Chương 3: Bồ Tát Phổ Nhãn Thưa Hỏi

CHƯƠNG III: BỒ TÁT PHỔ NHÃN THƯA HỎI
Trong hội này, có rất nhiều vị Bồ-tát. Khi Đức Phật trả lời cho Bồ-tát Văn Thù, Bồ-tát Phổ Hiền, là những vị thượng căn, Ngài nghĩ chỉ có hàng thượng căn mới tu được. Hàng trung căn và hạ căn nếu không ngộ được chỗ này thì làm sao tu? Không có phương tiện làm sao họ ngộ đạo được? Như vậy, họ ở mãi trong vòng sanh tử. Những vị Bồ-tát này rất là thương chúng sanh đời mạt mới đứng lên thưa hỏi Phật.
Lúc bấy giờ Bồ-tát Phổ Nhãn ở trong đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu bên phải ba vòng, quỳ gối chấp tay mà bạch Phật rằng:
Đây là nghi thức ở Ấn Độ vào thời xưa, các vị Bồ-tát cung kính Phật, trước khi thưa hỏi thì đảnh lễ dưới chân Phật rồi đi nhiễu bên phải ba vòng.
Bạch Thế Tôn đại bi! Cúi xin vì chúng Bồ-tát trong hội này và tất cả chúng sanh đời sau, diễn nói thứ lớp tu hành của Bồ-tát, làm sao tư duy, làm sao trụ trì? Chúng sanh chưa ngộ làm những phương tiện gì khiến cho họ được khai ngộ?
Đây là câu hỏi thứ lớp của Bồ-tát Phổ Nhãn.
Do những lời của Bồ-tát Phổ Hiền rất là sâu kín, Như Lai xứng lý mà trả lời, nên bảo trước muốn tiêu trừ tâm bệnh, sau tu đủ muôn hạnh; hoặc nghe nói “tri huyễn tức lìa, không lập phương tiện, không có thứ lớp”, liền cho rằng chỉ cần “tri” là xong, không cần tu tập.
Đây nói chung là bệnh của người tu.
Chúng ta xem ngữ lục của Lục Tổ Huệ Năng trong Kinh Pháp Bảo Đàn, nghĩ tu sao dễ quá. Kinh Pháp Bảo Đàn diễn tả, Lục Tổ nghe Kinh Kim Cang liền ngộ, mình nghĩ chỉ cần nghe một lần là xong, không ngờ rằng các Ngài một là thị hiện, hai là trong đời quá khứ đã tu sâu rồi, giống như trái cây chín muồi bây giờ gặp gió là rụng. Hoặc đọc trong ngữ lục của chư Tổ, một nghe ngàn ngộ, thấy dễ quá cho nên mình không cần dụng công hoặc là không làm các hạnh.
Phật nói, tu rất nhiều hạnh mới hình thành quả vị Phật, quả vị Bồ-tát. Mình nghe “tri huyễn tức lìa, không lập phương tiện”, mình lơ là không dụng công rồi thả trôi. Cũng như nghe nói niệm Phật từ một tới bảy ngày Phật đến rước, nghĩ rằng chừng sắp chết chỉ cần niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” là Phật rước. Không phải vậy đâu, phải nhất tâm bất loạn. Bây giờ còn sống mà niệm chưa nhất tâm bất loạn, huống chi khi bốn đại phân ly, xé thịt đi ra; đất, nước, gió,
lửa trả về cho đất, nước, gió, lửa. Người sắp chết giống như bị tứ mã phanh thây, hay như con cua bị bỏ trong chảo nước sôi vậy.
Cho nên, Bồ-tát Phổ Nhãn thương các vị Bồ-tát ở trong hội này và chúng sanh đời sau, đứng lên thưa hỏi, tu mà không lập hạnh thì không thành tựu.
Bồ-tát Phổ Nhãn lại muốn giáo pháp tròn đủ mới hỏi môn khởi hạnh. Do đó Phật mới bảo: một là trì giới, hai là ngồi yên trong thất vắng… lần lượt cho đến quán hạnh môn thành tựu.
Chúng ta ở tùng lâm lập hạnh cho đại chúng thì không đợi kiếp sau, đời này lập hạnh gì, khi ra làm Phật sự, nó ứng vào cái hạnh ngày xưa mình đã từng phát nguyện, tự nhiên bây giờ thành tựu. Lúc tôi còn ở Trúc Lâm, tôi phát tâm, tức là khởi cái hạnh, dọn nhà vệ sinh cho chúng một năm. Khi ở đây đặt đá, có một vị rất ít khi phát tâm, tự nhiên phát tâm cúng dường ba cái nhà vệ sinh lưu động, rồi có cô Phật tử cũng phát tâm thêm ba cái. Khi gieo cái nhân, khởi cái hạnh thì quả hiện tiền.
Bồ-tát Trì Địa khởi cái hạnh, chỗ nào đường sá hư hỏng, Ngài đào đất san lấp bằng phẳng cho người xe đi lại dễ dàng. Đời nào Ngài cũng lập hạnh như thế. Đời cuối cùng Ngài gặp Phật, Phật xoa đầu Ngài nói, tâm bình thì thế giới bình, chỗ nào cũng bình. Ngài chứng quả ly cấu, thành Bồ-tát.
Tôi nghe kể lại, ở chùa Huệ Nghiêm, những vị lớn thường là 3 giờ sáng dậy, đi vệ sinh trước khi vào thời khóa dụng công. Ba giờ sáng mà nhà vệ sinh không biết ai đã dọn rất sạch sẽ. Một vị Hòa thượng thắc mắc nên 2 giờ sáng Ngài dậy để rình xem ai mà dọn sớm như thế, thì thấy người dọn vệ sinh là Hòa thượng Viện trưởng Phật học viện Huệ Nghiêm, cố Hòa thượng Thiện Hòa. Ngài giới hạnh rất tinh nghiêm, đồ chúng rất đông mà 2 giờ sáng Ngài dậy dọn vệ sinh. Đại chúng thấy cái hạnh của người xưa như thế. Sở dĩ làm Phật sự không thành tựu vì không khởi hạnh, nhiều khi làm một chút đã thấy nhọc rồi.
Thiền sư Tuyết Phong đi bất cứ chỗ nào, Ngài cũng đem cái vá xới cơm và một cái muỗng dắt sau lưng, đến tùng lâm nào Ngài cũng phát nguyện làm tri khố. Ngài làm tri khố 30 năm, sau đó Ngài chứng quả.
Chúng ta tưởng rằng chỉ cần biết vọng tưởng là xong, không lập môn hạnh. Nếu tu theo hạnh Thanh văn thì không cần, bởi vì các Ngài tu hạnh cô liêu, hạnh một mình, hạnh ở núi non am thất, vào rừng sâu, ở Lan-nhã một bóng, một hình. Còn hạnh tu để thành Phật thì phải lập hạnh Bồ-tát. Hôm rằm tháng tư, Thiền viện không có dự định làm lễ quy y, nhưng có một người đến xin quy y. Nếu mình nghĩ chỉ có một người làm chi cho mệt, nhưng khi thông báo, có đến 25 người xin quy y. Cho nên, khi khởi một cái hạnh nào để giúp cho
chúng sanh được an ổn thì tự nhiên nó thành tựu.
Bồ-tát Phổ Nhãn sợ chúng sanh đời sau ỷ lại không lập các hạnh nên Ngài hỏi Phật. Phật cũng tùy nghi đưa ra những phương pháp cho hàng trung, hạ căn để lập hạnh, một là trì giới, hai là ngồi yên trong thất vắng rồi quán các hạnh để thành tựu.
Lại nữa khi Bồ-tát Phổ Hiền thưa hỏi về vấn đề để mà thành tựu tính Viên Giác thì Phật trả lời: “Biết huyễn tức là lìa, chẳng khởi phương tiện, lìa huyễn tức giác, cũng không có thứ lớp”. Đây chính là đốn ngộ một tâm, ngay đó liền đốn chứng, chẳng trải qua lộ trình, chẳng giả lập phương tiện tu hành, chỉ một chữ biết mà thôi.
Không cần giả lập các phương tiện, chẳng hạn như quán không, quán giả, quán trung trong tinh thần của Ngài Trí Khải Thiên Thai; hoặc lập ra những phương tiện như sổ tức, tùy tức, chỉ, quán, hoàn, tịnh, hoặc là quán vô thường, khổ, không, vô ngã… đi từ thứ lớp. Còn ở đây chỉ cần là biết, hay còn nói là đốn chứng phương tiện, một nhảy vào đất Như Lai.
Thiền sư Hám Sơn, Ngài bình:
Đây là bậc thượng căn mới có thể liễu ngộ.
Chúng ta tu pháp này không phải thường mà có căn duyên sâu đời trước, nhiều đời tu pháp này rồi, bây giờ hợp cơ duyên, tu thấy nhẹ nhàng, thư thái, đơn giản.
Ngài Đơn Hà ban sơ đến Ngài Mã Tổ, vì đi đường xa Ngài lấy khăn quấn đầu. Khi đến gặp Mã Tổ, Ngài giở khăn xuống 3 lần. Ngài Mã Tổ nhìn là biết pháp khí, Ngài nói:
– Ông qua bên Thạch Đầu đi, ông không có duyên ở đây.
Quả tình Ngài Đơn Hà đến Thạch Đầu Ngài ngộ được yếu chỉ. Ngộ được yếu chỉ, Ngài trở về gặp Ngài Mã Tổ.
Người xưa hay lắm, nhìn là biết người này tu ở đây cách mấy cũng không thành tựu, gởi qua chỗ khác mới thành tựu. Để cho chúng ta thấy rằng, do túc duyên đời trước, mình tu pháp này rồi. Nhưng bây giờ đến đây vào pháp này không được, có nghĩa là ở tánh biết để chuyển hóa tập nghiệp nhưng không được; giống như không cầm được cây kiếm Thái A, bởi vì cây kiếm này rất bén, một cọng tóc chém thành 99 mảnh, phải là người có công phu, khí lực mạnh mới cầm được. Mình nghĩ không đủ nhân duyên rồi hoàn tục không tu nữa, như vậy không đúng.
Cho nên phải lập hạnh. Lập hạnh là gì? Chẳng hạn như tu pháp này trầy trật, bệnh tật đủ chuyện, nên phải lập hạnh: Sám hối, làm việc phục vụ cho đại chúng.
Trong Kinh Bảo Tích, có những vị vào trong chúng, tu không được thì lập hạnh chẻ củi, dọn dẹp vệ sinh, nấu cơm phục vụ cho chúng, vậy mà sau này
thành tựu. Ở Thường Chiếu cũng có một số quý thầy tu không được cho nên mới lập hạnh chuyên nấu cơm, chuyên nấu nước, quét tăng xá hoặc làm rẫy, làm vườn phục vụ cho đồ chúng. Nếu đời này không xong thì đời sau có nhân có duyên gần Bát-nhã chứ đừng nghĩ tu không được hoàn tục.
Phần này chỉ cho bậc thượng căn mới có thể liễu ngộ chữ biết. Cho nên, pháp của Hòa thượng không phải dễ. Tôi khẳng định, Pháp Hòa thượng mà vào được, tu được là đã có nhân duyên tu nhiều đời rồi, hoặc là sâu, hoặc là cạn, bây giờ nhớ lại tu chứ không phải mới đây. Đó là tinh thần của thiền đốn giáo.
Ngài nghĩ chúng sanh đời sau hiếm có bậc thượng căn, phần nhiều là bậc trung, hạ, nếu chẳng tu hành thì mãi ở trong vòng sanh tử. Nếu tu hành mà không có chánh phương tiện thì không có cửa có thể vào. Nếu không có thứ lớp thì cũng khó mà đốn ngộ, nên nói: Tư duy chính là tâm ban đầu, dùng chỉ, quán để hạ thủ công phu.
Trở lại vấn đề chỉ dùng một chữ biết là đốn chứng phương tiện, tôi dẫn chứng một đoạn nhân duyên của bộ kinh Tương Ưng Bộ, bài kinh Có Pháp Môn Nào.
Một hôm, Phật trú ở vườn Trúc Lâm rồi hỏi các thầy Tỳ-kheo: Này các thầy Tỳ-kheo! Có pháp môn nào, do pháp môn ấy Tỳ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về pháp, ngoài kham nhẫn, ngoài thích thú biện luận, có thể xác chứng chánh trí? Vị ấy biết rõ
sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.
- Lòng tin: Phật dạy niềm tin là công đức lớn sanh ra quả lành. Khi tu tất cả pháp môn, ban đầu điều kiện duy nhất là phải có lòng tin, không có lòng tin là tu không được. Ban đầu tin ai? Tin Phật. Tin rằng trong vô lượng kiếp Phật tu các công hạnh, thành tựu thắng trí, chứng quả vô thượng.
Kế là tin pháp của Phật là giải khổ, từ những phiền não cấu nhiễm đến được bến bờ hạnh phúc, chẳng hạn tin pháp Tứ Đế trong 37 phẩm Trợ Đạo, Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ-đề phần, Bát Chánh Đạo; rồi có niềm tin lớn những bộ kinh mà Đức Phật diễn thuyết; tin Tăng là hòa hợp, là thanh tịnh; tin và thực tập pháp môn thiền, tin vị lập ra pháp môn này hướng dẫn cho mình, tin chắc là tu sẽ chứng quả chỉ kiếp này thôi không đợi kiếp sau; tin tạo nhân thù thắng thì gặt quả thù thắng.
Niềm tin dũng mãnh như vậy cho nên mình vượt qua được thân bệnh. Khi gặp trục trặc, gặp nghịch duyên mà có niềm tin mình lướt qua dễ dàng, còn không có niềm tin mình uể oải buông xuôi luôn.
- Lòng ưa thích: Ngoài lòng tin, phải có lòng ưa thích, nếu không ưa thích thì tu không được; đến giờ sám hối mình thấy mệt, mặc y hậu tụng kinh đổ mồ
hôi; ngó qua ngó lại thấy huynh đệ đi hết mình đóng cửa phòng lại, nghĩ chắc không ai biết! Ngày xưa, chúng tôi từ Thường Chiếu lên Trúc Lâm tụng kinh không bao giờ bỏ, bây giờ chỉ còn ráng được ngày rằm và ba mươi. Bởi vì, chúng tôi giảng suốt 7 ngày trong tuần, rồi đi họp, đi giáo giới. Đại chúng đừng có bắt chước chúng tôi, chúng tôi vì hoàn cảnh bắt buộc. Huynh đệ chúng ta bây giờ nói chung còn nhỏ mà gánh vác nhiều thì sợ làm không nổi, gánh vác ở trong tùng lâm thì được, gánh vác Phật sự bên ngoài cực lắm nên chúng tôi phải đứng ra.
Cho nên phải cố gắng, mình còn nhỏ mà không ráng tụng kinh, sám hối, ngồi thiền, khi Phật sự đến không có thời gian tu. Công việc Phật sự cuốn không ra được, thời cuộc bắt buộc phải làm.
Lục Tổ Huệ Năng khi Ngài ở trên núi, bà Võ Hậu Tắc Thiên kêu vị trung sứ lên thỉnh Lục Tổ xuống núi, Ngài nói, Ngài mến núi rừng nên không xuống. Sau này, Đường Trung Tông lên ngôi, nghe tin Quốc sư Huệ Trung, là đệ tử của Lục Tổ, ở trên núi Bạch Nhai 42 năm, ông lên thỉnh Ngài về làm quốc sư, Ngài nhận lời. Ngài làm quốc sư 16 năm, độ không biết bao nhiêu chúng. Mỗi vị mỗi hạnh. Nhờ xuống núi, Ngài mới xiển dương thiền đốn giáo ở những kinh đô lớn thời nhà Đường.
Khi còn ở học chúng, không ưa thích tụng kinh, ngồi thiền thì không bao giờ tu được, cho nên ban đầu là phải ưa thích. Bây giờ chúng tôi bận nhiều quá không tụng kinh được nhưng giờ ngồi thiền là không bao giờ bỏ, rất là thích giờ ngồi thiền, ít nhiều gì cũng phải tu.
Ngày xưa trên Trúc Lâm ngồi một ngày 3 thời, mỗi thời 2 tiếng. 7g30 ngồi là 7g20 chúng tôi lên sắp 2 hàng đứng chờ, khi đánh kiểng vào ngồi rồi là im phăng phắc, toàn chúng mong ngồi thiền như vậy đó, tu hào hứng lắm, khí thế ngùn ngụt luôn. Tại sao khí thế? Bởi vì Hòa thượng tuyên bố rằng: “Tôi nuôi mấy chú 5 năm thôi chớ không nuôi nhiều, 5 năm rồi tôi đưa mấy chú đi làm Phật sự.” Nghĩ đi ra làm Phật sự mà không biết gì cho nên phải gắng gỗ mà ngồi, thấy thất trống là xin nhập thất.
Nếu chúng ta không ưa thích thì lần lữa ngày qua tháng lại. Tu thiền là con đường khám phá, ngày nào cũng mới mẻ. Bữa nay ngồi như thế này, mai hiện tượng khác, càng khám phá tâm thức, càng thấy có những cái mới mẻ. Đại chúng nghĩ xem vào đây có cái gì chơi không? Không có. Không có ngồi uống cà phê hay hát karaoke; buông hết. Nếu không có ưa thích thì tu không được.
- Lắng nghe: Nếu không thích nghe giáo pháp thì giống như ngồi trên đống lửa; hoặc huynh đệ có
chuyện gì chia sẻ mình không thích lắng nghe thì mình sống cô độc không có hợp chúng, một thời gian mình cũng buồn bã ra đi.
- Suy tư: Tức là tư duy về pháp học. Khi học ở lớp về tư duy lời thầy nói có đúng không, có hợp với lời chư Phật không. Tư duy như thế có những lúc tâm rỗng sáng.
- Kham nhẫn: Chỗ này đại chúng phải lưu ý, kham nhẫn nóng lạnh, đói khát, nhiều cái kham nhẫn. Có nhiều người nói đời này làm gì có đói và khát, nhưng có trường hợp đi làm Phật sự nhiều lúc quá giờ ngọ làm cho thân tâm nôn nóng, phiền não, bực dọc. Chúng ta nếu nghĩ được: Quá giờ ngọ thì uống nước là xong; giữ được giới hạnh, đó cũng gọi là kham nhẫn.
Năm vừa rồi, chúng tôi xuống tỉnh họp. Những người đi tiếp xúc cử tri không kham nhẫn là không được. Sống trong đạo quen kham nhẫn rồi, thí dụ như hôm nào họp mà cúp điện thôi thì nháo nhào, còn người tu bình thản.
- Thích thú biện luận: Biện luận về đạo, về pháp.
Sáu điều này cho người khi bước chân vào đạo. Không phải là bậc thượng căn thì phải lập những cái hạnh này.
Phật xác chứng sáu điều này, rồi Phật nói: Ngoài sáu điều này có một pháp không cần lòng tin, không cần ưa thích, không cần lắng nghe, không cần suy tư, không cần kham nhẫn, không cần thích thú biện luận mà vẫn chứng quả vị vô sanh, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui con đường này nữa.
Vào thời Phật, khi nhắc đến có một pháp đại chúng chưa biết, chưa học về pháp hành này. Bởi vì thường thường vào học thì phải có tin Phật, tin pháp, tin tăng… Phật nói ngoài 6 pháp này có một pháp bước vào con đường Thánh quả. Khi ấy các thầy Tỳ-kheo mới xin Phật chỉ dạy:
Ở đây này các Tỳ-kheo, khi mắt thấy sắc, nội tâm có tham sân si, biết rõ nội tâm có tham sân si.
Lúc này Phật chỉ, có một pháp không cần 6 pháp trên mà chỉ có một pháp biết thôi. Đó cũng là pháp mà Sư Ông Trúc Lâm dạy, đâu có rời kinh của Phật. Kinh này lại là kinh nguyên thủy, chứ nói kinh Đại thừa thì còn bàn tán.
Nội tâm không có tham sân si, biết rõ nội tâm không có tham sân si. Này các Tỳ-kheo, người ấy biết rõ, chúng có mặt hay không có mặt trong tâm mình.
Chẳng hạn mình đang quét nhà, tự nhiên vọng tưởng khởi lên nhớ nhà, nhớ cha, nhớ mẹ. Biết rõ,
dừng, không theo nó nữa. Nếu không biết thì chạy theo, đắm đuối rồi nó thêu dệt đủ hết.
- Này các Tỳ-kheo, biết rõ chúng có mặt hay không có mặt trong tâm vị ấy, có phải đó là pháp do lòng tin được hiểu biết, do ưa thích được hiểu biết, do lắng nghe được hiểu biết, do suy tư pháp được hiểu biết, do kham nhẫn được hiểu biết, do thích thú biện luận được hiểu biết?
- Thưa không, bạch Thế Tôn!
- Có phải các pháp đó do thấy với trí tuệ mà được hiểu biết?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn!
Thấy các niệm vọng tưởng điên đảo, những tập khí không phải bằng lòng tin, không phải bằng ưa thích, không phải bằng kham nhẫn; đây chỉ là lập hạnh thôi, mà thấy để chuyển hóa. Biết là phải bằng trí tuệ cho nên gọi là duy tuệ thị nghiệp. Có trí tuệ tức có hạnh phúc, có an lạc; có trí tuệ thì biến cõi Ta bà này thành Tịnh độ.
Cho nên, người tu thiền phải có cung thiền định, kiếm trí tuệ. Khi ngồi kiết già là có cung thiền định. Khi ngồi thiền với tuệ tri, thắng trí, biết rõ, đó là kiếm trí tuệ. Nếu không có thắng trí, ngồi mà không biết gì hết, ngơ ngơ ngáo ngáo hoặc ngủ gục là xong một thời thiền!
Phật kết luận:
Đây là pháp môn, này các Tỳ-kheo, do pháp môn này
ngoài lòng tin, sự ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về pháp, ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng với chánh trí. Vị ấy biết rõ, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc làm đã xong, không còn trở lui trạng thái này nữa.
Chỉ có một chữ biết thôi, mà cái biết này là thắng trí của các hàng Sa-môn. Phật đưa ra những điều kiện cho chúng ta thấy rằng tuệ tri là quan trọng nhất, tuệ tri các niệm vọng tưởng điên đảo trong tâm. Nếu mà không có thắng trí thì không thành tựu được.
Đức Phật diễn nói thứ lớp tu hành của Bồ-tát.
Phần này rất quan trọng cho người tu về Kinh Viên Giác.
Chúng ta không phải là bậc thượng căn, mà xếp vào hạng trung hoặc hạ căn. Vậy tư duy như thế nào để thể nhập tính viên giác? Ban đầu, phải tư duy. Ở đây có nghĩa là quán sát trên cái vọng. Niệm khinh an chưa phải là cứu cánh, nhưng nó rất cần thiết cho đời sống tu tập. Vì trong thời ngồi thiền mà tâm trạo cử không khinh an, thân bất ổn làm mình khó chịu.
Cho nên tinh thần của thiền thứ lớp: Bước đầu tiên là phải đạt đến chỗ sơ thiền, gọi là ly sanh hỷ lạc địa, lìa những tâm niệm tham chấp về ngã. Chẳng hạn như ngày xưa ở đời, tham chấp cái gì đó, bây giờ ngồi thiền thấy cái tham chấp ngoài đời không đủ
năng lực lôi kéo đi, thì việc ngồi thiền này đạt được kết quả. Hoặc mình tu không nổi, phải tư duy: nếu không tu tập nữa được cái gì, mất cái gì? Mình sẽ thấy toàn khổ đau, không đi đến con đường hạnh phúc, nên dừng lại ý nghĩ bỏ tu tập.
Ban đầu, chúng ta phải tư duy. Mà khi tư duy, cái gì tư duy? Gọi là tư huệ tức là trí tuệ thấy rõ được ngọn ngành. Trên đường tu không phải lúc nào cũng tu chỉ, phải có những lúc ngồi tư duy, quán chiếu. Có những lúc mệt mỏi cũng phải nghỉ ngơi. Khi nghỉ mình làm gì? Không phải nằm gác tay lên trán! Ngày xưa, Sư Ông hoặc thầy quản chúng đi tuần liêu, kỵ nhất là thấy một người nằm trên đơn gác tay lên trán thở ra, hiện cái tướng mệt mỏi! Thời Đức Phật, các thầy Tỳ kheo khi ăn cơm xong thì rửa bát, rửa chân, trải tọa cụ, ngồi thẳng đứng tư duy về pháp. Bây giờ, sức lực mình không bằng người xưa thì đi dạo trong vườn thiền cho tâm thư thả, bớt căng thẳng. Cho nên phải có huệ trong giờ phút đó chớ không có dùng định nữa để cân bằng trạng thái lúc hạ thủ công phu.
Trụ trì như thế nào?
Phật giải thích, trụ trì không phải trụ trì chùa, tinh xá hay tự viện mà khi ngộ được diệu cảnh, tức là giác ngộ, nhận và sống trong tánh biết rồi gìn giữ, giống như người mẹ sanh ra đứa con sợ nó mất. Khi vào được sơ thiền, lìa tầm và tứ thì nó mất; cho nên,
thầy Tỳ kheo chứng sơ thiền không rời tầm và tứ.
Tầm là bám sát vào đối tượng, tứ để mà hợp nhất. Chẳng hạn, buổi sáng, chúng ta ra vườn thấy con ong muốn hút mật hoa. Nó không lao vô hút liền mà bay nhiều vòng quanh nhụy hoa, gọi là tầm, để hợp nhất vào đối tượng là nó, là năng; cái nhụy hoa là sở. Năng sở hợp nhất gọi là tầm tứ. Lúc nào cũng phải bám sát vào đối tượng, ví dụ quán về hơi thở, đi đâu, lúc nào cũng nhớ để mà bám sát vào hơi thở, hễ lìa hơi thở tức là nhiễm pháp khác.
Cũng vậy, khi ngộ được tánh biết rồi thì cố gắng gìn giữ đừng để mất; đó là an trụ, gìn giữ không để mất. Ở trên gọi tư huệ, ở đây gọi là tu huệ. Ở trong diệu cảnh đó lúc nào cũng gìn giữ. Chệch là mất cho nên gọi là tu huệ, gìn giữ gọi là trụ trì.
Sau đợi Đức Phật thuyết, tức là sanh văn tuệ. Từ phàm vào thánh ắt phải nhờ ba tuệ này tức là văn tuệ, tư tuệ, tu tuệ.
Từ phàm phu không biết gì hết, khi vào trong giáo pháp tu học phải có tư duy, quán chiếu. Nghe rồi tư duy, quán chiếu, bắt đầu thực hiện con đường công phu.
Cho nên, Bồ-tát Phổ Nhãn vì đại chúng thỉnh cầu, đoạn trên hỏi về trí, sau hỏi về bi. Những chúng sanh chưa ngộ dùng phương tiện gì khiến cho họ khai ngộ?
Ý Kinh Viên Giác hợp với Kinh Pháp Hoa, tức là Phật vì chúng sanh vào trong cuộc đời để khai thị cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật, cho nên ban đầu Bồ-tát Văn Thù, Bồ-tát Phổ Hiền chỉ về trí. Trí là nhìn thẳng, biết tất cả các pháp là huyễn, là hoa đốm giữa hư không là thành tựu. Nhưng có những chúng sanh vào pháp này không được, nên khởi lòng bi lập ra vô số phương tiện để bước vào hạnh Sa-ma-tha, Tam-ma-bát-đề, Thiền-na. Phật đưa ra những phương tiện cho chúng ta dễ tu dễ chứng.
Qua phần này, Ngài Hám Sơn khai thị:
Đối với kinh này (Kinh Viên Giác), trong lời Đức Phật đáp, Ngài đã hoàn toàn dùng tâm tịnh viên giác của Như Lai đã nêu trên làm nền tảng. Dùng pháp quán nhân pháp nhị không, và vô biên hư không giác diệt ảnh tượng để hiển phát. Vì giác tròn sáng nên tâm thanh tịnh cho đến đồng với chư Phật. Đó chính là khiến cho chúng sanh tất cả được khai ngộ, thể nhập tính viên giác.
Ngài nói dù bất cứ giá nào cũng đưa hàng chúng sanh trung căn, hạ căn vào con đường này để mà thể nhập tính viên giác, hiển phát lên.
Bạch Thế Tôn, nếu những chúng sanh ấy không có chánh phương tiện và chánh tư duy, khi nghe Như Lai nói tam muội này, tâm sanh mê muội, chẳng thể ngộ nhập viên giác. Xin Phật từ bi vì chúng con và chúng sanh đời mạt mà giả nói phương tiện tu hành.
Tam muội như huyễn là ở trong chánh định độ sanh mà không thấy có người nào độ hết, làm các việc Phật sự mà không thấy mình làm. Còn chúng ta làm một hồi thấy mệt mỏi, chiều còn tụng kinh, ngồi thiền, bái sám đủ hết, thôi ráng tu rồi nhập Niết-bàn luôn, ví dụ vậy. Khi chúng ta khởi hạnh thì tự nhiên có cái niệm đó; còn các Ngài, khi vào tam muội như huyễn rồi, thì niệm đó không có. Chứ không phải như mình, làm các việc Phật sự thấy nhiêu khê, nhọc nhằn; chẻ củi, nấu cơm, tụng kinh, sám hối 5 năm, 10 năm sao không thấy gì hết! Nghe nói tam muội như huyễn, mê muội làm cho mình khủng hoảng.
Cho nên, Ngài Phổ Nhãn thỉnh Phật từ bi chỉ cho chúng sanh những phương tiện. Trong Kinh Viên Giác, phần tam muội là đặc biệt nhất. Tam muội này chính là lìa các huyễn cấu ở trong tâm, tức là tam muội như huyễn, vậy thôi. Lìa tất cả các tâm niệm trần cấu tức là ly niệm, mà phổ ra các phương tiện độ sanh, làm các công hạnh mà tâm bất động. Ngài Phổ Nhãn biết không phải dễ thâm nhập pháp này cho nên mới đứng lên thưa hỏi để tròn đủ các hạnh; vì vậy gọi là Phổ Nhãn Bồ-tát.
Ở trong tam muội như huyễn này không có vọng, không có chân, không có tu, không có chứng, nó tròn đủ các hạnh. Vì sao? Vì giác tánh vốn viên, pháp vọng vốn tịch. Không có chân thì làm gì có vọng,
không có sanh thì làm gì có diệt, đây là phương pháp ngồi thiền. Khi chúng ta ngồi thiền, sanh khởi vọng tưởng là tìm cách tiêu trừ, chuyển hóa vọng, thấy rõ ràng là có sanh có diệt. Nhưng mà ở trong thể tánh viên giác rồi thì thấy nó không có sanh, không sanh thì chỗ nào mà diệt? Tính viên giác đã tròn đủ rồi, không thêm cũng không bớt. Đây là chỗ dụng công mỗi hành giả tự kiểm điểm.
Cho nên gọi là:
Giác tánh vốn viên, pháp vọng vốn tịch, thật không có chỗ tu; nhưng vì những người mới ngộ, không dễ chóng tiêu trừ tập khí mê lầm, nên ở nơi vô tu mà giả nói phương tiện tu tập.
Nếu nói tính viên giác tròn đủ, sáng soi khắp cả mười phương thì đâu cần xây thiền đường, chánh điện, giảng đường chi cho nhọc; hay là đâu cần xây nhà bếp, tròn đủ chỉ cần hít không khí là no rồi! Nhưng mà bây giờ chúng ta còn tập khí quá nhiều, bắt buộc phải lập phương tiện: xây chánh điện, thiền đường, giảng đường, nhà bếp, nhà ăn, vườn thiền … tất cả mọi cái để hóa giải tập khí mà sống với tánh viên giác tròn đủ. Cái này không phải tu. Ngài Lâm Tế nói thẳng: “Các ông mà nói tu giống như thịt đang lành lấy dao khoét thành vết thương.”
Có ông quan đại phu đến hỏi Thiền sư Triệu Châu:
- Bạch Hòa thượng, có phải Ngài tu hay không?
- Nếu ông nói tôi tu là đại họa.
- Như vậy ai tu?
- Ông mới
Đúng là Ngài không có tu, Ngài xong rồi, tu gì nữa! Mà ông quan còn nhiều thứ nên ổng phải tu.
Ông quan nói:
- Hòa thượng xuất gia, Hòa thượng tu, con ở ngoài đời sao con tu?
Thiền sư Triệu Châu nói:
- Trên là vua, dưới là dân. Ông ăn uống hằng ngày no đủ, nếu ông không khéo tu thì ông đi về đâu?
Ông quan đại phu cảm ngộ khóc, từ đó, ông thờ Ngài Triệu Châu làm thầy.
Ở đây nói, nếu không giả lập phương tiện thì chúng sanh làm sao tu? Thiền viện mở khóa tu tại sao Phật tử về dự? Tôi hỏi Phật tử họ nói ở nhà ngồi thiền giỏi lắm là 45 phút, đến đây đại chúng ngồi 2 tiếng họ cũng theo được 2 tiếng. Ở nhà, có lúc tụng kinh có lúc không, đến đây ngày tụng 2 thời, ngồi thiền 2 – 3 thời, nghe pháp 2 thời. Cho nên cần phải giả lập phương tiện.
Trong Thiền sư Trung Hoa Tập 1 ghi:
Có ông tăng hỏi Thiền sư Mã Tổ:
- Hòa thượng vì cái gì nói “tức tâm tức Phật”? Mã Tổ đáp:
- Vì dỗ con nít khóc.
Chẳng hạn như có người mẹ muốn đi chợ, mà đứa con khóc quá, bà chạy ra vườn lấy lá khô cho đứa con chơi, nói đây là vàng lá. Đứa nhỏ tin rằng bà mẹ đưa nó vàng lá nên nín khóc. Cũng như thế, khi có người hỏi Mã Tổ: “Phật là gì? Mã Tổ nói: “Tâm ông là Phật.” Ngài phương tiện dỗ con nít khóc.
Ông tăng hỏi tiếp:
- Con nít nín rồi thì thế nào? Tức là tu khá khá rồi đó. Thì Ngài nói: Phi tâm phi Phật
Tức là chẳng phải tâm, chẳng phải Phật.
- Người trừ được 2 thứ này rồi phải dạy y thế nào?
Tức là trừ chỗ tức tâm tức Phật, rồi trừ chỗ phi tâm phi Phật.
- Nói với y, phi vật.
Cái mà trừ 2 thứ này buông luôn.
- Chợt gặp người thế ấy đến thì phải làm sao? Ngài nói:
- Hãy dạy y thể hội đại đạo.
Ngay đó, ông thể hội đại đạo, hỏi gì nữa.
Đến với Thiền sư Triệu Châu hỏi: “Thiền là gì?” “Uống trà đi.” Rồi có người hỏi: “Niết-bàn là gì?” “Uống trà đi.” Chặt đứt các tư tưởng. Muốn biết thiền là gì, muốn biết Niết-bàn là gì, tư tưởng ngay đó bặt, đừng dính mắc gì hết tự nhiên thấy thiền là gì, Niết-bàn là gì, yếu chỉ của thiền là gì. Cho nên ai đến, Ngài cũng có một câu, ba chữ chớ không nhiều. Vận dụng những phương tiện để chặt đứt những tư tưởng là an trú trong giờ phút thực tại thì biết cây bá trước sân của Thiền sư Triệu Châu là gì, ý Tổ sư từ đâu đến. Cho nên các Ngài chặt đứt hết, mà muốn được như thế phải giả lập các phương tiện.
Bồ-tát Phổ Nhãn nói xong, năm vóc gieo sát đất đảnh lễ, thưa thỉnh như vậy lặp đi lặp lại 3 lần.
Bấy giờ Phật bảo Bồ-tát Phổ Nhãn: Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Ông khéo vì các Bồ-tát và chúng sanh đời sau hỏi Như Lai về thứ lớp tu hành, tư duy và trụ trì như thế nào, cho đến giả nói đủ các phương tiện. Nay ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì ông mà chỉ bày các phương tiện.
Chúng ta đừng nghĩ rằng mình học đủ rồi bây giờ không đi nghe giảng nữa. Ngày xưa, giờ Sư Ông giảng trên băng, chúng tôi đi đủ hết. Thiền Tông Việt Nam Cuối Thế Kỷ 20 học ở Thường Chiếu rồi mà giờ nghe băng giảng, chúng tôi vẫn ngồi nghe cho người sau thấy để học.
Cho nên, người xưa làm gì cũng vì chúng, vì lợi ích số đông chớ không vì cá nhân nào hết. Sau này ra làm Phật sự, huynh đệ nhớ làm gì cũng vì số đông, vì hạnh phúc cho tất cả mọi người, thì có những khó khăn, chướng duyên gì mình vượt qua được hết. Còn vì lợi ích cho mình thì làm gì cũng trục trặc. Khi học Kinh Viên Giác nhớ kỹ, các hàng Bồ-tát là vì trong pháp hội, vì chúng sanh đời mạt trong đó có chúng ta, đó là điều phải lưu ý.
Khi ấy Bồ-tát Phổ Nhãn và đại chúng hoan hỷ vâng lời Phật dạy im lặng lắng nghe.
Thiện nam tử! Những Bồ-tát sơ học và chúng sanh đời mạt, muốn cầu tâm viên giác thanh tịnh của Như Lai nên chánh niệm để xa lìa các huyễn.
Phần này, Đức Phật dạy cho những Bồ-tát sơ học, tức là Bồ-tát sơ phát tâm trong hội chúng đó và chúng sanh đời mạt pháp. Bây giờ, chúng ta muốn cầu tâm viên giác thanh tịnh của Như Lai, tức là chứng nghiệm, nên phải chánh niệm để xa lìa các huyễn. Đoạn này chúng tôi phân ra 3 phần:
Phần 1: Chánh Niệm
Kinh Viên Giác thuộc hệ phương đẳng, hệ đại thừa, thuộc hệ thiền đốn ngộ, nếu chỉ tu giáo mà không tu thiền thì không có kinh nghiệm về vấn đề này. Bởi vì, trong Giáo tông, Bát Chánh Đạo, chánh niệm phải có
một đối tượng, chẳng hạn như chánh niệm trong đi, đứng, nằm, ngồi, chánh niệm theo dõi hơi thở; hoặc duy trì tỉnh sáng. Như vậy, chưa lìa được chỗ năng và sở. Còn chánh niệm của tinh thần thiền đốn ngộ, hay nói khác hơn, chánh niệm theo tinh thần của các vị Tổ sư như Lục Tổ Huệ Năng, thì chánh niệm là chỗ vô niệm, cho nên gọi là Vô Niệm Vi Tông.
Hôm trước, tôi đưa ví dụ người muối, lúc nào họ cũng biết họ là người muối, đó là chánh niệm. Nhưng khi họ bước lần xuống biển thì người muối này hòa nhập vào biển thành một. Đó là tinh thần của vô niệm, có nghĩa là ở trong thể đại giác lúc này không còn gọi là chánh niệm hay là vô niệm nữa.
Phần 2: Phàm khởi tâm động niệm trong thể viên giác đều là huyễn hóa.
Trong thể viên giác, chỉ cần nhích một chút là nó mất, là sống ở trong vọng.
Phần 3: Nếu một niệm chẳng sanh thì các huyễn tự diệt.
Giờ ngồi thiền mà chúng ta không khởi một niệm vọng tưởng đây kia thì các huyễn tự mất, chứ không phải dùng phương pháp gì, đó là tinh thần vô niệm. Tinh thần vô niệm này của Ngài Thần Hội:
Vô niệm niệm giả, tức niệm chân như, Vô sanh sanh giả, tức sanh thật tướng.
Vô niệm mà lúc nào cũng tỉnh sáng. Tỉnh sáng này không gá trên chỗ tỉnh sáng. Phần này hơi sâu, lần lần chúng ta học sẽ thấy.
Trong Luận Đại Trí Độ, Tổ Long Thọ cũng nói:
Hữu niệm là nghiệp ma, vô niệm là pháp ấn.
Có niệm tức là niệm sanh tử, là nghiệp ma; vô niệm chính là pháp ấn của mười phương chư Phật. Luận nói:
Tất cả chúng sanh không gọi là giác, vì từ xưa đến nay khởi niệm, niệm tiếp nối chưa từng lìa niệm.
Chúng ta không gọi là giác, chỉ có Phật gọi là bậc “đại giác”, Bồ-tát là “từng phần giác”. Mình khởi niệm này tiếp nối niệm khác dừng không được, khởi liên tục chưa từng lìa niệm, chưa từng bao giờ tách ly niệm cho nên chưa gọi là giác.
Muốn giữ chánh niệm, trước tiên phải nương theo hạnh Sa-ma-tha của Như Lai, giữ gìn các giới cấm, yên ở trong đồ chúng và ngồi yên lặng ở trong thất.
Chỗ vô niệm này khó quá nên Đức Phật đưa xuống một lớp nữa, là Sa-ma-tha. Sa-ma-tha này là Sa-ma-tha của Như Lai chớ không phải Sa-ma-tha thường. Sa-ma-tha thường là chỉ. Chẳng hạn như nương hơi thở, dừng các niệm đó là chỉ; hoặc nương nơi câu niệm Phật hoặc trì chú, tức là có phương pháp.
Tiếng Phạn gọi là Sa-ma-tha, Trung Hoa gọi là chỉ.
Sa-ma-tha, Tam-ma-bát-đề, thiền na là chỉ quán song tu. Như vậy điều kiện ban đầu phải dùng chỉ của Như Lai.
Tông Thiên Thai có 3 loại chỉ: 1. Thể chân chỉ; 2.
Phương tiện chỉ; 3. Tức nhị biên phân biệt chỉ.
Kinh Viên Giác là Thể chân chỉ.
- Thể chân chỉ là thể nhập tính biết, tính viên giác, giống như mặc giáp sắt bên trong, áo mỏng bên ngoài. Ví dụ, chúng ta ra chiến trận, từ xa quân địch bắn một mũi tên, địch đinh ninh mình chết nhưng khi mũi tên trúng mình tự nhiên nó rớt xuống. Đó là thể chân chỉ. Có nghĩa là lúc này không còn dùng phương tiện chỉ hay quán gì nữa, mà niệm đến tự nó lìa. Chẳng hạn khi ngồi thiền, ai đã kiến tánh rồi, niệm đến tự nó rớt. Tuy vậy, người đó vẫn còn những tập khí đời quá khứ cộng với hiện tại. Tuy đã sống với nó rồi, nhưng do nhiều việc, làm nhiều Phật sự, lực yếu thì niệm vẫn đến; nhưng đến, nó tự rớt xuống. Đó gọi là thể chân chỉ.
Ai vào chỗ này mới kinh nghiệm. Ví dụ ngày xưa giận lên để điều phục cơn giận, phải hít thở 1, 2, 3, 4; hoặc niệm nhiều quá dùng phương pháp theo dõi số đếm, theo dõi hơi thở; đó là chỉ của giáo tông. Nhưng thể chân chỉ của Ngài Trí Khải đại sư là chỉ của thiền
đại thừa, nói khác hơn là chỉ của thiền đốn ngộ, là ngay trong niệm thì niệm tự lìa, thấy rõ niệm không có sanh, mà không sanh thì nó không diệt.
Ban đầu là phải mượn thể chân chỉ, ngồi thiền niệm đến nó tự rớt, không quan tâm, giống như mặt trời buổi sáng lên cao sương tự tan không cần làm gì. Cái giác mạnh thì vọng tự lìa, đó gọi là thể chân chỉ.
Sống với thể chân chỉ không phải đơn giản, phải là bậc pháp khí thượng căn, tu sâu nhiều đời thì rớt trong chỗ này. Vọng đến tự lìa, các thiền sư nói là “dậy mòi mà không thành sóng”, nghĩa là vẫn có niệm mà không theo niệm tạo các nghiệp. Ông tăng hỏi thêm: “bỗng khi đó đầm nghiêng núi đổ thì sao?” Thiền sư nói: “Chớ nói ướt góc cà sa của lão tăng.” Có nghĩa là khi gặp nghịch duyên cũng không có đụng đến chỗ thể chân chỉ. Không tu thiền thì không giải thích được chỗ này.
Đức Phật rất từ bi, biết cái này khó quá nên Phật đưa xuống một cấp độ nữa. Không ở trong thể chân chỉ được thì phải: Giữ gìn các giới cấm, yên ở trong đồ chúng. Công phu một thời gian bên ngoài rồi đưa vào thất, ngồi yên lặng ở trong thất. Cho nên phương pháp của Sư Ông Trúc Lâm rất là hay, thiền sinh ở bên ngoài nhào nặn một thời gian rồi vào thất.
