Chương 4: Bồ Tát Kim Cang Tạng Thưa Hỏi

CHƯƠNG 4: BỒ TÁT KIM CANG TẠNG THƯA HỎI
Đây là đại diện cho chúng sanh đời sau hỏi pháp hành tu tập. Chúng ta đừng nghĩ sao các vị Bồ-tát hỏi lạ quá. Tạng là kho tàng, Kim Cang Tạng là kho tàng Kim cang. Mỗi vị Bồ-tát đều có tên, danh xưng phù hợp vào chỗ đó.
Khi ấy, Bồ-tát Kim Cang Tạng ở trong đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu Phật ba vòng, quỳ thẳng chắp tay mà bạch Phật rằng:
Đức Thế Tôn đại bi! Khéo vì tất cả Bồ-tát, rộng nói tánh viên giác thanh tịnh đại Đà-la-ni Như Lai, rồi dạy nhân địa pháp hạnh, phương tiện thứ lớp tu hành, khai phát chỗ tối tăm cho chúng sanh. Chúng trong hội này nhờ sự chỉ dạy của Phật, nên những cái huyễn hóa che đậy được sáng tỏ, con mắt trí tuệ được thanh tịnh.
Ngài nói các vị Bồ-tát ngộ hết rồi, con mắt trí tuệ đã mở, bây giờ thắc mắc 3 câu hỏi mà tôi đọc qua tôi thấy cũng giống như mình thắc mắc:
1. Bạch Đức Thế Tôn! Nếu tất cả chúng sanh xưa nay đã thành Phật, vì sao lại có tất cả vô minh?
Chúng ta tự xem lại mình, thấy sao? Ngồi yên trong thất thấy mình phàm phu chay mà sao Phật nói đã thành Phật? Đã thành Phật tức là tròn đủ, giống như con gà ở trong cái trứng bị cái vỏ trứng vô minh bao bọc, mà chúng ta biết chắc chắn nếu con gà mổ bể cái vỏ, nó sẽ thoát ra, gọi là Như Lai xuất triền. Hiện giờ, mình đã là Phật ở trong nhưng là Như Lai tại triền, có nghĩa là bị triền phược trói. Chỉ cần mở trói, tức là đừng có chấp trước nữa, tức khắc mình là Phật.
Có khi nào thành Phật rồi mai trở lại chúng sanh? Cho nên, trong nhà thiền bắt buộc, phải kiến tánh rồi mới khởi tu, giống như mình nhận ra được hư không rồi không có mê muội nữa. Bây giờ, chúng ta đang tu kiểu sốt rét cách ngày, hoặc là tìm thuốc trị nhưng hai ngày sau, bệnh trở lại chớ không dứt. Nếu đủ nhân duyên gặp thầy thuốc giỏi trị dứt bệnh thì không bệnh trở lại nữa. Cho nên, phương tiện ban đầu, bắt buộc mình tu 5, 10 hay 20 năm gì không biết nhưng phải kiến tánh, nhận được cái tự thể đó.
2. Nếu chúng sanh sẵn có vô minh thì do duyên gì Như Lai lại nói xưa nay đã thành Phật?
Như trong kinh Lăng Nghiêm nói, giống như nước để yên lắng cặn xuống, mới chỉ là hàng phục khách trần phiền não, chưa đoạn tận cội gốc vô minh. Phải đổ nước sạch qua ly khác, cặn đổ bỏ, ly
nước trong, quậy cách mấy nó vẫn trong; hay như cái cây đốn tận gốc nó vẫn lên lại, phải bứng hết gốc nó mới không lên nữa, gọi là đoạn tận gốc vô minh. Cho nên, việc tu này phải sâu lắng lắm, phải trải qua nhiều giai đoạn chớ không phải thường. Chúng ta có sẵn Phật tánh mà vô minh chợt đến chợt đi, nó không phải mình, giống như nằm mộng; nếu mê tự nhiên nó có, mà ngộ rồi, không có.
Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên kể câu chuyện:
Một hôm, tướng công Vưu Địch đến hỏi Thiền sư Đạo Thông:
- Thế nào là hắc phong xuy kỳ thuyền phưởng, phiêu đọa La-sát quỷ quốc?
Ông cũng hiểu đạo. Ông đem câu Kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn đến hỏi. Nghĩa là có một số người đến hòn đảo đó tìm ngọc ngà châu báu, bị sóng to gió lớn thổi trôi giạt vào nước quỷ La-sát. Nhiều người sợ hãi, trong đoàn có 1 người có tu tập nói rằng chỉ cần nhiếp tâm niệm Bồ-tát Quan Thế Âm thì quỷ La sát không làm gì được.
Thiền sư Đạo Thông đáp:
- Kẻ khách Vưu Địch hỏi việc đó làm gì?
Vào đời nhà Đường, nhà Tống có những kiếm khách giang hồ được thuê đi giết người để lãnh tiền thưởng. Ông là tướng mà Ngài gọi là kẻ khách.
Vưu Địch đỏ mặt. Sư chỉ vào ông nói:
- Cái đó chính là phiêu đọa La sát quỷ quốc.
Khi ông đỏ mặt, nổi giận tức là vô minh đến, khi vô minh đến là ông đang ở trong nước quỷ La sát. Muốn ra khỏi nước quỷ La-sát, chỉ cần ông niệm Phật hiệu, chẳng hạn như Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát, ông nhớ cái tính biết niệm đó, lìa cái tâm sân hận, tức khắc ông ra khỏi nước quỷ La-sát chớ không tìm đâu xa hết. Chính khi ông nổi nóng thì vô minh đến, tính Phật không còn. Đã là Phật là Phật nhân thôi nhưng mà gốc vô minh vẫn có. Chúng ta giống như đang ở trong quặng, vàng chưa ra, bây giờ phải lọc, phải nấu cho vàng chảy ra. Vàng khi thành hình rồi thì không bao giờ thành quặng trở lại được nữa.
Vưu Địch lại hỏi:
- Thế nào là Phật? Sư gọi:
- Tướng công!
- Dạ.
Sư bảo:
- Lại chớ tìm cái gì khác.
Ngay đó nhận mà sống thôi, đừng tìm gì khác hết. Ngài Bá Trượng có câu:
Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu.
Tâm địa nếu không có cỏ rác, không có phải quấy hơn thua thì mặt trời trí tuệ tự chiếu sáng, có diệu dụng trong cuộc sống.
Thiền sư Động Sơn khi ngộ đạo, Ngài làm bài kệ:
Cửa Không ngả ấy người nào đến, Đến đó mới hay chỉ thú trường.
Tâm địa nếu không đồ cỏ rác,
Tự nhiên thân phóng hào quang thường.
Cửa Không đến rồi, mới hay được rằng chỗ đó là chỗ chỉ thú tông phong. Chỗ này quá đặc biệt, chỉ có thiền đốn ngộ, thiền đốn giáo mới chỉ đến chỗ rốt ráo này. Tâm địa không còn cỏ rác nữa, tức là không còn những vọng tưởng lăn tăn thì tự nhiên thân phóng hào quang chiếu soi khắp đại địa.
3. Mười phương các loại dị sanh đã thành Phật đạo, tự nhiên khởi vô minh. Như vậy, tất cả Như Lai khi nào lại sanh ra tất cả phiền não?
Chúng ta được túc duyên làm người, được sáu căn đầy đủ là điều hy hữu. Rồi được nhân duyên xuất gia, gặp pháp đốn giáo, được bơi lội trong chánh pháp lại càng hy hữu. Những loài dị sanh khác, ví dụ như con chó cũng có ý thức: Khi quý thầy ngồi thiền nó nằm yên, khi quý thầy ăn cơm nó ngồi ngay cửa, nó nghe tiếng tụng kinh nó biết, nhưng mà cái biết của nó mờ mờ, mịt mịt; nó không nhận ra đâu là thiện, đâu là ác,
đâu là tu tập, đâu là chuyển hóa nội tâm. Tức là nó có tính Phật nhưng tính Phật bị chôn sâu.
Còn chúng ta có nhân duyên được làm người là điều thù thắng, cho nên tại sao Phật nói khó được thân người. Bởi vì khi mất thân người, làm thân thú rồi vô minh tạo nghiệp, lên xuống ba đường: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh chớ không thoát khỏi. Loài súc vật muốn làm thiện pháp không làm được, muốn lễ Phật không lễ được, muốn niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm thiên, niệm giới, cũng không niệm được. Chỉ có loài người, giữa sướng và khổ, giữa ranh giới sống và chết, nên ý thức được để tu tập.
Khi ông tăng đến hỏi Ngài Triệu Châu:
- Con chó có Phật tánh không?
- Không.
- Phật dạy tất cả dị loại đều có Phật tánh mà tại sao con chó không có?
- Vì nghiệp thức mênh
Nghiệp thức mênh mang nó không có chỗ tựa, nó mênh mang, mông lung. Đã thành Phật mà Phật nhân thôi, ẩn sâu bên trong. Để thành tựu được con người đầy đủ, bình đẳng có tánh biết như mười phương chư Phật là phải tu tập, dụng công, huân tu để thành người tiếp tục tu.
Rồi một hôm, ông tăng khác đến hỏi:
- Con chó có Phật tánh không?
- Có.
- Đã có vì sao còn chui vào cái đãy da này?
- Biết mà cố phạm.
Biết là tạo nghiệp sẽ thọ khổ mà mê mờ, vô minh, không nhận chân được chỗ tánh viên giác, cho nên tiếp tục tạo nghiệp, bị đọa đày trong ba đường khổ.
Ở đây Bồ-tát Kim Cang Tạng hỏi: “Khi nào Như Lai sanh lại phiền não?”
Kinh Tương Ưng Bộ Phật kể câu chuyện:
Ở một làng nọ, mọi người trong làng ai cũng bị bệnh cùi, khi trở trời bệnh này rất ngứa. Ngứa thì người ta gãi, gãi chưa đã nên người ta đốt lửa hơ, hết ngứa thì bắt đầu đau rát. Có một anh đi qua làng khác, gặp ông thầy thuốc giỏi thương tình cho thuốc vừa uống vừa thoa, một thời gian anh hết bệnh.
Một hôm, anh đi ngang làng cũ, có anh cùi đang hơ lửa gọi anh chàng đã hết bệnh vào cùng hơ. Anh này nói:
- Ngày xưa, tôi hơ lửa vì tôi bệnh, tôi bị ngứa, tôi không ngờ gãi rồi hơ lửa sau đó đau rát vô cùng. May mắn, tôi gặp thầy thuốc giỏi chữa tôi hết bệnh, bây giờ tôi sợ lắm, anh đừng rủ tôi hơ lửa nữa.
Phật nói: “Ví như có một người bị cùi mà hết bệnh, người đó còn gãi không? Thì cớ gì ông nói
tôi thành Phật rồi khi nào khởi phiền não lại thành chúng sanh?” Một người tu ba, bốn chục năm đã không bao giờ khởi thèm ăn mặn, huống chi là nhận được tánh viên giác rồi mà sanh khởi phiền não, chuyện này không có.
Sau khi thưa hỏi Đức Phật những điều nêu trên, bây giờ Bồ-tát Kim Cang Tạng tha thiết thỉnh cầu:
Cúi mong Đức Thế Tôn không bỏ lòng đại từ, vì các vị Bồ-tát mở bày kho bí mật này, và vì tất cả chúng sanh đời mạt, nghe kinh pháp liễu nghĩa như thế mà hằng đoạn nghi ngờ.
Thưa lời đây rồi, năm vóc gieo xuống đất, thưa thỉnh như thế lặp đi lặp lại ba lần.
Bồ-tát Kim Cang Tạng tha thiết thỉnh cầu Đức Thế Tôn mở bày kho bí mật. Đọc đoạn này, chúng ta nhớ lại đoạn nhân duyên:
Khi Ngài Huệ Minh rượt đuổi theo Lục Tổ Huệ Năng, được Lục Tổ Huệ Năng khai thị, Ngài hỏi:
- Ngoài mật ngữ, mật ý trên còn mật nào không? Lục Tổ Huệ Năng nói:
- Ta nói ông, tức là không có mật.
Cũng giống như chúng ta đọc kinh Phật, Phật diễn bày ra hết rồi. Chẳng hạn, chúng ta học Kinh Viên Giác này, hay tất cả kinh điển Đại thừa là không còn bí mật nữa.
Lục Tổ khẳng định thêm một câu:
- Mật hay không là nơi ông.
Như vậy, chúng ta đọc kinh điển là mới có một nửa, để có diệu dụng trong cuộc sống là chúng ta phải công phu tu tập. Cho nên mật hay không là ngay nơi mình. Tu nhiều đời có diệu dụng nhiều hơn những người mới tu. Tu gọi là huân, giống như cất nhà gỗ, xông trầm trong nhà khoảng chừng ba năm rồi thôi không xông nữa, nhưng vào trong nhà người ta tưởng đi trong rừng trầm, bởi vì hương trầm thấm vào trong vách gỗ. Tu cũng vậy, tu là huân sâu bên trong.
Vì tất cả chúng sanh đời mạt, tức là đời của chúng ta đây. Vậy thời của Đức Phật là mạt hay chánh? Hôm qua, tôi ngồi nghiệm kỹ, Đức Phật ra đời nhằm vào kiếp giảm. Kiếp tăng là con người sống tới 10 ngàn tuổi hay 80 ngàn tuổi. Kiếp giảm dần dần xuống, con người còn 100 tuổi gọi là thọ. Phật thị hiện ra cuộc đời này 80 năm, như vậy, thời Đức Phật nằm trong kiếp giảm.
Khi Phật còn tại thế và sau khi Phật nhập Niết-bàn khoảng 500 năm, người tu đa phần vào tu chớ không nghĩ gì hết, đó gọi là giải thoát kiên cố. Các vị thiền sư nói chánh hay mạt là do mình, nếu mình âm thầm chuyên tu đừng nghĩ gì hết thì đây là thời chánh pháp, bởi vì nằm trong giải thoát kiên cố.
Sau khi Đức Phật thành đạo, vua cha Tịnh Phạn Vương mất, Đức Phật trở về thành Ca Tỳ La Vệ. Bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề đến cầu xin Đức Phật cho bà và phái nữ được xuất gia. Bà khẩn cầu đến ba lần, Đức Phật không chấp nhận.
Tôn giả A Nan thưa với Đức Phật nhiều lần:
- Khi Đức Phật sinh ra mới 7 ngày, mẫu thân của Đức Phật được sanh thiên thì bà đứng ra nuôi nấng, bây giờ bà xin xuất gia là phải trả ơn.
Phật nói:
- Ta đã quy y năm giới cho Bà là trả ơn rồi.
Sau đó, Đức Phật rời thành Ca Tỳ La Vệ đi đến vùng Tỳ Xá Ly. Bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề dẫn 500 người nữ đi bộ đến Tỳ Xá Ly cầu xin Phật cho xuất gia.
Tôn giả A Nan trông thấy đoàn người của bà đứng bên ngoài cổng, khoác y vàng lấm lem bụi đất, chân không giày dép, sưng vù rướm máu, năn nỉ xin được xuất gia, Ngài vào thưa hỏi Đức Phật:
- Người nữ nếu xuất gia có chứng A La Hán, A Na Hàm không?
Phật nói:
- Có.
Lúc đó, tôn giả A Nan thưa rằng:
- Bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề với 500 dòng Thích nữ
đang đứng ở ngoài cổng tha thiết cầu xuất gia.
Phật chấp thuận với điều kiện là phải thọ tám giới gọi là Bát Kỉnh Pháp.
Khi bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề chấp nhận thì bản thể Tỳ-kheo thành tựu, tức là giải thoát kiên cố. Thời này, nếu chư Ni thọ giới mà nói “tôi không cần” thì mất đi bản thể Tỳ-kheo. Như vậy, y vào luật của Phật mà giữ, tu tập tức là chánh pháp trường tồn cửu trụ. Còn nếu nói bây giờ bình đẳng nên bỏ, tức là bản thể Tỳ-kheo không thành tựu, gọi là đấu tranh kiên cố.
Trong kinh Trung A Hàm:
Bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề và 500 Tỳ-kheo Ni nỗ lực tu 3 tháng chứng A-la-hán. Bà đến thưa Đức Thế Tôn:
- Chúng con chứng A-la-hán hết rồi thì có nên giữ Tám Điều Kỉnh Pháp Thế Tôn nói hay không? Có nên đảnh lễ một thầy Tỳ-kheo mới thọ giới khi còn là phàm Tăng hay không?
Phật nói:
- Này Ma Ha Ba Xà Ba Đề, nếu Tỳ-kheo ni không ở trong tăng đoàn Thế Tôn, thì vào thời mạt pháp này, Tỳ-kheo đi đến nhà đàn việt, người ta trải thảm mời vào, nhưng mà bây giờ không còn nữa.
Này Ma Ha Ba Xà Ba Đề, nếu Ni đoàn không có trong Tăng đoàn, vào thời mạt này, khi đến nhà đàn việt, người ta rải hoa cúng dường, nhưng bây giờ không còn nữa.
Tôi chứng kiến những vị Ni bài bác Bát Kỉnh Pháp, không chờ đời sau mà đời này đa phần khổ lắm. Những vị nào thọ Tám Kỉnh Pháp đầy đủ thì Ni đoàn đó hưng thịnh, bằng chứng nhất là Sư bà Hải Triều Âm. Khi chúng tôi xuống, Sư bà dẫn Ni chúng lớn ra đảnh lễ. Tôi nói: “Thôi được rồi, chúng con cũng mới tu đây thôi.” Mình cũng khiêm nhường, nhưng mà Sư bà nhất quyết. Đảnh lễ xong rồi thỉnh lên giáo giới mà cung kính lắm. Cho nên, chỗ đó hưng thịnh, người ta tu rất đông, ngày cuối cùng Sư bà ra đi rất an ổn.
