Chương 7: Bồ Tát Oai Đức Tự Tại Thưa Hỏi

CHƯƠNG 7: BỒ TÁT OAI ĐỨC TỰ TẠI THƯA HỎI

Khi ấy, Bồ-tát Oai Đức Tự Tại ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu bên phải ba vòng, quỳ gối chắp tay bạch Phật rằng:

Đức Thế Tôn đại bi đã vì chúng con phân biệt rộng tùy thuận tánh giác như thế, khiến cho các Bồ-tát nương nơi viên âm của Phật mà tâm được sáng suốt, chẳng nhờ tu tập mà được lợi ích lớn.

Oai Đức Tự Tại là Bồ-tát có đức lớn, tự tại trong cõi Ta-bà. Ngài đứng lên thưa: Ngài chỉ nương nơi viên âm của Phật, tức là chỉ nương nơi lời dạy của Phật, tâm được mở ra nhưng mà không nhờ tu tập. Tức là nghe, nhận lãnh lời Phật dạy, bặt tâm vọng tưởng, đốn chứng vào mảnh đất thật.

Ở đây ý nói là chỉ nghe Kinh Viên Giác, nghe mà chưa tu tập cũng được lợi ích lớn. Chúng tôi nhấn mạnh lại lần nữa, Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ từng nói: “Nghe mà không hiểu, hơn cái phước trời người. Hiểu mà không hành thì gieo hạt giống Phật.”

Bạch Thế Tôn! Ví như thành lớn ngoài có bốn cửa, người tùy theo mỗi phương mà vào, chẳng phải chỉ một đường. Như người đến từ phía Đông thì không thể vào cửa Tây, tất cả Bồ-tát trang nghiêm cõi Phật và thành tựu Bồ-đề cũng không phải chỉ thực hành theo một phương tiện duy nhất.

Cúi xin Đức Thế Tôn rộng chúng con tuyên nói tất cả phương tiện thứ lớp, và người tu hành có bao nhiêu hạng, để cho Bồ-tát trong hội này, và chúng sanh đời sau người cầu Đại thừa mau được khai ngộ, dạo chơi trong biển đại tịch diệt của Như Lai.

Ở đây nói, ví như có 4 cái cửa, nghiệp lực của chúng sanh có những sai biệt nghiệp khác nhau, cứu cánh thể nhập Viên giác chỉ có một, nhưng phương tiện thì rất nhiều cửa, nên cúi xin Thế Tôn dạy để chứng ngộ vào biển đại tịch diệt.

Bồ-tát Oai Đức Tự Tại nói xong, năm vóc gieo xuống đất, thưa hỏi như vậy lặp lại 3 lần.

Bấy giờ, Phật bảo Bồ-tát Oai Đức Tự Tại rằng: Lành thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Các ông hay vì các Bồ-tát và những chúng sanh đời sau thưa hỏi Như Lai về những phương tiện như thế. Ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì các ông nói.

Phật vui và tán thán có những vị Bồ-tát nói những điều này.

Khi ấy, Bồ-tát Oai Đức Tự Tại vâng lời dạy, vui vẻ cùng đại chúng im lặng lắng nghe.

Phật dạy cảnh viên giác không có hai, nhưng phương tiện vào có nhiều đường.

Này Thiện nam tử! Tánh viên giác vô thượng nhiệm mầu trùm khắp mười phương, sanh ra Như Lai và tất cả pháp đồng thể bình đẳng. Đối với sự tu hành thật không có hai, song phương tiện tùy thuận thì vô lượng, gom hết trở về tánh sai biệt thì chỉ có ba thứ.

Khi thể nhập viên giác rồi, do sức định tĩnh của Phật đã huân tu trong vô lượng kiếp, ngài huân tập tất cả các pháp rồi tu tập. Khi thành Phật, có diệu lực. Diệu lực sanh ra: Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng pháp, Tứ vô ngại biện tài…, tức là pháp thì bình đẳng, nhưng do sự huân tu nên có diệu lực. Trên bước đường công phu, chúng sanh có những sai biệt nghiệp. Bây giờ, xin Thế Tôn chỉ dạy phương tiện.

Một hôm, Thiền sư Sư Bị vẽ một vòng tròn trên đất, Ngài hỏi vị thị giả:

  • Ông thấy không?

Thị giả nói: Thấy! Thiền Bị nói:

  • Tại sao người thấy thì ngộ, người thấy không ngộ?

Có người nhập thất, dụng công có kết quả. Ngược lại cũng có người, do nghiệp lực, vào thất không khéo tu nên phiền não, làm cho tâm ô nhiễm không tu tập được. Như vậy, trước khi vào thất, ở ngoài đại chúng phải gạn lọc tâm trước, chứ không phải cứ vào thất là có kết quả.

Xuất gia xong, đâu phải một sớm, một chiều vào thất liền, phải từ một cho đến hai năm. Thứ nhất là để gạn lọc cái tâm, thứ hai là thuận pháp tu. Trong này có 3 pháp chính là chỉ, quán, thiền na. Trong 3 pháp, người thuận pháp nào, nắm pháp đó tu tập, thì khi vào thất mới có kết quả. Như vậy, tuy nói là không có hai nhưng sai biệt nghiệp của chúng sanh cho kết quả khác. Cho nên, cái thấy chỉ là một thôi, nhưng có người ngộ, người không ngộ.

Dẫn chứng câu chuyện thứ hai:

Thiền sư Hưu Phục đến pháp hội của Thiền sư Quế Sâm tu rất nhiều năm nhưng không khế ngộ. Một hôm, mắc bệnh rất nặng, Ngài buồn lắm. Đại chúng đến thăm, Ngài tâm sự: Tu nhiều năm tháng, đạo thì chưa tỏ ngộ mà cái bệnh đến, không biết nhân duyên gì lạ quá. Thiền sư Quế Sâm nghe tin bèn chống gậy đến nhà Niết-bàn thăm hỏi.

Vào thời nhà Đường, có những thiền viện rất lớn, trong thiền viện có Niết-bàn tăng. Những vị tăng bệnh nặng, sắp mất được đưa đến nơi này để đại chúng chăm nom, và để vị viện trưởng hoặc Hòa thượng đàn đầu đến khai thị trước lúc ra đi.

Thiền sư Quế Sâm nghe tin bèn chống gậy đến nhà Niết-bàn thăm. Ngài hỏi Thiền sư Hưu Phục:

  • Thượng tọa Phục an vui chăng? Ngài Hưu Phục thưa:
  • Con nhân duyên trái với Hòa thượng.

Trái chỗ nào? Hòa thượng tu đến chỗ đất Phật rồi. Giữa Hòa thượng và con có tánh giác bình đẳng, nhưng con tu nhiều năm tháng mà không ngộ, là trái với pháp thể, bây giờ lại mang bệnh.

Thiền Quế Sâm chỉ lồng đèn hỏi:

  • Thấy chăng? Hưu Phục thưa:
  • Dạ thấy.

Thiền Quế Sâm bảo:

  • Chỉ cái ấy thì chẳng trái.

Chẳng hạn nhìn lên bức tượng Phật, thì người ngu thấy, người trí cũng thấy, người nghèo thấy, người giàu cũng thấy, người Mỹ thấy, người Pháp cũng thấy, không cần phiên dịch. Bởi cái thấy không có hình tướng, vừa thấy được, vừa phóng xuất ra rồi, nó không có trái. Cho nên, Ngài nói: Chỉ cái ấy là chẳng có trái thôi, còn cái gì cũng trái. Thân tướng ông và thân tướng tôi khác nhau, trình độ tu học và độ chúng sanh cũng khác, nhưng tánh giác bình đẳng không khác.

Ngay câu nói này Thiền Hưu Phục đốn ngộ.

Khi đến với Ngũ Tổ, Lục Tổ nói: “Người có Nam Bắc, nhưng Phật tánh không có Nam Bắc”. Chỗ đó thì không có nam bắc, không có sang hèn, không

có thông minh hay ngu dốt. Tánh bình đẳng nhưng nghiệp tập huân nhiều hay ít.

Chư Phật trong mười phương đồng tu, đồng chứng sắc tâm không hai, phàm thánh không khác, đều nương vào giác tánh cho nên nói là bình đẳng.

Trở về giác tánh thì bình đẳng, nhưng sai biệt nghiệp thì có khác. Như vậy, trong đời sống tu tập, mình thấy chỗ nào yếu kém, chỗ nào còn bị nhiêu khê, phiền não, thì mình tập trung gạn lọc nó.

Có những người tu rất dễ. Thứ nhất là người ta tu nhiều đời rồi. Thứ hai là người ta nắm được pháp nên buông xả nhanh. Còn mình nắm được pháp nhưng buông xả chưa xong, cho nên gặp chuyện gì cũng phiền não, là do tập khí của mình. Những người có địa vị xã hội, có phước, nếu họ phá được cái ngã thì tu rất nhanh, còn phá không được là trở thành cái chướng. Trong những chướng nạn của chúng sanh, Phật nói cái chướng đó rất nặng.