Bình thường, chúng ta ở trong đại chúng, có những lúc thích đi chỗ này, chỗ kia, bởi vì còn tập
khí và cũng mới vào đạo. Cũng có khi trốn đi không xin phép, tưởng không có gì, thầy cũng không biết. Chúng ta làm những việc như thế, khi ở ngoài này không thấy gì hết, vì căn tiếp xúc với trần nhiều quá, không thấy những cái niệm đó. Nhưng khi ở trong thất vắng, 6 căn không tiếp xúc 6 trần, chỉ còn ý lăn tăn, 5 căn kia đóng bít. Bắt đầu những hiện tượng khi chúng ta làm những việc sai quy chế trong thiền môn, trong sự tu tập nó hiện lên, làm cho thân tâm trạo cử. Đó là nhờ ở yên trong thất vắng. Khi thấy được như thế, chúng ta sợ nên bắt đầu sám hối từng niệm. Còn chúng ta sống cả đời, khi chết cái này nó hiện ra dẫn đi không kịp sám hối, không kịp tu tập. Cho nên, ban đầu không ở chỗ thể chân chỉ được, là phải giữ gìn các giới cấm.
Do đó, Ngài Hám Sơn nói:
Nếu tu “chỉ” này, trước là phải đem thân tâm trong ngoài một lúc buông xả; buông xả lại buông xả, buông đến chỗ không có gì để buông, thì các vọng tưởng tiêu trừ, trong ngoài rỗng suốt; tức cái chỗ Không này liền hay thể hội chơn tâm. Vọng tưởng chẳng sanh thì tư niệm tự lìa, cho nên dùng “chỉ” làm chánh niệm. Nếu chánh niệm luôn hiện tiền thì các vọng tưởng đốn dứt.
Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên kể câu chuyện:
Cư sĩ Quách Đạo Nhơn làm nghề thợ rèn rất là cực, ông có tâm thích tu thiền. Một hôm, ông đến chùa Cảnh
Đức tham cứu Thiền sư Trung, Thiền sư Trung bảo:
- Ông bỏ hết những cái nặng đi, rồi soi lại ông mà tham cứu, thì việc gì cũng
Đa phần các tôn giáo khác thường hướng ra bên ngoài để tìm một cái gì đó che chở cho mình. Mình rất có duyên may, vì tinh thần của đạo Phật là luôn luôn phải quay lại chính mình.
Trong kinh Nikaya kể câu chuyện ông hiệp sĩ đi tìm một thế giới, ông hỏi Phật: “Bạch Đức Thế Tôn! Trong cuộc đời này có một thế giới không sanh, không già, không bệnh, không chết hay không?”
Phật nói: “Không có thế giới đó.”
Rồi ông nói ông nhớ lại trong thời quá khứ, ông là một thiên thần có thần thông đi nhanh hơn ánh sáng, ông tìm từ thế giới này qua thế giới khác, mà không có thế giới nào không có sanh, già, bệnh, chết; rồi ông gục ngã chết. Chết rồi ông thọ thân kế và tiếp tục tìm mà không có.
Ông nói: “Bạch Đức Thế Tôn! Như vậy là không có thế giới đó sao?”
Phật nói: “Có! Có một thế giới không sanh, không già, không bệnh, không chết, thế giới đó an yên, ở chính nơi thân bảy thước của ông. Thế giới, sự hình thành của thế giới, sự tập khởi của thế giới, con đường đưa đến sự đoạn diệt của thế giới đó ngay nơi thân ông.”
Thế giới là gì? Là vọng tưởng điên đảo tập hợp lại, sinh khởi rồi đến giai đoạn đoạn diệt, thì chính ngay đó nhận ra. Tinh thần từ Đức Phật đến nhà thiền luôn luôn bắt mỗi người phải xoay lại. Thiền sư dạy: Ông phải bỏ hết những gánh nặng của ông, vậy cái gì là gánh nặng trong cuộc đời mình?
Chẳng hạn ở Việt Nam bây giờ có 90 triệu dân thì có 90 triệu gánh nặng, bởi vì mỗi người mỗi nghiệp. Ví dụ, gánh nặng của người này là ham ngủ, của người kia là ham ăn, của người nọ là ham tiền. Tập khí xấu dở là gánh nặng, buông xuống là tức khắc thành tựu chớ đừng nhìn ra ngoài. Mỗi người có một gánh nặng riêng, tức là có những tập khí riêng biệt; bây giờ phải đặt xuống rồi quay lại là xong. Tinh thần nhà Phật rất là đơn giản.
Ông về thực tập một thời gian, một hôm trở lại gặp Thiền sư Trung, Thiền sư bảo:
- Thiện ác như mây nổi, sanh diệt không chỗ nơi. Ngay đây tức khắc ông đại ngộ.
Khi đại ngộ xong rồi, ông nói những chuyện rất là kỳ lạ. Trước khi mất, ông làm một bài kệ:
Sáu mươi ba năm đập sắt, Ngày đêm quạt lửa chẳng thôi. Hôm nay chùy sắt buông rồi, Lò hồng biến thành tuyết trắng. Rồi ông ngồi kiết già tịch.
“Sáu mươi ba năm đập sắt, ngày đêm quạt lửa chẳng thôi”, tức là ngày đêm đều dụng công hết. Đến giai đoạn này rồi thì chùy sắt buông luôn. Ngay chỗ đó gọi là “thể chân chỉ”, nó có diệu dụng là “lò hồng biến thành tuyết trắng”.
Giữ gìn các giới cấm
Vào trong các Thiền viện, từ Tỳ-kheo đến Sa-di, điểm then chốt nhất của thiền sinh là giữ 10 giới làm nền tảng, gọi là Nhiếp luật nghi giới. Hoặc những vị thọ Tỳ-kheo giới, Bồ-tát giới, giữ gìn giới luật của Phật thì gọi là Nhiếp thiện pháp giới, Nhiêu ích hữu tình giới.
Giữ Nhiếp luật nghi giới không phải giữ khăng khăng, tu tập một thời gian, có được chút ít diệu lực thì bắt đầu phải làm các việc thiện sự, các việc Phật sự. Khi làm các việc thiện sự, các việc Phật sự phải giữ Bồ-tát giới.
Giữ Bồ-tát giới giống như có miếng đất toàn cỏ; bây giờ dọn sạch cỏ, gọi là Nhiếp luật nghi giới. Gieo hoa màu xuống trồng tỉa gọi là Nhiếp thiện pháp giới. Đem hoa màu đó để phân phát cho tất cả mọi người cùng hưởng gọi là Nhiêu ích hữu tình giới. Giới này gọi là giới Đại thừa, giới Bồ-tát. Giữ 3 điều này ở yên một mình thì không ổn, Phật nói muốn thành tựu Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới, và thành tựu Nhiêu ích hữu tình giới, thì phải ở trong đồ chúng.
Ở yên trong đồ chúng
Đồ chúng là những người đồng kiến đồng hạnh.
Khi Đức Phật thành tựu quả vị vô thượng thì không có thiền Ấn Độ, thiền Trung Hoa, thiền Nhật Bản hay thiền Việt Nam. Nhưng qua đến đất nước Nhật Bản, người ta gọi thiền Nhật Bản vì hòa quyện vào nơi đó, như trà đạo, kiếm đạo, nhu đạo… Qua Việt Nam thì không giống Nhật Bản được. Qua Trung Quốc dân đông quá, mà tu thiền thì có người tu người không, chẳng lẽ để họ chìm trong biển khổ, cho nên chư Tổ lập ra 10 pháp môn nữa: Hoa Nghiêm Tông, Pháp Hoa Tông, Tịnh Độ Tông, Thiền Tông, Mật Tông… Pháp nào cũng của Phật, nhưng vào thiền viện không thể người này ngồi thiền, người kia niệm Phật, người nọ trì chú. Cho nên vào thiền viện phải tu thiền, pháp nào ra pháp đó. Những người tu cùng với nhau gọi là đồng kiến đồng hạnh.
Lục Tổ nói người nào đồng kiến đồng hạnh thì san sẻ, còn không đồng kiến đồng hạnh thì thành tâm cung kính chắp tay chào. Ở yên trong đồ chúng là phải cùng tu, cùng thực hiện, cùng giữ gìn quy chế thanh quy nơi đó thì mới ở được. Giống như đường rầy, chệch một chút là trật; hoặc bệnh viện chuyên trị bệnh xương khớp mà gặp bệnh tim, bệnh gan người ta không chữa, phải bệnh xương khớp vào đó người ta mới chữa.
Cho nên tại sao vào thời Đường, trong các thiền viện, hằng tuần những vị chức sự vào trong các tăng đường kiểm xem chúng tu cái gì, học cái gì. Ngày xưa, trên Trúc Lâm, Sư Ông dạy tôi là chuyên đi kiểm. Cứ khoảng 10 ngày, khi chúng đi tụng kinh hết, tôi đến, tôi giở đơn lên, coi trong đơn họ học kinh gì. Có những vị, sách của Sư Ông không chịu đọc mà toàn đọc sách gì không, tôi phải tịch thu. Bởi vì, Sư Ông đang dạy pháp thiền đốn ngộ mà đem cuốn sách không phù hợp, có những cuốn sách cũng không phải đạo Phật. Sư Ông Trúc Lâm nói sách của Phật mình đọc đời này qua đời khác cũng không hết. Ngày xưa ở Trúc Lâm, Sư Ông nói vào trong thất, một là kinh Lăng Nghiêm, hai là Kinh Pháp Bảo Đàn, ba là cuốn Thiền Tông Việt Nam của Sư Ông. Ngoài ra không được đem cuốn gì khác khi vào thất.
Công việc tôi nhiều, tôi chưa đi kiểm, sau này bớt xây dựng, bớt công việc lúc đó rảnh, tôi báo trước sách không phù hợp là tôi tịch thu hết. Quý vị coi bộ Thanh Từ toàn tập cả đời cũng không hết, vậy mình coi đủ thứ làm chi, gom vào chi cho loạn não. Cho nên ở trong đồ chúng là phải đồng kiến đồng hạnh, là cái thấy đồng với nhau và hạnh tu cùng với nhau.
Hạnh nghiệp đã đồng thì mài giũa lẫn nhau, cùng nhau bàn bạc để tăng trưởng đạo duyên.
Cái hạnh đã đồng thì khi nghe tiếng kiểng gõ là
lên thiền đường, lên sám hối, mài giũa lẫn nhau mà. Mình ở nhà mài giũa không được. Có những vị Phật tử nói: Con ở nhà con ngồi chỉ nửa tiếng. Quý thầy mở khóa tu 3 ngày, ngồi một ngày 3 thời, thời buổi sáng 45 phút, thời buổi tối 1.5 tiếng và buổi khuya là 2 tiếng, con theo đại chúng con ngồi được. Ngồi ở nhà dù không đau mà con cũng muốn xả.
Giống như một cơn bão thổi qua, có những cây tưởng rằng ngã mà không ngã, là do các cây nương với nhau, lớn nhỏ nương nhau, cho nên cơn bão qua khu rừng không đổ sập bao nhiêu. Mà nếu đứng một mình, cây lớn cách mấy cũng đổ. Hạnh nghiệp đã đồng thì cùng nhau mài giũa, tu tập lớn dần, rồi cùng nhau luận về chỗ thấy biết, chỗ tu của mình để tăng trưởng đạo duyên. Những vị Hòa thượng lớn nói một tuần mà không xem kinh như thiếu thiếu cái gì. Các Ngài nói có nhân có duyên thì mới đồng kiến đồng hạnh, gọi là trụ ở tùng lâm.
Thiền sư Lai Quả khai thị chúng:
Chẳng trụ tùng lâm thì chẳng thể vun trồng Phật nhân, chẳng trụ tùng lâm thì chẳng thể thành tựu Phật quả.
Chúng ta ở trong tùng lâm nấu nồi cơm cũng cho đại chúng, quét một thước đất cũng cho già lam, tất cả các việc đều là hạnh chứng. Ở trong đại chúng, làm cái gì cũng là công đức chớ không phải phước đức hữu lậu nữa. Một lời nói, một hành động, thắp
một nén nhang cũng là gieo hạt giống Phật thừa.
Phải biết tùng lâm là chủ thể của Tam Bảo, cũng là nền tảng hành đạo.
Có cô Phật tử phát tâm cúng dường trai phạn cho Tăng Ni, rồi bỏ bao thơ cúng dường từng vị; tôi nói tinh thần của Sư Ông Trúc Lâm là bỏ chung, bởi vì Sư Ông không cho chúng giữ tiền, có bao nhiêu gửi cho thủ bổn giữ, sau này có bệnh hoạn gì đó thì lên xin. Cúng dường một vị thầy gọi là biệt thỉnh riêng, còn cúng dường Tam Bảo gọi là chủ thể Tam Bảo, trong đó có Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo, cái phước khác hơn là cúng từng người. Ở tùng lâm, cái gì cũng chung hết. Tinh thần của Sư Ông là lục hòa, lợi hòa đồng quân, chia đều. Ai bệnh không lo sợ không có tiền, hoặc chết khỏi lo không có quan tài nếu ở trong đại chúng.
Tùng lâm suy thì chánh pháp không làm sao trụ ở đời lâu dài được. Tùng lâm hưng thịnh thì Tam bảo là phước điền của thế gian.
Ở trong tùng lâm là nền tảng hành đạo, ta làm việc gì cũng cho số đông, cho nhiều người chớ không phải riêng một người nào. Nếu tùng lâm suy thì chánh pháp không trụ ở đời được, tùng lâm hưng thịnh là phước điền lớn của thế gian.
Những bộ kinh lớn như kinh Pháp Hoa, kinh
Duy Ma Cật, khi Đức Phật giảng xong, việc đầu tiên là trời Đế Thích đến, ông đứng lên phát nguyện: “Bạch Đức Thế Tôn, nếu đời sau có những người tin pháp này hoặc tu về pháp này, con sẽ bảo đảm cho đời sống họ không có thiếu thốn gì.” Rồi bắt đầu các vị hộ giới, các vị long thần hộ pháp, tất cả đều phát nguyện.
Ngày xưa, tôi không tin, sau này đi làm các việc Phật sự mới thấy là đúng. Như tôi xây dựng tùng lâm ai cũng nghĩ tôi có kho vàng, mà thật ra trong túi không có tiền. Rồi tự nhiên có người cúng dường, công trình xây dựng xong từng chút một, lạ lùng lắm.
Trời Đế Thích rất sợ tùng lâm suy, người ta không làm phước nữa thì con đường nhân thiên bị chặt đứt, cửa địa ngục mở ra. Mỗi khi, chúng trong tùng lâm tụng đọc kinh điển hoặc tọa thiền, không những loài hữu tình, trong đó có chư thiên được lợi ích mà còn lợi ích cho loài vô tình. Chư thiên rất sợ chúng sanh làm ác, vì làm ác xuống địa ngục thì cõi trời vắng. Vì vậy, nơi nào lập tùng lâm, lập đạo tràng, trời Đế Thích và chư thiên ủng hộ vì các vị thấy cần thiết phải làm điều đó.
Ông Cấp Cô Độc bố thí cúng dường rất nhiều. Ông hiền đến nỗi những người thiếu nợ ông, mặc dù có tiền nhưng họ không trả, ông đòi không được thì thôi, cho nên gia đình ông phá sản. Bữa đó, nhà ông chỉ còn nắm gạo nấu cháo, Phật biết, Phật cầm
bình bát đến đứng trước nhà ông, ông đem cháo ra cúng dường. Phật nói hôm nay ông cúng dường, gia đình ông sẽ chết đói. Ông nói: “Bạch Đức Thế Tôn, thà con chết đời này, gặp Như Lai là con phải cúng.”
Khi đó, ngai vàng Trời Đế Thích nóng lên, ông nhìn xuống xem thế gian có chuyện gì, mới biết ông Cấp Cô Độc đang khởi niệm cúng dường Đức Thế Tôn. Trời Đế Thích gọi Tứ thiên vương lại bảo, ai thiếu nợ ông Cấp Cô Độc, phải làm sao cho họ trả; quả tình họ rần rần đem tiền tới trả. Rồi sai thần Dạ Xoa, thần Càn Thát Bà coi vùng biển nào có châu báu bị chìm không chủ thì đem bỏ vào kho cho ông. Từ đó ông giàu lại.
Người xưa nói người phát tâm trụ tùng lâm năm, ba mươi năm chẳng phạm quy củ, người này đủ phước báu lớn, có chánh nhân lớn. Lại nói nếu ở núi sâu một mình hành đạo chẳng bằng ở tùng lâm ngủ khò.
Gìn giữ đúng quy củ tùng lâm đưa ra, đó là phước báu cực lớn. Ở tùng lâm ngủ xong thức dậy, cùng chúng tu.
Người đã trụ qua tùng lâm, xuất ngoại hành cước nơi xóm làng thành thị, oai nghi tế hạnh, cử chỉ nói nín của người ấy khác hơn người thường khiến mọi người sanh lòng kính mến, tin cậy, đáng là bậc mô phạm, vun bồi phước đức, gieo trồng thiện căn cho hàng cư sĩ.
Chúng ta trụ tùng lâm thì khi xuống phố, về xóm làng, oai nghi tế hạnh, nói năng động tịnh khác hơn người thường. Tùng lâm có quy chế, chệch một chút là quý thầy lớn chỉ cho mình sửa lần lần vào khuôn. Còn ở thất một mình, nhất tăng nhất tự, không có chúng nên không sợ ai nhìn. Ở trong chúng, làm cái gì thô tháo, có đại chúng sẽ nhắc mình.
Mong những bậc trưởng giả tin Phật, tận sức hộ trì chẳng chút kỳ thị, công đức rất lớn.
Nơi nào tu học đúng chánh pháp, có quy chế, quy củ thì mình ủng hộ. Đừng nghĩ chỗ này không phải tu pháp của mình nên mình không cúng dường, không ủng hộ.
Người nào sống trụ tùng lâm, chết được nhập tháp viện. Chẳng những cha mẹ quá khứ siêu sanh tịnh độ, cha mẹ hiện tại tăng phước sống lâu và chính mình cũng tiến sâu vào đạo, sở nguyện đầy đủ.
Ngài Lai Quả nói, chỉ cần tu mười năm trong tùng lâm, đừng nghĩ một niệm nào hết thì cha mẹ chết được sanh thiên hoặc là siêu sanh tịnh độ. Nếu cha mẹ còn sống thì tăng phước sống lâu, mình ở trong đạo nguyện lực gì cũng đầy đủ hết.
Trong kinh Bảo Tích, quyển 72 Phật dạy:
Những ngoại đạo sau khi mạng chung nơi địa ngục được làm thân người, người ấy nên nương thiện tri thức để
nghe nhận pháp bình đẳng của chư Phật. Nghe rồi nên khởi tâm siêng năng tinh tấn, phải ở chung với đại chúng trong thành ấp, trong xóm làng, ở nơi phải có đủ bốn bộ chúng.
Ngoại đạo là không tin Phật, không tin pháp, không tin tăng, tạo những nghiệp bất thiện, thân làm ác, miệng nói lời ác, ý nghĩ điều ác. Tạo nghiệp bất thiện thì chết rớt xuống địa ngục nhưng còn sót một chút duyên nên lên được thân người. Khi được thân người, người này phải nhớ nương thiện tri thức, nương đại chúng ở trong thành ấp xóm làng, ở bốn bộ chúng Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Ở trong đồ chúng, làm gì chúng cũng thấy nên không dám làm bậy. Khi ở một mình, không có người kiểm soát, có những lúc nghiệp địa ngục trổ ra, thân, miệng, ý sẽ làm theo nghiệp địa ngục.
Cho nên, Ngài Hoa Nghiêm nói: “Sở dĩ tôi ở yên trong đồ chúng là vì tâm tôi còn súc sinh.” Ngài tự biết là “tâm tôi còn súc sinh” cho nên không dám tách đồ chúng.
Cùng nhau luận bàn Phật pháp học tập hỏi đáp, như vậy thì sẽ thông đạt được pháp bình đẳng của chư Phật ba đời. Thông đạt pháp không có tự tính, nhờ tu tập theo chỗ thông đạt này mà phiền não tiêu trừ.
Nghe học thì từ từ phiền não mòn dần. Giống như học võ, học hằng ngày không thấy gì nhưng một thời gian phát ra tiếng gió. Lực dụng có, từ từ phiền
não dứt, đó là lợi ích ở trong đồ chúng.
Phật dạy muốn thể nhập viên giác, chúng ta thực hiện Sa-ma-tha; kế là ở yên trong đồ chúng, giữ giới hạnh; phần kế nữa là ngồi yên trong tịnh thất.
Vào thời Đức Phật đã có Ngài Ly Bà Đa, thiền định đệ nhất, là em ruột của tôn giả Xá Lợi Phất, 7 tuổi đi xuất gia, nhận đề mục thiền quán của những vị trưởng lão tu trong một khu rừng. Tôn giả Ly Bà Đa rời chúng ở yên một chỗ, tu 3 tháng chứng quả A-la-hán, được Đức Phật và các vị thánh chúng đến thăm.
Chúng ta được duyên may khi tu tập đường hướng của Sư Ông Trúc Lâm. Ở ngoài làm việc là động, khó kiểm soát được tâm. Xuất gia một hoặc hai năm thì mình được cho nhập thất, Sadi được 30 ngày, Tỳ-kheo được 49 ngày. Ngày xưa, chúng tôi làm tri khách, xong 2 năm thì Sư Ông Trúc Lâm cho nhập dài hạn 4 tháng. Những vị làm chức sự, chẳng hạn như làm quản chúng 3 hoặc 4 năm mới được nghỉ, thì được vào thất 6 tháng.
Tại sao cần ở yên trong thất? Ở bên ngoài cũng tu nhưng năm căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân tiếp xúc nhiều lắm, giống như ly nước quậy suốt bị đục. Còn khi vào thất thì năm căn đóng lại còn một căn duy nhất. Có những vị nhập thất mới một hai lần đến trình chúng tôi cũng bình thường yên ổn mà sao nghe quý thầy ngày xưa nhập thất gặp chướng ngại
nhiều. Khi nhập thất ở yên một chỗ một hai lần thì chưa có gì, đến lần thứ tư, năm, sáu …, mười…, hai mươi, nhân xấu ngày xưa mình gieo bây giờ trổ ra. Vị nào lần đầu vào thất mà được một tháng cũng là có duyên sâu và có sự tu tập trong đời quá khứ.
Khi chúng tôi vào Thường Chiếu, nghe quý Thầy kể lại, có một vị thầy vào nhập thất, đến ngày thứ ba là bể thất. Nguyên do là khi vào nhà vệ sinh, thầy thấy con chàng hiu hả miệng lớn nuốt chửng thầy. Thầy hoảng quá đóng cửa nhà vệ sinh lên ngồi quán chiếu. Thầy quán chiếu hình Phật thì thấy hai cái răng từ từ dài ra. Sợ quá thầy bung cửa ra thất. Do cái nhân cái duyên thời quá khứ tạo, bây giờ không tu tập kỹ nó hiện ra những cảnh giới.
Một vị ở Duy Xuyên, Quảng Nam, ngày xưa, ở ngoài đời rất nghèo, mùa mưa đi bắt ếch bán. Người bắt ếch thường cột chéo chân con ếch lại bỏ vào bao. Khi thầy vào thất hai chân, hai tay thầy nhức đến độ đi không được, và thầy kể, khi thầy cột chân ếch thì nó rỉ nước tiểu ra, thầy vào thất cũng bị y như vậy. Thầy ráng cầm cự hết bốn chín ngày mới ra. Cho nên trong thất suốt bốn chín ngày đó chỉ cầm cự cái bệnh thôi chớ không tu được gì hết. Thầy kể thầy bẻ chân con ếch thầy biết nó đau như thế nào, thì bây giờ thầy vào trong thất nó cũng hiện ra cái tướng đó.
Có một thầy, hiện giờ ở Sài Gòn. Khi nhập chúng, thầy ở trong tăng đường chúng tôi. Khi vào thất, hai chân thầy căng nước tròn bóng mà ra thất thì không có. Thầy kể hồi còn nhỏ ở ngoài đời, thầy hay bắt thằn lằn rồi lấy xi lanh bơm nước cho căng ra nổ cái bụp rồi nó chết, lấy đó làm niềm vui. Do nhân duyên đó, bây giờ quả chín muồi. May mắn có túc duyên vào thất, bệnh trổ ra, quý thầy thành tâm sám hối; nếu chịu thua thì gọi là bể thất, còn ráng ở trong thất sám hối thành tâm thì những đợt sau bệnh thưa dần rồi hết.
Ai vào nhập thất nhiều lần đều bị hết. Tôi nhập thất cũng bị. Tôi còn nhớ nhập thất lần thứ 15, khi vào thất được một tháng thì đi tiểu không được, căng chịu không nổi. Thầy hộ thất nói chịu không nổi thì thôi ra thất, tôi nói ráng cố gắng một hai ngày coi sao, không dám uống nước nữa, lúc đó là thành tâm sám hối, lễ Phật. Tối hôm đó tôi nằm mộng thấy đi xuống nhà vệ sinh ở trong thất, thấy con rắn màu trắng lè lưỡi ra mổ trên mình, lạ một điều nó mổ đến đâu bệnh hết đến đó. Thức dậy, tôi mới phân tích, rắn là xà, con rắn màu trắng là bạch, cái lưỡi thè ra là thiệt. Tôi nhớ lại cách đây ba tháng, khi đi trên một chuyến xe, có người kể chuyện một ông bệnh rất nặng, đi tiểu không được, thầy thuốc cho thang thuốc “bán chi liên, bạch hoa xà thiệt thảo”, tôi nhờ
thầy hộ thất ra tiệm thuốc bắc mua giùm tôi 10 bịch, uống mới 3 bịch là hết bệnh.
Còn có một vị thầy, bây giờ thầy trụ trì ở miền Bắc, vào thất thầy bị quậy tới mức độ thầy tu không được; thầy kể lại mỗi lần ngồi thiền, con mắt thầy nhìn thấy, mình thì không thấy, có người đến kéo bồ đoàn thầy ra.
Tôi nêu lên cho đại chúng thấy, khi chúng ta tạo nghiệp, quá khứ hay hiện tại, vào trong thất thì bắt đầu đổ bệnh, hoặc làm cho mình chướng ngại trên đường tu. Nhờ ở trong thất nên quán chiếu liên tục. Có khi ở ngoài mình tu rề rề hay không muốn tu nữa, nhập thất ra tự nhiên tinh tấn tu trở lại. Hoặc khi mình thối thất Bồ-đề tâm, được nhân duyên vào trong thất, thành tâm sám hối, dụng công thì khi ra thất bắt đầu khác. Người khá hơn, khi chứng nghiệm được rồi thì quyết chí trên con đường tu.
Có túc duyên vào trong thất, khi có hiện tướng lạ, lành hay dữ mặc kệ, hiện bao nhiêu tướng mặc kệ, cứ quay vào bên trong thôi, dầu cho bệnh hay bị gì cũng ráng cố gắng để vượt qua. Tôi để ý, từ xưa tới giờ, chưa có thầy nào trong thất mà tịch, cho nên không phải sợ, bệnh rồi cũng hết, sợ mình bể thất là thua. Ở trong thất, khi bệnh, chúng ta phải quán thật kỹ: Thân năm uẩn như huyễn như hóa. Quán kỹ bắt đầu nghiệp tuần tự trổ ra, chỉ có mình biết thôi;
cái này giảng cũng khó, giảng kỹ người ta nói mình mê tín. Thân trụ thì tâm mới an, tâm rỗng thì cảnh vắng, cho nên Phật dạy là phải ở yên trong thất vắng tu tập để trưởng dưỡng.
Hằng khởi nghĩ thế này: Thân này của ta, 4 đại hòa hợp. Nghĩa là tóc, răng, móng, da, thịt, gân, xương, tủy, não, bụi đất, dơ bẩn đều thuộc về đất; nước mũi, nước mắt, máu, mủ, đàm thuộc về nước; hơi ấm thuộc về lửa; chuyển động thuộc về gió.
Tức là quán đất, nướ,c gió, lửa phải là của ta hay không. Cái này phải quán kỹ, khó lắm không phải dễ. Quán không kỹ thì tu bao lâu nó cũng y nguyên nếu mình không có sức chuyển hóa lớn và không có sự chứng nghiệm. Cho nên, những người họ nhẫn được không phải tu một đời này, họ tu nhiều đời rồi nên có sức nhẫn lớn. Từ khi làm Phật sự, tôi mới thấy, sự tu tập để quán chiếu về năm thủ uẩn không thật của mình là cả một vấn đề, phải chứng nghiệm chớ không phải trên sách vở.
Vào thời Đức Phật, một hôm có một số thầy Tỳ-kheo vào đảnh lễ Thế Tôn. Thế Tôn hỏi:
- Khi vào đây các ông có thấy những vị trưởng lão, những vị Thượng tọa đi ra không?
- Dạ không, bạch Đức Thế Tôn, chúng con chỉ thấy những vị Sadi nhỏ khoảng 7-8 tuổi thôi.
- Những vị đó là trưởng lão, là thượng tọa. Như Lai không nói những vị tuổi hạ lớn, tuổi đời lớn là thượng tọa, là trưởng lão; mà khi nào những vị đó thấy về pháp, chứng về pháp.
Thấy pháp, chứng pháp là thượng tọa; chớ không phải sống vẫn còn sân si, còn đủ hết, chưa chứng nghiệm về pháp, mà đủ tuổi là đưa lên thượng tọa. Vào thời Đức Phật không có như vậy.
Phật nói bài kệ:
Ai sống một trăm năm, Không thấy pháp sanh diệt, Tốt hơn sống một ngày, Thấy được pháp sanh diệt.
Vua Trần Thái Tông nói: “Ở cửa Không mà chưa thành vô ngã”, là do không có quán chiếu, không có chứng nghiệm. Khi chúng ta ra làm Phật sự rất dễ bị mấy cái này. Tôi chứng kiến có những vị tu ba, bốn chục năm mà đụng một chút là nổi sân; như vậy là ba, bốn chục năm họ chưa từng quán chiếu. Nếu mình có những hiện tượng như vậy thì mình phải đóng cửa thất, coi lại phương pháp tu tập có sự chuyển hóa hay không. Vào thời các chư Tổ, như Tổ Quy Sơn, Ngài Bá Trượng, Ngài Hoàng Bá ở năm bảy trăm người, một ngàn người là các Ngài sống trong cảnh giới vô ngã.
Tại sao gọi là Phật bảo? Bảo là quý, Đức Phật ra đời mấy ngàn năm, giáo lý của Ngài là tiếng nói của vạn pháp. Đức Phật chưa ra đời, chúng ta liệng cái ly này xuống nó bể; khi Đức Phật ra đời, hoặc đã nhập Niết-bàn, cái ly này rớt xuống nó cũng bể, bởi vì bản chất các pháp là vô thường. Mình học pháp thì mình bớt khổ, được cái vui không gì quý bằng nên gọi là Pháp bảo. Nhưng tại sao đưa Tăng bảo ngang hàng Phật bảo, Pháp bảo? Bởi vì Tăng là một đoàn thể bốn người, tinh thần của Tăng là hòa hợp như nước với sữa không có lợn cợn, muốn được hòa hợp là phải vô ngã, sống mà không vô ngã thì ở chung không được.
Yết-ma của chư Tăng, tất cả các vị có mặt phải đồng ý thì yết-ma đó mới thành. Ví dụ, chúng ta có buổi họp yết-ma, chẳng hạn như hỏi: “Việc này tôi làm đại chúng đồng ý không?” 49 người đồng ý, 1 người không đồng ý, yết-ma không thành tựu.
Phật dạy tiếp:
Nếu bốn đại này mỗi cái lìa nhau, thì hỏi vọng thân này, chính nó ở chỗ nào?
Khi đất trả về đất, nước trả về nước, gió trả về gió, lửa trả về lửa gọi là bốn đại phân ly, tan rã thì hỏi thân này ở chỗ nào.
Liền biết thân này rốt ráo không có tự thể, do hòa hợp làm tướng, thật đồng với huyễn hóa. Do bốn
duyên giả hợp, vọng có sáu căn.
Phật nói biết thân này rốt ráo không có tự thể, phân ra từng chỗ thì không có gì hết. Khi mê, chúng ta chấp cứng cái thân này, xả không được, nên ai đụng tới liền nổi sân lên. Từ cái chấp đó rồi dung chứa, tạo vô số nghiệp cho cái thân này.
Do đó Phật dạy là phải quán thân vô ngã, bởi vì thân là cội gốc của tham ái và khổ đau.
Cho nên, Phật dạy phải quán chiếu kỹ. Hễ khi mất thân này lại chụp thân khác, cứ như vậy sanh tử liên miên, không có một phút giây nào tỉnh.
Trong kinh Pháp Cú Thí dụ có kể câu chuyện:
Tại thành Xá Vệ có bốn thầy Tỳ-kheo hỏi nhau: “Khổ đau lớn nhất trong thế gian này là gì?”
Thầy Tỳ-kheo lớn tuổi nhất nói:
- Khổ đau lớn nhất trong thế gian này là tham ái. Vị thứ 2 nói:
- Khổ đau là do sân hận. Vị thứ ba nói:
- Không phải do sân hận mà do đói khát. Vị thứ tư nói:
- Khổ đau lớn nhất của con người là sự sợ hãi.
Bốn người không ai chịu nhường ai nên đến đảnh lễ Thế Tôn. Nghe trình bày xong, Đức Phật dạy:
Này các ông! Các ông bàn luận chưa đến chỗ cùng tột ý nghĩa của khổ đau. Khổ đau trong cuộc đời không gì hơn là sự hiện hữu của cái thân này. Tất cả những nỗi đau khổ, đói khát, nóng lạnh, sân hận, sợ hãi, tham ái, tai họa đều bắt nguồn từ cái thân này.
Đúng như vậy, nó là cái gốc. Sân hận, đói khát, sợ hãi, tham ái đều từ chấp ngã. Cho nên, Lão Tử nói: “Ta có cái họa lớn vì ta có thân này, nếu ta không có thân này thì làm gì có họa lớn.”
Thân là cội nguồn của các khổ đau, là manh mối của tai họa, lao tâm, khổ trí, sợ hãi cũng từ cái thân này.
Đại chúng thấy mấy con thú buổi sáng đi kiếm ăn, kiếm được con mồi nó ăn no xong là đi ngủ. Còn con người không được như vậy. Vì lao tâm, khổ trí, sợ đói khát nên gom góp đủ thứ.
Vì thân này mà chúng sanh trong ba cõi tàn hại lẫn nhau, chúng ta bị trói buộc trong sanh tử triền miên đều do cái thân này.
Giết hại, tàn sát lẫn nhau cũng do cái thân này. Chẳng hạn như chiến tranh là do đụng chạm về quyền lợi, ban đầu là quyền lợi cá nhân, kế là quyền lợi của tập thể. Con người sát hại lẫn nhau cũng vì ba mục tiêu chính là ăn, mặc, ngủ. Cuộc đời mình may mắn, cũng có túc duyên sâu, chớ nếu sống trong cuộc đời chỉ ăn, mặc, ngủ rồi chết thì cũng như khúc
gỗ mục. Mình cũng phải ăn, mặc, ngủ, nhưng bây giờ khác hơn người thường một chút là “tam thường bất túc” hay là “thiểu dục tri túc”, biết đủ khi ăn, mặc, ngủ. Ngày xưa, mình ngủ thoải mái, bây giờ 3 giờ sáng bắt buộc phải dậy. Buổi trưa 1 giờ ngủ, 2 giờ phải dậy. Mặc đơn giản theo qui chế chung, ăn thì có gì ăn đó chớ không phải chê ngon chê dở.
Muốn lìa khỏi đau khổ ở thế gian nên cầu tịch tĩnh, nhiếp tâm chánh định, không khởi vọng tưởng mê lầm thì đạt được Niết-bàn, đây là niềm vui tối thượng bậc nhất.
Ngay thân này, không biết tu tập là đau khổ; mà ngay thân này, mượn thân này cầu sự tịch tĩnh, nhiếp tâm chánh định tức là thiền tập, là trưởng dưỡng. Con người hơn con thú ở chỗ nhiếp tâm được, chuyển hóa được. Tại sao chúng ta không thấy điểm tối thượng này của loài người, là biết tu tập, biết chuyển hóa chớ không phải giàu có hay quyền lực. Thời mạt pháp, chúng ta vẫn có con đường tu. Đại chúng cứ đi đi, con đường sáng này mở ra từ khi Đức Phật chứng nghiệm, chỉ dạy, cơ hội này là cơ hội cuối cùng.
Rồi Thế Tôn nói bài kệ:
Thiêu đốt nào hơn dâm, Độc hại nào hơn giận. Khổ đau nào hơn thân, Vui nào hơn Niết-bàn.
Tham ái, giận hờn, và mang thân phận kiếp người nhưng không có gì vui bằng Niết-bàn.
Không ham điều vui nhỏ, Chút tài trí khôn lanh, Xét tìm điều lớn hơn, Mới được an lạc lớn.
Phật dạy đừng ham điều vui nhỏ, ở trong cuộc đời này được danh, được lợi cũng vui nhưng mà cái đó nhỏ và mỏng manh lắm. Nếu danh lợi là vui lớn thì Phật đâu có đi con đường này, Sơ Tổ Trúc Lâm cũng vậy, Tổ Huyền Quang đỗ Trạng nguyên cũng bỏ. Như vậy là ở trong Phật pháp có cái gì cao siêu hơn nên các Ngài mới dám bỏ danh lợi. Vương vị các Ngài coi như đôi dép rách, như vậy rõ ràng là trong Phật pháp phải có cái gì hơn, xét tìm điều lớn hơn là tu tập thì mới được an lạc lớn.
Ta là bậc Thế Tôn,
Giải thoát không ưu sầu, Vượt qua khỏi ba cõi, Hàng phục các chúng ma.
Đức Phật nêu lên để cho các thầy Tỳ-kheo thấy là Đức Thế Tôn vượt qua khỏi ba cõi, hàng phục các ma oán.
Nên Kinh Duy Ma Cật nói, nhân bệnh mà giảng thuyết các pháp vô thường, khổ, không, vô ngã để khuyên
người lo sợ mà nhàm chán cái thân để tu tập.
Bồ-tát Duy Ma Cật khuyên các vị chư thiên và loài người, đi cùng Bồ-tát Văn Thù đến thăm Ngài, quán chiếu thật kỹ về cái thân này để mà tu tập.
Rồi kinh Niết Bàn dụ 4 con rắn độc để dụ cho cái thân, khiến cho mọi người chán lìa.
Kinh Niết Bàn Phật dụ, có người nuôi 4 con rắn độc ở trong cái rương: rắn hổ đất, hổ lửa, hổ gió, hổ nước. Ông nuôi như thế nào để 4 con không nghịch nhau. Bữa nọ, nó cắn ông chết, sau đó, 4 con tìm đường đi ra.
Phật nói: Thân này cũng vậy. Người lớn tuổi gặp mưa là cảm nước, rồi mai chiều ngồi bờ hồ chơi bị trúng gió; 4 con rắn độc, điều hòa không được, nó cắn nhau, mình chịu không nổi, cái thân mình như thế thôi. Tuổi trẻ thì không thấy gì, chừng 50 tuổi là chân cẳng bắt đầu muốn rã ra.
Do đó, Phật dạy:
Phải luôn tư duy quán chiếu trong 4 oai nghi để nhàm chán, không chấp thủ cái thân.
Bây giờ, chúng ta mượn thân này để tu tập, làm các việc thiện pháp. Khi hiểu ra, tuổi cũng lớn rồi nên tôi cố gắng làm. Mỗi ngày làm một chút thiện sự, một chút thiện pháp tạo cái duyên. Từ khi vào Thường Chiếu, lên Trúc Lâm, chúng tôi có một điều
là xả thân cho Tam Bảo, xả thân nhưng không cầu, gọi là “vô sở cầu hạnh”. Khi nhân quả tròn đủ rồi, tự nhiên đạt tới chỗ gọi là “xứng pháp hạnh”, không mong cầu mà tự nó đến.
Người xưa nói Tam Bảo không cô phụ ông, tôi làm Phật sự tôi mới tin. Khi tôi về Thường Chiếu trình sư phụ: “Bạch Thầy! Sau này đường cao tốc qua chúng con tính xây bờ kè.” Sư phụ nói: “Xây bờ kè xấu lắm, mấy chú mua đá tảng ốp vô.” Tôi giật mình, sư phụ dạy thì phải làm không trái được, mà vừa tiền đá, vừa tiền xe cũng phải 10 tỷ, không thể làm nổi! Bất ngờ, công trình đường cao tốc họ khui lên một hầm đá, họ hỏi quý thầy lấy không họ cho; mình ốp dọc hết bờ hồ mà đá vẫn còn dư, chỉ tốn một ít tiền vận chuyển, về sau bên công trình họ chở cho mình luôn; bởi vì họ chở đi đổ mà không có chỗ đổ, đổ cho thiền viện họ mừng quá, hai bên đều có lợi.
Cái nhân mình tạo như thế nào bây giờ nó tương xứng, gọi là ứng cơ, để phổ ra các việc cho mình làm Phật sự. Làm các việc cho Tam Bảo trong tùng lâm, tôi thường nói: Mình làm cho mình. Đâu phải một đời mình tu xong, Đức Phật trải dài trong con đường sanh tử, đời nào Ngài cũng lập hạnh Bồ-tát. Ngài cần việc gì là được đáp ứng, chỉ cần khởi niệm là việc đến tương xứng, là do Như Lai nhiều đời tạo những việc này, giờ thành tựu.
Bây giờ, chúng ta hiểu rồi, mượn cái thân này làm. Giống như đi biển không có thuyền bè làm sao đi, gặp được chiếc thuyền rồi lên thuyền thẳng tiến.
Phật kể câu chuyện trong Kinh Đại Tập:
Có ông thầy thuốc cực kỳ giỏi, ông mà trị là lành bệnh. Một hôm vua nước láng giềng bệnh nặng mời ông qua trị.
Ông thầy thuốc thấy vua tiếp đãi không niềm nở nên chỉ chữa sơ sài, vậy mà vua hết bệnh. Sau khi hết bệnh, vua chỉ cho ông vài đồng lẻ, ông nghĩ sao chữa cho vua hết bệnh mà không thưởng gì hết.
Trên đường về, ông thấy một người đang lùa một bầy ngựa, hỏi của ai thì người lùa ngựa kể ông vua bệnh nặng, thầy thuốc chữa hết bệnh nên thưởng cho thầy thuốc. Đi một đoạn nữa, ông thấy một bầy bò, hỏi bầy bò của ai, ông chăn bò nói bầy bò này của ông thầy thuốc chữa bệnh cho vua. Về đến nhà, ông thấy cung điện có kẻ hầu người hạ, tưởng ai đến chiếm khu nhà của ông, ông vào hỏi người nô bộc, nói vua thưởng cung điện cùng 500 người hầu cho thầy thuốc đã chữa bệnh cho vua.
Lúc này, ông thầy thuốc ngửa mặt lên trời nói: “Phải chi mình chữa tận tụy chắc vua cho mình nửa giang sơn.”
Phật nói: cũng như thế. Khi làm phước, bố thí cúng dường, không thấy gì rồi nản không làm nữa. Nhưng lúc có niềm vui ở cõi chư thiên mới nói: “Phải chi hồi đó làm nhiều hơn…”
Không phải ai lên cung trời Đao Lợi cũng được cung điện, tùy theo phước lực cúng dường bố thí ở dưới đây, lên các cõi được như thế nào là do dưới đây tạo phước như thế ấy.
Có câu chuyện:
Ông trưởng giả sanh lên cõi trời Đao Lợi, có cung điện nhưng hào quang yếu mà sống đời cô độc. Ngược lại, người đầy tớ cũng sanh lên cung trời Đao Lợi mà cung điện hào quang sáng rực, 500 thiên nữ theo hầu.
Ông trưởng giả thắc mắc, tôn giả Mục Kiền Liên nói:
- Khi ông cầm tiền đưa cho y để bố thí cúng dường ông miễn cưỡng không Ngược lại y cầm tiền của ông bố thí cúng dường mà tâm y hoan hỉ tưởng như tiền này là của mình. Do tâm lượng như thế nên nó biến hiện ra cung điện, còn ông miễn cưỡng làm nên cung điện ông hào quang yếu và ông cô độc.