Qua phần này, chúng ta thấy rằng khi người Ni thọ nhận tức là thành tựu bản thể Tỳ-kheo. Khi thọ nhận tám điều giới, ngay chỗ đó gọi là định cộng giới. Tâm lặng và thấy rõ như thật, tức là đạo cộng giới thành tựu, thời chánh pháp và giải thoát kiên cố nằm ở đây. Nếu không chấp nhận, đấu tranh thì nằm trong mạt pháp, gọi là đấu tranh kiên cố. Khi tâm chúng ta đấu tranh kiên cố thì tự nhiên xảy ra dịch bệnh, đói khát, nước biển dâng lên… Cái tâm lạ lắm, nó chiêu cảm các pháp, tâm luôn đấu tranh là tự nhiên thành mạt pháp.
Tính từ 500 năm sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn cho đến 1000 năm sau nữa gọi là thiền định kiên cố. Tâm con người an yên, tu tập, trưởng dưỡng là thời tượng pháp. Như vậy, chánh pháp, tượng pháp, hay mạt pháp là ngay nơi tâm chúng sanh chớ không
phải thời cuộc. Nếu tâm cứ đấu tranh thì mạt cùng tận luôn.
Thời này là ngũ trược ác thế. Trược là thứ dơ uế ngay nơi tâm chúng sanh sanh ra.
- Kiếp trược: Ai mà đấu tranh thì bản thân khổ trước, cho nên xảy ra kiếp trược. Thời kiếp trược, tuổi thọ con người giảm cùng cực, dịch bệnh xảy ra, người chết như rơm rạ. Vào thời kiếp giảm, khi thọ mạng của chúng sanh giảm còn 30 tuổi thì xảy ra nạn đói, lúa thóc tự nhiên không còn nữa, đủ thứ nạn xảy ra như nạn châu chấu… Giảm đến 20 tuổi sẽ có bệnh dịch lớn, đến 10 tuổi xảy ra nạn đao binh lớn. 10 tuổi lúc đó giống như bây giờ 100 tuổi.
- Kiến trược: Khi chánh pháp đã diệt, tượng pháp xuất hiện, tà pháp diễn sanh, tà kiến tăng trưởng mạnh khiến cho mọi người không tu con đường thiện pháp nữa.
Bằng chứng nhất là bây giờ đại chúng thấy có những người nói những điều bất thiện, mà người ta thích theo; còn những người nói con đường thiện pháp lại có những người không chịu theo mà còn chống phá nữa. Kiến trược gọi là cái thấy nhơ, thấy nhơ thì tâm con người hay sanh phiền não.
- Phiền não trược: Chúng sanh có nhiều tham ái, bỏn xẻn, keo kiệt, đấu tranh lẫn nhau, ăn chơi vô
độ, thọ nhận các tà pháp làm cho tâm thần não loạn. Bây giờ thấy rất là rõ. Vừa rồi, Thiền viện có lễ cầu siêu cho một vị 28 tuổi mất. Gia đình có đám cưới người anh trai nuôi, xích mích qua lại rồi đấu tranh lẫn nhau, làm cho tâm thần não loạn, đâm chém nhau, không có lòng thương tưởng, không có lòng biết ơn.
- Chúng sanh trược: Chúng sanh có nhiều điều xấu ác, tệ hại như không hiếu kính cha mẹ, tôn trưởng, không biết sợ nghiệp quả báo, không tạo các thiện pháp.
Có ông cư sĩ nói với tôi, thời này A-la-hán ít lắm. Tôi nói, thời này, người ta vào chùa là may lắm rồi. Phật nói: Thời Đức Phật, những vị chứng A-la-hán tương đương với thời này, người ta hiểu pháp Tứ Đế. Thời này mà vào chùa chịu khó ngồi thiền, tụng kinh sám hối, khoan nói chứng gì hết, là bằng gấp trăm ngàn lần thời của Đức Phật. Bởi vì thời này là thời xấu ác mà người ta thức tỉnh vào chùa tu là cả một vấn đề.
- Mạng trược: Xưa con người thọ mạng 80 ngàn tuổi, nghiệp ác ngày càng tăng trưởng còn lại 100 tuổi thì thọ mạng đứt.
Phật khen Bồ-tát Kim Cang Tạng:
Khi ấy Đức Thế Tôn bảo Bồ-tát Kim Cang Tạng rằng: Lành thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Các
ông mới hay vì Bồ-tát và chúng sanh đời sau thưa hỏi Như Lai các phương tiện cứu cánh thậm thâm bí mật như thế.
Chỉ có Phật mới nói được thôi, ngoài ra không ai biết được chỗ này.
Đây là chỗ chỉ dạy tối thượng của chư Bồ-tát, là giáo lý đại thừa liễu nghĩa, hay khiến cho mười phương Bồ-tát tu học.
Pháp tối thượng của Phật là pháp gì? Ông Bàng Long Uẩn có bài kệ:
Đây là trường thi Phật, Mười phương đồng tụ hội, Mỗi mỗi học vô vi,
Tâm không mới được đậu.
Pháp tối thượng của Phật là tâm không. Tâm đừng có dính mắc trần cảnh, đừng sanh tâm dấy niệm, đừng thị phi, phải quấy, đừng hơn thua, ngay trong giờ phút đó an yên tu, không dính mắc thì tức khắc là pháp tối thượng; tâm dính mắc thì không phải là pháp tối thượng. Trường thi Phật ở đây muốn đậu là phải tâm không, tâm có thì rớt, vậy thôi.
Và các chúng sanh đời sau được lòng tin chắc chắn, đoạn dứt các nghi ngờ, nay ông lắng nghe, ta sẽ vì ông nói.
Khi ấy Bồ-tát Kim Cang Tạng hoan hỷ vâng lời
dạy cùng đại chúng lặng lẽ lắng nghe.
Này Thiện nam tử! Tất cả thế giới trước sau sanh diệt, trước sau có không, tụ tán, khởi dừng, niệm niệm tiếp nối, tuần hoàn qua lại, mọi thứ thủ xả, đều là luân hồi. Chưa ra khỏi luân hồi mà muốn biện tánh viên giác thì tánh viên giác đồng với lưu chuyển; nếu khỏi luân hồi thì không có lẽ đó.
Tánh viên giác của Phật sau này có trở lại phiền não hay không? Nói khác hơn là khi thành Phật rồi có trở lại làm chúng sanh hay không? Chúng ta luôn luôn sống trong chỗ: có không, tụ tán, khởi dừng, niệm niệm tiếp nối, tuần hoàn qua lại, mọi thứ thủ xả (lấy bỏ) đều là luân hồi. Chưa ra khỏi niệm mà nghĩ đến cảnh giới viên giác, nghĩ đến cảnh giới Niết-bàn của Phật, thì cảnh giới Niết-bàn, cảnh giới viên giác cũng thành luân hồi.
Ngài Thiền sư Quảng Trí nói:
Lìa sanh diệt mới bàn chỗ sanh diệt, chứng vô sanh mới bàn chỗ vô sanh.
Tức là chúng ta nói trên vọng tưởng điên đảo thì chỗ cảnh giới Phật chứng cũng thành điên đảo, vọng tưởng, trong nhà thiền nói giống như người câm ăn mật. Người câm ăn mật, mình hỏi họ có ngon không, ngọt không họ trả lời không được, chỉ ra hiệu thôi; hoặc là người câm ngủ nằm mộng, hỏi nằm mộng
thấy gì, họ trả lời không được mà chỉ có thầm chứng thôi. Chỗ này cũng như thế.
Khi thọ thân bốn: đại, đất, nước, gió, lửa, tạm gọi là chúng sanh, thì trải qua bốn tướng: sanh, già, bệnh, chết. Chết rồi bắt đầu tiếp tục sanh nữa. Già, bệnh, chết, qua lại tuần hoàn. Nó khởi niệm, tụ tán liên tục không có điểm dừng, không có điểm kết thúc. Trong nhà Phật gọi là vô thỉ vô chung: không có cái bắt đầu mà cũng không có kết thúc, tức là đi mãi trong luân hồi.
Vạn pháp có bốn tướng: sanh, trụ, dị, diệt.
Vạn hữu có bốn tướng: thành, trụ, hoại, không. Thế giới cũng có ba thứ:
- Chúng sanh chánh báo thế
- Chúng sanh y báo thế
- Chư Phật là trí chánh giác thế
Nếu đời trước chánh báo mình tốt thì mình sanh vào một đất nước giống như ở thiên đường. Chẳng hạn như đất nước Thụy Sỹ. Y báo của thế gian là từ con người, từ đất nước. Trong chánh báo, y báo đó có cộng nghiệp và biệt nghiệp. Chẳng hạn như mình cộng nghiệp với đất nước Việt Nam nhưng mình có biệt nghiệp riêng. Khi chánh báo tốt tự nhiên ở chỗ làm cho mình tu được, làm cho tâm không bị xung đột, không bị phiền não, cấu nhiễm, giống như ở quốc độ riêng của mình. Cứ tu tập đi thì chánh báo
và y báo ngay nơi tự thân. Đặt mình xuống là vào chỗ công phu không suy nghĩ gì hết.
Càng tu càng thấy giá trị của đời tu. Chánh báo và y báo có mặt trong giờ phút thực tại khi thiền định. Nếu tu được an yên là biết chánh báo, y báo đủ. Còn phước chưa đủ, chánh báo không đủ thì y báo không có. Cho nên tại sao huynh đệ mình đi dưới gốc cây mát mẻ, còn mình đi không được, thấy khó chịu, bức xúc. Phước chưa đủ, người ta ngồi thiền yên, còn mình ngồi như trên đống lửa; người ta tu học có kết quả, mình thì không.
Đức Phật thị hiện ra trong cuộc đời này gọi là trí chánh giác thế gian. Ngài thấy bằng trí tuệ, bằng như thật tri kiến. Cho nên, tất cả các pháp đối với Ngài là bình đẳng, không cao, không thấp, không lên, không xuống. Ngài đạt đến chỗ thánh đế đệ nhất nghĩa, không qua thế giới tất đàn, không qua đối trị tất đàn, không qua các các vị nhân tất đàn. Như vậy, chánh báo hoặc là y báo là do nơi mỗi người chớ không ở đâu khác hết. Vì thấy được cảnh luân hồi nên các Ngài gia công tu tập, các Ngài không ở trong niệm niệm sanh tử, niệm niệm tụ tán.
Thiền sư Đạo Giai Phù Dung một hôm khai thị:
Trải qua luân hồi sanh tử, các ông đã từng lên trời, đã từng hết phước xuống địa ngục, bị hành hạ vô kể. Trong cõi nhân gian, các ông cũng hiện ra đủ thứ thành phần.
Khi các ông làm vua, khi các ông làm quan, khi các ông làm sĩ thứ, người sang kẻ hèn… Bây giờ, còn đợi chừng nào mà chưa chịu phát chí tu hành?
Chúng ta đã từng lên trời, từng xuống biển làm long vương, rồi làm vua, làm quan… tu một thời gian mình nghiệm ra hết. Các vị chứng A-la-hán nhìn lại thấy đủ thứ thành phần, như bà Khema thấy mình từng là con chuột rúc trong chỗ dơ bẩn, quán chiếu một hồi, bà thấy bà từng làm hoàng hậu… thấy đủ hết.
Chúng ta đã đi qua đủ hết rồi, cảnh giới nào cũng có mặt, các cảnh giới trong lục đạo mình qua hết rồi, chỉ có chưa làm Phật thôi. Tu 30 năm sau mới tin lời của Phật và Bồ-tát, của chư Tổ; mới tu 5 – 10 năm chưa thấy đâu, càng tu càng nghiệm thấy.
Ngày xưa, khi tôi mới qua Canada ở, tôi có làm bài thơ tựa là “Hạt Tuyết”. Mùa đông tuyết rơi đầy, tôi ngồi một mình bên lò sưởi, lúc đó 11 giờ đêm, ngủ không được nên dậy hơ lửa, rồi làm bài thơ gọi là cảm tác:
Bạn biết chăng!
Đã từ lâu ta từng làm lữ khách,
Hay đã từng làm tể tướng quân vương,
Tất cả đều trải qua bao kiếp khốn cùng này. Và giờ đây hãy thức tỉnh đi thôi,
Bước lần về cố quốc,
Kể từ đây thôi vĩnh chào lữ khách, Kiếp độc hành chua xót đắng cay thôi. Kể từ đây dòng đời thôi dừng hẳn,
Và bây giờ hạt tuyết đọng long lanh.
Câu này, chúng ta nghe Ngài nói mới thấm: “Bây giờ các ông còn đợi chừng nào mà chưa chịu phát chí tu hành?”
Cho nên, Thiền sư Huyền Giác nói:
Bậc thượng một quyết là xong hẳn, Kẻ thấp nghe qua mãi lắm ngờ.
Bậc thượng nghe xong là quyết chí tu.
Thiền sư Đại Mai đến gặp Thiền sư Mã Tổ hỏi:
- Thế nào là Phật? Thiền sư nói:
- Tức tâm là Phật.
Ngài lên núi tu 30 năm ngộ đạo.
Còn mình nghe, tức tâm là Phật, nghi “không biết đúng không?” nhiều khi còn phỉ báng.
Cho nên, Ngài Hàn Sơn có bài kệ:
Bậc thượng tâm bén nhạy, Một nghe liền biết diệu.
Bậc thượng nghe, giống như Lục Tổ, nghe một lần là xong; vua Trần Thái Tông đọc tới, đọc lui là xong; Võ
Tắc Thiên nghiệm tới, nghiệm lui bà cũng xong. Ngộ rồi, bà làm bài kệ Khai Kinh. Từ đời Đường đổ dài về sau, các vị cổ đức tìm cách chỉnh sửa bài kệ này nhưng không chỉnh được nên để nguyên hai câu như sau:
Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn, Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp.
Tất cả các tông phái từ Tịnh độ tông, Mật tông, Thiên thai tông, Thiền tông, Luật tông, tông nào mở đầu cũng đều đọc bài Khai Kinh của bà.
Bậc trung tâm thanh tịnh, Nghĩ xét cho quan trọng. Bậc hạ chậm, ngu si, Cứng dày khó xé vỡ,
Đợi đến máu đầy đầu, Mới biết tự trừ diệt.
Bậc hạ đợi đến khi nào bệnh tật, hoặc cha mẹ, hoặc người thân bị tai nạn hay chết, lúc đó mới sợ, mới gắng tu. Đợi đến khi nào máu chảy đầy đầu, rồi bệnh tật đến nơi, rồi bắt đầu mới tu rút, còn bây giờ, bình thường, không chịu tu.
Ngài khai thị tiếp:
Phàm là người xuất gia vì chán trần lao, cầu thoát sanh tử, thôi tâm dứt niệm, cắt cái vin theo (không khởi niệm chạy theo), gặp thanh, gặp sắc như hoa trồng trên đá, thấy lợi thấy danh như bụi rơi trong con mắt. Vì từ vô
thỉ đến giờ những thứ ấy đâu chưa từng trải qua, cần gì phải nhọc nhằn tham luyến.
Ngài nói lợi danh, sắc đẹp, cái gì chúng ta cũng từng qua hết, bây giờ cần gì mà tham luyến nữa.
Hiện nay, chẳng dứt còn đợi chừng nào? Thời nay, dứt sạch lại còn việc gì? Nếu được trong tâm vô sự (không dấy niệm) thì Phật Tổ vẫn là oan gia. Tất cả thế sự tự nhiên lạnh nhạt mới là phù hợp bên này.
Tức là mới phù hợp chỗ tâm viên giác. Bây giờ, Phật dạy:
Chưa ra khỏi luân hồi mà muốn biện tánh viên giác thì tánh viên giác đồng với lưu chuyển, nếu khỏi luân hồi thì không có lẽ đó.
Chúng ta là bậc thấp, cho nên hằng đêm mình phải gắng gổ tụng Bát-nhã để nhớ thân này không thật, do nhiều yếu tố nhân duyên hợp lại. Ban đầu là văn tự Bát-nhã, kế đến quán chiếu. Khi quán chiếu thật sâu, có một lúc nào đó, đủ nhân, đủ duyên, đủ phước lực nhảy vào thật tướng Bát-nhã, đâu đâu cũng là Bát-nhã, nhắm mắt, mở mắt đều là Bát-nhã. Sống bằng tuệ Bát-nhã, lúc này mới biết, cảnh giới tự chứng của chư Phật và chư Tổ. Còn bây giờ, chúng ta biện đến chỗ đó thì nó đồng với lưu chuyển.
Ngài Hám Sơn bình:
Như việc trên chính là vọng kiến, vọng tưởng; niệm niệm chẳng dừng tiếp nối. Từ đây, sanh diệt chẳng ngừng, tuần hoàn qua lại. Các thứ thủ xả như thế đều là vọng kiến luân hồi sanh tử.
Tức là cái thấy vọng, cái thấy chấp thân, chấp tâm, chấp hoàn cảnh, không có thật mà chấp có. Chấp có rồi bao nhiêu cũng dồn sức cho cái thân tâm này hết, hoặc là đấu tranh, hoặc là giành giựt, hoặc là hơn thua cho nên mãi mãi đi trong luân hồi sanh tử.
Nếu lấy cái vọng kiến này biện biệt tánh viên giác, thì tánh viên giác cũng đồng với pháp sanh tử; cho nên, Phật nói tức đồng lưu chuyển. Nếu lấy vọng kiến mà thoát khỏi sanh tử thì không có việc đó.