Phật dạy tiếp:

Phương tiện tùy thuận thì vô lượng, gom hết trở về theo tánh sai biệt sẽ có ba thứ.

Thiền Bảo Tích Ưu Châu ra chợ, đi ngang hàng thịt, tình cờ nghe người mua thịt nói:

  • Ông hãy lựa cho tôi miếng thịt thật

Ông hàng thịt cầm con dao chém mạnh xuống cái thớt nói:

  • Miếng nào cũng ngon hết. Ngay tức khắc Ngài tỏ ngộ.

Vạn pháp đều bình đẳng, do tâm ông sai biệt. Ngài Hương Nghiêm nghe tiếng sỏi chạm vào bụi tre ngộ đạo. Cái ngộ này có sai biệt, tùy theo cấp độ của người tu tập.

vàn phương tiện vào nhà viên giác không sao kể hết. Nhưng đứng về mặt sai biệt, tạm nói có 3 thứ: chỉ, quán, thiền na.

Ở đây Đức Phật dạy, tánh viên giác chỉ có một nhưng phương tiện thì có ba thứ:

1.  Samatha

Samatha này của Đại sư Trí Khải đưa ra, hợp với Kinh Đại thừa Viên Giác, đồng với Nhất tâm Tam quán của tông Thiên Thai, tức là quán Không, thuộc về chơn đế. Chẳng hạn như: Quán cái nhà, cái bàn, tất cả, kể cả thân năm uẩn là không có thực thể, nhiều yếu tố hợp lại. Nhưng mà chỗ đó không còn quán nữa, nhìn vào là thấy nó không có thực thể, không cần quán, gọi là Samatha.

Samatha này không phải là “chỉ” của tiểu thừa – là phương pháp tu dừng mọi vọng tưởng loạn động.

2.  Tam-ma-bát-đề

Phương pháp tu tương đương với quán giả bên tông Thiên Thai, thuộc về tục đế.

3.  Thiền na

Thiền na là quân bình chỉ – quán, tức là định huệ (định huệ đẳng trì) đồng với quán trung của tông Thiên Thai. Trong đó vừa quán giả vừa quán không, gọi là trung đạo đế, là đệ nhất nghĩa đế.

Samatha trong Kinh Viên Giác đồng với pháp ‘tánh biết vọng’ của Thiền Trúc Lâm

Nếu không ngộ được viên giác mà tu, gọi là tu trên cái vọng. Kinh Lăng Nghiêm nói, nấu cát mà muốn thành cơm thì không được. Bởi vì tu trên cái nhân sanh diệt, tu cả ngàn đời cũng ra quả sanh diệt. Chúng ta phải ngộ được tánh viên giác của chính mình, từ đó tu ra, bắt buộc phải ngộ. Khi chúng ta huân tập một thời gian thì mình xứng với tánh viên giác, làm Phật sự mới là công đức. Như vậy, tu pháp Samatha của Kinh Viên Giác Phật dạy đồng với chỗ kiến tánh trong nhà thiền. Kiến tánh là nhận tánh viên giác, gọi là chơn tu.

Phật dạy:

Này Thiện nam tử! Nếu các Bồ-tát ngộ được cái tịnh viên giác, rồi dùng giác tâm thanh tịnh chọn tĩnh làm quán hạnh.

Nhận được viên giác rồi, tùy theo nhân duyên, duyên tu “chỉ” thì mượn “chỉ” tu. Nếu có duyên tu quán thì lấy “quán” tu.

  1. Đoạn này nêu lên bổn hạnh chính trước ngộ sau mới xứng tánh mà tu, tức là từ chơn tánh tu ra, chẳng phải từ trong mê tu ra.

Từ chơn tánh tu ra, tức là tánh biết vọng. Mà tánh biết vọng lạ lắm: vọng tưởng không còn làm cho tâm mình nhiễu loạn, không còn phiền não nữa. Giống như con thiêu thân lao vào cái đèn, tự nó hóa giải. Chúng ta không còn cần phương tiện nữa. Cho nên, đây nói là trước ngộ sau mới tu.

Còn không ngộ mà tu thì gọi là tu chơi, ai nói gì là thối thất Bồ-đề; hoặc là gặp chướng duyên trên đường tu là thối thất. Nên phải nắm chỗ này cho thật vững, bao nhiêu năm tháng mặc kệ, phải nhận được chỗ đó rồi sống, từ chỗ đó tu ra. Tu giống như ngồi chơi, ngồi cho có ngồi vậy thôi. Những tập khí, phiền não không làm cho chúng ta bận lòng nữa. Tu một thời gian 10, 20, 30 năm, huân thành khối, bắt đầu có diệu dụng rồi ra làm Phật sự, gọi là xứng tánh tác Phật sự.

Có người nói Lục Tổ Huệ Năng, sở dĩ Ngài thả mấy con thú ra là do Ngài khởi niệm thiện. Không phải, giờ này không còn niệm thiện, niệm ác, đó là từ chơn tánh, từ cái bản thể lưu xuất ra, chứ không phải là thiện hay ác gì nữa.

  1. Nghĩa là Bồ-tát tu hành, trước cần yếu phải tự liễu ngộ bổn tánh, nương nơi chơn tâm bất sanh bất diệt, lập

 

 

 

quán hạnh để tịnh hóa tập khí minh từ muôn kiếp, lấy đây làm phương pháp hạ thủ.

Chúng ta phải lập một cái hạnh, hoặc là “chỉ”, hoặc là “quán”, hoặc là trong đó có định huệ. Tự mình biết, tự mình thầm hợp, nắm chỗ cương yếu đó rồi lập hạnh tu. Dầu cho thân bệnh, tâm bất ổn gì mặc kệ, từ đó phát nguyện tu mãi chừng nào thành Phật mới thôi, chỉ đi một đường không qua pháp khác.

Phật dạy:

Dùng cái giác tâm thanh tịnh chọn tĩnh làm quán hạnh.

Người phát tâm tu hành muốn cầu quả Phật, trước tiên phải liễu ngộ tánh viên giác, thanh tịnh trong thân và lấy đó làm nền tảng.

Đi từng bước, trước tiên là liễu ngộ tánh viên giác ngay tự thân mình, lấy đó lập hạnh làm nền tảng.

Nền tảng tức là giải. Căn cứ theo đó mà tu, mới được gọi là diệu hạnh chơn tu.

Cho nên, tu thiền đòi hỏi nhiều lắm chứ không phải một sớm một chiều.

Như dầu và ánh sáng đèn nó hỗ tương cho nhau, mắt và chân giúp đỡ lẫn nhau.

Tức là nhận rồi, mượn phương pháp làm diệu hạnh đi ra. Giống như dầu và ánh sáng. Nếu không có dầu thì không có ánh sáng, có dầu mà không có tim đèn thì cũng không sáng.

Tại sao Phật dạy phải dùng giác tâm thanh tịnh?

Căn cứ theo chỗ ngộ mà khởi ra diệu hạnh. Phàm phu tu dùng vọng tu, ngược lại Bồ-tát dùng giác tu. Mê ngộ vận dụng nó khác nhau.

Dùng vọng tu thì càng tu càng phiền não, một thời gian không muốn tu nữa. Ở trên nền tảng điên đảo diệt vọng, lấy vọng diệt vọng. Ngồi thiền vọng tưởng hiện lên: nhớ nhà, nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ lại người làm mình phiền não. Nắm lấy cái đó, tức là ở trên sóng mà không ở ngay mặt nước, cho nên càng tu càng phiền não. Nhiều người càng tu càng sân, càng bực tức, là tu trật. Còn Bồ-tát tu ngay nơi bản thể viên giác, nên càng tu các Ngài càng bớt phiền não.

Nếu ngộ được tánh viên giác thì động tịnh nhất như, định huệ đồng đẳng. Nhưng vì muốn đối trị tập khí loạn động, nên một bề chọn lấy cảnh tịnh để an tâm, rồi dần dần tu hành thì mới thành tựu được.

Khi ngộ rồi, đi ra chợ cũng được. Nhưng đại chúng thấy, trồng cây con mà không cột lại chờ rễ cứng, gió ba ngày sau nó héo chết. Phải rào lại, tưới tẩm, bỏ phân thuốc thì cây mới lớn.

Chỗ ngộ thì bình đẳng nhưng phải mượn phương tiện là chỗ yên ổn để tu tập, để bào mòn tập khí chứ không phải một sớm một chiều, tức là mượn cảnh để tu.

Không chọn lấy pháp mà lấy tĩnh, ý ở đây Phật dạy: Giác tâm mới lập, sức còn yếu kém nên chọn lấy tĩnh để an định, thì mới có thể chiếu soi ra các pháp.

