Chương 5: Bồ Tát Di Lặc Thưa Hỏi

CHƯƠNG 5: BỒ TÁT DI LẶC THƯA HỎI

Khi ấy Bồ-tát Di Lặc từ trong đại chúng đứng dậy nhiễu quanh Phật 3 vòng, đảnh lễ dưới chân Phật, chắp tay quỳ gối bạch Phật:

Đại bi Thế Tôn, Ngài đã Bồ-tát khai thị tạng mật, khiến đại chúng ngộ sâu lý luân hồi, phân biệt được tà chánh.

Bồ-tát Di Lặc nói rằng Đức Phật đã khai thị tạng bí mật. Chúng ta đã học kinh điển Đại thừa nên có cái nhìn: Chỉ có Phật mới khai thị, còn tất cả hàng ngoại đạo, các vị Phạm Chí Bà-la-môn không đủ tuệ Bát-nhã để nói kinh này. Ở đây nói khai thị tạng bí mật, tức là qua kinh điển Đại thừa Đức Phật đã mở hết rồi, chỉ có một con đường mình đi thôi.

Khi vị tăng Huệ Minh rượt đuổi Lục Tổ, được Lục Tổ khai thị, ngay trong giờ phút đó ông ngộ, ngộ rồi ông nói:

  • Ở với Ngũ Tổ ba mươi năm mà hôm nay mới nhận được chỗ này.

Ông hỏi tiếp Lục Tổ:

  • Ngoài mật ý, mật ngữ trên còn có mật nào nữa không?

Mật ý có nghĩa là khai thị cho bậc thượng căn.

Khi Lục Tổ biết Ngài Huệ Minh ở lâu với Ngũ Tổ mà chưa nhận được chỗ này nên Ngài khai thị: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính ngay khi đó cái gì là bản lai diện mục của ông?” Bài pháp đầu tiên của Lục Tổ là khai thị, tức là mở kho tàng bí mật. Tổ không nói trên văn tự, chữ nghĩa nữa mà đưa thẳng cho hành giả, gọi là đốn ngộ, đốn chứng. Đây là pháp môn tối thượng, chỉ những bậc thượng căn, thượng trí mới nhận ra được.

Lục Tổ khẳng định:

Ta nói ông thì hết mật rồi.

Nói cho ông hiểu, ông nhận được, chứng nghiệm được thì không còn mật nữa, bây giờ, muốn mật là phải quay về bên ông. Sau, Ngài Huệ Minh đổi tên, bởi vì tên đó trùng với vị thầy thứ hai của mình là Ngài Huệ Năng, thành Đạo Minh, ẩn ở trong núi sâu 20 năm nữa.

Mình học kinh điển, được Thầy Tổ truyền dạy, hết bí mật rồi. Bây giờ muốn mật hay không chúng ta phải dụng công tu tập. Cũng như cái bình ắc quy hay cái tủ lạnh, người ta chế tạo ra rồi, muốn xài được phải cắm điện. Mình đừng suy nghĩ vẩn vơ gì hết. Bây giờ nghe để có bản đồ cho chín chắn, đi khỏi lạc đường; còn muốn mật hay không là tự hành giả chớ không còn con đường nào khác hết.

Như vậy, chúng ta tu hai, ba chục năm sẽ có diệu lực từ bên trong. Phật được tứ vô sở úy, thập bát bất cộng pháp, đủ năng lực diệu dụng là Ngài tu không phải một đời, Ngài tu nhiều đời, nhiều kiếp mới có được năng lực như thế, cho nên đây gọi là kho tàng bí mật.

Hay bố thí cho tất cả chúng sanh đời sau con mắt đạo vô úy.

Vô úy tức là không có sợ hãi. Ngày xưa, chưa biết tu, sợ chết, không biết chết đi về đâu. Bây giờ, đã có sức tu tập, công phu rồi rõ ràng như ban ngày: giữ 5 giới sanh về cõi người, giữ thập thiện sanh về cõi trời … Còn có chỗ nơi tức là có thọ sanh. Chúng ta học biết rồi thì bình thản tu tập để chuyển hóa, sức chuyển hóa bao nhiêu thì hay bấy nhiêu. Bây giờ không còn ngăn ngại sự sống, chết nữa, giống như Tuệ Trung Thượng sĩ nói:

Giữa trời dẫu đôi vành chuyển, Biển cả ngại gì hòn bọt con.

Giữa bầu không trung này mặt trời mọc, mặt trăng lặn không ngăn ngại hư không; giữa biển khơi trùng điệp không ngăn ngại hòn bọt. Nhận ra biển cả rồi thì hòn bọt năm ấm này không có dính dáng gì. Được như thế gọi là con mắt đạo vô úy, mở con mắt đạo, không còn sợ hãi nữa.

Tôi thường nói, ngồi thiền có những lúc mình phải ‘quán’, đừng có ‘chỉ’ không. Quán sao? Quán mình vào trong đạo năm năm, mười năm hay hai ba mươi năm tu tập có tiến hay không. Sáng, tôi ngồi thiền, tôi quán thấy mình luyện mình trong giáo pháp Đức Phật tu tập 30 năm, bây giờ đang lấy lại vốn. Mười năm đầu là lỗ. Tu đến 20 năm cũng còn lỗ, còn phiền não, trạo cử. Bây giờ, tâm an định mới biết là mình lấy lại vốn, tức là có tiến bộ rõ ràng.

Chúng ta phải luyện mình trong giáo pháp Đức Phật, luyện mình trong công phu. Hôm qua, dạy trường thiền, tôi nói, huynh đệ mình có duyên, có phúc mới được xuất gia tu tập để mà trưởng dưỡng. Tôi nhìn lại 30 năm, nếu không đi tu mà ở ngoài đời thì bây giờ giỏi lắm được miếng đất, miếng ruộng là cùng, hoặc chút ít danh vị. Kết cuộc cũng không được gì. Bây giờ càng tu, càng thấy giá trị của đạo Phật.

Cho nên, tôi đưa ra 4 con đường mà huynh đệ trường thiền phải nắm:

  1. Dấn thân: Ở ngoài đời, ba giờ sáng chúng ta vẫn còn ngủ, 6g15 tối vẫn còn đi chơi. Bây giờ đi tu, mình dấn thân là 3g sáng phải dậy ngồi thiền, 6g15 tối phải tụng kinh sám hối; tức là chúng ta phải có năng lực dự trữ. Mình trồng cây là trồng cây con, 7 năm nay bây giờ cây con đã lớn. Cây con về phải bón phân, phải chăm sóc kỹ. Ngày xưa, mua cây con về

trồng không sống, mới phát hiện ra do trồng không đúng kỹ thuật. Tu cũng vậy, lệch một chút là đi lệch đường, bây giờ mình học hiểu nhiều rồi, chỉ có con đường là dấn thân thôi.

Khi trồng cây con chúng ta rào giậu, xịt thuốc, bắt sâu, cây mới trưởng thành. Trồng rau muống 3 tháng ăn được, trồng giá 1 ngày 1 đêm, mà những thứ này làm nhà không được. Cây làm nhà được phải là cây gõ, cây sao, cây keo… Mấy cây này phải từ 100 năm trở lên mới có lõi. Tu tập cũng như thế, muốn mau không bao giờ được mà phải đi từng bước. Gạn lọc được càng nhiều thì con đường đi nó thênh thang. Mình phải dấn thân. Pháp này mà không ngồi thiền, không tu tập chỉ nói miệng, là khẩu đầu thiền.

Gần đây, một số tà sư nói không cần dụng công, lời nói này rất là độc hại, đưa người ta xuống cõi dữ; ai mà giảng như thế thì thầy trò đi xuống hết. Cho nên, chúng ta phải dấn thân tu tập, tỉnh lúc nào hay lúc đó. Chúng ta phải ráng, ba thời lúc nào cũng có mặt, đó là con đường dấn thân.

  1. Lập hạnh: Khi tu tập được rồi, chúng ta phải phát nguyện lực, tức là lập hạnh. Thiền sư Tỉnh Am nói: “Hạnh mà không lập, Phật quả không thể thành, dầu cho tu ngàn kiếp, nghiền nát thân năm uẩn này như tro bụi, giống như nấu cát muốn thành cơm.”

Mỗi người lập mỗi hạnh, mỗi người mỗi công hạnh thì mới thành tựu được. Ngày xưa, tôi về đây, đất khô cằn sỏi đá. Sở dĩ đạo tràng được thanh tịnh trang nghiêm là do chúng ta lập hạnh cho kỳ được; trang nghiêm đạo tràng cho thành tựu cũng là lập hạnh.

  1. Phụng sự: Khi lập hạnh đầy đủ năng lực, có vô tác diệu lực từ bên Bây giờ, chúng ta phải phát nguyện lực thứ ba là phụng sự tha nhân, giống như con tằm ăn dâu phải nhả tơ. Khi còn là thiền sinh, đàn na thí chủ nuôi mình tu tập được thì bây giờ phải phụng sự. Do đó, đại chúng thấy, bất cứ Đạo tràng nào mời là tôi xông pha đi giảng dạy hướng dẫn. Con đường bây giờ là con đường phụng sự cho người khác.
  2. Niết-bàn: Sau khi phụng sự tròn đủ rồi, chúng ta bắt đầu đi vào con đường Niết-bàn. Chúng ta phải đóng cửa tu đến nhập Niết-bàn. Nếu tuổi thọ cho phép sống 70 hoặc 80, 90 tuổi, lúc đó mình không có tham gia Phật sự gì hết.

Muốn dạo trong biển tịch diệt đại Niết-bàn thì chúng ta phải như thế nào, tròn đủ công đức rồi vào không có ngăn ngại nữa, thân tâm an yên tu nhẹ lắm, gọi là con mắt đạo vô úy, mở con mắt không sợ hãi.

Đối với Đại Niết-bàn, sanh lòng tin, quyết định không trở lại theo cảnh giới luân hồi mà khởi các kiến chấp tuần hoàn một lần nữa.

Đối với Đại Niết-bàn, quyết định đời này là xong luôn. Nếu xuống cuộc đời này là bằng bi nguyện, bằng đại nguyện chớ không phải bằng ái dục, bằng tham ái; không đi bằng nghiệp lực dẫn nữa.

Bồ-tát Di Lặc nêu lên điều này là cho chúng ta, chúng sanh đời sau, chớ không phải cho Bồ-tát. Ngài đưa ra 4 câu hỏi:

1.   Nếu các Bồ-tát và chúng sanh đời sau muốn dạo chơi trong biển đại tịch diệt của Như Lai, làm sao đoạn được cội gốc luân hồi?

Theo từ ngữ của từ điển Phật Quang, đại tịch diệt tức là đại Niết-bàn.

Đại Niết-bàn này phải đầy đủ 3 đức: 1- Pháp thân, 2- Bát-nhã, 3- Giải thoát; mới có thể lập nghĩa Đại. Thể sâu, dung rộng mới được gọi là biển.

Như vậy, chúng ta phải thể nhập pháp thân. Chỉ Đức Phật mới có được pháp thân, chúng sanh chỉ có Phật tính thôi, bởi vì Ngài có đầy đủ 3 thân: pháp thân, hóa thân, báo thân đầy đủ trang nghiêm công đức. Mình không thể nào gọi là pháp thân được, mà gọi là Như Lai tại triền, có bản thể Như Lai mà bây giờ bị vô minh hoặc, trần sa hoặc che phủ.

Hoặc là mê lầm. Chúng ta giống như sốt rét cách ngày, có lúc tỉnh có lúc mê, đang nghe pháp ở đây thì mình tỉnh, nhưng gặp chuyện là mê, bị cái hoặc, cái

mê lầm nó phủ che rồi, chưa phải là pháp thân như Đức Phật. Mình nghe vậy tủi thân: Chẳng lẽ tu hoài không được? Cho nên, các Ngài mở ra cho mình con đường sáng một chút, là khi chúng ta tu, tỉnh từng niệm gọi là ‘phá từng phần vô minh để chứng từng phần pháp thân.’

‘Phá từng phần vô minh’ là ngay trong giờ phút đó gặp cảnh mà không bị cảnh chuyển, ngay lúc đó tỉnh sáng, không có vô minh là ngay đó, mình thể nhập chút pháp thân.

Cho nên mới có 2 Tông, gọi là Tông Lâm Tế và Tông Mặc Chiếu. Mặc Chiếu là tịnh lặng nhưng sáng suốt rõ ràng, ngồi thiền là đi từng bước để thể nhập pháp thân. Bên Lâm Tế họ không chấp nhận, họ nói một là phàm, hai là thánh. Tông Lâm Tế giống như dũng sĩ ra trận, tướng ra trận một là sống hai là chết, ngay trong giờ phút đó một là phàm hai là thánh. Còn Tông Mặc Chiếu gỡ từng bước, giống như người nông phu, muốn được gạo nấu ra cơm thì phải dọn đất, dọn cỏ dại, gieo hạt, bón phân rồi mới có lúa; xong rồi phải gặt, sàng sẩy mới có gạo nấu cơm. Ngài Đại Huệ Tông Cảo quở tông này.

Nhưng qua Tông Tào Động của Ngài Đạo Nguyên, là Sơ Tổ trùng hưng thiền tông ở Nhật Bản, Ngài lập nên những ngôi thiền viện lớn, đem thiền từ bên Trung Quốc về, Ngài khẳng định: “Một giờ

ngồi thiền chính là một giờ làm Phật, hai giờ ngồi thiền chính là hai giờ làm Phật.” Bởi vì hành giả đang ở trong tư thế làm Phật cho nên ‘phá từng phần vô minh để chứng từng phần pháp thân.’

Trong kinh Lăng Nghiêm: “Nếu ngay trong giờ phút đó mà chuyển được vật, tức đồng Như Lai.”

Chẳng hạn cái khánh này đang để trên bàn, đem về tăng đường cất là chuyển được vật, phải vậy không? Ngay ở trên tướng mà không trụ trên tướng sanh tâm là chuyển được vật, tức là đồng Như Lai; ngay trong giờ phút đó là pháp thân. Cái gì thấy được để mình chuyển? Là Bát-nhã, là trí tuệ, ngay trong giờ phút đó mình giải thoát chớ không đợi lên ngồi thiền. Như vậy, trong bốn oai nghi chúng ta thực hiện được. Ngay trong giờ phút đó không chạy theo cảnh, không chạy theo vật là chúng ta chứng nghiệm vào pháp thân.

Như vậy, trong một ngày, nếu tu tập được, là chúng ta đang ở trong Đại tịch diệt. Hay nói khác hơn, biển Đại tịch diệt của Như Lai với mình bình đẳng không khác. Phương pháp Phật Tổ mở ra hết rồi, mình chỉ có tu thôi. Muốn được như thế, biển này phải sâu và phải rộng, đây là phương pháp thực hiện để phụng sự cho tha nhân.

Trong kinh Tương Ưng Bộ:

Một hôm, Đức Phật đi khất thực ngang qua làng chài gặp một người ngư dân, Phật hỏi:

  • Ông thích biển, yêu biển không?
  • Thưa Sa môn Gotama, con rất thích biển, con rất là yêu biển.

Phật hỏi:

  • Tại sao?

Ông nói:

  • Biển có các đặc điểm:
  • Biển từ cạn đến sâu.
  • Biển rất là rộng, có thể dung chứa những con cá, con thuồng luồng lớn, đặc biệt những sinh vật nhỏ như con tôm, con tép cũng ở được.
  • Trăm ngàn con sông chảy về biển, biển dung chứa hết. Trăm con sông chảy về biển thì bỏ tên sông chỉ lấy tên là biển thôi.
  • Biển chỉ một vị vị mặn. Những con sông lợ, có mặn, có không mặn; biển đặc biệt chỉ có một vị là vị mặn.

Phật nói:

  • Này ngư dân, giáo pháp của Như Lai cũng giống như biển, cũng từ thấp đến cao, từ cạn đến sâu.

Giáo pháp của Đức Thế Tôn cũng có những đặc điểm:

  • Người nào muốn giữ 5 giới thì Đức Phật truyền cho 5 giới; người nào muốn giữ thập thiện, Đức Phật

truyền cho giới thập thiện; người nào muốn tu hạng Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, Phật thừa, giáo pháp của Như Lai đủ hết, từ cạn tới sâu.

  • Biển giáo pháp của Đức Thế Tôn dung nhiếp hết người trí tuệ siêu việt như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp, kể cả những người thấp hèn nhất trong giai cấp Thủ-đà-la như Ưu Ba Li.
  • Dù mang dòng tộc nào: Bà-la-môn, Sát-đế-lợi, Vệ-xá hoặc Thủ-đà-la nhưng vào trong giáo pháp của Đức Thế Tôn thì chỉ mang tên dòng họ của Đức Phật Thich Ca Mâu Trăm dòng tộc chảy về biển giáo pháp của Như Lai chỉ còn một mà thôi.
  • Giáo pháp của Đức Thế Tôn chỉ có một vị, đó là vị giải thoát.

Ba thừa, 12 phần giáo, pháp đốn ngộ, pháp tiệm tu, pháp phàm phu thiền, ngoại đạo thiền, Thanh văn thiền, Duyên giác thiền, Bồ-tát thiền, Tối thượng thừa thiền…, chỉ có một vị là vị giải thoát. Tu pháp gì không biết mà giải thoát là đúng, tu nói cho hay mà bị trói buộc bởi tham, sân, si, phiền não thì tu lại. Phải nhớ một điều là giáo pháp của Đức Phật giải thoát các khổ nạn.

Tất cả khổ nạn nằm nơi thân, miệng, ý, giải thoát đó gọi là đại tịch diệt. Chúng ta sống mà tự tại không dính mắc với các pháp, đối với huynh đệ, sống hòa

nhã an yên không có phiền não; mình nhìn ai cũng là Phật, cũng là tướng đại nhân thì đâu còn gì phiền, là mình biết chết được giải thoát; mình thưa với quý thầy, quý cô đừng cầu siêu, vì đã giải thoát trong cuộc sống rồi. Đằng này, mình thị phi, phiền não là biết bị trói buộc, chết sanh về cõi ngạ quỷ, dầu cho đầu tròn áo vuông. Phật nói, tôi không cứu ông được. Phật chỉ đưa ra con đường thôi, cứu hay không là do mình.

Có một vị đến gặp chúng tôi nói, đạo Phật lúc nào cũng nói hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, thắp lên với chánh pháp; nhất là nhà thiền, cái gì cũng phải tự lực, phải đứng trên đôi chân của mình; trong khi những phương pháp khác người ta phải nương tựa vào một vị nào đó. Thí dụ Đại phạm thiên của Bà La Môn giáo, họ cho rằng họ là tiểu ngã, khi họ chết đi cộng trú với phạm ngã, tức là phải có gì để cộng trú.

Tôi đưa ví dụ: có 2 đứa nhỏ khoảng 5, 6 tuổi. Một hôm một đứa đang chơi, bất thình lình rơi xuống hố, nó trèo lên không được. Nó kêu cứu đến cha mẹ không được, nó cầu vị Phạm thiên mà hằng ngày thờ cúng, tức khắc ông Phạm thiên hiện ra cứu nó thoát khỏi cái hố. Đứa nhỏ thứ hai một hôm cũng đi chơi rong, rồi rơi xuống hố, kêu cứu không được, nó nhớ lại, hằng ngày, cha mẹ dạy nếu gặp tai nạn thì kêu Phật đến cứu. Phật hiện ra nói Như Lai không có kéo con lên, mà Như Lai sẽ chỉ con một phương

pháp để con tự tìm cách lên khỏi miệng hố.

Khoảng một tuần lễ sau đứa thứ nhất lại rớt xuống hố, nó kêu cha mẹ không được, kêu đến vị Phạm thiên, vị này bận việc không đến được nên nó không được cứu. Đứa nhỏ thứ hai rớt xuống hố lần nữa, nhờ Phật đã chỉ cho cách để thoát khỏi hố nên nó tìm cách leo lên. Đứa thứ hai được Đức Phật chỉ cho con đường cho nên còn sống.

Chúng sanh cũng như thế, ai cũng đều rớt trong hầm hố phiền não, vô minh, nhưng đặc biệt giáo pháp của Đức Phật là chỉ con đường để đi, để vươn lên chớ các Ngài không có kéo. Trong kinh Pháp Cú Đức Phật khẳng định:

Đường này đến thế gian, Đường kia đến Niết-bàn. Tỳ-kheo đệ tử Phật,

Phải ý thức ràng.

Như vậy, Phật được gọi là bậc đạo sư. Đức Phật nói, ta không phải là một bậc thiêng liêng mà chỉ là một ông Thầy dẫn đường, các ông đi hay không là quyền của các ông. Ngài chỉ cho bản đồ, đi hay không là quyền của mình.

2.  Đối với các luân hồi có bao nhiêu chủng tánh?

  1. Người tu Phật Bồ-đề bao nhiêu thứ sai biệt?

Trong hàng tăng chúng có bao nhiêu thứ sai

biệt nằm trong đó. Chẳng hạn như mình có cộng nghiệp là người Việt Nam, trong cộng nghiệp có biệt nghiệp. Mỗi người mang một cái nghiệp riêng gọi là sai biệt nghiệp. Sai biệt nghiệp hiện lên năm uẩn khác nhau. Mắt, tai, miệng chuyển theo nghiệp tập trong quá khứ mình làm cho nên không ai giống ai. Cha con cũng chỉ giống phần nào chớ không giống y được. Như vậy, Việt Nam có 90 triệu dân thì có 90 triệu nghiệp. Nguyễn Du thấm chỗ này nên nói: “Đã mang lấy nghiệp vào thân, Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.”

Nếu đời trước mình tu pháp gì, lập hạnh pháp gì thì đời này tự nhiên trổ ra hết. Chẳng hạn như đời trước tu thiền đốn ngộ thì đời này tu rất nhẹ nhàng đơn giản. Có nhiều người ngồi thiền thấy bay lên rớt cái đụi, là do cái tưởng. Hoặc thấy con mèo giống như phù thủy, là do sai biệt nghiệp ứng ra con mắt, ứng ra cái tưởng. Đức Phật dạy không phải do người học đạo; đệ tử đến tu viện học, ông thầy tu pháp gì thì chỉ dạy cho đệ tử pháp đó; cho nên lỗi là của ông thầy, không đưa đệ tử vào tri kiến Phật được.

  1. Khi trở vào trần lao thì lập bao nhiêu thứ phương tiện giáo hóa để độ sanh?

Cúi mong Đức Thế Tôn chẳng bỏ lòng đại bi cứu thế, khiến cho những người tu hành, tất cả Bồ-tát và chúng sanh đời sau được con mắt trí tuệ, thanh

tịnh chiếu soi gương tâm, ngộ được viên mãn cái vô thượng tri kiến Như Lai.

Thưa lời đây rồi, năm vóc gieo xuống đất, thưa thỉnh như vậy trước sau ba lần.