Ở trên văn tự, chữ nghĩa mà biện đến chỗ tu chứng thì cũng không cứu được mình. Cho nên, điều tối thiết quan trọng nhất là có dụng công, có công phu. Đại chúng ráng cố gắng đừng bỏ giờ ngồi thiền. Khi tu tập đúng như thế, phước đủ rồi, tự nhiên có điều kiện xuất sự, tức khắc mình nhận ra được và sống.
Phật đưa ví dụ:
Ví như con mắt mình chớp thì thấy mặt nước phẳng nó gợn sóng, lại như con mắt nhìn sững thấy vòng lửa xoay tròn, ví như mây bay thấy mặt trăng chạy, ví như thuyền đi mà thấy bờ chạy.
Chẳng hạn, chúng ta đứng giữa hồ nước bình lặng không gợn sóng, nháy con mắt liên tục thì thấy giống như nước gợn sóng; hoặc nhìn sững vào cây nhang, đến khi mắt mỏi thì thấy cây nhang xoay tròn; mặt trăng đứng một chỗ nhưng do mây bay nên thấy mặt trăng chạy; thuyền đi mà thấy như bờ chạy theo.
Mặt nước phẳng, mắt định tĩnh, trăng và bờ dụ cho giác tánh viên giác của mình. Mặt nước gợn sóng, vòng lửa xoay chuyển, mây bay, trăng chạy là dụ cho vọng kiến.
Nếu mặt nước phẳng, tức là tâm định tĩnh, mình không chạy theo vọng tưởng, vọng kiến (cái thấy điên đảo) thì ngay tức khắc đó là giác tánh thanh tịnh.
Này Thiện nam tử! Cái xoay vòng chưa dứt thì vật kia muốn khiến cho nó dừng trụ còn không thể được. Như các vòng xoay tròn chính là: một là sóng nước, hai là lửa xoay, ba là mây bay, bốn là thuyền chạy; vật kia dừng nước mới lặng, mắt định tĩnh thì trăng chẳng bay, thuyền chẳng chạy.
Tức là cái tâm định tĩnh, an yên đừng có duyên theo vật cảnh. Các vật kia chưa dừng, giống như chúng ta chưa dứt vọng tưởng mà đòi chứng nghiệm vào cảnh giới viên giác thì không có. Chưa dứt vọng tưởng mà biện biệt chỗ những tắc công án thì làm sao biết. Tâm chưa khế hợp mà coi những bộ kinh điển Đại thừa thì Phật nói là chạy theo lời, không biết ý Phật nói cái gì.
Trong Kinh Duy Ma Cật, Phật diễn tả cái thất 4 mét vuông của ông Duy Ma Cật chứa bốn ngàn tòa sư tử của Bồ-tát mà không chật cũng không rộng. Ngày xưa, tôi không biết, thấy sao mà lạ kỳ, giống có thần thông. Ở đây cũng vậy, nếu như tâm chưa dứt vọng tưởng mà biện biệt tới cái chỗ tu chứng của Phật hay của các vị thiền sư, Tổ sư, những người đi trước thì biện biệt nó không ra.
Phật dạy tiếp:
Hà huống các ông dùng tâm cấu nhiễm sanh tử luân hồi chưa từng thanh tịnh, mà quan sát tánh viên giác của Phật thì sao khỏi lẩn quẩn. Thế nên, các ông mới sanh ra ba cái điều nghi vấn trên.
Phật quở Bồ-tát Kim Cang Tạng, hay nói khác hơn là Phật quở chúng ta, dùng cái tâm cấu nhiễm, luân hồi, chưa từng thanh tịnh mà quan sát tánh viên giác của Phật thì làm sao tránh khỏi lẩn quẩn, tức là điên đảo.
Cho nên, Ngài Hám Sơn, Ngài bình:
Tức là lấy cái cạn mà dò xét chỗ sâu cùng, đều bị Phật quở trách là cái mê điên đảo.
Sau khi ngộ đạo với Ngài Lâm Tế, Thượng tọa Định đi hành cước. Bữa nọ đi ngang con sông lớn, Ngài gặp hai vị Hòa thượng và một vị đại đức. Vị đại đức chận đường Ngài hỏi:
- Thế nào là tột đáy sông thiền?
Ngài nắm cổ áo ông tăng giở lên định ném xuống sông. Lúc này, hai vị Hòa thượng năn nỉ xin tha cho vị đại đức. Ngài bỏ xuống rồi nói:
- Nếu không có hai vị này can thì ta sẽ cho ông biết thế nào là tột đáy sông thiền.
Như vậy, chỗ tột đáy sông thiền là tự mình chứng nghiệm, muốn biết thì xuống sông tìm. Thế nào là tột đáy sông thiền là tận cùng bờ mé ý thức để mình nhận ra, thì chỉ có mình thôi, chỉ có mình dò mới đến. Còn tâm điên đảo, sanh tử mà nghĩ đến chỗ đó thì nó không đến.
Phật dạy tiếp:
Này Thiện nam tử! Ví như mắt bệnh huyễn, vọng thấy hoa đốm trong hư không. Bệnh mắt huyễn nếu trừ thì không thể nói: Bệnh mắt huyễn đã diệt, khi nào là sanh các thứ bệnh?
Những người bị cận, khi mắt mổ xong rồi họ không cần đeo kính nữa. Hỏi chừng nào đeo kính nữa thì họ cười mình ngớ ngẩn.
Vì cớ sao? Vì bệnh và hoa, hai pháp đó không có đối đãi. Cũng như hoa đốm trong hư không, không thể nói rằng hư không lại sanh ra hoa đốm.
Mắt hết bệnh rồi mà mình nói: Hư không này
chừng nào sanh ra hoa đốm, chừng nào nó sanh? Giống như tâm phiền não cấu nhiễm hết rồi mà hỏi chừng nào có phiền não nữa thì không có.
Vì cớ sao? Vì hư không vốn không có hoa đốm nên chẳng khởi sanh diệt. Sanh tử và Niết-bàn đồng với cái khởi diệt, còn cái diệu giác mầu nhiệm chiếu soi này lìa cả hoa đốm và mắt bệnh.
Này Thiện nam tử! Nên biết hư không chẳng phải tạm có, cũng chẳng phải tạm không, huống chi tánh viên giác Như Lai vốn bình đẳng, tùy thuận như hư không.
Trong tánh viên giác, không có sanh tử, không có Niết-bàn, không có phiền não, không có Bồ-đề, lìa đối đãi, tùy thuận tánh viên giác. Khi bình đẳng tùy thuận rồi thì tâm rỗng rang suốt như hư không. Cho nên, đến chỗ này Hòa thượng Trúc Lâm mới khẳng định: Thấy biết là chơn tâm. Còn bây giờ, mình chưa thấy biết là chơn tâm được, phải trải qua quá trình biết vọng, buông vọng, thấy vọng không thật… Đến năm nhập thất cuối cùng Hòa thượng mới khẳng định ‘thấy biết là chơn tâm’, đồng với chỗ này, lìa đối đãi mới rỗng rang, sáng suốt.
Đức Phật nói huyễn uế là dụ cho vô minh, tức là không sáng. Không sáng nên thấy các pháp không bình đẳng, thấy người này giàu, người kia nghèo, người này thấp, người kia cao, người này thông minh, người kia trí huệ. Cái thấy không bình đẳng bởi do
vô minh lấp bản giác.
Vọng kiến dụ cho hoa đốm trong hư không, cùng sanh tử, thấy có Niết-bàn.
Thấy có vọng, thấy có sanh tử để thoát ra, thấy có Niết-bàn để chứng nhập, đều nằm trên bờ mé của ý thức. Diệt được tám thức1, nhưng chưa nhận được chỗ thức thứ chín. Cho nên, không có diệu dụng để biến ra cảnh tịnh độ cho chúng sanh. Cũng giống như người nghèo làm hoa màu chỉ đủ ăn, còn chư Phật, Bồ-tát làm một đám ruộng trúng mùa, phân phát hết cho chúng sanh mà vẫn còn dư. Nói cho dễ hiểu, giống như nồi cơm Thạch Sanh, cả đất nước ăn vẫn còn. Cái dụng của chư Phật là ở trong cảnh giới này.
Còn các vị hàng Thanh văn, Duyên giác chỉ thọ nhận cho mình thôi, tức là thọ nhận Niết-bàn, mà là Niết-bàn sở chứng chớ chưa phải năng chứng, cho nên gọi là hóa thành chưa phải bảo sở.
Chúng ta phát nguyện đi trên con đường này rồi thì mới có diệu dụng và năng lượng, cộng với năng lực mới giúp đỡ những người khác, nó không nằm trên ngôn ngữ chữ nghĩa. Chuyện này không nói
- Theo Duy thức học: Tám thức gồm: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, Mạt-na thức, A-lại-da thức. Tư tưởng sau này có thêm thức thứ chín gọi là bạch tịnh thức – bản tánh thanh tịnh tuyệt đối.
nhiều, tu rồi biết, lạ lắm, phải có cái dụng chớ tu cả đời không có diệu dụng, tu làm chi.
Hư không dụ cho diệu giác chơn tâm, đây là hiển bày sanh tử Niết-bàn, đều là tướng cuồng lao, điên đảo. Trong tâm diệu giác vốn không có việc này.
Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên ghi:
Ông Bàng cư sĩ hỏi Ngài Mã Tổ:
- Như nước không gân xương hay chở chiếc thuyền muôn hộc, lý này thế nào?
Mã Tổ đáp:
- Trong ấy, không nước cũng không thuyền, nói gì đến gân xương.
Tức là trong tự tánh viên giác, cái gì đẩy cái nghiệp mình đi? Mà khi nhận nó rồi, nó không đẩy mình được nữa. Trong đó, không có thuyền, không có nước thì nói gì đến gân xương, nói gì đến nghiệp lực hay không nghiệp lực.
“Liễu tức nghiệp chướng xưa nay Không, vị liễu ưng tu hoàn túc trái.” Chúng ta chưa liễu thì nghiệp đến mình trả, nghiệp đẩy mình đi, mà ngộ được chỗ đó rồi nghiệp không làm gì mình. Bởi vì trong đó không nước, không thuyền, không sanh tử, không Niết-bàn thì nói gì đến nghiệp lực.
Cho nên Thiền sư Huyền Giác mới khẳng định:
Chứng thật tướng vô nhân pháp, Sát-na diệt khước A-tỳ nghiệp.
Nhược tương vọng ngữ cuống chúng sanh, Tự chiêu bạt thiệt hằng sa kiếp.
Chứng chỗ thật tướng rồi thì không nói chỗ đó nữa, chỗ này không bàn đến nữa.
Một hôm, Lục Tổ khai thị chúng:
- Ta có một vật không đầu, không đuôi, không tên, không chữ, không sau lưng, không trước mặt, mọi người có biết chăng?
Đại chúng im lặng hết. Thần Hội lúc đó còn trẻ tuổi bước ra thưa:
- Đó là cội nguồn của chư Phật, là Phật tánh của Thần Hội.
Tổ bảo:
- Đã nói với ông là không tên, không chữ, ông còn gọi là cội nguồn, là Phật tánh, về sau ông chỉ là hạng tông đồ tri giải.
Tổ quở. Đã nói là không đầu, không đuôi, không gốc, không ngọn mà ông còn nói cội nguồn Phật tánh nữa. Chỗ này là chỗ tròn đồng thái hư, là chỗ Tam Tổ Tăng Xán dạy:
Tròn đồng thái hư, Không thiếu không dư. Bởi do thủ xả,
Nên chẳng được như.
Chúng ta học nhuyễn luôn mà tu chưa tới. Sở dĩ, mình không được ‘như’ là do mình lấy bỏ, lấy chỗ này bỏ chỗ khác; ở trên tướng thanh tịnh mà nhận cuồng mê, cho nên không khế nhập được tánh viên giác; chạy theo vọng tưởng rồi so đo cảnh giới thực chứng của Phật, cho nên bị lỗi chỗ đó.
Phật dạy:
Này Thiện nam tử! Như lọc vàng, vàng không phải do lọc mà có. Khi nó thành vàng rồi thì chẳng trở lại thành khoáng. Trải qua vô lượng kiếp tánh vàng chẳng hoại, không nên nói vốn chẳng thành tựu. Tánh viên giác của Như Lai cũng lại như thế.
Bồ-tát Kim Cang Tạng hỏi Phật, khi Phật tu thành Phật rồi thì chừng nào trở lại thành chúng sanh, tức là có đầy dẫy phiền não như ngày xưa. Phật mới đưa ra ví dụ lọc vàng: Vàng không phải do lọc mà có, vì trong khoáng chất có vàng, nếu khoáng chất không có vàng, lọc cách mấy cũng không thành vàng. Chẳng hạn lấy hòn gạch đập nát xong, lọc cả đời cũng là gạch, bởi vì bản chất nó là gạch. Còn trong khoáng chất có vàng, lọc chậm hay mau, người nào kiên trì lọc ngày, lọc đêm có vàng ra sớm, còn lọc từ từ vàng ra chậm, bởi vì bản chất trong khoáng có vàng.
Cũng vậy, ngay nơi thân năm uẩn, Phật nói chất của mình là Phật. Trong kinh diễn tả, tôn giả A Nan với Đức Phật trải qua vô lượng kiếp đồng phát tâm
một lúc, mà tôn giả A Nan chuyên về học nên chậm hơn Đức Phật, Đức Phật chuyên về tu cho nên nhanh hơn 91 kiếp. Trong kinh Pháp Hoa diễn tả, Bồ-tát Di Lặc cùng với Phật Thích Ca cũng đồng phát tâm một lúc mà Phật thành Phật trước, vì Bồ-tát Di Lặc chuyên đi vào những nhà quyền quý dạo chơi cho nên chưa thành Phật.
Trong đó, chất Phật có sẵn rồi. Tùy theo tốc độ lọc chậm hay mau của mình thôi. Khi lọc thành vàng rồi thì không bao giờ trở lại thành khoáng. Chiếc nhẫn vàng, dầu cho bỏ dưới bùn đất khi moi lên nó vẫn là chiếc nhẫn vàng ròng chớ không thành gạch hay ngói được. Huống chi, tánh viên giác của Như Lai vượt thoát không gian và thời gian.
Phật phá cái nghi thứ nhất
Phật khai thị: Diệu giác chơn tâm thường trụ viên mãn chẳng thuộc về sanh tử và Niết-bàn, để giải nghi ‘Phật còn sanh khởi phiền não?’.
Tánh viên giác tròn đủ, không thuộc về có và không, sanh tử và Niết-bàn, phiền não và Bồ-đề, vượt thoát nhị nguyên, không có khởi niệm là chừng nào thành lại chúng sanh.
Trong Thiền sử Trung Hoa tập 1 ghi:
Một hôm có vị quan đại phu họ Mã đến hỏi Thiền sư Triệu Châu:
- Hòa thượng có tu hành chăng?
Nếu một hôm có người đến hỏi mình có tu hành không, chắc chắn là mình nói có, bởi vì không có thì vào chùa làm gì. Như vậy, tu hành của mình là tụng kinh, sám hối, là ngồi thiền.
Ngài Triệu Châu đáp:
- Lão tăng nếu tu hành là họa lớn.
Tại sao? Tại vì thấy mình tu, nhìn người khác không tu tức là phiền não đến, thấy mình giữ giới mà người không giữ giới, thấy mình ăn chay, mình không hút thuốc mà người kế bên ăn mặn, hút thuốc là mình phiền.
Khi Sơ Tổ Trúc Lâm hỏi Tuệ Trung Thượng sĩ có giữ giới, có nhẫn nhục không, Ngài nói:
Giữ giới tùng nhẫn nhục Thêm tội chẳng thêm phước.
Tại vì mình còn khuyết nhiều quá mình phải giữ, còn nóng giận nên phải giữ.
Nếu muốn không tội phước Chẳng giữ giới nhẫn nhục. Ví như người leo cây
Trong an tự cầu nguy. Như người không leo cây Trăng gió có làm gì?
Chúng ta ở đất bằng đâu sợ bão tố, ở trên ngọn cây nên mới sợ. Ở trong tánh viên giác rồi thì không có nói giữ giới, nhẫn nhục gì nữa. Cho nên, Lục Tổ khẳng định:
Tâm bình không cần trì giới Hạnh trực không cần tu thiền.
Bây giờ, tâm chúng ta chưa bình, cần phải giữ 5 giới, 10 giới, 250 giới để tâm bình. Tâm bình rồi thì giới bỏ.
Khi Tôn Ngộ Không đến đất Phật, Đức Phật thọ ký gọi là Đấu Chiến Thắng Phật, việc đầu tiên của ông là đến gặp Bồ-tát Quán Thế Âm nhờ Ngài gỡ giùm cái vòng trên đầu. Bồ-tát bảo ông rờ coi còn không, Tôn Ngộ Không rờ lên đầu thấy không còn cái vòng nữa. Bồ-tát nói thành Phật rồi đâu cần nữa.
- Tâm bình không cần trì giới. Khi chưa thành Phật cần đến giới, giống như con trâu hoang phải có dây vàm, con trâu ngoan rồi thì bỏ dây vàm luôn. Lúc đó không có thiền, không có gì nữa hết. Ở trên đất Phật rồi thì không cần, nhưng bây giờ chưa, mình phải cần. Cho nên Tôn Ngộ Không rờ lên đầu giựt mình, vòng kim cô mất hồi nào không Khi Phật Thích Ca cho ông biệt hiệu Đấu Chiến Thắng Phật là tự nhiên cái vòng đó mất, không cần giới nữa.
