhân tâm bén nhạy, một nghe liền nhảy vào tu luôn. Bậc trung nghĩ khác: Văn, Tư, Tu, Giới, Định, Tuệ… chia chẻ để tu tập. Bậc hạ nói mãi cũng không tu, đợi khi nào máu đầy đầu, bệnh
sắp chết, đi đứng không nổi mới cảm thấy thân vô thường. Lúc đó tu sao được! Chúng ta không làm bậc thượng được thì ráng cố gắng làm bậc trung; đừng làm bậc hạ. Đợi máu chảy đầy đầu mới tỉnh thức là muộn rồi!
Nhân đây, Đại sĩ Phổ Hiền thưa hỏi Như Lai: Cúi xin Ngài nói về phương tiện tu hành hiện tại, chúng sanh hằng lìa các huyễn, cho nên phần dưới Thế Tôn đáp.
Càng học Kinh càng thấy mình có duyên may mắn thù thắng. Đây là do nguyện lực đời trước có tu bây giờ mới thâm nhập được Kinh Viên Giác, chứ không phải dễ. Chúng ta nghe mà có niềm tin lớn gọi là niềm tin tịnh tín thanh tịnh là biết mình có túc duyên. Phần này dạy pháp như huyễn.
Phật khen Bồ-tát Phổ Hiền:
Khi ấy, Đức Thế Tôn bảo Bồ-tát Phổ Hiền: Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Các ông mới hay vì chư Bồ-tát và những chúng sanh đời sau tu tập tam muội như huyễn.
Tam muội là chánh định, chánh thọ mà sao lại như huyễn?
Tam muội như huyễn của Bồ-tát phương tiện thứ lớp, khiến cho chúng sanh được lìa các huyễn. Ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì ông nói.
Chỉ có Đức Phật mới dùng pháp tam muội như
huyễn, ngoài Phật ra không ai có pháp này.
Theo Pháp Hoa Kinh Huyền Nghĩa quyển 4 có 3 loại tam muội:
- Một là chân đế tam muội. Chân đế tam muội này đặc biệt là phá trừ cái kiến hoặc và tư hoặc.
Kiến hoặc và tư hoặc là cái thấy mê lầm và tư duy mê lầm. Nhận được tam muội như huyễn này rồi là ở trong chỗ chân đế mà phá ra, phá sạch luôn, giống như kim cương phá các loại mà các loại không phá kim cương được.
Chúng ta tiếp tục trang bị. Ở trên, được trang bị tự tính viên giác, bây giờ ra gặp quân địch đông quá nên trao tiếp một phương pháp nữa gọi là tam muội như huyễn. Có nghĩa là khi chúng ta ở trong thất, ở trong thiền đường tu tự tính viên giác; ra ngoài trận tuyến làm các việc Phật sự, không ở trong tự tính viên giác nữa, bây giờ, thầy sẽ trao tam muội như huyễn cho mình làm Phật sự.
- Hai là tục đế tam muội, là phá trừ ác nghiệp cấu uế, gọi là trần sa cấu uế.
Khi bắt đầu làm các việc Phật sự, dùng tục đế này phá trừ những cấu nghiệp đến cùng một lúc, nếu không có pháp này phá không được.
- Thứ ba là trung đạo tam muội, là phá trừ vô minh cấu uế.
Tam muội như huyễn là ở trong chánh định thấy tất cả các pháp “huyễn mà thường như”. Nghĩa là tất cả các pháp đều là huyễn là mộng nhưng dựa trên nền tảng bản thể là “như” nên gọi là như huyễn tam muội. Khi chúng ta có trong tay bảo kiếm tam muội như huyễn rồi thì độ vô lượng chúng sanh mà không thấy một chúng sanh nào để độ. Đây gọi là “Phật sự không hoa, đạo tràng thủy nguyệt”, làm các Phật sự nhưng như hoa đốm giữa hư không; lập vô số đạo tràng giống như là trăng dưới đáy nước.
Đó là tam muội như huyễn, “như” là nền tảng cho các pháp. Khi ở trong chánh định, trong bản thể “như” nhìn ra vạn pháp, chúng ta không nhàm chán độ chúng sanh. Nếu thấy chúng sanh thật, tức khắc mình có tâm mệt mỏi. Nhưng khi ở trong chỗ tam muội, lạ một điều thấy tất cả chúng sanh không có thật. Độ mà không thấy mình độ, làm mà không thấy mình làm ,nên tự nhiên không biết mệt. Tu mà không thấy tu, bố thí không thấy bố thí thì ngay trong giờ phút đó là đạt đến chỗ tam muội như huyễn. Cái này không thể nói suông mà phải thực chứng trong cảnh giới như huyễn.
Trong thiền thoại kể câu chuyện:
Có vị Thiền sư, một hôm ngài đọc Kinh Pháp Hoa đến câu: Chư pháp tùng bổn lai,
Thường tự tịch diệt tướng.
Trong Kinh Pháp Hoa, Đức Phật nói các pháp từ xưa nay tướng thường tự vắng lặng, Ngài nghi: Các pháp xưa nay náo loạn sao mà vắng lặng được. Cái quạt quay, con gà gáy, con thỏ, con nai chạy… tất cả đều động; gió thổi mây bay, chim kêu vượn hú là động, mà sao Phật nói các pháp từ xưa nay tướng thường tự vắng lặng? Ngài nghi mãi đến ba năm. Một hôm mùa xuân đến, Ngài nhìn thấy hoa nở, có con chim đậu trên cành hót véo von, tức khắc Ngài làm tiếp hai câu, ngộ đạo luôn.
Xuân đáo bách hoa khai, Hoàng oanh đề liễu thượng.
Xuân đáo là xuân đến. Các pháp tự vắng lặng mà xuân đến lá hoa tự nở, đủ duyên chim hót; tức là từ bản thể mà diệu dụng ra các pháp. Với điều kiện chúng ta phải ở trong cảnh giới tam muội: làm tất cả việc đều ở trong bản thể “như” mà không dính mắc các pháp, gọi là như huyễn tam muội.
Chúng sanh đời sau tu tập tam muội như huyễn của hàng Bồ-tát phương tiện, thứ lớp.
Từ đó, tu ra, tức là dùng phương pháp như huyễn tam muội để làm các việc Phật sự không biết mệt mỏi. Ngồi thiền mà đạt đến chỗ tam muội như huyễn thì ngồi hai tiếng như chơi, muỗi mòng, nóng lạnh đều bình thường. Còn đây chúng ta bị ràng buộc, như đang ngồi thiền quạt mát mà cúp điện là khó chịu.
Ngày xưa, chúng tôi còn ở trong đại chúng, học Kinh Viên Giác đến phần “tam muội như huyễn”, chỉ là đọc cho biết vậy thôi. Đại chúng bây giờ nghe giảng cũng hiểu, cũng thâm nhập, nhưng đến chỗ rốt ráo, chứng nghiệm phần nào thì phải đi làm Phật sự; giống như bức tranh thứ chín “Nhập Phật giới” và bức tranh thứ mười “Nhập ma giới” trong 10 bức tranh chăn trâu. Tam muội như huyễn cũng như thế.