Có trí tuệ chiếu soi bên trong, mới được năng lực gọi là vô thượng tri kiến Như Lai.

Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Bồ-tát Di Lặc rằng: Lành thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Các ông mới hay vì các Bồ-tát và chúng sanh đời sau thưa hỏi Như Lai về nghĩa thâm áo, bí mật vi diệu như thế.

Bây giờ, chúng ta nghe thường quá, nhưng vào thời Đức Phật, chỗ này gọi là thâm áo, bí mật vi diệu.

Khi ông Cấp Cô Độc bệnh nặng sắp mất, Đức Phật sai tôn giả Xá Lợi Phất và tôn giả A Nan đến khai thị cho ông về bí tạng của 5 thủ uẩn: mắt không phải của ta, tai không phải của ta, sắc, thọ, tưởng, hành, thức không phải của ta. Khi 5 thủ uẩn tan rã, cái gì thấy được 5 thủ uẩn đang từng giây từng phút nó tan rã?

Nghe đến đoạn đó ông khóc như mưa. Tôn giả Lợi Phất nói:

  • Này cư sĩ! Ông còn lời gì trăn trối lại hay sao mà ông khóc như thế? phải ông luyến tiếc cuộc đời này? Ông luyến tiếc tài sản này không ông khóc?

Ông Cấp Độc nói:

 

 

 

  • Thưa tôn giả Lợi Phất, từ khi con theo học đạo Đức Thế Tôn đến nay sáu, bảy mươi năm, pháp nói về năm uẩn này con chưa từng nghe, quá vi diệu, quá mật, con chưa từng bao giờ nghe Thế Tôn nói pháp này.

Tôn giả Lợi Phất nói:

  • Pháp này chỉ hàng xuất gia mới được nghe, còn người tại gia không được

Ông Cấp Độc:

  • Thưa tôn giả Xá Lợi Phất, tôn giả về thưa lại với Đức Thế Tôn rằng, hàng tại gia cũng những người con mắt ít bụi, ít khát ái, ít tham nhiễm, dục, họ thể nghe giáo pháp này chứng vào con đường Niết-bàn.

Ông tha thiết thưa thỉnh, tôn giả Lợi Phất mới về trình bày với Đức Thế Tôn những vấn đề đó.

Ngày xưa, Tổ Huệ Khả, Ngài học rộng, nhớ nhiều mà tâm trạo cử bất an, bị vọng tưởng điên đảo dẫn dắt. Khi Tổ Đạt Ma khai thị “đem tâm ra, ta an cho” là lúc đó toàn thân Ngài chấn động. Bởi vì ngày xưa, Ngài chấp các tư duy, suy nghĩ là của mình, nên hôm nay khi nghe Tổ nói: “đem tâm ra đây, ta an cho”, với niềm tin kiên cố, những vọng tưởng của Ngài liền rớt xuống.

Còn bây giờ, thí dụ mình đến Hòa thượng Thường Chiếu trình: “Con vọng tưởng nhiều quá”. Hòa thượng nói: “Đem vọng tưởng ra”, mình nói

liền: “Vọng tưởng đâu có thật đâu mà đem”, cho nên mình phàm phu hoài! Có nghĩa là cái thức của mình nhảy ra trước, làm việc trước. Mình bị cái rừng rậm giáo lý gạt mình, chặt đứt con đường giải thoát tri kiến. Còn người xưa chỉ chăm bẳm bao nhiêu đó thôi, khi đến gặp Tổ, Tổ phán một câu, bao nhiêu nghiệp chướng rơi rụng xuống cùng một lúc. Bây giờ, mình nghe nói tạng bí mật vi diệu thấy thường quá: “Cái này là tri kiến Phật chớ gì đâu”, mình bị cái thức lừa.

Khiến cho các Bồ-tát con mắt trí tuệ được trong sạch, và khiến cho tất cả chúng sanh đời sau hằng đoạn được sanh tử luân hồi, tâm ngộ thật tướng, đầy đủ pháp vô sanh nhẫn. Nay ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì ông nói.

Khi ấy Bồ-tát Di Lặc vâng dạy, hoan hỉ các đại chúng đều yên lặng lắng nghe.

Thiền sư Khuê Phong Tông Mật Ngài luận đoạn này, tôi nêu lên 4 câu Ngài luận:

1.  Luân hồi vốn thanh tịnh, không có các chủng loại sai biệt.

Ngài nói sanh tử qua lại vốn thanh tịnh. Tại sao Ngài nói như vậy? Bởi vì chúng ta qua lại trong sanh tử luân hồi này nhưng Phật tánh không có mất, nó theo mình nhưng không bị chi phối về nóng lạnh,

đói khát, cho nên, nó vốn thanh tịnh. Ngài nói về cái chỗ thâm sâu gọi là bí mật tạng. Khi ở trong thể viên giác rồi, nó không có chủng loại nghiệp sai biệt, gọi là bản lai vô nhất vật, xưa nay không một vật.

2.  Chân tánh thì vô tánh, xưa nay vốn thanh tịnh.

  1. Do chúng sanh chưa ngộ, tâm vọng thấy sanh, sanh ắt phải diệt cho nên luân hồi.

Do chưa ngộ được tính viên giác nên thấy mình có sanh ra rồi chết, thấy sanh tử tiếp nối, có luân hồi.

4.   Hôm nay, ngộ thật tướng, biết tâm vốn vô sanh. Tâm đã vô sanh thì luân hồi vĩnh viễn dứt. Nhẫn như vậy có thể gọi là vô sanh nhẫn.

Phật dạy:

Sở dĩ chúng sanh trầm luân trong biển khổ luân hồi là do ái và dục, là gốc rễ của sanh tử luân hồi.

Ái là khát ái, dục là ham muốn, cho nên người xưa có câu:

Niệm bất nhất bất sanh tịnh độ Ái bất trọng bất sanh Ta-bà.

Niệm Phật mà không ở trong trạng thái nhất tâm bất loạn thì không bao giờ về Tây phương được. Ái mà không nặng, biển tham ái khô cạn thì con đường luân hồi chấm dứt. Cho nên, phương pháp tu tự thân mỗi người nghiệm thôi chớ không ai nghiệm thay.

Này Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ mé vô thỉ, do các thứ ân ái tham dục cho nên có luân hồi. Nếu các thế giới tất cả chủng tánh: noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh đều do sự dâm dục mà có tánh mạng, chánh yếu nên biết: Sự luân hồi, ái là cội gốc.

Đại chúng đốn gần sát gốc của cây, qua một trận mưa là nứt mầm lên, bởi vì cái gốc còn. Trong nhà thiền, làm sao bứng cái gốc ái lên thì mới dứt. Chúng ta học Phật rồi, mới thấy đường tu tập của mình gọi là may mắn. May mắn rằng, chúng ta tu pháp thấy được niệm để chuyển hóa niệm, gọi là thấy vọng để ngộ cái chân thật. Phương pháp này phải nói là đặc biệt, là tối thượng thừa, bây giờ nghiệm lại thấy đúng. Tại sao có luân hồi sanh tử? Trong 12 nhân duyên, vô minh duyên hành, hành duyên thức, lục nhập, xúc, thọ… Sở dĩ có luân hồi trong biển khổ sanh tử vì có ái rồi giữ nó nên mới có kiếp sau (ái thủ hữu).

Vô minh có 2 loại: Phát nghiệp vô minh và nhuận sanh vô minh.

Phát nghiệp là khởi niệm lên rồi nuôi cái niệm đó. Phát nghiệp thiện, nuôi cái niệm thiện đó hoài: “Tôi sẽ đi xuất gia”, khi niệm đó đủ lớn sẽ đẩy mình vào thiền viện, hoặc vào chùa, vào tịnh xá. Cho nên, những vị Tây Tạng, đến năm 70 tuổi là các Ngài đóng cửa thất không giao du thiên hạ, bệnh sắp chết các Ngài cũng không đến bệnh viện, bởi vì sợ phát

nghiệp lên mà không chuyển hóa được, thì sẽ ra cái gọi là ‘nhuận sanh vô minh’.

Phát nghiệp là gieo hạt giống xuống, còn nhuận sanh là tưới tẩm hạt giống hằng ngày. Phương pháp chúng ta tu rõ như ban ngày. Tôi buồn cho người xuất gia ở chỗ, là khi còn nhỏ ở trong chùa tu miệt mài, đến bảy tám mươi tuổi lại xin về nhà. Do phát nghiệp khởi hằng ngày là lớn tuổi phải về nhà, rồi hằng ngày tưới tẩm gọi là nhuận sanh. Khi tưới tẩm đủ lớn, nhân duyên chín muồi đẩy về nhà không ở chùa nữa. Người xưa rất hay, các Ngài nói: Sống làm Phật tùng lâm, chết làm Phật tùng lâm.

Sở dĩ bảy tám mươi tuổi đòi về nhà là vì ngày nào cũng phát nghiệp mà không có sức gì để chuyển nó được; và hằng ngày tưới tẩm hạt giống ái, hạt giống không trung thực với đại chúng, không trung thực với Tam Bảo, hạt giống nói một đường làm một nẻo; tức là trái với pháp thể, gọi là phát nghiệp vô minh. Chính phát nghiệp vô minh này mới có nhuận sanh vô minh, tiếp tục con đường luân hồi sanh tử. Cho nên khi khởi niệm phải chuyển hóa liền đừng cho nó phát nghiệp tiếp.

Thế nào gọi là phát nghiệp vô minh? Phát nghiệp vô minh chính là một niệm vô thỉ tối sơ vọng động, mê cái gốc viên giác quang minh nên gọi là vô minh.

Tức là quên cái tánh viên giác mà chạy theo cái vọng. Không sống với tánh viên giác mà chạy theo vọng tưởng điên đảo hằng ngày, nuôi lớn nó bằng nước tham ái. Thành ra phương pháp mình tu, nhớ là vừa nhích một niệm là chuyển liền. Ngài Thạch Sương nói vừa ra cửa là dính cỏ, mắt vừa nhấp nháy là biết phải chuyển nó liền. Chẳng hạn như đang tu mình khởi niệm: “Mình ráng thọ giới, lấy được giấy chứng nhận Tăng Ni là mình từ giã”, hằng ngày phát nghiệp: “Có giấy tờ là đi”, thì khi có giấy tờ là mình lên đường; gọi là phát nghiệp, mê cái gốc viên giác. Tánh viên giác không có mấy thứ này, người xưa người ta rất sợ chỗ phát nghiệp.

Ngày xưa, chúng tôi tu ở Trúc Lâm không bao giờ khởi niệm một mai mình lên đây ngồi giảng. Chỉ một bề tu thôi, không nghĩ đi chỗ này, chỗ kia. Bất thình lình Sư Ông kêu lên, sắp đặt công việc, thầy Tuệ Giác qua Mỹ, tôi qua Canada. Một thời gian Sư Ông rút về cắt ra đây, mọi việc theo sự chỉ đạo của Sư Ông Trúc Lâm, gọi là Tăng sai.

Khi Tổ Lâm Tế 3 lần bị Ngài Hoàng Bá đánh, Ngài lên gặp Ngài Trần Tôn Túc:

  • Chắc con không duyên đây, bởi 3 lần con hỏi đại ý Phật pháp đều 3 lần Hòa thượng đánh, là con biết con không đủ duyên.

Ngài Trần Tôn Túc lên gặp Ngài Hoàng thưa:

 

 

 

  • Con thấy người này là bậc pháp khí trong tùng lâm, giống như con phượng hoàng trong một đàn gà, Hòa thượng nhớ mài giũa.

Lúc đó, Tổ Lâm Tế đến gặp Ngài Hoàng Bá xin đi.

Ngài Hoàng hỏi:

  • Ông đi đâu? Ngài Lâm Tế nói:
  • Con cũng không biết đi đâu.

Gặp mình: “Thầy đừng có lo, con liên hệ, có chỗ nhận con rồi.” Hỏi “Ông lo hồi nào?” “Ba tháng trước con đã điện xin rồi!”. Người xưa cỡ như Ngài Lâm Tế mà nói con không biết đi đâu, còn mình bây giờ tính toán nhiều quá, chưa ra khỏi thiền viện biết đi chỗ này, chỗ kia rồi, một sư đoàn vọng tưởng gọi là phát nghiệp vô minh dẫn. Tổ Lâm Tế nói không biết đi đâu nên bây giờ mới được làm Tổ.

Ngài Hoàng nói:

  • Ông qua Ngài Đại Ngu chỉ cho ông con đường sáng.

Qua đó, Ngài Lâm Tế ngộ đạo. Mình tính toán nhiều quá thành ra khó ngộ đạo. Ở đây nói phát nghiệp vô minh là mê, cái niệm vô thỉ tối sơ là cái bất giác, là vọng động, chỉ cần quay lại bên trong, tức khắc trí tuệ phát khởi là vô minh dứt, mình không còn phát nghiệp nữa. Không còn phát nghiệp thì đâu có tưới tẩm hạt giống gọi là nhuận sanh vô minh.

Duy chỉ mê pháp thân bản hữu này, mà vọng nhận năm ấm thân tâm huyễn mộng làm ngã, rồi chấp cái ngã.

Mà khi chấp cái ngã thì chấp cái gì mình hiểu biết là của mình, cho nên, ai nói, ai cản gì cũng không được.

Vô thỉ bổn khởi vô minh, đây tuy là mê chơn nhận vọng, còn chưa tiếp nối các sanh tử, mà chỉ hay phát nghiệp thôi.

Mê cái chơn rồi nhận cái vọng cho là mình, mà nó chưa tiếp nối sanh tử, chỉ mới phát nghiệp. Cho nên tu thiền muốn không có nhuận sanh vô minh thì hạt giống nào ra phải chuyển liền.

Nhuận sanh vô minh chính là cội gốc sanh tử luân hồi. Do trước mê lý vô minh, vọng nhận thân năm ấm làm ngã, tức là cái huyễn thân này, lại khởi ra cái thấy trai gái, tốt xấu, thương ghét.

Khi phát nghiệp rồi mình nuôi hạt giống đó, thì mình có mặt trong cuộc đời gọi là nhuận sanh vô minh. Bắt đầu con trai thấy con gái thương, và ngược lại. Đó là do cái nhuận sanh, khi còn sống trong cuộc đời, mình nuôi nó rồi, cho nên khi ra đời tự nhiên có cái đó.

Khởi ra cái tưởng tham ái, dâm dục, nhận thấy ái rồi mới bắt đầu phát nghiệp.

Mấy đứa nhỏ chừng một hai tháng tuổi, đưa nó

món đồ chơi mà mình lấy lại là nó nổi sân liền. Cái sân này từ cái phát nghiệp theo, bây giờ hình thành nên con người là cái nhuận sanh có rồi, cho nên nhận thấy ái tự nhiên phát nghiệp.

Nghĩa là ông ái ngã tâm, ngã thương đắm sắc ông, do đó kết thành nhân duyên, trăm ngàn vạn kiếp mãi mãi bị trói buộc.

Chúng ta nghiệm lại, hồi nhỏ còn đi học, trong lớp thấy người đó sáng sủa, đẹp người hơn, mình về soi gương. Mình ái ngã mới soi gương, cái ngã mình xấu quá, muốn cho đẹp thì phải cắt tỉa dọn dẹp.

Bên Miến Điện có hệ phái, khi xuất gia họ cạo lông mày luôn nhìn rất là xấu, để không còn ái ngã nữa. Còn ở ngoài đời, thấy mình xấu, về cắt tỉa, là ái ngã, để cho người ta nhìn cái ngã mình, trăm ngàn kiếp bứt ra không được. Cho nên khi đi xuất gia, ái mái tóc: xuống tóc; mặc áo đẹp: giờ mặc áo nâu sòng; giữ giới không được xông ướp dầu thơm trên thân, chấm dứt cái ái ngã. Chỉ có trí tuệ Phật mới thấy được chỗ này, nếu không học Phật cũng không hình dung ra được. Ông ái cái ngã tâm, ngã thương đắm sắc ông, do đó kết thành nhân duyên, cha mẹ, vợ chồng, con cái từ đó.

Cho nên Kinh Lăng Nghiêm Phật dạy:

Tuôn ái làm hạt giống, nạp tưởng kết thành thai,

giao cấu phát sinh, hấp dẫn đồng nghiệp. Vì nhân duyên này nên có sanh tử.

Phật giáo Tây Tạng kể:

Khi cha mẹ sống với nhau thì bắt đầu tuôn ra nước ái. Cái hấp dẫn đồng nghiệp đó, mấy ngàn dặm, từ xa, thần thức họ thấy được cái nhân duyên phát lên vầng sáng đục. Bởi vì hằng ngày họ sống với cái tưởng này nên từ xa họ lao đến, mà trăm ngàn thần thức cùng một lúc lao đến. Nếu có túc duyên với người này, gọi là hấp dẫn đồng nghiệp, thì khi đến là khởi dòng ái, vừa khởi niệm thấy thích người nam thì nạp tưởng kết thành thai, nhảy vào tụ cái thai thành ra người nữ. Còn nếu thần thức thấy thích người nữ, khởi hạt giống ái, tuôn nước ái rồi thì nạp tưởng kết thai thành người con trai. Thành ra thường người cha thương con gái, người mẹ có tâm thương con trai.

Hấp dẫn đồng nghiệp là người này phải có túc duyên nhiều đời với mình thì mới thành tựu được. Vào mà không có duyên đồng nghiệp thì nó ra, không kết thành thai. Vì nhân duyên này nên có sanh tử, tức là vừa khởi niệm là tuôn nước ái, làm hạt giống để nạp tưởng kết thành bào thai. Rồi hấp dẫn đồng nghiệp thì bắt đầu mới thọ thai sanh tử. Phật dạy gốc luân hồi sanh tử từ đây mà có. Đoạn sau chúng ta học tu như thế nào để mà chuyển hóa hạt giống này.

Do đó, Kinh Niết Bàn Phật dạy: Nhân ái sanh lo, nhân ái sanh sợ, nếu lìa tham ái còn gì lo sợ.

Nhân ái sanh lo, nhân ái sanh sợ, thần thức phập phồng lo sợ bởi vì nó còn khát ái. Thấy vậy chớ khi mà rớt trong cái thân này lo sợ lắm bởi vì nó không có gì nương tựa.

Khi sanh ra trong cuộc đời, nhuận sanh vô minh đi theo, bắt đầu nó phát sinh ra 3 loại ái:

1.  Ác ái: Đam mê săn bắn, ham đắm nữ sắc và danh lợi

Người tham đắm săn bắn phải có cái khát ái thích thú, họ mới đi vào rừng. Người đến vùng câu cá thì họ phải có khát ái câu con cá về để ăn hay để buôn bán. Nếu không có khát ái này thúc giục, họ sẽ không muốn làm, câu cá không được, hoặc bắn chim cũng không làm được, tức là cái ác ái không còn nữa. Ác ái là đam mê săn bắn, câu cá, đánh bắt, tham đắm nữ sắc và danh lợi, tức là có một cái thú hướng để khát ái gọi là ác.

2.   Thiện ái

Chúng ta bây giờ sợ sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, uống rượu, nhưng lại tham quả báo tốt, đời sau được đầy đủ, tươi sáng hơn nên bố thí, cúng dường, còn cần cầu thiện pháp, hoặc là sanh thiên làm trời Đế Thích, hoặc là xuống cuộc đời này làm vua, tức là còn thiện ái.

3.   Pháp ái

Là ưa thích danh nghĩa của pháp và tham quả thánh, tu hành để chứng quả Niết-bàn. Cũng gọi là ái nhưng mà pháp ái. Nghe nói tu thiền an lạc, nên mình cố gắng tu để đạt đến chỗ đó, là cũng còn cái ái. Đến giai đoạn năng sở, chủ khách, có không, sanh tử, Niết-bàn buông hết, không còn gì nữa thì mới dứt được mầm mống ái.

Phật nói nghiệp ác ái có thể bứt ra được, tu chứng quả được; còn tham đắm về cảnh giới, chẳng hạn như sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, tứ không thì trầm luân sanh tử còn dài hơn là xuống cõi xấu. Bởi vì xuống cõi xấu sẽ có một ngày lên tu tiếp, còn vướng cái này rồi là không biết bao giờ luôn.

Học Kinh Viên Giác thật là thù thắng, Phật dạy rõ hết luôn rồi, đi hay không do mình, tu hay không do mình.

Phật dạy:

Tất cả chủng tánh trong các thế giới như noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh đều lấy dâm dục làm tánh mạng chính; nên biết sự luân hồi, ái là cội gốc.

Luận Du Già ghi:

Tư nghiệp là nhân. Trứng, thai, thấp, nhiễm là duyên. Năm uẩn mới khởi là sanh.

 

 

 

Đức Phật chia ra 6 con đường: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, trời, người, A-tu-la. Tinh thần của Tịnh độ tông về quán Phật tam muội là hằng ngày hành giả phải quán 32 tướng tốt của Đức Phật, kế là quán thánh cảnh. Tư tưởng lúc nào cũng duyên theo cảnh đó, thì bắt đầu cái duyên kế bên. Hằng ngày cứ khởi niệm tật đố, ích kỷ, xan tham, chắc chắn rớt trong những loài trứng, thấp, hoặc noãn, từ đó sanh ra năm uẩn.

Đức Phật dạy, bốn loài chúng sanh: noãn, thai, thấp, hóa đều lấy ái làm gốc, làm tánh mạng chính. Sở dĩ rớt trong loài đó vì hằng ngày chúng ta khởi những niệm gọi là vọng tưởng điên đảo chấp trước. Từ cái dính mắc đó, khi từ giã cuộc đời, gọi là thoát ly năm uẩn, gặp cái duyên hằng ngày bị nhiễm trước gá vào, sanh ra năm uẩn.

Chẳng hạn như bây giờ mang hình hài là 70 ký, nhưng tư tưởng lúc nào cũng vô minh điên đảo, nghĩ những điều không tốt, thì sau khi chết gá vào cái thân năm uẩn có khi 100 hoặc 200 ký, tức là rớt trong loài súc sanh, hoặc là thấp hơn nữa, rớt trong loài noãn sanh.

Đức Phật chia ra các loài:

1.  Trời và địa ngục thuộc hóa sanh

Nghiệp cực thiện, khi chết không qua thân trung

ấm. Từ phần tiền ấm ban đầu đến phần hậu ấm, mở mắt ra thấy sanh lên cõi trời. Giống như Phật mẫu Maya phu nhân khi mang hình hài của một đại Bồ-tát sau này tu thành Phật, 7 ngày sau bà mất, mở mắt ra bà thấy bà là thiên tử ở cung trời Đao Lợi. Kế nữa là ông Cấp Cô Độc, vừa tắt hơi thở là ông có mặt ở cung trời Đao Lợi. Đó gọi là hóa sanh.