- Hạnh trực không cần tu thiền. Hạnh của chúng ta chưa trực cho nên 3g15 sáng, 7g30 tối phải ngồi thiền để cho hạnh trực. Bây giờ, ngồi đây mình trực chưa, thẳng chưa? Hay là ngồi đây, nghĩ sáng giờ mình tiếp ai, tiếp khách nào, tiếp ở đâu; chưa có trực nên bắt mình phải ngồi thiền cho hạnh thẳng. Tổ dạy trên nền tảng cái quả, gọi là bình đẳng Như Lai tánh, còn mình chưa thì phải tu cái nhân, phải giữ giới cho tâm yên, tâm không loạn, tu thiền để tâm thẳng một đường.
Cho nên khi đến chỗ đó rồi, nói tới việc tu thì đúng là việc họa: Còn thấy mình sửa, tức là có sai mới sửa. Giống như chiếc xe hơi đem ra tiệm sửa, ban đầu ông thợ không thấy hư gì, nhưng coi một hồi, ông thấy hư cái thắng, sửa cái thắng gọi là tiểu tu; coi một hồi thấy hư nhiều tháo ra hết gọi là đại tu. Việc tu của mình nhẹ lắm, đừng thấy lỗi, thấy phải gì nữa thì khỏi cần tu; vì mình thấy nhiều quá nên phải ngồi lại tu.
Ông quan đại phu cũng không chịu thua:
- Hòa thượng đã chẳng tu hành thì dạy người nào tu hành?
- Đại phu! Chính ông mới cần tu.
- Sao bảo con tu?
- Nếu không tu hành thì đâu được đánh đập người. Ở trong địa vị nhân vương, đói thì có cơm, lạnh thì có áo, không biết ngày nào ra khỏi.
Đại phu nghe xong cảm động rơi nước mắt, lễ tạ Sư.
Khi ở trong địa vị nhân vương cần phải tu nhiều. Thí dụ làm cai ngục phải tu gắt, bởi vì nếu không tu sẽ đánh người ta.
Trong nhà thiền nói có 3 bậc tu:
- Tiểu ẩn: là những người ở trong tu viện, bớt nghiệp nhiều cho nên tu ít cũng không sao.
- Trung ẩn: là những người ở giữa chợ, bao nhiêu chuyện thị phi, phải quấy đủ hết, giữa chợ đời mà tu được là trung ẩn.
- Đại ẩn: là mấy ông quan ở trong triều, danh lợi đấu đá, tranh giành đủ kiểu mà tu được, chuyển hóa được đó là sức bật rất lớn. Cho nên, mấy ông quan tu được thì tu rất Người thường giữ giới 100 ngày bằng người có quyền lực giữ giới một ngày. Một ông vua ăn chay một ngày bằng người thường ăn chay một năm, bởi vì ông có đủ điều kiện ăn ngon, đủ sức làm việc ác mà ông tu. Cho nên, ở trong danh lợi mà vượt thoát danh lợi là sức bật lớn, gọi là bậc đại nhân. Còn ở trong nhân vị, là người bình thường thì sức bật không lớn.
Người xưa nói về nhẫn có 3 bậc:
- Bậc hạ: là nhẫn người trên mình. Trong cơ quan, ông giám đốc chửi không dám chửi lại, nên ráng nhẫn.
- Bậc trung: là nhẫn người ngang với mình. Bạn bè chửi mắng, mình bình thản, mình nhẫn là bậc
- Bậc thượng: là nhẫn người dưới mình. Chẳng hạn ông giám đốc bị công nhân chửi mà ông nhịn được, cười nói không sao là bậc thượng.
Bữa nọ, một tập đoàn có mười mấy công ty đến xin nghe pháp. Trong số mười mấy giám đốc nghe pháp, có một cô đứng lên nói: “Bài pháp thầy dạy đúng thiệt, nhưng mà con sân lắm. Nhân viên làm sai con rầy mắng, con đuổi việc. Thầy cho một lời khuyên.” Tôi nói: “Lần sau cô nói nhẹ một chút, phải nói từ 1 – 2 lần đến 10 lần. Tại sao? Bởi vì nếu nó giỏi, khôn thì nó làm giám đốc hoặc chủ tịch tập đoàn hoặc mở công ty riêng rồi. Nó dở, nên mới làm công nhân cho cô. Khi cô có tu, có học, cô phải có một cái nhìn xa. Cho nên, cô phải tu nhiều hơn người công nhân này”.
Mã Tổ, một hôm khai thị chúng:
Thanh văn tai nghe Phật tánh, Bồ-tát mắt thấy Phật tánh. Liễu đạt không hai gọi là bình đẳng tánh. Tánh không có khác, mà dụng thì chẳng đồng. Tại mê là thức, tại ngộ là trí.
Nghe là văn huệ, tư duy là tư huệ, rồi tu nữa. Như vậy, khi nghe Phật tánh là nghe thôi chứ chưa chứng nghiệm vào con đường đó; còn hàng Bồ-tát là
chứng nghiệm: Mắt này không phải mắt thường mà là mắt Bát-nhã, ngay chỗ đó thấy không có hai, thấy mà không thấy gọi là bình đẳng tánh.
Khi mê, làm bằng cái thức, tức là khi chưa chứng nghiệm Phật tánh, chưa sống được thì làm gì cũng bằng thức, cho nên gọi là phước chứ chưa phải công. Khi ngộ, sử dụng bằng trí thì mới gọi là công đức, dụng nó khác nhau.
Thuận lý là ngộ, theo sự là mê. Mê tức là mê cái bản tâm mình, ngộ là ngộ bản tánh mình. Một phen ngộ là hằng ngộ, chẳng trở lại mê. Như đang khi mặt trời mọc, không trở lại tối. Mặt trời trí tuệ xuất hiện, không chung cùng cái tối phiền não. Liễu đạt cảnh giới của tâm liền trừ vọng tưởng.
Khi ngồi thiền mà sống với tâm chân thật của mình thì vọng tưởng đến rồi đi, tự nó sanh tự nó diệt, một thời gian tự nhiên vọng lặng, không còn vọng tưởng đó đây nữa. Cho nên, người tu thiền 3 năm đầu rất là cực, bao nhiêu vọng tưởng phiền não, giống như bị ghẻ nhọt, đụng tới, nó xịt mủ. Khi tu lâu năm, tự nhiên có sức dừng, làm gì cũng nhẹ nhàng, vô vàn công việc đến mà giải quyết từng việc, nhẹ nhàng, không có bồn chồn, từ từ, chậm rãi giải quyết.
Tôi luyện mình trong đạo gần 30 năm, bữa giờ, tôi đi giải hạ, đi giảng dạy, buổi chiều giảng ở Đà Lạt, hai ngày sau có mặt ở Hà Nội, từ Hà Nội bay về Sài
Gòn giảng. Đại chúng thấy tôi làm việc liên tục mà không mệt, bởi vì sức bỏ ra không nhiều; còn làm mà tính toán thì làm chừng một thời gian, chịu không nổi. Cho nên, làm mà không dùng lực, gọi là mượn sức của việc mà đẩy việc.
Tu cũng vậy, bởi vì không có dùng thức. Ở trong tính viên giác, mà tính viên giác rộng như biển, bao la bình đẳng, cho nên, sức không có cạn kiệt.
Vọng tưởng đã trừ tức vô sanh; pháp tánh sẵn có, chẳng có nhờ tu.
Phật phá cái nghi thứ hai
Hư không còn chẳng có theo huyễn hoa khởi diệt, huống là ‘diệu giác minh tâm’.
Mình thấy hư không có hoa đốm do mắt mình bị nhặm, tức là mình bị mê. Mê thì thấy cảnh loạn xạ, thấy ai cũng là người ác, ai cũng xấu dở. Khi tỉnh, mới giựt mình, cái xấu ác, cái dở ngay nơi tâm mình. Tâm mê nên chạy theo cảnh, khi tỉnh không thấy nữa. Giống như mắt hết nhặm, mình hỏi chừng nào hư không sinh ra hoa đốm, chuyện đó không có, huống gì là cái diệu giác minh tâm của Phật.
Đây là chỗ chứng của chư Phật há lại sanh mê, nên Phật dùng ví dụ lọc vàng để đúc kết khai thị về điều này.
Đây là chỗ quan trọng cho người tu, nếu không
có chỗ này, tu ba ngàn kiếp cũng không thành Phật, bởi vì bản chất không phải là Phật. May mắn là chúng ta được học từ giáo lý của Đức Phật, từ con đường chứng nghiệm, không phải tưởng tượng mà bằng trực giác, bằng sự chứng nghiệm.
Khi sao mai mọc, Phật chứng nghiệm được con đường đó, Phật nhìn thử xem chúng sanh có giống mình không, thì thấy mình có cái gì, chúng sanh có cái đó: đều có đức tướng trí huệ Như Lai, có thiền định thâm diệu. Sở dĩ, chúng sanh chìm nổi là do một niệm bất giác vọng động chạy mãi không dừng.
Cho nên, Phật nói:
Nếu liễu tột ví dụ này, thì chúng sanh tuy vốn đã là Phật mà hiện tại kiết sử, vô minh; chẳng ngại trước huân tu, sau mới thành tựu.
Tức là có sẵn, bây giờ huân tu. Đốn ngộ rồi phải tiệm tu tức là phải huân, huân nhiều chừng nào thì cái dụng nhiều chừng đó. Do kiết sử, kiết là trói buộc, sử là sai khiến, sai khiến chúng ta chạy rong trên đường trần. Cho nên, bây giờ phải chịu khó huân tu.
Phật vốn là có sẵn nhưng cần phải siêng tu. Mê lầm nguyên là không mà cần phải đoạn trừ. Nếu biết tánh vàng chẳng hoại, tại sao nghi Phật lại sanh khởi mê lầm.
Ví như mắt bị nhặm, phải tìm cách chữa tận gốc cho hết nhặm, gọi là hết mê, tức là có chỗ dừng để
chứng vào chỗ đó, trong cuộc sống, gọi là xứng tánh tác Phật sự. Bây giờ, chúng ta làm gọi là xứng thức, còn các vị thiền sư gọi là xứng tánh tác Phật sự, là ngay nơi tánh làm các việc Phật sự.
Thiền sư Định Không trước lúc tịch Ngài nói với Ngài Đa Bảo:
Trong cây vốn có lửa, Có lửa lửa lại sanh. Nếu bảo cây không lửa, Cọ xát làm gì sanh.
Trong thân năm uẩn của chúng ta có tánh Phật rồi, nếu không có tánh Phật mài giũa cả đời cũng không thành. Một niệm đốn ngộ là ngay nơi tự thân chứng thành Phật vô thượng Bồ-đề, nhưng phải tiệm tu gạn lọc, cho nên gọi là:
Đốn ngộ tuy đồng Phật, Đa sanh tập khí thâm.
Phong đình ba thượng dũng, Lý hiện niệm du xâm.
Cái lý mình rõ ràng, cái tu cũng rõ ràng rồi nhưng niệm tập khí vẫn còn: có người thì sân, có người tham, có người ái…, đủ hết. Cho nên, mình phải ráng gạn lọc, biết mình còn cái gì xấu dở thì bây giờ gạn. Nhà thiền hay ở chỗ phản quan tự kỷ tức là soi lại chính mình, điều này là hay nhất. Nếu ai cũng
soi lại chính mình thì thiên hạ thái bình. Trên bước đường tu, bây giờ chúng ta còn là chúng sanh, cho nên trong nhà thiền có từ rất hay là trưởng dưỡng thai thánh. Trưởng dưỡng có nghĩa là khi ngộ rồi phải ẩn, hoặc là ở trong đồ chúng miệt mài tu.
Kinh Lăng Nghiêm Phật dạy:
Như nước đục lắng trong, lấy đồ đựng để yên mãi không lay động thì đất cát tự chìm xuống, nước sạch hiện tiền, đó gọi là ban đầu hàng phục khách trần phiền não.
Đất cát lắng xuống rồi nhưng quậy thì nó nổi lên. Nên khi mình được chút ít rồi, ra làm Phật sự mà chưa có cái dụng hiện tiền thì bị khách trần lôi cuốn.
Kế là gạn bỏ đất bùn chỉ thuần nước trong, ấy gọi là dứt hẳn cội gốc vô minh.
Tướng minh tinh thần, tất cả đều biến hiện mà không bị khách trần phiền não, đều khế hợp đức tánh thanh tịnh Niết-bàn.
Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo nói:
Đoạn sạch chánh tánh, chẳng thọ nghiệp nhân.
Thế nào là đoạn sạch chánh tánh? Trong Kinh Lăng Nghiêm nói:
Các ông phải đoạn hẳn: thứ nhất là sát, đạo, dâm, vọng; kế nữa là phải từ bỏ năm thứ cay nồng. Muốn chứng quả vị vô thượng Bồ-đề mà các ông còn dùng 5 thứ cay
nồng, giống như mấy ông nấu cát mà muốn thành cơm.
Ăn nhiều mấy thứ này người mình hôi hám, làm cho không vào thiền định. Đa phần tôi đến các chùa Ni tôi thấy nấu cái này nhiều quá, bây giờ, tôi lớn một chút tôi mới dám nói. Hành, hẹ, tỏi, nén, hương cừ, ở đây, ai cúng tôi đem cho hết. Mình buông xả, bỏ cha được, bỏ mẹ được mà tại sao boa rô, hành tỏi bỏ không được? Nhiều đêm, tôi nằm suy nghĩ, mà nghĩ không ra. Tôi chỉ nói cho đại chúng mình ở đây thôi, cái này nhất quyết là không được dùng, dùng để khử cũng không được. Dùng mấy thứ này thì tu cho vui thôi chớ sức định không có. Không có sức định làm sao được quả vô thượng Bồ-đề. Cho nên, phần này đại chúng lưu ý, không phải dễ đâu. Đa phần, các thiền viện của Hòa thượng Trúc Lâm là dứt khoát không có dùng.
Thiền sư Dũng Tuyền Hân nói:
Ta bốn mươi chín năm tại chỗ này còn có tẩu tác.
Ngài tu 49 năm ngộ rồi. Tẩu là chạy, tác là tạo tác, có nghĩa là thân ngồi đây, tâm chạy rong. Buổi sáng, Ngài ở cái bàn này, qua cái bàn kia, Ngài thấy 49 niệm khởi.
Bọn các ông chớ mở miệng to, kẻ kiến giải thì nhiều còn người hạnh giải thì trong muôn người mới có một. Kiến giải ngôn ngữ cần phải cho nó thấu triệt, nhưng thức
tình nếu chẳng hết thì tôi dám bảo các ông vẫn còn luân hồi. Tại sao? Bởi vì thức lậu chưa có hết. Ông chỉ cần sạch hết thức lậu thì lúc bấy giờ mới tự thành tự lập được.
Một hôm có ông tăng đến hỏi Thiền sư Quy Sơn:
- Người đốn ngộ rồi còn tu nữa không? Tổ bảo:
- Nếu người thật ngộ được bản tánh thì họ tự biết, tu cùng không tu chỉ là lời nói hai đầu. Như nay có người sơ tâm, tuy từ duyên mà được một niệm đốn ngộ chân lý nơi mình, nhưng vẫn còn tập khí nhiều kiếp từ vô thỉ, chưa có thể liền hết. Nên cần phải dạy họ trừ sạch dòng thức tạo nghiệp hiện tại, tức là tu vậy.
Mình tự kiểm lại còn sót cái gì xấu dở, nạo cho sạch, cho hết luôn; nói khác hơn, nạo máu mủ dơ ra hết, tự vết thương nó lành.
Phật dạy tiếp:
Này Thiện nam tử! Tất cả diệu tâm viên giác của Như Lai vốn không có Bồ-đề và Niết-bàn, cũng không có thành Phật và chẳng thành Phật, cũng không có vọng luân hồi và phi luân hồi.
Trong diệu tánh viên giác của Đức Phật, không có Bồ-đề, không có Niết-bàn, không có sanh tử, không có phiền não, không có có không, không có năng sở; trong tánh viên giác vốn không có tướng sanh tử và Niết-bàn.
Khi vua Lương Võ Đế gặp Tổ Đạt Ma, ông hỏi:
- Thế nào là Thánh đế đệ nhất nghĩa?
Thánh đế đệ nhất nghĩa là chỗ cực tắc của giáo môn, là chỗ cùng tắc, vượt thoát thế giới tất đàn, đối trị tất đàn và các các vị nhân tất đàn; vượt thoát từng nghiệp phần của chúng sanh, thẳng đến chỗ thánh đế đệ nhất.
Tổ nói:
- Hoắc nhiên vô thánh.
Tức là chỗ đó rỗng rang không có thánh, không có phàm. Bên giáo môn, Thánh đế đệ nhất nghĩa là chỗ cực tắc; nhưng bên thiền môn, chỗ đó gọi là rỗng rang không có thánh, không có phàm.
Khi Thái tử Chiêu Minh, con vua Lương Võ Đế, bình chỗ này, Ngài Hữu Ước nói:
Chân đế để rõ phi hữu, tục đế để rõ phi vô, chân tục không hai tức là Thánh đế đệ nhất nghĩa, đây là chỗ cực diệu cùng huyền của giáo môn.
Tức là lìa chỗ có không, phải quấy. Lìa chỗ nhị nguyên phân biệt là chỗ Thánh đế đệ nhất nghĩa, là chỗ cực diệu cùng huyền của giáo môn; là chỗ bặt ngôn ngữ, không nghĩ suy. Nhưng đến nhà thiền thì rỗng rang, gọi là tròn đồng thái hư, không thiếu không dư; nói khác hơn là bản lai vô nhất vật; chỗ đó không có phàm thánh, không có gì hết.
Này Thiện nam tử! Các cảnh giới tròn đầy, thân tâm ngữ ngôn thảy đều đoạn diệt của hàng Thanh văn, cũng chẳng đến được chỗ thân chứng cảnh sở hiện của Niết-bàn kia, huống nữa dùng tâm suy nghĩ tạp nhạp mà xét lường được cảnh giới viên giác của Như Lai.