Bây giờ, tôi nói rõ rốt ráo về “tam muội như huyễn”, vì gần đây có một số Phật tử điện thoại hỏi về việc người ta lên mạng nói rằng các thầy Tỳ-kheo đa phần vào chùa để trốn tránh nghĩa vụ, để được sung sướng khỏi phải làm gì, chỉ ăn và ngủ thôi. Nói rõ để những vị nào phát ngôn trên mạng hiểu biết thêm để không bị rớt vào tà kiến, dùng từ tà kiến vì cái thấy lệch lạc không đúng.
Khi phát tâm vào thiền viện hoặc vào chùa, dù hình thức là xuất gia hay cư sĩ, mọi người đều phải dấn thân. Dấn thân đầu tiên là ăn chay. Dấn thân thứ hai là dậy sớm từ 3 giờ sáng, 3 giờ 15 ngồi thiền tới 5 giờ 15, chứ không phải ngủ tới 6, 7 giờ như ngày xưa. Vào Thiền viện Trúc Lâm Chánh Thiện ai mà ngủ nướng là mời đi. Ngồi thiền đúng 5 giờ 15 toàn chúng xả thiền, ai mà xả sớm, tới lần thứ ba là cũng mời đi. Ngày xưa, ở ngoài có thể 8 giờ mới ăn sáng, còn bây giờ ở đây bắt buộc 6 giờ 15 phải lên nhà ăn.
Những thói quen, tập khí ngày xưa bây giờ phải rũ bỏ hết.
Đó là con đường dấn thân ban đầu. Khi chúng ta dấn thân ăn chay, ngồi thiền, tụng kinh, sám hối là chúng ta giải thoát tập khí ngày xưa, gọi là “biệt biệt giải thoát giới”. Ở ngoài đời không có pháp này, nhưng trong thiền viện, những quy chế đưa ra giúp thiền sinh giải thoát buổi đầu.
Khi là Sa-di, dấn thân giữ mười giới: không sát sanh, không trộm cướp, không dâm dục, không nói dối, không uống rượu. Ngày xưa, mình có quyền ngủ giường cao, ngồi ghế đẹp, bây giờ ngủ cái đơn nhỏ; không xức dầu thơm, không ăn phi thời. Ở nhà ăn ba, bốn bữa được nhưng vào đây nhất quyết chỉ ăn hai bữa. Thọ 10 giới rồi, khi trưởng thành thọ giới Tỳ-kheo, giới Bồ-tát rồi dấn thân từ từ. Hình ảnh người tu trang nghiêm thanh tịnh gọi là đạo đức vô hành. Trong một đất nước phải có những người xuất gia tiêu biểu. Nơi nào có người tu trang nghiêm thanh tịnh, nơi đó có năng lượng thiện pháp làm cho đất nước ổn định.
Khi chúng ta tu tập có phần chứng nghiệm, bắt đầu chúng ta bước ra con đường lập hạnh. Ví dụ như chúng tôi đứng ra xây dựng ngôi thiền viện trang nghiêm thanh tịnh, xây thiền đường cho đại chúng tu học, cất những ngôi thất cho cư sĩ vào nhập thất là
chúng tôi lập hạnh.
Khi lập hạnh kiên cố rồi, bắt đầu chúng ta bước vào con đường phụng sự. Ai nói thầy tu ở không, không làm việc? Chúng tôi làm nhiều việc Phật sự. Chẳng hạn như sáng chúng tôi dạy ở trường TCPH Bình Thuận, chiều dạy ở đây, dạy ở một số thiền viện, dạy ở trường Đồng Nai; rồi họp hành, làm các việc thiện pháp.
Những đồng tiền của Phật tử phát tâm lớn để xây dựng đa phần từ những người thọ pháp với Hòa thượng Trúc Lâm, hoặc Hòa thượng Thường Chiếu, hoặc thọ pháp với chúng tôi. Cách đây khoảng 3 tháng, có một người đem đến một số tiền lớn gặp chúng tôi xin cúng dường. Tôi hỏi anh là đệ tử của ai, anh nói con không là đệ tử của ai hết. Tình cờ nghe thầy giảng trên mạng làm những phiền não trong cuộc đời con được hóa giải. Hay tin thầy xây dựng, con đem đến cúng dường. Những người thọ pháp họ nhớ ơn người trao truyền Phật pháp cho họ nên họ phát tâm xây dựng ngôi Tam Bảo. Họ cũng biết là ngôi Tam Bảo không phải của ai hết, chẳng hạn như tôi tịch thì để lại cho người sau.
Khi chúng ta tu được, có sức chuyển hóa lớn, chúng ta lập hạnh. Lập hạnh kiên cố rồi, chúng ta bắt đầu đi vào con đường phụng sự, giảng dạy, hoằng truyền Phật pháp. Để trang nghiêm cõi đạo tràng cho thanh tịnh, 7 giờ sáng là đã bắt đầu làm
việc rồi. Từ khi bước vào chùa là đã dấn thân tu tập, làm sao mà ở không được? Sư Ông nói mình làm việc giống như ăn cơm, học giống như uống nước, tu giống như hơi thở. Các thiền viện của Sư Ông là phải y như pháp, theo quy chế của Sư Ông tu, là một sự trang nghiêm thanh tịnh cho cõi giới này, là đạo đức vô hành. Muốn đạt được hình ảnh người tu trang nghiêm thanh tịnh, chúng ta phải đạt chỗ tam muội như huyễn.
Chúng ta thấy chúng sanh là huyễn hóa, như sương như điện rồi không giáo hóa, chỉ tu một mình thôi thì chưa đạt chỗ tam muội như huyễn. Từ vạn pháp cho đến con người đúng là huyễn nhưng lấy cái “như” làm bản thể; năm uẩn là huyễn nhưng trong năm uẩn có “thật tính Bát-nhã”. Nói khác hơn là có Phật trong đó. Cho nên, chư Phật, đại Bồ-tát mới tìm cách dìu dắt chúng sanh từ khổ đến chỗ an vui, từ mê đến ngộ.
Bổn phận của người xuất gia cũng như thế, cho nên, người tu càng làm việc nhiều. Khi nào hết tuổi, chẳng hạn 70 tuổi, nghỉ làm việc để tu tiếp rồi vào con đường Niết-bàn. Đang tu là đang dấn thân, làm các việc Phật sự là đang phụng sự tha nhân. Phật nói phụng sự tha nhân là cúng dường chư Phật.
Như vậy, người tu không có ở không. Ở không là tâm ở không, nhưng thân thì vận hành trong chánh
định, lấy pháp “như” làm nền tảng để đi vào cuộc đời này nên không có dính mắc gọi là cư trần lạc đạo, ở trong trần bất nhiễm: Tinh thần của Sơ Tổ Trúc Lâm không xa rời Kinh Viên Giác của Phật dạy.
Trong Kinh Hoa Nghiêm, lên hàng Bồ-tát thập địa phải tu tập 10 loại trí tuệ phương tiện. Bồ-tát mà không có những phương tiện này thì không thành tựu được, không đủ phước lành lên quả vị đẳng giác và diệu giác, gọi là biến dịch sinh tử nếu đi theo lộ trình Bồ-tát.