Thêm một câu chuyện:
Khi Đức Phật đi thăm Ngài Ly Bà Đa, là em của tôn giả Xá Lợi Phất, đường đi rất là xa; nhưng khi biết trong chuyến đi có Ngài Sivali, phước đức đệ nhất, Đức Phật quyết định đi đường tắt trong rừng, chỉ mất 3 ngày, thay vì đi đường thẳng phải mất 10 ngày. Tôn giả Xá Lợi Phất lo rằng đường rừng nhiều thú dữ, không có làng mạc, không ai cúng dường. Đức Phật nói:
- Phước lực của tôn giả Sivali rất lớn, chỉ thua Như
Lai, đi đường rừng cũng sẽ có người cúng dường. Quả thật, cả tăng đoàn được cúng dường đầy đủ.
Tôn giả Xá Lợi Phất hỏi nguyên nhân, Phật kể: Trong thời Phật Ca Diếp, tôn giả Sivali nhà nghèo,
một hôm ông vào rừng đốn củi, bắt được một tổ ong lớn. Ông trưởng giả muốn mua lại tổ ong, sẵn sàng trả ông một số tiền rất lớn, đủ để ông sống cả đời. Biết được ông trưởng giả muốn mua tổ ong để cúng dường Đức Phật Ca Diếp, Sivali nhất định không bán và đem mật ong này cúng dường Đức Phật và thánh chúng. Phật Ca Diếp biết được tâm lượng của vị nông dân, Ngài dạy vắt ra hết chia đều cho Thánh chúng và cho hết dân trong vùng.
Do cái phước trải dài 91 tiểu kiếp, Ngài sanh ra bất cứ nơi nào cũng sung túc. Bây giờ, ở Việt Nam, những người làm ăn đều thờ Ngài, mà không hiểu thờ Ngài mình phải làm gì. Nhiều người nói thờ Ngài sao con xin không được, nói vậy là Ngài ban phước giáng họa rồi. Không phải như vậy. Thờ Ngài là học theo hạnh của Ngài, biết xả ly, biết bố thí, cúng dường đúng lúc.
Kinh Bảo Tích, Phật dạy:
Khi thân này sinh thì cùng loại với 4 đại chủng của cha mẹ. Nếu thân Ca-la-la1 chỉ có đất mà không có nước,
- Thân Ca-la-la là thân phôi thai ở giai đoạn đầu tiên, ngay sau khi tinh cha và huyết mẹ hòa hợp.
thì giống như vắt một nắm gạo rang, chúng không thể nào kết dính được. Nếu chỉ có nước mà không có đất, thì như dầu như nước không cứng chắc, không chảy lan. Nếu chỉ có đất và nước mà không có lửa, thì như vào mùa hạ, đặt cục thịt ở chỗ không có ánh sáng mặt trời, thì thịt sẽ hư hoại. Nếu chỉ có đất, nước và lửa mà không có gió thì thân không có tăng trưởng.
Sở dĩ, con nít lớn là do gió chuyển động từ từ. Thân phải đủ 4 đại mới trưởng dưỡng thân này lớn mạnh lên, thiếu bất kỳ “đại” nào cũng không được.
Kinh Duy Ma Cật nói:
Bốn đại hòa hợp giả nói là thân, bốn đại không có chủ cũng không có ngã.
Rồi Phật dạy tiếp:
Như thế thì biết thân này hoàn toàn chẳng có tự thể, do hòa hợp thành có tướng, thật đồng với huyễn hóa.
– Thứ nhất là do quán xét mà biết được 4 đại chẳng phải ngã, chỉ căn cứ theo hòa hợp, giả gọi là thân, thân này không có thực thể.
Tức là quán chiếu liên tục, khi quán chiếu thuần thục, lỡ người ta đụng hay nói nặng, thì nó có chỗ dừng, giống như đi xe có thắng.
- Kế là quán tâm vô ngã. Tâm không có tự tướng, nhờ có cảnh mới sinh nhưng tính của cảnh vốn không, do tâm
nên mới hiện. Căn và trần cảnh hòa hợp tợ như có tâm duyên, suy xét trong ngoài đâu là tự thể của tâm.
- Chúng sanh chìm đắm mãi trong sanh tử là do chẳng liễu ngộ tâm này. Nếu liễu ngộ được tâm này thì viên giác tự hiện tiền.
Nếu liễu ngộ được thân tâm là giả không có tự thể, quán chiếu thật sâu thì tức khắc viên giác hiện tiền. Cho nên Kinh Lăng Nghiêm nói: Tính cuồng tự dứt, dứt tức là Bồ-đề.
Trong Kinh Tương Ưng Bộ:
Một hôm có vị cư sĩ hỏi Phật:
- Bạch Thế Tôn! Tại sao ngoại đạo có G2 kiến chấp? Như họ chấp thế giới này thường còn, thế giới này chẳng thường còn; thế giới này hữu biên, thế giới này vô biên; thân này thật có, thân này không thật có; Niết-bàn còn có, Niết-bàn không còn có; và chết còn hay là mất? Như Lai mất rồi đi về đâu…?
Như có người hỏi con gà có trước hay quả trứng có trước, dầu có trả lời đúng thì đau khổ không có chấm dứt. Mục đích của đạo Phật là chấm dứt những nỗi khổ trong cuộc sống, còn họ hỏi cái gì cũng đều là chấp ngã, không ngoài 62 kiến chấp của ngoại đạo, giống như con cá chạy đằng nào cũng không lọt lưới kiến chấp.
Người ta hỏi mình trả lời, tưởng chừng thông minh; tưởng mình hay nhưng rốt cuộc tào lao không đúng gì hết. Chúng ta bằng Phật không? Mà tại sao có những ngoại đạo Phạm chí hỏi Phật: Thân này ngã hay vô ngã, Ngài im lặng. Học kinh Phật mình phải hiểu đằng sau sự im lặng của Phật là gì, chớ không phải nghĩ mình giỏi hơn Phật rồi trả lời thao thao bất tuyệt.
Phật dạy:
- Do có thân kiến nên họ có kiến chấp như thế. Vậy ông có biết thân kiến là gì không?
Ông cư sĩ đáp:
- Bạch Thế Tôn, do chấp về sắc uẩn là ta, là của ta; thọ uẩn là của ta; tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn là ta, là của ta; đó là thân kiến.
Phật khen: Đúng thế!
Do chấp sắc uẩn là mình, thọ, tưởng, hành, thức là mình cho nên có cái chấp. Như vậy, khi hỏi là đã có trả lời rồi. Phật biết trả lời như thế người đó ngộ hay không, có nhận được hay không, hay là còn dính mắc. Phật thấy tư tưởng của họ, còn chúng ta đâu có thấy, nên trả lời bừa thôi.
Như vậy, Đức Phật dạy, ban đầu nếu chúng ta thể nhập viên giác không được, thì phải ngồi yên trong thất vắng, quán 4 đại, quán về thân tâm, quán về 5
uẩn. Quán để chứng nghiệm vào chỗ này tu tập. Một trăm người nếu ai cũng vô ngã thì hòa hợp. Sở dĩ đụng chạm, cự với nhau là có ngã vậy thôi.
Trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phật phóng hào quang, khi phóng hào quang rồi toàn chúng ai cũng thấy, ngày xưa không thấy bây giờ thấy hết. Bởi vì ngày xưa chấp ngã. Khi phá vỡ cái chấp ngã, không còn giận hờn nữa thì mới thấy nhau. Đạo Phật quá vi diệu, có pháp tu, có pháp chuyển hóa. Pháp là Phật dạy, Phật đưa ra hết, chúng ta chỉ có tu tập thôi.
Phật dạy quán kỹ thân tâm năm uẩn để thấy nó là duyên giả hợp, bớt chấp. Bớt chấp, thứ nhất là bớt khổ, thứ hai là để thể nhập tính viên giác.
Phật dạy cho Bồ-tát Phổ Nhãn và đại chúng:
Bốn duyên giả hợp mới vọng có sáu căn. Sáu căn, bốn đại trong ngoài hợp thành, vọng có duyên khí tích tụ trong đó, tựa như có tướng nhân duyên hiện ra, nên giả gọi là tâm.
Niệm khởi thầm thầm, tạm gọi là tâm. Bốn duyên tức là bốn đại, là đất, nước, gió, lửa. Bốn đại này hòa hợp thành một sắc, tạm gọi là mình có mặt trong cuộc đời này; bốn đại này mà phân rã, không còn tích tụ nữa thì không có mặt trên cuộc đời này. Thân phận của mình gọi là duyên sinh, duyên sinh thì có mặt, duyên diệt thì không có; nói khác hơn là cái này
sanh thì cái kia sanh, cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không. Quán kỹ để chúng ta bớt chấp, gọi là bớt chấp ngã, để chúng ta bớt khổ.
Trên cái sắc đất, nước, gió, lửa mới có sáu căn. Sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; nếu lìa sắc thân này thì căn vốn vô thể. Chúng ta còn sống tức là duyên sinh, là khi bốn đại tích tụ, sáu căn hoạt động: mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân xúc chạm, ý khởi niệm. Con người khi chết vẫn còn năm căn, nhưng khi bốn đại tan rã, đất, nước, gió, lửa trả về đất, nước, gió, lửa, có mắt nhưng không thấy, có tai nhưng không nghe … Như vậy, khi đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng… bên trong chúng ta phải có một cái gì nữa để nó hoạt động, vì lìa sắc thân này thì căn vốn không có tự thể.
Khi bốn đại phân ly, sắc chẳng còn tồn tại, thì sáu căn này nương gá vào đâu?
Trong Quy Sơn Cảnh Sách: “Giống như lưới thủng, chim bay, thức tâm theo nghiệp, nặng đâu thì sa đó.” Nó sa chỗ nào thì bám dính, cho đó là cái của mình, tức là tiếp tục con đường luân hồi sanh tử.
Giống như ông thần Táo, khi bốn đại phân ly, ông xuất ra, gá vào ba cục gạch, chấp cho đó là của mình. Vì là thần nên linh hiển, người ta sợ nên cúng đủ thứ cho ông hưởng. Một hôm, có vị thiền sư đến gõ vào ba cục gạch, tức là gõ vào đầu ông, Ngài nói:
- Đây là đất, nước, gió, lửa, bốn duyên hợp thành, linh từ đâu mà có?
Ví dụ hôm nào đó, ai nói gì mình giận, mình chấp ngã nên bực tức, có vị thiện tri thức gõ lên đầu: “Đây là đất, đây là nước, đây là gió, đây là lửa, giận từ đâu?” Ngay đó nếu tỉnh là mình ngộ. Thiện tri thức có năng lực phát ra, ở đây ý chúng tôi muốn nói là mình có niềm tin ở đâu, đến đó tu thì thành tựu. Nếu không có niềm tin, đến để tu gá, tu nương thì đừng đến. Khi thiện tri thức nói, mình tin nhận, nghe thì tu tiến; còn nói mà cứ trơ trơ thì tu không tiến. Nhân duyên tích tụ Thầy trò phải có, cho nên khi thiền sư gõ vào thần Táo, ông thức tỉnh liền.
Ngày xưa, tôi ra vùng Thái Nguyên giảng pháp, có một số người nói với tôi là ở trên núi có thờ những vị thần, mỗi năm cúng một con heo, năm nào quên cúng là trong làng chết một người. Họ nói từ ngày Sư Ông Trúc Lâm ra, dân làng biết Phật pháp nhiều, bây giờ người ta không muốn cúng heo nữa, nhưng họ sợ nếu không cúng thì trong làng có người chết. Họ nhờ tôi giúp giùm. Tôi nói tôi không phải Sơ Tổ Trúc Lâm, ngày xưa Sơ Tổ đi phá các “miếu dâm từ2”, dạy dân chúng hành thập thiện, tôi thì không bảo đảm, nhưng mà tôi cũng thử giúp.
- Miếu dâm từ là những nơi thờ tự tà vậy, mê tín, không phù hợp với chánh đạo.
Tôi mời dân làng lên núi hết, trước tôi niêm hương bạch Phật, rồi tôi nói: “Các ông hưởng thụ nhiều năm rồi, thôi bây giờ tu đi.” Tu thì phải có Phật, tôi thỉnh tượng Phật cầm hoa sen cao khoảng 7 tấc lên thờ, rồi thỉnh các vị thần núi ngồi ở dưới tượng Phật. Dân làng họ sợ, tôi nói, tôi ở bảy ngày, đúng bảy ngày tôi không bị gì thì tôi rút, tôi còn đi chỗ khác nữa. Qua phần này ý chúng tôi muốn nói, mình cũng phải có nhân có duyên với vùng đó thì may ra mới giúp được.
Thiền sư gõ lên đầu ông thần Táo thì ông nghe, ông thức tỉnh, tự nhiên cái miếu sập liền, trong nhà thiền gọi là “thùng sơn lủng đáy”. Khi thức tỉnh, nhận ra cái này không phải của mình, là cái chấp rơi rớt, thân tâm ngũ uẩn rã hết, huống chi là cái miếu. Thiền sư vừa ra thì miếu sập liền, không còn chấp nữa. Cho nên, người xưa nói, “một lần chết đi để ngàn năm sống lại” là chỗ này.
Thiền sư đi được đoạn đường xa, có một người áo mão cân đai đón đường Thiền sư, đảnh lễ ba lạy:
- Xưa đến giờ con bám vào đây mấy trăm năm rồi, con cho cái miếu này là của con từ đời này qua đời khác, sập rồi xây lên không biết bao nhiêu lần. Hôm nay nhờ Hòa thượng khai thị, con nhận ra được pháp vô sanh, con xin từ biệt Hòa thượng để sanh lên cõi Trời.
Thiền sư nói:
- Vô sanh là bản thể của ông, không can hệ tới tôi. Ngay tức khắc thần Táo giải thoát.
Thiền sư cứu thần Táo là cứu đến nơi đến chốn để ông được giải thoát luôn, bởi vì lên cõi trời vẫn còn luân hồi. Ngài nhấn mạnh: “Vô sanh là bản thể của ông, không can hệ tới tôi”. Nhận chỗ vô sanh làm bản thể, tức khắc thần Táo giải thoát. Thiền sư Ngài chỉ khai thị thôi, còn nhận hay không là do bản thân người nghe.
Do bốn đại và sáu căn hoà hợp thành thân thì liền có sáu trần vọng hiện.
Do căn trần trong ngoài dẫn khởi, vọng tâm duyên lự không dứt, niệm niệm sanh diệt, sát-na chẳng dừng trụ.
Nếu không có sức công phu, không có sức tu là bị sáu trần dẫn, giờ chúng ta có pháp tu nên tạm dừng bớt. Khi rớt trong cõi Ta Bà này rồi thì bị nghiệp lực chi phối, dẫn dắt. Bị căn trần trói buộc, vạn pháp chi phối, giống như bị nhốt vượt không được, chìm đắm trong đó rồi sanh sáu thức, bắt đầu phân biệt, chấp ngã, từ đó cái khổ liên lũy không dứt được.
Duyên hợp thì có, duyên tan thì không, suy tìm tự thể của chúng thật không thể được. Cho nên nói: “Giả danh là tâm”. Tâm hư vọng này tuy nhờ duyên mới sinh, nhưng không lìa khí phần của chân tâm, nên gọi là duyên khí.
Tâm hư vọng này nhờ duyên mới có, thường chúng ta thấy nó lờ mờ; nhưng khi mắt tiếp xúc với sắc, tai tiếp xúc với thinh, mũi tiếp xúc với mùi, lúc này mới thấy rõ ràng có cái gì bên trong hoạt động rất mạnh, rất liên lũy. Tuy nhiên bên trong còn có một cái gì làm chủ. Tâm vọng này giống như là sóng, chơn tâm giống như nước. Nếu chúng ta khéo dừng, sống với chơn tâm, thì vọng này tự lìa.
Đức Phật dạy tiếp:
Này Thiện nam tử! Tâm hư vọng này nếu không có sáu trần thì không thể có. Bốn đại phân tán thì sáu trần cũng không có. Trong đó duyên, trần, mỗi mỗi đều trở về chỗ diệt tận, rốt ráo không thấy có duyên tâm.
Tổ Huệ Khả bất an vì Ngài cho cái suy nghĩ, vọng tưởng là của mình. Khi Ngài tìm đến Tổ Đạt Ma, Tổ Đạt Ma hỏi vì cái gì mà đến. Ngài đáp tâm con không an. Tổ Đạt Ma bảo đem tâm ra thì Ngài quay lại tìm tâm không được.
Phật dạy rốt ráo không thấy có duyên tâm. Do chấp thân này là thật, sáu căn, sáu trần là thật, thì đúng là có cái tâm hoạt động. Khi quán chiếu, phá vỡ sáu căn, sáu trần, sáu thức; giống như ông Hắc Thị Tu buông hết không còn chấp nữa thì chơn tâm hiện hữu, còn duyên tâm là không có thật. Khi bốn duyên, sáu trần đều trở về chỗ diệt tận thì tâm không có, còn càng chấp là càng vọng động, càng vọng tưởng.
Như ngày xưa, chúng ta cũng làm việc đó mà tâm bức xúc, khó chịu, phiền não. Bây giờ có sức dụng công rồi, làm lại việc đó thấy bình thường, bởi vì không dính mắc vào căn và trần thì thức không làm việc, rốt ráo nó không có. Hiểu được chỗ này thì trên bước đường dụng công, chúng ta làm tất cả việc Phật sự mà giống như không làm, nên không có vận sức nhiều; cũng nhổ cỏ mà bây giờ biết cách tu nhẹ nhàng, còn nếu dính mắc vào chỗ thân tâm năm uẩn rồi thì suy niệm đủ thứ: Tại sao thế này, tại sao thế kia… Còn làm mà không chấp, không dính mắc thì duyên tâm không có, chúng ta sống với chỗ thực tại, mà thực tại thì vô nhất vật.
Cho nên khi có người hỏi các vị thiền sư: “Hòa thượng lớn tuổi rồi sao làm việc nhiều vậy?” Các Ngài nói: “Tôi có làm gì đâu”. Hoặc nói: “Hòa thượng tu sao gắt quá!” “Tôi có tu gì đâu”. Làm hay tu gì các Ngài cũng phủ nhận. Sống như vậy rất là thích thú, an ổn. Khi không còn dính mắc thì rốt ráo không có.
Tâm nương vào sáu trần, sáu trần nương vào bốn đại, mà bốn đại vô thể thì sáu trần tức không, nên gọi là diệt tận. Duyên và trần đã diệt, tâm thể tức không cho nên nói rốt ráo không có.
Duyên và trần đã diệt thì tâm vọng động tức là không. Cho nên nói rốt ráo không có.
Trên nói về ngã không, dưới Phật dạy về pháp Không.
Trong bốn bộ A Hàm: Trường A Hàm, Trung A Hàm, Tăng Nhất A Hàm, Tạp A Hàm, Phật dạy xuyên suốt các đệ tử quán về năm thủ uẩn không có thật để cho bớt khổ; quán để bớt dính mắc, bớt chấp ngã, cho cái tôi nhỏ bớt. Cái tôi càng nhỏ càng giải thoát, cái tôi càng lớn càng trói buộc, càng dính mắc.
Trong Kinh Tương Ưng Bộ, Phật dạy phàm phu chấp thân tâm năm uẩn là của ta, là thực thể của ta cho nên khổ.
Còn các Thánh đệ tử biết năm uẩn là vô thường, là khổ, là vô ngã. Do đó đối với bất cứ uẩn nào thuộc về quá khứ, hiện tại, hay vị lai, nội hay ngoại, thô hay tế, quý hay tiện, họ đều dùng trí tuệ để quán sát và thấy rằng:
Cái này không phải là của tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi. Nhờ quán chiếu bằng trí tuệ sáng suốt như vậy, họ sanh ra nhàm chán về năm uẩn. Vì nhàm chán nên họ không có tham ái. Vì không tham ái nên được giải thoát.
Các bậc Thánh đã chứng quả vị A-la-hán rồi mới thấy được năm uẩn là vô thường. Bản chất vô thường là khổ, là vô ngã. Uẩn quá khứ, uẩn hiện tại, uẩn vị lai, trong hay ngoài, thô hay tế, quý hay tiện, các Ngài đều dùng trí tuệ quán sát kỹ. Nhàm chán năm uẩn thì không còn khát ái về ăn, về mặc, về ngủ … nữa. Như vậy khi quán chiếu cho kỹ, cho rõ rồi thì người ta có nói nặng buông cũng dễ, bởi vì năm uẩn này nó không phải của tôi, nó là duyên sinh, duyên sinh tức
là duyên diệt, nó không phải là tự ngã của tôi cho nên tôi không có buồn, không có khổ.
Bấy giờ trí tuệ chân chính phát sinh, họ biết được rằng mình giải thoát. Trong khi giải thoát, họ biết rõ sự tái sanh đã chấm dứt, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không trở lui một đời sống nào khác nữa.
Nhàm chán về thân tâm năm uẩn, không còn chấp vào bất cứ cái gì nữa, biết là giải thoát. Nếu trở lại cuộc đời này, nhớ lại ngày xưa từng làm gì, bây giờ gầy dựng lại thì xuống, quyết chí không đi bằng nghiệp nữa.
Này Thiện nam tử! Chúng sanh kia nếu thân huyễn diệt thì tâm huyễn cũng diệt. Vì huyễn tâm diệt nên huyễn trần cũng diệt. Huyễn trần diệt nên huyễn diệt cũng diệt. Cái huyễn diệt diệt rồi nhưng cái phi huyễn không diệt.
Diệt thân, diệt trần, cái trần cũng diệt, nói chung là buông hết. Nhưng có cái không buông được, gọi là “cái huyễn diệt rồi nhưng cái phi huyễn không diệt được.” Chẳng hạn tôi liệng cái ly xuống được, nhưng có một cái không liệng được, đó là hư không. Tất cả cái gì có hình tướng là liệng được, hư không không hình tướng sao mà liệng được.
Nhưng cái phi huyễn, tức là cái tánh viên giác, nó không có diệt.
Diệt sạch hết rồi mà cái phi huyễn tức là tánh viên giác bắt đầu hiển lộ lên không diệt được.
Ví như lau gương, khi bụi nhơ hết thì ánh sáng hiện lên.
Đúng ra là lau bụi. Khi lau sạch bụi, tự nhiên gương hiện lên; bao nhiêu chấp trước về thân, về tâm, về trần mà diệt tận rồi tức khắc tánh viên giác hiển lộ. Bụi là những tập khí. Khi mang kiếp người, mỗi chúng ta đều có tập khí, ai có tập khí gì tự mình biết rõ nhất để chuyển hóa.
Tôi chia sẻ cho đại chúng phần Tam Quán của Tông thiên Thai:
1. Không quán
Tất cả sự vật đều không có thật tính, thật tướng. Mọi pháp vốn không, đó là quán không đế của các pháp.
Tức là quán về thân, tâm, năm uẩn. Tất cả mọi cái có mặt trong cuộc đời này vốn không có thật tính, thật tướng; mọi vật đều không có thực thể.
2. Giả quán
Tất cả sự vật là vô thường giả hợp, đó là quán giả đế của các pháp.
“Đế” là chắc thật. Dầu cho mặt trời lặn về hướng đông, mọc hướng tây thì khổ đế luôn có, là chắc thật. Dầu cho khoa học phát triển đến mức độ nào cũng
không tránh khỏi sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, oán tắng hội khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ. Dầu cho học cỡ nào thì các pháp vô thường, duyên sinh giả hợp là chắc thật.
3. Trung Quán
Pháp này có hai: Quán các pháp vừa là phi, vừa là phi giả, tức là Trung, gọi là Trung Quán Song Phi. Quán các pháp vừa là không, vừa là giả, tức là Trung, đó là Trung Quán Song Chiếu.
Nghĩa là quán chiếu ba thứ: Căn, trần, thức đều đã tiêu diệt. Song sở quán đã Không, thì năng quán cũng dứt, nên nói huyễn diệt cũng diệt.
Người quán là năng, đối tượng bên ngoài là sở, khi cái sở đó mất thì năng quán cũng phải buông, cho nên huyễn diệt cũng diệt. Ta dùng cái biết để quán các pháp, cái biết này cũng buông luôn để thể nhập lại tánh viên giác.
Đến đây thì năng sở cả hai đều dứt, đối đãi đều trừ, chỉ còn một chơn tâm tròn sáng thanh tịnh, nên nói phi huyễn bất diệt, giác tâm bất động.
Đến đây, năng sở cả hai đều dứt, chỉ có một giác tâm tròn sáng bất động. Người tu thiền dễ gần gũi chỗ này. Khi quán đến mức độ không còn gì để quán, xả không còn gì để xả. Cái đối đãi, phàm thánh, chủ khách, năng sở không còn, trở về thể giác tâm bất
động rồi bắt đầu sanh diệu dụng. Có diệu dụng, diệu lực rồi các Ngài mới đi vào trong cuộc đời này, chớ không phải quán các pháp vô thường, khổ, không, vô ngã rồi chán bỏ luôn. Đó là cấp độ của Bồ-tát đại thừa, không phải ở trong hàng Thanh văn nữa.
Trong Kinh Lăng Già, Phật khai thị cho các vị Bồ-tát:
Thế gian lìa sanh diệt, Ví như hoa hư không, Trí chẳng thấy có không, Mà khởi tâm đại bi.
Thế gian lìa sanh diệt, ví như hoa đốm giữa hư không, trí chẳng dính mắc vào có, chẳng dính mắc vào không mà vẫn khởi tâm đại bi.
Tất cả pháp như huyễn, Xa lìa nơi tâm thức,
Trí chẳng thấy có không, Mà khởi tâm đại bi.
Thấy tất cả các pháp như huyễn như mộng, không còn dính mắc vào tâm thức phân biệt phải quấy, hơn thua nữa, mà vẫn khởi lòng đại bi cứu độ chúng sinh.
Xa lìa chấp đoạn, thường, Thế gian hằng như mộng, Trí chẳng thấy có không, Mà khởi tâm đại bi.
Xa lìa chấp đoạn và chấp thường, coi thế gian này như mộng như huyễn, nhưng vẫn khởi tâm đại bi vào cuộc đời này, chứ không phải thấy thế gian này như mộng như huyễn rồi buông luôn.
Khi đạt tới cảnh giới này rồi, Phật dạy:
Tất cả không Niết-bàn, Không Niết-bàn của Phật, Không có Phật Niết-bàn, Xa lìa giác, sở giác.
Hoặc có hoặc không có, Cả thảy đều xa lìa.
Quán Mâu Ni tịch tĩnh, Thế là xa lìa sanh,
Ấy gọi là chẳng thủ, Đời này, đời sau tịnh.
Các Ngài không thủ chứng, không nhập vào cảnh giới Niết-bàn, mà luôn luôn khởi lòng bi mẫn, đi khắp hết các cõi để độ sinh. Muốn độ sinh phải xa lìa năng giác và sở giác, hoặc có hoặc không có, cả thảy đều lìa hết thì ở trong cảnh giới gọi là Mâu Ni tịch tĩnh, đời này và đời sau cứ vậy mãi luôn, đó là con đường của Bồ-tát. Khi tất cả các huyễn diệt hết, bắt đầu có diệu lực, diệu dụng chứ không phải không còn gì nữa.
Này thiện nam tử! Phải biết rằng thân tâm đều là huyễn hóa, nhơ bẩn. Tướng nhơ bẩn đó hằng diệt, thì tánh viên giác thanh tịnh biến khắp mười phương.
Học trên sách vở mình hiểu vậy, nhưng Sư Ông nói: “Mấy chú cứ tu đi, ba năm chứ không nhiều.” Ba năm tự nhiên có niềm tin với kinh điển Đại Thừa, ba năm nữa có niềm tin với Tổ sư thiền, rồi ba năm nữa bắt đầu có sự chứng nghiệm.
Tôi nói kinh nghiệm của tôi, bữa nọ khoảng hai giờ rưỡi, có một trận mưa lớn thấm nhuần cỏ cây. Trời mát, ngồi thiền sâu, thấy rõ ràng thân tâm rã rời, không còn chấp giữ dính mắc gì nữa. Tự nhiên thấy, không phải một phương của mình, mà tất cả các phương đều thanh tịnh, bởi vì tâm vui, an yên, tâm có một cái gì đó. Cho nên khi đạt đến cảnh giới này rồi, Bồ-tát Thường Bất Khinh lạy những người cùng tu học với Ngài: “Tôi không dám khinh các Ngài vì các Ngài sẽ thành Phật.” Bởi vì tâm Ngài thanh tịnh, tâm Ngài có Phật trong đó rồi, Ngài chiếu tất cả các nơi đều là Phật.
Thân tâm cấu nhiễm không còn nữa, tánh viên giác hiện hữu, sống với tánh viên giác thì lúc này chúng ta chiếu tất cả các nơi đều là Phật chứ không thấy gì khác nữa hết. Chúng ta ở đây, năm trăm người, một ngàn hay hai, ba ngàn người, thân tâm bất động thì không còn gì để hội họp. Ở trong
hội chúng mà họp nhiều là biết hội chúng chưa ổn. Trong đại chúng còn lợn cợn, cho nên, một tháng phải thỉnh nguyện hoặc Bố tát một lần để nhắc cho nhớ. Chứ ai cũng sống với tánh viên giác, chiếu khắp mười phương thanh tịnh rồi thì không cần nữa.
Phân tích thân tâm đều là huyễn cấu:
Huyễn nghĩa là hư huyễn không có thực thể.
Dụ như là bẹ chuối, như lau sậy, như bong bóng nước, như sấm chớp, như điện xẹt; tức là thân tâm không có thực.
Cấu là trần cấu, lấy sự dính dơ làm tên. Do mê tướng huyễn, chấp thủ trói buộc, dính dơ tâm tịnh nên gọi là huyễn cấu.
Khi bốn đại tan rã, thần thức đi ra khởi niệm tìm thân. Tâm khát ái thúc giục tìm đối tượng, gọi là “dính dơ làm tên”. Nếu đối tượng họ thích là người nữ, họ gá vào để tìm khát ái, thì tái sanh làm người nam, bắt đầu tiếp tục cuộc sống luân hồi. Còn đối tượng “dính dơ làm tên” là người nam, thì họ sanh ra làm người nữ. Do mê tướng huyễn, gọi là khát ái, từ đó chấp thủ rồi trói buộc không ra được. Dính dơ tâm tịnh nên gọi là huyễn cấu, tức là khởi niệm đi thọ sanh, bắt đầu một hành trình mới.
Chư Phật Bồ-tát tuy cũng có thân tâm, nhưng do liễu ngộ như huyễn, không chấp tướng, không có nghĩa dính
dơ, cho nên chẳng phải là cấu.
Chư Phật và Bồ-tát vào trong cuộc đời này, nhưng do liễu ngộ các pháp như huyễn, vào trong bào thai mà không dính, không bị thân trói buộc, chấp thủ. Không dính tâm nhơ cho nên không phải là cấu, các Ngài ra là thể nhập pháp thân, báo thân và hóa thân.
Tướng nhơ bẩn đó hằng diệt thì tánh viên giác thanh tịnh chiếu khắp mười phương. Các pháp căn trần, mười phương pháp giới đều thanh tịnh. Do thân tâm bị trần cấu che lấp, vọng chấp tự tha nên thành hạn cuộc và chướng ngại. Nay ngã pháp đều lặng thì chỗ nào chẳng thông.
Do ở trong thân tâm năm uẩn, dính mắc thân, dính mắc tâm, cho nên mắt thấy không xa. Bây giờ, ngã pháp đều phá, tự nhiên tâm rỗng lặng chiếu khắp mười phương thế giới, chỗ nào cũng thấy, chỗ nào cũng biết. Lúc đó, không ai gạt ta được hết.
Tổ Đạt Ma luận chỗ không dính mắc vào thân tâm năm uẩn. Tướng cấu dứt rồi thì tự nhiên ba thân hình thành. Phật có ba thân: Hóa Thân, Báo Thân và Pháp Thân. Chúng ta cũng có pháp thân; hóa thân tức là thị hiện; báo thân gọi là tổng báo, có thiện có ác, nên không hình thành được 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Tổ nói, chúng ta khi dụng công đầy đủ, thì ngay trong giờ phút thực tại đó chúng ta cũng có đầy đủ pháp thân, hoá thân và báo thân.
Tổ luận:
Nếu chúng sanh khi thường làm việc lành thì đó là hoá thân.
Hóa thân có nghĩa là khi làm việc gì, chú tâm vào chỗ thực tại đang làm, đang nhổ cỏ mà nghĩ chuyện nấu cơm là không đúng. Hóa thân không rời báo thân và pháp thân; ba thân là một, chứ không phải chia ra chỗ này, chỗ kia. Tổ dạy, khi chúng ta làm việc thiện, đó là hóa thân.
Khi hiện tu trí tuệ, đó là báo thân.
Sáng, chúng ta nhổ cỏ, nấu cơm, làm việc chỉ biết làm thôi, không khởi niệm, đó là hóa thân.Tối, ngồi thiền trang nghiêm, đó là tướng của Phật, là báo thân, đầy đủ vô lượng công đức; và hiện ra tướng giác ngộ, vô vi không tạo tác tức là pháp thân. Ngay trong thân phàm phu này, người tu thiền có đầy đủ ba thân của Phật, bởi vì làm không dính mắc, không chấp trước.
Thí dụ, tôi nói đại chúng giúp giùm tôi dọn cỏ, mình nghe ông thầy nói mình cứ làm đi, thì ngay trong giờ phút đó là hóa thân rồi, không dính mắc vào thân tâm năm uẩn nữa. Nhưng mà chỉ cần khởi niệm: “Mấy ông này trồng cỏ kiểu gì…”, khi đó tức khắc dính vào thân tâm năm uẩn dơ cấu. Khi khởi niệm thì phiền, nói ra là đem cái nhiễm tịnh của mình đưa cho người khác.
Bữa trước, tôi nói với một thầy: “Thầy giúp giùm tôi, sáng mai đi sớm với tôi lên Sài Gòn có công việc.” Thầy hỏi mấy giờ, tôi nói 5 giờ. Nghe 5 giờ thì biết 5 giờ thôi, nhưng vị đó thêm một câu: “Vậy là trước xả thiền.” Tôi nói: “Ông nói vậy, dư rồi. 5 giờ ông ra cửa tôi với ông đi thôi, cần gì biết trước xả thiền, sau xả thiền?” Tu thiền là phải gọt bớt, gọt nhiều chừng nào rảnh rang nhiều chừng đó.
Tu thiền quá đầy đủ công đức, với điều kiện như thế. Huynh đệ lúc nào cũng phải nhớ trong đầu là “mình tu thiền”. Tu thiền là giảm bớt từ ngữ chừng nào tốt chừng đó. Cho nên đến với các thiền sư các Ngài gọt, chặt, không cho tơ tưởng. Làm việc gì chỉ biết việc đó thôi, biết thêm thì không phải là hóa thân nữa. Ngồi thiền mà nghĩ lung tung thì không phải là báo thân. Ngồi thiền mình không chứng nghiệm vào cảnh giới vô vi không tạo tác, thì pháp thân không có. Cho nên Tổ Đạt Ma nói, ngay nơi thân năm uẩn dơ cấu của ông mà biết cách chuyển thì ông cũng có đầy đủ ba thân giống như Phật không khác.
Rồi Ngài dạy thêm:
Thường hiện bay vọt mười phương tuỳ nghi mà cứu giúp, đó là Phật hóa thân.
Hồi xưa, chúng ta học tới đây chắc chưa có duyên để hiểu. Bây giờ sống ở đây, mà bên Mỹ, bên Pháp, bên Úc… có nhân duyên, họ mời qua giảng
dạy hướng dẫn đây gọi là “bay vọt mười phương”, tùy nghi giúp người, gọi là Phật hóa thân.
Nếu mà đoạn hoặc, ở Tuyết Sơn thành đạo, đó là Phật báo thân.
Tức là thấy mình có tu, có chứng, có thành, đó là Phật báo thân.
Không nói, không lời, không làm, không được, trong lặng thường trụ, đó là Phật pháp thân.
Khi ngồi thiền an yên, không nói, không làm, không được, trong lặng thường trụ, là Phật pháp thân.
Nếu luận về chỗ chí lý thì một Phật còn không có, đâu được có ba. Đây gọi là ba thân, là chỉ yếu nơi trí của người, người có thượng, có trung, có hạ mà nói ra thôi.
Người trí bậc hạ vọng dấy làm phước lực, vọng thấy Phật hóa thân.
Người trí bậc hạ vọng dấy làm phước lực được sanh thiên, được sung túc, con cái đỗ đạt, đó gọi là “vọng thấy Phật hóa thân.”
Người trí bậc trung thì vọng đoạn phiền não, vọng thấy Phật báo thân.
Người trí bậc trung không còn làm phước thiện nữa, mà chuyên tu để đoạn mê lầm, chứng chỗ chân thật, gọi là vọng thấy Phật báo thân.
Người trí bậc thượng thì vọng chứng Bồ-đề, vọng thấy
Phật pháp thân.
Người trí bậc thượng vọng mình đoạn mê lầm để chứng Bồ đề, chứng nghiệm Phật pháp thân.
Người trí bậc thượng thượng thì không phải như thế, mà bên trong chiếu soi tròn lặng, sáng tỏ được tâm tức là Phật, chẳng đợi tâm mà được trí của Phật.
Người trí bậc thượng thượng luôn luôn quay về bên trong, tỏ được tâm an yên mà rõ biết, đó chính là tâm Phật. Còn chuyện bên ngoài, chuyện làm phước lực…, làm thì làm nhưng không dính mắc, không thấy phiền não để đoạn, không thấy Bồ-đề để chứng mà thầm chiếu nhận ra tâm Phật, cái thấy biết như thế là trí Phật.
Tinh thần nhà Thiền là “phản quan tự kỷ”, tưởng là dễ làm, nhưng trong vô lượng kiếp chúng ta toàn phóng tâm ra ngoài, bây giờ bắt quay lại bên trong. Chúng ta quay được bao nhiêu? Nếu ai cũng quay về bên trong thì thiên hạ thái bình. Cho nên, trong đại chúng mà an yên là biết ai cũng quay về bên trong, còn có chuyện xích mích phiền não là biết phóng ra bên ngoài.
Khi thấy biết như thế rồi thì ba thân cùng với muôn pháp đều chẳng có chấp, chẳng có thể nói. Đây tức là tâm giải thoát, là thành tựu đại đạo.
Tinh thần phản quan vi diệu lắm chứ không phải thường. Khi làm các việc Phật sự và tu tập, nếu ai cũng quay lại bên trong lo dọn dẹp sẽ giải quyết ổn nhiều vấn đề, mà phóng ra là tự nhiên lộn xộn. Ở đây, mình sám hối một ngàn vạn lần, đa phần là vì mình phóng ra, cho nên, bây giờ, mình mới tin câu: “Chư Phật khởi niệm thì hải ấn phát quang, chúng sanh khởi niệm thì trần lao dấy khởi.”
Phật dùng ngọc Ma-ni dụ cho tánh viên giác:
Này Thiện nam tử! Thí như hạt bảo châu Ma-ni trong trẻo ánh ra năm sắc, mỗi nơi hiện màu sắc khác nhau. Người mê chẳng biết, thấy hạt châu Ma-ni thật có năm sắc.
Trong Kinh Viên Giác, đoạn này Phật dụ tánh viên giác, rất là hay. Viên ngọc ánh ra sắc màu, đặc biệt bảo châu Ma-ni này trong trẻo nên ánh ra năm sắc, mỗi nơi hiện ra màu sắc khác nhau. Người mê không biết, thấy hạt châu thật có năm màu, nhưng thật ra hạt châu trong trẻo, không có màu xanh, vàng, đỏ, tím nào hết.
Thể tính của hạt châu trong suốt không tì vết, hoàn toàn không có màu sắc, tính viên giác của mỗi chúng sanh cũng như thế. Mỗi nơi hiện màu sắc khác nhau, đây là dụ cho 5 đường, mỗi nơi dụ cho tùy nghiệp. Người mê không biết thể tính hạt châu, chỉ thấy toàn xanh, vàng, đỏ, trắng.
Ở đây, Phật dụ hạt châu rất sáng và trong trẻo, tánh viên giác của chư Phật và mỗi chúng sanh đồng nhất. Do mê, từ cái mê đó, chúng ta tạo nghiệp nên hiện ra 5 đường: Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A-tu-la, người. Chẳng hạn như bây giờ hiện ra màu đỏ, chúng ta chấp màu đỏ, dầu cho đó là cục than cũng không buông. Phật nói, cảnh giới của những chúng sanh rớt xuống địa ngục, chúng ta thấy khổ mà thật ra họ không thấy khổ, nếu thấy khổ là họ thoát liền. Địa ngục là chỗ tăm tối, chỗ khổ, chỉ cần biết đây là khổ mới lìa cái khổ, sống với cái biết thì giải thoát, nhưng sống không được bởi vì họ cho đấy là thật.
Giống như chư thiên sợ cảnh giới của người. Trong kinh Pháp Cú Thí Dụ kể, có ông vua lâu năm không có con nên tha thiết cầu cho có. Trời Đế Thích động tâm, tìm vị thiên tử nào nghiệp chư thiên sắp hết cho xuống làm hoàng thái tử, sau này làm vua. Khi chuẩn bị đưa xuống, vị thiên tử khóc lạy, làm vua cũng không muốn xuống. Ngược lại, con người sống trong cảnh giới này, được làm vua thấy sung sướng hạnh phúc.
Cũng vậy, Phật nói chúng sanh khi tạo nghiệp, tánh viên giác đi theo nhưng bị lấp, nên chấp nhận màu đó là màu sung sướng, hạnh phúc mà quên mất tánh viên giác. Ở trong cảnh giới địa ngục, chịu khổ mà thật ra họ không thấy khổ. Chúng ta khát
uống nước lạnh, họ uống nước lạnh không được mà uống nước đồng sôi họ mới thấy sướng. Đói, họ phải ăn hòn sắt nóng chứ ăn cơm không được, tùy theo nghiệp mà biến hiện ra. Chẳng hạn như cặp mắt của chư thiên thấy con sông toàn lưu ly, cặp mắt con cá thấy là sự sống của nó, cặp mắt con người thấy đây là nước, nhưng cặp mắt của loài ngạ quỷ thấy đây là một biển lửa, dù khát nước có sông kế bên mà uống không được. Loài ngạ quỷ muốn thọ hưởng nước này phải nhờ thần lực của Phật, Phật dạy cho các Thầy Tỳ-kheo bài chú, khi đọc bài chú đó họ mới hưởng được.
Chúng sanh ở cõi địa ngục cũng vậy, tạo nghiệp địa ngục rớt xuống địa ngục quên tánh viên giác. Trong tâm nếu còn những cù cặn, ô nhiễm của cảnh giới địa ngục, cũng tật đố, tham, sân, ích kỷ thì như vậy còn mê theo các nghiệp, khi niệm khởi, tánh viên giác không có mặt.
Rớt trong loài súc sanh càng mê, càng quên hơn nữa. Trong kinh kể, có một vị A-la-hán, một hôm ngồi trên tảng đá, Ngài tìm xem người em tu chung nhưng giữa chừng chết, bây giờ không biết đi về đâu. Ngài đã chứng thần thông, dùng thiên nhãn rọi khắp: Trên trời, cõi địa ngục, ngạ quỷ, cõi người đều không thấy. Cuối cùng, Ngài thấy em mình, lúc sinh thời không lo tu tập, giờ rớt vào cõi súc sanh
trong hầm xí. Ngài dùng năng lực thần thông biến hình thành loài súc sanh y như thế, vào trong hầm xí để khai thị người em. Người em, lúc bấy giờ, tham chấp cục phân, tranh giành với những loài súc sanh trong đó. Chúng ta ở cõi người thấy cục phân bịt mũi, nhưng chúng sanh ở trong cõi đó thấy thơm ngon. Ngài dùng năng lực thần thông khai thị người em, người em thức tỉnh xả báo thân, được sanh lên cõi trời. Như vậy, chúng ta thấy, khi rớt trong loài nào thì bị dính khằn, dính cứng. Cho nên, Phật dụ, tùy nghiệp mà thọ sanh, thọ sanh rồi dính cứng luôn không thoát ra được.
Chúng ta tu một thời gian lâu, có thể cảm thấy cái tu này rất đơn giản đối với quá trình công phu, dụng công tu tập, cộng với sự tu tập trong thời quá khứ. Nếu không thế, trải qua vô lượng kiếp ở trong các loài này, vẫn còn sót lại những niệm xấu ác, những niệm chúng ta nghĩ không bao giờ có mà lại xuất hiện. Đó là tùy nghiệp mà thọ sanh, tinh thần của Kinh Hoa Nghiêm gọi là chân như mà duyên khởi. Trong bản thể chân như mà quên là mê, bắt đầu duyên theo các pháp, tạo nghiệp thân, khẩu, ý; rồi khi chết thần thức đưa vào cảnh giới đó.