Ở đây Phật nói, cảnh giới của hàng Thanh văn: Đường ngôn ngữ bặt gọi là “tâm hành xứ diệt”. Bên hàng A-la-hán nói: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không trở lại con đường này nữa”, mà họ còn chưa chứng nghiệm vào cảnh giới Niết-bàn kia. Huống nữa là dùng tâm tạp nhạp, vọng tưởng mà biện minh cảnh Phật, thì giống như người lấy lửa đom đóm mà đốt núi Tu di, trọn không thể được.
Người tu đến chỗ đó, người ta mới thông cảm. Khi mình tu đến chỗ đó rồi, người ta nói mình chỉ cười thôi chớ cãi cũng không được. Lục Tổ nói, người mà không đồng kiến, đồng hành thì thôi chắp tay xá rồi lui chớ đừng có tranh cãi, tranh cãi là tổn hại tiền nhân, không được lợi ích gì hết.
Dùng cái tâm luân hồi, sanh kiến giải luân hồi để vào trong biển đại tịch diệt của Như Lai, trọn không thể nào đến. Thế nên ta nói tất cả Bồ-tát và chúng sanh đời sau phải đoạn gốc luân hồi từ vô thỉ rồi mới nói.
Đoạn cái gốc luân hồi là đoạn vọng tưởng điên
đảo. Đoạn tận nó rồi thì nó không nhảy ra cành nhánh nữa. Chưa đoạn được, đừng có biện minh cái cảnh đó.
Phật khai thị:
Viên giác diệu tâm chẳng phải lấy cái tâm suy nghĩ so lường mà đến kịp.
Trong nhà thiền, một là xong, hai là không xong chớ không có đứng mà suy nghĩ. Đến với nhà thiền là đá nháng, lửa xẹt, rút kiếm ra là xong, còn không xong thì thôi về. Đến với các thiền sư, hỏi một đáp một, khỏi hỏi qua hỏi lại.
Một hôm, Thiền sư Triệu Châu hỏi Ngài Nam Tuyền:
- Thế nào là đạo? Nam Tuyền đáp:
- Tâm bình thường là đạo. Ngài hỏi thêm:
- Lại có thể nhằm tiến đến chăng?
- Nghĩ nhằm tiến đến là trái với đạo.
- Khi chẳng nghĩ làm sao biết là đạo?
- Đạo chẳng thuộc biết và chẳng biết.
Biết là vọng giác mà không biết là vô ký. Nếu thật đạt đạo thì chẳng nghi, ví như hư không thênh thang rỗng rang, đâu thể gắng nói phải quấy.
Ngay câu này sư nhận được bản tâm, từ đó hết rong ruổi.
Mình đang quét sân mà mình biết: “Tôi biết tôi đang quét sân” là đầu thêm đầu. Hoặc vừa quét sân vừa “A Di Đà Phật”, tưởng là đúng nhưng mà thêm một lớp nữa, đó là vọng giác. Còn quét mà không biết mình quét là vô ký. Cho nên, chỗ này phải khéo, giống như con ngỗng chúa uống sữa chừa lại nước.
Ngài Huyền Giác nói:
Khéo khéo lúc dụng tâm, Khéo khéo không tâm dụng, Không không khéo khéo dụng,
Thường dụng khéo khéo không.
Đại chúng phải thuộc những câu thiền ngữ để dễ áp dụng tu.
Phật dạy:
Hàng Nhị thừa tâm đã diệt còn chẳng có thể đến cảnh giới tự chứng Niết-bàn, huống nữa chúng sanh đem cái tâm sanh diệt, mà muốn vào tánh diệu giác viên mãn bất sanh diệt, quyết định chẳng có thể được. Cho nên đem ví dụ như lấy lửa đom đóm mà đốt núi Tu di, trọn chẳng có thể được.
Hàng Thanh văn là các Ngài dứt sạch mầm mống sanh tử, tức là hạt giống các Ngài đoạn tận luôn, nhập vào cảnh giới Niết-bàn, vĩnh viễn không độ sanh nữa.
Ở một thiền viện nọ có khoảng 3, 4 cái thất, các vị ở trong thất vĩnh viễn đến ngày nhập Niết-bàn
luôn chớ không dám ra. Cái nhân hiện tại, họ không dám ra làm Phật sự nữa, họ ở yên trong thất đến lúc tịch luôn, quyết định là không ra ở với chúng được. Cái nhân họ đã đoạn tận ban đầu rồi thì cái quả cũng như thế, họ nhập Niết-bàn không xuống cuộc đời này nữa.
Vì sao? Phật dạy:
Vì hàng Thanh văn thấy sanh tử là thật cho nên đoạn nó, và thấy Niết-bàn thật chứng.
Thấy sanh tử là thật, sợ quá nên đoạn.
Thân của họ như tro tàn, đây là đoạn lục thức phân biệt.
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; đoạn, chặt gốc rễ luôn. Ngược lại, hàng Bồ-tát lấy lục thức làm cái dụng, gọi là cái dụng Bát-nhã đi vào cuộc đời này. Giống như bây giờ, mình lên bờ rồi mình không bỏ thuyền, mượn cái thuyền đi vào cuộc đời, tiếp tục gạn lọc, tiếp tục tu để thành quả vô thượng Bồ-đề. Cho nên, trong kinh Duy Ma Cật nói: Hàng Thanh văn chứng lục thông, còn hàng Bồ-tát chỉ chứng ngũ thông. Lậu tận thông không chứng mà để lại rơi rớt những mầm mống sanh tử, mới có cơ hội vào cuộc đời này.
Câu chuyện Bà già đốt am:
Bà già nuôi vị tăng 3 năm trong thất. Thấy ông tu miên mật, bà muốn thử xem vị này tu hành ra sao. Khi
thầy báo ngày mai ra thất, bà dặn đứa cháu gái khi thầy bước ra thì đến ôm hông thầy. Cô cháu gái làm theo lời bà dặn, thầy nói:
Khô mộc ỷ hàn nham, Tam xuân vô noãn khí.
Như cây khô trồng trên đá, ba mùa xuân trôi qua, không có chút hơi ấm.
Về kể bà già nghe, bà nói nuôi ông tăng vô dụng, tu như cây khô gỗ đá, không có sức diệu dụng nào hết thì thôi tu làm gì. Bà đốt am, đuổi ông đi.
Một thời gian sau, ông quay về xin bà tu thêm ba năm. Bà cất am lại cho ông tu. Sau ba năm ông ra thất, đứa cháu gái của bà cũng lại ôm ngay hông ông thì ông nói: “ngay đây tôi biết, cô biết, đừng cho bà già biết”
Tôi biết là căn, cô biết là trần, căn trần giao tiếp với nhau mà đừng cho thức sanh khởi.
Khi nghe như thế, bà già nói, kỳ này ông tu đúng.
Đó là con đường Bồ-tát đi. Do đó Phật bảo:
Hàng Nhị thừa không thể hiểu được cảnh giới viên giác của Phật, huống gì tâm loạn tưởng của phàm phu.
Kinh Duy Ma Cật, phẩm Phật Đạo:
Bồ-tát Duy Ma Cật hỏi Bồ-tát Văn Thù: Những gì là hạt giống Như Lai?
Chắc mình sẽ nói hạt giống Như Lai là thiền định, là giới – định – tuệ hay là văn – tư – tu, Niết-bàn gì đó. Nhưng mà Bồ-tát Văn Thù trả lời:
Có thân là hạt giống Phật, vô minh hữu ái là hạt giống Phật, bốn thứ điên đảo là hạt giống Phật, ngũ cái là hạt giống Phật.
Có thân là hạt giống Phật:
Muốn thành Phật thì phải có thân. Gieo cái thân này mới đủ điều kiện tu lục độ ba-la-mật: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ.
Chẳng hạn như sáng giờ, tôi cùng Phật tử lễ tháp, xong rồi quy y, phát quà từ thiện cho họ, rồi làm lễ phóng sanh cho những con thú bị rớt trong loài phi cầm tẩu thú, nếu không có thân này sao làm được những việc ấy? Thân chư thiên làm không được. Chúng ta mượn cái thân năm uẩn đi vào cuộc đời này để kết tụ thành tựu hạt giống Phật, cho nên không đoạn cái thân. Hàng Thanh văn đoạn dứt cái thân, còn chúng ta mượn cái thân này vào cuộc đời phát nguyện.
Sư bà Diệu Không nói: “Tôi phát nguyện đời đời, kiếp kiếp không bao giờ mặc cái hậu vàng, nhường cái hậu vàng cho những vị tăng. Tôi phát nguyện mặc áo lam cho đến khi nào thành Phật.” Nghĩa là Sư bà phát nguyện thành Ni chúng, cả cuộc đời cống
hiến đến khi thành Phật. Đó là đại Bồ-tát chớ không phải tầm thường. Những vị Bồ-tát phát nguyện lực đi vào cuộc đời như thế.
Vô minh hữu ái là hạt giống Phật:
Thập nhị nhân duyên: vô minh duyên hành, hành duyên thức, danh sắc, lục nhập… Hữu ái tức là có tâm dính mắc, tâm tham, tâm ái; ái rồi thủ, thủ rồi hữu, duyên sanh mới lão tử. Nhưng nếu không có cái này thì vào cuộc đời không được, cho nên mượn cái này để đi vào cuộc đời, mà không dính mắc. Nếu giống như cây gỗ đá thì không khởi lòng thương, mượn cái ái này chuyển thành lòng bi. Nếu không có lòng bi làm sao giúp đỡ được.
Sáng nay, tôi phát 100 phần quà cho người nghèo ở xã. Tôi chỉ có mười mấy triệu, và đi xin gom lại được 60 triệu; nếu mặc kệ họ đói khổ, không khởi lòng thương thì xin không được. Tức là tôi khởi một cái niệm, niệm này không phải niệm ái mà niệm bi, mượn cái ái chuyển thành cái bi, mà trong cái bi phải có tuệ mới làm Phật sự được. Tất cả đại chúng cũng như thế, làm tất cả các việc, mượn việc này để thành việc kia. Trong Thập nhị nhân duyên, nếu đoạn tận hết thì chúng ta không vào cuộc đời này nữa.
Bốn thứ điên đảo là hạt giống Phật:
Thân bất tịnh cho là tịnh, thọ là khổ cho là vui,
tâm vô thường cho là thường, pháp vô ngã cho là ngã; mà chúng ta mượn các thứ đó đi vào cuộc đời này. Khi vào trong bào thai rõ ràng là bất tịnh, ra khỏi bào thai cảm thọ khổ; các hàng Thanh văn sợ, Bồ-tát thì sẵn sàng; cho nên mượn cái này để tu cái kia.
Ngũ cái là hạt giống Phật:
Là tham dục, sân nhuế, trạo hối, thùy miên, si mê. Khi sân, biết dừng tức là hạt giống Phật; thân tâm trạo cử biết dừng; thùy miên là ngủ nghỉ, hồi xưa ở nhà, ngủ nghỉ 7 – 8 tiếng, bây giờ, vào trong đạo, chỉ ngủ 5 tiếng tức là biết dừng, là gieo hạt giống Phật.
Tóm lại, 62 kiến chấp và tất cả phiền não đều là hạt giống Phật. Vì sao? Nếu thấy vô vi mà vào chánh vị thì không thể phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Hàng thanh văn nhận chỗ đó rồi vào chánh vị tức là hàng A-la-hán nhập Niết-bàn.
Thí như ở chỗ gò đất cao, không thể mọc hoa sen, ở chỗ đất thấp, ẩm ướt bùn sình, hoa sen mới sanh.
Bữa tôi ra Sùng Phúc giảng, trời Hà Nội rất nóng, người đến nghe pháp rất đông, vừa lên giảng thì cúp điện. Tôi sách tấn đại chúng: Nếu trời mát là bình thường, mà trời nóng nực, mình nghe pháp là phước tăng lên một bậc; giống như người ta ngồi hai tiếng không đau nhức, mình ngồi một tiếng đau nhức mà
cố gắng không bỏ cuộc. Hoặc như ở cõi trời, làm gì có muỗi mòng, lạnh nóng, đói khát như cõi Ta-bà, nên ở trong cõi ta bà này tu mới thành Phật. Hoa sen trồng trên núi, không thể mọc, mà phải trồng dưới bùn sình; có nghĩa là hòa đồng với chúng tu tập, trưởng dưỡng. Cho nên, ở trong cõi nhân gian tu mới thành Phật được, ngoài ra, không có chỗ nào khác hết.
Như thế, thấy pháp vô vi nhập được chánh vị trọn chẳng lại hay sanh Phật pháp. Ở trong bùn phiền não mới có những chúng sanh khởi tâm cầu Phật pháp. Lại như gieo hạt giống trong hư không trọn không sanh được, nơi đất phân xốp mới có thể nảy mầm tốt tươi.
Hạt giống gieo trong hư không trọn đời không mọc. Muốn hạt giống này mọc phải gieo trong phân xốp. Ở trong đại chúng là phân xốp, lẫn lộn trong đại chúng, mình tìm cách tu, chuyển hóa đó là sức bật lớn, cho nên, không có con đường nào khác. Bây giờ có những người mới xuất gia một, hai năm sợ quá nên nhập thất. Khi ở trong thất mình không biết mình là cái gì, không biết mình còn tham hay không, còn sân hay không, còn này kia hay không. Chỉ có ở trong đại chúng mới biết được.
Như thế, những vị vào vô vi chánh vị không sanh Phật pháp.
Tức là nhập Niết-bàn rồi không có thành Phật được nữa, vì đã đoạn rồi.
Người khởi ngã kiến như núi Tu Di vẫn có thể phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác sanh Phật pháp. Thế nên phải biết, tất cả phiền não là hạt giống Như Lai.
Trong nhà Phật nói, người tướng cướp, hoặc người làm ác đọa địa ngục, sau này, họ có thể tu thành Phật; mà các hàng Thanh văn đoạn tận rồi, ngàn kiếp không thành Phật. Bởi vì nhập Niết-bàn rồi biết bao giờ xuống cuộc đời này tu nữa. Người rớt địa ngục mà khởi tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác thì có thể được.
Thí dụ, không vào biển cả không thể được bảo châu vô giá; như thế, không vào biển lớn phiền não thì không thể nào được ngọc báu nhất thiết chủng trí.
Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phật dạy:
Trong các thứ cúng dường, pháp cúng dường là tối thượng. Thế nào là pháp cúng dường?
- Tu hành đúng theo lời Phật dạy để cúng dường.
Tức là tu theo con đường chánh pháp của Phật để cúng dường. Tu theo lời Phật dạy là phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác.
- Làm lợi ích cho chúng sanh để cúng dường.
- Chịu khổ thế cho chúng sanh để cúng dường.
- Nhiếp thọ chúng sanh để cúng dường.
Họ can cường khó độ mà chúng ta ráng cố gắng độ họ để cúng dường.
- Siêng năm tu tập căn lành để cúng dường.
- Không bỏ hạnh Bồ-tát để cúng dường.
- Chẳng rời tâm Bồ-đề để cúng dường.
Bấy giờ, tôn giả Đại Ca Diếp tán thán: Lành thay! Lành thay! Ngài Văn Thù Sư Lợi khéo nói lời này, thật như lời của Ngài nói.
Tôn giả Đại Ca Diếp, Sơ Tổ thiền tông Ấn Độ, Ngài ca ngợi, tán thán Bồ-tát Văn Thù:
Như người ở trong trần lao là hạt giống của Như Lai, chúng tôi, ngày nay, không thể kham nhận phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác, nhẫn đến những tội trong ngũ vô gián vẫn hay phát ý sanh nơi Phật pháp.
Những người tạo tội ngũ nghịch, giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, làm thân Phật chảy máu, phá hòa hợp tăng, chết là xuống địa ngục vô gián mà có thể sau này thành Phật, còn chúng tôi thì không thành.
Những vị tạo tội ngũ vô gián còn có thể phát tâm vô thượng, mà chúng tôi, ngày nay hằng không thể phát tâm, ví như người các căn bị hư hoại, thì đối với ngũ dục họ không thể được lợi ích. Như thế, hàng Thanh văn kiết sử đã đoạn, thì đối trong Phật pháp không được lợi ích, hằng không có chí nguyện.
Những kiết sử đoạn hết thì không bao giờ khởi tín tâm thành Phật. Trong Kinh Pháp Hoa kể, khi Phật chuẩn bị giảng tri kiến Phật, thọ ký các vị để thành Phật sau này, 500 vị A-la-hán thối tịch, rút ra khỏi hội chúng. Những bậc mà khởi tâm: “Mình sao thành Phật mà Phật thọ ký, không thể nào thành Phật, bao giờ mới thành Phật”, Phật nói ở trong hội chúng giống như hạt lép.
Thế nên Ngài Văn Thù Sư Lợi, phàm phu đối với Phật pháp còn có quay trở lại mà hàng Thanh văn thì không vậy.
Hàng phàm phu thì có thể thành Phật mà chúng tôi thì không.
Vì cớ sao? Phàm phu nghe Phật pháp có thể phát tâm Vô thượng Bồ-đề, không đoạn Tam Bảo. Chính như hàng Thanh văn trọn đời nghe Phật pháp, nào là Thập luật, Tứ Vô sở úy… hằng không phát ý Vô thượng Bồ-đề.
Hàng phàm phu nghe, có lúc phát tâm vô thượng Bồ-đề, phát chánh tâm đi vào trong cuộc đời này để thành tựu Phật quả, còn chúng tôi, ngàn đời không phát. Đoạn hết sáu căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý chặt đứt hết, đoạn dứt rồi không có khởi tín tâm.