Nghiệp cực ác cũng không qua thân trung ấm, vừa tắt thở là thấy ở địa ngục, gọi là hóa sanh. Như mình ngồi ở đây khởi niệm qua Mỹ hoặc Pháp, vừa khởi niệm là thấy mình có mặt ở nơi đó. Nghiệp cực thiện, cực ác cũng như thế, vừa tắt hơi thở là có mặt ở đó.

Trong Kinh Pháp Cú:

Một vị làm việc cực ác, làm nghề đồ tể 50 năm. Khi ông vừa tắt thở, Phật nói với các thầy Tỳ-kheo hiện bây giờ ông ở cõi địa ngục chịu khổ. Cho nên Phật nói bài kệ:

Nay sầu đời sau sầu Làm ác hai đời sầu Nó sầu, nó u não

Thấy nghiệp khổ sầu hơn.

Khi ông Cấp Cô Độc sanh về cõi Trời, Phật cũng nói bài kệ:

Nay vui đời sau vui Làm phước hai đời vui Nó vui, nó làm phước Sanh cõi lành vui hơn.

  1. Loài ngạ quỷ gồm thai sanh hóa Các quỷ con và địa hành la sát thuộc thai sanh, các loài quỷ khác là hóa sanh.

Có những loài ngạ quỷ, chẳng hạn như trong những việc làm, tật đố, ích kỷ, xan tham mưu hại người khác, khi chết cũng thuộc dạng hóa sanh. Có những loài như địa hành la sát thuộc thai sanh.

3.  Người và súc sanh thì gồm cả 4 loài sanh:

  • 32 người con của bà Tỳ xá khư sanh ra từ trứng.

Đại chúng xem kinh biết, bà lấy chồng xong, sanh ra một cái bọc, trong đó 32 người con làm tráng sĩ.

  • Người bình thường từ thai
  • Bốn loài sanh, từ súc sanh tức là chim cánh vàng, rồng và các loài thú khác từ thai sanh, các loài chim khác từ noãn sanh. Nhưng các côn trùng nhỏ bé sống trong nước, trên đất, trong hư không hoặc là noãn thai, hoặc là thấp hóa, không thể phân biệt đầy đủ các phẩm loại, nhưng tất cả đều do ái mà có tính mạng.

Tất cả các loài, loài nhỏ nhít, loài côn trùng, loài nào cũng đều lấy ái làm nền tảng sanh ra, dứt ái thì không còn nữa; còn ái dù bất cứ loài nào, là còn thọ sanh tiếp nối, là chủng chủng tiếp nối. Cho nên vua Trần Thái Tông có câu:

Lang thang làm khách phong trần mãi, Ngày cách quê hương muôn dặm đường.

Chúng ta đi từ kiếp này đến kiếp khác, đi từ sanh thú này đến sanh thú khác, vô cùng tận. Khi nào khẳng định: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc làm này đã làm xong, không còn trở lên cuộc đời này nữa” thì chắc chắn lúc đó chấm dứt luân hồi. Giống như Đức Phật khi thành đạo, Ngài khẳng định: “Đây là kèo là cột, là nhà là cửa, ta là chủ nhân của ngôi nhà này, bây giờ ngôi nhà này sập rồi”.

Luận Câu Xá ghi, chư thiên sáu cõi Trời dục chỉ cần ôm, nắm tay, cười hoặc nhìn là thành việc ái.

Chư thiên gọi là lục dục giới, chẳng hạn như Đâu Suất Đà thiên, Đao Lợi thiên, Dạ Ma thiên, Tha Hóa Tự Tại thiên, chỉ cần nhìn ngắm, cười thôi là sanh ra ái.

Người 4 châu đồng với cõi Trời Tứ thiên vương. Các loài khác từ noãn, thai, thấp mà có hình đều do tâm nhiễm, khí truyền lại thành ra có sanh mạng.

Chúng ta học phần này quan trọng nhất cho người tu thiền.

Do có các dục cảnh trợ pháp tính ái, nên khiến chúng sanh có sanh tử tương tục.

Tính ái là tâm, tức chủng tử ái. Sanh ra trong cuộc đời này là có hạt giống ái, nếu không có hạt giống ái thì không sanh ra. Hạt giống ái là mầm mống của sanh tử, khi chào đời nó đã có rồi. Trẻ con mới chào đời nhưng nó nhìn biết ai là mẹ, ai là cha, tức là nó có hạt giống ái, gọi là đồng căn khí, cho nên mới thọ sanh. Có hạt giống ái như vậy, bây giờ, chúng ta bứt phá. Chúng ta lớn lên, do túc duyên hay nguyện lực gì đó, chúng ta bứt phá gia đình.

Thiền sư Triệu Châu 30 năm trong tùng lâm. Khi về nhà, cha mẹ dòng tộc đến thăm, Ngài trốn cửa sau, đi mất. Ngài nói: Lưới ái bao giờ mới dứt. Người xưa người ta tu như vậy, còn mình bây giờ sao? Khó lắm chớ không phải dễ! Bởi vì tính ái là tâm, chủng tử ái là hạt giống đã có sẵn rồi. Đại chúng thấy cắt cỏ, xịt thuốc đất bằng phẳng không còn một cọng cỏ, nhưng mưa chừng một hai lần là cỏ mọc lên. Hạt giống có ở dưới sẵn rồi, gặp mưa tức là gặp nước ái. Cho nên, tại sao đời sống xuất gia phải cách ly?

Ví dụ cái bình thuốc nổ, muốn nổ người ta phải dẫn ngòi nổ, đốt cháy chậm, lần lần tới vị trí thuốc nổ chính nó mới nổ. Đại chúng học luật mới thấy hay: luật tứ Ba-la-di, kế là 13 pháp Tăng tàn, kế là 100 pháp chúng học. Những giới là thành trì bao bọc

xung quanh; thành trì mà bị phá thì chắc chắn sẽ rớt vào tứ Ba-la-di. Quốc độ nào cũng có trung ương ở chính giữa, xung quanh là đồn lũy bao bọc bảo vệ trung ương. Đồn lũy, biên giới bị phá, chắc chắn lọt vào trung ương, cho nên biên giới phải cần gìn giữ. Những giới căn bản nhỏ phải giữ, cũng như đất nước nào cũng cần phải giữ biên cương thật vững chắc. Phật pháp cũng như thế, chúng ta phải bảo vệ thành trì.

Do trần dục bên ngoài lôi kéo phát khởi tâm ái.

Bây giờ ngồi đây, không thấy cái dục bên trong mình phát khởi, nhưng khi gặp cảnh nó lôi kéo. Có vị cư sĩ kể, họ ham tu nên lên núi nhập thất. Lúc đầu, cũng bình thường. Đến tháng thứ ba, gặp loài thú đến mùa giao hợp với nhau, khởi lên tánh dục nên bể thất xuống núi.

Cho nên, người xưa nói chưa kiến tính ngộ đạo mà ở một mình, một là chìm sâu trong biển ái, hai là tăng trưởng gốc sân hận. Tại sao? Bởi vì chưa kiến tánh ngộ đạo mà vào trong rừng, tưởng yên nhưng thật ra không yên: chim kêu, gió thổi, đủ loài thú kêu làm tâm động. Tâm chưa yên nên bực tức khởi lên lòng sân hận. Tâm yên mà chưa kiến tính ngộ đạo thì chìm trong biển ái. Những người nhập thất một mình đa phần đều rớt trong cảnh này mà không hay.

Ngồi đây nghe giảng, không thấy gì. Tối nay,

ngồi thiền, bên ngoài hát karaoke. Hát mấy bài đầu mình bình thường, hát đến bài ruột của mình ngày xưa, bắt đầu bên trong nó máy động, là cảnh dục nó lôi kéo, trợ phát.

Cũng do tâm ái tham đắm cảnh dục, vì tham dục nên tạo nghiệp, vì tạo nghiệp nên chịu quả báo, do đây mà sanh tử không có dứt.

Gặp cảnh trợ phát. Ở Ấn Độ, khi lên xe bus họ không cho kéo rèm, bởi vì bên đó có nạn hãm hiếp phụ nữ. Trợ phát tánh dục của người Ấn mạnh lắm, họ ăn hành hẹ, ăn những loài thực vật kích thích về tính ái. Bây giờ mới thấy Phật dạy chi li. Cho nên tại sao chúng ta phải cách ly, ở chỗ A-lan-nhã1.

Ngày xưa, Thiền sư Huyền Giác khi xong việc rồi, được Lục Tổ Huệ Năng ấn chứng, Ngài phải lui về ở A-lan-nhã 20 năm, chớ không phải xông pha như chúng ta. Các Ngài biết cảnh giới của mình đến và đi.

Triệu luận ghi: Sở dĩ chúng sanh lưu chuyển là do dính mắc vào tham dục. Nếu tâm dừng tham dục thì không còn sanh tử. Chân tâm tịch mặc hợp với thể hư không, đó gọi là Niết-bàn.

 

 

 

  1. A-lan-nhã: là núi rừng, đồng Chỉ những nơi yên tĩnh vắng vẻ, thích hợp với những người xuất gia cư trú để thiền định và tu tập.

Thiền sư Hám Sơn khai thị:

Ái dục là cội gốc của sanh tử, vì thân tâm năm ấm chúng sanh vốn nhân ái dục mà có, chỉ lấy ái dục làm tánh mạng chánh yếu.

Tại sao Ngài nói vậy? Bởi vì thân tâm năm uẩn này do tinh cha huyết mẹ, mà tinh cha huyết mẹ là dục nhiễm tạo cái thân này. Cho nên tại sao Phật chế ra 5 giới, 10 giới, 250 giới để ngăn ngừa dòng nước ái.

Nên cảnh tham dục tuy nhiều, mà mỗi mỗi cái dục đều là cái gốc trợ giúp phát sanh tánh ái, lại chẳng thôi dứt rượu thịt, hành, hẹ, tỏi, nén, hưng cừ, vì nó là trợ nhân.

Nó không phải là căn bản của ái dục vô minh, mà nó là phương tiện trợ nhân giúp cho tánh ái phát sinh lên.

Trong luật ghi, anh chàng này không bao giờ nói dối, sống rất lương thiện, chưa bao giờ giết con gà hay con vịt. Một hôm uống rượu say, anh chạy qua nhà hàng xóm. Thấy con gà, anh bắt về làm thịt ăn, mang tội sát; ngay tội sát có tội trộm cắp. Cô hàng xóm qua, anh nói dối anh không trộm gà. Nhìn thấy cô thiếu nữ này đẹp quá, anh sanh tâm dục nhiễm. Cho nên 5 giới đều phạm từ giới uống rượu mà ra.

Vì vậy, Phật cấm không được uống rượu. Với trí tuệ sáng suốt vô thượng, Phật thấy rằng, rượu là trợ phát, là nguyên nhân đưa đến con đường ác. Ăn hành, hẹ, tỏi: Ăn sống sanh sân, chín thì sanh dâm;

bởi vì nó là trợ phát, là cái ngòi thuốc nổ. Người tu mà ăn các thứ này thì chỉ nói trên sách vở, trên từ ngữ thôi, chớ thâm chứng chiều sâu bên trong không có.

Vị nào hay ăn mấy thứ này, cha mẹ có mất cũng đừng về khai thị, khai thị là cha mẹ đi trật đường. Trong phim Tây Du Ký, khi Đường Tam Tạng đến vùng đó, có 2 vợ chồng nhờ Ngài tụng bài kinh cho cha mẹ mất đã lâu. Tối lại, người nhà thấy về báo mộng: “Hôm nay có một vị Tăng đến tụng bài kinh nên mẹ thoát kiếp khổ sanh về cõi trời”. Bởi vì, Ngài là bậc cao tăng, là thánh tăng.

Vì nó là trợ nhân. Do căn ái đã sâu, mà sự trợ phát tính ái mỗi ngày mỗi dày, tâm tâm trước dục, niệm niệm nhuận sanh, thế nên hay khiến sanh tử tiếp nối.

Căn ái của chúng ta đã sâu rồi, không phải một đời này mà nhiều đời nhiều kiếp, bây giờ trợ thêm tánh ái nữa, là cái nhân. Hạt giống có sẵn rồi mà ngày nào cũng tưới tẩm, ngày nào cũng ăn hành, ăn tỏi thì làm sao mà tu được; đắm nhiễm vào dục cho nên tiếp nối sanh tử.

Do đó Kinh Lăng Nghiêm Phật dạy:

Nay ông tu chứng Tam-ma-địa2 của Phật, thì đối với

 

  1. Tam-ma-địa: còn gọi là Tam Muội, dịch là Chánh Định: nghĩa là xa lìa hôn trầm, trạo cử, là tác dụng của tinh thần, tâm chuyên trú vào một cảnh, không tán loạn.

tưởng càn loạn làm nguyên nhân cội gốc của các thứ điên đảo, nên lập ra ba tiệm thứ mới trừ diệt được. Như trong cái bình sạch trừ bỏ mật độc, dùng nước nóng và các thứ tro, chất thơm rửa sạch cái bình kia, rồi sau mới đựng nước cam lồ.

Ngay nơi thân năm uẩn chúng ta phải gạn lọc những thứ này trước. Muốn chứng vào con đường Tam-ma-địa thì ngay thân tâm năm uẩn phải trong sạch; không thể chứa những tính ái về tham, về sân si, về tật đố mà chứng được Tam-ma-địa; điều này rất là cần thiết cho sự tu.

Thế nào 3 món tiệm thứ?

  1. Tu tập trừ bỏ trợ nhân.
  2. Tu chân để gột sạch chánh tánh.
  3. Tăng tấn trái lại với hiện nghiệp. Thế nào là trợ nhân?

A Nan, 12 loại chúng sanh trong thế giới như thế không thể tự an toàn mà phải nương 4 cách ăn mới sống, nghĩa là nương vào đoàn thực, xúc thực, tư thực và thức thực. Thế nên Phật nói, tất cả chúng sanh đều nương nơi cái ăn mà sống còn.

Chúng ta nương nơi ăn uống, ý Phật là ăn như thế nào để trong sạch thanh tịnh, không giúp tính ái phát sinh, để chặt dứt căn khí ban đầu.

A Nan, tất cả chúng sanh ăn thức ăn lành thì sống,

 

 

 

ăn thức ăn độc thì chết. Vậy chúng sanh cầu Tam-ma-địa, nên dứt bỏ năm thứ rau cay nồng trong thế gian.

Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy rất kỹ: Muốn chứng Tam-ma-địa trước nhất ông phải dứt bỏ hành, hẹ, tỏi, nén, hưng cừ. Giống như muốn vào nước Pháp, nước Mỹ… phải có hộ chiếu, visa. Muốn vào Tam-ma-địa tu tập đến chỗ thánh cảnh thì ban đầu chúng ta phải dứt bỏ 5 thứ rau cay nồng trong thế gian.

Năm thứ rau cay này, ăn chín thì phát lòng dâm, ăn sống thì thân sinh lòng nóng giận. Những người ăn thứ rau cay đó trên thế gian, dẫu giảng nói 12 bộ kinh, thiên tiên trong 10 phương ghét mùi hôi đó đều tránh xa cả. Các loài quỷ… nhân trong lúc người kia ăn rau cay đó, liền đến liếm môi mép của người đó.

Chúng ta ăn những thứ đó, dầu cho mình giảng 12 bộ kinh thì tiên thiên cũng xa lánh nói chi đến thánh cảnh, họ sợ cái mùi đó lắm. Đặc biệt loài quỷ rất thích mùi đó. Mình đang ăn, nó đến liếm mép mình.

Có ông bên Mỹ về, ông nói buổi chiều khoảng sáu, bảy giờ chạng vạng, ông ra phố có những quán nhậu lớn, ông quay phim, thấy có những cái hình lạ bay phất phơ giống như họ đến liếm mép mấy người trong quán nhậu. Ông đưa tôi coi để xác nhận điều đó. Không biết ông có thủ thuật gì không, nhưng mà ở đây mình tin lời Phật dạy: Khi mình ăn những thứ đó, loài quỷ thích, nó đến liếm môi mép mình.

Người này cùng ở chung với quỷ một chỗ, phước đức ngày càng tiêu mòn, hằng lâu không được lợi ích.

Một hôm, tướng quốc Đỗ Hồng Tiệm hỏi Mã Tổ: “Ăn chay là tốt hay ăn mặn là tốt?” Thiền sư Mã Tổ đáp: “Có lộc cần nhớ phước, quên phước, lộc không còn.” Nghĩa là sanh trong cuộc đời này, muốn ăn cái gì cũng được tức là có lộc đầy đủ; mà ăn quá thì phước mòn mỏng, từ từ nó hết. Có những vị đại gia rất là nổi tiếng, tiền của chất đống mà ăn uống vô độ thì tự nhiên phá sản, chính là cái phước mỏng dần, nó tiêu mòn dần, tức là hằng lâu không được lợi ích.

Người ăn rau cay này tu Tam-ma-địa (tức tu thiền định), Bồ-tát, thiên tiên, thiện thần không đến gìn giữ ủng hộ. Đại lực quỷ vương được phương tiện ấy, hiện thân Phật nói, pháp cho người kia nghe, khiến chê bai, phá giới cấm, khen ngợi dâm dục, nóng giận và si mê. Khi mạng chung tự làm quyến thuộc với ma vương.

Ăn những thứ rau cay này thì Bồ-tát, tiên thiên, thiện thần không đến giữ gìn ủng hộ. Trong cõi Diêm-phù-đề này, chúng ta tu mà không nhờ các vị Bồ-tát, thiện thần hộ trì, bảo đảm mình tu không được. Xứ sở nào cũng có tiên thiên với quỷ thần ở. Chúng ta chọn nơi xây dựng già lam, nếu không có chư đại Bồ-tát ủng hộ từ miếng ăn, giọt nước, rồi xin giấy tờ lập chùa, lập thiền viện… thì không có cách gì mình làm được. Càng làm Phật sự mới càng tin.

Nếu đại chúng tu trang nghiêm thanh tịnh, giới luật đầy đủ thì sẽ có các vị Bồ-tát, thiện thần hộ giới đến. Và mình ăn phải cho trong sạch, thanh tịnh, nếu không thì những vị Bồ-tát, hộ thần, những vị gìn giữ giới cấm họ đi hết, không ở nữa.

Vị tăng Hàm Quy đi ngang quán thịt chó, ông khởi niệm thèm thì oán nghiệp nhiều đời tìm đến, vì thần hộ giới bỏ đi. Chuyện này chúng ta phải tin.

Khi hưởng hết phước rồi đọa địa ngục vô gián. A Nan, người tu đạo Bồ-đề thường phải đoạn hẳn 5 thứ rau cay, ấy gọi là tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ nhất.

Phật nói là đoạn hẳn luôn. Vừa rồi trong đại chúng, có 1 số người bị nhiễm covid, Phật tử hay tin, họ ngâm rượu tỏi đem cho uống. Tôi nói thà chết chớ không uống. Phải mạnh dạn! Bởi vì mình chết là chết có một đời, mà uống cái đó là đoạn thiện căn Bồ-đề; ăn mấy cái thứ này vào là đoạn thiện căn Phật tánh. Tu phải có niềm tin kiên cố, kiên quyết; Phật tử gởi lên, tôi dứt khoát trả lại không nhận. Rồi đại chúng cũng hết bệnh. Mình phải luyện thân trong Phật pháp, hiến dâng cuộc đời cho Phật pháp. Phải có niềm tin với Tam Bảo thì đời tu mới thăng tiến.

Thế nào là chánh tín? A Nan! Chúng sanh tu Tam-ma-địa như vậy, trước hết cần yếu phải nghiêm trì giới luật cho thanh tịnh, đoạn hẳn lòng dâm, không dùng rượu thịt. Chỉ ăn đồ trong sạch nấu chín, không ăn đồ sống.

Xuất gia là giữ hẳn giới không dâm dục, kế nữa là không được dùng rượu thịt, chỉ ăn đồ trong sạch nấu chín, không ăn đồ sống.

A Nan, người tu hành đó, nếu không đoạn dâm dục và sát sanh mà muốn ra khỏi ba cõi, thật không có lẽ đó. Phải quán sự dâm dục như là rắn độc, như thấy giặc thù.

Cấm giới đã thành tựu, thì đối với thế gian hẳn không những nghiệp sanh sát lẫn nhau. Không làm việc trộm cắp thì không mang nợ lẫn nhau.

Giữ gìn việc không sát sanh, không rượu thịt thì không có sát hại lẫn nhau. Không có trộm cắp mà còn bố thí cúng dường thì chắc chắn rằng không vay nợ. Không vay nợ thì không trở lại cuộc đời này vay nợ lẫn nhau nữa.

Đối với thế gian khỏi phải đền trả lại nợ trước. Người thanh tịnh ấy tu Tam-ma-địa, liền chứng nơi thân thịt của cha mẹ sanh ra. Không cần thiên nhãn tự nhiên xem thấy 10 phương thế giới; gặp Phật, nghe pháp, chính mình vâng lãnh thánh chỉ của Phật, được pháp đại thần thông, dạo đi trong 10 phương cõi nước, túc mạng thanh tịnh, không còn những điều khó khăn hiểm trở. Ấy gọi là ‘tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ hai.’

Tức là ngay cái thân thịt, không cần chứng thiên nhãn mà tự nhiên xem thấy 10 phương thế giới Phật. Tin không? Tại sao? Chúng ta phải hiểu ý của Phật:

Khi giữ được giới cấm, khi tu mà ăn thức ăn thanh tịnh, tâm nhuần nhuyễn, thanh tịnh tự nhiên mình ở trong cảnh giới thực tại hiện tiền. Ngay trong giờ phút đó, một niệm là một cõi nước Phật.

Thiền sư Bàn Am nói:

Một niệm tâm thanh tịnh, Phật ở điện ma vương.

Một niệm tâm ác sanh,

Ma vương trong điện Phật.

Khi tâm thanh tịnh nhu nhuyến thì không còn niệm điên đảo. Không còn niệm điên đảo, ngay thực tại hiện tiền đó là 10 phương cõi nước Phật.

Thế nào gọi là hiện nghiệp? A Nan, người trì giới thanh tịnh như vậy, tâm không tham dâm thì đối với sáu trần bên ngoài không hay rong ruổi, nhân không rong ruổi nên tự xoay về tính bản nguyên. Trần đã không duyên theo thì căn không ngẫu hợp nơi đâu nữa.

Giữ được thanh tịnh rồi thì không duyên theo sáu trần. Không duyên theo sáu trần nữa thì căn hợp nhất ở đâu?

Trở ngược dòng về chỗ toàn nhất, sáu cái dụng không khởi hiện hành, cõi nước 10 phương sáng suốt trong sạch, thí như ngọc lưu ly có treo mặt trăng sáng.

Thân tâm khoan khoái, tính diệu viên bình đẳng, được đại an ổn, tất cả mật viên thanh tịnh nhiệm mầu của

Như Lai đều hiện trong đó. Người ấy tức chứng được pháp sanh nhẫn, từ đó lần lượt tu tập, tùy theo các hạnh phát ra mà an lập thánh vị. Đó gọi là tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ ba.