1. Tuy khéo tu tập chánh định, không, vô tướng, vô nguyện, mà từ bi chẳng bỏ chúng sanh.
Đại chúng nghiệm thử, 3 giờ sáng mình thích kéo chân kiết già ngồi thiền ở thất hoặc ở thiền đường, hay thích ngồi xe về Sài Gòn? 3 giờ sáng ở thiền viện là giờ hạnh phúc không tả được mà tại sao tôi phải bỏ để ngồi xe về Sài Gòn cho đúng giờ giảng ở các thiền viện? Là phải hy sinh không từ bỏ được. Con đường này Sư Ông đã đi, Sư phụ Thường Chiếu đã đi. Đến tụi tôi và sau này quý vị cũng phải đi con đường này. Sau này 70 tuổi, tôi nghỉ rồi, người ta mời quý vị, quý vị nói “Không! 3 giờ sáng tôi ngồi yên hạnh phúc lắm, tôi không đi đâu hết!” Không thể nói vậy được.
Khi ở trong chánh định, tu đến chỗ không, vô tướng, vô nguyện, là không mong cầu, không tạo
tác gì hết, nhưng mà không rời bỏ chúng sanh. Con đường Bồ-tát là phải như thế, con đường Bồ-tát là con đường đến Phật quả, tu là phải đạt đến con đường Phật quả vô thượng chánh đẳng chánh giác, phải dấn thân thôi. Có một số quý thầy lớn tuổi, đời này không đi được con đường này thì phải lập hạnh phát nguyện cho đời sau.
2. Tuy đã được pháp bình đẳng của chư Phật mà thường ưa cúng dường chư Phật.
Được pháp bình đẳng, giữa mình và Phật không có hai, cái thấy tròn đủ viên mãn nhưng vẫn ưa cúng dường. Không phải kiến tánh rồi, tu đến cấp độ này rồi thì không làm gì nữa, mà vẫn lăn xả trong đại chúng làm các việc thiện sự; cần nấu cơm thì nấu cơm, cần chẻ củi thì chẻ củi, bất cứ việc gì cần là làm việc đó. Đó là cúng dường chư Phật. Chúng ta học để thấm rồi từ đó phổ ra hành động hằng ngày mới thành tựu được.
3. Tuy vào môn trí tuệ quán không mà vẫn siêng năng tích lũy phước đức.
Một hôm, tôn giả A Na Luật muốn khâu lại chiếc y bị rách, nhưng vì bị mù không thấy đường xỏ kim, Ngài lên tiếng:
- Có ai làm ơn xỏ kim giùm tôi không? Có giọng nói cất lên:
- Đưa đây, Như Lai xỏ kim Ngài A Na Luật sợ hãi:
- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn vô lượng công đức, vô lượng phước đức, trời người đều quy ngưỡng, chuyện nhỏ này xin Thế Tôn đừng làm.
Phật nói:
- Sở dĩ ta mau thành tựu quả vị vô thượng vì ta có một pháp gọi là “dục vô giảm”.
Dục vô giảm là lòng ham muốn làm các thiện pháp không bao giờ giảm. Tích lũy từng cái nhỏ. Núi Tà Cú cao là nhờ tích chứa từng hòn sỏi, hòn đất; đại dương rộng lớn là nhờ dung nhiếp tất cả các dòng sông. Thiện pháp cũng như thế, làm mỗi ngày một chút gọi là tích lũy, chứ không phải nói bây giờ tôi ngồi thiền, tôi tu tập thôi không cần việc này nữa.
Đệ tử của Đức Phật có một thầy Tỳ-kheo, Ngài quét già lam mà phát nguyện đời này như thế nào, đời sau như thế nào, đến nỗi ngai vàng của trời Đế Thích nóng rực lên. Công đức quét sân thành tựu viên mãn như Ngài Bàn Đặc, quét sân mà chứng A-la-hán.
4. Tuy rời xa ba cõi mà vẫn trang nghiêm ba cõi.
Có những người nói sao ông tu rồi mà còn lo trồng cây, giống người đời quá! Họ không hiểu! Mình trồng để trang nghiêm thanh tịnh đạo tràng cho tất
cả mọi người về tu tập để trưởng dưỡng Bồ-đề tâm, viên thành Phật đạo, khác với trồng để hưởng thụ.
5. Tuy đã dập tắt trọn vẹn những ngọn lửa phiền não mà lại vì tất cả chúng sinh khởi và diệt ba ngọn lửa phiền não tham sân si.
Các vị thiền sư hành xử thô lỗ, chúng ta tưởng các Ngài giận, chẳng hạn như Thiền sư Hoàng Bá đánh Ngài Lâm Tế, Thiền sư Nam Tuyền chém mèo… Giống như lớp học ồn quá ông thầy phải dùng thước gõ lên bàn cho lớp học giữ im lặng, các Ngài cũng như thế.
G. Tuy biết rõ các pháp như huyễn, như mộng, như tiếng vang, như sóng nắng, như ảo hóa, như trăng đáy nước, như bóng trong gương, tự tánh không hai, nhưng vẫn tùy theo tâm niệm của chúng sinh mà tạo tác vô lượng sai biệt.
Vị nào sau này làm trụ trì rồi sẽ biết. Người ta hỏi nhiều chuyện không dính dáng gì đến tu tập nhưng cũng phải trả lời. Chẳng hạn như người ta hỏi, thưa thầy con của con mê game quá nhờ thầy giúp giùm, mình phải trả lời sao đó để dìu dắt họ. Hoặc có người hỏi con niệm Phật sao bị chướng duyên quá, mình không thể nói ở đây tôi tu thiền thôi, niệm Phật tôi không biết. Rồi có người nói, ngày xưa vợ chồng con khổ quá, vợ con có thai sợ nuôi không nổi nên bỏ, bây giờ vợ con bị thế này, thế nọ… Mình không thể
nói tôi tu thiền không biết mấy chuyện đó, mà phải có cách gì hướng dẫn họ đi vào con đường chánh pháp, không phải con đường tà kiến, mê tín dị đoan, để họ biết tu tập, trưởng dưỡng, chấm dứt không trở lại con đường cũ. Bổn phận chúng ta phải có vô lượng phương tiện sai biệt, chứ không phải nói “các pháp như mộng, như huyễn, như ảo hóa”, không nói vầy được.
Chúng tôi làm việc nên biết, ngày nào cũng có người đến hỏi, nhiều vấn đề phải giúp đỡ họ, giải đáp cho họ. Người trụ trì giống như cái thùng rác, đủ thứ rác đổ vào, phải chấp nhận chứ không thể nói tôi tu, tôi không biết; đại chúng sau này làm việc sẽ rõ. Tùy theo tâm niệm chúng sanh, họ đến họ đòi hỏi thì phải giúp đỡ họ; người xưa nói giống như lể tròng con mắt, không khéo là mắt bị hư. Như câu hỏi: “Bậc đại tu hành có rơi trong nhân quả hay không?”, vị tăng được hỏi trả lời: “Không rơi vào nhân quả” nên bị đọa làm thân chồn 500 kiếp. Cho nên, người tu phải có vô lượng trí sai biệt để giải đáp, đưa họ đến con đường chánh đạo cho họ tu tập được, đó là bổn phận của người xuất gia. Nhiêu khê lắm chứ đừng tưởng người tu là an nhàn! Làm Phật sự nhiều năm tôi mới thấy.