Như vậy, qua phần này, Phật dạy, sở dĩ hàng Thanh văn không chứng nghiệm vào được tính viên giác là do không có phát tâm vô thượng. Giống như
người xưa giờ chưa biết Sài Gòn, đi ngang qua Sài Gòn họ cũng không biết; người đã từng biết Sài Gòn, chỉ cần xe đi ngang qua là họ biết. Cũng vậy, tuy là phàm phu mà họ phát khởi tâm Vô thượng Bồ-đề thì họ có thể tiến đến con đường Bồ-đề, có thể tu để thành Phật quả.
Cho nên, điều quan trọng nhất là pháp tu. Pháp tu của chúng ta là đốn kiến vào mảnh đất Phật, vào mảnh đất tánh viên giác. Bây giờ, mình nghe, có tư duy, có chứng nghiệm, có một lúc nào đó thâm nhập, biết đây là chỗ đất Phật, đây là chỗ phát tâm Vô thượng Bồ-đề, thì khi đó mình phát khởi tín tâm là tu để nhận tánh viên giác thành Phật, tức khắc là vượt thoát ba A-tăng kỳ kiếp.
Và có khi chúng ta có mặt trong cuộc đời này, chỉ là phát lại cái tâm độ sanh để thành tựu Phật quả, chớ không có dùng tâm tạp nhạp để mà biện minh cảnh Phật. Lúc này, nóng lạnh tự mình biết, tự mình rõ, con đường mình cứ đi mãi, như sư phụ Thường Chiếu nói: “Tu tới khi nào thành Phật mới xong”. Trong vô lượng kiếp, phải phát khởi tâm Bồ-đề vô thượng, không lui giữa đường, cứ tiến mãi rồi nó cũng đến.
Phật dạy Bồ-tát Kim Cang Tạng cùng các vị Bồ-tát và chúng sanh đời mạt:
Này Thiện nam tử! Cái tư duy có tạo tác từ nơi hữu tâm mà khởi, đều là bóng dáng của sáu trần, vọng tưởng duyên khởi, cũng như không hoa, chẳng phải là tâm thể chân thật. Dùng tâm suy nghĩ này mà biện minh Phật cảnh, chẳng khác nào không hoa lại kết thành không quả, gần thêm vọng tưởng thì không có thể được.
Phật dạy cho Bồ-tát Kim Cang Tạng, cái tư duy, suy nghĩ, tạo tác từ hữu tâm, tức là từ niệm. Niệm khởi đó là bóng dáng của sáu trần, nói khác hơn là những hạt giống, gọi là lạc tạ ảnh tử2.
Học duy thức chúng ta thấy, chẳng hạn như sáng nay, mình đi ra chợ, không chú ý gì, đến chợ chỉ để mua thôi. Nhưng căn mắt của mình nó hơn máy chụp ảnh, chụp dính hết. Bởi vì, mình chưa có kiến tánh, chưa ở tâm Phật, chưa ở trong bản thể diệu lực, mà toàn dùng thức. Khi ra chợ, thấy không có gì nhưng khi về nhà, về thiền viện, về chùa, ngồi yên bỗng nhiên nhớ hồi sáng ra chợ mua cái gì… Nhưng hay ở chỗ là chúng ta có tu, chúng ta ghi nhận mà không ở trên cái niệm tưởng đó tạo tác thêm.
Thiền sư Khuê Phong Tông Mật nói có ba hạng
- Lạc tạ ảnh tử: Cụm từ dùng để chỉ hình ảnh hoặc cái bóng của các sự vật, hiện tượng (trần cảnh) còn rơi rớt lại trong tâm trí sau khi đối tượng đó đã đi qua hoặc không còn tiếp xúc trực tiếp với các giác quan.
người tu đạo:
- Hạng thứ nhất là hạng phàm phu, vọng niệm khởi là lao theo đắm đuối, bị niệm khởi nhận chìm, từ đó luân hồi tiếp nối.
- Hạng thứ hai là niệm chẳng có khởi, đó là những bậc thánh, các Ngài không có tạo tác, không có lưu trú niệm.
- Hạng thứ ba là hạng tu đạo, niệm khởi ghi nhận, buồn biết buồn, vui biết vui, ghi nhận hết mà không thêm nữa.
Thiền sư Nam Tuyền nói với Ngài Triệu Châu: “Đạo không thể nào biết và chẳng biết. Biết tức là vọng giác, không biết tức là vô ký.”
Chẳng hạn như ăn mà không biết ngon, dở là vô ký, giống như gỗ đá. Ngay chỗ cái ngon đó, chồng thêm cái biết nữa, khởi niệm: Hôm qua, ăn dở quá bữa nay ăn ngon, đó gọi là vọng giác. Tà giác là chấp những tư duy, những gì suy nghĩ cho là thật, ở trên đó tạo tác, thuận thì thích, không thuận thì chán ghét hiềm hận. Chỉ có Phật ở chân giác là cái thể Bát-nhã, ở chỗ tâm không, không dính mắc các pháp.
Chúng ta không trụ vào tiếng chim, tiếng gió, tiếng quạt … thì nghe bàng bạc hết, chính đó là diệu lực của Bát-nhã. Còn trụ vào tiếng chim, trụ ở cây quạt thì tâm bị dính mắc chỗ trụ đó, tâm không có bàng bạc, là vọng giác, thêm cái vọng nữa. Ai tu hay tưởng tượng, lấy cái vọng giác, cái điên đảo tưởng đến Phật cảnh.
Cho nên, Thiền sư Huyền Giác nói:
Bất ly đương xứ thường trạm nhiên.
Chẳng lìa chỗ đương xứ, ngay chỗ đó là chỗ tĩnh lặng, sáng suốt.
Mích tức tri quân bất khả kiến. Còn tìm tức biết anh chưa thấy.
Đa phần cái tư duy hay tìm tòi, chẳng hạn như khi qua đời, đất, nước, gió, lửa không còn gì nữa hết làm ta chới với. Phải có cái gì ta mới chịu, chứ nói Niết-bàn trống trơn không có niệm khởi, là nơi an ổn của các bậc thánh là ta không chịu. Vì phương tiện, vì cái dục của chúng sanh, Phật thuyết ra những cảnh giới thù thắng để cho chúng sanh ham thích, đến chỗ đó rồi mới hay ra được.
Khởi tâm động niệm đều là vọng tưởng, chẳng phải là chơn tâm. Đem tâm vọng tưởng này tư duy, biện Phật cảnh thì nó không đến, còn tìm tức là không có đến. Giống như trong kinh Pháp Hoa nói: Đảnh tướng của Đức Phật, 1000 vị tôn giả bậc trí tuệ như Xá Lợi Phất nhìn cũng không được. Tại sao? Vì có cái tư duy tìm kiếm Phật đảnh. Phật đảnh tìm không được, mà bặt niệm thì tức khắc thấy Phật đảnh của Đức Phật.
Bây giờ, chúng ta ngồi thiền, tự nhiên bặt vọng tưởng không còn niệm khởi nữa. Ngay chỗ đó là an
ổn rồi, nhưng mình nói: “Chỗ này không biết phải là Phật cảnh không”, thêm cái vọng tưởng nữa. Phải còn cái gì mình mới chịu, lặng yên là yên ổn rồi mà không chịu. Chúng ta tu đến giai đoạn hai, ba chục năm sau, tự nhiên ngay đó, pháp nó tự vận chuyển, mình không có tạo tác nữa, không có thêm cái gì hết.
Muốn được như thế, phải có thời gian hạn định, chứ tu vài năm chưa thấy gì rồi nhảy qua pháp khác; pháp khác cũng phải từ đầu, tu chút chút không thấy gì lại nhảy qua pháp khác nữa; người xưa nói giống như sáng bên Tần, chiều bên Sở không được gì hết. Ngoài đời, người ta nhất nghệ tinh nhất thân vinh, một nghề mà tinh xảo thì vinh hiển cả đời. Tu cũng như thế! Khi tu tập được, làm các việc Phật sự được, không phải một đời đâu; mà tu không được, chán nản về nhà hoặc tìm cái cốc, thì đời sau, đến giai đoạn này cũng phải đi lại từ đầu. Nếu chúng ta không cố gắng, không vượt lên thì đời sau cũng như thế.
Trong kinh Tương Ưng Bộ:
Một hôm, vua Ba Tư Nặc đến hỏi Tỳ-kheo Ni Khema:
- Sau khi Phật Niết-bàn có còn chăng? Bà Khema đáp:
- Câu này Thế Tôn thường không trả lời.
Nếu nói còn thì chấp vào cái ngã thường hằng.
Vua lại hỏi:
- Như vậy sau khi Phật Niết-bàn không còn chăng? Bà đáp:
- Câu này Thế Tôn thường không trả lời. Nếu nói không thì chấp vào chỗ hư vô. Vua hỏi tiếp:
- Sau khi Phật Niết-bàn, cũng còn, cũng không còn chăng? Chẳng phải còn, chẳng phải không còn chăng?
Bà Khema cũng đáp:
- Câu này Thế Tôn thường không trả lời. Vua lại hỏi:
- Vì sao không trả lời? Bà đáp:
- Ví như trong nước có nhà toán học giỏi, thử bảo, tính xem cát trong sông Hằng là bao nhiêu, tính được không?
Vua đáp:
- Không thể toán được.
Bà Khema là hoàng hậu của vua Tần Bà Sa La. Bà rất đẹp, khi vua Tần Bà Sa La mời bà đến nghe Thế Tôn thuyết pháp, bà nói Thế Tôn hay chê thân năm uẩn này là dơ, là bất tịnh, cấu uế nên bà nhất định không đi. Do vua Tần Bà Sa La tha thiết quá, bà cũng nghe nói Thế Tôn giảng pháp rất hay và có những năng lực siêu phàm, nên một hôm bà đồng ý đến nghe Thế Tôn thuyết pháp.
Khi đến nơi, bà thấy một người con gái rất đẹp đứng quạt hầu Đức Thế Tôn. Người này do năng lực Thế Tôn biến hiện ra và chỉ một mình bà thấy. Bằng năng lực thần thông, Đức Phật làm cho cô gái trở nên già nua, mặt mày nhăn nhúm, cuối cùng ngã xuống chết, mặt mũi tím bầm, máu mủ chảy ra. Bà quay lại quán chiếu, tức khắc chứng A-la-hán, được 6 thần thông và được thắng trí, thấy ‘như thật pháp’.
Bên Tăng có vị trí tuệ đệ nhất là Ngài Xá Lợi Phất, bên Ni đặc biệt cũng có một vị trí tuệ đệ nhất là bà Khema. Bà được năng lực khác hơn các chúng Ni, bà thấy biết hết tất cả, được thắng trí, gọi là thấy ‘như thật pháp’.
Khi bà chứng A-la-hán rồi, Phật hỏi vua Tần Bà Sa La: “Hậu của bệ hạ bây giờ chứng A-la-hán rồi, từ 1 ngày cho đến 7 ngày, hoặc là xuất gia, hoặc là nhập Niết-bàn.” Vua Tần Bà Sa La suy nghĩ: Nếu bà nhập Niết-bàn thì ông vĩnh viễn không thấy. Ông ra điều kiện, nếu bà xuất gia thì ngày nào cũng đi khất thực ngang thành của ông để ông ngắm và cúng dường.
Lại bảo nếu có người rất là giỏi về phép tính, xem nước biển đại dương là bao nhiêu đấu, tính được không?
Vua đáp:
- Không thể được. Bà nói:
- Cũng vậy, Thế Tôn đã dứt sạch sắc, thọ, tưởng, hành, thức; không thấy có ta và của ta; Ngài đã vào chỗ thâm sâu không thể nghĩ lường được, nên Phật không trả lời.
Vua thắc mắc quá cũng đem câu này hỏi Phật, Phật cũng im lặng không trả lời. Trong tinh thần của nhà Phật, giống như chỗ củi hết lửa tắt, càng nói người ta càng chấp, càng dính mắc vào văn tự chữ nghĩa. Cho nên đem tư duy suy nghĩ biện đến cảnh Phật không có được.
Phật dạy tiếp:
Này Thiện nam tử! Tâm nổi trôi hư vọng sanh nhiều kiến chấp xảo ngụy, nên không thể thành tựu được phương tiện viên giác. Phân biệt như thế thì chẳng phải là câu hỏi chân chánh.
Tâm của chúng sanh gọi là tâm xảo ngụy, luồn lách. Chẳng hạn như đang ngồi tu, tự nhiên ở đâu nó nói: “Ông tu ở đây biết bao giờ thành, ông phải đi vào rừng núi.” Vào rừng núi tu, tự nhiên nó nói: “Ông tu trong rừng núi 10 năm được rồi, bây giờ ông xuống thành thị để nhiếp phục, phổ độ chúng sanh.”
Có ông thầy tu ở Thường Chiếu thời gian cũng lâu, ông nói nhà ông có đất cát thôi bây giờ về cất thất tu. Ông về bên núi Bảy Tầng cất thất khang trang tu. Ở trong thất được 3 tháng, một hôm đang ngồi tự nhiên nói: “Ông thọ giới Tỳ-kheo rồi, là Tỳ-kheo giới tướng, mà Tỳ-kheo giới tâm là phải độ chúng sanh.”
Ông mở cửa thất, có cô giáo ở Phan Thiết lên cúng dường, ba tháng sau họ đám cưới.
Cái tâm của chúng ta, nó khủng khiếp lắm! Cho nên Kinh Di Giáo Phật dạy: “Nếu chưa chứng quả A-la-hán thì đừng tin tâm mình.” Sở dĩ mình trầm luân sanh tử, Phật nói cái tâm nó gạt, nó gạt giống như mình đã thành tựu. Chưa chứng quả, chưa đoạn lục thức, tâm này là tâm xảo ngụy, tâm kiến chấp, không phải một đời mà nhiều đời nhiều kiếp nó theo gạt mình. Rồi mình đem cái tâm đó, phân biệt đến chỗ Phật cảnh thì không phải là chân chánh chân thật.
Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên, nói kệ rằng:
Kim Cang Tạng nên biết Tánh tịch diệt Như Lai Chưa từng có trước sau Nếu dùng tâm luân hồi Suy nghĩ càng lẩn quẩn Chỉ đến mé luân hồi Không vào được biển Phật. Ví như lọc quặng vàng Vàng chẳng do lọc được Tuy trước vàng sẵn có
Sau do lọc mới thành Khi đã thành vàng ròng
Chẳng trở lại làm khoáng.
Ở đây, Đức Phật sợ chúng ta chấp vào chỗ chân giác, hay nói khác hơn là chấp vào tâm viên giác của mình, cho nên, Đức Phật nói vàng chẳng do lọc mà được, vàng có sẵn rồi. Ngay thân năm uẩn, Đức Phật xác chứng rằng có tâm Phật, giống như Sơ Tổ Trúc Lâm nói: “Trong nhà có báu thôi tìm kiếm, đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền”. Trong nhà mình có sẵn báu rồi, chỉ cần xoay lại, tu tập gạn lọc. Vàng chẳng do lọc mà được, tuy trước mình có tâm Phật rồi nhưng do lọc mới thành.
Chúng ta phát khởi tín tâm rồi mới đi xuất gia. Phát khởi tín tâm là hạt giống nhiều đời thúc đẩy mình đi vào thiền viện, đi tìm chân lý. Không có khi nào tự nhiên mình vào chùa, kể cả lúc 6 – 7 tuổi. Những vị Hòa thượng kể 6 – 7 tuổi vào chùa tu, gặp hình tượng Phật tự nhiên thích lắm, có một cái gì đó ray rứt, đó là hạt giống thúc đẩy.
Còn lớn tuổi vào chùa là do nuôi cái niệm thiện, lúc nào cũng khởi niệm: “Tôi sắp xếp xong rồi, tôi vào thiền viện”, đúng nhân duyên đẩy vào thiền viện. Vào thiền viện tu thời gian tưởng dễ. Không dễ! Dễ, người ta thành Phật hết rồi. Quyển “Đường Xưa Mây Trắng” của Hòa thượng Làng Hồng là văn tự chữ nghĩa hay thiệt, nhưng khi vào thiền viện rồi thì chuyển lại là Đường Xưa Mây Xám! Tại sao? Vì trong đó đâu có nói thân bệnh, thân tiểu đường. Vào chùa
rồi bệnh ở đâu ra không biết. Rồi khởi niệm: “chắc phải đi chữa bệnh.” Một niệm khởi lên không có mất, cái gì nuôi nó? Nước của ái nuôi nó. Nước của ái là cái kiến chấp, cái xảo ngụy. Ngày nào cũng khởi niệm, rồi đúng duyên lên gặp ông Thầy: “Thưa Thầy, con đi chữa bệnh. Hỏi đi đâu? Con đi ăn Oshawa, ở đây không có!”.
Ngày xưa, tôi vào Thường Chiếu rất thích học, thấy người ta có bằng cấp thích lắm. Ngày nào cũng khởi niệm, một hôm, 7 người sắp xếp, chuẩn bị lên xin, nhưng thật là may, sư phụ Thường Chiếu kêu lên giũa tan tành. Rồi tu một thời gian độ 4 – 5 năm, hồi đó chưa biết Sư Ông Trúc Lâm, nghe Sư Ông giảng kinh Bát-nhã, thấm từng câu từng chữ, bắt đầu nuôi cái niệm phải lên gặp Sư Ông tu mới được, nuôi một thời gian đủ lớn là nó đẩy. May là đưa lên Trúc Lâm, chứ đưa chỗ khác giờ này không biết ra sao.
Ở Trúc Lâm có hai chị em ruột cùng tu, nghe Sư Ông giảng thấy hay quá, nghĩ chắc tu 3 tháng là thành Phật nên bán nhà đi tu. Gặp tôi, tôi nói phải quyết chí lắm mới được. Tu 2 – 3 năm lên gặp Hòa thượng khóc: “Con tưởng dễ mà sao khó quá!”.