Chúng ta lìa thế gian bước vào trong đạo phải có niềm vui khinh an khi tọa thiền, xem kinh, tụng kinh sám hối. Niềm vui khinh an trong pháp trợ giúp mình thăng tiến, từ từ tâm an ổn, nhu nhuyến không còn lợn cợn nữa. Mình đã có trạng thái rung động về tâm thức này rồi mới phát tâm xuất gia, khi xuất gia gặp ngoại duyên hoàn cảnh, cho nên, tại sao ở Trúc Lâm, Sư Ông nói xuất gia là phải phát nguyện 5 năm mới được về nhà.

Một đứa nhỏ mới ra đời bệnh đủ thứ, bởi vì sáu căn đầy đủ nhưng tính lực bên trong chưa có mạnh cho nên bệnh hoài, phải có nhũ mẫu bảo bọc.

Quý thầy mới xuất gia cũng giống như một đứa bé mới sanh ra, là phải nhờ nhũ mẫu, trong đó có Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo hỗ trợ tu tập. Khi mới vào tu, mình hay bị bệnh. Ở ngoài cũng bệnh mà lo làm ăn không để ý; còn ở đây tu có chuyển biến gì là biết, nên mình thấy có bệnh. Vào đây, mình bệnh, về nhà kể với gia đình; nếu cha mẹ không biết đạo kêu về là mình thối tâm. Cho nên phải ở trong đạo 5 năm, 10 năm cho vững.

Vào thời Đức Phật, muốn được về nhà phải chứng quả A-la-hán. Chứng quả thứ ba là quả A-na-hàm Phật cũng chưa cho về. Người có tâm nhiệt huyết với đạo, có việc cần về nhà là trở lại liền; còn mình nhiều khi về nhà rồi cứ nán ở lại nhà thêm, có nghĩa là tâm mình không được an ổn, phải tu như thế nào cho tâm được nhu nhuyến. Tu đi, đại chúng sẽ thấy kết quả lạ lắm. Còn không, mình xu hướng theo thế tục.

Phật dạy tiếp:

Dục do ái mà sanh, mạng do dục mới có. Chúng sanh ái thân mạng, lại nương vào cội gốc tham dục. Vậy ái dục là nhân, ái mạng là quả.

Ngài Hám Sơn, Ngài bình:

Thứ nhất là do có các dục trợ phát tánh ái, nói các dục cũng từ dục ái mà sanh. Thứ hai, vì ái là cội gốc, dục là nhơn trợ phát, song dục là tham, mà ái là căn dâm. Thứ ba là chúng sanh ái luyến tâm dâm sắc đẹp của trai gái. Thứ bốn, nhân ái sắc đó nên tham đắm các thứ ăn uống, chú trọng mùi vị lấy làm cung dưỡng thân mình.

Muốn thân mình khỏe mạnh, tốt đẹp để người khác nhìn ngắm, nên bắt đầu chú trọng chuyện ăn uống, mùi vị, lấy làm cung dưỡng thân mình.

Bắt đầu nghiệp sát từ đó phát sanh. Từ nghiệp sát dẫn chúng sanh này đi đến con đường chủng chủng luân hồi: hoặc là ái cái thân, hoặc là son phấn ướp hoa gấm vóc

lấy làm trang sức tự thân; hoặc là chiếu giường chăn nệm ấm êm mềm mại, lấy đó làm ưa thích.

Tức là để cho cái thân thụ hưởng, chính cái thụ hưởng khiến phải tạo nghiệp. Chẳng hạn như không có tiền mà muốn sự cung dưỡng êm ấm, bắt đầu nghĩ ra một số việc ác, làm nghề gì kiếm tiền cho nhanh, nên mới có buôn xì ke, ma túy, rồi trộm cướp, giết người, cướp của từ đó mà sanh ra, cũng là do cái thân này. Người xuất gia nằm trên cái đơn cứng, không có cảm thọ.

Hoặc là lời hay, tiếng đẹp lấy làm khoái lạc, tất cả các thứ dục đều từ tâm dâm mà phát khởi, nên nói: dục nhân ái mà sanh, mạng nhân dục mà có.

Khi người ta khen hoặc chê mà tâm mình lâng lâng, đó cũng từ dục nó phát sinh lên.

Ngài Hám Sơn, Ngài bình:

Chúng sanh một đời nhiễm dục sắc đẹp nam nữ. Và sau khi chết, xả bỏ thân mạng, chưa thọ cái báo thân sau, còn ở trong thân trung ấm. Thân này đặc biệt là không có chỗ thấy, chỉ cầu cảnh dục, nên ngàn muôn dặm xa, thấy chỗ nam nữ đang ân ái với nhau; nếu từng có túc duyên ái nhiễm với nhau, liền từ xa mau vội đến trước.

Hằng ngày, sống bị nhiễm cái dục; chết chưa thọ báo thân sau, còn ở thân trung ấm, thì từ xa nhìn thấy ánh sáng, tự nhiên dục nhiễm bùng phát lên,

ngàn muôn dặm khởi niệm, vừa khởi niệm là phóng đến liền nếu có túc duyên ái nhiễm, tức là túc duyên cha mẹ nhiều đời, hoặc là anh em dòng tộc.

Liền vội lấy cái tướng của nam nữ làm mình; tâm khát ái cùng cực, liền nương theo nước ái trôi giạt vào thai mẹ, bám giữ tinh huyết này, nạp tưởng chẳng bỏ bèn kết thành thai.

Vừa khởi niệm, liền vội lấy cái tướng của nam nữ làm mình. Lúc này, không có nghĩ là cha mẹ, mà niệm khát ái, hoặc là thương người nam, hoặc là thương người nữ, vừa khởi niệm tức khắc trôi giạt, bám giữ kết thành thai. Luân hồi sanh tử chỉ Phật trí mới thấy thôi.

Đây là nguyên do thọ mạng, nên nói: Mạng nhơn dục mà có, trợ giúp sanh mạng chính là ái dục làm nhân; thọ cái báo thân sau chính là ái cái mạng làm quả, do đó sanh tử tiếp nối tương tục.

Mạng nhơn dục mà có, trợ giúp sanh mạng chính là tâm khát ái.

Do cảnh dục mà khởi các cảnh nghịch, thuận. Cảnh thuận với tâm ái thì thương, cảnh nghịch với tâm ái thì ghét. Từ đó tạo đủ thứ ác nghiệp, nên sanh vào các đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Trôi giạt vào trong bào thai rồi, đâu có biết thọ sanh vào nhà giàu hay nhà nghèo, mà do phước nghiệp từ đời quá khứ. Rồi sanh ra, gọi là hậu thiên,

trúng hoàn cảnh gia đình nghèo, gặp cảnh nghịch nổi sân. Hằng ngày cứ khởi sân, cho nên sau này, gặp cảnh nghịch sanh ra ác nghiệp, trộm cướp, giết người từ đây sanh ra.

Bên Mỹ có một cái hội, nếu phạm nhân giết người thì họ đến coi về nhân tướng học, rồi họ điều tra hoàn cảnh gia đình để giúp xin giảm án. Họ biết người này sanh ra là phải đi con đường này, bởi vì gặp toàn hoàn cảnh nghịch. Hoàn cảnh nghịch không vừa ý là tạo nghiệp rớt xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Người ta nói, phú quý sanh lễ nghĩa, bần cùng sanh đạo tặc; bởi vì họ luôn luôn ở cảnh nghịch nên tâm không vừa ý, rồi gặp cái gì họ cũng thù hận.

Kinh Bát Đại Nhân Giác Phật dạy: “Bần khổ đa oán, hoành kết ác duyên.” Mấy người nghèo khổ họ hay oán trời, oán đất, oán xã hội, hay trách người này người nọ, trách đủ hết mà không biết rằng phước nghiệp từ quá khứ của bản thân họ đến. Người biết đạo, gặp cảnh nghịch phải từ đó đi lên chớ không để chìm trong cảnh nghịch.

Trang Tử nói: Cảnh nghịch giúp cho bậc thượng nhân đi lên. Người tiểu nhân gặp cảnh nghịch chìm sâu trong thù hận. Gặp cảnh vừa ý thì sanh vui.

Kinh Bát Đại Nhân Giác nói:

Bần khổ đa oán, Hoành kết ác duyên. Bồ-tát bất nhĩ, Thường niệm tri túc. An bần thủ đạo, Duy tuệ thị nghiệp.

Do ái cảnh ấy, nên gặp cảnh không thuận thì tâm sanh bực bội, hiềm ghét. Hễ hiềm ghét thì nổi giận. Hễ giận thì đánh đập, giết hại, bức ép, lăng nhục. Tất cả việc ác từ đây mà sanh ra.

Những người sanh ra trong nghèo khổ thiếu thốn, nếu họ có tu thì không sao, còn không tu mà họ nắm được cái gì rồi thì bắt đầu họ trút ra hết những niềm sân hận, bực tức. Chúng ta có tu, hiểu được hoàn cảnh của họ, ngày xưa như thế nên thương họ, đó là đại Bồ-tát hiện thân trong cuộc đời này.

Nếu cảnh hợp tâm ái thì sanh các thứ ác nghiệp như đắm trước, dâm dục, ăn nuốt, xâm đoạt, nói dối, thêu dệt.

Chẳng hạn như vua Trụ thiết kế hồ nước toàn là rượu, trên cây treo đủ loại thịt, tức là hợp với tánh ác, thích giết người của ông. Ông từng mổ bụng nữ nhân, từng chặt chân người ta coi tủy sống.

Nên trong Kinh Hoa Nghiêm Phật dạy:

Mười nghiệp tạo bất thiện: thân có ba: sát, đạo, dâm; khẩu có bốn: nói ác độc, nói hai lưỡi, nói thêu

dệt, nói vọng ngữ; ý có ba: tham, sân, si.

Nếu sanh trong gia đình thiếu thốn, túng bần mà không biết đạo thì hay tạo những nghiệp bất thiện này. Lên làm người, tiếp tục rớt xuống nữa, bởi vì khi ở trong cái nhân đen tối, dù được lên làm người nhưng tuệ Bát-nhã chưa phát nên tiếp tục làm nghiệp xấu. Thành ra chúng ta thấy ở trong đại chúng, có những người tu nhẹ nhàng, có những người tu trăn trở đủ hết, vì họ ở trong những cảnh giới tánh nghiệp họ lên. Chẳng hạn như ở đây có nuôi một con chó. Hằng ngày nó cũng nghe kinh kệ nhưng nghe mỏng. Đủ nhân duyên nó lên làm người vào thiền viện Chánh Thiện tu chẳng hạn thì nó phải chậm. Cho nên, mình đọc kinh, xem giáo lý tự biết mình từ cõi nào đến. Mình nghiệm lại, nếu hiện thân cuộc đời làm lợi ích cho chúng sanh thì tự mình biết.

Phật dạy tiếp:

Biết dục đáng nhàm chán, ưa thích nghiệp đạo xa lìa, bỏ ác tu thiện thì hiện lên quả báo trời người.

Bởi biết dục điều đáng nhàm chán, biết tâm ái dục nhân của đường ác nên đối với cảnh dục khởi cái tâm nhàm chán.

Mình biết rằng tạo cái nghiệp này chắc chắn rớt xuống con đường khổ, nên ưa phương pháp tu thiện. Bây giờ, không còn nói lời ác, không còn chửi rủa,

đánh đập, hiềm hận người ta nữa; bởi vì sợ nếu tạo cái nghiệp này thì chắc chắn rớt xuống con đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Khi vua A Dục thấy được điều đó là ông quay ngược lại.

Thích nghiệp đạo xa lìa, tức là vì sợ ác đạo kia mà không tạo nhân ác, nên đối với pháp môn lìa ác lại khởi tâm ưa thích.

Ngày xưa, trộm cướp, thì bây giờ ngược lại, thích bố thí cúng dường. Ngày xưa, thích nói dối, bây giờ ngược lại, thích nói lời chân thật. Ngày xưa, thích uống rượu, giết hại chúng sanh, bây giờ ngược lại hết, ưa thích việc thiện, cho nên hiện ra quả báo trời, người.

Do đó, Phật dạy:

Không kẻ thù nào thể tấn công chúng ta ngoại trừ ác nghiệp của chúng ta.

Không có kẻ thù nào tấn công mình được, chỉ có ác nghiệp tấn công mình thôi. Như tôn giả Mục Kiền Liên, ai tấn công được Ngài? Khi nghiệp chín muồi rồi, chính cái nghiệp đó tấn công. Chẳng hạn như mình ngồi đây mà không có nghiệp với người đó, họ bắn đạn cũng lạc qua một bên; còn nếu mình có nghiệp với người đó, họ bắn ở đâu cũng rớt vào mình.

Một người tạo nghiệp ác, khi tái sanh nơi đâu thì nghiệp ác đó chực sẵn, như kẻ thù chờ hại mình.

Một người tạo nghiệp lành, dẫu tái sanh ở đâu, nghiệp

thiện chờ sẵn mình như người thân đón kẻ ở xa mới về.

Do đó Phật dạy:

Tự mình làm thanh tịnh, Tự mình làm nhiễm ô, Tịnh không tịnh tự mình, Không ai thanh tịnh ai.

Do bỏ ác ưa thiện, biết cái dục đáng chán, nên xả 10 điều ác, bắt đầu tu 10 điều thiện. Bấy giờ hiện ra quả báo trời, người, đây là quả báo thù thắng an vui. Tuy nhiên cõi người thì có 8 cái khổ, cõi Trời thì có 5 tướng suy.

Cõi người có 8 cái khổ: sanh, già, bệnh, chết, oán tắng hội khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ.

Cõi Trời thì có 5 tướng suy.

Kinh Pháp Cú Thí Dụ, phẩm Vô Thường kề:

Trời Đế Thích một hôm thấy 5 tướng hiện lên: 1. Ánh sáng hào quang mất; 2. Hoa trên đầu héo; 3. Không thích ngồi yên ở tòa báu; 4. Dưới 2 nách chảy mồ hôi bốc mùi; 5. Đất bụi dính nơi thân.

Ông xem thử, khi từ giã thế giới chư thiên này, ông đi về đâu, ông giựt mình thấy sẽ rớt trong loài súc sanh, vào bụng lừa. Ông khóc.

Bấy giờ, một vị thiên tử nói với ông, tại tinh Kỳ Viên Đức Phật đang tọa thiền, khuyên ông hướng về Phật

 

 

 

quy y. Lúc đó, ông hướng về Phật đọc: quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Đọc xong, ông tắt hơi thở, tức khắc rớt trong bụng con lừa nhanh như vị lực sĩ duỗi cánh tay.

Nhờ ông quy y Tam Bảo, con lừa cái bứt dây phá đồ gốm, ông chủ tức giận đánh vào bụng con lừa, làm sảy thai. Thần thức nhập trở lại Trời Đế Thích. Ông dùng thần thông phi hành xuống đảnh lễ Thế Tôn và tán thán rằng do nhờ ông quy y Tam Bảo. Đức Phật nói bài kệ:

Tất cả hành thường Đều là pháp hưng suy Có sanh ắt phải tử Tịch diệt an vui nhất. Ví như người thợ gốm Trộn đất nắn làm đồ Chúng thảy rồi vỡ nát

Mạng sống cũng như vậy.

Dứt thời pháp ông chứng quả dự lưu tức bước vào dòng thánh.

Tuy rằng chán ác, ưa thiện, nhưng sanh cõi trời, cõi người vẫn còn mầm mống của khổ. Cho nên, Đức Phật mới thuyết ra 5 chủng tánh, từ phàm phu chủng tánh đến Thanh văn, Duyên giác, ngoại đạo, Bồ-tát bất định chủng tánh, để mà thể nhập viên giác, thoát cái khổ này.

Chúng ta có tu phải nói là một niềm hạnh phúc,

dầu cho đời này chưa thoát ly sanh tử, phát nguyện tu như thế nào đó để chấm dứt con đường sanh tử nhọc nhằn này. Khi mê không biết, chớ tỉnh thấy đường sanh tử nó nhọc nhằn; sanh ra trong cuộc đời này có bao nhiêu năm, thấy toàn sự khổ đau, mất mát dồn dập chớ không có niềm vui. Chỉ có nhờ túc duyên vào trong đạo tu tập, tránh bớt ác nghiệp. Tu tập và lập nguyện lực lớn độ sanh, biến hóa trong cuộc đời này làm các việc Phật sự.

Phật dạy:

Lại vì biết các ái nhiễm là ác, đáng chán, nên bỏ ái ưa xả, trở lại nuôi dưỡng thêm gốc ái, mới hiện ra cõi thiện hữu vi cao hơn. Vì đều là luân hồi nên không thành thánh đạo. Thế nên chúng sanh muốn thoát sanh tử, khỏi các luân hồi, thì trước phải đoạn tham dục và trừ tâm khát ái.

Đức Phật dạy, khi người tu hiểu được pháp rồi thì nhàm chán và sợ cái ác, cái ác này tiêu biểu cho 3 chi phần: thân, khẩu và ý. Bây giờ không dám làm ác nữa nên bỏ cái ái, ưa cái xả; mà không ngờ trở lại nuôi dưỡng thêm gốc ái, làm hiện ra các cõi thiện hữu vi cao hơn. Vì đều nằm trong luân hồi nên không thành thánh đạo.

Khi ưa cái thiện thì hay bố thí, cúng dường, với mong mỏi đời sau được làm người giàu sang, sung sướng hơn, hoặc là mong mỏi sanh lên cõi Trời.

Trong kinh Đức Phật nói: Cõi Trời Đao Lợi hay Đâu Suất Đà Thiên, một ngày một đêm trên đó bằng 500 năm dưới cõi này, tuổi thọ kéo dài nhưng nằm trong 5 tướng suy hao. Ở trên cõi đó, sung túc thật, nhưng khi hết phước cõi Trời thì tướng suy hiện ra: Hoa trên đầu héo, không thích chỗ ngồi, hào quang tắt, trong nách rịn mồ hôi, bụi dính nơi thân.

Phật nói chúng sanh ở thế giới này có 8 tướng khổ: sinh, già bệnh, chết, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ. Thế gian có 8 tướng khổ, cõi Trời có 5 tướng suy, đều nằm trong luân hồi. Chúng ta tưởng rằng tu pháp xả là buông xả nhưng không phải. Khi ưa tu pháp xả, tức là ghét cái ác nhưng mà ưa cái xả, cho nên vẫn nằm trong luân hồi.

Nhưng pháp xả, tức là chi xả trong Tứ thiền Bát định, lại chẳng biết tâm thích xả cũng đồng với tâm ái kia, cho nên nói nuôi lớn gốc ái.

Ái cái ác ngày xưa thô quá, bây giờ tu ái cái thiện, cho nên cái thiện tăng dần lên. Ở cõi thế gian tu định, chẳng hạn như tu tứ thiền thì rớt trong cõi sắc, tu tứ không thì rớt trong cõi vô sắc.

Cho nên hiện ra thiện quả tăng thượng hữu vi. Đây 2 quả y báo chánh báo tốt đẹp của 2 cõi sắc sắc. Do tại cõi dục tu được định này, nên mỗi chúng sanh từ cõi của mình sinh lên tầng Trời đó, đều là luân hồi, không

thành tựu thánh đạo. vẫn lấy ái gốc nên vẫn luân hồi. Vì không liễu ngộ tự tâm nên chẳng thành thánh đạo.

Bỏ cõi này sanh cõi khác, giống như bỏ vùng quê nghèo lên thành phố mình ở, cũng lẩn quẩn vậy thôi, mà không có phát tâm Vô thượng Bồ-đề tu thành thánh đạo. Đoạn trước Phật chỉ về vô minh, đoạn này chỉ về tham ái.

Đây là phát nghiệp vô minh và nhuận sanh vô minh, nhưng hoàn toàn trừ 10 nghiệp ác, còn 10 thiện và 8 định.

Chỉ cần trừ tâm bệnh, tức là không chấp vào cõi đó, mà phát tâm vô thượng. Chẳng hạn từ đây lên Sài Gòn phải qua ngã ba 46 rồi đến Long Khánh, không dừng trụ ở đâu mà đi thẳng tới Sài Gòn. Ví dụ sáng nay, trời sương, mưa lạnh, mình đi từ đoạn đường này tới đoạn đường kia dù biết lạnh nhưng tại sao vẫn đi? Bởi vì đi mua một số vật dụng cho chư tăng dùng. Bồ-tát cũng như thế, tuy biết rằng Phật quả xa diệu vợi, nhưng chúng sanh cần nên phát tâm Vô thượng Bồ-đề tức là thành tựu thánh đạo. Nếu tu cái định này thì chỉ riêng cho mình thôi, còn phát tâm vô thượng Bồ-đề thì cho chúng sanh, cho số đông.

Cho nên, làm bất cứ việc gì, mình cũng phát tâm Vô thượng. Mình phát tâm Vô thượng Bồ-đề khác hơn ngày xưa làm việc ở nhà. Ngày xưa, ở nhà nấu nồi cơm mà chỉ cho người thân ăn thôi, còn ở đây

cũng nấu nồi cơm với phát tâm vô thượng: Trong giờ phút này, con phát tâm nấu nồi cơm cho đại chúng, chỉ cần cầu quả Phật, tức là phát tâm Vô thượng Bồ-đề. Khi phát tâm Vô thượng Bồ-đề, mình làm việc không có nản. Tại sao? Nếu vì cầu phước lực, khi nấu nồi cơm mà người ta khen ngon, chê dở thì tâm mình thối chuyển. Việc bố thí cúng dường cũng như thế.

Trong kinh Tăng Chi Bộ Phật dạy:

Người tu tập cùng một quả vị, nhưng nếu biết Phật pháp thì kết quả có khác.

Khi hành giả tu chứng thiền, lúc tịch sanh cõi trời Phạm Chúng Thiên. Trường hợp tu theo ngoại đạo, hưởng hết phước, người ấy rớt xuống, hoặc làm người, hoặc làm thú.

Khi sanh lên cõi trời, bắt buộc phải xài phước nên sẽ hết phước, giống như ở vùng quê, dù có tiền cũng không có điều kiện, môi trường để xài tiền như khi ở thành phố. Ở cõi này dễ kiệm phước, mà cũng dễ tạo phước, còn khi lên cõi trời xài phung phí. Tại sao?

Vào thời Đức Phật, ông Kỳ Bá làm nghề thuốc chuyên trị bệnh cho chúng tăng. Do tạo phước duyên thù thắng nên ông chết sanh lên cõi trời Đao Lợi. Khi còn cõi này ông rất thân với tôn giả Mục Kiền Liên, nên khi Tăng đoàn bị bệnh tiêu chảy và kiết lỵ, Phật sai tôn giả lên cõi trời Đao Lợi, hỏi ông Kỳ làm cách nào để chặn đứng bệnh này.