Bởi vì khi nhận viên giác thì nó còn yếu lắm, nên phải mượn phương tiện, mượn chỗ yên ổn, từ đó mới chiếu soi ra được.

Bồ-tát Mã Minh dạy: Nếu hành giả tu “chỉ” thì nên trụ nơi an tĩnh (tức trụ nơi bản thể viên giác), ngồi yên chuyên ý, chẳng nương vào hơi thở, hình sắc, không, đất, nước, gió, lửa, kiến văn, giác tri. Nên biết chỉ có tâm, không có ngoại cảnh.

Chỉ một bề sống với tánh giác. Lúc này, không có nương vào hơi thở, không nương vào gì hết, kể cả ngoại cảnh, chỉ một bề duy nhất là nương tâm viên giác thôi.

Phật dạy tiếp:

Khi nhận được tánh viên giác, rồi y đó lắng các vọng niệm và biết thức tâm phiền động, thì trí tuệ lặng lẽ phát sanh, thân tâm khách trần từ đây hằng diệt.

Ông Uất Đầu Lam Phất đạt tới cảnh giới Phi phi tưởng xứ, bắt đầu nền tảng nó vắng lặng, không có vọng tưởng nào hết, nhưng cái thức sâu bên trong như sóng cuộn. Ông trụ chỗ đó 84 ngàn tiểu kiếp, hết cõi Vô sắc giới rồi rớt xuống lại, vẫn còn nằm trong mầm mống sanh diệt.

Học Kinh Viên Giác, thấy cái tu của mình không có lệch. Khi nhận được tánh viên giác rồi lắng các vọng niệm. Vọng niệm lắng rồi mới hay được rằng thức tâm vẫn còn lăn tăn, phiền động.

Cho nên, khi có một hành giả đến với các thiền sư thì các ngài gạn, sợ họ ở trên chỗ bờ mé ý thức cho là tỏ ngộ. Chẳng hạn như Ngài Huyền Giác đến Lục Tổ, Lục Tổ gạn từng bước đến chỗ rốt ráo. Ngay chỗ phân biệt các pháp, đệ nhất nghĩa đế bất động, tới chỗ đó mới ấn chứng. Các Ngài gạn lọc từng chút, từng chút. Điều này cho thấy, mình ở trong chúng còn lâu lắm. Ở trong chúng vừa làm Phật sự, vừa tu được; chứ bây giờ ra ngoài là mình chết liền.

Trí tuệ lặng lẽ phát sanh, thân tâm khách trần từ đây hằng diệt.

Trong Kinh Lăng Nghiêm có đưa ra ví dụ cho khách trần: Có một người làm chủ nhà trọ, khách đến đi ông đều biết.

Ví dụ khác, buổi sáng mặt trời chiếu ngay cửa sổ, nhờ ánh sáng chiếu nên nhìn thấy bụi bay. Bụi thì lăng xăng mà hư không thì bất động. Từ đây khách trần không làm chủ mình nữa, mà mình làm chủ lại khách trần.

Sơ tâm phát giác dùng cái tịnh giác tâm làm đầu; vì khi chưa ngộ, một bề chỉ hướng đến chỗ vọng tưởng loạn

 

 

 

động làm chỗ công phu. Nay đã ngộ tâm này, liền dùng cái sở ngộ giác tâm phát khởi, quán chiếu, soi lại quán chiếu tâm thể bất động, nên nói giữ gìn cái lặng lẽ làm cái diệu hạnh.

Quay trở lại thấy bản thể bất động, từ bản thể làm cái diệu hạnh tu ra.

Do đây vọng tưởng mới tiêu dứt, thì thấy cái tướng tập khí sanh diệt trong A-lại-da, nên nói: Do lắng các niệm mới thấy được giác thức phiền động.

Đến chỗ này đồng với chỗ Phi phi tưởng, phải vượt qua luôn.

Do tu tập như thế, huân tập một thời gian, tâm quang minh hốt nhiên tỏ ngộ, phát hiện ra rằng tịnh huệ phát sinh, ánh sáng của tự tâm phát khởi cùng lúc.

Lúc này, gần bước lên hàng Bồ-tát Thập địa, bây giờ mới chứng nghiệm được, chứ không phải thấy nữa. Chứng nghiệm được rằng thân tâm huyễn vọng xưa nay chẳng thật có.

Nên biết khách trần thân tâm từ đây hằng diệt, đây là tối sơ công phu, một niệm đốn chứng vào mảnh đất vô sanh.

Đây mới là diệu hạnh chơn tu. Lúc đó, người này đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng động tịnh đều là công đức từ pháp thân. Nấu cơm, quét nhà, làm gì cũng từ công đức, chứ không có trên nền tảng phước đức hữu lậu nữa. Pháp tu này gọi là pháp tu đốn chứng.

Phật dạy tiếp:

Khi hành giả trở về tâm bản giác rồi, liền hay bên trong phát ra cái lặng lẽ khinh an. Cho nên, mười phương thế giới, các tâm của Như Lai ở trong đó đều hiển bày như là những bóng hiện ở trong gương vậy. Phương tiện này gọi là Samatha.

Chúng ta huân tu một thời gian, bắt đầu có diệu lực thì ngồi thiền tâm mình khinh an, không phải là khinh an chấp trước mà khinh an từ bản thể. Giống như nước lọc, nhỏ từng giọt từng giọt, thấm tới đâu tâm khinh an tới đó, và bỗng nhiên thấy mười phương thế giới với mình là một. Nó chiếu diệu trong đó, như cái bóng hiện trong gương. Tâm mình hiện mười phương chư Phật; giữa mình và Phật đồng nhất chớ không có hai nữa. Lúc đó gọi là chơn tu.

Đoạn này là khai thị về sự hiệu quả của hành tướng nhập quán. Vì viên giác diệu tâm do bị thân tâm huyễn vọng vô minh che lấp. Nay thân tâm đã giảm thì gánh nặng vô minh đốn diệt, nên nói: Trong phát ra cái lặng lẽ khinh an.

Xưa giờ vô minh che lấp, không những đời này mà nhiều đời rồi, giống như cái nhà tối hù, bỗng nhân duyên nào đó người ta chỉ cái công tắc bật lên lên. Có tu là có tiến, cứ tu đi, cứ tin tánh viên giác của mình với Phật là bình đẳng, mà bây giờ bị vô minh khách trần nhiều đời, nhiều kiếp che lấp. Người bị

che lấp ít thì người ta tu nhanh, đời trước người ta đốn ngộ rồi, bây giờ người ta “tiệm” lại thì nhanh. Còn mình mới thì phải gạn lọc ra.

Diệu lực người tu có, tùy theo huân tập. Khi quán chiếu thật kỹ thân tâm, cái gánh nặng vô minh đặt xuống, bắt đầu phát ra diệu lực khinh an khắp châu thân. Cảm thấy giờ đây thích tu, mong muốn đến giờ ngồi thiền chứ không còn sợ, không phải trốn tránh như ngày xưa nữa, vì ngồi có kết quả – bên trong phát ra diệu dụng làm cho khinh an. Cho nên, tại sao người tu thiền ăn ít, làm việc nhiều mà vẫn khỏe.

Đến đây thì mười phương rỗng suốt nên bổn hữu pháp thân hiển lộ, nên nói: Các tâm của Như Lai đều hiển hiện như là những bóng hiện trong gương.

Nghĩa là pháp thân chư Phật thể nhập vào tánh ta. Tâm ta cùng với tánh Như Lai hòa hiệp, đó mới gọi là diệu khế pháp thân. Đây chính là trong Kinh Lăng Nghiêm nói: “Xoay dòng toàn nhất”, sáu dụng chẳng hành, mười phương cõi nước thanh tịnh.

Thấy, nghe bất động. Sáu cái công dụng của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý không còn khởi gì nữa thì tức khắc mười phương cõi nước thanh tịnh.

Thí như viên ngọc lưu ly treo lửng bên trong như trăng sáng mùa thu. Cho đến tất cả Như Lai mật viên tịnh diệu đều hiện trong đó. Đây là viên giáo đốn phá hành tướng của vô minh.

Lúc này mới gọi là phá được cội gốc vô minh.

ông tăng đến hỏi ngài Minh:

  • Nếu chư Phật nghiệp tự nhiên, khả năng hiện khắp mọi nơi làm lợi ích chúng sanh, thì tại sao nhiều người thế gian không thấy, mà chỉ có người huân tập thì mới tương ưng bình đẳng pháp thân chư Phật?

Đáp:

  • Pháp thân chư Phật bình đẳng hiện khắp tất cả nơi, vì không tác ý nên nói là tự nhiên, chỉ y tâm chúng sanh mà hiện. Tâm chúng sanh giống như gương, gương mà bị bụi che thì ảnh không có hiện. Cũng vậy, nếu tâm chúng sanh có trần cấu, thì pháp thân Như Lai không hiển lộ trong đó.