7. Tuy biết các cõi nước giống như hư không, mà vẫn có thể dùng diệu hạnh thanh tịnh để trang nghiêm cõi Phật.
Các cõi giống như hư không, mà vẫn dùng tâm thanh tịnh diệu hạnh để trang nghiêm cõi Phật, là dẫn dụ các chúng sanh, gọi là trước dùng dục câu dắt, sau dùng trí nhổ. Cho nên mới có biểu tượng của các cõi tịnh độ mười phương chư Phật. Chẳng hạn như cõi Tịnh độ Đức Phật A Di Đà có bảy thứ báu, có hồ nước chứa nước bát công đức, ở trên đó chim cũng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng… Cõi nước trang nghiêm thanh tịnh là để cho chúng sanh lên tu. Muốn được như thế, Đức Phật A Di Đà khi còn là nhân địa Bồ-tát, Ngài phải lập hạnh thù thắng để trang nghiêm cõi tịnh độ. Hạnh này gọi là diệu hạnh thanh tịnh. Chỉ có công đức tu tập về thiền định ở trong tam muội như huyễn mới phát huy được cảnh giới đó.
Khi chúng ta đang lập hạnh ở cõi này thì tức khắc cõi kia hiện hữu. Nếu trong tâm lập địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh tương lai rớt xuống cõi đó, như những bỏn xẻn, ích kỷ, xan tham, nóng giận, tật đố hình thành trong tâm. Còn khi lập diệu hạnh thanh tịnh trang nghiêm cõi Phật, khi chết tịnh độ mười phương ứng hiện, cho nên đừng có lo sợ gì hết.
8. Tuy biết pháp thân của chư Phật bản tính vốn không có thân, mà dùng tướng hảo để trang nghiêm thân dìu dắt chúng sanh.
Tuy rằng pháp thân không có hình tướng nhưng báo thân và hóa thân phải dùng tướng hảo trang
nghiêm vào trong thế giới này, phải cần 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp để dìu dắt chúng sanh. Muốn được như thế, Phật phải tu vô lượng công hạnh, vô lượng diệu đức mới thành tựu cái thân đó để dìu dắt. Khi lập hạnh Bồ-tát là chúng ta phải tu con đường đó.
9. Tuy biết âm thanh chư Phật bản tính là không, vắng lặng chẳng nói năng mà hay thuận theo tất cả chúng sinh phát ra vô lượng âm thanh vi diệu để nhiếp phục chúng sinh.
Trong cuộc sống tu tập, chúng ta phải cẩn ngôn, kiệm lời để tạo ra năng lực. Sau này đủ duyên, chúng ta nhiếp phục bằng các âm thanh vi diệu. Khi ấy, chúng ta nói lời gì đó thì người ta nghe và tu tập theo. Muốn được như thế, chúng ta ở trong đại chúng phải trưởng dưỡng công đức cho mình. Phật tử ở ngoài đời cũng thế, phải kiệm lời, kiệm đức chứ đừng chuyện không nói có, chuyện có nói không hoặc nói chuyện chẳng đâu vào đâu hết.
10. Tuy theo lời chỉ dạy của chư Phật, biết rõ ba đời chỉ là một niệm, mà vẫn thuận theo sự phân biệt của chúng sinh, dùng mọi hình tướng, mọi thời gian, mọi kiếp số mà tu tập các hạnh.
Chỉ một niệm thôi, mê là chúng sanh, ngộ tức là Phật. Tức là chứng nghiệm vào con đường đó rồi, nhưng phải trải qua ba A tăng kỳ kiếp để dìu dắt chứ không bỏ chúng sanh.
Phật trả lời cho Bồ-tát Phổ Hiền:
Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh, các thứ huyễn hóa đều sanh nơi Như Lai viên giác diệu tâm, ví như hoa đốm trong hư không, từ hư không mà có. Hoa huyễn tuy diệt mà tánh hư không chẳng hoại, tâm huyễn của chúng sinh lại y nơi huyễn mà diệt, các huyễn diệt hết mà cái giác tâm bất động.
Phật dạy là tất cả các chúng sinh, các thứ huyễn hóa đều sanh nơi Như Lai viên giác diệu tâm, giống như sóng có là từ nước, sóng lặng rồi thì mặt nước bình lặng, an yên. Khi tâm vọng tưởng huyễn hóa không còn nữa thì giác tâm bất động. Ví như hoa đốm trong hư không từ hư không mà có, hoa huyễn tuy diệt mà tánh hư không bất động.
Nói cho dễ hiểu, chúng ta nhìn lên bầu trời thấy có mây, lát sau gió thổi mây tan hết, mây tan rồi thấy hư không bất động. Thân năm uẩn cũng như thế. Những tâm lăng xăng, náo động không còn nữa mình tưởng rằng mất mình, nhưng không phải; ở đây gọi là giác tâm bất động.
Khi sắp về Thiên Trúc, Tổ Đạt Ma gọi các đệ tử trình chỗ tu tập. Ngài Đạo Dục bước ra thưa:
- Theo chỗ thấy của con, chẳng chấp văn tự, chẳng lìa văn tự.
Tổ Đạt Ma nói:
- Ngươi được phần da của
Da tức là bên ngoài thôi. Học mà không chấp văn tự là được phần da thôi.
Bà Ni Tổng Trì bước ra thưa:
- Theo cái thấy của con, giống như tôn giả A Nan nhờ nương thần lực của Phật thấy được cõi Phật A Súc, thấy một lần rồi mất.
- Ngươi được phần thịt của
Có một lúc nào đó, chúng ta ngồi thiền, nương thần lực của Phật là chúng ta trở về tri kiến Phật, tâm bất động. Một lần rồi mất không có lần thứ hai. Một lần thôi là mình cũng có niềm tin với pháp môn: đúng là tâm mình có Phật. Chẳng hạn như hôm nào mình vào thất, rớt trong trạng thái đó, hoa huyễn diệt hết mà tâm mình bất động an yên, thường biết rõ ràng, nhưng mà chỉ được 5, 10 phút. Mình tu không giống như chư Tổ, chư Tổ thấy một lần là xong, nhưng mình được phần thịt.
Ngài Đạo Phó bước ra thưa:
- Theo cái thấy của con, bốn đại vốn không, năm ấm vô ngã, không một pháp có thể được.
- Ngươi được phần xương của
Đến Tổ Huệ Khả, Ngài bước ra lạy 3 lạy rồi trở về đứng yên chỗ cũ, không nói gì.
- Ngươi được phần tủy của
Trong Kinh diễn tả cõi Phật bất động là cõi A Súc rất là xa, không thể đi đến đó. Ông Bàn Long Uẩn muốn đến cõi đó nên ông tìm cách tu pháp gì để đến được cõi đó. Một hôm, ngồi thiền nhận ra được, ông làm bài kệ:
Thường nghe cõi A Súc, Nghĩ đến phương đông cầu. Hôm nay xét nét kỹ,
Bất động tự nhiên đến.