Khi tôn giả Mục Kiền Liên gặp ông ở cõi Trời Đao Lợi, ông đang ngồi trên cỗ xe ngựa 6 con, chuẩn bị đến khu vườn gọi là vườn ái lạc. Trong Kinh diễn tả, khi vào vườn đó, 6 giác quan đều rung động, nên chư thiên sáng nào cũng đến đó dạo chơi.

Thấy tôn giả Mục Kiền Liên, ông chỉ giơ tay lên và cho người đánh xe ngựa chạy thật gấp. Tôn giả Mục Kiền Liên dùng thần thông cản xe ngựa lại, Ngài hỏi:

  • Ở cõi Ta bà, tôi với ông rất thân với nhau, tại sao bây giờ gặp tôi, ông không chào hỏi chỉ giơ tay lên?

Ông Kỳ nói:

  • Thân lắm tôi mới giơ tay lên chớ người lạ không. Hỏi tại sao, ông nói:
  • Chậm một phút thì mất đi khoái lạc.

Rồi ông nói bệnh của chúng tăng chỉ nhịn đói một, hai ngày hết. Tôn giả Mục Kiền Liên về thuật lại, Phật nói cõi Trời này ở một thời gian là hết phước, rồi rớt xuống cõi người hoặc sanh vào cõi thú.

Nếu hành giả thông hiểu Phật pháp, tiếp tục tu thêm sẽ chứng Niết-bàn.

Chúng ta thông hiểu Phật pháp, có điều kiện tu lên nữa. Nếu rớt xuống cõi người, những người có túc duyên sâu, khi đi ngang ngôi chùa hoặc gặp thiện tri thức nhắc nhở, họ nhớ lại nên tu rất nhanh.

  • Người tu tập sau khi chứng nhị thiền, lúc tịch sanh lên cõi trời Thiểu Quang Thiên. Trường hợp tu ngoại đạo, hưởng hết phước, người ấy sẽ rớt xuống làm người hoặc làm thú. Nếu thông hiểu Phật pháp họ tu lên nữa sẽ chứng Niết-bàn.
  • Người tu tập sau khi chứng tam thiền, lúc tịch sanh lên cõi trời Biến Tịnh Thiên.
  • Người tu tập về pháp tứ thiền, lúc tịch sanh lên cõi trời Quảng Quả Thiên, nhưng nếu không biết đạo, xài hết phước lại rớt xuống.

Cho nên, Phật nói phải phát tâm Vô thượng Bồ-đề, phát nguyện lực tu thành Phật phổ độ chúng sanh thì chúng ta không quên cái nguyện đó, đời nào ra cũng gặp thiện hữu tri thức nhắc nhở tu tiếp.

Phật dạy tiếp:

Cho nên, chúng sanh muốn thoát sanh tử, tránh các luân hồi, trước tiên phải đoạn dứt tham dục, và trừ bỏ tâm khát ái.

Trước tiên, phải đoạn tham dục và trừ bỏ tâm khát ái, còn chút xíu thôi cũng rớt trong sanh tử. Có những người bệnh nằm ngáp như cá mắc cạn mà không đi được. Tại sao? Bởi vì họ quyến luyến nhà cửa, vợ con, danh vị, tiền tài. Như con diều phấp phới, sở dĩ nó bay đi không được vì vướng sợi chỉ, chỉ cần cắt sợi chỉ là nó bay. Cho nên, việc đầu tiên mình

đến phải nhắc nhở, khai thị cho họ. Sư Ông Trúc Lâm thường dặn tụng bài Tâm Kinh: chiếu kiến năm uẩn đều không …, rồi nhắc nhở họ: Có duyên nên đến cuộc đời này, bây giờ duyên sắp rã, không nên quyến luyến về sắc thân, về tài sản, danh vị.

Bài kệ đi khai thị, khóa tụng thiền môn của Sư Ông:

sanh, tử, luân hồi,

Không sanh, không tử, không đến đi. Sanh tử, đến đi, đều là mộng,

Chơn tâm hằng tỏ, chẳng nghĩ bàn.

Người sắp mất mà không chịu đi mình phải khai thị kỹ, nhắc nhở thật nhiều. Mở bài Tâm Kinh cho họ nghe, họ thức tỉnh buông xả được thì thoát, không buông được thì nằm hoài, có khi nằm 20 năm chưa đi.

Trong bài Huyết Mạch Tổ khai thị, vị đến hỏi:

  • Con là cư sĩ có vợ có con, dâm dục chẳng trừ, y cứ vào đâu mà thành Phật?

Tổ đáp:

  • Chỉ nói thấy tánh, chẳng nói dâm dục. Chỉ chẳng thấy tánh, nếu thấy tánh thì dâm dục xưa nay là rỗng lặng.

Bởi vì pháp môn này cần yếu là thấy tánh. Chỉ cần nhận được tự tánh hư không thì đám mây không dính dáng gì, nhận được cái thể của mặt nước thì sóng biển cũng không dính dáng; nhận được tánh

rồi tự nhiên cái tâm đoạn dứt. Giống như khi khai thị, họ nhận được chỗ hằng hữu thường biết thì bỏ tâm khát ái, bỏ những dính mắc về danh vị, tiền của, gia tộc; nhận cái này tự nhiên họ bỏ cái kia.

Câu chuyện ông tướng Si-ha:

Ông đến trình Đức Phật: Cuộc đời ông không thể nào xa lìa khát ái của thế gian để đi vào con đường xuất thế gian được. Phật hỏi tại sao, ông kể ông có gia đình rất hòa thuận, vợ ông rất hiền và dễ thương.

Một hôm, Phật quán chiếu, biết ngày hôm nay ông chứng quả A-na-hàm. Ngay trong giờ phút chứng quả đó, ông đoạn được tâm khát ái và ông tu đắc quả A-la-hán.

Phật biết nhân duyên như thế, nên khi ông đến nghe pháp, Phật dùng năng lực biến hóa người ngồi kế bên ông là vợ ông. Khi Phật giảng đến thân bất tịnh thì bỗng nhiên người vợ bốc mùi khiến ông không chịu nổi. Ngay trong giờ phút đó, ông quán chiếu về tự thân quán chiếu về người ông thương yêu nhất, ngay tức khắc ông chứng quả A-na-hàm.

Người chứng quả A-na-hàm đoạn dục ở thế gian, không còn quyến luyến gì, dầu cho làm quan làm tướng gì cũng buông hết, tâm lặng hết không còn khát ái nữa.

Khi ông về, vợ ông ra đón. Ông không còn cảm giác quyến luyến, rồi ông xin phép vợ đi xuất gia.

Ở trong đạo mà mình thấy vui, thích thú, không còn nhớ tới thế gian nữa, tức là đã nếm được mùi vị của đạo, gọi là “chóng phá vô minh chứng thành Phật đạo”. Còn ở trong đạo mà cứ lần lữa, không có niềm vui trong đạo thì chắc chắn nhớ chuyện thế gian; Phật dạy giống như con cá nhớ nước, con rùa nhớ chỗ sình lầy. Còn nhận được chỗ đó rồi thì buông được, cho nên nói: Nếu thấy tánh thì dâm dục xưa nay là rỗng lặng.

Tự nhiên đoạn trừ cũng chẳng ưa đắm.

Có những vị kiến tánh rồi tự nhiên họ nhàm chán thế gian.

Dẫu tập chẳng thể tự làm hại. sao? tánh vốn thanh tịnh. Tuy ở trong sắc thân năm uẩn, nhưng tánh ấy xưa nay thanh tịnh, nhiễm ô chẳng được. Pháp thân xưa nay là không thọ, không đói khát, không nóng lạnh, không bệnh, không ân ái, không quyến thuộc, không khổ vui, không tốt xấu, không dài ngắn, không hay dở, không mạnh yếu, xưa nay không một vật có thể được.

Tổ Tổ tương truyền, từ Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến Lục Tổ Huệ Năng. Mà Ngài Lục Tổ Huệ Năng đâu có biết chữ mà học chỗ này; ngày xưa sách vở hiếm, bảo đảm là Ngài chưa từng đọc tới chỗ này. Nhưng mà khi thấy bài kệ của Ngài Thần Tú, túc duyên xưa phát sinh lên.

Xưa nay không một vật, Chỗ nào dính bụi nhơ.

Tự tánh tròn đầy làm gì có bụi để mà quét, cho nên Tổ dạy:

Chỉ chấp sắc thân này cho nên đói khát, nóng lạnh.

Người mất, khi gia đình làm lễ cúng, họ chỉ hưởng hương vị. Trong kinh Phật dạy, muốn cho người thân sanh về cõi lành thì cúng vật thực cho chư Tăng, chư Tăng dùng tác ý hồi hướng, chớ người thân của mình chỉ hưởng hương vị.

Nhưng tại sao trong kinh Phật dạy, có những loài ngạ quỷ thấy họ đói khát? Vì chấp có thân, bỏ thân này dính vào thân kia, thấy đói khát, thấy khổ bởi vì họ sống trong cái tưởng.

Chúng ta ở thiền viện chỉ ăn buổi sáng, buổi trưa, chiều không thấy đói. Mà hôm nào đi đâu xa mình tưởng: ‘Hôm nay, đi xa quá chắc đói bụng’, tự dưng nó đói. Còn bây giờ quen rồi, giống như phá cái tưởng vậy, giờ mình ăn 2 buổi, buổi chiều không ăn vẫn bình thường. Có những vị họ đến đây, thật ra họ nhịn không có chết, nhưng mà họ tưởng rằng nếu nhịn sẽ sanh bệnh nên ăn. Tức là sống trong cái tưởng, phá cái tưởng tự nhiên thành tựu. Sống trong cái tưởng, duyên theo cái tưởng, cho nên thấy đói khát, nóng lạnh, bệnh tật đủ hết.

Những tướng như thế nếu chẳng chấp, mặc tình làm. Nếu trong sanh tử được tự tại chuyển tất cả pháp, thì cùng với thánh nhân thần thông tự tại.

Ở trong sanh tử, trong cõi Ta bà này, có người tự tại mà mình không được tự tại, tại sao? Bởi vì mình bị trói buộc nhiều: thấy sắc, thinh, hương, vị xúc, pháp gì cũng bị trói buộc hết. Còn mình vẫn ở trong cái tướng sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp mà không bị nó chuyển; chẳng hạn thấy cái chuông trước mặt bằng vàng ròng, khởi tham muốn đem về cho mình là bị nó trói. Đem về rồi cũng hồi hộp sợ mất, sợ bị trộm nên không tự tại. Còn thấy cái chuông rõ ràng, không ở trên tướng sanh tâm, gọi là bất động, thì tâm tự tại thông suốt. Thánh nhân ở trong cõi Ta bà này, các Ngài không dính mắc các pháp nên được tự tại.

Cho nên trong Kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy: “Nếu chuyển được vật tức đồng Như Lai”. Không ở trên tướng sanh tâm là chuyển được vật.

Nếu được như thế, không chỗ nào chẳng an ổn.

Nếu được như thế, chúng ta lên thiền đường, lao tác, nhổ cỏ, làm cái gì cũng an ổn hết, bởi vì tâm không dính mắc ở tướng. Ăn trộm hoặc chửi mắng người ta, về ngủ đâu có yên. Còn khi thấy sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp mà không khởi tâm trộm thì tâm tự tại thông suốt, ở chỗ nào cũng an ổn. Hoặc nói xấu vị nào, khi gặp cũng ngại: Không biết vị đó

có biết mình nói xấu hay không. Với cặp mắt của người tu Phật ai cũng là bậc thánh nhân, ai cũng là Phật tương lai thì tâm mình an yên, còn nói xấu thì tâm hồi hộp, nhìn thấy người ta mình không được tự tại. Cho nên Tổ nói, nếu mình được chỗ này thì đi đâu cũng an ổn tự tại. Pháp tu rất đơn giản, dẹp tâm thị phi, ở chỗ nào cũng an ổn.

Nếu tâm có nghi, quyết định thấu chẳng qua được tất cả cảnh giới, chẳng làm thì tốt nhất.

Ví dụ, đi làm từ thiện, mình biết chắc chắn rằng nhận góp tiền nhiều mình sẽ bỏ túi thì thôi đừng làm là tốt nhất, bởi vì làm 1 mà dính vào tới 10. Mình làm 100 triệu, mình bỏ ra 99 triệu mà lấy lại 1 triệu thì cũng dính, làm thì phải thông suốt tự tại, tâm có nghi thì đừng có làm.

Còn làm rồi thì cũng chẳng khỏi luân hồi trong sanh tử.

Làm rồi mà nói không có tội thì không được. Không thể nói tôi đi làm từ thiện 10 căn nhà, tôi lấy 1 căn đâu có gì, thì Tổ nói thôi đừng làm, làm rồi thì chắc chắn sẽ bị luân hồi sanh tử trả nợ với nhau.

Nếu thấy tánh thì Chiên Đà La cũng đều thành Phật.

Thời Đức Phật có 4 giai cấp: Bà La Môn, Sát Đế Lợi, Vệ Xá, Thủ Đà La. Có 1 giai cấp không thuộc 4 giai cấp này, mà vào thời đó xứ Ấn Độ rất khinh, đó là giai cấp Chiên Đà La. Những người này thường

làm nghề đồ tể, giết heo, giết bò. Ở đây, Tổ khẳng định: Nếu thấy tánh thì người Chiên Đà La cũng thành Phật. Bởi vì tướng là đồ tể nhưng tánh là tánh giác, mà tánh giác là Phật. Giống như thùng rác thấy dơ nhớp nhưng trong đó có viên ngọc. Chiên Đà La ví như cái thùng rác mà trong đó có viên ngọc.

Có câu chuyện:

Thiền Văn Thù Nghiệp lúc trước làm nghề mổ heo. Một hôm đang mài dao, nghe tiếng chuông chư tăng thỉnh, bất giác ông ngộ đạo. Ông buông con dao xuống làm bài kệ:

Hôm qua tâm dạ xoa, Ngày nay mặt Bồ-tát. Bồ-tát cùng dạ xoa,

Chẳng cách một đường tơ.

Ông nói, hôm qua ông là quỷ dạ xoa giết heo, giết bò, khi ngộ đạo rồi thì ông là Bồ-tát. Mà Bồ-tát cùng dạ xoa không cách một đường tơ; không cách gọi là tức, tức tâm thành Phật ngay chỗ đó.

Ngay trong giờ phút đó, ông cạo tóc. Ông đi hành cước, đến gặp Thiền sư Văn Thù Đạo, Thiền sư hỏi ông:

Lúc đang mổ heo, ông ngộ cái ông xuống tóc đi hành cước?

Như mình là kể ngộ tiếng chuông, lôi một rừng chữ nghĩa ra, hoặc là lôi cái niệm quá khứ; kể tức là

lôi cái niệm quá khứ. Nhưng mà ở đây đặc biệt:

Ngài Văn Thù Nghiệp rút con dao ra Ngài làm cái thế mài, thì lúc này thiền sư ấn chứng.

Bởi vì khi mê, ông mài dao giết heo. Bây giờ ngộ rồi, ông cũng mài dao, mà ngay trong giờ phút thực tại đó tánh viên giác ông hiện tiền. Mài dao đây không phải giết heo nữa mà đoạn tất cả phiền não cù cặn. Cũng mài dao, mà ngày xưa, mài dao trong mê, ngày nay, mài dao trong ngộ.

Khi nói tham dục và khát ái thì có một số Bồ-tát nghi: Chư Phật và Bồ-tát xuống cuộc đời này vì tham ái, tham dục mà có mặt hay là vì cái gì?

Phật dạy:

Bồ-tát hiện thân không phải do ái dục, mà do lòng đại bi và nguyện lực. Này Thiện nam tử! Bồ-tát biến hóa thị hiện ở thế gian chẳng phải do ái làm gốc, mà chỉ do lòng từ bi, khiến nhổ hết gốc ái của người kia. Các Ngài mượn tham dục mà vào trong sanh tử.

Ngài Đạo Giả nói mượn mà không mượn. Kinh Duy Ma Cật hay ở chỗ, Bồ-tát chỉ chứng ngũ thông. Các vị Đại Bồ-tát chỉ chứng ngũ thông chớ không chứng lậu tận thông, ngược lại A-la-hán chứng lậu tận thông luôn. Lậu là rỉ chảy, còn sót chút mê lầm các Ngài để lại, mới có cái nhân, cái duyên vào trong cuộc đời này bằng bi nguyện, đại nguyện.

Cho nên, kinh Đức Phật nói ra có 3 hạng:

  • Nói cho hàng hạ căn thì Đức Phật nói: Này các ông! Như Lai ra đời tại thành Ca Tỳ La Vệ, rồi phụ thân, mẫu thân tên gì…
  • Nói cho hàng trung căn: Này các ông! Như Lai đã thành tựu Phật quả từ vô lượng kiếp, nay Như Lai chỉ thị hiện, mượn cái khát ái vào trong cuộc đời này độ sanh.
  • Nói cho bậc thượng căn: Pháp thân của Như Lai vẫn thường hằng trên cuộc đời này, lúc nào cũng hiện hữu.

Kinh Hoa Nghiêm kể câu chuyện:

Thiện Tài Đồng Tử được Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi khuyến khích đi đến 53 vị thiện hữu tri thức để học đạo. Khi đến một cái thành, Thiện Tài Đồng Tử ngạc nhiên là tại sao giới thiệu mình đến học đạo với một kỹ nữ. Vị này tên là tỳ nữ Cù Ba, là vị Bồ-tát lên hàng Thập địa mà hiện thân trong dục ái vào kỹ viện. Sau này có một vị thiền sư làm bài kệ:

Thân nắm tay ôm tâm tĩnh lặng, Môi kề lưỡi chạm giới châu viên.

Lạ một điều, người nào đến nắm tay bà thì tất cả tham ái, khát ái đều biến mất, không còn ái nhiễm nữa, đều thành tựu quả vị Bồ-đề, phát tâm vô thượng.

 

 

 

Những vị này đều là thị hiện trong chốn trần lao để độ sanh. Bồ-tát Phổ Hiền hay thị hiện vào tầng lớp quý tộc, thôn nữ để mà độ sanh.

Cho nên Tuệ Trung Thượng sĩ nói bài kệ:

Xăm xăm cất bước vào bụi đời, Vàng óng đầu mi mở khơi khơi, Sớm bắt rong chơi vào bụng ngựa. Nhà đông cười nói nhập thai lừa.

Các Ngài sẵn sàng vào bụng lừa, thai ngựa, sẵn sàng vào hết tất cả các cõi để độ sanh.

Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy tôn giả A Nan:

Thời mạt pháp, Bồ-tát thánh hiền các ông phải thị hiện để độ sanh nhưng không để lại dấu vết.

Khi biết các Ngài là Bồ-tát, là A La Hán thì các Ngài thị tịch. Như Bồ-tát Di Lặc, khi biết Ngài rồi thì Ngài thị tịch, chỉ để bài kệ lại thôi.

Này Thiện nam tử! Nếu tất cả chúng sanh đời sau hay bỏ được ái dục và trừ tâm yêu ghét, thì hằng đoạn được luân hồi. Siêng cầu cảnh giới viên giác Như Lai nơi tâm thanh tịnh, liền được khai ngộ.

Thường thường, chúng ta không thương thì ghét, mà không ghét thì thương. Thương mà người đó cách xa – là ái biệt ly khổ, ghét mà người đó ở chung – là oán tắng hội khổ. Cho nên, Lục Tổ nói:

Tắng ái bất quan tâm, Trường thân lưỡng cước ngọa. Yêu ghét chẳng bận lòng, Nằm dài duỗi chân ngủ.

Kinh Pháp Cú, phẩm Tham Ái, Đức Phật kể câu chuyện:

Trong làng chài có một số thanh niên chài được con cá vàng, lạ một điều, khi con cá nó ngáp thì mùi hôi thối xông lên khắp làng. Thấy con thân vàng óng, họ đem dâng vua, vua thấy con thân tướng vàng ròng sao miệng thúi quá nên ông đến gặp Thế Tôn. Thế Tôn kể:

Thời Phật Ca Diếp, con Tỳ-kheo Kapila. Do đa văn, được đồ chúng rất đông, nhưng vì buông lung, lợi dưỡng, ông đã chửi mắng lăng mạ các Tỳ-kheo không theo mình; ông gây chậm trễ việc truyền bá giáo pháp của Đức Phật Ca Diếp. Khi chết, ông rớt xuống địa ngục A-tỳ.

Do thời gian ngắn, ông có nhân duyên giảng Phật pháp, và tụng đọc kinh điển tán thán Phật trong thời gian lâu, cho nên sanh làm thú nhưng trên mình có được màu vàng ròng; sở dĩ hơi thở thúi vì ông chửi mắng, lăng nhục các thầy Tỳ-kheo.

Đức Phật dùng năng lực thần thông hỏi con cá:

  • Ngươi phải Kapila không?
  • Bạch Thế Tôn, con
  • Ngươi từ đâu đến?
  • Bạch Thế Tôn con từ ngục A-tỳ đến.

 

 

 

  • Còn anh ngươi, Sodhana ra sao rồi?
  • Bạch Thế Tôn, anh ấy đã nhập Niết-bàn.

Hai anh em tu chung. Người anh thúc liễm ba nghiệp, tu tập, chứng nhập Niết-bàn. Còn người em đa văn, giỏi quá rồi chửi mắng, lăng nhục các thầy Tỳ-kheo nên xuống địa ngục A-tỳ, hết nghiệp địa ngục A-tỳ lên làm thú.

  • Mẹ ngươi, đâu?
  • Bạch Thế Tôn, còn đang địa ngục.
  • Còn em ngươi, Tapana, thì sao?
  • ấy cũng đang địa ngục, Bạch Thế Tôn.

Bà mẹ và đứa em cũng thường xuyên lăng nhục chửi mắng các thầy Tỳ-kheo, bây giờ còn đang ở địa ngục.

  • Giờ ngươi đi đâu?
  • Bạch Thế Tôn, địa ngục A-tỳ.

Bởi vì sanh lên loài thú không biết tu, còn cái dư tập nên rớt xuống lại. Cho nên, Phật nói làm thân người rất khó.

Nói xong, lòng đầy ăn năn, đập đầu chết ngay tại chỗ, liền tái sanh trong ngục A-tỳ. Thính chúng vây quanh đều xúc động, lông tóc dựng ngược cả lên. Đức Thế Tôn thấy họ tâm thuần thục liền nói bài kệ:

Hãy sống trong chánh kiến, Hằng tu hạnh thanh tịnh, Đó hạt ngọc sang đẹp,

Quý hơn trong tất cả.

Đức Phật nói phải sống trong chánh kiến. Sống trong chánh kiến có nghĩa là phải thu thúc 3 nghiệp, kiểm soát chặt chẽ về thân, miệng và ý. Sống như thế gọi là hạnh thanh tịnh, đó là hạt ngọc sang đẹp nhất, quý hơn trong tất cả của báu.