Tóm lại, qua phần này, chúng ta phải biết rằng:

  1. Nhận ra được tánh viên giác, từ đó tu
  2. Biết chắc chắn rằng, tu là sẽ có tiến.
  3. Huân tu một thời gian, lấy chỗ huân tu gọi là xứng tánh, làm các việc Phật sự.
  4. Nhớ một điều, tâm ta với Phật là bình đẳng, nhưng do bị vô minh trần cấu che lấp. Bây giờ, nhận ra tánh viên giác rồi, từ đó mình tu ra, rõ ràng là có phương pháp.

Khi trở về thể bất động thì vọng lên tự diệt. Vọng lên gọi là sanh, vọng không còn nữa là diệt. Nhưng

trong bản thể, ta thấy rõ ràng là vọng không có sanh thì làm gì có diệt. Trở về bản thể viên giác, tâm ta bất động. Khi tâm bất động, huân một thời gian thì tâm có diệu lực.

Diệu lực là cảm thấy chỗ đó lặng lẽ, khinh an. Tu một thời gian, thấy mình với Phật là một chứ không có hai nữa. Lúc này, mình thành tựu pháp Samatha tức là ‘chỉ’. ‘Chỉ’ tức là dừng các vọng tưởng, không cho vọng tưởng tạo tác nữa. ‘Chỉ’ ở đây không phải là ‘chỉ thường’1, mà phải trở về cái diệu thể viên giác, từ đó tu ra gọi là tánh biết vọng, không phải là trí dụng nữa mà trở về tánh.

Hồi xưa, chúng ta tu ở trong mê, càng tu càng phiền não, bây giờ tu ở trên chơn tánh, càng tu, phiền não càng hết, tập khí càng tiêu.

Phật dạy tu pháp Tam-ma-bát-đề

Này Thiện nam tử! Nếu các vị Bồ-tát ngộ được tánh viên giác thanh tịnh rồi, dùng giác tâm thanh tịnh nhận biết tâm tánh cùng với căn, trần đều là huyễn hóa, liền khởi trí huyễn để trừ pháp huyễn, biến hiện các hạnh huyễn mà khai hóa chúng sinh. Do khởi pháp quán huyễn nên nội tâm ở bên trong phát ra lòng đại bi, khinh an.

  1. Là dừng lại, tịnh chỉ sự tán loạn, cắt đứt sự đuổi bắt của tâm trí đối với các cảnh trần bên ngoài.

Ở đây, Phật dạy cũng giống như phần trước, là trước ngộ sau mới tu. Nếu không ngộ là tu trên vọng tưởng, tu trong mê. Như nước bị ô nhiễm, không dùng được, phải qua máy lọc nước để lọc tạp chất. Thân năm uẩn cũng vậy, nếu ở trên mê, ở trên vọng tu thì sanh ra tham, sân. Cho nên ở đây nói: Phải ngộ được tánh viên giác, phải qua cái máy lọc; từ đó tu một thời gian mới ra được tâm đại bi, khinh an. Khi phá được căn bản vô minh rồi, thì có nghiệp dụng. Nghiệp dụng này là của bậc thánh, không phải của phàm phu.

Có tu mới có tiến, với điều kiện là phải ngộ được tánh viên giác, là thực chứng, thực ngộ không phải nói suông. Từ chỗ ngộ tánh viên giác, bắt đầu tu ra thì mới thấy được rằng, tâm tánh xưa nay tưởng là mình, với sáu căn, sáu trần, là huyễn hóa, không thật. Biết huyễn hóa không thật rồi, thì khởi trí huyễn, Hòa thượng Trúc Lâm dạy là trí dụng, để biết các vọng tưởng là pháp huyễn. Nhận ra được bản giác là phải nhờ thỉ giác. Cho nên, thỉ giác rất là cần thiết. Khi mình biết cái đó rồi thì mới biến hiện ra các hạnh huyễn giáo hóa chúng sanh. Do khởi pháp quán huyễn nên nội tâm ở bên trong phát ra lòng Đại bi khinh an.

Đoạn này là khai thị hành tướng ‘giả quán’.

Nương nơi chỗ ngộ tịnh tâm viên giác phát khởi trí chiếu để phá những tập khí nhiều đời nhiều kiếp.

Giống như phèn và chất dơ đóng đầy bên trong máy lọc nước. Bản giác ban đầu không có bụi nhơ, nhưng do ở trong trần cảnh nhiều đời, nhiều kiếp rồi nên bị ‘bụi’ bám. Bây giờ trở về cái gốc, khởi trí chiếu để nạo nó, và mới hay ra được là: Cái thức tâm lăn tăn cùng với căn trần xưa nay chẳng có, mà nhân nơi biến hiện của vô minh.

Nhìn cái tượng, nhìn cái bàn thì thông qua căn bản vô minh, vì căn bản vô minh chưa phá. Ngày xưa, ta cho sáu căn, sáu trần là thật, thức biến hiện cũng là thật, cho là thật nên vừa khởi niệm là ra con mắt, nhìn giận dữ. Ra miệng, nói lời vô duyên. Theo cái tay ra hành động, ví dụ đánh người. Bây giờ, biết nó giả, không thật. Biết đây là biết bằng tri giác.

Tuy có mà tánh thường không, nên nói: “Đều nhân nơi huyễn hóa”.

Căn trần có không? Có! Nhưng nó không có thật thể mà nhân nơi huyễn hóa vô minh, cho nên nó nhân thêm cấp độ nữa, thành ra tạo nghiệp. Căn, trần, thức không có thật, biết nó là huyễn hoá, gọi là chi mạt vô minh.

Chi mạt là cành nhánh, nhưng gốc là bên trong.

Nhận ra nó, bắt đầu tu, phá từng bước.

Đã liễu tâm tánh cùng căn trần đều như huyễn hóa, thì quán sát chúng sanh, mỗi mỗi cũng đều như huyễn.

Chúng ta biết mình là huyễn mà thấy chúng sanh thật là không đúng. Biết mình huyễn thì chúng sanh cũng huyễn.

Nên nói: Liền khởi các huyễn để dẹp cái huyễn.

Biết những tâm niệm là huyễn, thì tất cả các pháp đều là huyễn hóa, do thức biến hiện.

Các huyễn nghĩa trí huyễn. Cái huyễn này xét cho kỹ cùng tột, chính là căn bản vô minh. Nghĩa là nương nơi trí thể giác như huyễn đốn phá tận nguồn căn bản vô minh.

Cái trí mà thấy được những mầm mống của niệm đó cũng là huyễn, là mượn. Nếu không có trí này thì không thể nào phá căn bản vô minh. Giống như mượn đồ nghề để nạo bụi dơ bám trong máy, thì cái đồ nghề đó cũng giả luôn. Khi nạo sạch rồi, thì liệng luôn đồ nghề chứ không có giữ nữa. Đó gọi là “nương nơi huyễn để mà phá huyễn”.

Nghĩa là sau khi đốn dứt vô minh, tự nhiên liền có nghiệp dụng bất khả tư nghì. Rồi mượn cảnh biến hóa các huyễn, khai hóa những chúng sanh, rộng làm Phật sự độ sanh. Hiện thân mười cõi phổ ứng tất cả quần sanh.

Khi dẹp được căn bản vô minh rồi, tự nhiên có nghiệp dụng. Nghiệp dụng lạ một điều là: Ở chỗ này

mà có thể phân thân biến khắp mười phương cõi nước giáo hóa.

Trong Phụ Lục của Hòa thượng Vạn Đức dịch, có những đoạn nói về những cảnh giới bất tư nghì của Kinh Pháp Hoa. Thể nhập được Pháp Hoa Tam Muội rồi, các Ngài có thể phân thân đi các cõi, nhất là xuống cõi địa ngục, cõi ngạ quỷ, các cõi quỷ thần để giáo hóa.

Nên Ngài Hám Sơn nói:

Đã chứng chân như, từ chân như khởi ra nghiệp độ sanh. Lấy đồng thể đại bi rộng độ chúng sanh, chẳng chấp tướng chúng sanh.

Tức là giáo hóa chúng sanh mà không chấp. Làm tất cả các việc Phật sự, rộng độ chúng sanh, thì tâm phát ra nghiệp dụng gọi là đại bi khinh an. Chẳng hạn sáng nay, thấy tên mình ghi trên bảng làm trị nhật hành đường, do tri sự cắt làm, thì mình làm giống như cưỡng ép. Nhưng hôm nào đó, không phải mình trị nhật, xuống thấy một huynh đệ bệnh nặng quá. Mình nói, ông về nghỉ đi để tôi làm, thì ngay trong giờ phút đó tâm mình vui, hạnh phúc, tạo ra một loại nhiên liệu, gọi là đại bi khinh an, vì xuất phát từ nguyện lực. Từ nguyện lực mới phát ra được nhiên liệu đại bi khinh an. Còn làm miễn cưỡng thì nó không phát. Rồi lấy đại bi khinh an này vào trong cuộc đời rộng độ chúng sanh.