Cho nên, hằng ngày, ai sống với tâm địa ngục thì khi chết vào cảnh giới địa ngục; hằng ngày sống với tâm ngạ quỷ thì khi chết vào cảnh giới ngạ quỷ; hằng
ngày sống với tâm súc sanh vào cảnh giới súc sanh; còn hằng ngày sống như tâm Phật thì khi chết mình giải thoát. Tu thiền là rõ như ban ngày.
Đã thấy toàn xanh vàng đỏ trắng thì không thể nào thấy được thể của hạt châu.
Vua Trần Thái Tông nói:
Lang thang làm khách phong trần mãi, Ngày cách quê hương muôn dặm trường.
Tức là càng đi càng xa. Nên kinh Hoa Nghiêm nói:
Phàm phu thấy các pháp liền bị các tướng nó chuyển, không ngộ được các pháp vô tính, vì thế mà không thấy được Phật.
Chúng ta thấy là khởi niệm sanh tâm, bị tướng chuyển, cho nên không ngộ được các pháp không có tự tính, các pháp rỗng, không có thực thể; nếu ngộ được các pháp vô tính như thế thì mình bớt chấp.
Thời Đức Phật, Phật luôn dạy các thầy Tỳ-kheo ở dưới gốc cây không quá 3 đêm, vì sợ họ chấp thủ. Vào thời nay, chư Tổ thấy được nên áp dụng trong tùng lâm chia ra để làm việc: người làm tri khố, người làm tri sự, người làm thủ bổn nhưng thay đổi mỗi 2 tháng, 3 tháng hoặc 1 năm. Khi mình đang làm công việc đó mà bị đổi làm việc khác là khó chịu, bực tức nghĩa là dính mắc, bị tướng chuyển tâm.
Học Kinh Viên Giác thấy rất là hay, khi đến giai đoạn bốn đại bất động thì tất cả 84 ngàn Đà-la-ni đều bất động. Ngày xưa, tôi đọc chưa hiểu, bây giờ càng làm các việc Phật sự càng thấy đúng.
Do không ngộ được cho nên không thấy được Phật.
Trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục có ghi câu chuyện:
Một hôm, Thế Tôn cầm ngọc Ma-ni, đưa lên hỏi Thiên vương ở năm phương, viên ngọc màu gì. Mỗi vị ở mỗi phương thấy màu xanh, vàng, đỏ, tím khác nhau. Hỏi xong Phật cất hạt châu, rồi hỏi các ông thấy màu gì. Năm vị Thiên vương nói:
- Hồi nãy, trên tay Thế Tôn có hạt châu, bây giờ trên tay Thế Tôn không có hạt châu nào hết thì làm sao có màu gì.
Phật nói:
- Hồi nãy, Như Lai đưa hạt châu thế gian ra thì mấy ông nói màu xanh vàng đỏ tím, bây giờ Như Lai đưa hạt châu chân thật ra thì không có ông nào thấy hết.
Tức khắc, 5 vị Thiên vương tỏ ngộ.
Cái gì sờ sờ trước mắt, có tướng thì thấy có. Đưa hạt châu không có màu, hạt châu vô tướng, không thấy thì nói không có. Chẳng hạn như tướng gió không thấy; tướng hư không cũng không chỉ được; cái gì có tướng chúng ta chạy theo, dính mắc, bị
tướng nó chuyển. Phật dạy tiếp:
Này Thiện nam tử! Tánh thanh tịnh viên giác hiện nơi thân tâm này tùy theo loại mà ứng hiện. Người mê kia nói tánh viên giác thanh tịnh thật có, thân tâm tự tướng như thế. Cũng lại như vậy, do đây không xa lìa các thứ huyễn hóa cho nên ta nói thân tâm huyễn cấu. Người lìa cấu huyễn gọi là Bồ-tát, cấu hết thì cái đối trị cấu cũng dẹp, tức không có đối cấu và cái tên đối cấu.
Phần này, Phật phân tích từng đoạn. Phật nói ai lìa được huyễn cấu tức là Bồ-tát, không lìa được huyễn cấu tức là phàm phu. Khi lìa huyễn cấu, huyễn cấu không còn nữa thì cái biết để lìa huyễn cấu, gọi là cái năng biết, bỏ luôn. Bởi vì cái sở vọng dứt rồi, cái năng biết dẹp luôn, đó mới gọi là không có đối cấu và cái tên đối cấu.
Viên giác diệu tâm vốn không có năm uẩn, bởi do nghiệp huyễn vô minh mà tạo tác, tất cả đều từ viên giác diệu tâm mà hiển hiện.
Viên giác diệu tâm vốn không có năm uẩn, bởi do tạo nghiệp hiện ra thân tâm năm uẩn. Chẳng hạn như có người nói làm thân nữ rất là khổ, bây giờ tu như thế nào để mai này thành thân nam cho sướng. Do khởi niệm như thế cho nên họ thực hiện các
phương tiện để sau này không còn mang thân năm uẩn của người nữ, mà thọ thân năm uẩn của người nam, đều là do nghiệp huyễn hóa vô minh mà tạo tác, bởi vì nam nữ gì cũng khổ hết. Từ pháp thân, báo thân, hóa thân chúng ta tu tập như thế nào để sau này thành công đức thân đi vào trong dị loại.
Viên giác diệu tâm vốn không có năm uẩn, nhưng Bồ-tát mượn thân năm uẩn mà công đức hóa thân để đi vào trong cuộc đời. Không bị năm uẩn ràng buộc nên không bị khổ. Phật xuống cuộc đời này, Ngài đi khất thực, người ta cúng dường món gì, Ngài ăn vào đều thành thiên vị, là thức ăn của cõi trời, do trong vô lượng kiếp Đức Phật bố thí thức ăn cho chúng sanh.
Ngài hiện thân bệnh, thật ra Ngài không có bệnh. Trong ba A-tăng kỳ kiếp, kỳ kiếp đầu, Ngài chuyên bố thí thức ăn. A-tăng kỳ kiếp thứ hai, Ngài chuyên bố thí và cúng dường dược thạch, thuốc men và thức ăn mềm cho người bệnh, nhưng Ngài thấy cũng không hết khổ. Qua A-tăng kỳ kiếp thứ ba, Ngài quyết tìm ra chân lý để chỉ dạy phương pháp tận gốc cho chúng sanh bớt khổ.
Để trị tận gốc bệnh tham chấp của chúng sanh, chỉ có phương pháp tu tập và chuyển hóa. Huyễn hóa vô minh từ đó mà tạo tác thì phải chỉ cái gốc cho họ chuyển để không chấp vào năm uẩn, không tạo
nghiệp nữa. Bây giờ còn sống, chúng ta mượn năm uẩn để tu mà không dính mắc vào nghiệp huyễn. Ví dụ làm công việc hằng ngày, dùng công đức hóa thân làm chứ không phải dùng năm uẩn thô lậu. Cũng việc làm đó mà tâm bực tức, so đo là dùng thân năm uẩn của chúng sanh. Như bây giờ ngồi đây nghe pháp, có người có công đức, có người có phước đức mà có người không có gì hết.
Viên giác diệu tâm này vốn không có năm uẩn, bởi do nghiệp huyễn vô minh mà tạo tác, nó hiện ra năm uẩn khác nhau.
Có người cũng mang thân phận năm uẩn nhưng mà họ ngồi thiền khinh an, còn mình cũng mang thân năm uẩn mà ngồi thiền không yên. Là do thời quá khứ mình tạo nghiệp, cái nhân không chuẩn, bây giờ làm cách gì đó chỉnh lại. Mình trồng cây, ban đầu thấy cây thẳng nhưng sau bị nghiêng, bây giờ phải chỉnh thẳng chứ không phải chặt bỏ. Mình tu không được như huynh đệ, là do cái nghiệp của mình, nên phải bắt đầu thực hiện con đường như thế nào để tu tập chuyển hóa. Có những người mang thân phận năm uẩn mà tâm họ an ổn dễ buông xả, còn mình thì ngã mạn, tật đố, do cái huyễn cấu hình thành trong thời quá khứ đem lại kết quả trong hiện tại.
Cho nên, tinh thần phản quan, có chút ý niệm nào khởi lên là phải chuyển liền chứ không ôm ấp
nó. Kinh Tứ Thập Nhị Chương nói, mình ôm ấp nó, từ từ thành cái hố sâu chôn mình. Đại chúng có biết cái gì phá sự tu tập của mình nhanh nhất? Cái ngã mạn, thấy mình hơn người ta.
Tất cả đều từ viên giác diệu tâm mà hiển hiện, như Ma-ni châu tùy mỗi nơi hiện ra năm sắc. Chúng sanh chẳng rõ trong tâm, chỉ nhận huyễn tướng năm uẩn.
Tức là toàn phóng ra. Chúng ta có tu cho nên có những lúc tỉnh ngồi sám hối, tọa thiền, chứ không tu là quên mất đường đi, chỉ nhận năm uẩn mà không biết mình là gì. Phật dạy, con người sống suốt trăm năm mà không tu cũng giống như khúc gỗ mục, còn chỉ cần sống một ngày mà quay lại chính mình thì đó là giá trị của kiếp người.
Cho nên dụ như người mê chấp thể châu thật có năm sắc, vì lầm nhận ngũ ấm là ngã nên lấp mất cái thể chân thật nên gọi là huyễn cấu.
Chấp thân năm uẩn này là có thật, là tôi, là tự ngã của tôi, đây gọi là huyễn cấu. Cấu là dơ, là uế, là không được trong sạch. Tinh thần trong các hệ phái từ Nam truyền tới Bắc truyền đều dùng phương pháp để phá ngã chấp. Cái ngã càng ít càng tu dễ, cái ngã lớn chừng nào, tu khó chừng đó.
Nay dùng trí huệ chiếu phá năm uẩn đều Không thì gọi là Bồ-tát.
Nay dùng trí huệ là gì? “Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm”, hành thâm là dùng trí tuệ Bát-nhã phá năm uẩn không có thực thể, ngay tức khắc là Bồ-tát. Bồ-tát gọi là từng phần giác. Chúng ta ngồi đây nghe giảng, thấy rõ ràng thân tâm năm uẩn không có, tạm gọi là Bồ-tát. Ra ngoài mà ai đụng thì có, là phàm phu. Thôi, mình ráng cố gắng, ở đây Bồ-tát, rồi về Tăng đường cũng là Bồ-tát, quán chiếu thật kỹ như thế.
Chùa Ngọc Tuyền ở Trung Quốc bây giờ còn cái đai của ông Tô Đông Pha. Cái đai bảy sắc đó là của vua ban, quan đời nhà Tống thường đeo ngay lưng. Một hôm, ông đến pháp hội của Thiền sư Phật Ấn để nghe pháp, nhìn qua nhìn lại thấy không còn ghế, Thiền sư Phật Ấn thấy ông vào thì ngưng giảng hỏi ông vào đây có chuyện gì. Ông nói vào nghe pháp. Ông nói, ông có một câu, Thiền sư Phật Ấn mà trả lời được thì ông sẽ tặng cái đai cho chùa làm kỷ niệm. Thiền sư Phật Ấn nói ông cứ hỏi. Tô Đông Pha nói:
- Vào đây để tìm ghế ngồi mà không thấy, bây giờ tạm mượn thân bốn đại của Hòa thượng ngồi được không?
Nếu trả lời không được thì thiền sư phải quỳ xuống để ông ngồi lên. Thiền sư Phật Ấn nói:
- Lão tăng thấy bốn đại vốn Không, năm ấm không có thật, lấy cái gì ngồi?
Ông thua, để lại cái đai. Bây giờ vẫn còn ở chùa.
Vua Kế Tân đến Tổ Sư Tử, ông nói:
- Nghe nói các vị xuất gia tu tập, hằng ngày quán chiếu bốn đại năm uẩn là không, đúng không?
Tổ Sư Tử:
- Đúng.
- Đã thấy bốn đại Không, năm uẩn Không có, thì tạm mượn cái đầu được không?
Tổ Sư Tử nói:
- Năm uẩn không có thật, bốn đại vô chủ thì sá gì cái đầu. Rồi Ngài đưa cổ cho chém.
Cho nên, chúng ta phải lưu ý ngày ra đi của mình. Quán chiếu thật kỹ năm uẩn, bốn đại không thật, không có thực thể, tức khắc được giải thoát. Còn luyến ái về năm uẩn, chấp thủ về năm uẩn là sẽ rớt tùy theo nghiệp hiện ra năm đường thọ khổ.
Do đối đãi chưa quên nên vẫn còn là vô minh, chơn thể chưa hiển hiện. Nếu đối đãi một lúc đều quên, năng sở cả hai đều dứt, đây chính là hiển bày chơn tâm tuyệt các đối đãi.
Tức là không còn năng và sở nữa.
Trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, Tổ Huệ Khả khai thị cho môn đồ gọi là kinh Lăng Già Sư Tử Ký, Tổ Huệ Khả dạy:
Quán tịch tĩnh của Mâu-ni là viễn ly sanh tử, gọi
đó là pháp chẳng nắm bắt. Đời này và đời sau, khắp tất cả mười phương chư Phật, nếu có người chẳng nhân tọa thiền mà thành Phật, thật chẳng có việc đó.
Từ Tổ Đạt Ma đến Tổ Huệ Khả qua đến thiền Việt Nam, vua Trần Nhân Tông lúc còn làm thái tử, hỏi Tuệ Trung Thượng sĩ yếu chỉ tu tập để hành thiền là gì, các Ngài đều nói quay lại quán Mâu-ni, tức là sống với tính viên giác, tức khắc lìa sanh tử. Sanh tử là những niệm khởi, khởi niệm thiện thì sanh đường thiện, khởi niệm ác thì sanh đường ác, mà bặt dấu không khởi niệm thì sanh về đâu?
Cho nên nói, Quán tịch tĩnh của Mâu-ni là viễn ly sanh tử, gọi đó là pháp chẳng nắm bắt. Pháp này, chư Phật đến chư Tổ dạy, mà khi dụng công các Ngài không xen vào, cho nên pháp này gọi là không nắm bắt. Pháp này tự mình cảm, tự mình tu, tự mình nhận được, sống được, chứng nghiệm được. Khắp tất cả mười phương chư Phật, nếu có người chẳng nhân tọa thiền mà thành Phật, thật chẳng có việc đó. Tu pháp nào không biết nhưng muốn đến chỗ rốt ráo thì phải tọa thiền, tọa thiền mới sống với tánh giác. Ngồi thiền không phải để thành Phật, nhưng muốn thành Phật thì phải ngồi thiền.
Kinh Thập Địa chép:
Trong thân chúng sanh, có Phật tánh Kim Cang giống như vầng mặt trời, thể sáng tròn đầy rộng lớn vô
biên, chỉ vì bị mấy tầng mây ngũ ấm ngăn che nên chúng sanh không thấy được. Nếu gặp được gió trí thổi bạt 5 ấm, mây dày diệt hết, Phật tánh chiếu soi, trùm đầy sáng rõ.
Kinh Thập Địa Phật dạy, trong thân chúng sanh có Phật tánh giống như mặt trời sáng, bây giờ bị năm ấm sắc, thọ, tưởng, hành, thức, giống như cái dù chụp lên che kín. Bây giờ, dùng gió trí thổi, quán chiếu, có nghĩa là đừng chấp năm uẩn mà sống với cái thể, với tánh biết. Tâm lặng mà rõ biết, đó là tánh viên giác; đừng sống với niệm khởi lăn tăn thì đó là lìa năm uẩn. Trí của mặt trời tự sáng, gọi là tâm địa nhược không tuệ nhật tự chiếu, tâm địa nếu không thì mặt trời trí tuệ sáng tỏ.
Ngài dạy tiếp:
Vọng hết thì chơn hiện, tức biển tâm lắng trong, pháp thân thì rỗng rang thanh tịnh. Cho nên, người học mà dựa vào ngôn ngữ văn tự để làm đạo, thì như đèn trước gió chẳng thể phá được tối tăm, ngọn lửa vừa ánh lên liền tắt. Còn như ngồi tịnh vô sự thì giống như đèn để trong nhà kính, có thể phá trừ được tối tăm, soi vật rõ ràng.
Ngài chỉ cho chúng ta phương pháp tu tập, tạm gọi vọng hết thì chơn hiện, tức là biển tâm lắng xuống, pháp thân thì rỗng suốt. Người học đạo mà dựa vào ngôn ngữ văn tự để tu giống như đèn để trước gió, còn ngồi yên vô sự tức là quay lại tu tập giống như đèn ở trong nhà kính. Khi dùng ngôn
ngữ làm các việc Phật sự, năng lực tạo ra môi trường xung quanh để người ta cảm nhận được rất ít, có lúc bị tham, sân, pháp trần lôi cuốn giống như ngọn đèn để trước gió. Còn ở trong tự tính Bát-nhã hay tự tính viên giác, vừa làm các việc Phật sự vừa tu tập giống như ngọn đèn ở trong nhà kính.
Cho nên tinh thần của thiền phái Trúc Lâm là thiền giáo song hành. Khi Điều Ngự trao y bát cho Ngài Pháp Loa, Ngài trao một số kinh sách, chỉ dạy và giảng giải. Khi Tổ Pháp Loa được truyền tâm ấn rồi, Ngài thành lập giáo hội Trúc Lâm và xiển bày con đường thiền và giáo đi đôi. Học giáo để rõ lý thiền, tu thiền để rõ giáo. Học mà chấp vào ngôn ngữ văn tự thì giống như đèn trước gió, còn ngồi tịnh vô sự thì giống như đèn để trong nhà kính.
Nếu tinh thành (lòng thành khẩn tha thiết, chân thực và chuyên nhất từ sâu thẳm tâm) chẳng phát bên trong thì dầu gặp hằng hà sa chư Phật trong ba đời cũng không làm được gì.
Nếu không sống, không nhận được, không chứng nghiệm được, tức là không lần nào chúng ta phát hiện ra được tự tính bên trong của mình thì dầu cho gặp hằng hà sa chư Phật cũng không làm được gì hết.
Do đó, biết tâm thức của chúng sanh tự độ chớ Phật không độ chúng sanh. Nếu Phật độ được chúng sanh thì
trong quá khứ đã gặp vô lượng hằng hà sa chư Phật, cớ sao chúng ta chẳng thành Phật?
Tâm thức của chúng sanh tự độ chớ Phật không độ được. Phật nói, nếu độ được thì trong vô lượng kiếp chúng ta đã gặp hằng hà sa chư Phật rồi, sao chúng ta không thành Phật?
Chỉ do tinh thành chẳng phát bên trong nên miệng nói được nhưng tâm chưa được, rốt cuộc chẳng tránh khỏi việc theo nghiệp thọ thân hình.
Chúng ta học rồi nói ra được, mà trong tâm nó đi đường khác, rốt cuộc sau khi chết đi thọ thân tiếp tục. Tự mỗi mỗi người phải tu tập chuyển hóa chớ nghe học chỉ là phần nhỏ. Phần bên trong chính là phần quyết định, được hay không là do mỗi người. Cho nên, chư Tổ mới bày ra chánh điện, thiền đường, giảng đường, bày ra phương tiện để chúng ta có cơ hội ngồi tu tập để chuyển hóa.
Tôi xin sám hối khi nói ra điều này. Đi làm Phật sự mới thấy, có những người bằng cấp quá chừng mà đụng tới là nổi sân. Ba bốn chục năm, mà chưa lần nào ngồi lại tu thì cũng như không thôi. Ở đây, tôi không bác bỏ bằng cấp, nhưng việc chính là tu tập chuyển hóa. “Học mà không tu giống như đãy đựng sách, còn tu mà không học giống như tu mù”, câu này đúng. Cái này là phương tiện giống như bản đồ, như ngón tay chỉ mặt trăng. Đừng lầm chấp ngón tay
là mặt trăng rồi quên mất mặt trăng luôn.
Khi Ngài Đức Sơn ngộ được nơi Ngài Long Đàm rồi, Ngài đem Bộ Thanh Long Sớ Sao mà ngày xưa Ngài rất quý, đi đâu Ngài cũng mang theo, ra giữa pháp đường đốt. Ngài Đại Huệ Tông Cảo khi thấy người ta cứ chấp trên văn tự mà không chịu tu tập, Ngài cũng đem đốt quyển Bích Nham Lục do thầy của Ngài là Ngài Viên Ngộ viết ra. Cho nên, Tổ Huệ Khả nói tinh thành mà không phát thì rốt cuộc rồi cũng theo nghiệp thọ thôi.
Vì có người lìa huyễn và người chưa lìa được nên phân ra có thánh và phàm.
Người lìa được huyễn là thánh, người chưa lìa được là phàm.
Này Thiện nam tử! Bồ-tát này và chúng sanh đời mạt pháp chứng được các huyễn, diệt các ảnh tượng thì liền thấy mười phương trong sạch, vô biên hư không là chỗ hiển phát của bản giác.
Khi chứng được các huyễn, diệt các ảnh tượng liền thấy mười phương trong sạch, thấy tất cả chúng sanh đều là Phật. Đã thấy chúng sanh là Phật thì không bao giờ khởi niệm xấu đối với chúng sanh. Còn nếu huyễn chúng ta diệt không được, ảnh tượng thấy còn thật, thì khi có bóng người đi ngang qua, người ta tằng hắng, khạc nhổ gì chúng ta thấy cũng
khó chịu.
Nếu chứng được các huyễn tức thành tựu quán hạnh. Diệt các ảnh tượng tức là y tha cũng mất, liền thấy mười phương trong sạch. Nếu thân làm chủ thì bên ngoài thấy đông tây, nay tướng ngã không còn thì đâu có phương sở.
Sa-ma-tha, Tam-ma-bát-đề, thiền-na tức là thành tựu quán hạnh. Nếu không làm chủ cái tâm mà bị thân làm chủ, thì bên ngoài thấy đông tây nam bắc đều bất tịnh ô nhiễm, mà nay tướng ngã sạch rồi thì thông suốt mười phương, trong sạch vô biên tức là hiển phát, chỗ nào cũng là bản giác.
Tạm mượn câu chuyện đời để chia sẻ:
Ông vua nước Sở được vua nước Triệu tặng cây kiếm, ông rất quý, đi đâu cũng đeo bên mình. Một hôm, ông bị mất kiếm, các vị quan trong triều đến chia buồn, ông nói:
Mất cũng không sao, bởi vì vua nước Sở mất kiếm, người nước Sở được kiếm.
Người ta vỗ tay nói hay quá. Câu chuyện này đến tai Khổng Tử. Khổng Tử nói:
Cũng chưa hay. Theo ý của Thầy, người mất kiếm, kẻ được kiếm.
Bởi vì khi còn thấy vua nước Sở mất, thấy người nước Sở được, còn thấy dân của tôi được, tức là còn năng còn sở, còn phương hướng. Khổng Tử chỉ thấy
là người mất kẻ được vậy thôi, không cần biết là người nào.
Thiên hạ nghe câu chuyện ai cũng tán thán Khổng Tử, nhưng khi đến tai Lão Tử. Lão Tử nói:
Cũng chưa hay, mà phải thấu suốt chỗ là không thấy người mất kiếm và người được kiếm.
Tức là mất phương hướng, phương sở, vô biên đều là bản giác.
Khi nghe câu chuyện này, Khổng Tử kêu các trò:
Này các trò, ta ví như con chim, còn Lão Tử ví như con rồng, thấy đầu mà không thấy đuôi, thấy đuôi mà không thấy đầu.
Cảnh giới của Lão Tử là vô vi không tạo tác. Khi thiền thâm nhập qua Trung Quốc, có từ vô vi là từ của Lão Tử nói.
Vô biên hư không là chỗ hiển phát của bản giác. Nên Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nếu có một người phát chân tính trở về nguồn thì hư không mười phương đồng tiêu mất.”
Trong Kinh Lăng Nghiêm, Phật nói, một người trở về nguồn tâm thì mười phương thế giới tiêu mất, chỗ nào cũng hiển hiện bản giác cho nên mười phương không ngăn ngại.
Một hôm, Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo ngồi xem Kinh,
có ông tăng nói:
- Bạch Hòa thượng, trong Kinh Lăng Nghiêm nói, một người trở về nguồn chơn thì mười phương đều mất, như vậy từ xưa đến giờ chẳng lẽ không có bậc thánh ra đời?
Ngài nói:
- Nhiều lắm.
- Bậc thánh ra đời nhiều mà tại sao núi non sông biển vẫn còn?
Thiền sư nói: Một người trở về nguồn tâm, mười phương thế giới tiêu mất.
Người trở về nguồn chơn, họ thấy mười phương thế giới không có thật; không có thật là đối với người đó chớ không phải là tiêu cái núi luôn. Trở về nguồn tâm không phải là phá năm uẩn, mà mượn năm uẩn để đưa ra các diệu dụng phổ độ chúng sanh, chứ không phải phá năm uẩn để mà thành Phật.
Vào đời nhà Đường, dưới pháp hội Ngài Mã Tổ có 84 vị thiện tri thức, tức là đã kiến tánh, mà sao không thấy Phật đâu hết. Họ không hiểu, Phật này là Phật nhân. Nhưng khi họ kiến tánh rồi nhưng công đức không có bằng chư thánh, có nghĩa là họ phải trải qua năm tháng dụng công, giáo hóa, công đức mới đồng với chư thánh; chứ không phải vừa kiến tánh, thân biến ra 32 tướng tốt; cái đó gọi là tà kiến. Kiến tánh thành Phật là thành Phật nhân, từ cái nhân
đó tu để mà thành Phật quả thì phải trải qua vô số kiếp. Nhưng khi kiến tánh thành Phật, họ không có lầm pháp nữa. Người nào chưa kiến tánh thì còn lầm chấp các pháp là thật, bị các pháp nó dẫn, tướng nó chuyển. Còn người kiến tánh rồi, họ không lầm nữa nên không có khổ. Mượn phương tiện giống như Lục Tổ, Ngài đâu có phế cái thân này, mà mượn cái thân để phổ độ chúng sanh, bắt đầu có diệu lực.
Tóm lại, ban đầu, nhân một niệm bất giác vô minh vọng động che mất đi cái diệu giác sáng suốt, bèn biến thể của chơn không làm thành mười phương ngoan không.
Do một niệm bất giác vô minh vọng động mà che mất đi cái diệu giác sáng suốt, biến cái thể của chơn không làm thành mười phương ngoan không, tức là nó không có diệu lực diệu dụng. Khi trở về tánh viên giác rồi thì thắp cây hương cũng phát sanh công đức, tại vì pháp này là pháp của chơn không, chớ không phải nó không có diệu lực diệu dụng. Như vậy, diệu lực diệu dụng là do người tu tập.
Mê, bất giác, vọng động, diệu giác minh tâm không sáng thì mười phương pháp giới là chơn không biến thành ngoan không. Sống lại tánh giác, phổ ra các pháp đều là chơn không, đều là diệu đức. Chúng ta tu được thì cái gì cũng xong, một ly nước lạnh uống cũng hết bệnh, còn tu không xong, thuốc bổ cũng thành thuốc độc.
Con ông Bùi Hưu mới 25 tuổi đỗ Hàn Lâm viện học sĩ, ông sợ con học giỏi mà không chịu tu tập sẽ ngã mạn nên ông gởi vào chỗ Thiền sư Vô Đức. Người con được gởi vào chùa, Thiền sư bắt gánh nước, chẻ củi. Lần nào gánh nước đi ngang đều bắt gặp Thiền sư ngồi uống trà. Con ông Bùi Hưu làm bài kệ:
Hàn lâm viện học sĩ, Gánh nước, chẻ củi Mệt muốn chết,
Lão Hòa thượng ngồi không Lại uống trà.
Lúc này Thiền sư Vô Đức nói:
Chỉ cần lão tăng thắp ba cây hương thì một ngày uống năm ký trà cũng tiêu.
Năm ký trà là tiền tín thí cúng, tối Ngài lên thắp ba cây hương, diệu lực của Ngài hồi hướng công đức lành này về cho thí chủ. Khi thí chủ cúng dường cho một vị có giới đức đầy đủ thì tự nhiên phước họ tăng lên; cho nên Ngài thắp ba cây hương bằng mình tu cả năm.
Ngài Huệ Khả nói: “Khắp cả mười phương chư Phật, nếu không tọa thiền mà thành Phật thì không có lẽ.” Chỉ có một con đường duy nhất. Tôi khuyên đại chúng, nếu ở đây không hợp thì đến các thiền viện, ráng tu thiền đừng có đổi pháp môn; tu ở đây
không được qua chỗ khác mình vẫn tu thiền. Pháp nào của Phật dạy cũng đúng mà mình hợp duyên tu tập tọa thiền, lỡ nhức chân, nhức lưng hãy mua thuốc uống để tu chứ đừng bỏ. Tu thời gian, bệnh cũng chạy trốn, còn đầu hàng là mình chết.
Đức Phật dạy: Viên giác hiện thì các pháp đều thanh tịnh, có nghĩa là một người tu tập và chứng nghiệm, nói khác hơn là kiến tánh, sống với tâm viên giác nhìn đâu cũng thanh tịnh; còn chưa sống được với tánh viên giác nhìn đâu cũng bất tịnh.
Vì tâm thanh tịnh nên thấy các trần thanh tịnh.
Chúng ta tu bất cứ pháp môn nào cũng đều quy chiếu về tâm. Tâm thanh tịnh, nhìn đâu cũng thanh tịnh. Tâm không thanh tịnh, nhìn đâu mình cũng thấy bất tịnh. Khi mới xuất gia với tâm mong mỏi xuất gia để ly trần, mình nghĩ chắc tu một năm là thành Phật, nhưng khi vào trong đại chúng có nhiều cái duyên xảy đến. Ngày xưa mình nghĩ, sẽ sống như thế, tu như thế, nhưng khi vào trong đại chúng gặp những nghịch duyên, chẳng hạn như bệnh tật làm cho tâm không được vui, không được khinh an, bắt đầu tâm mình thối thất. Tâm mà thối thất rồi, nhìn cái gì cũng thối thất.
Trong Kinh Duy Ma Cật, Phật dạy các vị Bồ-tát muốn về tịnh độ của mười phương chư Phật, trước phải tịnh tâm mình. Tâm tịnh tức Phật độ tinh chứ
không tìm đâu hết. Muốn lên cõi tịnh độ, phải dọn cái tâm. Nếu tâm toàn là cỏ rác thì nhìn đâu cũng thấy cỏ rác; nghe tiếng chó sủa, tiếng gà gáy, tiếng khạc nhổ, tằng hắng gì cũng bị phiền, bởi vì tâm bất ổn không an yên.
Tôi hay kể câu chuyện: Ở Miến Điện có những trường thiền đi theo con đường tứ niệm xứ: quán về thân, thọ, tâm, pháp. Trong một khóa tu của trường thiền quán về tâm kéo dài sáu tháng, vị viện trưởng dặn, ai muốn trình việc gì phải đến tháng thứ sáu, và chỉ được trình trong hai chữ thôi. Có một anh người phương Tây, đăng ký tu một năm, anh ngủ nệm quen rồi, qua đây nằm đơn không chịu nổi, nhưng bỏ đi thì mất tiền, nên anh ráng ở sáu tháng rồi lên trình Hòa thượng hai chữ: “giường cứng” xong lui xuống. Sáu tháng sau anh lên trình hai chữ: “tôi đi”.
Tưởng đây là câu chuyện phiếm nhưng người xưa hay lắm, khi Lục Tổ đến gặp Ngài Ngũ Tổ, Ngũ Tổ hỏi ông đến đây làm gì, Ngài chỉ nói một câu: “đến làm Phật.” Vua Trần Thái Tông gia quyến bất ổn, Ngài buồn nên vào núi gặp Thiền sư Phù Vân, người về sau làm quốc sư. Quốc sư nói: “Lão tăng ở núi rừng, ăn hạt dẻ uống nước suối, xương cứng mặt gầy theo gió đến đây; còn bệ hạ vì sao bỏ hết tất cả, vào đây để làm gì?” Gặp mình chắc ngồi kể chuyện gia đình, nhưng Ngài chỉ nói “vào núi để tìm Phật.”
Từ khi vào Thường Chiếu, tôi có xin sư phụ lên Trúc Lâm tu học từ năm 1998. Khi lên đó đến 2003 Sư Ông Trúc Lâm cắt chúng tôi qua Canada làm Phật sự. Trước giờ, chưa từng đi ra ngoài mà bây giờ Sư Ông dạy, mình vâng lời đi. Ở gần ba, bốn năm, sáu giờ sáng đang ngồi thiền Sư Ông điện kêu về. Về, Sư Ông dạy làm tri khách, làm quản chúng một thời gian, rồi cắt ra đây.
Đại chúng nhớ một điều, trong cuộc đời tu tập của mình, mình ráng xin làm Phật thôi chứ đừng xin lung tung. Còn như mình ở cái đơn này khó chịu quá mình xin qua cái đơn khác, ở cái đơn khác một thời gian cũng không ổn, rồi đi chỗ nào cũng không ổn vì tâm mình chưa có ổn; nên đại chúng mình dọn cái tâm trước, dọn tâm được rồi, tâm an yên rồi ở đâu cũng sống được. Cho nên, ở đây Phật dạy tâm thanh tịnh thì thấy trần thanh tịnh, thấy tất cả đều thanh tịnh trang nghiêm.
Có vị thiền sư Nhật Bản nói: “nếu sức tu của ông giải thoát được 50%, khi chết ông giải thoát được 50%.” Việc tu của mình là việc hằng ngày, tiếp duyên mà tâm an yên không dấy động thì khi chết biết chắc chắn giải thoát. Duyên trần không có quấy rối mình mà do tâm của mình.
Câu chuyện giữa ông Tô Đông Pha và Ngài Phật Ấn, vì tâm Ngài Phật Ấn là Phật nên Ngài nhìn đâu
cũng thấy Phật; còn ông Tô Đông Pha tâm lợn cợn, gút mắc, cù cặn cho nên ông thấy Thiền sư Phật Ấn giống như bãi phân trâu. Tâm ông không thanh tịnh cho nên chiếu kiến ra ngoài thấy toàn gai góc.
Vì cái thấy thanh tịnh nên nhãn căn được thanh tịnh.
Cái thấy thanh tịnh thì con mắt thanh tịnh luôn, con mắt này không phải là con mắt phàm.
Ngũ nhãn
- Nhục nhãn: là con mắt thịt, con mắt cha mẹ cho, cái gì có hình tướng đều thấy.
- Thiên nhãn: là mắt của chư thiên ở cõi sắc nhờ tu thiền định mà đạt được. Mắt này có khả năng thấy hết mọi thứ xa gần, trước sau, trong ngoài, ngày đêm, trên dưới.
Tôn giả A Nậu Lâu Đà chỉ chứng sơ quả mà Ngài thấy một ngàn tiểu thiên thế giới, đó là cái dụng do đời trước Ngài tu tập. Có những người chứng sơ quả mà không thấy như thế cho nên Ngài rất là tâm đắc, đi đâu Ngài cũng khoe Ngài thấy hơn tất cả mọi người.
Một buổi sớm, Ngài đến gặp tôn giả Xá Lợi Phất, tôn giả hỏi:
- Hằng ngày em tu tập rồi em làm gì? Ngài A Nậu Lâu Đà nói:
- Thưa sư huynh, buổi sáng với cặp mắt thiên nhãn em nhìn khắp một ngàn tiểu thiên thế giới.
Lúc này, tôn giả Xá Lợi Phất biết người sư đệ mình rớt trong chỗ tâm đắc, bởi vì đây là cái dụng do đời trước, cho nên tôn giả Xá Lợi Phất nói:
- Dầu cho sư đệ thấy một ngàn, hai ngàn hay ba ngàn tiểu thiên thế giới nhưng đây chỉ là cái vỏ cây của Phật pháp, chưa phải cái lõi cây. Lõi cây của Phật pháp là đối với các trần tâm bất động, ly tham, ly sân và si, chính điều đó là điều phải gắng đạt đến.
Nghe nói như thế, Ngài xin Đức Phật một đề mục rồi vào núi tu ròng rã 3 tháng chứng A-la-hán. Chứng A-la-hán xong Ngài về cảm tạ tôn giả Xá Lợi Phất.
Câu chuyện trong Kinh kể lại:
Khi Phật lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp để trả ơn mẹ, vua Ưu Điền nhớ Phật quá nên thỉnh tôn giả Mục Kiền Liên lên thỉnh Đức Phật xuống. Lên đến nơi, Ngài Mục Kiền Liên gặp hai vị trời giống nhau như đúc, không biết ai là Phật, ai là trời Đế Thích nên Ngài trở về. Tôn giả Xá Lợi Phất nói:
- Sư đệ chỉ cần nhìn vào đôi mắt là biết.
Ngài Mục Kiền Liên trở lên, nhìn vào đôi mắt hai vị trời là Ngài biết ai là Đức Phật. Bởi vì mắt của Đức Phật an yên bất động, còn mắt của Trời Đế Thích thì ngó tới ngó lui liên tục.
Tại sao tôn giả Mục Kiền Liên có thần thông mà không biết, tôn giả Xá Lợi Phất lại biết? Vì tôn giả Xá Lợi Phất đi bằng con đường trí tuệ, chánh niệm, ly tham nên Ngài nhìn biết. Cho nên, thiên nhãn chưa phải là cứu cánh.
Do đó, Tổ Lâm Tế dạy:
Này quý vị, quý vị nói Phật có lục thông bất khả tư nghì chăng? Thế thì tất cả chư thiên, thần tiên, A -tu-la, đại lực, quỉ há cũng có thần thông? Đó là Phật rồi chăng?
Nếu nói Phật có lục thông thì những vị chư thiên, thần tiên, A-tu-la họ cũng có thần thông, mà thần thông của những vị này cũng đạt đến ngũ thông.
Lục thông của Phật thì không phải như vậy. Vào sắc không bị sắc làm mê hoặc, vào thinh, hương, vị, xúc, pháp không bị mê hoặc, đó là thần thông của Phật. Sở dĩ đạt như vậy là do đạt được sáu loại sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp là không tướng.
Tướng không thật. Chẳng hạn, chúng ta nhìn món đồ vật bằng vàng mà tâm mình bất động là nhãn căn thanh tịnh. Nhãn căn thanh tịnh thì nhãn thức thanh tịnh, nhãn thức thanh tịnh thì sắc trần thanh tịnh.
Vì thấy các trần là không tướng nên không thể trói buộc vị vô y đạo nhân này.
Vào trong sáu trần mà không bị sáu trần trói tức
là chứng được lục thông. Còn có thần thông mà bị dính mắc thì thần thông đó chưa phải.
Ông Uất Đầu Lam Phất, mỗi lần khất thực là ông phi hành, bay trên hư không xuống khất thực. Bữa đó, vua đi vắng, vua dặn con là cô công chúa nhớ ra cúng dường ông Uất Đầu Lam Phất. Tục lệ bên Ấn Độ quý kính các đạo sĩ, cho nên cúng dường xong cô quỳ xuống đảnh lễ, hai tay cô chạm vào chân ông nên ông đứt thần thông, bay lên không được. Ông nói ông mệt và yêu cầu cho ông chiếc xe ngựa chạy lên núi.
Muốn lấy lại thần thông thì phải vào thiền định, mà trên trời chim kêu, dưới nước cá lội, ông không chịu nổi tiếng ồn nên thề sẽ ăn thịt chim và cá. Phật thọ ký sau này ông ở cõi trời phi phi tưởng xứ 84 tiểu kiếp, xong rớt xuống cõi súc sanh làm con chồn phi ly có hai cánh, có thể bay lên trời và lặn xuống nước.
Cho nên thiền đốn ngộ đặc biệt ở chỗ vào sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp là bất động, an yên.
- Tuệ nhãn: Các hàng Thanh văn và Duyên giác phá giả tướng, nghĩa là không chấp về năm uẩn (thân tâm) và không chấp về hiện tượng của các pháp thì được con mắt gọi là tuệ nhãn.
- Pháp nhãn: Là hàng Bồ-tát, thông đạt tất cả các pháp.
- Phật nhãn: Thấy suốt hết mọi pháp, không có gì mà chẳng thấy chẳng biết. Đức Phật có Phật nhãn
và được cả bốn con mắt kia: nhục nhãn, thiên nhãn, tuệ nhãn, pháp nhãn.
Vì căn thanh tịnh nên nhãn thức thanh tịnh. Vì thức thanh tịnh nên văn trần được thanh tịnh. Vì văn trần thanh tịnh cho nên nhĩ căn thanh tịnh. Vì nhĩ căn thanh tịnh cho nên nhĩ thức thanh tịnh. Vì nhĩ thức thanh tịnh cho nên giác trần thanh tịnh. Cho đến mũi lưỡi thân ý cũng lại như thế.
Đoạn này là hiển bày tướng của diệu giác tâm thể viên chiếu để khai thị thể là không.
Tức là không tướng, nhìn ở đâu cũng không dính mắc, tâm an yên bất động là sáu căn, sáu trần, sáu thức đều thanh tịnh.
Nay vô minh một lúc phá trừ, diệu giác tròn sáng, tâm cảnh cả hai đều quên, năng sở đều đoạn, cái thấy này cũng dứt, nên mười pháp giới này đều rỗng rang thanh tịnh. Do thanh tịnh nên mỗi mỗi đều viên mãn, chỉ một pháp giới diệu minh viên chiếu.
Chỗ này không dùng văn tự nữa, ai đủ nhân đủ duyên, phước lực thù thắng tự nhiên nó khế hợp. Bây giờ, mình nói cõi này là tịnh độ, là nói trên văn tự thôi, nhưng nếu gặp nghịch cảnh hay duyên gì bức ngặt, là thấy thế giới này uế độ. Có những lúc ta thấy thế giới này đáng sống nhưng có những lúc không thích sống. Nếu chúng ta không kiến tánh, không tu tập, không có chuyển hóa thì một thời gian
thấy thế giới này uế độ. Nhưng một khi đã sống với tánh viên giác rồi thì chiếu ra tất cả đều thanh tịnh trang nghiêm giống như lưu ly vậy.
Chỉ một giây một phút nào đó bất chợt, chẳng hạn như khi ta đủ nhân duyên vào thất, giống như Tổ Đạt Ma kêu các đệ tử trình kiến giải. Ngài Đạo Phó trình xong rồi, có một vị Ni bước ra trình: “Theo cái thấy của con, giống như Tổ A Nan, nương thần lực của Phật thấy cõi Phật A Súc, thấy một lần rồi mất. Tổ nói ngươi được phần thịt của ta.
Trong cuộc đời tu tập của ta, phải thấy một lần rồi mất cũng được, là ta có niềm tin với pháp môn đốn ngộ. Nếu không thấy, tu một thời gian dễ bỏ cuộc. Cho nên tại sao trong thiền viện có những cái thất để cho thiền sinh nhập, tu, chuyển hóa để thấy một lần thôi.
Một lần này, một lần này,
Muôn lượng vàng ròng cũng tiêu ngay.
Các Ngài nói một khi ông nhận được chỗ này, chỉ một lần thôi, là ngàn lượng vàng ròng thiên hạ đưa ông. Ngày xưa, đọc chỗ này tôi không tin, bây giờ tôi mới tin. Sau này, ra làm Phật sự, xây dựng, có những lúc lạ lắm, bất khả tư nghì. Cho nên pháp này là trực chỉ.
Đến đây chỉ là một tâm viên chiếu, bóng dáng thánh phàm đều dứt tuyệt.
Đến đây chỉ có một tâm viên giác thôi, ngoài ra không có thánh không có phàm, bóng dáng không còn nữa, cái lợn cợn cù cặn không còn nữa, chỉ một chỗ đó thôi.
Một hôm, Tổ Quy Sơn thượng đường khai thị chúng:
Sau khi lão Tăng trăm tuổi đến dưới núi làm con trâu, hông bên trái viết năm chữ “Quy Sơn Tăng Linh Hựu” khi ấy gọi là “Quy Sơn Tăng” hay gọi là con trâu? Gọi là con trâu hay gọi là “Quy Sơn Tăng”? Gọi thế nào mới đúng?
Một hôm, chúng ta xuống dưới núi gặp con trâu, hông bên trái viết năm chữ “Quy Sơn Tăng Linh Hựu”, gọi con trâu là phải hay gọi “Quy Sơn Tăng Linh Hựu” là phải? Như vậy, qua cái thấy của Ngài là dứt bặt phàm, thánh, không thấy ta, người nữa.
Câu chuyện trong Triệu Châu ngữ lục ghi:
Thiền sư Nam Tuyền từ trong nhà tắm đi qua, thấy dục đầu nấu nước bèn hỏi:
- Làm gì?