Nói bài kệ đó rồi, Đức Phật giảng tỉ mỉ toàn bài kinh Ka Pi La. Rồi Thế Tôn nói bài kệ:

Người sống đời phóng dật, Ái tăng như dây leo, Nhảy đời này đời khác,

Như vượn tham quả rừng.

Sống đời phóng dật tức là không kiểm soát về thân, về miệng, về ý. Miệng hay nói lời ác, nhục mạ người ta; thân làm việc ác; ý nghĩ điều ác, thì giống như sợi dây leo lên cây, cắt hoài mà mưa là lên, từ đời này qua đời khác, như con vượn, con khỉ tham quả rừng.

Ai sống trong đời này, Bị ái dục buộc ràng, Sầu khổ sẽ tăng trưởng, Như cỏ bỉ gặp mưa.

Ai sống trong đời này, Ái dục được hàng phục, Sầu rơi khỏi người ấy, Như giọt nước lá sen.

Nếu đoạn trừ ái dục thì giống như giọt nước đổ

trên lá sen tuột xuống.

Đây điều lành ta dạy, Các người tụ họp đây, Hãy nhổ tận gốc ái, Như nhổ gốc cỏ bỉ, Chớ để ma phá hoại, Như dòng nước cỏ lau.

Khi Đức Phật nói bài kệ này xong, có rất nhiều vị chứng quả, từ sơ quả đến nhị quả và tam quả.

Này Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh đời sau, do gốc tham dục mà phát huy thêm vô minh, hiển bày ra năm tánh sai biệt chẳng đồng.

Chúng sanh đời sau là chúng ta đây, do gốc tham dục nên phát huy thêm lớn vô minh. Chẳng hạn muốn thân tốt đẹp, mình phải nuôi cái thân này bằng cái gì? Ăn rau củ, cái thân này đâu có được bóng bẩy, cho nên phải làm vật gì ăn cho béo bổ ngon, làm lớn thêm cái gốc vô minh. Gốc vô minh lớn bắt đầu hiện ra năm tánh sai biệt; tức là từ cái thể viên giác, mà do môi trường, điều kiện, hay do gặp thiện hữu tri thức như thế nào đó, bắt đầu nó hiện lên năm tướng chẳng có đồng.

Y theo hai thứ chướng mà hiện ra có cạn có sâu. Thế nào là hai thứ chướng? Một là lý chướng ngăn ngại chánh tri kiến. Hai là sự chướng tiếp nối sanh tử.

Lý chướng là phát nghiệp vô minh. Sự chướng là nhuận sanh vô minh.

Cội gốc luân hồi sanh tử lấy hai chướng này làm thể, tức là tu hành có điểm sai biệt chẳng đồng, cũng nhơn cái minh dày mỏng. Hai chướng này cạn sâu.

Ví dụ trong đại chúng ở đây có 50 người, mỗi người do trong thời quá khứ đã tu bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp, thì vô minh có cạn có sâu, có dày có mỏng. Nếu trong thời quá khứ họ đã từng tu tập, nghe pháp, họ thức tỉnh, tu rất nhanh; còn vô minh họ dày quá thì nghe không vào, mà nhiều khi họ đi không đúng con đường mình đi.

Chẳng hạn, mình tu pháp dạy thành Phật mà nhiều người tu họ không chịu thành Phật. Có nghĩa là vô minh họ sâu quá, và trong thời quá khứ họ bị tiêm nhiễm chủng tánh ngoại đạo. Bây giờ bứt họ ra khỏi cái nghiệp gọi là chủng tánh là cả một vấn đề không phải dễ. Không phải hoàn toàn lỗi của họ, mà do trong thời quá khứ, họ gặp ông thầy ngoại đạo tà kiến chỉ cho họ pháp đó, họ y pháp đó tu sâu rồi, bây giờ gỡ ra là cả vấn đề. Kiến chấp họ dính mắc, đó gọi là lý chướng, là phát nghiệp vô minh, ngăn chánh tri kiến, nhiều khi sự thật mà họ cũng không nghe.

Trong Kinh Nikaya kể:

Làng nọ bị ăn cướp vào đốt phá, có ông chạy thoát

 

 

 

được. Khi trở về, ông thấy làng xóm cháy hết, nhà ông cũng cháy rụi. Ông đinh ninh con ông chết rồi nên ông hốt chút tro bỏ trong cái túi lúc nào cũng đeo bên mình. Thật ra, con ông chưa chết, khi cướp vào làng, nó còn trẻ nên chạy thoát. Sau khi cất lại nhà, một hôm, ông đang ngồi nhớ con thì đứa con trở về kêu cửa. Ông không tin nên nhất định không mở cửa, không chấp nhận là con của ông.

Phật nói, khi một người chấp vào tà kiến mê lầm, thì chân lý thực tại đến gõ cửa họ cũng không chấp nhận. Họ chấp sự tu của họ là đúng, nói cách mấy họ cũng không nghe. Phật nói, trong đời quá khứ, họ dính vào cái gọi là chủng tử ngoại đạo, nên họ tu rất cực, mơ mộng rồi tưởng tượng ông thần, ông thánh nào chạy lên, chạy xuống. Còn người đã tu pháp này thì tu nhẹ nhàng lắm, luôn thực tại hiện tiền trong đi, đứng, nằm, ngồi, không có gì được mất.

Phật dạy tiếp:

Thế nào là năm tánh? Này Thiện nam tử! Nếu hai chướng này chưa đoạn diệt thì chưa được thành Phật.

Một là phàm phu chủng tánh, hai là nhị thừa chủng tánh, ba là Bồ-tát chủng tánh, bốn là bất định chủng tánh, năm là ngoại đạo chủng tánh.

Năm chủng tánh này là tùy theo cấp độ trong thời quá khứ. Nếu trong thời quá khứ tu Bồ-tát đạo thì bây giờ tu pháp này nhẹ như lông hồng. Nếu

thời quá khứ tu pháp nhị thừa, thì không những tu không được pháp này mà còn phỉ báng. Nếu đời quá khứ tu chủng tánh ngoại đạo, người ta giảng mặc kệ, tu theo của mình.

Tôn giả A Nan đến Bạch Phật:

  • Bạch Đức Thế Tôn, nếu con gặp thiện tri thức, là con được một nửa cuộc đời tu hành.

Phật nói:

  • Ông nói vậy không đúng. Nếu ông gặp thiện hữu tri thức chỉ đúng pháp tối thượng cho ông tu tập, là cả một cuộc đời của ông.

Phạm hạnh của thiện tri thức là trọn luôn chớ không phải một nửa.

Nếu chúng sanh hằng bỏ cái tham dục, trước trừ sự chướng nhưng chưa đoạn lý chướng thì chỉ có thể vào được Thanh văn, Duyên giác, chưa có thể hiển trụ được cảnh giới Bồ-tát.

Sự chướng là chấp cái ngã. Phá cái ngã mà còn pháp Niết-bàn, cho nên không có thành Bồ-tát, không vào dạo trong biển đại tịch diệt của Bồ-tát. Vì sao? Vì nhập Niết-bàn rồi, không dạo trong sanh tử nữa. Không dạo trong sanh tử thì không có thành Phật, mà chỉ là Thanh văn, Duyên giác thôi. Đoạn sự chướng là đoạn chấp ngã, mà vẫn còn pháp Niết-bàn để vào. Sợ sanh tử mà vào Niết-bàn cho nên lý

chướng đoạn không được, sự thì đoạn rồi nên chỉ ở trong hàng Thanh văn, Duyên giác thôi, chưa vào trong biển tuệ của Bồ-tát.

Lý chướng còn gọi là sở tri chướng do chấp pháp mà có. Chấp có sanh tử thật, Niết-bàn thật nên sự thấy biết chưa thấu triệt tột cùng, làm chướng ngại chân trí Phật bảo. Cho nên lý chướng ngăn ngại chánh tri kiến.

Tức là thấy chúng sanh thật, độ họ mà họ can cường quá. Thôi! Bây giờ mình tu nhập Niết-bàn. Thấy có sanh tử thật, Niết-bàn thật; sanh tử để đoạn, Niết-bàn để chứng. Sự thì phá mà lý chưa phá, chưa thấu tột được sanh tử, Niết-bàn như giấc mộng hôm qua. Phá thế giới nhị nguyên phân biệt thì mới vào được trong biển tịch diệt của Phật gọi là kiến tánh. Khi đó mới phát đại nguyện vào cõi trần lao này độ sanh.

Đại chúng đừng có ngại, khi vào trong biển đại tịch diệt của Phật, nhận ra được rồi thì vào trong cõi trần lao này đều có áo giáp. Đó là cung thiền định, kiếm trí tuệ, lúc nào cũng theo bên mình; dầu cho vào trong những chỗ chướng ngại nhất, tự nhiên có cái gì đó đưa mình thăng hoa chớ không chìm xuống.

Sự chướng tức là phiền não chướng do chấp ngã mà có. Chấp ngã là si, si mới có tham. Nếu lòng tham không thỏa mãn là sân, làm chướng ngại giải thoát, từ đó sanh tử tiếp nối.

Sự chướng là gì? Do chấp ngã. Có những người, đụng vào, người ta bình thường, xin lỗi là xong. Còn người mà sự chướng, phiền não chướng trong thời quá khứ chưa bứt phá, bây giờ ai đụng vào, Phật nói:

Này các Tỳ-kheo! Trên đời này có hai hạng người: hạng người vết thương không làm mủ và hạng người vết thương làm mủ. Này các Tỳ-kheo! Nếu chúng sanh nào bị vết thương làm mủ, mình đụng vào họ đau.

Cũng vậy, những người có phiền não chướng, làm gì họ cũng sân hận, bực tức, bị chướng ngại, họ khởi lên tham, sân, si, tật đố, ích kỷ, tiếp nối luân hồi sanh tử, phá không được. Còn phá ngã rồi, người ta đánh chửi cũng bình thường. Bớt chấp ngã thì dễ tu, ai làm gì cũng cười, cũng vui. Trong cộng đồng hoặc trong gia đình, người nào ít nóng giận thì tự nhiên người ở gần cũng cảm thấy mát mẻ vui vẻ; chỗ nào có người nóng nảy bực tức, ở thường thấy chướng ngại. Đi xe mà tài xế vui vẻ, ít cau có, hành khách thấy nhẹ, ngủ cũng yên tâm; còn anh tài xế nào hay nóng nảy, bực dọc, hành khách ngủ không yên tâm.

Đoạn này nói về chủng tánh nhị thừa, vì người nhị thừa chỉ đoạn lục thức, tam độc, lìa phần đoạn sanh tử mà không đoạn được biến dịch sanh tử.

Phần đoạn sanh tử: là sanh tử trong sáu cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, trời, người, a-tu-la. Chẳng hạn sanh lên cõi trời, rồi rớt xuống cõi người, từ cõi

người rớt xuống cõi thú, từ cõi thú rớt xuống địa ngục; đó gọi là phần đoạn sanh tử.

Biến dịch sanh tử là sự tu tập. Chẳng hạn từ Thanh văn lên Duyên giác, từ Duyên giác lên Bồ-tát, lên Phật địa; đó gọi là biến dịch sanh tử.

Còn những bậc thượng thượng căn, ngay trong biến dịch họ thấu thoát luôn, phá được phần đoạn sanh tử và biến dịch sanh tử; ngay trong giờ phút đó mang cái thân năm uẩn mà chứng thành Phật địa.

Kinh Viên Giác, Phật chỉ rất là cặn kẽ: Tu như thế nào, đoạn như thế nào, chứng nhập như thế nào, từ sự chứng nhập đó, ra làm các Phật sự như thế nào luôn.

Bất định chủng tánh tùy theo cấp độ lựa chọn, chẳng hạn như thấy môi trường này thích hợp, có thiện tri thức, có bạn đồng hành, đồng kiến tu tập. Chọn môi trường thích hợp tu thì thành Phật địa. Còn không chọn được, gọi là bất định, tu không đúng thì thành ngoại đạo tà giáo.

Phật dạy:

Này Thiện nam tử! Nếu chúng sanh đời sau muốn dạo trong biển đại viên giác của Như Lai, trước phải phát nguyện đoạn hai chướng. Hai chướng đã đẹp trừ, liền hay ngộ nhập được cảnh giới Bồ-tát. Nếu sự lý đã hằng đoạn diệt thì liền ngộ nhập vào tánh viên giác vi diệu của Như Lai, đầy đủ đạo Bồ-đề và đại Niết-bàn.

Đoạn này nói về chủng tánh của hàng Bồ-tát, muốn dạo trong biển đại tịch diệt viên giác của Như Lai, phải đoạn hai cái chướng: lý chướng và sự chướng. Chúng ta thấy cái này cũng hơi khó, nhưng qua phần qui chế của Sư Ông Trúc Lâm dạy có thể áp dụng được. Ngộ hiểu rồi, nhưng phải gỡ từng bước, lên hàng tam hiền, thập thánh mới hàng phục hai cái chướng này:

1.  Phiền não chướng

Là chấp về pháp, che lấp trí tuệ. Chẳng hạn giữ 10 giới hoặc 250 giới được thanh tịnh, thấy người ta không giữ được, sanh phiền não, gọi là phiền não chướng; cho nên trí tuệ bị bít lấp, vì chấp pháp.

Qui chế các thiền viện giữ mười giới làm căn bản, trong mười giới có lục hòa, trong lục hòa có giới hòa đồng tu. Chẳng hạn như ở đây qui định, ăn hai buổi sáng và trưa, chiều không ăn. Do mình giữ được giới không ăn chiều, mình thấy huynh đệ ăn, mình sanh phiền não. Sanh phiền não thì trí tuệ không có, mỗi ngày dồn một chút, một lúc nào đó nó bung ra. Ví dụ, mình gánh nước giỏi, một thời gian mình lớn tuổi hoặc bệnh, đưa huynh đệ làm thay mà làm không bằng, mình nhìn chướng mắt, dồn mỗi ngày một ít, rốt cuộc hai người phiền não.

Cho nên ở trong đại chúng, người xuất chúng không phải vì phiền thầy trụ trì hay phiền thầy lớn

mà phiền bạn đồng hành, bởi vì bạn đồng hành hay chấp pháp xuất thế gian. Ví dụ, mình ăn một bữa, mình ngủ ngồi mà ở đây toàn ngủ nằm nên phiền. Chấp pháp cho nên ai làm trật, mình sanh phiền.

Sư Ông Trúc Lâm nói, tôi không cần mấy chú ngộ đạo, miễn sao tất cả giữ qui chế đều đặn: Toàn chúng giữ đúng thời khóa đều đặn, bao nhiêu đó thôi không cần nhiều, ba năm là có niềm tin. Ở đây, đại chúng áp dụng được thì tôi đi làm Phật sự nhẹ lắm.

Tôi đi họp chỗ này chỗ kia. Khi nghỉ giải lao, nói chuyện Phật sự, có một số quí thầy ở chùa, quen hút thuốc. Nếu chấp tại sao hút thuốc sẽ sanh phiền não; còn tôi bình thản, người ta hút là quyền của người ta, mình ngồi hay không là quyền của mình, chịu không nổi thì đi, nhẹ nhàng không sanh tâm gì hết. Người đối diện với mình, sống gần, thấy mình thư thả tự tại, bắt đầu người ta tìm hiểu về pháp mình tu.

Giữa chúng ta với Phật và các bậc thánh bản thể như nhau, mà tu lại có sự sai biệt: Có người tu 10 năm, có người tu 5 năm, có người mới tu cũng thành tựu. Phật nói là do thời quá khứ, câu sanh ngã chấp dính khằn, như cái gương chôn dưới đất lâu ngày, có người mới chôn một năm, đem lên chỉ cần lau là gương sáng; có người chôn nghìn năm nên phải cạo sạch rất lâu. Cho nên có những người tu rất lâu mà dễ phiền não, còn có những người mới tu mà người

ta buông rất là nhẹ, do nhiều đời, người ta đã tu rồi. Đành rằng thể tánh viên giác đồng đẳng nhưng có sai biệt nghiệp. Chính sai biệt nghiệp này làm mất tự chủ, lấp đi trí tuệ.

2.  Sở tri chướng

Là chấp về cái ngã, mình thấy mình hơn người, bắt đầu khởi tâm ngô ngã, không có tâm khiêm cung cho nên lấp bít Niết-bàn.

Muốn dạo trong biển đại tịch diệt của Như Lai phải đoạn hai cái chướng này. Cho nên ráng cố gắng, chúng ta tu là quay về chính mình là chính, còn công việc ngày xưa làm, bây giờ nghỉ là xong, huynh đệ làm hư hay nên gì cũng kệ thì tâm mình thư thả an ổn. Chính hai chướng này cản trở, không những cản trở trong đời này mà cản trở khi sắp từ giã cuộc đời.

Tôn giả Mục Kiền Liên, một hôm vào rừng, bỗng thấy một con rắn ngóc đầu lên, định mổ Ngài. Ngài nhìn biết con rắn là ông vua ở đời này vừa mới qua đời. Ngài hỏi, đại vương bố thí, cúng dường mà tại sao rớt trong loài này? Con rắn nói, do lúc ông bệnh, người hầu ông quạt, làm rớt cây quạt vào mặt ông, ông nổi sân, khi chết đầu thai loài súc sanh.

Là do hằng ngày ông dính mắc, chấp ngã đủ hết, còn sống mà buông xả thì ngày ra đi nhẹ nhàng, bốn đại không có bức ngặt.

Một vị thiền sư Nhật Bản nói, muốn biết một người được giải thoát hay không hãy nhìn vào cuộc sống người đó. Khi sống giải thoát 50% thì chết giải thoát được 50%. Cho nên tại sao gọi là tu tập? Tu là phải tập. Tập cái gì? Tập buông xả từ từ. Học nhiều, chấp vào cái học, coi thường người khác cũng gọi là sở tri chướng.

Này Thiện nam tử! Tất chúng sanh đều chứng viên giác, gặp thiện tri thức, y nơi pháp hạnh nhân địa mà vị ấy đã tu, khi ấy tu tập liền có đốn và tiệm. Nếu gặp được con đường tu hành chơn chánh Vô thượng Bồ-đề Như Lai, thì căn cơ chia ra không có lớn nhỏ, tất cả đều thành Phật hết.

Trên bước đường xuất gia, tầm cầu phương thức giải thoát mà gặp thiện hữu tri thức, nếu được dạy cho pháp môn tiệm thì tu rớt vào hàng Thanh văn và Duyên giác. Nếu gặp thầy ngoại đạo, rớt vô chủng tử ngoại đạo.

Có ông thầy ở Thiền viện mình mấy tháng, đi ta bà thế giới rồi về, thầy Phó nói, thôi kệ, cho ông tu, tôi nói, ông thầy này bảo đảm tu không được. Hỏi ông tu sao? Ông nói, ông tu để khai mở 72 huyệt đạo thành Tôn Ngộ Không! Có nghĩa là rớt vào trong chủng tử ngoại đạo, bởi vì trước đây, gặp ông thầy ngoại đạo.

Chủng tánh ngoại đạo có nhiều đời rồi, bây giờ,

làm cách gì, họ cũng không ở trong pháp chơn chánh Vô thượng Bồ-đề. Đoạn sau, Lục Tổ Huệ Năng dạy, giống như một trận mưa ào xuống, mấy cây lớn hứng nước bình thường mà cây nhỏ ngã rạp hết do không chịu được. Pháp Vô thượng Bồ-đề phải là bậc thượng thượng căn, họ tu nhiều đời rồi, nghe là họ tin rồi tu. Cho nên đoạn này gọi là bất định chủng tánh, có nghĩa là lỗi không phải người tu mà lỗi do ông thầy chỉ pháp đó.

Vào thời Đức Phật, có một thầy Tỳ-kheo cản một vị thí chủ đến nghe pháp Như Lai, thầy nói bà chỉ bố thí, cúng dường thôi chứ không nghe pháp, không học pháp được. Một lần, biết ông đi vắng, bà thí chủ đến tinh xá Kỳ Viên, nghe dứt thời pháp, bà chứng sơ quả, bà trình với Phật, Phật kêu vị Tỳ-kheo đó đến rầy. Chúng ta gặp ông thầy tu kiểu gì thì dạy mình tu kiểu đó.

Việc này, tôi đi qua rồi, ngày xưa, gặp pháp gì lạ tôi cũng học, cho nên sư phụ Thường Chiếu đặt tôi là Khế Định, Định đây không phải thiền định, là định con đường Bồ-đề chứ đừng đi lung tung. Thành ra, ai trình tôi pháp gì, tôi cũng biết, người tu sai pháp, nhìn là biết khỏi cần trình, nhìn khuôn mặt là tôi biết rớt vào hàng ngoại đạo.

Phần này, Đức Phật cũng đi qua rồi. Ban đầu Ngài tu với 2 vị tiên nhân, Ngài Uất Đầu Lam Phất

chỉ cho Ngài tứ không, Ngài Kalama chỉ cho Ngài tứ thiền, Ngài thấy vẫn còn cái ngã thầm thầm, nên mới bỏ. Cho nên, Phật nói, chỉ cần biết cái đó sai, mình sửa là tu tiến. Tôn giả Mục Kiền Liên, tôn giả Xá Lợi Phất ban đầu, hai Ngài cũng đi bên Phạm Chí Bà La Môn ngoại đạo, sau này mới gặp Phật. Tôn giả Ca Diếp cũng như thế.

Hỏi:

Nếu nói tất cả chúng sanh đều chứng viên giác, mỗi mỗi đều là Như Lai chủng tánh, thì sao lại có sai biệt, gọi là bất định chủng tánh?

Đáp:

Chỉ vì mỗi người kia khi gặp thiện tri thức, y nơi pháp hạnh nhân địa mà vị ấy đã tu, nhơn đây tu tập thì có đốn, tiệm chẳng đồng.

Sơ tổ Trúc Lâm, Ngài làm bài kệ:

Chơi nước biếc, ẩn non xanh, rất nhiều người thích thú. Biết đào hồng, hay liễu lục, Có mấy người gọi là tri âm.

Ngài nói, rất nhiều thích đi chơi rong chỗ này, chỗ kia, còn chủng tánh chuyên tu thì hiếm lắm; tuy ít nhưng chúng ta cũng ráng tu. Chúng ta có chủng tánh tu thì đời sau gặp thiện tri thức, tu tiếp, còn những người có chủng tánh đi du lịch đời sau sẽ quên

  1. Như ông Kỳ Bá, cúng dường bố thí được sanh lên cõi trời, dạo chơi quên tu rồi lăn lộn trong ba đường sáu nẻo.

Bây giờ, chúng ta nghe giảng Bát-nhã thấy thường. Ngày xưa vào Thường Chiếu, lần đầu tiên tôi nghe Sư Ông giảng Bát-nhã, pháp lạ bí hiểm thâm sâu mà Sư Ông khơi lại, tôi sửng sốt luôn. Có nghĩa là huân tu nhiều đời Bát-nhã, cho nên bây giờ nghe, bao nhiêu nghiệp tập rớt xuống, bắt đầu trí tuệ mở ra, gọi là huân tu. Cho nên, đời này không ngộ vẫn tiếp tục tu pháp này cho tới khi thành Phật.