Nếu không có nhiên liệu này, mình nói người khác không nghe. Không phải giảng pháp là người ta nghe hiểu, nếu mình không có nghiệp dụng bất khả tư nghì. Không có một vị nào học xong mà ra giáo hóa chúng sanh thành công, nếu chỉ học không thôi, dẫu cho có bằng tiến sĩ. Phải có nhiên liệu từ chất nguyện lực, từ chất công phu tu tập, từ năng lượng rồi bắt đầu mới phổ xuống. Bởi vì khi phổ xuống không phải trên từ ngữ sách vở mà từ nhiên liệu đại bi khinh an phát ra.

Thành ra bắt buộc chúng ta phải tu tập, dụng công để tạo nhiên liệu đại bi khinh an, tạo ra năng lượng nguyện lực. Giáo hóa không nhất thiết phải đông, miễn sao người ta hiểu, và có sức chuyển hóa.

Cho nên, trong đại chúng ở yên tu, người lớn gánh hết các việc rồi. Sở dĩ, bây giờ tôi gánh Phật sự là ngày xưa tôi ở với Sư Ông, quý Thầy lớn gánh việc rồi, thì bây giờ, tôi phải có trách nhiệm. Quý vị cũng vậy! Sau này, tôi lui về một góc là quý vị phải đứng lên, từng lớp tiếp nối. Cho nên, tôi nói đại chúng: Khi còn là thiền sinh, đừng có nghĩ ngợi gì hết, cứ tu, tạo nhiên liệu. Mà chính điều này, sau này ra làm Phật sự không bị trần cảnh lôi, đánh mất bản chất người tu.

Đồng ý là thời buổi này, khi ra làm Phật sự, các nơi cần bằng cấp. Nhưng đại chúng thấy, chúng tôi ở thiền viện ra, làm các việc Phật sự, trong những

buổi họp, những vị lớn trong Giáo hội người ta để ý. Luật hiện nay Trưởng ban Trị sự GHPGVN tỉnh Bình Thuận phải là tiến sĩ Phật học, Phó ban tệ lắm cũng phải là thạc sĩ, cử nhân, vậy mà đưa tôi lên làm Phó ban. Tôi nói: Con có bằng cấp đâu mà làm. Mấy vị không chịu, nói “Thầy phải làm, giúp giùm.”

Tinh thần nhà Phật gọi là “đạo đức vô hành”, từ trong bản thể lưu xuất. Tất cả những buổi họp, những gì mình làm người ta đều chú ý, cho nên mình phải có sức tu, từ nhiên liệu đó chớ không phải từ học. Bây giờ, tôi mới nghiệm được, bằng cấp nhiều nhưng trong buổi họp vỗ bàn, trợn mắt là rớt. Đồng ý phải có học, vì nó là bản đồ, nhưng quan trọng nhất là phải dồn sức tu, không có sức tu không làm được gì hết. Cho nên, ở đây nói, “khi đốn dứt vô minh rồi, tự nhiên có nghiệp dụng chẳng thể nghĩ bàn”, mới rộng độ chúng sanh được.

Tất cả Bồ-tát từ đây khởi hành thứ lớp tăng tiến, người quán huyễn kia không đồng với pháp quán huyễn. Vì đều là huyễn nên tướng huyễn hằng lìa.

Đoạn này là khai thị tướng quán hạnh tăng tiến.

Khi ở trong chúng, mình dụng công phu, phá từng phần vô minh, bắt đầu có những nghiệp dụng. Quán tất cả các pháp và chúng sanh không thật, từ đó rộng độ chúng sanh. Có công đức rồi, tướng quán dần dần tăng lên.

Do chứng nhập chơn tánh chưa tròn đủ, vô minh chưa thanh tịnh, dần dần nhiễm vào nên nói ‘thứ lớp’’, do đối đãi chưa quên.

Trong Tứ Niệm Xứ có nói: “Một Thầy Tỳ-kheo chứng sơ thiền, không rời tầm và tứ, nếu rời tầm và tứ thì sơ thiền mất”.

Sơ thiền gọi là ly sanh hỷ lạc địa. Khi ngồi thiền, lìa những tham chấp, khát ái trong cuộc đời, tâm lặng rồi, được hỷ lạc địa là được niềm vui khi tu; nhưng khi xả thiền, làm các việc Phật sự thì nó mất. Sơ thiền có cảnh giới xuất và nhập, ngồi thiền là nhập, ra phải xuất. Muốn cho sơ thiền này lúc nào cũng có mặt, thì không rời tầm và tứ. “Tầm” có nghĩa là bám sát vào đối tượng, “tứ” hợp nhất vào, như hợp nhất hơi thở, hợp nhất trong từng oai nghi. Rời tầm và tứ thì mất sơ thiền.

Ở đây cũng vậy, khi chứng nhập vào chơn tánh, ta tưởng xong rồi, nên không cần ngồi thiền, tụng kinh, không cần nghe pháp, bỏ hết thì vô minh dần dần nhiễm vào. Nên nói phải có thứ lớp, bởi vì đối đãi chưa quên. Cho nên, ngộ được tánh viên giác rồi, bắt đầu phải tu, chứ không phải là xong chuyện. Nếu không tu tập, vô minh dần dần nhiễm vào, giống người thế tục hồi nào không hay.

Khi đến chỗ rốt ráo: Sở quán đã quên thì năng quán cũng phải dứt. Nếu còn năng quán vẫn chưa lìa huyễn, thì nên nói, không đồng huyễn quán đều là huyễn.

 

 

 

Cái vọng dứt rồi thì cái biết huyễn bỏ luôn.

Năng, sở cả hai đều quên, cảnh trí cả hai đều dứt, chỉ một chơn tâm nên nói tướng huyễn hằng lìa.

Có nghĩa là năng và sở, cái biết và cái bị biết, tiêu dung luôn, chỉ có một chơn tâm duy nhất.

Có Phật tử nói là không còn nghĩ thiện và ác nữa, nhưng mà ai động tới thì tự nhiên xuất hiện. Không nghĩ thiện, không nghĩ ác của Phật tử là trên thức tâm. Không nghĩ thiện, không nghĩ ác của Lục Tổ là trên bản thể chơn tâm. Ngài không nghĩ thiện không nghĩ ác, mà lúc nào cũng hằng biết, gọi là từ vô tác diệu lực.

Vô tác là không tạo tác, mà từ bản thể lưu xuất ra. Còn chúng ta nói không nghĩ thiện, không nghĩ ác, mà bên trong nó vẫn thầm thầm. Ở đây nói, năng sở đều quên, cảnh trí dứt, chỉ một cái biết duy nhất, đó là chơn tâm.

Như câu chuyện ông Tăng đến hỏi Mã Tổ: “Gương đúc thành tượng sao chẳng chiếu soi?” Mã Tổ đáp: “Tuy chẳng chiếu soi nhưng dối y một điểm cũng không được.” Ban đầu khi còn vọng tưởng, ta cần có trí dụng để chiếu soi, đến lúc vọng hết rồi thì toàn thể là biết, không cần chiếu soi nữa. Tuy không chiếu soi nhưng cái thể hằng biết, chứ không phải lúc nào cũng lom lom cái biết đó. Cái thể hằng biết

nên dối nó một điểm cũng không được.

Câu chuyện ông Tăng hỏi Ngài Pháp Nhãn: “Thế nào là Bồ-tát Quan Âm ngàn tay ngàn mắt?”. Ngài đưa ví dụ cái gối rớt xuống nền, đâu cần nhìn vẫn lấy cái gối được, cho nên Ngài đáp: “Toàn thân là tay mắt”. Toàn thể đều là biết, do dụng công tu tập và có công hạnh giáo hóa chúng sanh.

Phật dạy:

Các vị Bồ-tát này đã viên mãn diệu hạnh, như đất nuôi dưỡng mầm lúa, phương tiện này gọi là Tam-ma-bát-đề.

Đất nuôi dưỡng mầm lúa, lúa trưởng thành, lấy lúa đó làm diệu hạnh. Đất nuôi dưỡng mầm lúa, lúa lên thì mầm không còn. Đến khi thu hoạch, mầm và đất đều bỏ, giống như bỏ trí dụng biết vọng.

Hạt giống dụ cho giác tâm, đất dụ cho pháp huyễn, mầm dụ cho trí huyễn.