Theo thanh quy của Ngài Bá Trượng, chư Tăng bên đó chia từng tổ, có những vị chuyên chẻ củi, có những vị chuyên gánh nước, chuyên làm rau. Mùa đông Trung Quốc rất lạnh, có những vị chuyên nấu nước gọi là dục đầu, vị đó là tổ trưởng, người nào thấy được chút về đạo lý mới được làm việc này. Ngài dục đầu này vào nấu nước thì Ngài Nam Tuyền hỏi làm gì.
Dục đầu thưa:
- Nấu nước tắm. Nam Tuyền mới bảo:
- Nhớ gọi con trâu đực đi tắm.
- Dạ.
Ngài biết vị này cũng thấm mùi đạo lý, gặp mình đâu dám dạ. Chẳng hạn như hôm nào sư phụ Thường Chiếu về đây gặp mình nấu nước, hỏi làm gì, mình nói nấu nước, sư phụ bảo “nhớ kêu con trâu đực đi tắm”, mình dám dạ không? Bởi vì, mình còn thấy Hòa thượng, thấy con trâu, còn thấy phàm thánh. Nhưng mà vị này đã suốt chỗ phàm thánh.
Đến chiều dục đầu vào phương trượng, Nam Tuyền bảo:
- Làm gì?
Dục đầu thưa:
- Mời con trâu đực đi tắm. Nam Tuyền hỏi:
- Có đem dây thừng theo chăng?
Dục đầu đáp không được.
Trong nhà thiền nói là có thủy mà không có chung, nghĩa là được khúc đầu, khúc đuôi không được. Cho nên, khi vào phương trượng các Ngài gạn cho sạch coi thử cái thấy của đệ tử có đúng không. Sáng thì đúng, mà đến chiều dục đầu vào phương trượng, Nam Tuyền nhấn mạnh: Làm gì? Dục đầu
thưa: Mời con trâu đực đi tắm. Lúc này không mời Hòa thượng nữa. Thiền sư Nam Tuyền bây giờ phải làm sao? Trong nhà thiền nói rút gươm là phải chém, cho nên Ngài hỏi có đem dây thừng theo chăng, ông dục đầu đáp không được, đi ra.
Chiều chạng vạng Ngài Triệu Châu về, Ngài Nam Tuyền kể: “Hồi chiều có ông tăng, có đầu mà không có đuôi.” Ngài Triệu Châu hỏi tại sao có đầu mà không có đuôi, thì Ngài Nam Tuyền kể ra. Thiền sư Triệu Châu nói:
- Hòa thượng nói đi con có cách. Thiền sư Nam Tuyền hỏi:
- Làm gì?
Thiền sư Triệu Châu nói:
- Mời con trâu đực đi tắm. Thiền sư Nam Tuyền hỏi:
- Ông có đem dây thừng theo chăng?
- Có.
- Đâu?
Thiền sư Triệu Châu nắm lỗ mũi Ngài Nam Tuyền giựt mạnh. Ngài Nam Tuyền nói:
Phải thì phải mà thô quá.
Đại chúng thấy con trâu hiện nguyên hình không? Nắm lỗ mũi giật mạnh một cái hiện nguyên hình Ngài Nam Tuyền. Hiện nguyên hình thì không có phàm không có thánh. Thủ thuật của nhà thiền là ngay đó không trả lời, trả lời là trật, phải hành động.
Ngài Hoàng Bá nói Ngài Lâm Tế: Ông đi đông đi tây, ông thấy cái gì chỗ Ngài Đại Ngu mà trở về? Ngài Lâm Tế thoi ông thầy ba cái. Ngài Bá Trượng đưa cái bình ra hỏi: Cái này là cái gì? Ngài Quy Sơn tung cước ra đá bể cái bình. Qua hành động thôi. Cho nên chỉ có một tâm viên giác thanh tịnh, bóng dáng phàm thánh đều dứt.
Này Thiện nam tử! Vì căn thanh tịnh nên sắc trần thanh tịnh, vì sắc trần thanh tịnh nên thanh trần thanh tịnh. Hương, vị, xúc, pháp cũng lại như thế.
Ở đây, ý Phật dạy là nếu sáu căn thanh tịnh thì sáu trần thanh tịnh.
Một hôm, Ngài Ngưỡng Sơn Huệ Tịch đến gặp một vị thiền sư hỏi về nghĩa Phật tính. Thiền sư nói:
- Ví như ông nuôi con khỉ ở trong cái lồng, con khỉ bên trong mà ngủ thì con khỉ bên ngoài sao?
Lúc này, Ngài Ngưỡng Sơn nói:
- Con hiểu rồi, con đã thấy được nghĩa Phật tính.
Thấy cái gì cũng bất ổn là con khỉ bên trong thức, nó quậy. Ở đây nói sáu căn thanh tịnh thì sáu trần thanh tịnh, ví như con khỉ bên trong ngủ, sáu căn lặng làm gì cũng an yên.
Khi Sa-di Cao đến ra mắt Thiền sư Dược Sơn, Thiền sư nói:
- Nghe ở Trường An náo loạn lắm, hai bên đánh nhau dữ dội ông có biết không?
Lúc đó đời nhà Đường có loạn An Lộc Sơn, Ngài đem chuyện lịch sử, Ngài nói.
Sa-di Cao nói:
- Nước con an ổn. Thiền sư hỏi:
- Ông do xem kinh được hay do ông thưa hỏi được?
- Chẳng do xem kinh, chẳng do thưa hỏi.
- Có lắm người chẳng do xem kinh, chẳng do thưa hỏi, tại sao không được?
- Hòa thượng đừng nói họ không được, chỉ vì họ không dám tin điều đó.
Cho nên, mình có niềm tin rồi cứ tu, cho đến lúc
nào căn trần thanh tịnh phóng chiếu ra bên ngoài thì cái gì cũng thanh tịnh vì bên trong thanh tịnh.
Này Thiện nam tử! Vì bốn đại thanh tịnh nên thập nhị xứ, thập bát giới và hai mươi lăm cõi cũng đều thanh tịnh.
Phần này nói về Kinh Pháp Hoa, phẩm Hiện Bảo Tháp. Khi hành giả nhận ra tri kiến Phật thì ngay nơi thân thất đại: Đất, nước, gió, lửa, không, kiến, thức biến thành thất bảo; ngay nơi thân năm uẩn trang nghiêm thanh tịnh. Chỉ cần để đôi dép người ta cũng biết mình có tu hay không. Người ta nói muốn biết đại chúng này tu trang nghiêm hay không thứ nhất là vào nhà bếp, thứ hai là vào nhà vệ sinh.
Ngày xưa, tôi qua bên Úc giảng, tôi hỏi Phật tử tại sao quy y với Hòa thượng, họ nói con chưa từng bao giờ biết Hòa thượng, cũng chưa từng bao giờ học giáo lý, chỉ có đi du lịch thôi. Khi đến Trúc Lâm, con vào nhà vệ sinh, vào nhà bếp là con xin quy y liền rồi con mới tìm hiểu. Ngày xưa, tôi làm nhà khách Trúc Lâm, Sư Ông dạy, khi có khách nước ngoài về tham quan nhớ dắt vào nội viện Ni, rất là sạch. Ở với Hòa thượng là vậy, đi trên đường mà gặp một miếng giấy hoặc một cây đinh Hòa thượng cũng lượm. Buổi sáng, có năm, sáu thầy cầm cái giỏ rác đi theo để gắp rác, rất là trang nghiêm thanh tịnh.
Người ta nói không cần treo bảng cũng biết là thiền viện của Hòa thượng. Chánh báo tốt biểu hiện qua y báo. Người ta đến thiền viện tu học, trước tiên người ta nhìn đôi dép để ngay ngắn hay không, nhìn đôi dép dơ quá hoặc móng tay móng chân mấy ông thầy dính đất đen thui. Thôi! Đi chỗ khác quy y, người ta còn chấp tướng mà. Tâm mình thanh tịnh rồi thì biểu hiện ra cái gì cũng sạch sẽ trang nghiêm. Khi mà tâm thanh tịnh thì bốn đại, thập nhị xứ, thập bát giới và hai mươi lăm cõi đều thanh tịnh, kể cả cõi súc sanh.
Hai mươi lăm cõi:
Lại nữa 25 hữu là các cõi trong tam giới gồm:
- Tứ ác thú: A-tu-la, địa ngục, ngạ quỷ, súc
Cho nên, tại sao các đại Bồ-tát vào cõi A-tu-la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh mà tâm các Ngài không dấy niệm. Vì các Ngài thấy Phật tính của họ. Tâm các Ngài là Phật, nhìn tất cả các pháp đều là Phật nên các Ngài mới hiện thân trong các cõi. Các Ngài thấy mầm mống của họ là Phật rồi thì ráng cố gắng giáo dưỡng để họ tu một thời gian sẽ thành Phật; còn mình không được, vì tâm mình chưa an yên.
- Bốn châu: Đông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hóa Châu, Nam Thiệm Bộ Châu, Bắc Câu Lô Châu.
Chúng ta đang ở Nam Thiệm Bộ Châu.
- Sáu tầng trời cõi dục: Tứ Thiên Vương, Đao Lợi
thiên, Dạ Ma thiên, Đâu Suất Đà thiên, Hóa Lạc thiên, Tha Hóa Tự Tại thiên.
Trong sáu cõi trời này, chỉ Đâu Suất Đà thiên là có Phật pháp; trong nội viện Bồ-tát Di Lặc thuyết pháp cho đại chúng nghe, nghe rồi phát nguyện lực xuống cõi này tu một kiếp nữa thôi là thành Phật.
- Bảy cõi trời sắc giới: Sơ thiền thiên, Đại phạm thiên, Nhị thiền thiên, Tam thiền thiên, Tứ thiền thiên, Vô tưởng thiên, Tịnh cư A-na-hàm thiên.
Ai mà chứng quả A-na-hàm rồi thì lên cõi trời thứ 19, gọi là Tịnh cư A-na-hàm thiên tu tiếp, đắc quả A-la-hán nhập Niết-bàn luôn.
- Bốn cõi trời vô sắc: Không vô biên xứ thiên, Thức vô biên xứ thiên, Vô sở hữu xứ thiên, Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên.
Tất cả cõi này đều thanh tịnh hết.
Trong bảy cõi trời sắc giới, bốn tầng trời Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền mỗi tầng là một cõi hữu. Đặc biệt Đại phạm thiên được tách riêng từ tầng trời Sơ thiền thành cõi Trời Phạm thiên, là chủ tể của ba ngàn đại thiên thế giới. Vô tưởng thiên được tách riêng từ tầng Trời Tứ thiền thành một cõi.
Chúng sanh sanh trong cõi này không còn tư tưởng nữa, nhưng nó vẫn còn ngầm ở bên trong rất là khó thấy, chỉ có trí Phật mới thấy được.
Vô thiền thiên, Vô nhị thiên, Thiện kiến thiên…, hay gọi là tất cả các cõi Trời gôm lại.
Đại chúng thấy trên tất cả các cõi Trời vẫn còn mầm mống của sanh tử, cho nên Phật nói chỉ có các đại Bồ-tát mới dám hiện thân vào các cõi để giáo hóa. Giống như Bồ-tát Quán Thế Âm, ai cần thân trời Đại Phạm thiên Ngài hiện ra. Ở địa ngục cần Ngài giáo hóa, Ngài hiện ra. Bởi vì căn trần Ngài thanh tịnh nhu nhuyến, cho nên biểu tượng của Bồ-tát là cầm nhành dương liễu. Bồ-tát đã dám phát đại nguyện lực đi vào trong hai mươi lăm cõi vì: Bốn đại thanh tịnh nên thập nhị xứ, thập bát giới và hai mươi lăm cõi thú đều thanh tịnh.
Năm cái thấy của hành giả
- Tưởng Tri: là cái thấy ban đầu khi mình chưa biết Phật pháp, là cái biết do tưởng tượng, như mây bay thấy trăng dời, thuyền đi thấy bờ chạy.
Tức là cái thấy còn chấp pháp, chấp ngã, chấp nhơn, chấp chúng sanh, thọ giả. Cho nên trong Thành Thật Luận, Phật dạy:
Tiểu nhân bị nhục mạ Đau như chim trúng đá. Đại nhân bị nhục mạ, An như voi tung hoa.
Tiểu nhân còn chấp ngã, chấp pháp khi bị nói một câu nhẹ thôi họ đau giống như chim trúng đá.
Họ ăn không được, ngủ không được, họ hận, tìm cơ hội để trả thù. Còn đại nhân bị nhục mạ, bị chửi mắng vẫn an ổn, giống như là con voi người ta tung hoa lên, vẫn thấy bình thường không có gì hết.
- Thức tri: là biết do phân biệt so sánh, đẹp xấu, hay dở, ngu trí.
Tức là còn năng và sở để mà phân biệt. Sau đó, chúng ta học kinh sách, nghe pháp, gọi là văn, tư, tu đạt được con đường giới định tuệ, ly tham, ly sân, ly si, bắt đầu bước vào con đường tuệ tri.
- Tuệ tri: là cái biết bằng trí tuệ nhờ công phu thiền định, gọi là định cộng giới.
Ban đầu, chúng ta nghe pháp rồi thấm gọi là đạo cộng giới. Tiếp tục về tu tập để trưởng dưỡng gọi là định cộng giới.
Cái thấy này không phải giống như người ngu, mà là cái thấy bất động. Lời của người ta không tác động đến, giống như họ nói vào khoảng không. Bởi vì lỗ tai không bắt cái làn sóng của đối tượng khi bị họ nhục mạ nhờ có công phu thiền tập. Cho nên, chúng ta phải ngồi thiền tu tập, có sức chuyển hóa rất lớn, nói chỉ là trên văn tự thôi. Chúng ta được cái may mắn là thiền giáo song hành, vừa ngồi thiền vừa nghe giáo, nghe giáo xong, áp dụng thực tập rồi đi vào cuộc sống động và tịnh.
Bây giờ, tôi mới biết rằng tôi tiếp xúc giữa động và tịnh như thế nào. Vừa rồi, tôi tiếp xúc cử tri, tưởng chừng như họ chuẩn bị lên đánh mình vậy. Hồi xưa giờ cứ nghĩ mình là ông thầy ai mà chửi mình, bây giờ dính vào công việc đại biểu tiếp xúc cử tri bị họ chửi thôi là chửi. Lúc trước, tôi họp dưới tỉnh, ở Trung ương người ta nói là “các đồng chí phải nhẫn mới thắng được.” Tôi nghĩ nhẫn là nghề của thầy tu đương nhiên là phải nhẫn rồi. Không lẽ người ta chửi mình chửi lại, người ta đánh mình đánh lại, không có như vậy.
Trong giờ phút này, mà dùng ‘chỉ’ chận lại giống như cái đập nước bị vỡ bung. Tôi khuyên những người làm việc Phật sự, ngay trong giờ phút này nên dùng ‘quán’: Coi người này như cha mẹ, như người thân, tại sao họ bị hoàn cảnh như thế, tự nhiên tâm mình khởi lòng từ bi muốn giúp đỡ họ, dầu họ chửi mình cũng thương. Quán sâu hơn nữa, họ không có trí tuệ, đang ở trong cái cục bộ, bắt đầu mình mới hóa giải. Ngài Mã Minh nói ngay trong giờ phút này hành giả phải dùng ‘quán’: quán khổ, quán vô thường hoặc quán từ bi, quán những người này ở trong vô minh, thương cảm người đó, tự nhiên cái sân của mình lặng xuống hồi nào không hay, cái giận không còn nữa. Đó gọi là tuệ tri, là cái thấy như thật nhờ công phu thiền định.
- Thắng tri: là cái biết thù thắng trong trạng thái an yên không dấy niệm, không dính mắc hai bên, năng sở, chủ khách, có không.
Thắng tri không phải đi bằng con đường định nữa mà đi bằng con đường chuyển hóa lớn. Khi có sức chuyển lớn rồi thì liễu tri, rõ ràng thường biết.
- Liễu tri: là rõ ràng thường biết không thể nói đến do dụng công phu tu tập.
Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên ghi:
Một hôm, Mã Tổ hỏi Thiền sư Dược Sơn:
- Gần đây chỗ thấy của ông thế nào? Sư thưa:
- Gần đây chỗ thấy của con da mỏng da dày đều rớt hết. Mã Tổ bảo:
- Chỗ ông đã được có thể hợp cùng tâm thể bủa khắp tứ chi, ông nên làm thuyền bè, chớ ở đây lâu.
Tức là khuyên đi làm Phật sự. Thấy chỗ này rồi phải mở đạo tràng, tiếp tăng độ chúng, lập tông chỉ, phát đại nguyện độ sanh, cái thấy đã như thế mà ở luôn trong đại chúng thì uổng lắm.
Vì các pháp kia thanh tịnh nên mười lực, bốn vô sở úy, bốn trí vô ngại, ba mươi bảy phẩm trợ đạo thanh tịnh như vậy, cho đến tám vạn bốn ngàn môn Đà-la-ni cũng đều thanh tịnh.
Người kiến tính thì bất khả tư nghì. Khi kiến tính rồi, các Ngài phải rời chúng hoặc ẩn tu trong chúng để trưởng dưỡng cho nó thành hình, tức là tu đến thành Phật. Kiến tính là thành Phật nhân thôi, còn thành Phật quả là phải mỗi kiếp tu một chút, thành tựu rồi thì mới được mười lực, bốn vô sở úy, bốn trí vô ngại. Nếu được thanh tịnh rồi thì tám vạn bốn ngàn môn Đà-la-ni cũng đều thanh tịnh, tất cả các pháp đều thanh tịnh.
Cho nên với cặp mắt của Đức Phật khi Ngài chứng quả vô thượng Bồ-đề rồi, Ngài thấy khắp pháp giới, từng ngọn cỏ đều là pháp tính, tất cả mọi hiện tượng xung quanh đều là ngũ sắc rực rỡ gọi là hào quang chiếu khắp.
Bên Ấn Độ có tứ động tâm: nơi Phật đản sanh, Phật chuyển pháp luân, Phật thành đạo, Phật nhập Niết-bàn. Trong kinh Hoa Nghiêm nói, khi Đức Phật thành đạo rồi hiện bây giờ năng lượng, làn sóng vẫn còn trên từng lá cây ngọn cỏ, người đến tự nhiên tâm có giao cảm. Khi tâm thanh tịnh rồi, tất cả mọi pháp có cơ cảm, đó là tinh thần của Kinh Viên Giác.
Phần trước Phật dạy cho các hàng Bồ-tát và chúng sanh đời sau phần Lục phàm, từ địa ngục đến các cõi trời sắc giới, vô sắc giới rồi đến ba ngàn đại thiên thế giới đều thanh tịnh.
Đọc đến phần này mình mới hình dung được rằng, ở trong hội của Tổ Quy Sơn có tới 1.500 chúng mà không có điều gì xảy ra. Tại sao? Vì các ngài ai cũng thanh tịnh cho nên dung nhiếp, Kinh Hoa Nghiêm gọi là sự sự vô ngại pháp giới. Còn ở một, hai người mà xào xáo xích mích, tâm không được an yên là do bên trong mỗi người không được thanh tịnh.
Cho nên, môi trường rất quan trọng. Đại chúng ai cũng tu học, lên thiền đường ai cũng ngồi hai tiếng trang nghiêm thì người kế bên cũng thanh tịnh. Mình ngồi yên mà nhìn lên thấy huynh đệ ngồi nhúc nhích hay hôn trầm mà mình cũng khởi niệm là mất thanh tịnh. Ai cũng thanh tịnh thì hội chúng ở bao nhiêu ngàn người cũng không có vấn đề gì hết. Quy chế của Sư Ông Trúc Lâm, ai vào thiền viện mà không ngồi thiền từ một đến hai ngày là phải mời đi. Ở các thiền viện, ngày 14 là có buổi thỉnh nguyện. Ngày xưa đích thân Sư Ông lên thỉnh nguyện. Nếu ai bỏ ngồi thiền, bỏ tụng kinh một, hai lần là phải rời đi chớ không dám ở, vì lực của Sư Ông Trúc Lâm mạnh lắm, cho nên ai cũng phải tu, không dám bỏ.
Khi ra làm Phật sự mới thấy, chẳng hạn như trong cuộc họp của những người tu, có một chút xíu chuyện thôi họ cũng chấp chặt. Vì họ ỷ lại, nghĩ rằng học hiểu đủ rồi, cái chấp ngã sâu dày lắm, nên bào mòn dữ lắm. Học chỉ là cái bản đồ cho mình biết
để không đi lệch thôi, không tu là chết, cho nên bắt buộc phải tu.
Phàm phu tu tập chuyển hóa để đi thẳng lên gọi là lục phàm đều thanh tịnh. Khi lục phàm thanh tịnh, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, trời, người, A-tu-la thanh tịnh thì tứ thánh cũng đều thanh tịnh.
Vì các pháp kia thanh tịnh nên mười lực, bốn vô sở úy, bốn trí vô ngại, ba mươi bảy phẩm trợ đạo thanh tịnh; như vậy cho đến tám vạn bốn ngàn môn Đà-la ni cũng đều thanh tịnh.
Chúng ta thường nghe nói Như Lai có 10 lực. Thật ra Như Lai chỉ có một trí lực thôi, nhưng lực này có 10 dụng nên gọi là 10 lực.
Chỉ có một trí lực đó là trí Bát-nhã. Khi trí Bát-nhã thấy thật tướng của các pháp thì phát huy ra mười dụng. Như vậy khi Đức Phật dùng tuệ Bát-nhã thấy thật tướng của các pháp thì tự nhiên có lực dụng. Vậy thật tướng các pháp là gì? Thật tướng là cái vô tướng, chúng ta phân tích cách mấy cũng không đến chỗ thật tướng. Vua Lương Võ Đế đem chỗ thánh đế đệ nhất nghĩa ra hỏi, ông nêu bày lên chỗ thật tướng, là yếu chỉ, là cực tắc. Nhưng đến với Tổ Đạt Ma, Ngài nói ‘hoắc nhiên vô thánh’, tức là rỗng rang không có thánh cũng không có phàm.
Nhưng ý thức chúng ta khởi lên không phàm, không thánh là cũng dính mắc vào chỗ không phàm, không thánh, cho nên bắt buộc phải tu tập, dụng công để có lực dụng. Nhờ lực dụng này hóa giải những oán nghiệp đời trước, làm cho mình không còn phiền não, khổ đau, không còn trạo cử thân tâm khi tu tập. Phật chỉ có một trí thấy như thật, còn chúng ta lúc thấy lúc không, nên không có lực dụng. Có lực dụng mới có năng lực đi vào cuộc đời hướng dẫn người ta tu tập chuyển hóa. Không có lực dụng thì chúng ta chỉ nói cho vui thôi.
Nói chung là lực dụng này có khả năng phá dẹp oán địch không gì có thể khắc phục được.
Chúng ta tu tập đừng có dính mắc, tâm an yên tức là có lực dụng. Như người xưa nói, đi qua các pháp giống như đi qua làng cổ độc, một giọt nước cũng đừng thấm môi, tức khắc có lực dụng. Lực dụng ngày một chút, khi tu tập được, năng lượng phát ra từ lực dụng, người ở gần cảm được, mới có đủ năng lực phá dẹp oán địch. Oán địch là những nghiệp xấu từ quá khứ, bây giờ hình thành lên nó tác động đến. Chúng ta có lực dụng đẩy nó ra, tạm gọi là đẩy ra, cho nên không thấy có phiền não. Ví dụ, ngày xưa chúng ta nghe lời nói đó chịu không nổi, bây giờ nghe thấy như không.
Mười lực
- Biết hết tất cả nhân duyên, quả báo của các pháp thì hàng phục tâm chấp không nhân và nhân ác. Biết người nào có thể độ và không thể độ.
Không ‘nhân’ có nghĩa là dầu cho ai đó làm ác, nhân cũng không trổ ra, bởi vì chết là hết, đó là chấp đoạn. Hoặc là nói bây giờ làm vua, dù có làm ác, mai kia chết rồi cũng vẫn làm vua, đây là chấp thường.
Đức Phật biết nhân duyên quả báo, nhờ Đức Phật chỉ dạy cho chúng ta biết tu nhân gì được quả gì. Ngài biết người nào có thể độ và không thể độ, vì Ngài biết rõ ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai.
Trong quyển Na Tiên Tỳ-kheo, vua Mi Lan Đà hỏi Na Tiên Tỳ-kheo:
- Đức Phật biết Đề Bà Đạt Đa sau này sẽ phá Tăng đoàn, tại sao Ngài nhận?
Ngài Na Tiên nói:
- Vào thời Phật còn tại thế, tôn giả A Nan đã từng đem câu chuyện này hỏi Thế Tôn, tại sao biết Đề Bà Đạt Đa sau này sẽ phá hoại Tăng đoàn dẫn đến Tăng đoàn bị chia rẽ mà Thế Tôn lại nhận.
Phật nói nếu không nhận Đề Bà Đạt Đa đi tu thì sau này chắc chắn ông sẽ làm vua, ông sẽ giết nhiều người, do nhân duyên tạo ác ông sẽ rớt xuống địa ngục chịu khổ dài
lâu. Nhưng nhờ nhân duyên gặp Phật pháp, nên mặc dù ông phá hoại, chia rẽ Tăng đoàn, khi hết quả khổ địa ngục thì ông lên gặp Phật pháp tu chứng quả.
- Biết rõ ba nghiệp thiện, ác, vô ký, và ba báo thuận, tức là hiện báo, sanh báo, hậu báo.
Hiện báo là khi làm một việc gì đó ác hoặc thiện trổ ra đời này. Hậu báo thì đời sau. Sanh báo thì nhiều đời, cái nào thuận, cái nào nghịch Phật biết hết.
Biết người nào được độ, có chướng hay không có chướng.
Đức Phật độ Xa Nặc vì biết Xa Nặc có một chướng nạn là ỷ mình hồi nhỏ theo Phật nên có tâm ngã mạn. Khi Phật sắp nhập Niết-bàn Ngài dạy, muốn Xa nặc chứng quả thì có một biện pháp gọi là mặc tẩn. Mặc là im lặng, tẩn là tẩn xuất, Xa Nặc ở trong Tăng đoàn mà không một ai nói chuyện. Do đó, ông cảm thấy hổ thẹn, tàm quí, ông tu chứng quả.
- Biết các thiền giải thoát tam muội, cấu tịnh và biết quả đạt được do nương theo đây.
Được lực dụng này thì biết các thiền: từ sơ thiền đến nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, tứ không …, đến chỗ thiền sâu nhất gọi là phấn tấn tam muội, biết chỗ cấu và tịnh đạt được do nương theo đây mà tu tập. Nếu chúng ta tu còn hời hợt, nửa tin nửa ngờ thì chưa đạt được chỗ này. Còn dầu cho người ta đem thiền mình đang tu ra bêu xấu, mình cũng tin chắc
một điều là pháp này tôi tu sẽ thành Phật, kiếp này chưa được nhưng tôi biết kiếp sau sẽ được, nên tôi nương theo đây tu tập. Có niềm tin sâu như thế, là biết rằng mình có lực dụng, đó gọi là chánh định. Có chánh định thì có chánh thọ, gọi là tự thân thọ dụng. Mình tu pháp thiền này cảm thấy được khinh an, càng ngày càng bớt được những phiền nhiễu trong cuộc sống giữa đời thường.
- Biết rõ năm căn: tín, tấn, niệm, định, tuệ. Biết năm loại ham muốn khiến lìa bất tịnh để tăng trưởng cái tịnh.
Biết năm loại ham muốn là tài, sắc, danh, thực, thùy. Biết rõ khiến cho mình xa lìa. Tiền bạc, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ, biết cái này cản trở đời tu, cái này là bất tịnh, mình xa lìa để đạt được thanh tịnh. Lìa được năm cái này sẽ được lực dụng thứ bốn.
- Biết nhất thừa, tam thừa, ngũ thừa, các loại tính dục tham, sân, si.
Biết tại sao tham, sân, si mê. Tại sao biết mình tham? Là khi mình quay lại. Một hôm nào đó ngồi thiền hay đi đứng nằm ngồi, có một niệm dục tham, hoặc dục sân, hoặc dục si nổi lên là mình biết liền. Khi nó được tách lìa, không còn đắm đuối, không bị nó nhấn chìm thì tức khắc mình biết loại tính này đưa xuống con đường đau khổ.
- Biết tức thời, dị thời, đời này, đời sau ai có thể độ, ai không có thể độ.
- Biết tất cả chỗ đến của đạo.
- Biết túc mạng trụ.
Biết mình trụ ở thế gian này bao nhiêu năm. Phật biết 80 tuổi Phật nhập Niết-bàn, gọi là túc mạng trụ.
- Biết chết đây, sanh kia tức là thiên nhãn trí.
Biết chết ở đây sanh chỗ khác và biết rõ sanh chỗ khác sẽ làm gì, tiếp tục con đường này như thế nào.
- Biết tự giải thoát vô ngại, cũng biết chúng sanh lậu tận Niết-bàn. Phật có vô lượng, nhưng theo nhân duyên độ chúng sanh, nên chỉ nói mười cũng đủ bàn việc ấy.
Tức là Phật có vô lượng năng lực và lực dụng chớ không chỉ mười lực này, nhưng độ chúng sanh thì nêu ra mười lực này thôi là đủ.
Chết đây sanh kia, chúng ta biết không? Biết! Tạo nghiệp sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, uống rượu, tạo 10 nghiệp ác là biết chết đây sẽ rớt về đâu; tạo 10 điều thiện là biết chết đây sanh về đâu.
Khi ông Cấp Cô Độc khởi niệm xây tinh xá Trúc Lâm và trình Đức Phật được Phật chấp nhận, trên đường đi cùng tôn giả Xá Lợi Phất về thành Xá Vệ để lo việc xây dựng, nương năng lực của Tôn giả, ông Cấp Cô Độc thấy sáu cõi trời hiện lên cùng một
lúc. Ông hỏi tôn giả trong sáu cõi Trời đó cõi nào có Phật pháp, tôn giả nói chỉ có cõi Trời Đâu Suất, ông phát nguyện khi mất được về cõi Trời này. Khi ông sắp mất, sáu cõi Trời cũng hiện ra cùng lúc, ông phát nguyện về cõi Trời Đâu Suất, năm cõi kia biến mất.
Cho nên, chết đây sanh kia tự mình biết. Nuôi tâm tham, sân thì biết khi chết rớt trong loài thú; tâm bỏn xẻn, ích kỷ, keo kiệt khi chết biết rớt trong loài ngạ quỷ; tâm si mê không biết gì hết là biết chết rớt trong địa ngục; hay nóng giận, bực tức, cau có là biết chết rớt vào A-tu-la; hoặc phát nguyện lực chết rồi tái sanh tiếp tục đi con đường này nữa. Chỉ có người tu mới cảm được, còn không tu thì chỉ là đọc trên sách vở chơi vậy thôi.
Bốn Vô Sở Úy
- Biết đúng đắn tất cả pháp, đó là Phật nói lời chân thật: Ta là bậc nhất thiết chánh trí.
Bốn Vô sở úy là bốn đức không sợ hãi của Thế Tôn. Chẳng hạn hôm nào, chúng ta ngồi giữa đám đông tự nói mình đã đạt tới cảnh giới vô ngã nhưng thật ra chưa đạt; hoặc chưa thành Phật, chưa chứng quả A-la-hán mà tự cho là Phật, A-la-hán. Nói xong, trở về tự viện mình sợ hãi, sợ có người thử. Còn Phật biết chắc chắn, Ngài đã đạt được con đường như thế nên Ngài không sợ hãi.
- Hết các lậu hoặc và tập khí, đó là Đức Phật nói: Ta đã sạch các lậu hoặc.
Chắc chắn chúng ta không dám nói như vậy, vì chúng ta chỉ hiểu và đang trên con đường tu tập, gạn lọc từ từ. Chỉ có Đức Phật nói được lời này vì Ngài đã sạch các lậu hoặc. Ngài không còn sợ gì nữa: không sợ chư thiên, thiên ma, ngoại đạo, các loài hữu tình đến cật vấn.
Trong kinh kể câu chuyện:
Khi Đức Phật đến một thành nọ, không biết nhân duyên gì mà ông trưởng làng Bà-la-môn cấm tất cả mọi người không ai được cúng dường Đức Phật. Trưởng làng mà đưa ra lệnh gì nếu ai không tuân thủ là đi ra khỏi làng. Buổi sáng đó Đức Phật đi từ nhà này qua nhà khác, từ thôn này qua thôn khác mà gần quá ngọ rồi không ai cúng.
Có một bà lão ở cuối làng không biết lệnh cấm này nên bà ra cúng dường Đức Phật. Đức Phật thọ ký cho bà, nhân công đức cúng dường thanh tịnh, trải qua 91 đời bà sanh bất cứ nơi vào cũng được phước lực thù thắng, khi ăn uống nằm ngồi đều có diệu lực làm cho bà an ổn, không bị dục trần quấy nhiễu.
Tình cờ ông chồng bà về đến, nghe Phật nói như thế ông nói:
- Cồ Đàm, đâu vì miếng ăn mà nói dóc làm
Bởi vì cúng có một chút mà sao thọ ký nhiều vậy.
Phật nói:
- Nãy giờ ông có đi ngang thành Ba-la-nại không?
- Có.
- Ông thấy những cây xoài đó ra sao?
- Những cây xoài đó trái nhiều lắm.
- Cây xoài đó trái nhiều, vậy khi gieo giống thì gieo bao nhiêu hạt?
- Thì chỉ gieo một hạt. Phật nói:
- Gieo có một hạt sao bây giờ nó ra nhiều trái vậy?
Người xưa nói:
Xuân một hạt giống gieo, Thu gặt ngàn thóc mễ.
Người đời tạo lành dữ, Quả báo cũng như thế.
Lúc đó, ông cũng chưa tin, Phật thè lưỡi dài, bên Bà-la-môn tin người lưỡi dài ba đời không nói dối, khi đó ông mới tin điều Đức Phật nói.
- Nói tất cả pháp chướng đạo.
Mình ta tu tập mà hay khởi những niệm sân hận, bực tức, nó cản trở đạo của mình.
- Nói đạo xuất khổ. Phật dùng lời chân thật để thuyết bốn pháp này, nhất định không sợ hãi.
Tức là con đường: khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế. Nói khổ là chắc thật. Tại sao có khổ? Nguyên nhân: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Bây giờ muốn hết khổ là phải tu. Tu là phải có 37 Phẩm Trợ Đạo, Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Chánh Đạo. Tu tự nhiên hết khổ, chắc thật đừng có sợ.
Bốn Trí Vô Ngại
- Pháp vô ngại: là trí biết rõ các pháp chẳng có gì ngăn ngại.
- Nghĩa vô ngại: là trí biết nghĩa lý của các pháp, giảng giải rõ nghĩa lý của các pháp, chẳng có gì ngăn ngại.
- Từ vô ngại: là trí biết rõ danh tự, ngôn từ một cách không ngăn ngại.
- Nhạo thuyết vô ngại: là trí biết căn tánh chúng sanh, ưa thuyết không bị chướng ngại, chẳng hề thối chuyển, chẳng có gì ngăn ngại.
Mười Tám Pháp Bất Cộng
Các pháp lực, vô úy… hàng nhị thừa cũng có phần, chỉ riêng pháp này thì không có phần.
Mười tám Pháp bất cộng thì hàng Thanh văn, Duyên giác không có, chỉ có Phật mới đạt được.
- Thân không có lỗi
- Miệng không có lỗi
- Niệm không có lỗi
Trong Kinh Lăng Nghiêm nói, một khi Đức Phật khởi niệm là hải ấn phát quang, còn chúng sanh khởi niệm thì trần lao dấy khởi.
- Không có dị tưởng
- Không có tâm bất định
Tâm chúng sanh bất định nên chẳng ở yên một chỗ, tâm không ổn định.
- Biết đã xả
- Dục (dục như ý túc)
- Tinh tấn
- Niệm
- Tuệ
- Giải thoát
- Giải thoát tri kiến
- Thân nghiệp tùy trí tuệ mà hành
- Khẩu nghiệp tùy trí tuệ mà hành
- Ý nghiệp tùy trí tuệ mà hành
Tức là thân, khẩu, ý làm bất cứ chuyện gì đều trong ánh sáng Bát-nhã, không lìa ánh sáng Bát-nhã.
- Dùng trí tuệ biết quá khứ thông đạt vô ngại
- Dùng trí tuệ biết hiện tại thông đạt vô ngại
- Dùng trí tuệ biết vị lai
Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo
Trợ là trợ giúp, tức là trợ giúp cho chánh đạo. Đạo là nhân, đó là con đường ‘chỉ’ và ‘quán’. Phẩm là phẩm loại, tức là phẩm loại chánh nhân. Đạo cũng là Bồ-đề phần.
1. Bốn Niệm Xứ
- Quán thân có 5 loại bất tịnh: chủng tử, trụ xứ, tự tướng, tự tính, cứu cánh.
Trước tiên nhất là quán thân. Quán chỗ chủng tử là hạt giống, quán về thân ai cũng bất tịnh. Dầu cho sanh trong nhà quyền quý, dầu làm vua cũng là bất tịnh. Người giàu, người nghèo, người thông minh trí tuệ gì cũng đều bất tịnh; chớ không phải người nghèo bất tịnh còn người giàu thanh tịnh. Người có tiền chẳng qua là khéo che đậy sự bất tịnh đó, như dùng dầu thơm.
Vào thời Đức Phật, có một thầy Tỳ-kheo lỗ chân lông bay mùi hôi, các thầy Tỳ-kheo bạch Phật, Phật nói trong thời Phật Ca Diếp, khi ngồi thiền dưới gốc cây, ông hạ phong, mà trúng bậc A-la-hán.
Đại chúng nhớ, lên thiền đường mà hạ phong, trúng người phàm thì không sao, lỡ trúng người chứng sơ quả thôi thì mình cũng bị tội. Thánh phàm lẫn lộn, đâu biết ai là thánh ai là phàm.
Thùy vô niệm? Thùy vô sanh? Ai vô niệm? Ai vô sanh?
Do hạ phong mà ông cười vui không hổ thẹn, không tàm quý cho nên đời nào sanh ra ông cũng bị cái mùi hôi đi theo. Ông được gặp Phật ra đời mà vẫn còn bị.
Ngày xưa, quê tôi có một ông, mỗi lần hạ phong ông bịt vô trong bàn tay rồi đem cho người ta ngửi, ông lấy làm vui vì chuyện đó. Sau này, ông đi chăn bò, bữa đó trời mưa, tay bị ướt đến vuốt cột điện, ông bị điện giật chết. Càng tu càng phải tránh nhân quả. Như vậy, chủng tử dù giàu hay nghèo, xứ sở nào ai cũng bất tịnh.
Trụ xứ (là chỗ ở), tự tướng, tự tính, rốt ráo đều là bất tịnh hết. Quán như thế rồi tự nhiên nhàm chán không còn tâm ngã mạn nữa. Dầu cho mình sinh ra ở đâu, giàu có, học giỏi, tu hay, quán kỹ thân mình cũng là bất tịnh, tâm ngã mạn không còn.
- Quán thọ là khổ: khổ thọ, lạc thọ, xả thọ.
- Quán tâm có niệm, niệm là vô thường, không đứng yên một chỗ.
- Quán các pháp là vô ngã.
Đó là Bốn Niệm Xứ, gọi là thân, thọ, tâm, pháp.
2. Tứ Chánh Cần
Bốn Niệm Xứ là lửa, nếu được gió chánh cần thổi thì
sẽ đốt cháy hết tất cả. Tinh tấn là thể, nên gọi chung là cần, lại khác với cần của ngoại đạo nên gọi là chánh.
Có Bốn Niệm Xứ: quán thân, thọ, tâm, pháp là lửa; nếu không có ngọn gió chánh cần thổi đến thì không đốt cháy, nên phải nhờ gió của chánh cần, mà cần của chánh đạo khác hơn của ngoại đạo. Cần của ngoại đạo vào thời Đức Phật là nằm trên lửa, nằm trên chông, ăn ngày hạt mè, rồi đầu, mắt, mũi, tai, tay chân đốt cháy trên lửa.
Vào thời Đức Phật có ông Bà-la-môn gọi là bông vải chích, ông đốt mình mẩy nứt hết giống như cái bông xòe ra. Một hôm, ông đến nước Kosala, gặp một sư cô, sư cô nói cái đáng đốt ông lại không đốt, ông nổi sân gọi sư cô là con lừa trọc. Sư cô nói cái sân đó đáng lẽ ông phải đốt mà không chịu đốt.
Bên ngoại đạo cái cần, cái siêng năng của họ tu không đến kết quả; cần của ngoại đạo khác hơn của người tu Phật. Cần của tu Phật là không dấy niệm, không vọng động điên đảo.
Có người hỏi tôi, mình đóng cửa sổ nhẹ là chánh niệm, đi từng bước nhẹ cũng là chánh niệm, vậy thưa thầy thằng ăn trộm làm như vậy cũng là chánh niệm? Tôi nói không phải, đó gọi là tà niệm. Con đường của Bát Chánh Đạo là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Đi ăn trộm là tà kiến. Trước khi ăn trộm thì phải tư duy: Nhà đó có chó không, ai ở trong nhà này…, là tà tư duy. Đi ăn trộm mà nói dối với vợ con: “Tối nay bà ngủ sớm nha, tôi đi công việc” là tà ngữ. Làm việc này là tà nghiệp. Làm việc này để sinh sống nuôi vợ nuôi con là tà mạng. Một giờ đêm, mọi người còn ngủ mà nó đã đi trộm rồi là tà tinh tấn. Niệm về việc trộm là tà niệm, tà niệm sinh tà định.
‘Cần’ chia làm bốn pháp:
- Thứ nhất là không cho phát sinh những pháp ác chưa sinh.
Chuyên cần đừng cho khởi niệm ác. Khi thấy người ta được an ổn hạnh phúc, tu được mình vui. Hòa thượng Vạn Đức nói: Chẳng hạn như mình đến khánh thành một ngôi chùa, thấy chánh điện lớn mình nói: “Thầy làm chánh điện lớn sau này người ta về tu học đông lắm, mừng cho thầy.” Hòa thượng nói, ngay trong giờ đó, những hạt giống hoan hỉ của mình sống dậy. Còn nếu nói: “Ông làm chánh điện lớn ai tu đâu mà làm” là những hạt giống tật đố sống dậy mà mình không biết. Cái này gọi là không cho phát sinh những pháp ác.
- Thứ hai là đoạn trừ những pháp ác đã sanh
Đoạn dứt liền, xa lìa nó liền.
- Thứ ba là làm phát sanh những pháp thiện chưa
Ví dụ, trưa nay, mình đi về sớm, vào trong bếp thấy huynh đệ đang dọn dẹp cực quá mà gần tới giờ thọ trai rồi, mình vào phụ giúp là phát sanh tăng trưởng niệm thiện. Còn nếu mình nghĩ thôi kệ không phải việc của mình đâu mà lo, đó là làm cho pháp ác sanh. Hoặc thấy cây gai giữa đường nhưng mặc kệ, cái này không phải việc của mình, là pháp ác tăng trưởng. Mà những điều này chúng ta hay vấp phải.
Thánh Ghandi mới mua đôi giày đẹp, khi leo lên tàu ông bị rớt một chiếc giày, ông vội cởi thêm chiếc giày còn lại liệng xuống để người nào lượm được có đủ đôi để mang. Khi nghe câu chuyện này, có một vị kể lại, kế bên nhà vị này cũng có người rớt mất một chiếc giày mới, người đó để chiếc giày còn lại ngoài cửa nhưng cột sợi dây, nếu ai tới lấy có nghĩa là họ đã lượm được chiếc giày bị rớt, sẽ yêu cầu họ trả lại. Bởi thế đâu thể nào là bậc thánh.
- Thứ bốn là tăng trưởng rộng lớn những pháp thiện đã sanh.
Khi pháp thiện sanh rồi, làm cho nó tăng trưởng lớn mạnh hơn nữa. Những người ở trong đại chúng mà hay lo cho huynh đệ, lo cho đại chúng sau này sẽ gặp những điều như ý. Tôi ở Trúc Lâm, mỗi khi có người mới xuất gia tôi hay thỉnh kinh sách tặng cho họ. Sau này khi tôi giảng dạy, tự nhiên có những người đem tài liệu cho tôi. Tôi dạy bộ Oai Nghi tự
nhiên có người đem đến cho tôi một quyển của Ngài Tuyên Luật Sư bằng chữ Hán, nhờ đó tôi dạy rộng rãi ra cho người ta hiểu rõ thêm về giới luật. Chúng ta làm bất cứ thiện pháp gì nó đều không mất, đi theo mình như bóng với hình. Cho nên, bây giờ, việc gì mình có sức thì làm đừng ngại.