Đoạn sau, Phật bắt chúng ta phải phát nguyện tu về tánh viên giác, nhận ra được, rồi sống với tánh viên giác, đời này không xong, phát nguyện đời sau tu tiếp, phát nguyện đời sau gặp thiện tri thức chuyên dạy về Bát-nhã, chuyên dạy về tánh viên giác để chứng nhập thành Phật.

Phải có nguyện lực lớn gọi là huân tu. Đời này huân cái gì ra cái đó. Giống như cái bao nylon mình đựng con cá, lấy cá ra rồi bao vẫn còn hôi. Còn bỏ trầm hương vào, lấy trầm hương ra rồi bao vẫn còn thơm mùi trầm. Các vị xuất gia, kể cả Phật tử tại gia huân tu hằng ngày, hằng tháng, hằng năm, thì khi nghe thầy dạy về pháp môn đốn ngộ hay Bát-nhã, nó thành chủng tánh.

Các bậc cao tăng bên Thiếu lâm tự nói, họ không có học quyền cước nhiều, nhưng hằng ngày tập, mỗi vị phải có công phu đặc dị nào đó, khi họ bung ra là không đỡ được. Như những người biểu diễn xiếc đi trên dây, ngày nào họ cũng tập, gọi là huân thành chủng tánh.

Nếu gặp bậc đại thiện tri thức chỉ bày con đường chân chánh của Như Lai, khai đạo tu hành (tức là dẫn dắt tu hành) thì căn cơ không có lớn nhỏ đều thành Phật quả. Phật ra đời nhằm khai thị cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến của họ.

Đây là hiển bày Phật tánh là một, nhân thầy bất định nên có đốn tiệm. Do đó, Kinh Lăng Già nói, cần yếu phải thân cận thiện tri thức, ấy là điều tối thắng, tối thượng.

Nghĩa là phải thân cận, gần gũi người dạy cho mình phương pháp tối thượng đốn giáo, từ đó mình có những kinh nghiệm tu tập rất là cần yếu.

Một hôm, tôn giả A Nan nói với Đức Phật: “Thiện tri thức làm thành cho người học nửa đời phạm hạnh”. Phật nói: “Không phải nửa, mà chính là một đời phạm hạnh.”

Đời này, nếu không gặp Sư Ông là tôi không biết tu. Ngày xưa, tôi đi tất cả các nơi mà không biết tu là gì, chỉ gõ mõ tụng kinh vậy thôi, đâu có ngộ cái vọng, nhận cái chơn, “ngộ vọng, chứng chơn mà liễu

niệm” là gì mình không biết. Khi vào đây tu tập, từng bước dụng công, mới rõ được con đường đi này.

Đây thì tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát) đều thâu nhiếp về bất định chủng tánh.

Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Phổ Hiền, hạnh nguyện thứ tư có ghi:

Thiện Tài đồng tử bạch với Bồ-tát Văn thù: Thưa thánh giả, xin ngài từ bi rộng vì tôi nói, tôi phải học hạnh Bồ-tát như thế nào, phải tu hạnh Bồ-tát như thế nào, phải khởi hạnh Bồ-tát như thế nào, phải quán sát hạnh Bồ-tát như thế nào, phải làm rộng hạnh Bồ-tát như thế nào, phải thành tựu hạnh Bồ-tát như thế nào, phải làm thế nào cho hạnh Phổ Hiền chóng được viên mãn?

Lúc ấy, Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi bảo Thiện Tài đồng tử: Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Nếu có chúng sanh nào phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, việc này rất là khó.

Chúng ta phát tâm Vô thượng Bồ-đề, phát tâm làm Phật, biết rằng con đường từ đây ra cổng có gai góc, sương mù lạnh nhưng có việc rất cần nên phải đi. Cho nên, Ngài Hư Vân nói:

Ta không sợ sương sa lớp lớp Ta không sợ cát đá trùng trùng Vì tâm ta có Phật.

Vì Ngài phát tâm Vô thượng làm Phật, con đường

đó, bắt buộc phải đi.

Phát được tâm rồi lại muốn siêng cầu hạnh Bồ-tát, lại khó gấp bội. Này Thiện nam tử! Nay ông phát tâm cầu đạo Bồ-tát, vì muốn thành tựu trí nhứt thiết, thì phải siêng năng cần cầu bậc thiện tri thức chân chánh.

Bây giờ, chúng ta muốn tu làm Phật, muốn đi trên con đường Bồ-tát đạo, muốn rộng độ chúng sanh, nhiêu ích tất cả mọi người thì phải cần thiện tri thức. Thiện tri thức ở đâu?

1.   Này thiện nam tử, cầu thiện tri thức đừng sanh lười mỏi.

Thứ nhất là thiện tri thức bên ngoài. Chúng ta đến gặp vị thầy đó, ví dụ gặp Sư Ông Trúc Lâm, gặp phương pháp tu tập, mà phương pháp của Hòa thượng thấy dễ hay khó? Ngồi thiền 2 tiếng, buổi tối ngồi tiếng rưỡi, nếu sanh tâm lười mỏi thì không tu pháp này được.

Làm việc cho đại chúng, chẳng hạn làm tri khố, mà làm mới một tháng chịu không nổi. Cầu đạo giác ngộ mà một sớm, một chiều chịu không nổi, hoặc tu nửa đường thối lui.

Ngồi nghiệm lại, thấy việc tu không phải là đơn giản, ngày nào cũng giống ngày nào chớ không khác. Chẳng hạn như chiều nay tụng kinh, chiều mai đi chơi còn đỡ, nhưng chiều mai cũng lại tụng kinh.

7g30 tối nay ngồi thiền, nếu 7g30 tối mai được xem ti vi cũng đỡ, đâu có được, cũng phải ngồi thiền. Như vậy, chúng ta làm như thế nào mà ngày nào cũng là ngày mới thì không sanh mệt mỏi. Chừng nào tu đạt tới chỗ tâm mình thơ thới, an ổn tự tại đó là niềm khích lệ cho mình, bắt đầu có chỗ tạm dừng vọng tưởng điên đảo.

Cho nên gần gũi môi trường tu thích hợp, đừng có sanh tâm lười mỏi, chán nản là việc cực kỳ khó. Bồ-tát Văn Thù nói, phát tâm xuất gia đã là khó, mà y pháp tu càng khó gấp bội. Dầu cho thời nào, phát tâm vào tu mà ở an yên là cả một vấn đề. Khi trưởng thành cũng không được nghỉ ngơi. Như hôm qua, tôi giảng ở thành phố xong phải lên xe đi gấp để 1 giờ trưa giảng ở Long An. Thứ hai, thứ ba, dạy ở Thường Chiếu. Thứ tư, tôi giảng ở đây. Mai thứ năm, tôi dạy ở trường trung cấp.

Tu và làm Phật sự là con đường tiến. Có con đường tiến thì phải có con đường lui. Lui là gì? Hồi hôm, tôi về 7 giờ tối, tắm rửa xong cũng kéo chân ngồi kiết già tu, đó là con đường lui, không lui thì đâu còn sức nữa. Đại chúng thấy, tôi làm việc như thế ấy mà không nhờ thiền tập là điên, nhiều việc đến nếu không nhờ tu tập là loạn. Tiến là phải lùi, lùi rồi tiến.

Cho nên, người tu không có sướng. Nếu sanh tâm lười mỏi, mình nghĩ tại sao công việc dồn cho

mình. Vì biết mình đã từng phát nguyện muôn hạnh thì hạnh nào cũng phải làm, khó nhưng phải thực hiện. Cho nên cầu thiện tri thức đừng sanh mệt mỏi.

Đại chúng nhớ, quả Phật không phải dễ, làm ma dễ lắm. Thiền sư Tông Bổn vào trong chúng, Ngài chẻ củi, nấu cơm làm đủ chuyện. Thầy của Ngài hỏi sao ông hành xác như thế. Ngài nói, con cần cầu Bát-nhã, phải thực hiện con đường này.

2.  Gặp thiện tri thức đừng sanh nhàm đủ.

Chúng ta gặp được thiện tri thức, đừng nghĩ bao nhiêu đó đủ rồi. Chưa đủ đâu! Ở trong chúng 5 năm, 10 năm nghĩ là đủ, nhưng chưa đủ. Ở trong chúng lâu, tự nhiên có những biến chuyển nội tâm. Tu tập ở trong chúng, sẽ có những mức tiến, tuy ít nhưng âm thầm tiến từng bước, cho nên đừng sanh tâm ‘thôi đủ’.

3.  Đối với lời dạy của thiện tri thức là phải nhớ tùy thuận, không nên trái nghịch.

Quy chế Sư Ông Trúc Lâm đưa ra thì phải tuân thủ, bởi vì Ngài là thiện tri thức, lời dạy của Ngài đưa ra, mình phải tùy thuận. Trong chúng, tùy thuận Sư Ông đưa ra là phải lục hòa: thân hòa đồng trụ, khẩu hòa vô tránh, ý hòa đồng duyệt, giới hòa đồng tu, kiến hòa đồng giải, lợi hòa đồng quân. Sư Ông kỵ nhất là ‘khẩu hòa vô tránh’, tránh tranh cãi mà cùng nhau bàn luận, khởi một ý niệm nào đều vui, không có sự tranh cãi, tức là y nơi lời dạy của Sư Ông.

Tùy thuận là giờ tụng kinh mình tụng kinh, giờ ngồi thiền mình ngồi thiền, giờ ăn cơm mình ăn cơm, giờ học mình đi học, chúng làm như thế nào, mình làm như thế đó; mỗi người mỗi công hạnh, người chẻ củi, người nấu cơm, người cắt cỏ. Tùy theo lời dạy của Sư Ông làm việc, đó gọi là tùy thuận. Mình có Thầy Tổ, có con đường vạch sẵn rồi. Đại chúng ai cũng như thế thì đạo tràng thanh tịnh an ổn, người ta nhìn vào thấy đạo tràng có sự hòa hợp.

4.  Đối với phương tiện thiện xảo của thiện tri thức, chỉ nên cung kính, chớ thấy lỗi lầm.

Khi đại chúng lên làm trụ trì một ngôi thiền viện hoặc một ngôi chùa, nếu mình dễ quá thì chúng hư, khó quá thì chúng ở không được. Người ta thường nói: Nước trong quá cá ở không được, mà nước đục quá cá ở cũng đui mắt.

Có một vị tác bạch nhập thất. Quy chế của các thiền viện là tác bạch buổi trưa, ăn cơm xong phải vào thất. Sáng sớm hôm sau, tôi thấy ông ra sân cầm chổi quét chơi chơi. Tôi nói, với thầy Tri khách, đem đồ đạc ông lên xe, chở ông ra ngã ba 46 bỏ ông và đồ đạc xuống, ông muốn đi đâu thì đi. Nghe vậy, ông lật đật nói, thôi để con vào thất. Sao lại làm như thế với người tu? Nhưng nếu không dùng phương tiện thiện xảo làm sao bắt ông vào thất tu.

Bên Tây Tạng có một trường thiền 25 ngàn

chúng, vị viết cuốn sách: Chừng nào chim sắt biết bay là vị tái lai, mà Ngài bị tri sự đánh có tật, do lúc Ngài còn làm tiểu, phạm lỗi, thầy tri sự lấy cây gậy sắt đập gãy chân luôn. Quy chế của đại chúng là như vậy.

Khi Thiền sư Hư Vân đến chùa Cao Mân, lúc đó Ngài bệnh mà không báo, chùa cắt Ngài làm tri sự Ngài không làm, đánh Ngài 25 hèo bất tỉnh luôn. Quy chế của thiền môn mạnh lắm, không làm như thế thì thiền môn lỏng lẻo, mất đi nguyên khí tùng lâm thì tùng lâm rã nát. Có ông tăng kể, cây roi đánh xuống giở lên thịt bay lên theo luôn! Bởi vì tới 25 ngàn chúng, các Ngài đưa ra những phương tiện thiện xảo, giống như học sinh ồn quá thì thầy giáo phải vỗ bàn.

Ngày xưa, chúng tôi ở Thường Chiếu, thấy ông thầy tri sự đằng kia là đằng này tụi tôi lảng đi, sợ tới mức độ đó. Bởi vì Sư Ông đưa lệnh xuống cho tri sự là nắm mạng mạch của tăng chúng, thiền môn như vậy mới mạnh. Người nắm giữ phải có uy lực. Nếu trong chúng ai muốn ăn thì ăn, muốn ngủ thì ngủ, không ăn ngọ trai, mỗi người bới một tô ngồi một góc ăn thì không còn ra tùng lâm nữa. Cho nên người trên, người ta phải làm như thế. Giống như đưa vào cái xiềng cứng mới tu, nếu không còn quy chế, quy củ thì tùng lâm rã hết.

5.  Cầu thiện tri thức thân tâm chớ lười mỏi.

Tối lên ngồi thiền, huynh đệ có những người siêng tu, lên sớm, đứng thẳng hàng, nghiêm trang, mình lên thấy cảnh đó, mình thích ngồi thiền. Còn mình thấy những người lên sớm, ngồi gục, mình muốn về ngủ cho rồi. Ngày xưa, tôi ở với Sư Ông Trúc Lâm, sư phụ Thường Chiếu, lỡ ngáp là phải nuốt vào, sư phụ mà thấy là hỏi chú làm gì mà mỏi mệt vậy. Ngủ không cho mình gác tay lên trán, vậy là suy nghĩ gì rồi. Các Ngài dạy từng chút. Trong huynh đệ có những người tu tinh tấn, sốt sắng làm việc thì đại chúng yên.

Bên Thiếu Lâm tự, có những cái thất dành riêng cho những người công phu sâu dày. Họ không làm trụ trì không làm gì hết, nhưng có hình bóng của họ, tự nhiên chúng an tu. Cho nên trong chúng, chúng lớn mà đi hết rồi thì giống như rừng cây còn toàn gỗ tạp, không có những cây cổ thụ. Ở Thường Chiếu hiện giờ rất hưng thịnh là do có hình bóng Sư Ông. Bây giờ, Ngài không có giáo hóa hay chỉ dạy nữa, Ngài chỉ ngồi thôi; trong dịch lý, vị chủ ngồi yên một chỗ thì quân họ bao xung quanh, tụ về. Cho nên, chúng lớn rất là quan trọng. Trong tùng lâm chỉ cần những con người chịu tu, chịu làm, chịu học, tự nhiên tùng lâm đó mạnh.

Bên Thiếu Lâm tự mấy ngàn tăng sĩ mà chỉ cần 4

vị trưởng lão, 18 vị La Hán thì tự nhiên Thiếu Lâm tự mạnh, mà chỉ cần mất 1-2 người là yếu. Gặp những người đó rồi, tự nhiên mình hăng hái, thích thú tu; còn huynh đệ mình, tới giờ tụng kinh, ngồi thiền mà ngáp dài thì mình cũng muốn nghỉ.

6.  Thưa hỏi thiện tri thức chớ sợ khổ nhọc.

Ngày xưa gần gũi thiện tri thức thưa hỏi giáo pháp cực lắm.

Ngài Văn Uyển tức là Ngài Vân Môn, đến thưa hỏi Ngài Trần Tôn Túc bị Ngài xô ra ba lần. Đến lần thứ ba, bị Ngài Trần Tôn Túc xô ra rồi đóng cửa lại khiến bàn chân Ngài bị kẹp nát, nhân đó Ngài ngộ đạo.

Chớ không phải bị xô ra, thấy khó quá thôi không hỏi nữa.

7.  Gần gũi thiện tri thức chớ ôm lòng lui sụt.

Bồ-tát Văn Thù dạy: Gần gũi thầy lành, bạn tốt, gần gũi môi trường, gần gũi các pháp.

Hồi sáng, có những vị doanh nghiệp lớn đến thăm, thấy cảnh thanh tịnh, an yên ai cũng nói mong mỏi một ngày nào đó, trút được gánh nặng đến đây tu tập; còn mình được môi trường này tại sao không tu?

Ngài Tịch Thiên nói: Đã được làm người, gặp môi trường tốt mà tại sao không phấn phát?

8.  Cúng dường thiện tri thức chớ để gián đoạn.

Mình cố gắng làm các việc thiện sự cho chúng đừng có gián đoạn. Tuổi thọ bất thình lình, đừng nghĩ 80 tuổi hay 100 tuổi mới chết. Cho nên, làm được gì thì ráng cố gắng mình làm, đừng để bị gián đoạn.

9.  Đối với công đức của thiện tri thức có được, chẳng nên nghi ngờ.

Những công đức từ việc tu mà thiện tri thức có được, đừng nên nghi ngờ. Nhờ quá khứ cộng với thời hiện tại, cộng nhiều thứ bổ túc hình thành nên cảnh giới như thế; chắc nhiều đời, người ta tu tập, bố thí, cúng dường mới được. Thì bây giờ mình phải ráng làm như họ đừng có nghi ngờ.

10.    Nghe thiện tri thức diễn thuyết môn xuất ly, phải sanh tâm quyết định.

Nghe thiện tri thức diễn thuyết môn xuất thế gian, pháp môn này đi vào con đường tối thượng, tu để thành bậc vô thượng chánh đẳng chánh giác, thì mình phải quyết định tu không do dự.

11.   Thấy thiện tri thức theo hạnh phiền não, chớ sanh hiềm nghi.

Người xưa nói, giống như ở trong thùng rác có viên ngọc, lượm viên ngọc đừng để ý thùng rác, đừng sanh hiềm nghi gì hết.

12.  Niềm tin sâu xa đối với thiện tri thức chẳng nên biến đổi. Vì sao? Này Thiện nam tử! Bồ-tát nhân thiện tri thức mà được nghe tất cả hạnh Bồ-tát, nhân thiện tri thức mà thành tựu tất cả công đức Bồ-tát, nhân thiện tri thức mà sanh ra tất cả đại nguyện Bồ-tát.

Nhân thiện tri thức, nhân môi trường, mình mới thực hiện được. Nhờ môi trường chớ ở nhà thì làm sao nghe được pháp tối thượng? Ở nhà, sao nghe được hạnh của Bồ-tát? Nhờ ở đây, làm tất cả các việc mà không chấp thủ trên tất cả các việc, ngay trong giờ phút đó là công đức, là nhờ thiện tri thức và môi trường.

Chẳng hạn, sáng nay, người trị nhật nấu cơm bị bệnh, mình làm thay, nhờ Bồ-tát đó mà mình được công đức. Hoặc huynh đệ bận, mình làm thay việc của vị đó, vui vẻ làm không có phiền não. Nơi nào cũng tu tập được thì mình có công đức. Sẽ có lúc nào đó mình không làm được, giờ còn làm được, cái gì giúp ích cho tất cả mọi người thì cứ làm.

Thứ nhất Nhân thiện tri thức sanh ra tất cả đại nguyện Bồ-tát. Lại nữa, này Thiện nam tử! Thiện tri thức giống như mẹ hiền, hay sanh ra tất cả chủng tánh Phật.

Nhân thiện tri thức mà được lực đại nguyện thành tựu. Ở trong chúng, nhờ thiện tri thức chỉ dạy cho mình, nhờ môi trường tu tập, cứ mỗi niệm là hạt giống Phật. Mỗi niệm khởi lên làm việc gì lợi ích cho huynh đệ, lợi ích cho cộng đồng, cho xã hội, tức là

một chủng tánh Phật mọc lên.

Thứ hai – Thiện tri thức giống như ông cha nghiêm chính, người trao cho sự lợi ích rộng lớn.

Thiện tri thức là môi trường kích thích tu tập. Ai ở nhà mà tu đúng 3 thời ngồi thiền, Sư Ông nói không có chuyện đó. Nhưng ở thiền viện, có môi trường, có huynh đệ nhắc nhở, có người lớn khuyến tấn, giống như ông cha nghiêm chính. Được sự lợi ích rộng lớn là nhờ thiện tri thức.

Thứ ba Thiện tri thức giống như nhũ mẫu, bảo vệ cho ta không làm các việc ác.

Thứ bốn Thiện tri thức giống như giáo sư, dạy các Bồ-tát những điều đáng học.

Gần gũi bạn đồng học giống như một vị thầy giáo, dạy cho mình những điều đáng học. Thấy người ta làm việc, tu tập, mình bắt chước làm theo, chớ ở nhà hoặc ở thất không có.

Thứ năm Thiện tri thức giống như người khéo dẫn đường, hay chỉ pháp Ba-la-mật rất sâu.

Thứ sáu Thiện tri thức giống như lương y, hay trị các bệnh phiền não.

Này Thiện nam tử! Bồ-tát nhân thiện tri thức mà thường hay tăng trưởng tất cả thiện căn, ví như núi tuyết hay sanh trưởng ra cỏ thuốc.

 

 

 

Thiện tri thức chia làm ba loại:

  1. Giáo thọ thiện tri thức: chỉ cho chúng ta cặn kẽ những điều hay lẽ phải, phương pháp tu học.
  2. Đồng hạnh thiện tri thức: Ví dụ không muốn tu nữa, thì có đồng hạnh thiện tri thức khuyên cố gắng vượt qua khó khăn, chướng ngại, tiếp tục tu. Nếu trong chúng không có những vị đồng hạnh thiện tri thức, thì mình vừa khởi niệm không muốn tu nữa, không ai khuyên ở lại tu mà gặp những người bạn khuyến khích về làm ăn.

Vào thời Đức Phật có vị hoàn tục 7 lần, là do đời quá khứ, người tu nào muốn ra đời là ông xúi ra, cho nên đời này gặp Phật mà ra vào tới 7 lần. Nhờ nhiều đời gặp Phật, tu tập nên lần thứ 7 Ngài chứng quả. Cho nên, bây giờ mới có luật: Quý thầy được vào ra 7 lần, trong khi chư Ni chỉ được 1 lần. Nhờ vậy Ni ít ra đời hơn Tăng. Luật của Phật đưa ra giống như dấu ấn đóng xuống, không có vị Tổ nào dám khai ra là Tăng được xuất gia lần thứ 8.

Đại chúng đừng nghĩ mình xuất gia ở đây rồi ra đời, sau đó đi chỗ khác xuất gia không ai biết, nhưng mà giới không thành tựu. Giới thể không thành tựu thì không có bản thể Tỳ-kheo, tu cả đời không được. Phật như một vị quốc vương, Ngài đưa ra luật là phải y theo.

  1. Ngoại hộ thiện tri thức: Rất quan trọng, không những họ cúng dường thức, ăn thức uống mà họ còn bảo vệ cho giới hạnh của mình. Chẳng hạn như mình ra ngã ba 46 ngồi uống cà phê, nhịp đùi, ngoại hộ thiện tri thức đi ngang thấy, họ báo về thiền viện liền. Cho nên, ba hạng thiện tri thức này phải có trong cuộc đời tu của mình.