Đâu có dễ! Mình lăn lộn trong ba đường sáu nẻo, trầm luân trong biển khổ vô lượng kiếp, tạo không biết bao nhiêu nghiệp thì bây giờ phải lọc. Mình có tu đời trước nên bây giờ mới thành đầu tròn áo
vuông. Mình tu mà không chịu dừng lại. Ương Quật Ma La rượt theo Đức Phật: “Sa môn Cồ Đàm! Ông dừng lại!”. “Ta dừng từ vô lượng kiếp rồi.” Là dừng cái tâm tạo tác.
Cho nên là phải lọc, chứ không phải nói ‘tức tâm tức Phật’ là thành Phật liền. Tuy trước, vàng sẵn có, nhưng mà sau do lọc, vàng mới thành hình được. Đã thành vàng ròng rồi thì không bao giờ trở lại chất khoáng được. Bây giờ, chúng ta có bản đồ trong tay rồi, chỉ có một con đường đi thôi, đến hay không đến là do thời tiết nhân duyên. Thở ra không hít vào là mất, nhớ đời sau tiếp tục; còn người thọ mạng dài, người ta tu, đời sau, ra nhanh hơn một chút vậy thôi.
Do đó, trong Mật Truyền Tham Thiền Yếu Pháp của Thiền sư Thiên Cơ khai thị:
Hạ thủ công phu tu thiền, điều cốt yếu thứ nhất phải lập chí vững chắc, bởi chí là vị nguyên soái của khí lực.
Lực là sức mạnh, khí là hơi. Không đủ khí lực giống như bong bóng bị xì không bay được, muốn cho bong bóng bay phải đủ hơi. Phi thuyền muốn bay ra khỏi trái đất phải có lực đẩy rất mạnh, một chiếc máy bay muốn bay lên hư không phải có đầy đủ nhiên liệu. Chúng ta tu tập cũng như thế, ban đầu khí lực mạnh lắm, tha thiết hăng hái như thành Phật tới nơi. Những vị lên xin xuất gia đa phần tha thiết lắm, giống như: Thầy mà không cho con tu,
con chết liền. Một thời gian: Thầy mà không cho con về, con cũng chết! Bởi vì tâm chúng sanh vô thường, không đứng yên một chỗ, nay thế này mai thế khác, ngồi đây mà suy nghĩ chỗ này chỗ kia nên khí lực không đủ.
Tôi vào nhập thất 10 lần, bệnh tưởng chết mà nhất định không ra, do cái tâm tôi tập trung tu. Về đây làm Phật sự, ngày xưa, ở đây khô cằn, sỏi đá. Nhưng nhờ lập chí: “Hòa thượng giao là phải xong”. Tôi chia sẻ với đại chúng, cái nghiệp mình trốn không có được. Tôi qua Canada, Hòa thượng dạy ráng mua 2 căn nhà để sau này làm thiền viện, trong vòng 3 tháng tôi mua được. Ngày xưa, người ta cúng dường cho Hòa thượng là người ta vay ngân hàng, tôi qua, cày trả nợ. Tôi nói đi tu mà kiểu này làm sao tu, việc thì ‘bao la’ mà nợ thì ‘bao vây’. Đùng một cái Sư Ông kêu về Trúc Lâm, tôi mừng quá tưởng thoát. Nhưng bây giờ ra đây, cũng bị trả nợ đất, trốn có được đâu! Thôi! Bây giờ biết rồi, tôi vui vẻ chấp nhận, mọi cái từ từ qua lần, qua lần.
Người xưa nói, không bao giờ giết cho ông chết, chẳng hạn như ông thiếu nợ 100 ngàn, đòi ông 99 ngàn thôi còn để 1 ngàn ông sống. Hiểu được như thế thì thân mình bệnh tự mình điều phục chữa, đi chỗ khác cũng không có hết bệnh. Ngay chỗ đương xứ, bắt đầu mình tập trung khí lực để chuyển hóa nghiệp tập.
Tôi nói đại chúng, làm gì làm đừng có khởi niệm về nuôi cha mẹ, không thể có. Mình về cha mẹ nuôi mình, chớ mình làm sao nuôi cha mẹ. Mười người xin phép về nuôi cha mẹ, chưa tới 3 tháng hoàn tục hết. Bữa có ông thầy lên nói cha mẹ già quá ông phải về nuôi. Bà già dắt xuống thất tôi khóc quá trời: Con đâu cần ổng nuôi, mà con cần ổng tu. Không hiểu sao cứ khởi niệm nuôi cha mẹ, cho nên khí lực mình không đủ.
Thiền sư Triệu Châu 30 năm kiến tánh ngộ đạo Ngài về thăm nhà, dòng họ hay tin kéo qua, Ngài lẻn cửa sau đi. Ngài nói cái duyên này gặp mãi trầm luân không bao giờ dứt. Người xưa như vậy, còn mình bây giờ hơi chút là khởi niệm.
Đại chúng cứ đi ta-bà thế giới nhưng phải nhớ dừng để tu, chớ đừng khởi niệm về nhà cất cốc, không có thành tựu. Bởi vì đại chúng nhớ một điều, dây leo sống là nhờ nương cây tùng. Mình mới xuất gia đâu có đủ lực, phải nương phước lực của đại chúng. Một người không đủ phước, nhưng ba, bốn chục người nương tựa nhau tu thì họa may thành tựu.
Thời này cực kỳ khó tu, nếu nói tu gieo duyên đời sau thì được, còn nói tu để kiến tánh ngộ đạo rất hiếm có. Ở trong đại chúng, mọi phương tiện có đủ hết, tới giờ là tu tập. Sư Ông nói, mình ở trong chúng mà ngủ còn đỡ. Về nhà ngồi thiền chưa chắc
yên ổn, người này thăm, người kia thăm, nói trên trời dưới biển. Rồi người ta khen thầy tu giỏi quá, thầy nói pháp hay quá; lửa khen kích thích, một thời gian xong luôn.
Cho nên, đừng có khởi niệm về nhà nuôi cha mẹ. Bây giờ, tôi mở cửa phương tiện, đại chúng nói cha mẹ lớn tuổi, cho lên đây ở. Không cần ngồi thiền, muốn tu pháp gì, niệm Phật, trì chú hay đi quét sân cũng được.
Ngài Hoàng Bá đi 40 năm, bà mẹ thương khóc đến mù mắt. Bà mở quán trà, bà nhớ Ngài Hoàng Bá có vết sẹo bên chân trái, cho nên vị tăng nào ghé, bà cũng rửa chân. Ngài biết, chỉ đưa chân phải cho bà rửa nên bà không nhận ra. Khi Ngài đi rồi, có người nói vị tăng đó là con bà. Bà lật đật chạy theo, tới bến đò, bà té xuống sông chết. Tại sao Ngài làm vậy? Bởi vì Ngài biết, kiếp cuối cùng bà phải gặp cái nạn này. Khi hỏa táng, thấy bà bay trên hư không, Ngài làm bài kệ:
Mẹ tôi suốt kiếp mê tự tâm Hôm nay hoa nở Bồ-đề tâm Sau này tam hội nếu gặp lại
Qui mạng Đại Bi Quán Thế Âm.
Ngài làm bài kệ xong, bà được siêu thoát. Giúp cha mẹ là giúp như vậy.
Khí lực ban đầu rất mạnh, tu một thời gian giống như bong bóng xẹp lần, không có kích thích năng lực thêm. Kích thích năng lực là sống ngay chỗ thực tại, chừng nào xong việc rồi muốn đi đâu thì đi. Sao gọi là xong việc? Tôi luyện mình trong giáo pháp 30 năm, nhập thất không biết bao nhiêu lần, bây giờ nhìn lại, vẫn còn thấy phải tiếp tục dọn con đường tu tập. Quyết định 70 tuổi, phải lui hết tất cả để dồn sức công phu cho ngày ra đi, chớ không phải là dễ đâu. Người xưa nói, đêm 30 đến giống như con cua bỏ trong chảo nước sôi, tay chân co quắp, lúc đó một câu Phật cũng không nhớ đừng nói là thiền. Bây giờ, mình còn yếu còn dở, đâu có bằng người xưa nên phải tinh tấn gắng gổ.
Nếu người lập chí vững chắc, như thống lãnh trăm vạn quân, uy thế dậy trời, còn việc gì chẳng thành.
Ngày xưa, chúng tôi tu trên Trúc Lâm hừng hực, công phu mài giũa rất là tha thiết. Sư Ông cho nhập thất rất là mừng, vào thất dọn dẹp, tắm rửa xong là ngồi kiết già bắt đầu tu liền. Khi khí lực mạnh, thống lãnh trăm vạn quân; bởi vì trong thân năm uẩn có quân thiện và quân ác, quân ác hay xúi giục: Thôi đừng có tu tập.
Có chú tiểu ở Phan Thiết tu rồi về. Bữa chú lên đây, tôi hỏi chừng nào đi xuất gia lại, chú nói con ở ngoài đời con làm Tuệ Trung Thượng sĩ, làm Bàng
Long Uẩn. Làm gì có chuyện đó! Vào đây, nương tựa đại chúng giống như bức tường thành, mà niệm xấu còn len lỏi vào. Ở đây, mình yết-ma như một cái khung; nhập thất ở đây cũng nhờ yết-ma Tăng, Tam Bảo gia hộ đủ đầy năng lực. Nhờ vậy, tâm phàm phu, tục tử xuyên vào đây có vòng hào quang của đại chúng che phủ, nên xuyên qua không được. Chớ ở ngoài nó xuyên thủng, ba tháng sau, ra đám cưới luôn. Ở đây, tu có chuyện gì, ra còn thưa hỏi, bởi vì con đường người ta đã đi qua rồi, người ta thấy được. Việc này, đại chúng phải lưu ý.
Người hay sợ khó là tại lập chí không vững.
Trong thanh quy Trúc Lâm, hoàn cảnh bản thân hay ngoại cảnh đưa đến đều phải vượt qua, quyết chí tu cho sáng đạo mới thôi. Ngoại cảnh đưa đến, thí dụ đang ngồi thiền thì cúp điện, bình thản! Hay hoàn cảnh bản thân đưa đến. Chẳng hạn như ở nhà khỏe quá, vác bao gạo 50kg nổi, mà vào chùa, xách xô nước không nổi, do bị bệnh. Rồi xin về nhà chữa, về nhà chữa cũng không hết.
Ngày xưa, tôi ở chỗ này, tôi làm việc quá, bị kiệt sức, bác sĩ nói sức khỏe tôi tốt lắm nhưng bị kiệt sức, chỉ cần truyền một chai nước biển 100 ngàn là phục hồi. Bác sĩ cho tôi 50 ngàn, tôi xin thủ bổn thêm 50 ngàn mà thủ bổn không cho. Hoàn cảnh như thế tôi vượt qua được, còn bây giờ cái gì đại chúng cũng
có sẵn, thuốc men đầy đủ mà tại sao vượt qua không được, tôi nghĩ cũng không ra.
Khi tôi ở Thường Chiếu, làm vào trễ có khi hết cơm, nửa buổi mỗi người được một trái đào lộn hột là mừng chứ không phải như bây giờ. Thời buổi bây giờ, tôi không bàn, nhưng tùy theo hoàn cảnh, mình chấp nhận thì có sức mạnh. Tôi ở trong hoàn cảnh khó khăn mà vươn lên, nhờ như thế, ra đây, gặp hoàn cảnh khó khăn, nhìn lại thấy cũng không khó khăn bằng ngày xưa. Trong nhà thiền có pháp tu ‘chỉ’ và ‘quán’, khi gặp khúc mắc, mình quán lại ngày xưa như thế nào. Ngày xưa, ở Thường Chiếu, 4 giờ chiều học xong là vác xẻng đi làm tiếp tới 8 – 9 giờ đêm, ngày nào cũng vậy. Không có thời gian học nên 1 giờ đêm, sợ phiền đại chúng, tôi lấy cái y che cái mùng lại học. Vậy mà tôi cũng thành tựu.
Bữa khóa tu 3 ngày, có một số gia đình dắt mấy đứa nhỏ lên, nhà giàu có, nghèo có. Đứa nhỏ nhà giàu bị con kiến vàng cắn la khóc, còn đứa nhà nghèo bị con bọ cạp cắn nó tỉnh bơ; hỏi nó nói con bị rít cắn hoài. Ở trong hoàn cảnh sướng quá, bây giờ, gặp chuyện gì cũng không chịu được. Thuận cảnh quá bây giờ gặp hoàn cảnh khó khăn một chút là bỏ đi.
Tôi ngồi nghiệm lại, quán chiếu kỹ tôi thấy các vị Tổ sư đa phần thị hiện trong nhà nghèo. Lục Tổ Huệ Năng 8 tháng giã gạo, tôi sám hối với Ngài, tôi
mới dám nói, nếu Ngài còn 30 mẫu đất, 4 chiếc xe Roll Royce, tiền ngân hàng cả trăm tỷ chắc Ngài giã gạo không nổi. Ngài xin về tu tại gia thì bây giờ đâu có Kinh Pháp Bảo Đàn.
Tôi khuyên những người đi xuất gia, có đất, bán hết đi, không còn con đường lui. Ngày xưa, ở Thường Chiếu có ông nha sĩ vào làm công quả xuất gia, chuẩn bị xuất gia. Tôi hỏi ông còn gì không, ông nói còn mẫu đất, đồ nghề còn đủ. Tôi nói, ông về cho gấp đi. Ông hỏi sao lại cho. Ba tháng sau, phiền não, về nhà, bây giờ có 4 đứa con.
Hán Lưu Bang Cao Tổ hỏi Hàn Tín:
- Khanh làm sao mà thắng bên Hạng Võ 20 ngàn quân trong khi khanh chỉ có 5 ngàn quân?
- Hạ thần có chiến thuật: Đằng sau là con sông, 2 bên là vách núi, trước mặt là quân địch, không tiến là chết.
Khi cho 5 ngàn quân lính qua sông xong là ông chặt cây cầu, không còn đường lui, không tiến là chết.
Cũng vậy, chúng ta đi mà lúc nào cũng để cây cầu lại không dám chặt, phòng hờ không được là về! Bán hết đi là không còn chỗ lui. Có những vọng tưởng lạ lắm, Hòa thượng Tuyên Hóa nói, khi ông phát tâm Bồ-đề là cung ma chấn động, tìm đủ mọi cách không cho mình tu. Bởi vì, ông đi tu thì nước nó vắng một người, chưa kể ông còn rủ rê nữa. Cho nên
ma quân sợ, nó tìm cách phá, khi tâm mình vững thì nó vào không được. Tu mấy năm đầu nó phá nhiều khi muốn điên loạn luôn. Nhưng mình vững cái tâm, bất ly đương xứ thường trạm nhiên, ngay chỗ vọng tưởng điên đảo mà sống, mà quán chiếu ghi nhận để mà trưởng dưỡng thì tức khắc mình thành tựu, kể cả người xuất gia và tại gia.
Chúng ta sợ khó khổ là tại lập chí không vững. Khi làm cư sĩ đã biết: Tất cả mọi người vào trong thiền viện 3 giờ sáng là phải dậy, ngồi thiền từ 3g15 đến 5g15 xả thiền. Như vậy khi mình còn tóc là đã ghi nhận, nếu vào thiền viện tu thì phải như thế, rồi phát khởi tín tâm, phát khởi khí lực vào thiền viện, nhưng tại sao bây giờ sợ khó khổ? Có phải tâm mình lui sụt không?
Người chạy theo cảnh là tại lập chí không vững.
Cho nên trong Luật tạng nói, những vị Tăng trôi nổi không được vào trong hội chúng có lý do. Ngày xưa, tôi qua Canada, thường chủ nhật người ta mới đến một lần, tranh thủ tu rồi về; còn ngày thường những người đến đa phần là thất nghiệp. Có ông này thất nghiệp, ông kể mới có 2 tháng, mà tôi thấy giống như tôi thất nghiệp luôn. Tôi nghĩ chắc phải về Việt Nam, ở gần ông chắc tôi điên. Mình tu còn yếu nên gặp cảnh là sợ liền, tu vững sẽ khác.
Khi tu phải biết chắc chắn sẽ có những cái khó để vượt qua, vì tu là đi ngược dòng đời. Dòng đời ngày
xưa, đi xuôi nó dễ. Buồn mình đi hát karaoke, đi uống cà phê, đi tắm biển, bây giờ không được. Bây giờ, buồn mình phải ghi nhận cái buồn để chuyển hóa cái buồn. Mình bây giờ chấp nhận cái bệnh để chữa chớ không phải trốn cái bệnh, thành ra việc tu là đi ngược dòng đời. Phải đến 30 năm sau, bơi lội trong giáo pháp, có sự tu tập chứng nghiệm mới được thư thả. Ngày xưa, đi tu mình nhớ nhà, tu thời gian lâu mình nhớ chùa, tu thời gian nữa chùa gì cũng không nhớ.
Ví dụ, sáng mai trên đường đi, mình gặp hai cái túi, một túi tâm tĩnh lặng, một túi kim cương. Nếu lượm túi tâm tĩnh lặng về, tâm mình yên khỏi cần ngồi thiền. Mình lấy túi nào? Người xưa nói, mình thiếu cái nào, mình lấy cái đó, bởi vì mình thiếu tĩnh lặng nên lấy túi tĩnh lặng. Vậy là cần phải tu. Phải chi quý vị nói không cần cái nào hết thì cho xuống núi. Kim cương không cần, tâm tĩnh lặng không cần, vậy là có đủ hết rồi. Nhưng mà chưa được, mình cần tâm tĩnh lặng là phải ở tu thôi.