Ngày xưa, tôi qua tỉnh Phúc Kiến, đến một ngôi chùa đang xây dựng, vị Hòa thượng trụ trì ra tiếp. Ngài nói chùa xây dựng lớn, mỗi người cúng một, hai viên ngói tùy hỉ, ai cúng thì ghi tên lên viên ngói. Khi ấy, tôi kêu gọi trong đoàn mỗi người cúng 1 – 2 viên. Sau này, tôi xây dựng chánh điện, mỗi người cúng 2 viên ngói thôi mà có ba chục ngàn người cúng. Nhân tạo rồi thì đủ duyên quả đến.
Từ khi ra làm Phật sự, tôi thấy, mình không cần kêu gọi, tự nhiên người ta đến cúng một viên, hai viên, ba viên … rồi có người nói còn thiếu bao nhiêu chúng con bao hết. Ai cũng tưởng tôi có tiền sẵn. Khi tôi làm người ta mới đến phát tâm thôi, đó là do đời trước từng làm thiện pháp, hoặc đời này đã làm chớ không phải tự nhiên có cúng đâu. Khi ở cùng đại chúng mà tâm mình rộng lớn, bao dung thì sau này làm gì cũng xong, tôi bảo đảm trăm phần trăm.
Đại chúng thấy, đường cao tốc băng ngang Thiền viện mình, các vị Ủy ban Tỉnh Phan Thiết nói: “Thầy chuẩn bị dời đi, thua rồi.” Tôi nghĩ chưa chắc, vì tôi
đã từng giúp nhiều người tu nên chắc chắn sẽ có con đường khác mở ra. Bữa đó, tôi đang giảng, có nhóm Phật tử Hà Nội vào thăm, họ hỏi ở đây Thầy có bị trục trặc gì không, tôi nói bị đường cao tốc băng ngang chính giữa khu đất chuẩn bị xây dựng Thiền viện. Họ lập tức về Hà Nội tìm cách xin được cho đường cao tốc di dời qua bên cạnh. Cho nên, mình tạo cái gì không bao giờ mất, Phật pháp rất vi diệu.
3. Bốn Thần Túc
Dục, cần, tâm, quán. Dục là ưa thích, cần là không gián đoạn, tâm là định chuyên nhất tại một cảnh.
- Dục là ưa thích, ưa thích làm các việc thiện, ưa thích tu tập. 19g30 ngồi thiền mà 19g20 tự nhiên tâm mong muốn lên ngồi kiết già cho nó yên, sáng giờ làm việc mệt quá, cần một chút yên tĩnh; mà cần một chút yên tĩnh chỉ có con đường thiền tập. Mình biết rằng mình tạo nghiệp nhiều, đến giờ sám hối cần lên sám hối.
Dục là lòng ưa thích tu tập, ưa thích chuyển hóa, là lòng ham muốn về thiện pháp, ham muốn làm Phật cũng được. Khởi lòng ham muốn cũng còn năng sở đối đãi, nhưng sơ tâm ban đầu phải cần cái này; sơ tâm học đạo là ngồi thiền cũng thích, tụng kinh cũng thích, làm các việc thiện đều thích.
- Cần là không có gián đoạn, làm 3 ngày nghỉ 7 ngày là gián đoạn. Ba ngày tu tinh tấn, bảy ngày sau đi chơi cũng là gián đoạn.
- Tâm là định chuyên nhất tại một cảnh, một chỗ này thôi. Phát nguyện lớn chừng nào sáng đạo thì mới đi làm Phật sự, còn chưa sáng đạo thì tiếp tục tu, gọi là chuyên nhất.
- Quán là tuệ, tức là bên trong phân biệt để chọn lựa, để tu tập chuyển hóa. Môi trường phải chọn lựa thích hợp. Chỗ nào vừa có Phật pháp tu tập, vừa có thức ăn. Khi đã chọn đúng môi trường, quyết chí mình tu.
Cần thái quá thì tán loạn, lửa trí yếu nên phải có định để chế ngự thì sở dục mới tự tại.
Mình tu mà gắt quá! Chẳng hạn như người ta ngồi thiền 2 thời là đủ, rồi vừa làm việc vừa công phu. Đằng này mình tu gấp cho nhanh: sáng, trưa, chiều, tối mình đều ngồi, ngồi đủ chỗ, chỗ nào cũng ngồi, làm cho cơ thể chịu đựng không nổi, tâm uể oải tán loạn; xong mình nghĩ chắc về nhà làm Tuệ Trung Thượng sĩ hay hơn. Tôi biết đã có những người tu gắt sau đó khởi nghĩ: Thôi về nhà làm Bàn Long Uẩn hoặc Duy Ma Cật.
Ở đây có một chú tiểu siêng tu một thời gian rồi về nhà. Hôm nọ, chú lên chơi, tôi hỏi chú có khi
nào tu lại không? Chú nói con ở nhà làm Tuệ Trung Thượng sĩ không được thì con làm Bàng Long Uẩn. Chẳng biết rằng, các bậc cư sĩ này là cổ Phật tái lai, chứ đâu phải thường.
Cho nên thái quá thì tâm tán loạn, nghĩ đủ chuyện hết, lửa trí yếu cho nên phải cần định.
Thần tức là thần thông, Túc là định. Do pháp xuất thế tối thắng và tự tại mà bốn pháp này có thể chứng ngộ nên gọi là thần túc.
Bởi vì có sự ham muốn tu tập chuyên cần không gián đoạn, tâm chuyên nhất một chỗ, quán là phát sinh trí tuệ để chọn lựa chỗ tu thích hợp, chắc chắn rằng sẽ đạt. Pháp này là pháp xuất thế gian, không phải pháp về phước lực, tu chắc chắn rằng sẽ chứng ngộ cho nên gọi là thần túc.
Thần túc còn gọi là như ý túc vì những điều ưa thích đúng như tâm nguyện ban đầu, là tu để thành Phật.
Chúng ta đã hiểu con đường này thì cứ đi từng bước, có một lúc nào đó chứng ngộ pháp này. Pháp này là pháp xuất thế, nhân tu pháp xuất thế chắc chắn sẽ gặp quả xuất thế. Nhân tu để làm Phật quả là chứng Vô thượng Bồ-đề, tin chắc điều đó, tức khắc chúng ta tự tại như ý nguyện.
4. Ngũ Căn và Ngũ Lực
Ngũ căn đó là tín, tấn, niệm, định, tuệ. Năm pháp
ngũ căn, ngũ lực mà tăng trưởng thì gọi là pháp xuất thế gian.
1. Tín Căn
Tức là có niềm tin với Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo.
Trước tiên, chúng ta tin Phật bảo. Tin Phật nói lời gì cũng là chắc thật; trong kinh diễn tả: đoạn đầu thanh tịnh, đoạn giữa thanh tịnh, đoạn cuối thanh tịnh; lời Phật nói, quá khứ, hiện tại, vị lai đều không hư dối. Tin chắc Đức Phật mang hình tướng 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp là do tu vô lượng công đức tạo nên thân năm uẩn đầy đủ phước lực và trí lực. Chúng ta đi xuất gia là đã tin Phật.
Kế là tin pháp Phật nói. Phật không nói rằng, vào thiền viện xuất gia mà không ngồi thiền, chỉ ăn ngủ mà thành Phật là không có. Pháp của Phật là phải tu, phải mài giũa, phải có sức chuyển hóa lớn thì mới thành tựu, mà nhiều khi chúng ta đâu có tin. Nếu tin thì mình đâu có bỏ thời khóa, có những lúc bỏ thời khóa 1 ngày, 2 ngày … có nghĩa là mình không tin pháp của Phật. Nếu tin pháp của Phật, kế đó ngũ lực tăng trưởng là có sức mạnh sẽ thành tựu; có những lúc còn nghi ngờ, không biết đi con đường này có đúng không.
Kế là tin Tăng. Tăng đây là bản thể của Tăng già.
Tôi ở chỗ nào là tôi làm hết sức mình mà tu cũng hết sức mình. Tôi thấy nơi nào không làm mình tăng trưởng hơn nữa là tôi xin đi nơi khác. Nếu ở là tôi phải tuân thủ, bởi vì tôi tin Tăng. Tăng đây không phải một vị Tăng nào hết mà là bản thể Tăng già, là quy chế.
Bữa có một Phật tử hỏi tôi, ngày xưa con chưa biết Phật pháp, con gặp thầy đó con nói xấu con có bị lỗi không? Có bị. Ông thầy không phải mang hình tướng của ông mà mang hình tướng Tăng già, là bản thể Tăng già. Ví dụ, mình biết vị thầy đó hút thuốc, uống bia, có người hỏi về thầy đó, mình phải ẩn ác giương thiện. Mình nói vị thầy đó tôi không ở gần nên không biết, mà tôi tin chắc là vị đó tu, còn nếu nói ra thì mình đoạn cánh cửa Niết-bàn, mở cửa địa ngục, gọi là phá kiến chúng sanh. Ở trong tùng lâm, trong thiền viện, ai cũng tu mà mình ngủ là mình phá kiến chúng sanh, mình cắt đứt con đường Niết-bàn, mở cửa địa ngục. Cho nên, mình ở đâu là phải tuân thủ quy chế, nội quy nơi đó, còn nhắm không xong thì rời đi, không ai giữ lại.
Tin điều mình tu tập là để mai kia được lợi ích cho mình. Bổn phận người tu thứ nhất là chuyển hóa chính mình, thứ hai là sau này giúp đỡ các chúng sanh hữu duyên khác nên mình phải phấn đấu. Bản thân chúng tôi ngày xưa ở Thường Chiếu, ở Trúc
Lâm cũng phải phấn đấu, nếu không phấn đấu thì bây giờ làm Phật sự sẽ bị trở ngại.
Đại chúng nhớ kỹ một điều, quy chế hoặc nội quy là sức mạnh, là nguyên khí của tùng lâm. Nguyên khí là nguồn lực bên trong. Quy chế hoặc nội quy mà bị vỡ không ai tuân thủ thì tùng lâm bỏ, xây dựng lên chơi vậy thôi. Giống như con người phải có xương sống, không có xương sống là đi không được; những người bị tai nạn gãy xương sống là nằm một chỗ. Một đất nước mà quân đội ra chiến trận không ai cầm súng nổi thì ra chiến trận làm chi. Tu cũng như vậy, sức mạnh của tùng lâm là đại chúng đồng điệu, là nguyên khí. Giờ tụng kinh, giờ ngồi thiền phải đủ hết. Ai cũng ngồi thiền mà mình nằm ngủ ngày này qua ngày khác thì phải rời đi.
Nói rộng ra một chút, chúng ta ra đời gặp thiện hữu tri thức khó lắm. Trong thiền sử nói ông Tử Bá vẽ ngựa, Thiền sư Pháp Nhãn nói: “Ông vẽ ngựa, ngày nào cũng chuyên chú vào con ngựa, đời sau ông sanh vào bụng ngựa.” Có một số người bỏ ra số tiền lớn làm những chuyện vô nghĩa, đó là những người giàu có mà không gặp thiện tri thức. Nếu ra đời gặp thiện tri thức thì người ta xây cầu, làm nhà, giúp đỡ người nghèo, làm tôn tượng Phật và Bồ-tát cho người kính lễ được tăng trưởng phước đức.
Muốn được gặp thiện hữu tri thức thì khi còn là thiền sinh, mình phải tuân thủ quy chế trong tùng lâm. Tôi đã kinh nghiệm qua các thiền viện, khi ở trong đại chúng mà không tuân thủ, người có trách nhiệm nói mình không nghe, thì sau này mình có đệ tử mình nói nó chửi lại luôn. Cho nên, nhà tôi có người muốn xuất gia, tôi nói ông suy nghĩ kỹ, pháp này không phải dễ đâu.
Tôi đi làm Phật sự mới thông cảm, người ta kiếm tiền khó lắm. Chúng ta nghiệm thử đi, phải chi tiền như lá rụng thì không nói; sáng đi ngang khu vườn, gió thổi rào rào mà tôi chưa từng thấy rớt xuống đồng nào, toàn lá không. Tôi chờ tiền rụng 11 năm nay để làm Phật sự mà không thấy, toàn là tiền xương máu của đàn na tín thí.
Đồng ý là mình giúp đỡ họ việc này việc nọ, họ có điều kiện cúng dường, nhưng mà cũng là đồng tiền xương máu. Họ nói luôn: “Con không chỉ cúng dường các thiền viện, mà chùa nào có quý thầy con đều cúng hết vì con tu không được. Con thấy quý thầy tu, 3 giờ sáng dậy ngồi thiền là con nể nên mới cúng.”
Phật tử nói vậy mà quý thầy nào không làm được chắc cũng nhột. Ai mà ngủ luôn tới sáng, hoặc ngồi chừng nửa tiếng duỗi chân, nhìn qua nhìn lại không ai để ý rồi đứng lên đi ra. Vậy là mình không có tin, ở đây gọi là tín căn, căn là cội nguồn, tín là lòng tin.
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Lòng tin là mẹ các công đức, hay tăng trưởng các pháp lành.” Mình tin là công đức mình tăng trưởng và pháp lành từ đó có, thiện diệu, năng lực có. Đi qua một đoạn đường, nếu năng lực, diệu lực không có thì đoạn đường đó lầy lội, hoa thơm cỏ lạ không mọc được. Chánh báo không có đòi y báo sao được. Chúng ta nấu nồi cơm người ta ăn được cũng có chánh báo. Một nồi cơm một nồi canh đều có diệu lực người tu trong đó chớ không phải là khơi khơi.
Tin Phật, tin Pháp, tin Tăng; Tăng là bản thể của Tăng già, là sức mạnh của tùng lâm chớ không phải riêng một vị thầy nào hết. Sức mạnh tùng lâm, nguyên khí không còn thì tùng lâm đó rã. Tin như thế thì công đức tăng trưởng, pháp lành lớn mạnh. Duy thức học nói niềm tin giống như hạt ngọc thủy thanh, bỏ vào chậu nước, nước đang đục thành trong.
Tại sao huynh đệ ngồi thiền tỉnh táo mà mình cứ gục là biết cái nghiệp của mình quá nặng rồi, thì phải thành tâm tha thiết sám hối. Có những vị thiền sư ngủ gục, các Ngài ra ngồi thiền bên vực thẳm, còn mình chắc ngủ vùi luôn, có nghĩa là niềm tin mình không có.
Tín căn tức là phải có lòng tin sâu Tam Bảo, mình ở đâu cũng phải tuân thủ quy chế, nội quy nơi đó. Bữa nào đại chúng đi họp thế tôi để tôi ở nhà tụng kinh.
Họp suốt cả ngày, 8 giờ họp tới 11g30, 2 giờ kém là họp tới 5g chiều, có những lúc họp 3 ngày, 4 ngày ngồi ròng rã. Nếu tôi không tham gia thì thiền viện mình cũng không yên. Ngày xưa, ở Thường Chiếu quý thầy lớn lo hết, tôi đâu biết gì đâu, lên Trúc Lâm quý thầy lớn cũng lo, bây giờ tôi cũng phải lo như thế thì đại chúng tu yên. Ngày xưa, tôi ở Thường Chiếu hay Trúc Lâm chưa làm các việc Phật sự, tôi tụng kinh, ngồi thiền đều đặn chớ không có bỏ. Nếu ngày xưa tôi bỏ ngồi thiền, bỏ tụng kinh thì giờ này quý thầy lớn trên Trúc Lâm chưa chắc gì mời tôi lên dạy chúng lại. Nếu ngày xưa tôi mà bỏ thời khóa thì sẽ bị nói rằng: “Ông này, ngày xưa, ổng bỏ tu, bỏ học mà dạy gì! Gương đâu mà dạy!”.
Ngày xưa, ở Thường Chiếu, tôi cũng làm việc mà không bỏ giờ ngồi thiền nào hết, làm có khi tới 9 – 10 giờ đêm mà 3 giờ sáng vẫn thấy tôi trên thiền đường. Điều may mắn là lúc đó tụi tôi còn sức khỏe, lúc đó mới 23 – 24 tuổi thôi. Bây giờ đại chúng mình ở đây cũng vậy, đâu có ai già đâu. Thầy Minh Đạt bảy mươi mấy tuổi vẫn đều đặn, tụng kinh ngồi thiền không bỏ giờ nào, sợ một hôm nào đó đột ngột ra đi.
Bữa tôi vừa đi họp xong là qua làm lễ đám tang, ông này 70 tuổi, là anh ruột của một Phật tử huynh trưởng trong đạo tràng thiền viện mình. Ông đang ngồi uống nước, bình thường khỏe mạnh, tự nhiên
co giãy rồi ngã xuống chết. Mình đừng có tưởng 70 tuổi mới giãy, mà bệnh thì 30 tuổi 40 tuổi cũng giãy. Máu không bơm lên não là giãy thôi. Cho nên mình tin điều đó rồi phải thực hiện, lòng tin tăng trưởng thì pháp xuất thế gian đến.
2. Tấn Căn
Tấn căn có nghĩa là tinh tấn.
Ngài Đặng Ẩn Phong trong pháp hội Ngài Mã Tổ. Một hôm, Ngài đẩy xe cút kít chở đồ, ngang qua con hẻm nhỏ, thấy Thiền sư Mã Tổ làm rẫy mệt ngồi duỗi chân ra, Ngài Đặng Ẩn Phong nói:
- Thỉnh thầy rút chân. Thiền sư Mã Tổ nói:
- Đã duỗi thì không rút.
Người đệ tử là Thiền sư Đặng Ẩn Phong nói:
- Con cũng vậy, đã tiến là con không lùi. Ngài đẩy xe cán gãy 2 chân Ngài Mã Tổ.
Là sao? Người xưa hay vậy đó, duỗi rồi thì không rút. Bài pháp dạy cho mình sức tinh tấn, đã phát nguyện xuất gia rồi chỉ có con đường tiến thôi.
Kinh Hiền Ngu kể:
Có 500 vị trưởng lão Tỳ-kheo đến gặp Phật.
Những vị này là thị hiện chớ không phải thường.
- Bạch Đức Thế Tôn, giáo pháp của Thế Tôn khó quá, nào là giữ giới luật, ăn một bữa, đi khất thực, tọa thiền mà Thế Tôn còn nói ăn mà tu không xong là rớt xuống địa ngục, chúng con thấy không xong, sợ quá xin hoàn tục.
Lúc này, tôn giả La Hầu La khoảng 7 – 8 tuổi đến bạch Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn, 500 vị Tỳ-kheo lớn mà tu không được, con làm sao tu, con xin về luôn.
Phật thuyết bài pháp:
- Ông đi xuất gia giống như đi trên bãi sa mạc, vừa đói vừa khát tính bỏ cuộc rồi, bỗng nhiên gặp con cọp, ông chạy hay đứng cho nó ăn thịt?
Tôn giả La Hầu La thưa:
- Bạch Đức Thế Tôn, phải chạy thôi. Đức Thế Tôn nói:
- Cũng như thế, những người cúng dường cho ông ăn giống như con cọp rượt, ông sợ chạy, ông phải tu chớ.
Sau khi nghe bài pháp đó xong, 500 vị đều đắc sơ quả, và các thầy Tỳ-kheo sơ phát tâm tinh tấn tu tập 3 tháng sau đều chứng quả vị A La Hán.
Mình phát nguyện xuất gia rồi thì giống như bị con cọp đằng sau nó rượt. Mình đã phát nguyện đi trên con đường này là không có con đường thứ hai, không những làm lợi ích cho mình mà còn làm lợi
ích cho nhiều người, cho chúng sanh. Đó là sức tinh tấn của mình.
Trong Nhiếp Đại Thừa Luận, tinh tấn có ba phần:
1. Bị giáp tinh tấn
Khi ra trận, chúng ta phải mang áo giáp tinh tấn. Áo giáp tinh tấn là gì? Là nhẫn. Nhẫn là gì? Chẳng hạn như đang ngồi thiền mà cúp điện, nóng quá thôi xả ra cho rồi, là mình không có áo giáp; mà những bạn đồng hành ngồi bất động, người đó có áo giáp. Hoặc trưa nay lên quả đường, cơm hơi sống, vẫn bình thường không phiền não, là nhẫn; nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, đủ thứ hết. Phật nói người tu giống như con voi ra trận, cho nên tôi hay nói việc tu không phải là thường.
Có ông quan đại phu đến hỏi Ngài Pháp Nhãn:
- Bạch Hòa thượng con tu được không?
- Ông tu không được.
- Con làm quan làm tướng chẳng lẽ tu không được?
- Chuyện tu này quan văn, quan võ tu không được, mà phải bậc đại trượng
Bậc đại trượng phu vượt qua dòng sanh tử, trong kinh Tương Ưng Bộ, Phật dạy. Người tu đúng mức không phải là chuyện thường. Cho nên khi phát khởi tâm niệm xuất gia là tam giới chấn động, tôi tin điều đó. Tất cả cung điện của ma vương đều chấn động,
biết người này chuẩn bị thoát ra ngoài vòng sai sử của mình mà còn giúp đỡ những người khác bước ra. Như Sư Ông Trúc Lâm đi xuất gia rồi làm biết bao nhiêu lợi ích, độ không biết bao nhiêu người, mà nếu không mang áo giáp tinh tấn này thì sao?
Kinh Tạp A Hàm kể câu chuyện:
Một hôm, Đức Phật và tôn giả La Hầu La đi khất thực, lúc này chỉ có hai thầy trò, đi qua thành Vương Xá có mấy đứa nhỏ ném đá làm cho tôn giả La Hầu La chảy máu. Ôm bình bát đi sau lưng Đức Phật, Tôn giả khởi niệm, nhất định kỳ này hoàn tục về làm vua, không tu nữa. Đức Phật biết tâm niệm của tôn giả La Hầu La, Ngài đến gốc cây ngồi, chỉ cho tôn giả 16 pháp quán hơi thở, Ngài nói: Con đường này không ai trải thảm sẵn cho mình đi.
Truyện cổ thế giới kể:
Ngày xưa, khi chưa có giày dép, có ông vua đi đường giẫm phải cây gai, đau quá ông kêu quần thần lại và truyền lệnh trải thảm hết tất cả các con đường để người dân đi đường khỏi bị. Có ông quan đại thần nói không thể nào trải thảm hết được, ông đề nghị lấy hai miếng da cột vào hai bàn chân, lỡ giẫm gai cũng không bị đau.
Bây giờ cũng đâu có ai trải thảm mà mỗi người phải tự mang đôi giày, mặc áo giáp của mình.
Đi làm Phật sự đâu phải ai cũng thương quý mình. Tôi xuống giảng ở Tịnh Thất Bát Nhã, giảng bên đây, bên kia mở karaoke ầm ầm. Tôi xuống chùa Đại Giác ở Sóc Trăng, bên đây niệm Phật, bên kia họ mở nhạc lên, Thầy Trụ trì ở đó qua nói cách mấy họ cũng mở tiếp tục. Thầy hỏi tôi bây giờ có biện pháp gì không, tôi nói họ mở thì mở, mình cứ giảng, khi dứt thời pháp, đại chúng đồng lòng hướng tâm hồi hướng cho gia đình này đừng gặp nạn. Quả tình bây giờ, họ hiến miếng đất cho chùa luôn và cả gia đình qua chùa quy y Tam bảo.
Ở thành Udu có cô thiếu nữ rất xinh đẹp tên Maga. Cha mẹ cô giỏi tướng số, cha cô muốn chọn người phải có đủ 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp để gả con gái.
Một hôm, Đức Phật đi ngang, ông thấy mừng quá đi theo, Đức Phật ít khi để lại dấu chân, nhưng Ngài biết, trong ngày hôm nay, hai vợ chồng ông này chứng quả, Ngài ấn chân xuống rồi đi.
Ông chồng nói hôm nay ông đã tìm được người chồng xứng đáng cho con gái, trên đời này không ai bằng. Người vợ giỏi tướng số hơn chồng, bà nhìn dấu chân có một ngàn bánh xe, bà biết người này đã dứt lòng dục ở ba cõi.
Quả tình khi đến gặp Phật, ông khoe con ông đẹp, Phật nói:
- Dầu cho con ông đẹp cách mấy thì ngày đêm cũng
chảy ra những thứ bất tịnh qua 9 lỗ…
Nghe Phật nói một lúc, hai vợ chồng ông đắc sơ quả, bước vào dòng Thánh. Người hầu gái nghe Phật nói về kể lại, cô con gái tức giận nên quyết định lấy ông vua ở thành Udu mà ngày xưa cô không chịu, và trở thành Hoàng hậu.
Một năm sau, Phật đến vùng đó khất thực, bà thuê những người chửi mướn chửi Đức Phật, Ngài vẫn bình thản trong khi tôn giả A Nan không chịu nổi:
- Bạch Đức Thế Tôn mình đi nơi khác. Phật hỏi:
- Đi đâu?
- Bạch Đức Thế Tôn mình qua thành Vương Xá.
- Qua thành Vương Xá lỡ người ta không tiếp thì đi đâu?
- Bạch Đức Thế Tôn, qua Ba La Nại.
- Lỡ qua Ba La Nại người ta không tiếp thì đi đâu?
- Ca Tỳ La Vệ … Phật hỏi:
- Tại sao mình không ở đây?
- Bạch Đức Thế Tôn, vì ở đây không ai tin Phật, không ai tin Pháp, không ai tin Tăng, không ai tin Đức Thế Tôn, không khất thực được mà còn bị chửi.
Phật nói:
- Có khi nào người bác sĩ giỏi ghi trên phòng khám: chỉ chữa cho người không có bệnh và ít bệnh?
- Bạch Đức Thế Tôn, không bao giờ, người bác sĩ giỏi là sẵn sàng chữa cho người bệnh nặng nhất.
Phật nói:
- Chúng sanh ở đây bệnh nặng nhất mới cần Thế Tôn, còn những chúng sanh ở thành Vương Xá, Ca Tỳ La Vệ, Ba La Nại hết bệnh rồi đâu cần chi nữa.
Khi Thế Tôn nói xong, người cầm đầu nhóm chửi lộn mướn đến quỳ xuống:
- Bạch Đức Thế Tôn, tụi con bệnh nặng lắm, nhờ ơn Thế Tôn ở lại trị bệnh cho tụi Ba tháng sau, có 500 người phát tâm xuất gia và 500 tinh xá được xây dựng. Ngày Thế Tôn rời thành Udu đi, nhóm chửi lộn mướn khóc nhiều nhất.
Không có áo giáp tinh tấn làm sao đi giáo hóa chúng sanh.
Tôn giả Phú Lâu Na đến giáo hóa một vùng, Phật sợ Ngài bị dân chửi mắng, Ngài thưa:
- Bạch Đức Thế Tôn, họ chửi mắng nhưng chưa đánh
- Họ đánh ông thì sao?
- Bạch Đức Thế Tôn, họ đánh mà chưa giết con.
- Lỡ họ giết ông thì sao?
- Bạch Đức Thế Tôn, họ giết thì con cám ơn họ vì như vậy con được nhập Niết-bàn sớm hơn một chút.
Phật nói: Được ông đi đi.
Tôn giả Phú Lâu Na đến vùng đó chưa tới 6 tháng, độ cho 500 người xuất gia, xây rất nhiều tinh xá.
Phật nói đi làm các việc Phật sự mà không có áo giáp tinh tấn, gọi là tấn căn, thì không làm được. Trên đường tu lúc nào cũng có áo giáp này, kể cả khi còn là thiền sinh. Ngồi thiền mà nhức chân phải tìm cách uống thuốc hay xoa bóp chớ không thể bỏ luôn không ngồi, không tu nữa. Từ lúc phát tâm xuất gia, đến khi làm các việc Phật sự mà không có sức nhẫn thì không làm được.
Tôi thường nói chơi, hồi xưa, tôi mới bước chân vào đạo, tôi toàn học kinh: Kinh Tạp A Hàm, kinh Trung A Hàm, Tăng nhất A Hàm, Trường A Hàm, kinh Bảo Tích, Kinh Pháp Hoa … mà bây giờ ngồi họp toàn nghe ‘kinh tế’ không; mình phải chịu, dùng sức nhẫn chịu đựng ngồi nghe để họ chia sẻ. Không phải nói người tu sau này trưởng thành rồi không nhẫn, bỏ áo giáp là thất bại liền. Cho nên gọi là bị giáp tinh tấn.
2. Gia hạnh tinh tấn
Tức là đi cho đến đích không bao giờ dừng nghỉ, bỏ cuộc. Ngày xưa thỉnh nguyện, Sư Ông Trúc Lâm dạy chúng tôi: “Tôi không đồng ý vị nào học chữ Hán nửa chừng rồi nghỉ”, Sư Ông gọi là bán đồ nhi phế, nửa đường mà thối lui. Học cũng học tới nơi, tu cũng tu cho tới nơi, đi cho đến đích chớ không phải giữa chừng bỏ cuộc.
3. Vô hỷ túc tinh tấn
Vô là không, hỉ là vui, túc là đủ, có nghĩa là được chút ít khinh an rồi cho là đủ. Đại chúng nhớ một điều, pháp thiền này trong bốn oai nghi, đi, đứng, nằm, ngồi đều là thiền, nhưng ngồi trợ duyên rất đắc lực để sanh những pháp gọi là diệu lực thanh tịnh trong lúc tọa thiền. Giống như ly nước phải để yên cặn mới lắng xuống, cho nên không phải được chút ít cho là đủ, mà chừng nào thành Phật mới xong.
3. Niệm Căn
Có nghĩa là ghi nhớ. Lục niệm gồm: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm giới, niệm thiên, sáu cái niệm phải ghi nhớ. Niệm thiên là niệm chư thiên, các loài chư thiên được sanh lên những cõi trời dục giới, sắc giới, vô sắc giới là nhờ làm các việc thiện pháp, tu tập thiền định mới được sanh lên cõi đó, nhớ nghĩ để mình làm, mình tu.
4. Định Căn
Trong Nhiếp Luận Đại Thừa ghi:
– An trụ định
Có nghĩa là để tâm vào một cảnh nào đó, thí dụ theo dõi hơi thở và đếm hơi thở, trụ vào hơi thở tâm định, không có niệm vọng tưởng.
– Dẫn phát định
Do đoạn sạch phiền não mà chứng đắc thần thông sanh ra vô lượng công đức. Khi dẹp sạch phiền não rồi thì dễ định gọi là dẫn phát định, tức là phiền não không tăng trưởng nữa. Suốt ngày chúng ta không có phiền não thì tu nhanh và yên ổn, ngồi thiền tự nhiên phát diệu lực. Cho nên đại chúng nhớ cố gắng một điều là để cho bạn đồng hành mình tu, đừng gây phiền não với nhau.
Trong các phá giới, phá tăng là nặng nhứt. Làm cho người ta phiền não, bức xúc, người ta tu không được là nặng hơn phạm các giới sát, đạo, dâm, vọng; bởi vì chặt đứt con đường Niết-bàn đưa người ta xuống địa ngục; còn mình phạm giới là chỉ một mình thôi; mà khi người ta tu không được, người ta hoàn tục có thể làm những ác pháp.
Trong kinh Hiền Ngu nói, cúng dường khắp tam thiên đại thiên thế giới, không bằng khuyến khích một người đi xuất gia. Giáo hóa khắp tam thiên đại thiên thế giới không bằng những vị đó chứng sơ quả, nhị quả, tam quả; không bằng tự thân mình đi xuất gia. Phật nói làm cho một người xúc não, phiền não người ta tu không được, là ba đường ác mở cửa cho mình.
Người tu được mình phải tìm cách cho người ta tu, đừng để người ta phiền não, dẫn phát định không có. Ở trong đại chúng, đừng làm cho người ta phá kiến, người ta đang tu mà mình đi vòng vòng chơi
làm người ta không định tâm được. Khi tâm không phiền não, an yên thì ngồi có diệu lực, thần thông từ đó phát.
– Thành sở tác sự định
Tu tập phát khởi được định lực thì tự nhiên có công đức, từ công đức này làm các việc Phật sự phổ độ chúng sanh. Định này giống như cây ra quả, hái quả này cho chúng sanh. Nhờ được định này phát đi diệu lực giáo hóa chúng sanh chấm dứt con đường khổ, đạt đến con đường Niết-bàn. Cho nên tín, tấn, niệm, định, tuệ là pháp xuất thế gian chớ không phải thế gian.
Năm lực năm căn được tăng trưởng thì ma vương, Phạm vương không thể khuất phục.
Khi chúng ta có niềm tin, tự nhiên có sức mạnh, là tín lực; có sức mạnh rồi lướt qua những chướng nạn gọi là tấn lực. Niệm lực, định lực, tuệ lực, có trí tuệ phát sanh lên thấy rõ như thật thì ma vương, Phạm vương không sai sử chúng ta được.
Lại có thể diệt trừ các chướng ngại như bất tín nên gọi là lực.
Bất tín là chẳng tin, chẳng hạn như hôm nào mình uể oải không muốn tu nữa, không tin gì nữa hết. Nếu được cái định này thì mình vượt qua chướng ngại, những cái niệm lăn tăn bị phá vỡ, không khởi
những cái niệm này nữa.
5. Thất Giác Chi
Thất Giác Chi trong Kinh Viên Giác khác hơn Thất Giác Chi trong các Kinh Nguyên Thủy.
1. Niệm giác chi
Niệm là chi sở y, vì buộc niệm khiến các pháp thiện sẽ không mất.
Chẳng hạn như bây giờ, chúng ta làm các việc thiện pháp, muốn nó không mất, thì lúc nào cũng phải có chánh niệm, không cho ác pháp lấn. Không cho ác pháp lấn thì niệm thiện lúc nào cũng nhớ nghĩ từ thân, miệng, ý. Thân làm việc lành, miệng nói lời lành, ý nghĩ điều lành, từ đây cho đến ngày thành Phật.
2. Trạch pháp giác chi
Là chi tự thể vì giác ngộ tự tướng của các pháp. Trạch là giản trạch1, thấy rõ thực tướng các pháp.
3. Tinh tấn giác chi
Là chi xuất ly vì do thế lực hay đưa đến chỗ cần phải đến.
Chỗ cần phải đến là chỗ thành tựu Phật quả phổ độ chúng sanh. Con đường này là sự tinh tấn, giống
- Giản trạch là lựa chọn, chọn lọc kỹ càng.
như cây phải có nhành, cây mà không có nhành lá là cây khô chết; con người là phải có tay có chân. Tinh tấn cũng như thế, đi đến con đường sở nguyện của mình, sở nguyện ban đầu là tu để thành Phật thì tinh tấn lướt đến dù cho bất cứ chướng nạn gì.
Do được niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi cho nên niệm được khinh an; chúng ta thấy đời tu mình phải tri ân Phật, tri ân Pháp, tri ân Tăng; nhờ ba ngôi Tam Bảo mà cuộc sống của mình không còn gì vướng bận, có niềm vui, gọi là:
4. Hỷ giác chi
Hỷ là niềm vui, niềm khinh an, chúng ta biết chắc chắn mình chết không rớt xuống ba đường khổ, cho nên đi ,đứng, nằm, ngồi đều vui, không có phiền não, không buồn, không giận gì hết; thấy người nào cũng là Phật, người nào cũng là người ơn của mình. Niềm vui này không phải từ ngoại cảnh, ngoại cảnh có rồi mất, có đến có đi, còn niềm vui này từ bên trong, nên dù bất cứ chuyện gì xảy ra mình cũng thấy bình thường.
Tu chừng hai, ba chục năm chúng ta mới thấy lợi ích khi đi suốt con đường này. Tu hai, ba chục năm cái tâm mình nhẹ lắm, nhờ sức tinh tấn bây giờ có niềm vui. Tôi làm Phật sự nhiều, tối về kéo chân ngồi thiền buông rất là nhẹ, ngồi là buông xuống cái một không cần dùng pháp gì, thấy con đường này đi đúng, đó gọi là hỷ giác chi. Do tâm vui nên thân điều hòa, một thời
gian bệnh tật hết luôn không cần uống thuốc.
- Khinh an giác chi
- Định giác chi
- Xả giác chi
Là chi không nhiễm ô, hay trừ những pháp thô nặng, nương vào định chuyển y thành xả bình đẳng, vĩnh viễn xa lìa tham ưu, nên bảy pháp này gọi là chi.
Bảy pháp này rất cần thiết cho sự tu tập.
6. Tám Chánh Đạo
1. Chánh kiến
Là chi phân biệt tức là nương vào sở chứng trước mà chân thật phân biệt, để chọn lựa con đường nào tiếp tục đi nữa.
Chúng ta đi khắp nơi học nhiều pháp, pháp nào cũng hành qua nhưng chọn được pháp này, thấy đúng con đường Phật Tổ chỉ dạy. Mình nhắm đến, gửi gắm, hiến thân vào chỗ đó luôn. Nhà văn người Pháp nói: “Ước gì tôi như tờ giấy vo tròn ném vào người tôi thương nhất.” Bây giờ, mình cũng vậy: ước gì tôi như tờ giấy vo tròn ném vào biển giáo pháp mà tôi đang đi. Đó là chánh kiến, chọn lựa con đường đúng, môi trường đúng, ai nói gì khác mình cũng không tin, dầu cho ai bảo tu pháp khác ba tháng thành Phật mình cũng chỉ cười.
2. Chánh tư duy
Là chi dạy dỗ người khác, tức như pháp đã chứng ngộ mà phương tiện an lập, tư duy danh nghĩa, phát ra ngôn ngữ.
Chánh tư duy ở đây là khi chúng ta chứng ngộ pháp rồi thì bắt đầu dạy người khác. Khi dạy, mình phải tư duy, soạn đề tài, sử dụng ngôn ngữ sao cho phù hợp với địa phương đó, phù hợp với căn tánh của họ, gọi là chánh tư duy.
Ba chi sau đều là chi khiến người khác tin.
3. Chánh ngữ
Tức là khéo y cứ sở chứng mà hỏi đáp, quyết định phân biệt chọn lựa khiến người khác tin, có kiến giải thanh tịnh.
Người ta hỏi, chúng ta trả lời như thế nào đó mà họ dứt cái nghi, được pháp thanh tịnh.
4. Chánh nghiệp
Nghiệp đây là thân nghiệp. Đi, đứng, nằm, ngồi đều có đầy đủ chánh hạnh khiến cho người khác có giới thanh tịnh.
Ví dụ lúc đi giảng, vị pháp sư đi như thế nào họ theo dõi. Chánh nghiệp trong pháp đại thừa là đi, đứng, nằm, ngồi đều thể hiện là người thanh tịnh trang nghiêm, biểu hiện ra chánh hạnh. Ngày xưa, tôn giả Xá Lợi Phất tu về Bà-la-môn Phạm Chí, chỉ cần thấy Ngài Mã Thắng đi khất thực là biết trên đời này có vị La-hán ra đời. Ông Bà-la-môn Phạm Chí
theo dõi tôn giả Xá Lợi Phất, thấy tôn giả Xá Lợi Phất từ cái ăn uống, nằm nghỉ … khi thấy Tôn giả đi vệ sinh, trang nghiêm thanh tịnh không giống như người phàm, ông phát tâm quy y. Đại chúng phải tập, khi trưởng thành mình đi đến chỗ này, chỗ kia mà không có chánh hạnh là không được.
5. Chánh mạng
Là khất thực đúng pháp, nương vào dòng thánh mà an trú, xa lìa năm thứ tà mạng.
Đi khất thực đúng pháp từ nhà này đến nhà khác.
6. Chánh tinh tấn
Là chi tịnh phiền não chướng, do chi này mà vĩnh viễn xa lìa tất cả các kiết sử.
Kiết là trói buộc, sử là sai khiến. Kiết sử, mầm mống tham, sân, si, mạn, nghi, ác, kiến. Nhờ sức tinh tấn, kiết sử này không còn sai sử trói buộc ta được nữa.
7. Chánh niệm
Là chi tịnh tùy phiền não chướng, do không mất tướng ‘chỉ’ (trị trạo cử) và ‘cử’ (trị hôn trầm) chân chánh nên vĩnh viễn không có hôn trầm và trạo cử.
Người có chánh niệm liên tục thì đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng, động tịnh đều không có trạo cử, không có hôn trầm, không có thất niệm.
8. Chánh định
Là chi diệt trừ những chướng ngại của công đức thù thắng, do định mà dẫn phát vô lượng công đức thù thắng như thần thông…
Những gì làm cho chướng ngại, công đức không phát sanh? Hôn trầm, trạo cử, thất niệm, phóng tâm. Cụ thể, khi chuẩn bị ngồi thiền, thân thể uể oải không chịu tu, chận đứng công đức thù thắng trong giờ phút đó, khi được chánh định rồi thì không có. Do định lực này tự nhiên phát sanh vô lượng công đức thù thắng, phát sanh những diệu lực thần thông, ai tu tự nhiên biết, diệu lực tự mỗi người biết.
Bảy khoa trên, nếu luận theo thứ tự tu hành thì sau khi nghe pháp, trước tiên phải nhớ nghĩ tức là niệm; kế đến là siêng tu, là cần; do cần nên nhiếp tâm điều hòa, nên được như ý túc. Do điều nhu nên tín thành căn, căn tăng trưởng nên có lực. Kế đến là bảy giác phân biệt, tám chánh là chánh hạnh. Nếu dùng thí dụ để diễn đạt thì như sau:
Pháp tánh như đất.
Hữu tình là Phật tánh. Vô tình như cây cỏ, ngói gạch, nhà cửa là pháp tánh. Khi hữu tình chứng nghiệm vào Phật tánh rồi nhìn ra tất cả các pháp vô tình là pháp tánh, cho nên tình và vô tình đồng viên chủng trí. Có nghĩa là khi tâm chúng ta khế hợp vào tánh Phật của chính mình hay nói khác hơn là tính
viên giác, lúc bây giờ chúng ta nhìn đâu cũng là sắc Phật, nghe tiếng đều là tiếng Phật, ngửi đều là mùi hương của Phật. Tức là sáu căn thanh tịnh dẫn đến sáu trần thanh tịnh, gọi là giống như đất.
Niệm xứ như hạt giống.
Thân, thọ, tâm, pháp giống như hạt giống. Hạt giống gieo dưới đất là pháp tánh.
Chánh cần như gieo giống.
Chúng ta có đất tâm rồi, và có pháp tu là có hạt giống, tiến trình tu giống như mình cầm hạt giống gieo xuống đất. Bây giờ chúng ta siêng tu, tạo các việc thiện pháp, tưới tẩm hằng ngày thì một thời gian nó nảy mầm, tức là được thần túc như ý nguyện.
Năm căn tín, tấn, niệm, định, tuệ giống như rễ bám vào đất. Năm lực như thân, cành, lá tăng trưởng.
Tín, tấn, niệm, định, tuệ có sức mạnh, giống như thân cây bắt đầu lên, ra nhành lá tăng trưởng, sau đó nở hoa bảy giác chi, kết quả được tám chánh đạo, thành tựu Phật quả. Như vậy, tuần tự chúng ta tu tập rất rõ ràng: Gieo giống tưới tẩm rồi ra cành lá. Không phải đợi ra hoa, ra quả mới biết cây sống, chỉ cần ra cành lá là biết cây này đang sống.
Cũng vậy, không phải đợi Phật quả chúng ta mới có niềm vui, mà khi nó bén rễ nảy mầm là mình có niềm khinh an trong đạo. Lỡ mạng căn chúng ta
đoạn giữa chừng không tu được thì cành lá này là cái chi sanh lên các cõi trời. Nhờ sức tinh tấn tu tập ở cõi này, lên cõi trời hành giả lại được gặp Phật, Pháp và Tăng.
Nhờ sức mạnh của năm căn, năm lực cho nở hoa kết quả thì Phật quả đến kế bên. Người tu để ngộ đạo là phải nhờ phước lực và thiện pháp, phải mài giũa, làm đủ cách để tu tập. Thiền sư Đại Nghĩa nói, người nào nói không tu mà ngộ đạo thì như Di Lặc trời sanh, Thích Ca tự nhiên, tức là không có. Đức Phật Di Lặc Ngài trải qua vô lượng kiếp tu tập, Ngài sanh lên cung trời Đâu Suất rồi xuống. Phật Thích Ca cũng phải ba A-tăng kỳ kiếp tu 100 pháp ba-la-mật mới đầy đủ công hạnh mới thành Phật, chớ không phải tự nhiên mà thành hoặc là trời sanh xuống.