Tâm bất động là đang ở cõi A Súc, tâm vọng động thì ở cõi ngạ quỷ, vậy thôi. Muốn ở cõi Phật hay cõi quỷ là do mỗi người, không có vị Phật nào cản không cho lên cõi của các Ngài.
Trong kinh Đại thừa diễn tả, khi những vị thiện nhân lên cõi Tây phương, buổi sáng hái hoa cúng dường mười phương chư Phật mà trở về đúng bữa ăn. Hồi xưa, tôi nói sao thần bí quá, sau này mới tin, bởi là niệm, niệm bất động thì mười phương chư Phật hiện tiền. Chúng ta ngồi ở đây cúng dường cũng được, tâm bất động là cúng dường mười phương chư Phật, chỉ trong một niệm thôi chứ không xa, không nhiều.
Khi đạt đến chỗ tâm bất động rồi, lúc này thức tâm làm việc rất yếu, tưởng rằng người đó như ngu như ngơ như không biết gì, nhưng người xưa nói,
“dối y một điểm không được.” Thiền sử Trung Hoa có ghi:
Có ông tăng đến hỏi Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng:
- Như gương đúc tượng, sau khi tượng thành, không biết ánh sáng của gương đi về đâu?
Ngày xưa, người ta dùng gương bằng đồng, mài bóng lên để soi mặt.
Tổ Nam Nhạc Hoài Nhượng hỏi lại:
- Như tướng mạo lúc trẻ thơ của đại đức, hiện giờ ở đâu? Ông tăng hỏi tiếp:
- Tại sao khi tượng thành rồi nó không chiếu soi?
Khi một người trở về bản thể hay nói khác hơn là trở về tâm bất động rồi, mình thấy người đó dường như không lanh lợi, nhưng ở đây Ngài đáp:
- Tuy không chiếu soi, nhưng dối y một điểm không được.
Tuy không chiếu soi nhưng cái gì qua lại là biết rõ hết. Không phải như ngày xưa sống lanh lẹ theo thức tình, vọng tưởng, một lời nói ra là chụp đáp liền. Còn bây giờ giống như người khờ khạo không biết gì, mà “dối y một điểm không được”, chỗ này là chỗ chúng ta phải dụng công đến chỗ rốt ráo.
Phật dạy phương tiện để nhập viên giác:
Y nơi huyễn mà nói giác, cũng là huyễn. Nếu nói
có giác, vẫn chưa có lìa huyễn, nói không giác cũng lại như thế. Cho nên huyễn diệt gọi là bất động.
Đoạn này Phật đáp dùng huyễn tu huyễn.
1. Dùng giác giác huyễn, giác cũng là huyễn, nên nói, y nơi huyễn mà nói giác, cũng gọi là huyễn.
Chẳng hạn, tâm mình khởi vọng nhớ nhà, mình lấy cái giác, cái giác này cho đó là tâm viên giác cũng là trật, nó cũng là huyễn. Nói giác cũng là huyễn nên buông cái giác đó, bỏ lớp thứ nhất.
2. Nếu nói huyễn diệt mà giác còn, thì đây cũng là huyễn.
Chẳng hạn, bây giờ, vọng tưởng diệt, cái mà lom lom biết, đó cũng là huyễn, bỏ luôn, bỏ lớp thứ hai.
3. Nếu nói có giác vẫn chưa lìa huyễn, nếu lại khởi thấy nói rằng huyễn diệt mà giác cũng không, cũng lại là huyễn.
Cái giác này cũng là không, buông cái giác này cũng là huyễn luôn, buông lớp thứ ba.
Vì sao? Vì chưa thấu đạt đến chỗ bờ mé rốt ráo, phải cần thẳng đến có không đều bỏ, thể chiếu độc lập.
Tức là đứng riêng mình, tự chiêm nghiệm thôi, tự mình tu mình biết. Ai mà công phu thiền tập là tự biết chỗ này.
Nên nói huyễn diệt gọi là bất động. Vì các thứ huyễn hóa đều sanh nơi Như Lai viên giác diệu tâm, nên các huyễn diệt hết, mà cái giác tâm bất động.
Tôi đưa một ví dụ dễ hiểu. Có một người làm bằng muối, đầu, mình, tay chân đều là muối. Ông đi xuống biển, cái chân rớt xuống, rồi cái mình, cái đầu cũng mất luôn. Mình tu đạt đến chỗ thể nhập vào cảnh giới viên giác gọi là “thể chiếu độc lập”, không còn từ ngữ, không còn niệm, gọi là tâm thể bất động. Cái này diễn tả không được mà phải dụng công. Cho nên người xưa nói: “không lời có thể đáp, không lý có thể bày”, tự mình tu lần lần mình chứng nghiệm. Chỗ này gọi là “có không, phàm thánh, năng sở, chủ khách một lúc buông hết”. Nói thì dễ nhưng đến chỗ tâm bất động không dễ.
Đại chúng tu tập để chứng nghiệm, chúng ta phải khéo như Ngài Huyền Giác nói:
Khéo khéo lúc dụng tâm, Khéo khéo không tâm dụng. Không tâm khéo khéo dụng,
Thường dụng khéo khéo không.
Thiền thoại kể câu chuyện:
Một hôm, có vị tăng đến hỏi Thiền sư Phổ Mãn ở Thủ Phong:
- Khi đối cảnh tâm chẳng động thì thế nào? Sư bảo:
- Ông không có sức đại nhân. Đại nhân chỉ các vị Bồ-tát lớn. Tăng hỏi:
- Thế nào là sức đại nhân? Sư đáp:
- Đối cảnh tâm chẳng động. Ông tăng ngạc nhiên:
- Bạch Hòa thượng! Tại sao vừa rồi nói không có sức đại nhân, mà bây giờ lại bảo là có sức đại nhân?
Thiền sư nói:
- Ở nhà chỉ nói dễ dàng, đến trong mới hay bắt cá là khó. Có nghĩa là nói thì dễ, đối cảnh tâm bất động ai cũng nói được, nhưng thực hành để chứng nghiệm
thì không phải dễ. Ông Bàng Long Uẩn ngồi nhìn
ra sân ông nói: “Khó khó khó, mười tạ dầu mè trên cây vuốt.” Các Ngài nói, tu thiền giống như là đi trên băng mỏng, sảy chân là chết; nó là cam lồ, cũng là độc dược. Vua Trần Thái Tông nói rất đúng: “Bàn thiền tợ thánh trước cảnh như ngu.” Bàn thiền ai bàn cũng được, nhưng đối cảnh rồi mới thấy khó, cho nên phải nỗ lực dụng công tu tập.
Phật dạy phương pháp ly huyễn. Huyễn tức là mộng, nói khác hơn là những vọng tưởng. Mộng tưởng điên đảo thì Phật nói lìa, nhưng ở đây chúng ta học sâu hơn chút nữa, Đức Phật nói, “cái hay biết để lìa cái huyễn cũng phải lìa luôn”. Chúng ta học Kinh Viên Giác thật kỹ, không sợ tu bị lạc. Đa phần những người tu thiền hay bị dính mắc, nghe nói bỏ cái động thì tự nhiên giữ cái tịnh, hoặc nghe bỏ phàm được
thánh cho nên dễ sanh bệnh.