Nghĩa là khi ngộ được viên giác thanh tịnh, thì nương pháp huyễn, khởi trí huyễn. Từ trí huyễn, bặt dứt tâm vọng để vào cái biển giác thanh tịnh. Khi vào biển giác thì pháp huyễn và trí huyễn đều dẹp bỏ luôn.

Khi vào biển giác thanh tịnh thì hai cái này dứt, không phải lom lom nữa.

 

 

 

Nghĩa là Bồ-tát quán hạnh cảnh trí cả hai đều quên, chỉ còn một chơn tâm duy nhất, thì chơn địa pháp thân, mầm giống trí tuệ dần dần tăng trưởng, lớn mạnh lên.

Người kiến tánh ngộ đạo, hay người nhận ra được tánh viên giác tu thì lúc này gọi là công đức. Một ngày tu là ngày đó người ta nhóm họp công đức lần lần. Giống như gieo hạt mầm xuống, cái mầm đó càng ngày càng lớn lên, tu được thì sẽ có kết quả. Cho nên, trong khi thiền viện xây dựng chưa xong, tôi cấp tốc xây thất trước cho chúng tu. Chúng tu được thì mới nuôi lớn công hạnh, nuôi lớn nguyện lực. Nuôi lớn đại hạnh thì mới làm Phật sự được. Việc này mới quan trọng, chớ cứ lao theo công việc là chết. Khi ở trong thất, mới nhóm họp các tâm hạnh. Tôi ngồi nghiệm kỹ rồi, chỉ có tu, không tu là chết hết. Phải tu, phải dụng công tu thôi.

Cho nên, nói “Nghĩa là Bồ-tát quán hạnh cảnh trí đều quên, chỉ còn một cái chơn tâm duy nhất, thì chơn địa pháp thân, mầm giống trí tuệ dần dần tăng trưởng”, tức là nuôi dưỡng công đức viên mãn. Từ công đức viên mãn, tiếp tục rộng độ các loài hữu tình.

Phương tiện này gọi là Tam-ma-bát-đề. Tam-ma-bát-đề là tiếng Phạn, tiếng Hán gọi là đẳng chí. Trong các tam muội thì đẳng chí có thể đưa hành giả đến giai vị thù thắng. Lại nữa, đẳng là quân bình, lìa hôn trầm, trạo cử; chí là đến, đến chỗ thắng định viên mãn.

Khi mình thể nhập đẳng chí rồi thì không còn hôn trầm, không còn trạo cử nữa, mà luôn luôn ở trong định vị của nó, tức là được công đức thù thắng viên mãn.

Này Thiện nam tử! Khi các Bồ-tát ngộ được viên giác thanh tịnh, dùng giác tâm thanh tịnh ấy mà không chấp thủ các huyễn hóa và các tướng tĩnh lặng.

Không chấp, không dính mắc vào pháp quán.

Không chấp vào tướng tĩnh do tu chỉ, đây là quân bình chỉ quán khiến cho định huệ đồng đẳng.

Lúc này, mới nhận rõ thân tâm đều là chướng ngại; nhưng giác minh vô tri không y nơi các ngại, hằng siêu vượt qua những cảnh ngại và không ngại.

“Lúc này, mới nhận rõ thân tâm đều là chướng ngại.” Đoạn này là Bồ-tát tu về thiền na, tức là vừa dứt vọng niệm lăng xăng, rồi quán các pháp như huyễn nên nhận ra cả thân và tâm đều là chướng ngại. Chướng ngại về tâm lý hoặc sinh lý. Chẳng hạn như, do thời tiết, do khí hậu, hoặc do ăn uống, làm cho thân tâm bị ngăn ngại mà chưa thoát ra được.

Do đó, “Bồ-tát thấy rõ giác minh vô tri ở nơi các ngại ấy mà không vướng mắc các ngại.”

Ta đang tu, đang khoẻ, bỗng nhiên thời tiết chuyển, làm sổ mũi, nhức đầu. Tu sao khổ quá! Thôi

về cho rồi! Chán con đường tu bởi vì thấy thân và tâm ngại. Hoặc là do đọc sách, chẳng hạn cuốn Đường Xưa Mây Trắng, thấy Cuộc Đời Đức Phật hay quá, thanh thoát quá; nhưng khi vào chùa, gặp huynh đệ có những cái chướng nhiều đời, rồi đụng chạm qua lại, làm cho tâm ngại.

Khi thể nhập được tánh viên giác, ta thấy nó đâm thủng luôn: Cái này giả mà, đâu có thật! Bởi do thời tiết nhân duyên, nên không phụ thuộc nó nữa, bệnh thì uống thuốc. Người xưa nói: “Nghiệp cứ trả, thiện pháp cứ làm, đạo cứ tu”.

Cho nên nói: Bồ-tát thấy rõ cái giác minh vô tri của mình ở ngay nơi các ngại mà không vướng mắc ngại, tức là ở chỗ cái giác tâm thanh tịnh không thấy ngại cái này. Nói cho dễ hiểu, ngày xưa, ta sống trên thức thì khi thân bệnh, tâm chướng ngại, thức phân biệt: Ở nhà sướng, muốn ngủ thì ngủ, muốn ăn thì ăn, vào đây tu chi vậy. Bây giờ, trở về bản giác thì không phân biệt nữa, mà thỉ giác nói: Còn nợ nần đàn-na thí chủ, cha mẹ nhiều đời kiếp, phải tu độ họ, chết cũng phải tu.

Cho nên, nói: Giác minh là giác tâm sáng tỏ, đó là huệ. Huệ này bằng bản giác chứ không phải bằng thức nữa. Vì vậy, ta phải tu, không tu là thân tâm chướng ngại. Ở đây, nói: Lúc này, nhận rõ thân tâm đều là ngại, là đang ở trên cái sóng thức, thì bây giờ phải trở

về giác minh để siêu việt các ngại. Ngày xưa, ở trên thức thì bị thức làm cho ngăn ngại, giờ trở về chỗ giác minh này rồi, thấy nó không còn ngăn ngại nữa mà rỗng suốt luôn, vì không có trụ trên tướng sanh tâm.

Giác minh vô tri, vô tri này không phải không biết gì. Giác minh là huệ, vô tri tức là định. Ở đây, gọi là tự tánh định, tự tánh huệ. Định ở trên tự tánh, huệ ở trên tự tánh.

Các ngại chỉ chung cho tướng đối đãi: có, không; phải, quấy; hơn, thua; chủ, khách… làm cho ngăn ngại.

Cảnh ngại chính căn, trần, thức, đồng với phiền não.

Ở môi trường thuận duyên thì tu dễ. Ở môi trường không thuận duyên, mắt vừa phóng ra gặp trần cảnh, thức phân biệt làm cho phiền não nhiễu loạn. Có những người thích ở chúng đông, ở ít họ buồn. Có những người ở chúng đông, người ta khó chịu, thì cho người ta ở riêng một chỗ. Ví dụ, ở một hoặc hai người thì người ta tu được.

Do đó, phải chia từng khu, chẳng hạn khu 60 tuổi, khu 50 tuổi, khu 40 tuổi… Hồi xưa ở Thường Chiếu, có chia như vậy. Hòa thượng Thường Chiếu hay lắm, Ngài làm tăng đường, chia theo nghiệp đồng cảm. Có những người đồng cảm, họ tu được thì phải để cho họ tu chung. Cho nên, phải hiểu chỗ này để không sanh ra phiền não, bởi vì căn, trần, thức hợp với nhau

thì dễ tu. Nếu đủ điều kiện, ở đây, làm tăng đường: Một phòng 2 người, 4 người, 6 người hoặc 10 người ở.

Ngày xưa, ở Thiền viện Thường Chiếu, có một vị lớn tuổi đi tu, ông khó chịu, nói suốt ngày, không ai ở với ông được. Có một lần, tôi xuống vùng thất đó, thấy có một vị mới tu ở cùng, thầy lớn tuổi nói mà vị này bất động. Tôi nghĩ, “sao thầy này mới mà tu hay dữ vậy?” Tìm hiểu thì ra, vị thầy mới bị nặng tai, cho nên căn, trần không có dính.

Vậy nên, chúng ta lưu ý, bây giờ mình còn nghe, nhưng hãy nghe giống như nặng tai, ai nói mình cười thôi. Ở đây, có một thầy ở nhà khách hay lắm, ai nói thì nói, thầy cười bình thường thôi. Đây cũng là pháp tu, không có ngăn ngại nên không phiền não. Cảnh không ngại thì tự nhiên dứt phiền não.

Khi không có ngăn ngại, thì nội tâm tịch tĩnh là đồng với cảnh giới Đại Niết-bàn tịch diệt.

Khi bên trong không ngại, cảnh cũng không làm ngại, thì tâm mình vui, lặng lẽ, an ổn tự tại.