Chúng ta phải hiểu rằng pháp không thể nói trên ngôn ngữ chữ nghĩa được mà phải thực hiện trên con đường công phu, thành tựu được tánh viên giác.
Phật dạy:
Thiện nam tử! Do tất cả thật tướng tính vốn thanh tịnh nên một thân thanh tịnh, một thân thanh tịnh nên nhiều thân thanh tịnh. Vì nhiều thân thanh tịnh như thế, cho đến viên giác của chúng sinh trong mười phương đều thanh tịnh.
Phật dạy, tất cả thật tướng tính vốn thanh tịnh.
Chúng ta đã học tứ thánh, lục phàm, kể cả 25 cõi hữu đều thanh tịnh. Tứ thánh gồm Phật, Bồ-tát, Thanh văn, Duyên giác; tứ thánh đều thanh tịnh thì dễ hiểu. Nhưng ở đây Phật dạy tất cả đều thanh tịnh: lục phàm tức là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, trời, người, a-tu-la, đến 25 cõi hữu cũng thanh tịnh; sở dĩ được thanh tịnh do tất cả thật tướng tính vốn thanh tịnh.
Chúng ta từng nghe “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”, nhưng đặc biệt trong Kinh Viên Giác, với cặp mắt giác ngộ của Phật, Ngài thấy chúng sanh đã thành Phật rồi. Phật thấy trong thân năm uẩn của mỗi chúng sanh có tính viên giác tròn đủ. Do mê nên thấy nhiễm và tịnh, nhưng ngộ rồi thì giống như giấc mộng đêm qua.
Như vậy, thật tướng chính là vô tướng. Trong kinh diễn tả, khi kiếp hoại đến thì tất cả mọi hiện tượng ở thế giới này tan biến, lửa đốt cháy hết không có gì tồn tại, mà có một cái đốt không được là hư không. Chúng ta phá cái nhà, cái tủ, cái bàn… nhưng hư không phá không được. Cho nên trở về tánh thanh tịnh, trở về hư không, viên giác rồi thì không ai phá mình được hết.
Ở đây nói khi “một thân thanh tịnh thì nhiều thân thanh tịnh”, cho nên tu chúng ta cần thiện hữu tri thức hoặc bạn hiền, bạn lành. Ở trong chúng, mà ai tu cũng tâm thanh tịnh, hiền hòa, dễ dạy, dễ bảo thì
chúng ta tu rất nhẹ nhàng, nhưng chỉ cần một người có tật hay nổi sân làm đại chúng khó hòa hợp.
Vào thời Đức Phật, tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên thành bậc thánh quả rồi, Xa Nặc ỷ mình ngày xưa đi theo Phật nên hay chửi mắng hai Tôn giả, cuối cùng Phật nói phải mặc tẩn Xa Nặc. Ngày xưa, chúng tôi ở với Sư Ông Trúc Lâm, tôi làm nhà khách, chúng có lỡ làm gì ông cụ đều tha, nhưng đánh lộn hay nói lớn tiếng hoặc chửi thì Sư Ông dạy chúng tôi bất cứ giá nào cũng phải tìm cách đưa người này đi. Chẳng lẽ mình từ bi hơn Hòa thượng? Hòa thượng không chấp nhận mà bản thân chúng tôi cũng không chấp nhận. Mình ở ngoài đời thì sao cũng được, nhưng vào đạo mà có cái tật thì bất cứ giá nào cũng không dung, cho nên Phật nói: ‘Biển cả không chứa tử thi.’
Biển đại giác của Phật cũng như thế, vào trong tùng lâm mà không giữ quy chế, cãi lộn, đánh lộn, to tiếng với người khác là phải bị mời đi. Muốn cho tăng đoàn thanh tịnh thì ai cũng phải tu để trở về tâm thanh tịnh, toàn chúng đều thanh tịnh thì mình tu nhanh lắm. Ngài Liên Hoa Sanh nói: “Nơi nào có ác pháp xảy ra, ông rời đi gấp.”
Trong kinh Tăng Chi Bộ:
Một hôm, có một vị du sĩ đạo Bà-la-môn đến hỏi Ngài Ca Chiên Diên:
- Thưa tôn giả, vì sao mà Bà-la-môn tranh đấu Bà-la-môn, Sát Đế Lợi tranh đấu với Sát Đế Lợi?
Tôn giả nói:
- Do tham dục.
- Thưa tôn giả, vì sao Sa-môn tranh đấu với Sa-môn?
- Do còn kiến dục.
Kiến là cái thấy. Kiến dục là cái thấy không hòa hợp, không đồng điệu. Cho nên, ai vào thiền viện của Hòa thượng đều lấy 10 giới làm trọng tâm. Kế là lục hòa. Hòa thượng nhấn mạnh ở chỗ khẩu hòa vô tránh. Chúng ta tu được gần gũi những người thanh tịnh tự nhiên mình thanh tịnh. Ai cũng tu, ai cũng chuyển hóa tự nhiên mình chuyển hóa theo.
Ngày xưa, Sư Ông Trúc Lâm đi tuần liêu, thấy ai ngáp hả miệng hoặc nằm trên đơn mà thở dài là Sư Ông rầy. Tại sao đại chúng tới các thiền viện thấy không có võng? Bởi vì nằm võng mà đưa qua đưa lại hoặc là ngủ, hoặc là vọng tưởng chớ không có chuyên nhất. Cho nên được ở cùng thiện hữu tri thức, cùng tu, tâm người ta thanh tịnh mình cũng ảnh hưởng. Tất cả đều thanh tịnh không ai chống trái với nhau thì tu rất dễ, vì ai cũng ở chỗ vô tướng. Vô tướng thì cỡ nào cũng dung nhiếp hết. Cái nhà này dù lớn, chứa nhiều lắm 1000 người cũng đầy, bởi vì nó có tướng, còn vô tướng thì dung nhiếp hết.
Với tâm viên giác thanh tịnh thì thấy từ địa ngục, trời, người, a-tu-la, chỗ nào cũng thanh tịnh. Cho nên, ở đây nói: “Một thân thanh tịnh nên nhiều thân thanh tịnh, cho đến viên giác của chúng sanh trong mười phương đều thanh tịnh”, tức là trở về tánh viên giác ai cũng thanh tịnh. Thấy được như thế, Bồ-tát Thường Bất Khinh nói “tôi không dám khinh các Ngài vì các Ngài ai rồi cũng thành Phật”. Với cặp mắt thấy ai cũng thành Phật rồi còn dám khởi niệm làm cho người ta tổn thương không?
Hôm qua, tôi dự lễ Bố-tát ở huyện. Bản thân chúng tôi là Trưởng ban, phải đôn đốc quý thầy ở toàn huyện, trong ba tháng an cư kiết hạ, ngày Bố-tát phải đi đầy đủ. Có một số người bận việc vắng, thầy Trưởng ban kiểm soát nói tôi phải có biện pháp mạnh. Tôi nói: “Ông nhớ kỹ một điều, đạo Phật không có dùng chế tài, mà dùng đức nhiếp chúng. Khi ông đủ đức tự nhiên người ta đi đủ, mình ráng tu thêm. Còn ông dùng biện pháp chế tài, chẳng hạn như trong huyện này có 100 ông thầy, mình đâu có biết trong số này ai tu mật hạnh. Cho nên, mình làm việc này giống như con dao hai lưỡi, một là phước có, hai là âm đức tổn, phải khéo dữ lắm chớ không phải chuyện thường đâu.” Đạo Phật khác hơn ngoài đời. Công xưởng hay cơ quan dùng chế tài, đạo Phật phải dùng đức. Huynh đệ sau này làm việc phải nhớ, đều dùng đức tất cả.
Có một thầy ngày xưa hay vắng những ngày Bố-tát, ngày đi họp có lúc ông cũng vắng, mà người ta ngạc nhiên không hiểu sao bây giờ ông đi đủ hết. Mình phải biết cách đến hỏi, tại sao thầy hay vắng những buổi quan trọng? Ông nói những buổi quan trọng thường trùng vào những đám cúng. Tôi hỏi đám cúng đó quan trọng không? Ông nói, thầy thấy tôi ở một mình vùng sâu vùng xa, ít người cúng dường. Mình tìm hiểu tại sao người ta đi cúng đám? Vì người ta thiếu, người ta mới đi. Tôi nói, nếu đám không quan trọng thì tôi sẵn sàng cúng dường cho ông. Biện pháp của mình là từng bước để người ta đi đủ, chớ không dùng biện pháp chế tài.
Người tu khác người đời, việc này là việc rất khó. Mình giữ trách nhiệm gì bất cứ ở đâu, kể cả trong chúng, phải dùng tâm thanh tịnh, dùng cái đức nhiếp chúng. Dùng tâm Phật đối đãi nhau, đừng dùng tâm ma. Dùng tâm ma đối đãi người ta thì người ta cũng dùng tâm ma lại.
Trong chúng, tâm ai cũng đều thanh tịnh nhẹ nhàng thì mình thấy ổn, dù chưa được chuyển hóa cũng được giải thoát từng phần. Tới giờ ngồi thiền mà mình thấy có một người ngửa mặt lên trời ngáp là mình hết muốn ngồi thiền. Thở dài là đang ở trong tướng giải đãi, còn tướng tinh tấn hiện lên thì toàn chúng hăng hái tu. Cho nên ngày xưa, mỗi khi
nhà Trần ra chiến trận, triều đình luôn cử những vị tướng có năng lực dẫn dắt, lính mới theo.
Ở đây cũng vậy, trong tập thể, ai cũng thân, khẩu, ý thanh tịnh, mình không muốn giải thoát cũng giải thoát. Tổ Quy Sơn nói, gần gũi bạn lành giống như đi trong sương móc, tuy mình không thấy gì nhưng lâu dần thấy lạnh lạnh là biết áo đã thấm rồi. Gần bạn ác từ từ tăng trưởng ác tri kiến, lâu ngày cái ác lớn mạnh; cho nên bên Tây Tạng họ không cho những vị Phật tử xem cảnh đánh chém nhau hoặc bị tai nạn. Mình ở trong môi trường ai cũng tu tập có sức chuyển hóa, tự nhiên mình chuyển hóa theo.
Phần này chia ra 4 phần:
- Hễ có tướng thì đều hư vọng, vì từ duyên sinh. Gom duyên vào thật, tức là thật tướng.
Cái gì có tướng đều là hư vọng: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”. Mình làm, thấy mình làm tức là có tướng, thấy tôi làm người kia ở không, thấy tôi tu người khác không tu. Có tướng mà tướng này là tướng duyên sinh. Khi trở về cái thật, chiếu kiến năm uẩn đều Không liền qua hết khổ nạn. Bồ-tát Long Thọ nói: “Như thế, khi chiếu vào thấy năm uẩn đều Không, trở về thật tướng liền an ổn.”
- Thật tướng này tức chẳng phải tướng nên Như Lai nói thật tướng. Thật tướng thì không đổi không thay, vĩnh
viễn thường trụ.
- Nói tính vốn thanh tịnh vì tự tính của thật tướng này từ xưa đến nay vốn thanh tịnh, tất cả pháp hư vọng không thể nhiễm được. Xưa mê tợ như nhiễm, nay ngộ vốn tịnh nên gọi là tính thanh tịnh.
Tức là trở về chỗ thật tướng rồi thì những nhiễm ô không làm gì được hết. Dầu cho ngày xưa chuyện đó mình phiền não tức giận mà khi mình sống được với tính viên giác rồi thì nhiễm ô không được. Cái này là sức công phu của mình thôi, tùy theo mức độ, hoặc là nhanh hoặc là chậm, hoặc là đời trước mình có tu thì nó nhanh hơn các huynh đệ một chút.
Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên ghi:
Có vị tăng đến hỏi Thiền sư Nam Tuyền:
- Tức tâm là Phật lại chẳng được, phi tâm phi Phật lại chẳng được, ý thầy thế nào?
Ngài Mã Tổ đưa ra công án tức tâm là Phật, rồi sau này người ta chấp trên chữ nghĩa, chết chìm ở đó mà không có một cái bước nhảy, cho nên Ngài nói là “phi tâm, phi Phật, phi vật”. Chúng ta thấy câu hỏi này “được, lại chẳng được” tức là hai đầu.
Lúc này Thiền sư Nam Tuyền nói:
- Đại đức chỉ tin tâm mình là Phật liền xong, lại nói cái gì được, chẳng được? Ví như đại đức khi ăn cơm xong
đi từ đông lang sang tây lang, chẳng thể hỏi mọi người được, chẳng được.
Khi tin tâm mình có tính viên giác, tin tâm mình là Phật thì đủ rồi. Ví dụ như hồi sáng mình ăn xong rồi làm việc, đến 11 giờ đói, buổi trưa ăn cơm no, chẳng lẽ hỏi mọi người: “Hồi nãy tôi đói, bây giờ ăn cơm xong tôi thấy no là sao?” Ở đây nói, ông đi từ đông lang sang tây lang chẳng thể hỏi mọi người được hay chẳng được. Ông no, tự ông biết chớ được chẳng được gì. Sức tu mình cũng như thế. Mình tu có sức chuyển hóa từng bước, tâm mình bớt vọng động rồi thì mình tin chắc vào điều đó.
Sơ thiền gọi là Ly sanh hỷ lạc địa.
Ly sanh có nghĩa là lìa những chuyện đời thường ngày xưa. Thí dụ, như ngày xưa trên bàn ăn phải có miếng chả hay tàu hũ mình ăn mới được, còn bây giờ không cần thiết nữa, bởi vì mình sống ở chỗ thiền định là đủ rồi. Tôi khởi niệm xuống bệnh viện khám thử, bởi vì dạo gần đây tôi không muốn ăn gì nữa mà chỉ cơm trắng nước tương là đủ. Tôi ăn chừng một chén thôi mà thấy cơ thể rất là khỏe. Xác chứng là tu càng lâu năm thì tự nhiên thọ hưởng chỗ trong thức ăn của Phật gọi là đoàn thực, thức thực, tư niệm thực, xúc thực, thiền duyệt vi thực. Tôi mong đến 3 giờ sáng dậy, lúc đó đúng là thiền duyệt vi thực. Thức ăn ở thế gian này có một lúc cùng kiệt, nhưng thức
ăn của vũ trụ ngàn đời luôn nếu mà chúng ta biết cách. Chỉ cần ngồi thiền tâm yên, ở đây buổi chiều không ăn mà mình cũng không thấy đói, cho nên tu rất là quan trọng.
Khi đại chúng tu được làm lợi ích nhiều lắm, nơi nào cũng cần mình đến hướng dẫn chia sẻ. Một lời mình nói ra, người ta có đức tin là người ta tu tập, chuyển hóa. Cho nên khi còn là thiền sinh đòi hỏi phải dụng công. Tu như thế nào để biểu hiện ra sức sống, khi đó nhìn bạn đồng hành mình cũng yên ổn. Mình tu được, mình làm lợi ích không những cho người thân cận, mà người ở xa cũng được lợi ích khi tâm mình thanh tịnh.
Thiện nam tử! Do một thế giới thanh tịnh nên nhiều thế giới thanh tịnh. Do nhiều thế giới thanh tịnh như thế cho đến trùm khắp hư không, cùng tận ba đời, tất cả đều bình đẳng thanh tịnh, bất động.
Cho nên tại sao có những thế giới ba đời mười phương chư Phật là cõi tịnh độ. Cõi tịnh độ không có gì lạ, đó là do tâm lực của Đức Phật biến hiện ra thế giới cho chúng sanh vào tu.
Ngài Khương Tăng Hội qua nước Ngô để xây chùa Kiến Sơ. Đầu tiên thì ông Ngô Tôn Quyền không chịu, ông bắt buộc phải có bằng chứng ông mới tin, cho nên Ngài cung thỉnh xá lợi.
Ngày thứ nhất, ngày thứ hai đến ngày thứ bảy không có, Ngài xin thêm một tuần nữa, cũng chưa có. Ngô Tôn Quyền bực bội đòi chém đầu. Ngài lại xin thêm một tuần. Ngài cùng đệ tử thành kính tha thiết thỉnh. Đến ngày thứ bảy, bỗng nghe tiếng loảng xoảng trong bình, hào quang xá lợi chiếu khắp.
Ngày xưa, tôi đọc tưởng chuyện thần thoại, nhưng mà có chớ không phải không. Giống như bây giờ, gọi điện thoại người bên kia bắt được, mà phải đúng số. Tâm của mình phải tương ưng thế nào đó thì bên kia họ bắt được tần số, còn tâm không tương ưng thì không có.
Tâm lực của các vị Phật biến ra cõi tịnh độ, tâm mình phải tương ưng. Cho nên ở đây khẳng định rằng, các cõi nước tịnh hay uế đều do tự tâm.
Nên kinh nói:
Chúng sanh bị kiếp hỏa đốt cháy, nhưng quốc độ của Phật thì luôn an ổn.
Kiếp hỏa là gì? Nói gần nhất, ở trong một tăng đường mà có một vị huynh đệ hay phiền não, là đang đốt đó; đụng chút là ông phiền não bực tức là ông đang đốt. Mà mình tu được, mình có sức chuyển hóa thì nước Phật mình an ổn. Đó là nói gần. Nói xa chút nữa, dầu cho kiếp hoại bị đốt cháy, trong kinh nói đại tam tai là lửa đốt thiêu cháy hết đến cõi Quan Âm
thiên, nhưng mà cõi Phật luôn an ổn. Cho nên ở đây nói: Một thế giới thanh tịnh thì mười phương ba đời chư Phật biến hiện ra.
Sơ Tổ Trúc Lâm có bài kệ, tịnh độ là gì?
Tịnh độ là lòng trong sạch, Mựa phải về cõi Tây phương. Di Đà là tánh sáng soi, Chẳng phải tìm về cực lạc.
Tâm mình không thanh tịnh muốn về cực lạc thì không được. Nhân thanh tịnh thì quả thanh tịnh, chánh báo có thì y báo có kế bên, cho nên ở đây nói: Một thế giới thanh tịnh nên nhiều thế giới thanh tịnh.
Như Phạm Vương Lô Kế và tôn giả Xá Lợi Phất, hai người khác nhau, nhưng khi Phật ấn ngón chân trên đất, liền hiện quốc độ Bảo Nghiêm, đồng ngồi trên tòa sen không khác.
Trong Kinh Duy Ma Cật, Phật nói những vị nào đời quá khứ mà tu hạnh Bồ-tát thanh tịnh thì khi thành Phật cõi nước này thanh tịnh. Bấy giờ, tôn giả Xá Lợi Phất khởi niệm: “Chắc trong thời quá khứ Thầy mình tu không được thanh tịnh, nên bây giờ thế giới ta-bà này gò nỗng núi non, hố thẳm rừng sâu đủ hết.” Phạm Vương Lô Kế nói với tôn giả Xá Lợi Phất: “Thưa tôn giả, tôn giả đừng nghĩ như thế, cõi nước này là trang nghiêm thanh tịnh ngang bằng
cõi tịnh độ của Phật Bảo Nghiêm.” Lúc này tôn giả Xá Lợi Phất chưa tin. Đức Phật lấy ngón chân ấn xuống đất, thì cõi này biến thành bảy báu rực rỡ bằng phẳng, và tất cả mọi người đều ngồi trên tòa sen hết.
Trở về đất tâm thì mọi người đều bình đẳng. Còn thấy gò nỗng, núi non, cao thấp, còn thấy người kia đẹp, người này xấu là do tâm phân biệt. Trở về tâm bất động tự nhiên bình đẳng như nhau không khác.
Huống gì tâm thầm hợp với giác tính, thức và trí vô sanh, thân cùng độ nương chân, nhiễm tịnh đều bặt, rỗng không khắp pháp giới, thanh tịnh trong lắng.
Huống nữa, tâm trở về với giác tánh viên giác thanh tịnh, lúc này không còn thức và trí nữa, đều hợp nhất chỗ vô sanh, nhiễm tịnh đều bặt, rỗng không khắp pháp giới.
Như vậy khi ngộ thì nối tiếp nhau làm nguyên nhân cho thanh tịnh.
Một người trong đại chúng mà ngộ đạo và sống với tánh viên giác rồi thì từng bước bắt đầu người ta tu. Do năng lượng vị đó phát xuất ra: đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng, động tịnh họ có một sức sống, khi đó đại chúng thấy được, cái tâm vọng cầu, rong ruổi không còn nữa, bắt đầu người này ngộ tiếp nối người kia.
Khi mê thì cũng nối tiếp nhau làm nguyên nhân cho nhiễm ô, như: “Do giác chẳng sáng nên làm cho tâm bất
tịnh. Do tâm bất tịnh nên kiến trần bất tịnh. Do kiến trần bất tịnh nên nhãn căn bất tịnh, cứ như vậy cho đến nhiều thế giới bất tịnh.”
Hôm nào, mình phiền não, buồn thấy cái gì cũng bức xúc, khó chịu, không thanh tịnh, do bên trong mình không ổn, không được an yên. Hôm nào mình tu tập được, có sức chuyển hóa lớn thấy thế giới này rất là nhẹ nhàng đáng sống. Môi trường này tôi thấy rất là thích hợp, chỉ cần chiều chúng ta đi dạo một vòng vườn thiền là bao nhiêu phiền muộn rớt hết, rất dễ vào định tĩnh. Chẳng hạn như đại chúng đứng dưới nền nhảy lên trần không được, muốn nhảy lên lót 4 tấm nệm lò xo nó búng đưa mình lên. Tôi làm cảnh là tạo môi trường để làm sức bật cho đại chúng tu, dễ vào định, định tĩnh rồi tuệ phát sinh, thấy các pháp đúng như thật. Cho nên tại sao diễn tả cảnh Tây phương nào là chim hót, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm thiên, niệm giới, nước bát công đức đủ hết. Lên đó không có ai tham vàng, bạc, xà cừ, san hô, hổ phách, có đầy, tham chi nữa.
Do đó trong Ngộ Tánh Luận, Tổ Đạt Ma khai thị: Trong tâm có ba độc, đó là cõi nước nhơ nhớp. Còn trong tâm không có ba độc, đó là cõi nước thanh tịnh.
Trong tâm mình có ba độc tham, sân, si tức là cõi nước nhơ, thì mình đi không có hoa sen nâng đỡ. Tại sao trong kinh Vô Lượng Thọ diễn tả là khi một
chúng sanh ở đây tu tập ‘nhất tâm bất loạn’, sanh lên cõi đó thì hoa sen nở, gọi là ‘hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh’. Thí dụ, thần thức mình vào bào thai mẹ, khi mở mắt ra thì thấy mẹ mình. Còn ở đây, ở trong bào thai của hoa sen, hoa nở ra là thấy Phật. Tâm mình cũng vậy, tâm mở ra để dung nhiếp tất cả thì tự nhiên chỗ nào cũng Phật hết. Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh, thấy Phật ngộ cái chỗ vô sanh.
Kinh nói: Giả sử cõi nước chẳng thanh tịnh, nhơ nhớp đầy dẫy mà chư Phật Thế Tôn hiện ra trong đó, thì không có việc này.”
Đây là Phật tính giác. Trong tâm còn đầy dẫy tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, thân kiến, biên kiến, giới cấm thủ … đủ hết thì Phật vắng bóng.
Nhơ nhớp chẳng sạch, đó gọi là vô minh ba độc. Chư Phật Thế Tôn tức là tâm thanh tịnh giác ngộ của mỗi chúng sanh. Do đó, khi không vọng tưởng, thì một tâm là một cõi Phật.
Trong kinh Đại thừa diễn tả, sở dĩ, ngộ được chỗ này là nhiều đời nhiều kiếp cúng dường vô lượng vô lượng chư Phật. Tối nay, chúng ta lên ngồi thiền, nếu một niệm mình thanh tịnh tức là cúng dường vị Phật. Không đợi lên cõi Tây phương, bây giờ ngồi đây cúng dường cũng được: tâm mình thanh tịnh, không vọng tưởng, không ô nhiễm là mình ở trong cõi Phật.
Khi có vọng tưởng, thì một tâm là một địa ngục.
Chúng ta muốn ở địa ngục hay ở cõi Phật? Ngày nào mình cũng vọng tưởng tham, sân thì chết biết đi đâu liền. Phật nói: Ví như cái ghè dầu đổ xuống giếng, chúng ta làm cách gì nó cũng nổi, ví như một ghè đá bỏ xuống giếng thì làm cách gì nó cũng chìm. Còn hằng ngày mình giữ tâm thanh tịnh thì chết mình khỏi cần cầu siêu. Mình tu, tự biết đáp số.
Chúng sanh tạo tác vọng tưởng do tâm sanh tâm nên thường ở địa ngục.
Niệm này chưa dứt tới niệm khác, cho nên từ địa ngục này qua địa ngục khác, gọi là vô gián địa ngục. Vô gián là không gián đoạn, bởi vì vọng tưởng liên tục. Thân đang ở đây nhưng thật ra tâm thức đang ở địa ngục khổ, liên tục dời từ địa ngục này qua địa ngục khác.
Bồ-tát quán sát vọng tưởng chẳng do tâm, sanh tâm nên thường ở cõi Phật.
Ở cõi Phật này qua cõi Phật khác, quán sát vọng tưởng không thật thì ngay chỗ không thật vọng tưởng tự lặng. Lặng là đang ở trong cõi Phật, mà từ cõi Phật này qua cõi Phật khác.
Phật dạy tiếp:
Này Thiện nam tử! Do hư không bình đẳng bất động như vậy, nên biết giác tánh bình đẳng bất động.
Vì bốn đại bất động nên biết giác tánh bình đẳng bất động, như thế cho đến tám vạn bốn ngàn môn Đà-la-ni bình đẳng bất động, nên biết giác tánh bình đẳng bất động.
Trùm khắp hư không bình đẳng bất động thì biết tướng hoàn toàn đồng với hư không.
Khi tâm bình đẳng, tức là không có thị phi, không có so sánh hơn thua thì tâm đồng nhất với hư không; khi chết rõ biết, đến quốc độ nào, thế giới nào, tiếp tục độ sanh hay muốn nghỉ là do bổn nguyện của mỗi người. Ví dụ, vị thầy giáo hóa mấy trăm năm, bây giờ mỏi mệt thôi nghỉ một thời gian, thì vị ấy nương cái bình đẳng bất động, tự hiện ra cõi nước, nếu đạt đến cảnh giới đó. Chuyện này, tu có chớ không phải không, tu là đến chớ không phải không đến.
Qua phần này đại chúng thấy, tất cả là đều bình đẳng bất động chỉ do chúng ta có niệm sanh khởi thấy các tướng dao động.
Vì bốn đại bất động nên biết giác tánh bất động. Tất cả pháp chỉ nương vào giác tánh mà sanh diệt chuyển động. Các pháp tận, hư không đều bất động thì giác tánh bất động.
Mỗi pháp đều ở trong bản vị của nó. Như cái nhà, khu rừng, cái bàn… nương cái gì mới có mặt? Chẳng hạn như trồng cây xoài mà gieo hạt trên hư không
làm sao có? Gieo ở đất mới có. Cũng vậy, khi chúng ta phát nguyện lực xuất gia, nguyện lực làm Bồ-tát hạnh là gieo nơi đất tâm thanh tịnh, thì bắt đầu nó trổ quả ra Niết-bàn thanh tịnh. Bởi vì, ban đầu đã bất động thanh tịnh thì từ đó về sau từ sáu căn, sáu trần, sáu thức, bốn đại, thập bát giới đều thanh tịnh bất động hết, với điều kiện có tu tập, có sức chuyển hóa.
Trong kinh Pháp Hoa, Phật dạy:
Các pháp trụ pháp vị Tướng thế gian thường trụ.
Ngài Hám Sơn nói: “Tất cả các pháp trụ trong pháp vị của nó; mà tướng thế gian thường trụ là do tâm vọng động điên đảo, cho nên thấy nó xen lẫn, không dung nhiếp với nhau được.” Ví dụ, ta thấy người đó ngày xưa khó ưa mà bây giờ thấy dễ thương tức là tâm ta dung nhiếp được. Còn thấy người đó không ưa nổi là do tâm bị lăng xăng, vọng tưởng, loạn động. Tâm ta trở về chỗ bình đẳng bất động rồi thì thấy chỗ nào cũng bình đẳng bất động hết.
Kinh Pháp Cú nói:
Các pháp từ xưa nay, Không thị cũng không phi, Tướng thị phi vắng lặng, Xưa nay hằng bất động.
Phật dạy không thị cũng không phi, tức là không
phải cũng không quấy. Tướng thị phi vắng lặng, mới hay ra rằng tất cả pháp xưa nay bất động rồi.
Trong thiền thoại kể:
Có một vị tăng tu đã hai, ba chục năm. Ông thấy người tu, sao người thì phá giới, người thì uống rượu ăn thịt, ông than trách: “đúng là thời mạt pháp không có ai tu hết.”
Ông quyết định đóng cửa thất tu.
Ông tu 20 năm ngộ đạo ra ông giựt mình: “Ngày xưa là do cái tâm của mình, chớ không phải thiên hạ.”
Bây giờ, tâm ông bặt thị phi, bặt phải quấy rồi, ông thấy ai cũng tu trang nghiêm thanh tịnh.
Tại ngày xưa, phóng tâm ra quá, chớ thật ra đời này đâu phải là mạt pháp. Do cái tâm mạt, thấy tất cả các pháp đều mạt. Khi tâm thị phi vắng lặng thì xưa nay hằng bất động.
Tôi hay thẳng thắng nói với các thầy ở các chùa, nếu chúng ta tu đều đặn, ai cũng có sức tu thì chúng ta đến uống trà rồi về sám hối thôi, khỏi cần Bố-tát. Bây giờ chưa được như vậy nên phải cần Bố-tát, họp hành để nhắc nhở.
Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên kể câu chuyện:
Hòa thượng Minh ở Hưng Giáo một hôm đến hỏi quốc sư Đức Thiều:
– Tổ Ca Diếp mang cái y trượng sáu của Phật Thích Ca vào núi Kê Túc, đợi Phật Di Lặc hạ sanh, mới đem cái y một trượng sáu khoác lên trên thân nghìn thước của Đức Di Lặc, kích thước vẫn vừa vặn. Chỉ như thân của Đức Thích Ca cao một trượng sáu mà thân của Phật Di Lặc thì cao tới một ngàn thước. Vậy thì thân biết rút ngắn hay y biết dài ra thêm?
Tôi đi Ấn Độ 7 lần rồi. Lần nào, tôi cũng đều lên núi Kê Túc, từ Bồ-đề Đạo tràng lên đó cũng gần. Trong kinh diễn tả, khi các thánh đệ tử đều nhập Niết-bàn, tôn giả Ca Diếp không được nhập Niết-bàn mà phải đem y tăng già lê và bình bát của Phật lên núi đó. Bây giờ, trên núi đó, người ta đặt tượng Ngài để thờ. Núi Kê Túc nhìn từ xa giống như chân con gà hướng lên trời, khi đó tôn giả Ca Diếp vào ẩn trong núi đó.
Người ta kể lại, ngày xưa, trong núi bít kín hết, Tổ Ca Diếp dùng năng lực thần thông lấy bàn tay chẻ thẳng xuống một đường mà chỉ có một người đi lọt, vào trong có một hang động. Ngày xưa, Thiền sư Hư Vân từng đến. Đặc biệt, ai là bậc pháp khí hoặc là bậc cao tăng thì vừa lên núi nghe có ba tiếng trống đánh xuống. Trong quyển Ngữ Lục của Thiền sư Hư Vân có kể lại, khi Ngài lên núi có nghe tiếng trống.
Đức Phật Thích Ca sanh ra đời ngũ trược ác thế: kiến trược, mạng trược, phiền não trược, chúng sanh
trược, kiếp trược; tuổi thọ của chúng sanh rút ngắn lại chừng khoảng 80 – 100 tuổi. Tuổi thọ con người rút ngắn thì thân tướng cũng rút ngắn. Phật cao hơn chúng sanh một chút, cỡ 1m9 hoặc 2m là hết chớ không cao hơn được nữa. Ví dụ, Đức Phật cao 1m9 thì cái y cũng 1m9. Phật kể, khi đến thời con người sanh ra tuổi thọ chỉ còn 10 tuổi thì lúa gạo không còn, mà tro trấu là thức ăn ngon nhất.
Chúng sanh thời đó rất ác, cha giết con, con giết cha lẫn lộn, cỏ biến thành gươm đao. Một số người rút lên núi tu thập thiện, tuổi thọ dần tăng lên đến một ngàn tuổi mới chết, lúc bấy giờ, Đức Phật Di Lặc ra đời. Thân tướng của Ngài cao tới 1 ngàn thước, chúng sanh lúc đó ai cũng cao lớn. Tôn giả Ca Diếp cầm cái y của Đức Phật Thích Ca đắp lên thân Đức Phật Di Lặc. Bấy giờ, đệ tử của Đức Phật Di Lặc đến giai đoạn tu giải đãi, Ngài phi hành lên hư không bay lượn mấy vòng. Đệ tử Phật Di Lặc hỏi người này ở thế giới nào mà nhỏ như thế, thì Phật Di Lặc mới kể ra: Đây là đệ tử lớn của Đức Phật, là vị tu tinh tấn đệ nhất, khổ hạnh đệ nhất.
Hòa thượng Minh thắc mắc: thân Đức Phật rút ngắn hay y dài ra?
Ngài quốc sư Đức Thiều nói:
- Ông lại hội chăng?
Hòa thượng Minh bực quá phủi áo đi ra không đảnh lễ, Sư mới nói:
- Kẻ tiểu nhi, sơn tăng nếu như đáp cho ông chẳng phải, chính sẽ có nhân quả, ông nếu chẳng phải, ta sẽ thấy rõ.
Minh trở về 7 ngày sau bị thổ huyết.
Người có giới đức quở mà không chịu sám hối là bị nhân quả. Bảy ngày sau ông thổ huyết.
Thiền sư Phù Quang biết chuyện mới khuyên:
- Ông mau đi sám hối đi.
Minh liền đến phương trượng của sư buồn bã khóc thưa:
- Nguyện Hòa thượng từ bi nhận cho con sám hối. Sư nói:
- Như người té xuống đất nhân nơi đất mà đứng dậy, ta chưa từng dạy ông có ngã hay đứng.
Minh lại thưa:
- Nếu Hòa thượng cho con sám hối, nguyện suốt đời hầu hạ Hòa thượng.
Sư vì Minh mà nói:
- Phật Phật đạo đồng bỗng dưng chia có cao thấp.
Thích Ca, Di Lặc như con dấu in vào đất bùn.
Phật Phật đạo đồng. Do tâm ông khởi niệm đây là thấp kia là cao; rút ngắn hay dài ra do cái tâm ông thị phi hơn thua so đo. Chớ Phật giống như con dấu, con dấu này in qua con dấu khác không có lệch. Một
con dấu đóng xuống một ngàn tờ nó cũng y như nhau thôi. Do ông, khởi niệm Phật này cao Phật kia thấp, Phật này nhỏ, Phật kia lớn; khởi niệm là âm đức tổn. Mỗi vị mỗi hạnh nguyện đến cuộc đời này, chúng ta đừng có nghĩ ông này tu cao, ông kia tu thấp.
Khi bốn đại bình đẳng bất động thì tất cả các pháp đều bất động bình đẳng. Khi thân tâm bất động nhìn ra ngoại cảnh đều bất động. Cho nên cuối cùng quy chiếu về: Chúng ta phải tu, phải chuyển hóa thì cuộc sống này mới an yên.
Khi bản thể thanh tịnh tất cả mười phương nên ứng hiện ra khắp mười phương.
Chỗ này chúng ta chưa đến, gọi là tùy ý sanh thân: tức là lên hàng Bồ-tát thập địa, khi tu đến cảnh giới tùy nguyện, ứng thân độ chúng sanh. Phần này tương ứng với bức tranh chăn trâu thứ 10.
Phật dạy:
Này Thiện nam tử! Vì giác tánh cùng khắp, thanh tịnh bất động tròn đầy chẳng có bờ mé nên sáu căn cùng khắp pháp giới. Căn cùng khắp nên sáu trần cùng khắp pháp giới. Trần cùng khắp nên bốn đại cùng khắp pháp giới, như thế cho đến môn Đà-la-ni cũng đều cùng khắp pháp giới.
Ngài Hám Sơn nói:
“Đã cùng khắp pháp giới thì biết động tịnh vô ngại, mỗi mỗi đều cùng khắp.”
Phần này là chỗ dụng công, chỗ công hạnh của mỗi hành giả, tu tập như thế nào làm cho thân, miệng, ý, tức là ba nghiệp luôn luôn ở trạng thái thanh tịnh. Như vậy, người tu không những làm lợi ích một chỗ mà khắp các nơi đều cần đến.
Khi còn là Sa-di thì ít người mời. Những pháp hội lớn hoặc những buổi thuyết pháp lớn người ta thường thỉnh những vị Hòa thượng, thượng tọa, những vị có năng lực, có tu tập. Ở miền Trung, rằm tháng bảy thường cúng thí thực. Cúng thí thực rồi thì 5 giờ chiều kiết giới để giảng cho các loài chúng sanh vô hình, các loài ngạ quỷ chết không có chỗ nương tựa. Họ nương một bài pháp để họ thức tỉnh, tu tập. Đa phần mời những vị Hòa thượng, giới sư có giới đức, vì khi đó tâm các Ngài thanh tịnh. Khi các Ngài thu nhiếp, phổ ra lời nói, ý nghĩ, hành động, tất cả đều dung nhiếp nên chúng sanh được an lạc, an ổn.
Cho nên, việc tu rất là quan trọng. Khi còn là Sa-di, chúng ta ráng dụng công tu gọi là nạp năng lượng, nạp 10 năm, 20 năm, 30 năm. Sau này, đi làm Phật sự: Thứ nhất là làm không biết mệt mỏi, thứ hai nguyện lực đầy đủ, thứ ba lỡ gặp nghịch cảnh thì vượt qua dễ dàng, không làm ảnh hưởng sự tu tập. Khi chúng ta đi Phật sự về đến chỗ nơi, nhẹ nhàng
buông và tu rất dễ vô định. Bởi vì trong sự nghiệp tu tập, mình đã cống hiến 20 năm hoặc 30 năm.
Một người mới học võ, chạm vào bức tường là tay sưng vù. Buổi đầu tập, cho đánh vào bao cát rồi đánh vào những dụng cụ hằng ngày, 10 năm sau mới đánh vào bức tường, tường thủng mà tay không bị gì hết, tức là có sự luyện công. Tu tập cũng như thế, không biết mệt mỏi mà sẵn sàng có một nguyện lực độ sanh lớn thúc giục. Khi đó, chúng ta chỉ cần phổ ra một lời nói thì người nghe thâm nhập. Nếu không tu mà chỉ dùng văn tự nói, họ nghe xong, họ chửi. Còn khi từ bản thể thanh tịnh, từ viên giác nói ra, dầu cho người ác nghe, họ cũng sửa.
Hồi đó, tôi không tin, bây giờ, làm Phật sự tôi tin điều đó. Phật sự rất là nhiều nhưng mà không mệt mỏi. Mở khóa tu ở đây thứ bảy, giảng ở đây xong, chủ nhật tôi giảng ở Phổ Chiếu, thứ hai giảng ở Trường thiền, thứ ba ra trường trung cấp cho thi học kỳ, thứ tư chia sẻ Phật pháp với đại chúng, đi liên tục mà không ảnh hưởng đến sự tu. Giống như trường hợp ông cảnh sát chữa cháy, nhảy vào biển lửa cứu người ai thấy cũng sợ, báo chí phỏng vấn, ông nói cứu được một người sống là ông vui cho nên vượt qua hết.
Chúng ta tu tập cũng vậy, có năng lượng rồi nó khác. Thường những buổi dạy ở các trường, dạy một tiếng rưỡi, tôi về dạy cho chúng một tiếng là xong.
Tôi dạy là truyền năng lượng, không cần nói nhiều, nói vừa đủ thôi mà người nghe thấm và chuyển hóa, đó là thành công của người truyền tải lời của chư Phật. Chúng ta nói hay cách mấy cũng là mượn lời chư Phật truyền tải, trùng tuyên lại để cùng nhau chia sẻ lời Phật pháp, thì có gì mà ngã mạn. Mà phải ứng từ nơi tâm, từ trong sự dụng công tu tập của mình, thì khi truyền tải lời đó tự nhiên người ta hấp thu được, từ đó người ta có sức chuyển hóa.
Phật pháp cũng còn tùy theo nhân duyên, nhiều đời mình có túc duyên với người đó hay không. Cho nên, việc tu là điều cần nhất chúng ta phải làm, phải dọn cho căn với trần của mình thanh tịnh nhu nhuyến, rộng độ khắp chúng sanh nên nguyện lực của mình không mệt mỏi. Phần này là bức tranh thứ 10 khi các hành giả tu tập đạt đến chỗ đó. Lúc này, không còn là hành giả nữa mà dấn thân vào trong công cuộc độ sanh, khi đó tự nhiên là thân tâm cùng khắp.
Thân tâm cùng khắp còn có một điểm nữa, chẳng hạn như có người sắp mất mà còn vương vấn không chịu đi, họ có túc duyên với mình. Họ ở xa quá chẳng lẽ mình bay qua Mỹ, qua Úc khai thị, mà chỉ cần khai thị qua điện thoại cũng được. Khi được nghe khai thị, người ta thức tỉnh, tự nhiên buông xả, không còn quyến luyến cuộc đời này nữa, ra đi nhẹ nhàng. Đó là tiêu biểu cho kết quả đang tu tập, đang dụng công, rất là cần thiết, không phải nói suông.
Này Thiện nam tử! Do tánh của diệu giác ấy vốn cùng khắp, nên tín căn, tín trần chẳng hoại, chẳng xen lẫn. Vì căn trần chẳng hoại chẳng nhiễm như thế, cho đến các môn Đa-la-ni chẳng hoại chẳng nhiễm. Như ánh sáng của trăm ngọn đèn chiếu soi một phòng, ánh sáng ấy cùng khắp chẳng hoại, chẳng xen lẫn.
Đây là cảnh giới của Hoa Nghiêm, gọi là ‘sự sự vô ngại pháp giới’. Chẳng hạn như cái phòng này thắp một trăm ngọn đèn, một tỷ ngọn đèn cũng không xen lẫn, dung nhiếp hết chớ không phải nói cái đèn này không được vào. Như vậy khi chúng ta tu, tâm được thanh tịnh rồi dung nhiếp hết tất cả, không có ngăn ngại.
Đây là bày rõ tướng của nhất tâm pháp giới, không có hỗn tạp, mỗi mỗi chẳng có tướng hoại nên thành cái nghĩa, gọi là viên giác phổ chiếu.
Viên giác là tròn đủ. Khi chúng ta tu có năng lượng rồi, năng lượng đó sẽ phổ chiếu ra khắp hết tất cả. Cho nên, các thiền sư không có nói nhiều, chỉ cần nhìn ánh mắt, nhìn cử chỉ là người ta ngộ đạo. Các ngài lưu xuất bằng cái cảnh gọi là ‘viên giác phổ chiếu’. Viên giác phổ chiếu này không phải chuyện suông, khi các thiền sư đưa tay lên là phát ra nguồn năng lượng, làm cho tâm phiền não của người đó dứt, hoặc nghiệp thức nhiều đời lặng ngay lúc đó. Người xưa trú trong cảnh giới viên giác, phổ chiếu
ứng ra sáu căn thanh tịnh. Do đó, qua mắt, tai, hay mũi, thậm chí chỉ cần giơ tay lên người ta ngộ đạo. Trong giờ phút này, các Ngài tằng hắng hay khạc nhổ đều là cảnh giới Phật ngôn.
Khi các ngài thể nhập viên giác phổ chiếu, làm mọi hành động đều là công đức không còn là phước đức nữa, dầu cho nấu cơm, quét nhà cũng là công đức, bởi vì từ trong ‘viên giác phổ chiếu’ ứng ra. Mà trong cảnh giới đó, vô sở đắc, không có mong cầu, làm là chỉ biết làm, trong đầu không có nghĩ làm để tạo phước. Ứng tác từ nơi bản thể, mà bản thể là chiếu cùng khắp, làm cái gì từ ý nghĩ khởi niệm là thành tựu.
Ngày xưa, đọc đoạn trên, tôi tưởng chuyện thần thoại. Chẳng hạn như Đức Phật nói: “Ông chỉ cần cầm cây gậy chống xuống là thành tựu già lam”, ngày xưa tôi không tin điều đó. Sau này, bắt đầu đi vào sâu trong công phu, làm các việc Phật sự thấy nó ứng nghiệm. Người nào ở trong chỗ này một chút thì mới thông cảm.