Này thiện nam tử! Tất cả các Bồ-tát và chúng sanh đời sau nên phải xa lìa tất cả cảnh giới huyễn hóa hư vọng.
Phật nói chúng ta bị lưu chuyển trong đường khổ là do chạy theo huyễn mộng rồi dính mắc, chìm nổi trong đó. Nên bước đầu Phật dạy phải xa lìa huyễn mộng điên đảo.
Do chấp chặt cái tâm xa lìa, tâm như huyễn ấy lại cũng phải xa lìa.
Ngày xưa, mình không biết huyễn là gì, bây giờ tu tập, ứng dụng lời Phật dạy mình biết những lăng xăng, suy nghĩ điên đảo, nói khác hơn, tất cả các pháp trần đều là huyễn. Biết là huyễn nên khi ngồi thiền, nó hiện lên thì phải có cái gì để tiêu trừ nó, không chạy theo nó nữa, đó là cái hay biết. Đa phần chúng ta giữ lại cái hay biết, cái lom lom, trong nhà thiền gọi là vọng giác. Bây giờ, chúng ta tu như thế nào đó để buông cái tâm hay biết luôn.
Các huyễn đã diệt, nếu chấp chặt có cái tâm hay biết, tâm đây cũng là huyễn, cũng phải bỏ luôn.
Cái tâm hay biết cũng là huyễn luôn, cho nên chúng ta tu pháp này không sợ lạc.
Tâm đây cũng như huyễn nên cũng phải xa lìa. Đây là bỏ cái lớp thứ nhất, cái tâm hay biết.
Phật dạy tiếp:
Xa lìa là huyễn, ấy cũng lại xa lìa. Đây là xả bỏ lớp thứ hai, cái tâm xa lìa cũng lại xa lìa.
Nghĩa là ban đầu dùng cái biết để lìa huyễn, huyễn diệt thì bỏ cái tâm hay biết.
Nếu cái tâm hay biết đã dứt đây, thì lìa cũng như huyễn, nên nói xa lìa là huyễn cũng phải xa lìa luôn.
Tức là có một cái gì nữa để mà xa lìa cái tâm hay biết này, thì cái tâm đó cũng bỏ luôn, là bỏ lớp thứ hai.
Lìa cái xa lìa huyễn cũng lại xa lìa, đây là bỏ lớp thứ ba. Phần trên xa lìa, xa lìa của cái xa lìa nghĩa là dứt hẳn cái xa lìa. Được cái chỗ không xa lìa tức là trừ hết các huyễn.
Buông sạch, giống như ăn trộm vào nhà không còn gì để trộm, thì mới dứt hết các huyễn.
Phật đưa ví dụ cho dễ hiểu:
Ví như dùi lửa, hai thanh cây làm nhân cho nhau, lửa cháy cây hết, khi đó tro khói đều bay mất. Dùng huyễn tu huyễn cũng lại như thế. Các huyễn diệt hết mà không lìa đoạn diệt.
Xả các huyễn, buông hết mà không vào đoạn diệt. Tro khói bay mất là dụ cho “xa lìa cái xa lìa”, tức là xa lìa sạch hết, chỉ còn đất, là dụ nó không vào đoạn diệt.
Chẳng hạn như đoạn nhân duyên này:
Một hôm, Tổ Huệ Khả trình Tổ Đạt Ma:
- Bạch Hòa thượng! Giờ phút này đối với các duyên trần là con bặt hết luôn.
Tổ Đạt Ma nói:
- Coi chừng rơi vào không.
- Bạch Hòa thượng! Rõ ràng thường biết.
Lúc này, Tổ mới ấn chứng. Bặt hết các duyên nhưng mà rõ ràng thường biết, tức là buông sạch hết luôn. Chỗ này không thể nói, chỉ có người tu cảm nghiệm vào chỗ đó thôi.
Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên có ghi câu chuyện:
Một hôm, tôn giả Nghiêm Vương đến Thiền sư Triệu Châu nói:
- Con không một vật đem đến. Thiền sư Triệu Châu nói:
- Buông xuống đi.
Ông nói không có một vật, “cái không có một vật” này cũng là vọng mà vọng giác. Tức là khi chúng ta có phương tiện để lìa cái huyễn thì cái đó cũng phải lìa luôn, chứ không phải giữ chặt, lúc nào cũng lom lom chỗ đó như là phòng hộ; phương pháp đốn giáo không phải đến chỗ đó.
Lúc này, tôn giả Nghiêm Vương nói:
- Đã nói không một vật thì buông cái gì? Thiền sư Triệu Châu nói:
- Nếu không buông được, gánh lên mà đi.
Nếu buông hết rồi thì đâu còn gì nữa, ngay chỗ đó sống thôi.
Tất cả những người đến hỏi Thiền sư Triệu Châu, Ngài chỉ trả lời có ba chữ chứ không có giảng. Hỏi “Thế nào là thiền?” “Uống trà đi!” “Thế nào là Niết-bàn?” “Uống trà đi!” Tại sao? Bởi vì ngay trong giờ phút đó nếu tư tưởng dứt bặt thì biết thiền là gì, giải thoát là gì. Mục đích của các Ngài muốn chặt đứt cái huyễn, cái vọng tưởng của người hỏi, để kéo họ trở về trong giờ phút thực tại đó. Thiền là như vậy.
Bố Đại Hòa thượng thường hiện thân khi đi ra đường Ngài vác một cái túi thật to. Một hôm có ông tăng gặp Ngài hỏi:
- Bạch Hòa thượng! Thiền là gì?
- Ngài buông cái túi xuống.
Ông tăng hỏi: Rốt ráo như thế nào?
Rốt ráo có nghĩa là cái tột cùng.
- Ngài nắm lấy cái túi vác lên vai đi.
Khi nhận ra được yếu chỉ của thiền là buông sạch hết rồi, tưởng rằng không còn gì. Nhưng khi chúng ta buông sạch hết, xa lìa tất cả các huyễn rồi thì có
sức diệu dụng, cho nên Ngài hiện thân vác cái túi lên vai mà đi. Xa lìa hết rồi mà không phải vào đoạn diệt, không phải giống như ngơ như ngu không biết gì.
Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên ghi lại câu chuyện:
Có vị tăng hỏi Thiền sư Tào Sơn:
- Thế nào là cây kiếm không mũi? Thiền sư đáp:
- Không do luyện mà thành.
Muốn làm một cây kiếm, người ta phải đun thanh sắt cho chảy mềm ra rồi đập, mài giũa mới thành. Cây kiếm này đặc biệt, Thiền sư nói không do luyện mà thành, tức là không phải do những yếu tố đất, nước, gió, lửa mà hình thành.
Ông hỏi tiếp: Dụng nó thế nào? Thiền sư đáp: Ai gặp cũng đều chết.