Khi vua Trần Thái Tông lên gặp quốc sư Phù Vân, quốc sư hỏi:
- Bệ hạ bỏ hết tất cả thế sự lên núi tìm cái gì?
- Trẫm cầu làm Phật.
Ngài đủ hết rồi, sơn hào, hải vị cái gì cũng có, không cần gì nữa, chỉ thiếu cái làm Phật, bây giờ Ngài muốn làm Phật.
Quốc sư Phù Vân nói:
- Phật không ở trong núi, Phật ở trong tâm bệ hạ. Tâm lặng mà rõ biết, định tuệ đồng đẳng, đó là tâm Phật của bệ hạ.
Người nghe khen chê bèn dời đổi, giữa đường tự lùi.
Trước siêng, sau lười đều là chí không có vững.
Trong đại chúng, hay ở đâu cũng đều có thị phi, nhưng trong đại chúng nhẹ hơn một chút. Thí dụ như mình hơi nặng cân ra nhiều mồ hôi, nên cầm cái quạt, quạt thấy thoải mái. Tự nhiên hôm nào có người nói: “Ông quạt, tôi thấy giống ông địa quá.” Người ta nói kệ miễn sao mình mát thôi, đằng này, nghe khen chê xong buồn, phiền não.
Có hai cha con có một con lừa, đi qua làng thứ nhất, người ta nói hai cha con ác quá, con lừa nhỏ xíu mà hai cha con ngồi lên. Nghe vậy sợ quá, người con nhường cho cha ngồi. Đi qua làng thứ hai, người ta nói cha ác quá để con đi bộ. Ông cha nghe vậy để con lên ngồi. Qua làng thứ ba, người ta nói thằng con này bất hiếu để cha đi bộ. Người con nhảy xuống đi bộ với cha, người ta nói trên đời chưa thấy ai ngu như vậy, có lừa mà không cỡi! Ngày xưa, tôi về đây, trồng cỏ hay trồng cây bị người ta nói dữ lắm. Trên cuộc đời này, khen chê mà mình chịu không nổi, mình dời đổi là thôi, xong luôn!
Tu như thế nào mà giống như ngày mới xuất gia
là thành đạo không khó. Người xưa nói: Nhất niên Phật tại tiền, nhị niên Phật ra ngoài hiên, tam niên Phật thăng thiên. Các vị Hòa thượng nói, quyển “Quy Sơn Cảnh sách”, các Ngài lúc nào cũng gối đầu nằm. Bữa nào quý vị thử bỏ hết không tu, tôi cho phép không tụng kinh, không ngồi thiền, một tuần lễ chỉ ăn ngủ thôi là giống như phàm phu. Lúc đó, quý vị sẽ xin tôi cho con tu lại, không tu chắc con chết. Cho tu lại một thời gian: Thầy bắt con tu nữa chắc con chết! Tâm mà! Tâm dời đổi, trước thì siêng sau thì lười, đều là chí không vững.
Tôi thường tuyển đọc sách tâm pháp, mở đầu sách đã thấy nói: lập chí nếu vững, đổi khó thành dễ.
Ngày xưa, đến đây không có một đồng tiền trong túi, ở đây tôi làm toàn là chắt góp chớ không có công ty nào bỏ vào. Tôi xin sám hối, những người quỳ lạy dưới Sư Ông, Sư phụ Thường Chiếu hứa cúng, không biết cái duyên sao mà chạy hết. Có một ông ở Hà Nội quỳ lạy trước Sư phụ hứa cúng 50 tấn sắt mà giờ này một cây sắt cũng không thấy. Rồi tôi cũng làm xong. Cho nên chí phải vững mới được.
Có câu chuyện người ăn xin, mùa đông vẫn ngồi giữa tuyết xin người qua đường để sống. Một hôm, ông đang ngồi xin ăn, có người nhà giàu đi qua hỏi:
- Ông có lạnh không?
- Lạnh chớ, mùa đông mà.
- Ông ngồi đây, mười phút sau tôi sẽ quay lại cho ông một cái áo lông cừu ông mặc cho đỡ lạnh.
Ông nhà giàu về nhà lo công việc rồi quên luôn, sáng hôm sau sực nhớ đem áo lông cừu qua thì ông ăn xin đã chết, có để lại dòng chữ: “Tôi sống như thế này 5 tháng không sao hết. Hôm nay, tôi chịu đựng không nổi vì chờ lời hẹn của ông.”
Người hứa, làm mình chờ đợi muốn tắt thở nhưng nhờ có tu. Những vị hứa phát nguyện trước Tam Bảo thường lặn mất, còn những người không hứa hẹn gì lại phát tâm, đó là nhân duyên. Ý tôi muốn nói, mình chờ lời hứa hẹn là không có. Lập chí vững thì ngay chỗ khó đó ráng củng cố là được. Trong ba mươi sáu kế của Tôn Tử, kế thứ ba mươi sáu là “tẩu đào vi thượng”. Chạy của binh pháp Tôn Tử là chạy phòng thủ chớ không phải chạy bỏ luôn, ngay chỗ cái khó mình buông, nhưng lập chí để vươn lên.
Nay đối với tu thiền, công phu cũng lại như thế, chí vững thì sự ắt thành. Tôi mượn việc đời để bàn điều này, ví như vua Việt phục thù vua Ngô.
Hai vợ chồng Việt Vương Câu Tiễn bị vua Ngô Phù Sai bắt làm con tin, hai người lót gai nhọn nằm ngủ gọi là nằm gai. Buổi sáng trước khi đến vua Ngô Phù Sai, ông liếm túi mật. “Nằm gai nếm mật” từ cái tích này.
Muốn phục thù vua Ngô, ông phải nằm gai nếm
mật. Cũng vậy, muốn hàng phục khách trần phiền não, mình tu cũng phải như thế, người đời mà còn làm được.
Khi vua Ngô Phù Sai bệnh, thầy thuốc nói muốn biết bệnh nặng hay nhẹ phải liếm phân, không ai dám mà Việt Vương liếm, xong báo với thầy thuốc là phân này đắng, thầy thuốc cho thuốc Ngô Phù Sai uống mới hết bệnh.
Trong hàng tướng lãnh của Ngô Phù Sai có Ngũ Tử Tư, ông nói:
- Con mắt Việt Câu Tiễn là mắt ó, đầu chuột, mình gấu, người này liếm phân bệ hạ thì chắc chắn sẽ ăn lòng của bệ hạ luôn nên phải trừ khử.
Ngô Phù Sai không tin. Sau này, Việt Vương được về nước, ông cùng Phạm Lãi phục thù vua Ngô.
Nếu không có tâm như thế thì đâu có được. Tu thiền cũng giống vậy, muốn hàng phục pháp trần cũng phải vượt qua khó khổ như thế.
Trương Lương trả hận nước Hàn.
Trương Lương là người nước Hàn, một trong sáu nước bị Tần Thủy Hoàng thôn tính. Cha ông 5 đời làm tể tướng. Khi Tần Thủy Hoàng gồm thâu lục quốc rồi thì ông đi lang thang tìm thích khách.
Một hôm, ông gặp vị thích khách rất giỏi, sức mạnh nâng được một cái chùy rất nặng, có thể đập vỡ tan một chiếc xe ngựa. Ông cùng thích khách đến núi Bát Lãng Xa phục
kích vua Tần. Vua Tần một lần đi là 6 chiếc xe ngựa, không biết vua ngồi xe nào. Ông thích khách đập chiếc xe ngựa đi giữa nhưng không có Tần Thủy Hoàng trong đó, ông dũng sĩ thích khách bị giết còn Trương Lương bị truy nã.
Một hôm, Trương Lương đến vùng Hạ Bì thì gặp Hoàng Thạch Công ở trên cầu. Hoàng Thạch Công giả đò làm rớt chiếc dép xuống dưới cầu nhờ Trương Lương xuống lượm. Lượm xong, ông bắt xỏ dép vô cho ông, Trương Lương vẫn vui vẻ xỏ dép, ông thấy người này học được, ông hẹn 3 giờ sáng đến đây ông sẽ trao binh pháp Tôn Tử.
Ba giờ sáng, Trương Lương đến thì Hoàng Thạch Công đã ở đó. Lần sau Trương Lương 1 giờ sáng đến cũng gặp Hoàng Thạch Công ở đó rồi. Hôm sau, mười giờ tối Trương Lương đã có mặt, Hoàng Thạch Công trao quyển sách. Trương Lương sau này là một bậc trong tam kiệt của Hán Cao Tổ Lưu Bang.
Địch Nhân Kiệt tái hưng nhà Đường.
Địch Nhân Kiệt làm tới chức tể tướng đời vua Võ Tắc Thiên. Sau ông đưa Lý Hiển tức vua Đường Trung Tông lên ngôi. Nhờ vị này mà ông kham nhẫn đúng 20 năm gần gũi Võ Hậu.
Thảy đều do chí quyết định mà việc thành công đúng sở nguyện. Pháp Phật cũng như thế. Ngạn ngữ nói: Người nam không có chí như sắt lụt không có cứng, Người nữ không có chí như cỏ thúi không có tươi. Công phu tu thiền, chí này rất là tối yếu.
Thiền sư Trung Phong ca rằng:
Cũng không khó cũng không dễ, Chỉ quý nam nhi có thật chí.
Thật chí xuất đạo mới vững mạnh, Sức mạnh tiến đạo như trò chơi.
Chí vững, thấy việc tu nhẹ nhàng, cho nên, có những lúc, mình phải quán: Quán nỗi khổ của chúng sanh, quán nỗi khổ của mình trầm luân trong nhiều đời, quán nỗi khổ của cha mẹ. Phải quán, mình mới tu. Đời này làm Phật sự không được cứ tu đi. Đời sau lên làm Phật sự; giờ đừng có nghĩ là phải làm cái này, làm cái kia, cứ một bề tu đi. Người xưa nói: Cái đức đủ thì thiên long đưa ông lên.
Cách đây khoảng 2 năm, tôi về Thường Chiếu, sư phụ nói: “Tôi thấy chú xây dựng cũng được, bây giờ Cam Ranh cúng 20 mẫu trên núi nhìn xuống biển đẹp lắm, chú về nhận đi.” Tôi về bàn với Thầy Bảo Tú nhưng Thầy không nhận. Thầy Bảo Tú dư sức làm mà tại sao không làm? Đời này, Thầy ở với Tăng Ni, phụ giúp Tăng Ni, đời sau người ta phụ giúp lại. Còn đời này, nửa đường mình buông thì đời sau mình gặp y như vậy.
Tôi nói với thầy Bảo Tú, ‘chúng’ ở đây nếu họ không tu họ ra đi, tôi cũng bình thường lắm. Bởi vì ngày xưa ở trên Trúc Lâm, tôi làm Quản chúng, Thầy Bảo Tú làm Tri sự, Thầy Thông Phương đang nhờ 2
người chúng tôi. Đùng một cái, miếng đất này người ta cúng Sư Ông, Sư Ông nói không có người, đưa sư phụ Thường Chiếu. Sư phụ Thường Chiếu nói ngày xưa con gởi 2 đệ tử lên, bây giờ con muốn đưa về lại Thường Chiếu, chớ bây giờ không còn người, nên Sư Ông quyết định cắt chúng tôi về ngoài này.
Chúng tôi đi là danh chánh, ngôn thuận, được Hòa thượng trao thiền bản, rồi Hòa thượng dạy xây dựng như thế nào, cái gì Hòa thượng dạy tôi đều thực hiện. Nhưng mà nhân quả, có những người mình đang nhờ đột ngột ra đi, bình thường! Huống chi mình đang tu an ổn mà rời đi là đời sau mình đến nửa đường mình cũng rời, nói thẳng là chí mình không có vững. Còn nếu mình có sức mạnh rồi thì tiến đạo giống như bỏ trong lòng bàn tay.
Gần đây có một số tà sư dạy người không do cố gắng dụng công, lại nói cổ nhân chưa từng dụng công. Lời này nói rất là độc, làm mê lầm kẻ hậu học, sẽ vào địa ngục như tên bắn.
Có một số người nói: Pháp này đâu cần dụng công, ngay lời nói là ‘đương xứ thường trạm nhiên’, ngay đó ông nhận rồi, cần dụng công chi nữa, nghe vậy mình không tu. Mình nói cái đó là tự hại mình, và những người theo mình bị hại luôn.
Thiền sư Đại Nghĩa làm bài Minh Tọa Thiền:
Cần thiết chớ tin nói chẳng tham, Thánh xưa rành rẽ làm chỉ nam, Dầu đã an nhàn nơi gác cũ,
Một lúc lơ là thật gian nan.
Thiền sư Nham Đầu, Thiền sư Tuyết Phong, hai huynh đệ đi hành cước, đến khu đó trời đổ tuyết rất lạnh, Thiền sư Tuyết Phong ngồi thiền suốt. Thiền sư Nham Đầu nói:
- Ông ngồi giống như thổ địa, sao ngày nào cũng ngồi hết vậy?
- Tôi thấy chưa có kham, trong tâm còn bất ổn nhiều lắm. Thiền sư Nham Đầu nói:
- Trong tâm sư đệ có gì bất ổn nói ra hết đi, tôi vì ông mà phá.
Sau khi nghe Thiền sư Tuyết Phong nói, Thiền sư Nham Đầu khai thị:
- Nếu sau này muốn làm việc lớn, phải từ hông ngực mà lưu xuất.
Lúc này, Tuyết Phong ngửa mặt lên nói:
- Không ngờ đến núi Nga Sơn ngộ đạo.
Thiền sư Tuyết Phong biết mình chưa xong thì ngày đêm phải ngồi thiền, còn Thiền sư Nham Đầu biết mình xong rồi, khỏi ngồi thiền cũng được.
Người xưa nói, khi Đơn Hà thiêu tượng Phật làm ông viện chủ giống như trúng độc. Bên Tây Tạng có
một xứ gọi là cổ trùng, khi bị cổ trùng thì phải uống thuốc độc cổ trùng nó mới ra. Có nghĩa là khi ông viện chủ trách, Ngài Đơn Hà phải dùng phương tiện, giống như người trúng độc phải dùng độc mà trị, chớ mình uống không được.
Quốc sư Huệ Trung là gương sáng cho chúng ta, 42 năm núi Bạch Nhai; Thiền sư Triệu Châu 30 năm ở trong chúng; Thiền sư Nam Tuyền 25 năm ở trong chúng; Thiền sư Đại Mai 30 năm ở núi; Thiền sư Trường Khánh Huệ Lăng 20 năm ở chỗ Ngài Tuyết Phong, ngồi rách 7 cái bồ đoàn. Thôi! Bây giờ mình có duyên ở chỗ nào cũng được, đến chỗ nào hợp duyên mình phát nguyện: Nếu tôi tu mà không rách 7 cái bồ đoàn là không rời đi. Cái bồ đoàn tôi ngồi 20 năm rồi mà chưa đứt cọng chỉ! Chắc tôi chết đi cũng chưa mòn chớ đừng nói rách!
Ngài nói tiếp:
Nếu chẳng cần tham cứu mà bảo được lý, đây là Di Lặc trời sanh, Thích Ca tự nhiên. Bọn này thật đáng thương xót, bởi vì tự họ chẳng hiểu tham cứu là gì. Hoặc thấy người xưa, một hỏi, một đáp liền lãnh ngộ, bèn đem cái hiểu biết của tình thức để giải thích là dối gạt người. Nếu cơn bệnh ngặt nghèo liền kêu la om sòm, những cái hiểu biết lúc đương thời đem dùng không được. Hoặc đến lúc sắp chết, như con cua bỏ vào chảo nước sôi, tay chân co quắp, bấy
giờ hối hận chẳng kịp.
Thiền sư Hoàng Bá nói:
Vượt khỏi trần lao việc chẳng thường, Đầu dây nắm chặt giữ lập trường, Chẳng phải một phen xương lạnh buốt, Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương.
Đại chúng thấy có khi nào một người từ trên trời rớt xuống thành Phật Di Lặc không? Ngài tu ba A-tăng kỳ kiếp. Rồi Đức Phật Thích Ca sanh ra tự nhiên thành Phật có không? Tu cỡ Ngài mà phải 5 năm tìm đạo, 6 năm khổ hạnh rồi 49 ngày đêm ngồi dưới cội Bồ-đề chớ đâu phải tự nhiên. Đại chúng ngồi thiền thấy xương mình lạnh không? Ngày xưa, tôi có đưa vị thầy lên Trúc Lâm, ông là võ sư rất khỏe, một ngày gánh 30 đôi nước không biết mệt. Ông ngồi một tháng, khi qua bên núi đốn củi, ông nói: Ước gì té gãy chân để được nghỉ ngồi thiền, nhức xương quá ông chịu không nổi. Dụng công tối mặt, tối mũi mà còn chẳng ra gì huống chi ngồi hát ca huýt sáo.
Tóm kết chương này:
Vàng có sẵn nhưng cần phải lọc. Tập khí kết tụ nhiều đời rồi, bây giờ muốn cho Phật tánh viên giác hiển lộ thì phải lọc, phải có một phen chuyển hóa lớn. Người xưa nói, phải một phen chuyển cốt, đổi xương, rắn thành rồng không đổi vảy, vẫn như xưa
nhưng mà có cái nhìn khác hơn xưa. Muốn được như thế, phải dụng công, phải lọc, phải đào thải, phải chuyển hóa.
Cho nên mới có những quy chế, nội quy, những thiền đường của Mã Tổ ra đời. Ngài lập tùng lâm, lập thiền đường, lập chánh điện, mượn phương tiện. Cái giảng đường bây giờ là cái đãy lọc, 6g15 lên tụng kinh là cái đãy lọc ở chánh điện, 7g30 lên thiền đường là cái đãy lọc thiền đường. Chúng ta phải lọc, phải tu thôi, không có con đường nào khác.