Cho nên, môi trường thích hợp rất cần thiết cho những người tu. Có những người nghe tiếng động chịu không nổi, thì phải tạo điều kiện, tạo môi trường giảm bớt năng lượng phiền não. Chúng ta khoan phân tích là cư trần bất nhiễm, mới tu đừng có nói cư trần bất nhiễm. Tạo môi trường cho họ có

nhiên liệu, giống như xe mà không có dầu, không có nhớt, thì chạy không được. Bây giờ, tạo phương tiện có dầu, nhớt đủ thì xe mới chạy được. Khi họ ở trong môi trường tu tập đó, bên trong không có ngại, cảnh cũng không có ngại, tâm họ bắt đầu tịch tĩnh thì đồng với cảnh giới Đại Niết-bàn tịch diệt.

Do đó, phiền não và Niết-bàn, cả hai đều vô nhiễm.

Họ không bị ô nhiễm vì phiền não mà cũng không trụ vào Niết-bàn, tâm thênh thang, rộng lớn. Chỗ này là chỗ đốn ngộ.

Như vậy, hành giả không vướng vào các pháp là vượt qua cảnh ngại, tức là lìa cái sự chướng, đốn tận phiền não, chóng dứt vô minh. Thứ hai là không dính vào chỗ lặng lẽ, là vượt qua cảnh không ngại, tức là lìa được lý chướng, chẳng thủ chứng Niết-bàn.

Không dính vào chỗ khinh an lặng lẽ đó, vượt qua luôn, thì gọi là lìa được lý chướng, chẳng thủ chứng Niết-bàn.

Phật dạy:

Khi đó, hành giả thọ dụng thế giới cùng với thân tâm, tuy tướng ở trong trần cảnh, như không bị trần cảnh làm ngại, giống như tiếng từ trong chuông vượt thoát ra ngoài, phiền não và Niết-bàn không chướng ngại lẫn nhau.

Khi lắc cái chuông thì có tiếng thoát ra. Khi còn

thân tâm ngũ uẩn mà không bị bên trong, không bị bên ngoài làm ngại, thì mình thoát ra, ở trong trần cảnh mà giống như đang ở trong cảnh giới Đại tịch diệt Niết-bàn. Cho nên, nói:

Vì lìa hai chướng, lý chướng và sự chướng, dầu cho ở trần lao mang thân năm uẩn, mà Bồ-tát không thấy cái gì ngăn ngại hết.

Không phải như mình, ở trong trần cảnh, bị gió mưa, bị cái này, cái kia làm cho thân bất ổn, chướng ngại, hoặc là tâm bị cái gì đó làm chướng ngại phiền não. Bồ-tát mang thân năm uẩn mà không bị ngăn ngại thì giống như ở Niết-bàn. Nghĩa là mang thân năm uẩn ở trong trần lao ô nhiễm mà không bị ô nhiễm.

Thức tâm hành giả dầu gá trong thân năm uẩn, khi chuyển hóa đến chỗ rốt ráo, nó không bị giới hạn trong thân. Tình và vô tình đồng viên chủng trí, thì mới gọi là lợi lạc quần sanh.

Lúc này, tình và vô tình là một chứ không hai nữa. Dầu cho có mượn thân năm uẩn, nhưng khi chuyển hóa đến tận cùng rốt ráo thì thức tâm không còn bị giới hạn trong thân nữa, mà nơi nơi đều là đạo, nơi nơi đều là pháp, chỗ nào cũng dụng công được hết. Ngồi trên xe hay trong khi làm việc đều dụng công được. Khi giáo hóa, khi làm việc, khi tu tập, toàn bộ là nhiêu ích để rộng độ chúng sinh. Lúc đó, gọi là nhiên liệu tạo pháp công đức, thấy được

rằng, mình và tất cả vạn pháp cùng đồng một thể tính duy nhất. Lúc này, mới lợi lạc quần sanh.

Bây giờ đến cảnh giới Phật. Phần trước học là Đẳng Giác, bây giờ vào chỗ Diệu Giác. Phần này, học cho biết thôi, chứ làm sao mình đến được như Phật. Nhưng ở đây, tôi nhấn mạnh, có những lúc mình đến được chỗ đó, bởi vì tức tâm là Phật. Tâm mê là chúng sanh, mà ngộ chỗ đó là Phật. Phật của chúng ta là Phật từng niệm, chứ không phải Phật 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp. Bấy giờ làm cái gì cũng vui. Ngày xưa, mình làm mà cau có, chẳng hạn kêu nhổ cỏ, mình nói: “Sao mà cỏ mọc hoài vậy? Nhổ hoài mà nó mọc hoài! Thầy bắt nhổ hoài!” Bây giờ, mình nhổ cỏ, lặt rau, nấu cơm, làm gì cũng bình thường, không dính dáng nữa.

Tôi vào tu rồi mới cảm ơn Sư phụ Thường Chiếu. Tôi bây giờ, biết làm rất nhiều việc, là nhờ Sư phụ Thường Chiếu. Ngày xưa, tôi đâu biết sơn, Hòa thượng nói, tiền đâu mà mướn, thôi chú sơn đi, tôi cũng làm, cốp pha chúng tôi đóng luôn. Ngày xưa, tôi đâu biết xây dựng, làm từ từ cũng quen. Ngài phân công chúng tôi làm hành đường, trị nhật, hương đăng, tri sự, tri khố… những việc này không làm ngại mình nữa, trên bảng ghi việc gì là chúng tôi tuân thủ làm, không có một ý kiến. Khi làm được rồi, tâm có niềm vui.

Phật dạy:

Bấy giờ, nội tâm liền phát sinh ra sự lặng lẽ khinh an.

Bây giờ, mình ở trong chúng, làm tất cả các việc, một thời gian, việc không có làm mình ngại nữa. Chẳng hạn như, đang làm ban rẫy, cắt ra ban vườn, vui làm. Xưa giờ, đi hái dừa, hái ổi gì đó, không cho làm việc đó nữa, bắt vào chẻ củi, bình thường. Chẻ củi một thời gian, cắt làm hương đăng, bình thường. Việc gì cũng bình thường hết thì bắt đầu nội tâm khinh an. Chứ việc đến, mình nói: “Tôi không muốn làm!” thì tự nhiên tu cực kỳ là khó, vào nhập thất cũng khó luôn. Đây là bản thân tôi kinh nghiệm. Người ta đưa cảnh cho mình để tu mà không chịu, thì lúc đó là mình bị ngăn ngại. Đại chúng nghiệm thử đi. Khi bất cứ việc gì được giao, mình cũng làm, bởi vì chỗ này là chỗ tu của mình, thì bắt đầu tu cái gì cũng tiến. Chuyện này lạ lắm, pháp này hiểu không được.

Khi chúng tôi ở Thường Chiếu lên Trúc Lâm, Sư Ông chống gậy xuống hỏi: “Mấy chú từ Thường Chiếu lên thấy sao?” Tôi thưa: “Con sám hối Sư Ông, không dính dáng chút nào luôn.” Ngày xưa, cư sĩ vào Thường Chiếu, xúc đất buổi sáng 28 xe, chiều 28 xe. Tối tụng kinh xong xuống đào đất tới 1 giờ khuya. Thành ra lên Trúc Lâm ngồi thiền 3 thời nhẹ như lông hồng. Bây giờ, khi làm tất cả các việc, cảnh không ngại nữa, thì bắt đầu tiết ra nhiên liệu gọi là

tịch tĩnh khinh an. Cái này là công đức do mình, đâu phải trên trời, dưới biển đem đến cho mình đâu. Tôi thấy rất rõ điều đó.

Cảnh giới tịch tịnh này tùy thuận Diệu giác của Như Lai.

Cảnh giới tịch tịnh này không phải là tịch tịnh trong sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, không vô biên xứ, vô sở hữu xứ nữa, mà bằng viên giác, từ viên giác tu ra. Làm các việc Phật sự thì bắt đầu tạo ra nhiên liệu khinh an. Mà khinh an này từ bản giác, chứ không phải là từ phương tiện tu tập, nó mới tùy thuận Diệu giác của Như Lai. Khi ở trong trạng thái đó, thứ nhất là không rơi vào phiền não của pháp thế gian, thứ hai là không trụ vào Niết-bàn của pháp xuất thế gian. Tức là lìa phiền não rồi mà cũng không trụ chỗ tịch tĩnh đó.

Thân và tâm tự tha đều không đến được, thì mới hay ra rằng chúng sanh thọ mạng đều là phù tưởng. Pháp phương tiện này gọi là thiền na.

Pháp này gọi là thiền na, thì bây giờ mới hay ra là chúng sanh mà sống được là nhờ gá vào cái vọng tưởng, cái phù tưởng nên còn thọ mạng. Hôm qua, có cô này xuất gia, có người em đau nặng gần mất, cô điện lên nói, em cô ngáp hoài, không đi được, là gá vào cái phù tưởng. Khi tôi khai thị xong, ba tiếng đồng hồ sau ông đi. Bởi vì ông gá vào cái phù tưởng là gia đình, cha mẹ,

vợ con… đủ hết. Khai thị, chặt đứt cái phù tưởng đó, không còn bám vào cái tư tưởng đó nữa thì ông đi.