Cái diệu dụng của nó là ai gặp cũng chết, có nghĩa là xả hết tất cả huyễn.
- Người chẳng gặp thì sao?
- Đều cũng rơi đầu. Ông tăng hỏi:
- Ai gặp đều chết đã đành, còn người không gặp tại sao cũng phải chết?
Thiền sư nói:
- Ông không nghe nói sạch hết tất cả sao?
Cây kiếm này lạ lắm, gặp cũng chết, không gặp cũng chết, cho nên đến với Bát-nhã là vô sở đắc, phải buông hết không dính mắc phàm thánh, nhân ngã, tri kiến Phật…
Ông tăng hỏi tiếp:
- Sau khi sạch thì thế nào?
- Mới biết có cây kiếm này.
Sạch hết rồi mới biết có cây kiếm này! Sạch hết rồi mới có diệu dụng. Chính cái diệu dụng đó là chúng ta không dính mắc tất cả các huyễn, và cái tâm để xa lìa huyễn chúng ta cũng xa lìa; rồi cái để xa lìa cái tâm hay biết đó cũng phải xa lìa luôn. Xa lìa không còn gì xa lìa hết, thì cái đó là chỗ diệu dụng cứu cánh của thiền.
Chúng ta tu là không có sợ bị điên bị khùng gì hết, vì đâu có dính mắc gì đâu mà điên khùng. Tất cả cái gì mình ngồi thiền thấy, kể cả ngồi thiền thấy khinh an cũng là vọng luôn. Ai mà lên trình tôi ngồi thiền thấy cái này cái kia tôi chỉ cười, cái đó là vọng thôi. Xa lìa hết tất cả, cái biết cũng phải xa lìa. Trở về chỗ tánh biết là dụng khắp tất cả, ứng dụng là muôn vàn pháp giới tự nhiên linh thông, đó là diệu dụng của thiền. Cho nên qua phần này, đại chúng thấy mình tu thiền không sợ dính mắc vào tất cả các cảnh giới.
Phần sau đây, Đức Phật dạy cho người đốn cơ, đốn chứng. Đây là bậc thượng thượng căn, không
qua thứ lớp phương tiện:
Phật dạy giác ngộ không có tuần tự, rời huyễn chẳng cần phương tiện.
Ngộ được chỗ đó không trải qua thứ lớp phương tiện, gọi là thẳng vào đất Phật.
Này thiện nam tử! Biết huyễn tức lìa chẳng khởi phương tiện, lìa huyễn tức giác cũng không có thứ lớp.
Theo bản tiếng Hán là tri huyễn tức ly, ly huyễn tức giác, biết huyễn tức là lìa. Khi ngồi thiền, chúng ta biết vọng khởi là huyễn thì tự nhiên nó lìa, đây là gọi là tự tính biết vọng. Khi vọng sinh, biết nó không có thực thể, biết nó không sinh thì làm gì có diệt. Tức khắc lìa chỗ sinh diệt chứ không qua phương tiện sổ tức, tùy tức, chỉ quán, hoàn, tịnh… Biết huyễn là lìa huyễn thôi mà không khởi phương tiện gì hết. Lìa huyễn tức là giác, đây chỉ cho các bậc thượng căn.
Đoạn này là tóm kết chỉ bày pháp môn đốn ngộ, đốn chứng, để hiển bày yếu chỉ một tâm rốt ráo.
Nghĩa là trong tâm diệu giác này, phàm có một chút mảy may khởi tâm động niệm, chỗ thấy chưa quên, thảy đều là huyễn. Nếu biết rốt ráo đều là huyễn thì tất cả các huyễn tự xa lìa, chỉ một chữ “biết” mà thôi.
Chữ biết này là tính biết, thầm hợp nhất gọi là tính biết vọng chứ không có khởi lên một cái biết. Cái biết này là tự tính biết của các pháp.
Nên nói: Tri huyễn tức ly, ly huyễn tức giác. Ví như voi chúa qua sông, một lúc liền bơi đến bờ, nghĩa là chẳng khởi phương tiện, cũng không có thứ lớp.
Con voi chúa chỉ cần nhảy xuống sông bơi một lúc đến bờ. Người thượng căn cũng như thế, do đã tu nhiều đời nên trở về tính biết vọng là các Ngài khế hợp liền, không còn lăng xăng nữa. Những bậc trung căn, hạ căn thì lăng xăng vào không được vì còn một lớp tập khí cản. Cho nên, Kinh Bảo Tích nói những vị này phải chẻ củi, nấu cơm, làm tất cả việc thiện pháp để hồi hướng công đức lành này thì tu mới được.
Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật khẳng định:
Khó thay được làm người, Khó thay được sống còn, Khó thay nghe diệu pháp, Khó thay Phật ra đời.
Trong bốn cái khó, chúng ta được ba rồi: Giữ được năm giới nên mới được làm người, nghe phương pháp đốn ngộ tin nhận để tu và hiện tại đang còn được sống để mà tu. Do đó, chúng phải biết nắm lấy nhân duyên mà mình đang có. Người ta nói không ai tắm hai lần trên một dòng sông, dòng sông luôn thay đổi, nước trôi đi không bao giờ trở lại như cũ. Cơ duyên được làm người, được tu học cũng như thế, bây giờ đủ nhân, đủ duyên mà bỏ qua không nắm cơ
hội là nó tuột mất, không có lần thứ hai. Cho nên Tuệ Trung Thượng sĩ nói:
Gặp trường chẳng chịu sờ lên mũi, Muôn kiếp duyên lành chỉ thế thôi.
Gặp trường là gặp chỗ đủ nhân, đủ duyên để tu: có Pháp, có lương thực, môi trường có, cái gì cũng có sẵn; Thầy Tổ làm đủ mọi cách cho mình tu mà không chịu gắng gỗ tu, thì muôn kiếp duyên lành chỉ thế thôi. Phải nói là chúng ta có nhân duyên rất lớn. Ra đời tuy không gặp Phật mà được làm người sáu căn đầy đủ; được sống, trải qua dịch bệnh, qua bao biến cố trong cuộc đời mà vẫn còn sống tức là còn duyên may, lại được nghe diệu pháp, mà không chịu tu là do mình.
Phật dạy tiếp:
Tất cả Bồ-tát và chúng sanh đời sau y đây tu hành thì mới hay lìa các huyễn.
Y nơi tự tính viên giác tu, nhận ra được rồi bắt đầu tu, lúc đó mới lìa các huyễn. Giống như ông chủ ngồi tiếp khách, bao nhiêu đoàn khách vào ra vẫn tiếp mà ông chủ ngồi bất động. Nhận được chỗ đó rồi mới lìa được khách trần phiền não.
Nghĩa là cần phải quét sạch nhiều lớp như thế mới có thể hằng lìa các huyễn.
Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên ghi lại câu chuyện:
Có vị tăng đến hỏi Thiền sư Thanh Khoát ở viện Bảo Phước, Trương Châu:
- Khi nhà nghèo gặp giặc cướp thì sao? Sư đáp:
- Không thể lấy hết.
- Vì sao không thể lấy hết?
- Vì giặc là người thân trong nhà.