Này thiện nam tử! Vì Bồ-tát thành tựu tánh viên giác nên biết không bị pháp trói buộc, chẳng cầu pháp giải thoát, chẳng chán sanh tử, chẳng ưa Niết-bàn, chẳng kính người trì giới, chẳng ghét người phá giới, chẳng trọng người tu lâu, chẳng khinh người mới học. Vì cớ sao? Vì tất cả đều là giác.
Tu đến cảnh giới này, chúng ta nhẹ giống như lông hồng, tu đến đây rồi mới cảm được. Lúc này, mới thấy cuộc đời hai, ba chục năm luyện thân vào giáo pháp Vô thượng Bồ-đề không uổng chút nào.
Một hôm Tứ Tổ Đạo Tín gặp Tam Tổ Tăng Xán bạch như thế này:
- Bạch Hòa thượng, con cầu pháp giải thoát, xin Hòa thượng chỉ dạy cho con phương pháp giải thoát.
Gặp chúng ta là chỉ: Muốn giải thoát, thân ông đừng làm ác, miệng đừng nói lời ác, ý đừng nghĩ điều ác. Hoặc là nói: Muốn giải thoát ông phải tu như thế này, pháp này là pháp tối thượng, chỉ có pháp này mới giải thoát. Chúng ta nêu ra như vậy là mình bị trói buộc, và trói luôn người hỏi pháp. Còn các vị Tổ sư các Ngài rất là hay:
- Ai trói buộc ông? Tứ Tổ mới nhìn lại:
- Bạch Hòa thượng, không ai trói buộc
- Không ai trói ông, cầu giải thoát làm gì?
Tức khắc thành Tổ. Rất là nhẹ nhàng. Cái này là khai thị, là yếu chỉ của thiền. Thiền đốn ngộ gọi là trực chỉ, khai thị như thế nào đó cho người ta quay lại chớ đừng có dẫn họ đi lan man. Cho nên, Sơ Tổ Trúc Lâm có bài kệ:
Thùy phược cánh tương cầu giải thoát, Bất phàm hà tất mích thần tiên.
Dịch:
Ai buộc mà cố tìm giải thoát,
Chẳng phàm nào phải kiếm thần tiên.
Ai buộc mình mà tìm giải thoát? Tổ Huyền Giác nói: “Ai là phàm ai là thánh?” Chỗ này, chúng ta phải lưu ý, tu tập phải nghiệm: Ai trói mình? Thì tức khắc mình giải thoát.
Phật dạy phàm phu ưa sanh tử mà chán Niết-bàn. Ngược lại, hàng Thanh văn chán sanh tử ưa Niết-bàn, mong một sớm một chiều tu tập, gánh nặng đặt xuống rồi nhập Niết-bàn luôn, gọi là ‘vô dư y Niết-bàn’. Khi còn sống hiện hữu, gọi là ‘hữu dư y Niết-bàn’.
Còn Niết-bàn của các hàng Bồ-tát là gì? Là ‘vô trụ xứ Niết-bàn’, không có trụ chỗ nào mà chỗ nào cũng Niết-bàn. Thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, ngay đây Niết-bàn. Không chỉ ngồi thiền mới Niết-bàn, mà đi, đứng, nằm, ngồi tâm không dấy niệm, không vọng động, không trạo cử thì ngay đó là Niết-bàn.
Đa phần, chúng ta nghe ai trì giới thanh tịnh mình rất là kính. Còn nghe ai phá giới, dù không biết có hay không, là mình không thích; cho nên làm cho tâm của mình nhơ, vẩn đục. Giống như cái kính
đang trong trẻo chiếu cùng khắp, mà mình quệt mực đen làm cho cái kính bị lu mờ; vàng rất là quý mà bỏ trong con mắt cũng xốn. Cho nên, khởi niệm ưa, khởi niệm ghét là làm dơ cái tâm của mình. Thiền sư Quy Sơn nói: “Các ông hằng ngày tu tập mà chuyên đem phân vào tâm thì chừng nào mới ngộ?”
Chúng ta thường kẹt hai bên: hoặc có hoặc không, hoặc chủ hoặc khách… Khi chưa ngộ, chúng ta nói cái gì cũng kẹt, không có thong dong tự tại được.
Trong Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục kể câu chuyện:
Một hôm, thái hậu mời Tuệ Trung Thượng sĩ vào cung cúng dường trai tăng. Cúng dường trong cung, có cả vua chúa nên có mặn có chay. Bấy giờ, Tuệ Trung Thượng sĩ không chọn lựa mặn chay, đũa ngài tới đâu thì ngài gắp món đó, món mặn Ngài cũng ăn bình thường.
Có một vị đi dự tiệc kể, trong bữa tiệc có chay mặn lẫn lộn, ông thấy một đĩa chả, nghĩ là chả chay nên chỉ gắp món đó thôi, nhưng vị thầy kế bên nói đó là đồ mặn. Vị đó hỏi tôi, ăn vậy có tội không. Khi tâm mình vô tâm thì tội không có chỗ nào để tồn tại, mà khi có tâm lại khác. Tuệ Trung Thượng sĩ cũng vậy, Ngài không có tâm, gặp đâu gắp đó.
Thái hậu lấy làm lạ mới hỏi:
- Anh tu thiền mà ăn thịt thì đâu được thành Phật. Thượng sĩ cười đáp:
- Phật là Phật, anh là Anh chẳng cần làm Phật, Phật chẳng cần làm anh. Không nghe cổ đức nói, Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát đó sao?
Nếu cần làm Phật là thấy có Phật, thấy có hai, là chưa vượt qua chỗ biến chiếu cùng khắp.
Thiền sư Văn Hỷ khi chưa ngộ đạo, sư một lòng muốn đến chùa Hoa Nghiêm trong động Kim Cang, ở núi Ngũ Đài Sơn, đảnh lễ Bồ-tát Văn Thù.
Người ta đồn Bồ-tát Văn Thù hay hiện thân, có khi hiện thân ông già, bà già, con nít, nho sĩ để tiếp người. Ngài nghe như thế, cho nên khi đi hành cước, việc Ngài mong muốn nhất là đến hang Kim Cang để gặp Bồ-tát.
Quả tình khi đến, gặp ông già dắt trâu đi, mời sư vào chùa. Ông gọi “Quân đề”, có đồng tử bước ra “dạ”. Ông già thả trâu, dẫn sư vào trong. Sư nhìn thấy nhà cửa đều hiện 5 sắc vàng. Ông già ngồi trên giường chỉ cái đôn mời sư ngồi.
Ông già hỏi:
- Vừa ở đâu đến?
Ở đây, chúng ta phải lưu ý, khi đến nơi nào mà hiện ra ngũ sắc thanh tịnh trang nghiêm thì biết đây không phải chỗ thường.
Sư thưa:
- Ở phương nam đến. Ông già nói:
- Phương nam Phật pháp trụ trì thế nào? Ngài nói:
- Đời mạt pháp Tỳ-kheo ít giữ giới luật. Hỏi:
- Chúng nhiều hay ít? Ngài thưa:
- Hoặc là ba trăm, hoặc là năm trăm. Sư hỏi lại:
- Ở đây Phật pháp trụ trì thế nào? Ông già nói:
- Rắn rồng lẫn lộn, phàm thánh chung ở. Ngài mới hỏi:
- Chúng nhiều hay ít? Ông già nói:
- Trước 33, sau
Chỗ này là chỗ thiền tông, không có nói nhiều hay ít. Nói ba trăm là ít, năm trăm là nhiều: là còn thấy nhiều ít, chưa lọt vào cửa Tổ, tức là trong tâm lúc nào cũng phải phân hai. Khi hỏi phương nam Phật pháp như thế nào thì tự nhiên mình thấy: đời mạt pháp Tỳ-kheo ít giữ giới luật, tức là có thấy người giữ giới luật. Còn ở đây, ông già nói phàm thánh chung ở, quá hay luôn. Phàm thánh đều có phần, tu
đi là có phần hết.
Đồng tử dâng trà và tô lạc. Sư dùng vào cảm thấy tâm ý sảng khoái.
Ông già đưa chung pha lê lên hỏi:
- Phương nam có cái này không? Sư thưa:
- Không.
Ông già nói:
- Nếu không, hằng ngày lấy cái gì uống trà?
Đa phần, đưa lên là chúng ta chạy theo cái tướng, cho nên ông già mới nói “nếu không có cái này lấy gì uống”, không có cái tâm bên trong lấy gì điều khiển, có nghĩa là phải có ông chủ. Đa phần, chúng ta chạy theo tướng cái ly.
Lúc Ngài Hư Vân đi tam bộ nhất bái qua vùng núi tuyết, Ngài bịnh kiết lỵ. Gần đến Ngũ Đài Sơn có một vị xưng là Văn Cát nấu cho Ngài một tô cháo. Trước khi ăn, Ngài Văn Cát đưa tô cháo lên hỏi: “Ở xứ ông có cái này không?” Ngài nói “không”. Sau này ngộ đạo rồi Ngài mới dám nói: “Giá như mà hỏi ta lúc này, ta đạp bể cái tô cháo.”
Tương tự, Ngài Bá Trượng đưa cái bình lên hỏi Ngài Quy Sơn, Ngài Quy Sơn phóng chân đá bể cái bình, không nói có không gì hết. Biểu thị ra, nếu không có cái đó làm sao tôi vung chân đá được.
Sư không đáp được. Thấy bóng mặt trời xế chiều, Sư hỏi:
- Tôi xin ở lại một đêm được không? Ông già nói:
- Ông còn chấp tâm, chẳng được nghỉ ở đây. Sư nói:
- Tôi đâu có chấp tâm. Ông già nói:
- Ngươi đã thọ giới chưa?
- Thọ giới đã lâu.
- Nếu ngươi không chấp tâm thì đâu cần thọ giới.
Nói gì cũng bị dính hết, bởi vì, ông già là Ngài Văn Thù hiện thân.
Sư từ tạ trở về, ông già sai đồng tử tiễn chân. Sư hỏi đồng tử:
- Trước 33, sau 33 là nhiều hay ít?
Bởi vì, Ngài chưa ngộ nên thắc mắc.
Khi Ngài Lâm Tế qua Ngài Đại Ngu khai thị, ban đầu Ngài Lâm Tế hỏi Ngài Đại Ngu: “Không biết con có lỗi hay không lỗi mà bị ông thầy đánh.” Khi được Ngài khai thị, Tổ Lâm Tế mới ngửa mặt lên nói một câu: “Đâu ngờ Phật pháp của Hoàng Bá ít quá.” Lúc này Ngài Đại Ngu khai thị tiếp: “Con quỷ đái dầm, hồi nãy ngươi nói có lỗi hay không có lỗi, rồi bây
giờ nói nhiều hay ít là cái gì?” Ngay đó, Ngài Lâm Tế triệt ngộ luôn. Tổ Hoàng Bá sanh ra Ngài Lâm Tế, mà công khai thị, nuôi dưỡng thành hình là công của Ngài Đại Ngu.
Đồng tử khai thị, gọi:
- Đại đức!
- Dạ!
Đồng tử bảo:
- Là nhiều hay ít?
Từ ‘dạ’ là nhiều hay ít? Chẳng hạn như mình cân cái này một ký, cái kia hai ký, bây giờ tôi kêu “dạ”, cân mấy ký?
Ngài cũng chưa ngộ, Ngài hỏi:
- Đây là chỗ nào? Đồng tử bảo:
- Đây là chùa Bát Nhã trong hang Kim
Sư buồn bã, biết ông già đó là Văn Thù hiện thân mà không thể nào gặp lại được. Sư đảnh lễ đồng tử, xin một câu từ biệt. Đồng Tử nói kệ:
Diện thượng vô sân cúng dường cụ, Khẩu lý vô sân thổ diệu hương, Tâm lý vô sân thị trân bảo,
Vô cấu vô nhiễm thị chân thường.
Sư Ông Trúc Lâm dịch:
Trên mặt không sân đồ cúng dường, Trong miệng không sân xuất diệu hương, Trong tâm không sân là trân bảo,
Không nhơ không nhiễm là chân thường.
Muốn cúng dường ai, mặt mình tươi vui là cúng dường; miệng mình nói lời nhu nhuyến thanh tịnh, là xuất ra mùi hương thơm; trong tâm không sân, không bực tức đó là trân bảo quý nhất.
Nói xong, Quân Đề và chùa đều ẩn mất, chỉ thấy trong mây năm sắc, Văn Thù cỡi Kim mao sư tử qua lại (Đồng tử là con sư tử). Chợt có cụm mây trắng từ phương đông bay qua che lấp, Sư buồn bã xuống núi.
Niên hiệu Hàm Phong năm thứ ba 862, Sư đến Hồng Châu, lại viện Quan Âm yết kiến Ngưỡng Sơn. Qua một lời, sư liền nhận được bản tâm. Ngưỡng Sơn cử sư vào chức điển tọa2.
Ngộ được bản tâm, rồi Ngài phát nguyện lực làm điển tọa, chuyên nấu ăn phục vụ cho đại chúng, không còn đi hành cước nữa.
Một hôm sư nấu cháo, thường thấy Văn Thù hiện trên nồi cháo.
Sư không đảnh lễ, ngược lại, sư lấy cây dầm quậy cháo
- Điển tọa là một chức sự trong chùa (tự viện), chuyên phụ trách việc ăn uống của đại chúng.
đập và nói: “Văn Thù là Văn Thù, Văn Hỷ là Văn Hỷ.”
Văn Thù liền nói kệ:
Dưa đắng gốc vẫn đắng, Dưa ngọt rễ cũng ngon. Tu hành ba đại kiếp, Lại bị lão tăng đòn.
Bồ-tát Văn Thù nói Ngài tu hành tới ba A-tăng kỳ kiếp mà hôm nay bị ăn đòn. Nhưng nếu ngay đó Ngài Văn Hỷ đảnh lễ là Bồ-tát quở. Mà phải ngộ mới được, chưa ngộ mà đập là mang tội.
Đa phần, chúng ta kính người trì giới, ghét người phá giới; trọng người tu lâu, khinh người mới học. Kính trọng, ghét khinh như thế không đúng. Vì cớ sao? Vì tất cả đều là giác.
Tướng quốc ở Nhật Bản vào thời Thiên Hoàng, đến chùa nào cũng chỉ đảnh lễ các vị Hòa thượng, coi thường các vị sa-di. Bữa nọ, ông đến một thiền viện có Thiền sư Nhất Hưu ở. Lúc đó, Ngài khoảng chừng 10 tuổi, làm Sa-di.
Thấy Ngài Nhất Hưu đang rửa củ cải ở hồ nước trong viện, với giọng khinh thường, ông hỏi có Hòa thượng ở nhà không. Ngài không nói gì, cầm một củ cải nhỏ hỏi ông đây là củ gì, ông nói củ cải; rồi Ngài lấy củ cải lớn hỏi, ông cũng nói là củ cải. Lúc này, Ngài hỏi: “Tại sao củ nhỏ hay củ lớn cũng gọi là củ cải?” Ông biết vị này không phải thường, từ đó về sau, ông có tâm kính mộ.
Đâu có ai sanh ra là Hòa thượng liền. Từ Sa-di, rồi thọ giới Tỳ-kheo, rồi Đại đức. 25 năm sau, theo tinh thần của Giáo hội, là thượng tọa; 40 năm tuổi đạo, 60 tuổi đời mới là Hòa thượng. Ai cũng từ nền tảng sa-di, vậy tại sao có khinh, có trọng? Bồ-tát Thường Bất Khinh nói “không dám khinh các Ngài vì các Ngài đã là Phật rồi”.
Khi Lục Tổ đến nhờ quan biệt giá ghi bài kệ, ông coi thường vì Lục Tổ là cư sĩ vào chùa mới có mấy tháng:
- Ông mà cũng có kệ? Tổ nói:
- Người học đạo vô thượng không có khinh người mới học. Người hạ hạ cũng có cái trí thượng thượng, mà người thượng thượng không có ý chí.
Nhiều người thông minh học giỏi chắc gì tu được. Cho nên, Phật đưa ví dụ:
Giống như ánh mắt thấy rõ cảnh tượng trước mắt, ánh mắt ấy viên mãn chẳng có ưa ghét. Vì sao? Vì thể của ánh mắt ấy bất nhị nên không ưa ghét.
Chẳng hạn, chúng ta vừa nhìn bức tượng, không có ưa ghét, nhưng nhìn một hồi: “Ai làm cái tượng kỳ quá”. Do ‘thức’ chen vào sanh ưa ghét, có không, phải quấy, hơn thua. Cho nên, tu ngay chỗ thức.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Phật dạy:
Mắt ấy nhìn thấy khắp, chỉ như tấm gương không phân biệt. Sau đó, thức của ông đối với cảnh mới thứ tự chỉ ra.
Kinh Lăng Nghiêm nói, mắt như cái gương chiếu khắp không phân biệt. Căn trần khi đối duyên xúc cảnh thì chưa có thức, một hồi sau, thức phát sinh. Thí dụ, ai cho mình một món quà gì đó, khi chưa biết món quà của ai gởi thì mình cầm, nhưng khi biết người gởi là người mình không ưa, thức chen vào, mình trả lại.
Thiền Việt Nam đã có từ thời xa xưa, không những trong tầng lớp chí sĩ, kể cả những người già cũng có thiền trong đó. Sống thiền nhưng người ta không biết thiền, như Ngài Hám Sơn nói: “Hằng ngày sống trong viên giác mà không biết viên giác”. Thí dụ, mình đi làm hay đi chơi về, mẹ mình cho củ khoai lang, mình hỏi cái này của ai vậy? Bà nói “ăn đi đừng có hỏi”, là có thiền rồi. Như vậy, thiền ăn sâu từ gốc rễ ngàn xưa rồi, “ăn đi đừng có hỏi”, chủng tử thiền có rồi, ăn là ăn thôi. Chúng ta hay hỏi cho nên không có thiền.
Này Thiện nam tử! Bồ-tát hiện tại và chúng sanh đời sau tu tập tâm viên giác này được thành tựu, thật ra cũng không tu, cũng không thành tựu.
Phật nói, thật ra không có tu mà cũng không thành tựu. Tại sao? Vì nó có sẵn rồi, nếu không có sẵn thì tu ngàn đời cũng không có. Giống như tấm kiếng
chôn lâu ngày, khi đào lên biết bản thể nó là ánh sáng, lau chùi sạch thì cái sáng hiện ra. Cho nên, Phật nói thật ra không có tu, mà cũng không thành tựu. Ban đầu gọi là chánh nhân Phật tánh, người ngu, người trí ai cũng có sẵn, nhưng phải có cái duyên(có điều kiện), có môi trường, có thiện hữu tri thức khai thị.
Có chánh nhân rồi mà không tu, sao mà có. Duyên nhân Phật tánh là tạo điều kiện: Vào thiền viện công phu tu tập, ngồi thiền, sám hối, tụng kinh, tức là hằng ngày phải lau chùi. Đốn rồi phải tiệm tu, phải mài giũa, thu thúc, chớ không có con đường khác. Liễu nhân Phật tánh là khi đủ nhân, đủ duyên, phước lực đủ rồi, đụng việc là ngộ đạo.
Nếu không có môi trường tu tập, không có nhân duyên gặp thiện hữu tri thức thì ngàn đời nó bít lấp. Ai cũng có mà không biết đem ra sử dụng. Người cướp của giết người cũng có mà không biết sử dụng nên làm chuyện phi pháp, phi đạo đức. Còn chúng ta biết, bây giờ quay lại sử dụng. Chúng ta làm tất cả những việc thiện pháp công ích của xã hội, là biết sử dụng. Khi biết sử dụng, không những làm lợi ích cho bản thân, đời này, đời sau đều thành tựu.
Chúng ta có túc duyên: sáu căn đầy đủ, được đầu tròn áo vuông; đây là cơ hội để mình tu tập chuyển hóa. Tức là phải có cuộc cách mạng lớn trong tự thân của mình, phải có đường đi, có bản đồ. Bây giờ
có sẵn hết rồi, ai rồi cũng phải đến con đường này.
Bồ-tát trong pháp hội, kế là chúng sanh đời sau, nghĩa là chúng sanh thời này, tu tập y nơi tâm viên giác, tức là nhân địa bổn khởi, được thành tựu mà thật ra cũng không có tu, không có thành tựu.
Có người hỏi Ngài Quy Sơn: “Đốn ngộ rồi có còn tu nữa hay không?”, Ngài nói tu chỉ là lời nói hai đầu, thật ra là mượn phương tiện để gạn lọc tập khí. Trong Kinh Viên Giác: Tâm viên giác này mọi người có sẵn, nhưng nó bị chôn lấp sâu quá rồi, chỉ chạy theo vọng thức, vọng tưởng. Bây giờ chúng ta gặp nhân duyên, Phật nói rằng, thật ra cũng không có tu, không có thành tựu gì hết. Tinh thần của Kinh Kim Cang, đến chỗ rốt ráo là vô sở đắc, không có gì chứng, không có gì đắc.
Trong chương Bồ-tát Kim Cang Tạng, Phật đưa ví dụ, lấy cục đá nghiền nát ra, lọc có vàng không? Không! Vì bản chất của nó là đất đá, lọc cách mấy cũng không thành vàng. Phật nói rằng, sở dĩ người ta lọc được vàng là vì trong quặng vốn đã có sẵn vàng. Dù bị lẫn lộn giữa đất đá, cát sạn, chỉ cần kiên trì sàng lọc thì nhất định sẽ có vàng.
Nếu không có chánh nhân Phật tánh thì chúng ta tu cả đời cũng không tiến; cho dù bỏ công sức tu, mài giũa cách gì thì nó cũng không hiển lộ Phật tánh của mình. Mà ở đây Phật khẳng định, lời Phật không
có hư dối, chánh nhân Phật tánh có sẵn, rồi bắt đầu tu, tùy theo mức độ tu, Phật tánh sẽ hiển lộ.
Muốn hiển lộ thì phải tạo cái nhân cái duyên, cho nên gọi là duyên nhân Phật tánh. Duyên nhân Phật tánh là môi trường, là thiện hữu tri thức chỉ dạy, sách tấn cho mình. Chẳng hạn như nấu cơm mà củi ướt hoặc điện bị cúp thì nấu cơm không chín; muốn nấu cơm chín, củi phải khô hoặc phải có điện. Tức là môi trường, thiện hữu tri thức rất quan trọng; môi trường thiện pháp nhiều, hoặc môi trường năng lượng nhiều tu mới đạt kết quả.
Nhờ môi trường tốt nên vào thời nhà Đường, thiền tông thịnh hành, nơi nào cũng có các vị thiền sư. Thời nay, thiện hữu tri thức hoặc người kiến tính rất hiếm. Mà thời Đường, dưới pháp hội Ngài Mã Tổ có 84 vị, dưới Ngài Lục Tổ Huệ Năng có 43 vị. Ở chung trong một môi trường, cho nên họ sách tấn với nhau, củng cố năng lượng.
Đại chúng làm việc gì phải đưa Tam Bảo lên đầu tiên nhất, kế là Tông phong, kế là đại chúng, không có vì tình riêng. Đại chúng nhớ sau này đi làm Phật sự các nơi, không vì tình riêng mà mình dung chứa, giống như biển không chứa tử thi. Họ làm trái, bất cứ giá nào phải mời họ đi. Làm việc gì đã tác bạch trước Tam Bảo, trước đại chúng gọi là Yết-ma, ba lần thành tựu rồi mà làm trái là người này không dùng nữa.
Cho nên, nhà Phật có giới luật, Yết-ma, cử tội trước đại chúng. Thời của chư Tổ họ nọc người có tội ra đánh luôn. Cho nên, duyên nhân Phật tánh rất là quan trọng. Môi trường cũng rất quan trọng. Chẳng hạn như ai cũng lên ngồi thiền mà ở dưới tăng đường có người ngủ, bảo đảm là 40 người ngồi trên thiền đường, tâm người ta không yên. Cho nên, bất cứ giá nào cũng phải loại người đó ra.
Chúng ta tu mà khế hợp hay được an ổn cũng nhờ duyên nhân. Nhờ duyên nhân mới liễu đạt chỗ đó, gọi là liễu nhân Phật tánh, nhờ sự tu tập, nhờ sự huân tu. Ví dụ, làm cái tượng bằng nhựa chừng 10 triệu đồng, tượng thạch cao 15 triệu, tượng đồng 20 triệu nhưng tượng bằng ngọc thì 100 triệu. Bởi vì tượng bằng nhựa làm 3 ngày xong, tượng thạch cao 7 ngày, tượng đồng 20 ngày, mà mài giũa bức tượng bằng ngọc phải mất mấy tháng mới xong. Đá mà kết tụ thành ngọc phải mất mấy triệu, có khi là mấy tỉ năm.
Tu tập cũng vậy, Phật ra đời đầy đủ thân tướng, từ thân khẩu ý, cái gì cũng nhu nhuyến thanh tịnh, bởi vì Ngài huân tu trong nhiều đời. Pháp này cũng vậy, pháp này ai có phước lực tự nhiên thành tựu, tức là phải huân tu nhiều đời, hoặc khi còn ở trong đại chúng huân tu. Nếu ở trong đại chúng mà mình chơi, ngủ, thì sau này ra làm Phật sự gặp trục trặc là tại vì mình không chịu huân. Liễu ngộ Phật tánh
cũng phải huân tu, chớ không phải mình nghe “thật ra cũng không tu, cũng không thành tựu”, rồi không tu là không được.
Trong Thiền sư Trung Hoa Tập 1:
Khi vị Sa-di Hy Thiên đến gặp Thiền sư Thanh Nguyên, Ngài hỏi:
- Ông từ phương nào đến?
- Con từ Tào Khê đến.
- Đem được cái gì đến?
- Chưa đến Tào Khê cũng chẳng mất. Ngài Thanh Nguyên nói:
- Mặc tình dùng đi, đến Tào Khê làm gì?
Tức là ở nhà cũng có Phật tánh, chớ không phải đến Tào Khê mới có.
Ngài Hy Thiên nói:
- Nếu không đến Tào Khê thì đâu biết chẳng mất.
Ngày xưa, vọng tưởng, vọng thức, tính Phật là gì chúng ta cũng không biết, ở nhà đâu có biết, mà có chớ không phải không. Nhưng khi đến các thiền viện nghe giảng, nghe hướng dẫn, mình tu tập, dụng công rồi từ từ mới hiểu, có những lúc chứng nghiệm. Nếu chúng ta không đến các thiền viện thì không biết cái chẳng mất nằm ở đâu. Nhờ đến thiền viện, nhờ gặp Tam Bảo, gặp thầy lành, bạn tốt, bắt đầu
có những sự kiện đó. Cho nên, có mà không biết tu cũng như không.
Phật dạy tiếp:
Tánh viên giác lặng lẽ chiếu khắp không hai, trong đó trăm ngàn muôn ức A-tăng kỳ thế giới chư Phật nhiều như cát sông Hằng không thể đếm. Giống như hoa đốm trong hư không loạn khởi loạn diệt, chẳng tức chẳng ly, không trói buộc không giải thoát, mới biết chúng sanh xưa nay đã thành Phật, sanh tử Niết-bàn như giấc mộng đêm qua.
Các kinh khác, Phật nói “ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành”. Ngược lại, Kinh Viên Giác: chúng sanh xưa nay đã thành Phật rồi, sanh tử Niết-bàn giống như mộng như huyễn. Cho nên, người xưa có câu:
Nếu biết trần gian là huyễn mộng, Niết-bàn có lẽ cũng chiêm bao.
Tự tánh viên giác ứng ra nơi tâm. Nếu nhận được tánh viên giác, sống với tánh viên giác rồi thì trăm ngàn cõi nước chư Phật hiển lộ cùng một lúc, đây là công đức từ nơi tự thân. Trong chỗ sanh khởi giống như hoa đốm, không có dính dáng gì. Khi chưa ngộ nhập, những tư niệm do chúng ta khởi lên đều trở thành tác nhân tạo nghiệp. Trái lại, các bậc kiến tánh tuy vẫn xuất hiện niệm tưởng, nhưng chúng không
còn đủ sức dẫn dắt họ tạo nghiệp. Một khi đã an trú trong tánh viên giác, tâm trí chỉ còn lại những gợn niệm vi tế. Trạng thái đó giống như khi gió đã lặng nhưng mặt nước vẫn xao động nhẹ, những ngọn sóng lăn tăn ấy không còn khả năng cuốn trôi hay làm lay chuyển hành giả.
Như vậy, Phật khẳng định, ông Phật có sẵn nơi mình chớ không phải tìm ở đâu đắp vào hết.
Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên ghi một đoạn nhân duyên:
Thiền sư Đại An ban sơ đến Tổ Bá Trượng hỏi:
- Học nhân muốn cầu biết Phật, thế nào là phải? Bá Trượng bảo:
- Giống hệt cỡi trâu tìm trâu.
Nhà thiền ví như một người ở giữa dòng mà kêu khát nước.
- Khi biết được, về sau thế nào?
- Như người cỡi trâu về đến nhà.
Biết tất cả niệm vọng tưởng là không thật, chỉ cần bao nhiêu đó là lúc này thẳng tiến công phu. Cứ đi, đừng có nói đến hay không đến gì hết.
- Chẳng biết trước sau gìn giữ thế nào?
- Như chú mục đồng cầm roi trông chừng, chẳng cho nó giẫm vào lúa mạ của người.
Từ đây, Sư nhận được huyền chỉ, chẳng còn rong ruổi tìm cầu gì khác.
Chăn trâu giỏi, vừa nhích niệm thôi. Chẳng hạn như bây giờ mình ngồi khởi niệm, là con trâu ăn lúa mạ, mình nắm cái mũi nó kéo lại, là đang chăn trâu.
Ngài Thạch Sương nói:
- Vừa ra cửa tức là cỏ. Sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý vừa nhích một cái là bước ra, nhích một cái là giẫm cỏ. Kéo nó lại thì đó gọi là chăn trâu giỏi.
Ngài ở với Tổ Quy Sơn một thời gian, Tổ Quy Sơn tịch, chúng cử Ngài lên làm trụ trì. Ngày đầu tiên, Ngài khai thị chúng, tức là thượng đường:
- Cả thảy các ông đến Đại An cầu việc gì? Nếu muốn làm Phật thì ông tự là Phật rồi. Gánh Phật chạy sang nhà người khác, khác nào con nai khát nước đuổi theo sóng nắng, bao giờ được gặp? Ông nếu muốn làm Phật, chỉ không tâm điên đảo chấp trước, duyên theo vọng tưởng, ác giác nhơ sạch của chúng sanh, chính đó là tâm chánh giác ban đầu của chư Phật, lại nhằm chỗ nào tìm cầu?
Muốn làm Phật, chỉ không có tâm điên đảo chấp trước, ngay đó là Phật; tức là không dính mắc trên trần cảnh, sanh những cái niệm thị phi, đó là tâm nhơ của chúng sanh. Tổ Quy Sơn nói: “Hằng ngày các ông tu mà đem phẩn (là những chuyện thị phi) vào bên trong thì bao giờ mới sạch?” Ngay chỗ đó,
không chạy theo vọng tưởng, không chạy theo ác giác thì chính đó là tâm chánh giác ban đầu của chư Phật.
Chúng ta có bản đồ rồi, bây giờ tu rất là dễ, không phải là tu mù mờ nữa. Ngay cái niệm nhích khởi mà không dính mắc, không chạy theo, đó là cái tâm chánh giác, tâm ban đầu.
Cả thảy các ông, mỗi người tự có hòn ngọc báu vô giá từ cửa con mắt phóng quang, soi thấy sơn hà đại địa; từ cửa lỗ tai phóng quang, phân biệt tất cả tiếng tăm lành dữ. Sáu cửa ngày đêm như thế, thường hay phóng quang sáng ngời, cũng gọi là phóng quang tam muội. Ông tự chẳng biết, lại chấp cái bóng dáng ở trong thân tứ đại.
Bóng dáng là tâm điên đảo vọng tưởng, tâm suy nghĩ cho là mình thì đó là không phải. Ngay chỗ sáu cửa phóng ra, mà trên đó mình không phân biệt chấp trước điên đảo thì đó là tâm Phật.
Phật dạy tiếp:
Này Thiện nam tử! Ví như giấc mộng đêm qua, nên biết sanh tử và Niết-bàn không khởi, không diệt; không đến, không đi; chỗ chứng không được, không mất; không thủ, không xả; người năng chứng không tác, không chỉ; không nhậm, không diệt. Trong cái chứng ấy không có năng, không có sở; rốt ráo không pháp chứng, cũng không có người chứng; vì tánh tất cả pháp bình đẳng không có hoại diệt.
Ví như ngủ nằm mộng thấy đủ thứ chuyện, khi thức dậy rồi thì tất cả các pháp lùi hết. Sanh tử, Niết-bàn; phiền não, Bồ-đề là các pháp không rời tự tánh viên giác. Nhận được tự tánh viên giác rồi thì tất cả không tức, không ly; không năng, không sở. Chỗ này giống như Lục Tổ nói ‘xưa nay không một vật’.
Phần này chia ra 3 phần:
1. Điểm trọng yếu của đoạn này là Phật chỉ bày nhất tâm tịch diệt, cứu cánh thể không có hai.
Tức là cái chỗ lặng yên, bặt hết các dấu vết thị phi năng sở thì nó không có hai tướng.
2. Bồ-đề Niết-bàn chính là quả sở chứng, các Ba-la-mật tức là hạnh sở chứng.
Nếu chúng ta thực hiện được các hạnh Ba-la-mật, khi được hạnh sở chứng rồi thì mình làm mà không hối tiếc. Chẳng hạn, mình phát nguyện hạnh Ba-la-mật thành tựu, thì bố thí, cúng dường, làm các việc thiện pháp mà không khởi niệm tại sao mình làm. Cho đi mà không có tư duy vì dư hay vì thương, mà ứng tác từ nơi bản thể thanh tịnh. Trong muôn hạnh của chư Bồ-tát, chúng ta làm từ nơi bản thể chớ không phải gượng ép nữa. Như vậy, chúng ta làm tất cả việc từ sáng đến chiều ứng tác từ bản thể là công đức được viên mãn, đó là quả sở chứng. Quả sở chứng phải có hạnh sở chứng Ba-la-mật mới thành tựu được.
Đoạn này, Phật chỉ bày cái dụng của tính viên giác trong sự tu tập. Còn Bồ-tát Văn Thù, Bồ-tát Phổ Hiền là chỉ về trí chứng, đó là chỉ cho bậc thượng thượng căn. Đến phần này là chỉ cho trung căn và hạ căn để có cơ hội thâm nhập vào tính viên giác, vào biển viên giác.
3. Vì trong Như Lai tàng vốn không có mê ngộ, sanh tử, đến đi; sanh tử và Niết-bàn đều như giấc mộng đêm qua. Đã như giấc mộng đêm qua, há lại có những việc tu chứng, được mất, lấy bỏ. Đã không có tu chứng thì không có năng sở, tất cả những ảnh tượng rốt ráo đều lặng lẽ. Như đây pháp pháp đều chơn, thường trụ chẳng có hoại. Đây là chỗ cực tắc của giác tướng viên chiếu pháp giới thanh tịnh.
Hôm kia, tôi hướng dẫn huynh đệ trên Trúc Lâm, tôi nói: chúng ta thật may mắn ra đời được bơi lội trong biển đại giác của đại thừa.
Tổ Mã Minh nói:
“Các ông nếu không tin pháp này thì quy ngưỡng tôn kính chớ đừng hủy báng. Nếu hủy báng pháp môn đại thừa đốn giáo thì không những hại mình mà còn làm hại đến người khác, mở cửa địa ngục cho chúng sanh.”
Mình phỉ báng là tự hại mình, rồi họ nghe lời của mình phỉ báng theo, tức là không những hại mình mà hại cả chúng sanh, mở cửa địa ngục cho chúng sanh vào.
Thiền sư Huyền Giác trong Chứng Đạo Ca nói:
Nghe nói Như Lai đốn giáo tu, Hận chẳng nghiền nát như ngói bể. Tại tâm làm, tại thân chịu,
Đừng có kêu oan chớ trách người.
Muốn khỏi nghiệp vương muôn kiếp lụy, Vành xe chánh pháp chớ chê cười.
Các vị Tổ sư nói rõ hết rồi.
Trong những bộ luận lớn có kể lại:
Sau khi Phật nhập Niết-bàn khoảng một trăm năm, xuất hiện hai anh em ruột, người anh tên là Vô Trước, người em tên là Thế Thân. Người anh chuyên tu về giáo pháp Đại thừa, giáo pháp viên đốn. Còn người em chuyên tu về pháp Tiểu thừa, tức là pháp Thanh văn. Ngài rất giỏi, Ngài viết 500 bộ luận phỉ báng Đại thừa, nói là kinh này người sau ngụy biện chớ Phật không có thuyết.
Một hôm nhận được bức thư của người anh, thư nói:
- Sư huynh bệnh nặng sắp mất rồi, ông nếu còn thương tôi thì phải đến thăm tôi lần cuối.
Hay tin, Ngài khăn gói lên đường, đi ròng rã hai tháng, đến gặp Ngài Vô Trước thì quả tình Ngài bệnh, Ngài nói:
- Lúc trước, tôi có phát nguyện trước Tam Bảo: Cuộc đời của tôi là phải tụng những bộ kinh Đại thừa như Kinh
Lăng Nghiêm, Kinh Pháp Hoa… Bây giờ, tôi bệnh nặng sắp mất, ông thế tôi tụng.
Ngài vì người anh tụng kinh Đại thừa. Tụng xong Ngài than: “trăm ngàn trí tuệ của Ngài Xá Lợi Phất mà gộp lại cũng chưa nói được một câu một cú trong kinh Đại thừa, huống gì Bà-la-môn ngoại đạo làm sao đủ trình độ, trí chứng mà nói chỗ này.”
Ngài đến gặp người anh Ngài quỳ xuống xin cắt lưỡi tạ tội. Ngài Vô Trước nói:
- Ngày xưa, ông dùng cái lưỡi ông phỉ báng Đại thừa, thôi bây giờ ông dùng cái lưỡi ông ca tụng Đại thừa.
Cho nên, Ngài viết ra 500 bộ luận Đại thừa, người đời sau gọi là Thiên Thân Bồ-tát.
Tôi có dịch bộ luận của Ngài, gọi là “Phật Tánh Luận của Ngài Thiên Thân”. Ngày xưa, Ngài đâu có nói về Phật tánh, tụng đọc xong Ngài biết liền, bởi vì Ngài rất là thông minh.
Trong Kim Cang Tạng, Phật nói: Cảnh giới của viên giác này hàng nhị thừa chưa từng nghĩ đến, chỗ trí chứng họ chưa đến thì làm gì phàm phu nghĩ đến.
Này Thiện nam tử! Các Bồ-tát kia tu hành như thế, thứ lớp như thế, trụ trì như thế, phương tiện như thế, khai ngộ như thế, cầu pháp như thế không còn mê muội nữa.
Dịch từ ‘như thế’ không có lột được hết, nên
mình tạm dịch:
Này Thiện nam tử! Các Bồ-tát kia tu hành như thị, thứ lớp như thị, trụ trì như thị, phương tiện như thị, khai ngộ như thị, cầu pháp như thị, thì không còn tâm mê muội điên đảo nữa.
Ở đây, Phật tóm kết lại:
1. Tu hành như thị
Y nơi tính viên giác tu ra. Tu là phải nhận được tánh viên giác, từ đó mà đi. Tu như thế thì không mê muội.
2. Thứ lớp như thị
Phải chánh niệm, xa lìa các huyễn, nương vào hạnh Sa-ma-tha của Như Lai.
Chúng ta mới tu chưa kiến tính, chẳng lẽ bỏ cuộc, thì phải đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng, động tịnh đều ở trong chánh niệm mà xa lìa các huyễn, tạm mượn phương tiện là Sa-ma-tha tam-ma-bát-đề, tức là chỉ và quán. Chưa kiến tính nên phải mượn phương tiện, phải giữ thăng bằng, gọi là ba nghiệp thân khẩu ý thanh tịnh, nương vào đó ngồi thiền, tụng kinh sám hối, làm các việc thiện pháp, đây gọi là thứ lớp.
3. Tư duy như thị
Chúng ta chưa vô niệm cho nên phải phương tiện. Khi tu, đôi khi mỏi mệt, chán nản, thối thất thì phải so sánh: Sở dĩ, các Ngài ung dung tự tại là các
Ngài đã bỏ ra hai, ba chục năm. So sánh một người làm các việc thiện pháp, người ta sẽ được hạnh phúc an ổn như thế nào so với một người trộm cướp, tà dâm, nói dối, uống rượu thì bản thân họ và người thân của họ sẽ bất hạnh ra sao. So sánh để mình tạo thiện pháp tiếp để tránh tu nửa đường chán nản, thối chí.
Cho nên, phải quán, phải tư duy: thân, tâm, cảnh đều là duyên sinh giả hợp, đồng với huyễn hóa thì bớt chấp. Bây giờ, chúng ta không trực chỉ được, người ta chửi mình, làm sao mình rớt chỗ vô niệm được; khi nổi sân lên mình tư duy, quán chiếu: thân không thật, tâm không thật, cảnh như huyễn như hóa không thật, mình bớt sân. Đó gọi là phương tiện.
4. Trụ trì như thị
Khi huyễn thân, huyễn tâm, huyễn trần và huyễn diệt đều diệt, thì cái phi huyễn thường hằng hiển bày lên, ví như lau gương bụi hết.
Thân tâm trần cảnh diệt hết thì cái phi huyễn hiển bày, tính viên giác hiển lộ lên. Giống như tấm kiếng muốn soi được thì phải lau bụi cho thật sạch.
5. Phương tiện như thị
Tức là tất cả thứ lớp, tư duy, trụ trì nói trên đều là những phương tiện giả lập.
6. Khai ngộ như thị
Bồ-tát và các chúng sanh đời sau, theo các phương tiện giả lập, nương đó tu hành thì ngộ được lý như huyễn, nhận ra tánh viên giác bình đẳng trùm khắp pháp giới, thể nhập bất nhị pháp môn.
Tức là không có hai, không có sanh tử và Niết-bàn, khi ngộ rồi mình mới hay ra được.
7. Cầu pháp như thị
Thì không còn mê muội nữa. Phật sợ chúng sanh đời sau, khi nghe Như Lai nói về tam muội thì tâm sanh mờ mịt, không thể ngộ nhập viên giác. Như Lai khẳng định, nếu cầu pháp như thị, y như thế tiến tu thì dầu căn cơ thấp đến đâu cũng có phần tương ưng với viên giác.
Cầu pháp viên giác, chúng ta chưa phải là bậc thượng thừa, thượng căn thì phải đi từng bước. Bây giờ chúng ta có bản đồ rồi thì đi bước nào chắc bước đó.
Bấy giờ Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Phổ Nhãn, Thầy nên biết, Tất cả các chúng sinh, Thân tâm đều như huyễn, Thân tướng thuộc bốn đại, Tâm tánh thuộc sáu trần, Bốn đại mỗi xa lìa,
Cái gì là hòa hợp?
Thường Đức Phật nói Kinh Viên Giác xong, bắt đầu Ngài trùng tuyên lại nghĩa trên.
Thân tướng của mình thuộc bốn đại đất, nước, gió, lửa. Tâm tánh của mình thuộc sáu trần, duyên khởi, duyên hợp. Khi bốn đại xa lìa, phân ly rồi thì cái gì là hòa hợp, cái gì là chấp trước để dính mắc trong cái ngã này rồi tiếp tục luân hồi sanh tử?
Thứ lớp tu như thế, Tất cả đều thanh tịnh,
Bất động khắp pháp giới, Không tác, chỉ, nhậm, diệt, Cũng không người năng chứng. Tất cả thế giới Phật,
Giống như hoa hư không, Ba đời đều bình đẳng, Rốt ráo không đến đi.
Thứ lớp tu như thế, tất cả đều thanh tịnh, bất động khắp pháp giới: Không có tác, không có chỉ, không có nhậm, không có diệt, cũng không có người năng chứng.
Đến giai đoạn tự tánh viên giác trùm khắp rồi thì mới hay ra rằng: Tất cả thế giới Phật giống như hoa hư không. Phật khẳng định thế giới chư Phật còn giống như hoa đốm hư không, huống nữa là thế giới của các ông. Thế giới chư Phật giống như mộng, như huyễn thì ba cõi là cái gì mà chúng ta chấp trước,
dính mắc? Ý của Phật là như thế.
Bồ-tát sơ phát tâm,
Và chúng sanh đời mạt, Muốn cầu vào Phật đạo, Phải tu hành như thế.