Bắt đầu, nội tâm phát sanh ra lặng lẽ khinh an. Đây là trạng thái đại định, trở về tự tánh thanh tịnh, khác với sự lặng lẽ tu tập của hành giả tu về chỉ.

“Chỉ” tức là dừng cái loạn động, còn ở đây là tự bản thể.

Tóm lại, ở cảnh giới tịch diệt này, chỉ có địa vị Diệu giác mới có tùy thuận.

Còn chúng ta thì chưa được, nhưng mà có thể được từng niệm. Các pháp không làm cho ngăn ngại nữa, từ đó bắt đầu tu tập từng bước, từng bước, giống như là gieo hạt lúa, mầm bắt đầu lớn, tăng trưởng từ từ lên.

Tóm lại, không chấp thủ huyễn hóa, thì huyễn hóa tự tịch. Chẳng chấp thủ tướng tĩnh, thì tướng tĩnh tự diệt, chứ chẳng phải tác ý làm cho tịch diệt.

Không có tác ý. Miễn là chỗ đó mình không có chấp, huyễn hóa tự nó tịch; mình không chấp vào cái tướng tịch tĩnh, thì tướng tĩnh tự diệt, chứ chẳng phải tác ý làm cho nó tịch diệt.

Nên Kinh Lăng Già nói, tịch diệt là nhất tâm.

Chỉ ở chỗ tánh biết của mình, thì tự nhiên lặng lẽ, tịch diệt thôi chứ không có tác ý.

Chỉ một mình tự sáng tỏ, người khác không thấy. Sự suy lường của tâm thức tự kỷ cũng không đạt đến, như dùng lửa đom đóm đốt núi Tu Di. Nhất định phải lìa tình thức mới khế hợp, nên nói tự mình không thể đạt đến.

Tự cái bản thể soi sáng thôi, chứ người khác không biết, không phải từ cái suy tưởng của tâm thức. Nếu suy tưởng tâm thức thì giống như lửa đom đóm đốt núi Tu Di. Nhất định phải lìa tình thức mới khế hợp.

Bấy giờ, hành giả nhìn các pháp giống như mây ở trên bầu trời, là hư giả, nổi trôi trên nền trời tự tánh.

Lúc này biết những cái vọng tưởng điên đảo đó.

Nếu hiểu không, thì liền biết mây nổi rốt ráo chẳng phải không.

Thọ mạng của chúng sanh vọng tưởng của chân tính, nên liễu đạt chân tính tịch diệt thì liền biết chúng sanh xưa nay rốt ráo không thật.

Này Thiện nam tử! Ba pháp môn này (Samatha, Tam-ma-bát-đề, Thiền na) đều là thân cận tùy thuận tánh viên giác. Mười phương chư Phật nhân đây mà thành Phật. Mười phương Bồ-tát tu mọi phương tiện, đồng hay khác, đều y ba sự nghiệp này nên được viên chứng, tức thành tựu tánh viên giác.

Phật dạy ba pháp môn Samatha, Tam-ma-bát-đề, Thiền na, là mười phương chư Phật nhân tu ba pháp

này mà thành Phật. Các vị Bồ-tát nhân ba sự nghiệp này mà chứng vào tự tánh viên giác.

Ba môn này: Chỉ, quán, thiền na, đều nương vào việc ngộ viên giác, tức là nhận ra được tánh viên giác rồi bắt đầu mới khởi quán hạnh, trong nhà thiền gọi là đốn ngộ, là nhận ra được tánh viên giác. Khi tiệm tu, gọi là khởi quán hạnh, tùy theo sai biệt nghiệp của mỗi người, có người tu chỉ, có người tu quán, có người tu thiền na. Chương thứ 8 chúng ta sẽ thấy Phật dạy rất kỹ: Có những người tu chỉ không được mà tu quán, có người vừa tu quán vừa tu chỉ… Như vậy, quán hạnh là mục đích cuối cùng để thể nhập tánh viên giác cho tròn đủ, trước, sau chưa từng xa lìa, nên nói gần gũi tức là tùy thuận tánh viên giác.

Này Thiện nam tử! Giả sử có người tu hành thánh đạo, giáo hóa chúng sanh thành tựu trăm ngàn muôn ức quả A-la-hán và Bích Chi Phật, cũng chẳng bằng người nghe pháp môn viên giác vô ngại này, rồi tùy thuận tu tập trong một sát-na.

Ở đây, Phật đưa ra ví dụ so sánh, chẳng hạn tu thành thánh đạo, đắc được quả thánh rồi, giáo hóa chúng sanh thành tựu không phải một vị, mà trăm ngàn muôn ức quả A-la-hán và Bích Chi Phật, tức là giáo hóa không những một người mà trăm ngàn muôn ức người.

Đại chúng nghiệm lại, trong đời mình giáo hóa chắc gì được một hai người, mà chỉ cần một hai người đó có niềm tin sâu, hoặc chứng nghiệm chút ít thôi. Huống nữa là ở đây Phật đưa ra ví dụ là giáo hóa trăm ngàn muôn ức, tức là rất nhiều, mà những người mình giáo hóa đa phần đều chứng A-la-hán và Bích Chi Phật. Nhưng không bằng một người nghe pháp môn viên giác vô ngại này rồi tùy thuận tu tập chỉ trong một sát-na.

Một niệm có 99 sát-na, như vậy thời gian tu tập chỉ cần như khoảng khảy móng tay, thì công đức của người tùy thuận tánh viên giác mà tu tập, nhiều hơn người giáo hóa trăm ngàn muôn ức quả A-la-hán và Bích Chi Phật. So sánh như vậy có nghĩa là pháp môn này rất khó tin, khó nhận, khó hiểu, khó đi vào chỗ công phu dụng công tu tập. Khó như thế, mà ở đây, chúng ta tùy thuận tu. Đại chúng có biết vì sao? Bởi vì pháp này là chánh nhân thành Phật, là cái nhân chánh để mình thành Phật.

Đức Phật nói bài kệ trùng tuyên lại nghĩa trên:

Oai Đức thầy nên biết Tâm đại giác vô thượng Xưa nay không hai tướng Tùy thuận các phương tiện Số kia đến vô lượng

Như Lai tổng khai thị

 

 

 

Chỉ 3 chủng loại Samatha vắng lặng

Như gương chiếu các tượng.

Ở đây, Phật đưa lên một vấn đề nữa: Khi ngộ được tánh viên giác, dùng giác tâm viên giác lắng tất cả ý niệm. Vọng niệm sạch rồi thì gương tâm tròn sáng, in rõ thế giới vạn hữu cùng tâm mười phương các Đức Như Lai. Khi tâm tròn sáng thì tất cả không lừa dối được mình, không một ý niệm nào vượt qua được chỗ thấy biết của mình.

Như huyễn Tam-ma-đề Như mạ dần tăng trưởng.

Dùng tánh viên giác, quán như huyễn theo thứ lớp, rồi cũng y cứ vào giác tâm thanh tịnh, tu tập càng ngày càng tăng tiến, như lúa mạ ngày càng lớn. Càng tu tập, càng dụng công thì chỗ dụng công càng ngày càng tăng tiến chứ không có thụt lùi. Giống như gieo hạt lúa xuống, lâu ngày chày tháng, mạ trưởng thành. Tức là y nơi tánh viên giác tu, càng tu thì công đức càng viên mãn.

Thiền na duy tịch diệt Như tiếng thoát từ chuông.

Thể nhập tánh viên giác tu, dứt trừ vọng tưởng. Vọng tưởng không còn, thấy tất cả các pháp đều là mộng, là huyễn, thì dầu cho mang thân năm uẩn này

ở trong trần lao, nhưng mà giống như tiếng chuông đánh thoát ra ngoài, tức là không bị ràng buộc về thân năm uẩn này nữa.

Ngày xưa, người ta nói mình một lời nhẹ thôi cũng bức xúc khó chịu, bây giờ nhận được tánh viên giác tu rồi, quán tất cả các pháp đều là huyễn là mộng, gọi là huyễn cấu. Mình mang thân năm uẩn ở trong trần lao nhưng không bị trần lao làm cho khổ đau, như tiếng thoát từ chuông.

Ba diệu pháp môn này đều tùy thuận viên giác. Mười phương các Như Lai và các đại Bồ-tát nhân đây được thành đạo ba pháp, được viên chứng, đạt cứu cánh Niết-bàn.

Ba pháp là chỉ, quán, thiền na, các vị Đại Bồ-tát nhân đây tu mà thành đạo, nhân đây đạt chỗ cứu cánh Niết-bàn.