Chúng sanh lưu lãng trong ba đường, sáu nẻo mà Phật tính, chơn như không có mất. Dù bị nghịch duyên, nghịch cảnh khốn cùng đến mấy, nhưng may mắn vẫn còn cơ hội để biết tất cả các huyễn, biết tất cả các pháp. Kinh Duy Ma Cật nói, ở trong cõi dục có sự may mắn là rõ biết các pháp là vô thường, khổ, không, vô ngã nên mới tu. Người xưa nói không có lấy hết của cải của ông, vẫn còn có cơ hội để ông tiếp tục tu, trưởng dưỡng để thành tựu quả vị vô thượng. Vì sao? Vì vọng này ngay nơi chính mình, là do những tập khí, vọng tưởng điên đảo khởi lên, biết nó không có thật, tự nó lìa. Ngay nơi thân năm uẩn của chính mình nên có thể tu được.
Ông tăng hỏi tiếp:
- Đã là người thân trong nhà cớ sao lại thành giặc cướp? Y nói:
- Trong đã không ứng, ngoài không thể làm.
Có nghĩa là bên trong chúng ta có tập khí đó thì bên ngoài nó đến. Nhiều khi nói tại người này người kia nhưng mà tại mình. Chẳng hạn như 100 triệu để trước mặt mà bên trong không có tập khí tham thì bên ngoài bất động. Trong không ứng thì ngoài không làm gì được. Bên trong máy động thì duyên bên ngoài tự nhiên mình phạm giới. Cho nên đừng đổ thừa ai hết mà ngay nơi mình, dọn chưa hết tập khí nên bị dính mắc. Giống như con khỉ ở trong chuồng ngủ thì con khỉ bên ngoài chọc lét cách mấy cũng bất động. Con khỉ bên ngoài chọc mà con khỉ bên trong la hét vì nó thức. Cho nên, người xưa nói do tâm biến động nên thấy thế giới này biến động. Nếu tâm bình, thế giới bình. Tâm an yên thì nhìn đâu cũng an yên.
Ông tăng hỏi tiếp:
- Chợt bắt được thì sao? Thiền sư nói:
- Trong ngoài đều bặt tin tức.
Tri huyễn tức ly, ly huyễn tức giác.
Ông tăng hỏi tiếp:
- Sau khi bắt được, công về đâu?
Nghĩa là sau khi tu được thành tựu được cái gì?
- Thưởng cũng chưa từng nhận.
- Thế ấy thì nhọc mà không công!
Nhọc chỗ nào? 3 giờ sáng người ta vẫn còn ngủ mình thức dậy; 6 giờ rưỡi tối người ta đi dạo, mình tụng kinh sám hối; 7 giờ rưỡi tối, người ta đi chơi, đi karaoke, mình ngồi thiền. Cực vậy mà “thưởng cũng chưa từng nhận” nên ông tăng nói “thế ấy thì nhọc mà không có công”.
- Công tức chẳng không, thành mà không ở.
Chúng ta dành thời gian tu tập là có kết quả, nhưng thành tựu rồi chúng ta không chấp chỗ thành tựu, tức là vô sở đắc. Tu tập, làm các việc thiện pháp mà không dính mắc trên cái tướng. Khi chúng ta tu được là có diệu dụng nhưng đừng chấp, đừng dính mắc trên cái diệu dụng đó.
Ông tăng hỏi:
- Đã là thành, vì sao không ở?
Đã là thành tựu, tại sao không cho chỗ đó là diệu dụng của mình?
Thiền sư nói:
- Ông chẳng nghe nói, thái bình vốn do tướng quân đem đến; nhưng chẳng cho tướng quân thấy thái bình.
Chẳng hạn như ở biên cương giặc đến quấy nhiễu, vua sai tướng quân dẹp giặc, giặc dẹp yên là nhờ tướng quân. Nhưng nếu cho tướng quân thấy thái bình thì
tướng quân sẽ tăng cái ngã là nhờ tôi thiên hạ mới thái bình; thấy mình làm việc đó là ngã pháp chưa hết.
Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Phổ Hiền Thầy nên biết, Tất cả các chúng sinh, Huyễn vô minh vô thỉ, Đều từ tâm viên giác, Chư Như Lai kiến lập.
Phật dạy Bồ-tát Phổ Hiền, tất cả những vô minh huyễn mộng từ vô thỉ đến nay phát xuất từ tâm viên giác thanh tịnh. Vọng tưởng điên đảo gọi là một niệm bất giác. Quên cái gốc rồi mới trôi nổi trong ba đường sáu nẻo, từ tự tính viên giác mà kiến lập; như ngay sóng tức là nước, nước tức là sóng chứ không nằm đâu xa.
Giống như hoa hư không, Nương không mà có tướng, Hoa trong không dù diệt, Hư không vẫn bất động.
Huyễn từ viên giác sanh, Huyễn hết giác viên mãn, Vì giác tâm bất động.
Huyễn từ viên giác mà sinh, huyễn hết thì cái giác tròn đủ.
Nếu chư Bồ-tát kia,
Và chúng sanh đời sau, Phải thường xa lìa huyễn, Các huyễn thảy đều lìa.
Như trong cây sanh lửa, Cây hết lửa lại diệt, Giác thì không tiệm thứ,
Phương tiện cũng như thế.
Biết huyễn tức lìa, lìa huyễn tức là giác chứ không có phương tiện thứ lớp gì hết.
Đây là chỗ cứu cánh rốt ráo, phần Bồ-tát Phổ Hiền thưa thỉnh rồi Đức Phật dùng tất cả các phương tiện thiện xảo chỉ bày các pháp môn đốn ngộ đốn chứng ngay nơi thân tâm của Bồ-tát và chúng sanh đời sau.
Trong Kinh Tương Ưng Bộ, Đức Phật nói bốn chỗ xa lìa:
1. Tỳ-kheo thân xa lìa mà tâm không xa lìa.
Thân ở chỗ núi rừng xa lìa chợ búa, thành thị, thôn quê nhưng tâm còn nghĩ ở phố thị, chợ búa.
2. Tỳ-kheo tâm xa lìa mà thân không xa lìa.
Có những vị Tỳ-kheo ở nơi phố thị, thân thì không xa lìa nhưng tâm không có vọng động, không có điên đảo.
3. Tỳ-kheo thân tâm đều không xa lìa.
Thân ở thành thị, phố phường, thân không xa lìa, tâm cũng không xa lìa mà vọng động điên đảo.
4. Tỳ-kheo thân tâm đều xa lìa.
Như chúng ta ở núi rừng, thân mình xa lìa tất cả những gì làm cho khó tu, khó chuyển hóa. Mình trốn lên núi rừng tu nhưng tâm cũng an yên trong giờ phút thực tại, không vọng động, không điên đảo, ở ngay nơi thật tướng.
Phật tán thán vị Tỳ-kheo thứ 4 thân tâm đều xa lìa, càng ngày tâm càng tăng trưởng thiện pháp. Nói theo tinh thần của Kinh Viên Giác, người này đã sống với tự tính viên giác, được Đức Phật tán thán ca ngợi là vị Tỳ kheo thân tâm đều xa lìa.