Nếu các chúng sanh tuy cầu thiện hữu, nhưng lại gặp những người tà kiến chưa được chánh ngộ, ấy gọi là chủng tánh ngoại đạo. Đây là lỗi của ông thầy tà, chớ không phải lỗi chúng sanh kia.

Bởi chúng sanh có tánh viên giác, mà gặp thầy tà chỉ phương pháp tà thì họ tu thành tà thôi.

Phật nói tất cả chúng sanh đều chứng viên giác, thảy đều thành Phật; tức là ai tu về pháp thiền đốn ngộ, nói cách khác là thiền đốn giáo, cũng đều thành Phật, vì bên trong có Phật tánh. Nhưng tại sao có rất nhiều kinh điển mà chỉ duy nhất Kinh Viên Giác chia ra 5 chủng tánh: Phàm phu chủng tánh, Thanh văn chủng tánh, Bồ-tát chủng tánh, Bất định chủng tánh, Ngoại đạo chủng tánh. Vì sao có chủng tánh ngoại đạo?

Bởi gặp những tà sư nên thành tà ngoại, đây là lỗi lầm của thầy tà, chẳng phải lỗi lầm Phật tánh của chúng sanh.

Nếu biết mình tu sai mà sửa thì thành chánh quả.

Ban đầu Đức Phật tu, Ngài biết tu sai. Năm năm tầm đạo, sáu năm khổ hạnh, Ngài biết tu như thế không đúng, chưa phải chánh ngộ nên từ bỏ; chớ không phải thấy sai mà vẫn tiếp tục. Mình tu sai mà không hổ thẹn, không tàm quý mà còn phỉ báng chánh pháp thì đó là lỗi lầm khi gặp thầy tà, gọi là chủng tánh ngoại đạo.

Phật tánh là vô nhiễm; Tu pháp gì, Phật tánh cũng không có nhiễm. Nên khi gặp được thầy chánh, tu cũng đắc đạo, hay ở chỗ đó. Lớn lên, gặp chánh pháp là cái duyên mình thù thắng, không bị mất thời gian. Bỏ thời gian dài tu không đúng pháp thì uổng phí một đời.

Ngày xưa, chúng tôi ham tu thiền, ban đầu gặp vị thầy nói tu thiền đắc quả thành Phật; nhưng khi biết pháp của Sư Ông rồi thì tôi biết pháp của vị thầy này là pháp tà. Tại sao biết là pháp tà? Bởi vì tu pháp đó, vào thất không được ăn cơm, chỉ uống nước lạnh; luyện chín ngày rồi bắt đầu nhân lên, chỉ ăn bông điệp; đó mới là luyện cơ bản ban đầu. Khi luyện cao hơn nữa, gọi là “ngũ lôi thần phù”, thì chỉ ăn bông điệp trắng, không ăn bông điệp đỏ, cho nên người hộ thất phải đi tìm. Lạ một điều, tu pháp chánh phải ba, bốn hoặc năm mươi năm; còn tu pháp tà chừng một, hai năm là có công dụng; cho nên học mới có ba năm là ra làm thầy rồi.

Tình cờ một hôm, tôi gặp vị Sư bà, hỏi thăm mới biết Sư bà học pháp với Sư bà Hải Triều Âm, mà Sư bà Hải Triều Âm lại có nhân duyên với Sư ông Trúc Lâm nên giới thiệu tôi vào Thường Chiếu tu. Tu ở Thường Chiếu mới biết rằng ngày xưa, mình tu trật lất. Tìm học đạo mà gặp thầy tu không đúng con đường chánh pháp, là lỗi ông thầy tà chỉ dạy. Học rồi biết đây là lầm lẫn không đúng, cho nên, khi vào Thường Chiếu tu thấy rất giá trị.

Không căn nào chẳng thu nhiếp, do gặp thầy thành thầy tà. Nếu bỏ trở về chánh thì không chẳng thành Phật. Do đó nói: Nhất xiển đề làm Phật là cái nghĩa này.

Tôn giả Xá Lợi Phất, tôn giả Mục Kiền Liên ban đầu đâu có gặp Phật. Một hôm, tôn giả Xá Lợi Phất thấy Ngài Mã Thắng đang đi khất thực, thấy oai nghi của Ngài, tôn giả Xá Lợi Phất đến hỏi đạo. Ngài Mã Thắng đọc bài kệ:

Các pháp từ duyên sanh, Cũng do duyên mà diệt, Thầy tôi là Đức Phật, Thường giảng dạy như vậy.

Nghe xong bài pháp, giống như mây vẹt khỏi mặt trời, tôn giả Xá Lợi Phất tức khắc vào sơ quả Tu Đà Hoàn, tức là bước vào dòng thánh, pháp nhãn thanh tịnh mở ra. Tôn giả về gặp Mục Kiền Liên, vừa gặp là

Mục Kiền Liên biết sư huynh đã được pháp nhãn, vì khi được pháp nhãn rồi thì ngũ quan chuyển khác. Khi tôn giả Xá Lợi Phất đọc lại bài kệ các pháp từ duyên mà sanh khởi, chứ không có vị nào tạo ra thế giới này, tôn giả Mục Kiền Liên cũng tức khắc chứng sơ quả.

Sau đó, hai Tôn giả về gặp vị Thầy Phạm Chí Bà La Môn từng theo học: “Thưa Thầy, xưa giờ chúng ta tu không đúng, nay có một vị Phật ra đời, thôi chúng ta đến nương.” Vị Thầy không đồng ý, hai tôn giả đành bỏ đi. Năm trăm đệ tử của vị thầy này cũng đi theo hai Tôn giả.

Ba anh em tôn giả Ca Diếp thờ thần lửa. Khi gặp Phật, được Phật khai thị rồi thì thức tỉnh đi theo Đức Thế Tôn. Một ngàn mấy trăm vị thờ thần lửa, gặp Phật, tu cũng chứng quả A-la-hán.

Khi gặp được vị chánh ngộ, ví như đi trên sa mạc, gặp giếng nước, mặc dù không phải giếng nước ngọt nhưng vì khát quá nên phải uống. Đi một đoạn đường nữa gặp con sông lớn. Uống nước sông lớn rồi, không bao giờ trở lại uống nước giếng.

Cũng vậy, trên bước đường tầm cầu đạo giác ngộ, lỡ gặp thầy không chánh ngộ, ban đầu cũng là cái ơn của ông, nhờ ông mà mình tìm tòi chân lý. Khi gặp được giáo pháp chân lý của Đức Phật, giống như con sông lớn, luyện mình trong con sông đó mà vẫy vùng.

Uống nước sông rồi, người này không bao giờ trở lại uống nước giếng.

Cho nên trong Kinh nói: “Nhất-xiển-đề đoạn thiện căn mà Phật tánh không đoạn”. Nhất-xiển-đề giống như hạt giống rang, gieo xuống đất không bao giờ mọc. Nhất-xiển-đề là không tin Phật, không tin Pháp, không tin Tăng. Họ không bao giờ tin Tam Bảo mà còn phỉ báng, gọi là đoạn thiện căn.

Đặc biệt Kinh điển của Đại Thừa, đoạn thiện căn nhưng Phật tánh không đoạn.

Khi Kinh Đại Niết Bàn từ Ấn Độ qua Trung Quốc, hai quyển đầu chưa nói “nhất-xiển-đề đoạn thiện căn mà Phật tánh không có đoạn”, cho nên những vị Thầy ở bên Trung Quốc khẳng định rằng: “Nhất-xiển-đề là thiện căn đoạn, Phật tánh cũng đoạn luôn”.

Khi Ngài Đạo Sinh, đệ tử lớn của Ngài Cưu Ma La Thập, lên giảng: “Nhất xiển đề đoạn thiện căn mà Phật tánh không đoạn”, thì các vị Hòa thượng lớn nói Ngài giảng tà đạo, rồi đuổi Ngài ra khỏi nước. Ngài phát nguyện: “Nếu đời này mà Đức Phật xác chứng: Nhất-xiển-đề đoạn thiện căn mà Phật tánh không đoạn, thì mai này khi lên pháp tòa, giảng dứt lời tôi sẽ tịch trên pháp tòa”.

Sau khi bị đuổi, Ngài vào trong núi Hổ Khâu.

Trong núi không có người nghe giảng, một hôm Ngài sắp đá thành hàng dài làm thính chúng. Ngài nói: ‘Này các ông, Nhất-xiển-đề tuy đoạn thiện căn mà Phật tánh không đoạn, có phải vậy không?’ Đá gật xuống một cái. Cho nên có tích: “Đạo Sinh thuyết pháp, thạch ngoan gật đầu.”

Khi Ngài Đàm Vô Sấm từ bên Tây Vực đem qua hai cuốn Kinh Niết Bàn đoạn sau, trong đó Phật khẳng định: “Nhất-xiển-đề, tuy đoạn thiện căn mà Phật tánh không đoạn”, Ngài Đạo Sinh được mời về giảng. Khi giảng đến đoạn này, Ngài giơ phất tử lên, tịch trên pháp tòa luôn. Có tích, vào ngày Ngài tịch, con rồng trong ngôi chùa ngày xưa Ngài ở, phá bức vách bay lên hư không, lúc này người ta mới biết Ngài đã bước vào con đường Thánh quả. Lúc đó, cả nước để tang Ngài.

Nhất-xiển-đề tuy đoạn thiện căn mà Phật tánh không có đoạn, không có mất, bởi vì Phật tánh vô nhiễm. Tại sao không nhiễm? Vì Phật tánh vô tướng, cái gì vô tướng thì không nhiễm. Chẳng hạn, mình nhổ nước bọt vào vách thì vách dơ, nhưng nhổ vào hư không, nước bọt rớt xuống mặt lại, chứ hư không vô nhiễm.

Phật dạy:

Này Thiện nam tử! Bồ-tát chỉ tùy phương tiện đại bi vào các thế gian, mở bày cho những người chưa

ngộ, cho đến thị hiện các hình tướng hoặc cảnh giới nghịch, hoặc cảnh giới thuận, cùng với những người kia đồng sự để giáo hóa khiến cho họ thành Phật, đều y nơi nguyện lực từ vô thỉ.

Nếu biết không đủ nguyện lực thì đừng vào trần lao này; còn đủ nguyện lực rồi vào trần lao gọi là vô nhiễm. Tức là hiện thân trong cõi trần lao, hòa (đồng sự là hòa) mà không có tan, là phải y nơi nguyện lực từ vô thỉ. Khát ái vô nhiễm thì mới vào trần lao được, nếu biết bản thân còn thì phải thu thúc.

Sở dĩ Phật nói đoạn này vì đoạn trước Bồ-tát Di Lặc hỏi: “Bồ-tát lợi sanh vào trần lao có bao nhiêu phương tiện?” Phật nói rằng: “Bồ-tát lợi sanh có rất nhiều phương tiện giáo hóa độ sanh”. Bồ-tát vào cuộc đời này nhiều lắm, mà chỉ lấy một pháp. Vào thế giới trần lao mà không có pháp này thì không có đủ điều kiện, không có đủ năng lực, diệu lực để làm lợi ích chúng sanh.

Bồ-tát dùng rất nhiều phương tiện mà duy chỉ lấy đại bi làm đầu, thứ hai là lấy đại nguyện thu thúc và lấy đồng sự nhiếp để giáo hoá. Đây pháp môn diệu hạnh của chư Bồ-tát từ hàng Đẳng giác lên Diệu giác.

Các vị Thánh tăng tại sao các Ngài để lại xá lợi, hoặc như Ngài Lục Tổ Huệ Năng để lại nguyên thân tướng, gọi là kim cương bất hoại? Chùa Đậu ở miền Bắc có Bồ-tát Vũ Khắc Minh, Vũ Khắc Trường để lại

nhục thân; Ngài Hám Sơn, Ngài Đơn Điền, các Ngài đều để lại nhục thân hết.

Là do khi các Ngài có nguyện lực đại bi làm chủ, tự nhiên tuyến tụy tiết ra chất bọc lại các khớp xương. Đại bi nhiều chừng nào, chất này tiết ra nhiều chừng đó. Xương này, sau khi trà tỳ, kết tinh lại, có nhiều màu sắc, gọi là xá lợi.

Nếu chúng ta tu mà không có lòng từ, không có lòng thương thì làm Phật sự không được. Buổi sáng 3g15 ai cũng ngồi thiền, nhưng những người nấu ăn cho đại chúng người ta ngồi không được. Hoặc giờ đại chúng nghỉ ngơi, thầy Tri khố vẫn cặm cụi làm. Nếu không có lòng thương là nản, làm không được.

Tôi hay nói đồng tiền người ta làm ra rất là cực, mà người ta mua chả cúng dường, người ta gọi điện đến nhận mà mình phiền não, cau có là không phải người tu. Chúng ta ở rừng núi xa xôi, người ta không đến thiền viện được, cho nên khi đi giảng, tôi đến tận nơi nhận. Tài xế nào chở tôi mà phiền não: “Sao thầy không về luôn mà đi vòng vòng?”, tôi thấy người này không có lòng đại bi, rất là khó tu.

Không phải hiểu Phật pháp, thiền định là ngộ, không bao giờ có. Khi phát nguyện lực, phát đại bi, nghiệp bắt đầu giảm thì tu mới được.

Cho nên, tôi nói với huynh đệ trường trung cấp:

Việc tu này không phải chuyện thường. Tại sao người ta cung kính, lễ lạy mình? Mình tưởng vào tu cạo tóc là xong, là cái hình tướng ban đầu thôi. Không có sức chuyển hóa là “hình đồng sa-di”. Cạo tóc, đắp y mà không tu, tôi khẳng định là “hình đồng tỳ-kheo”. Hình đồng là gì? Giống ông thầy mà không giống. Ông cạo tóc, đắp y nhìn giống thiệt mà cái tâm đâu có giống, bởi vì tâm ông cau có, bực tức. Tu như thế uổng một kiếp người, sau này làm lợi ích chúng sanh sao được, vì không có diệu dụng.

Pháp diệu hạnh này nằm trong Tứ Nhiếp Pháp: Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, Đồng sự.

  1. Bố thí: Tài thí có ngoại tài, nội tài. Ngoại tài là bố thí tiền bạc, của cải; nội thí là phục vụ cho chúng, làm lợi ích cho chúng. Bố thí phải kèm ái ngữ.
  2. Ái ngữ: Lời nói từ ái, nhu nhuyến, thanh tịnh. Chẳng hạn bố thí cho người ăn mày gói xôi, mà ném vào người họ, rồi nói: “Ăn đi”, thì dù có đói sắp chết, họ cũng không ăn.

Hòa thượng Tinh Vân xây nhiều thiền viện, ban đầu, người ta đến rất đông. Sau Ngài giao lại cho đệ tử. Ba năm sau đó, Ngài đến thấy vắng tanh. Thì ra là do người giữ thiền viện cộc cằn, thô lỗ. Đừng có bắt chước Tế Điên Hòa thượng. Người ngộ đạo chửi mắng, làm cho người ta ngộ đạo; còn ta chửi, họ bỏ đi hết. Diệu dụng không có nên đừng bắt chước.

Hòa thượng Tuyên Hóa nói: “Mấy ông đừng có thử người ta, mấy ông thử mấy ông đi. Tôi còn chưa dám mắng chửi chúng, mấy ông là gì mà chửi mắng chúng!”. Tôi ở Trúc Lâm nên biết, ai nói nặng lời với chúng là Hòa thượng Trúc Lâm đuổi. Hòa thượng kỵ nhất là to tiếng với nhau. Cho nên, huynh đệ mình sau này ra làm trụ trì hoặc coi chúng thì phải biết điều này.

Khổng Tử nói: “Nước đục quá cá chết, nước trong quá thì cá nổ con mắt”. Việc mình ra giáo hóa chúng sanh cũng như thế. Có những người nhiều đời tu ái ngữ, nên người ta nói là thu nhiếp chúng, chẳng hạn như Sư Ông, Sư phụ Thường Chiếu, là nhiều đời các Ngài tu hạnh ái ngữ, tu về khẩu nghiệp.

Bồ-tát có nhiều phương tiện, nhưng phương tiện ban đầu là bố thí cho người nghèo khổ, mà phải đi kèm ái ngữ. Ngày xưa, tôi hay đi làm từ thiện, người ta giành giật mà mình chửi là mình dở. Tại sao người ta giành? Vì họ đói, họ sợ mất phần. Họ thiếu mới giành. Có ông nhà giàu nào vào giành miếng gạo? Những người giành từng miếng gạo, từng gói mì, họ đã đói nhiều ngày, nhiều tháng rồi. Cho nên, mình phải từ tốn, nhỏ nhẹ: “Quí vị đừng có lo, có đủ hết, thiếu, chúng tôi sẽ mua thêm liền.”

  1. Lợi hành: Hành động tạo ra lợi ích thiết thực cho người khác, giúp đỡ họ trong công việc và cuộc

sống, khiến người khác tin tưởng và nể phục.

  1. Đồng sự: Cùng chung vai sát cánh, đồng cam cộng khổ, chia sẻ công việc và đời sống với mọi người.

Nếu chẳng phải là nguyện lực thôi thúc, mặc nhiên đồng sự thảy đều là đọa lạc, nên cần yếu điều y nơi nguyện lực thanh tịnh từ vô thỉ.

Cho nên Ngũ Minh, phải là Bồ-tát Thập Địa mới dám làm. Ngũ Minh trong đó có Y phương minh, nói khác hơn là những vị bác sĩ phải có nguyện lực mới làm được. Khi thị hiện làm thầy thuốc là phải nhớ lại nguyện lực thanh tịnh từ vô thỉ, tức là vô nhiễm mới làm, chứ tâm còn nhiễm chút xíu cũng không được làm thầy thuốc. Mấy ông thầy không chịu lưu ý điểm này, cho nên làm là đoạ lạc liền.

Trong Mười Bức Tranh Chăn Trâu, bức thứ chín là trở về gọi là “phản bổn hoàn nguyên”:

Phản bổn hoàn nguyên chỉ phí công, Đâu bằng thẳng đó tợ mù câm, Trong am chẳng có ngoài vật khác, Nước tự mênh mông hoa tự hồng.

Là nhập Phật giới. Khi nhập Phật giới rồi phải ở trong chúng ba hoặc bốn mươi năm, chứ ra làm Phật sư liền là không được. Phải ở yên trong chúng, ở cùng với chúng, rồi bắt đầu ra vào, thu nhiếp, thấy được rồi mới bung ra.

Bức tranh thứ mười:

Chân trần bày ngực thẳng vào thành, Tô đất trét bùn nụ cười thanh,

quyết thần tiên không cần nữa, Cây khô cũng khiến nở hoa lành.

Gọi là nhập Ma giới, và phải nhớ nguyện lực.

Bồ-tát vào trần lao độ sanh chỉ dùng đại bi và phương tiện thị hiện các loại hình tướng, hoặc thuận, hoặc nghịch tùy thời.

Đại chúng đến những ngôi chùa có thờ ông Tiêu Diện Đại Sĩ, là ba mươi hai ứng hóa thân của Bồ-tát. Ổng le cái lưỡi dài, cầm cây cờ; là bởi vì cô hồn, ngạ quỷ vất vưởng, đến ăn họ giành giật, cho nên Ngài đứng ra thu nhiếp những loài này, rồi bắt đầu mới phân phát thức ăn.

Ngài Vân Môn ba lần thưa hỏi đạo lý với Ngài Trần Tôn Túc, bị đóng cửa dập nát bàn chân, ngay giờ phút đó ngộ đạo. Đó là thị hiện cảnh giới hoặc là thuận hoặc là nghịch, tùy thời. Phải nhớ là thị hiện cảnh nghịch với điều kiện làm cho người ta ngộ đạo chứ không để cho người ta nổi sân hận. Cho nên, thuận nghịch gì cũng là diệu lực của hàng Bồ-tát

Kế nữa, người đại bi thể giáo hóa rộng cùng khắp.

Nếu mình có lòng từ, chẳng hạn như Sư phụ Thường Chiếu, Ngài giáo hóa rộng cùng khắp. Chỉ

việc nuôi chú tiểu, tiểu nhỏ phá khủng khiếp, nếu không có lòng thương thì dạy không được. Báo Giác Ngộ đăng, có ông thầy nuôi chỉ một, hai chú tiểu thôi, mà lì quá, ông chịu hết nổi, bữa nọ, ông lấy thau nước nóng, nhúng hai bàn tay chú tiểu vào.

Bởi vì không có lòng từ, nếu lòng từ chưa đủ, đừng có nuôi, lòng từ đủ rồi thì mới nhận tiểu nhỏ về nuôi. Mấy đứa nhỏ phải chạy nhảy, phải giỡn, ngồi một chỗ không giỡn không cười là biết nó bệnh rồi. Có lòng từ rộng khắp mới có thể làm lợi ích nhiều người.

Sư phụ Thường Chiếu nuôi tiểu, bây giờ thành tựu: Nuôi từ Thường Chiếu, xong lớp 12 đưa lên Trí Đức, lớn thêm một chút, cho học Trường Thiền. Quá là thành tựu.

Nơi nào có tăng chúng tu học, cúng dường không có uổng. Đại chúng cứ tu đi, nhưng nhớ một điều, khi ở trong chúng phải có bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự có đủ, vì cùng ở với nhau mà nếu thiếu ái ngữ là chúng loạn.

Cho nên, những người làm công trong thiền viện này mà la rầy người này người kia là tôi mời đi. Thà cây cỏ chết, chứ không vì công việc mà giữ họ. Không tu là không ở được. Để cho những người đó ở là mình giết họ, bởi vì tạo pháp ác.

Thiền viện là chỗ chuyên tu, không phải chỗ du

lịch. Sở dĩ, làm cảnh, cây kiểng cho đại chúng, thứ nhất là mát, thứ hai là dương khí mạnh, thứ ba nữa là nhiều khi buổi chiều đi dạo cho nhẹ bớt một chút, là xả ly để tối tu được.

Phần này, tôi nêu lên cho đại chúng thấy: Mình làm gì cũng phải có ái ngữ, có lòng đại bi, thì chúng ở mới được. Không có lòng từ nói lải nhải hoài. Người ta bị một chuyện mà nói từ sáng tới chiều, người ta không ở được. Không có đại bi thì giáo hóa không cùng khắp.

Có phương tiện thì nhất định sẽ hợp cơ nghi, mà không có phạm lỗi.

Kinh Tư Ích nói:

Chúng sanh thế gian không biết thế gian, Bồ-tát thế gian biết tướng thế gian. Thế gian tướng như không, hư không thì vô tướng, Bồ-tát biết như vậy nên không nhiễm thế gian.

Bởi vì chúng ta không biết thế gian, cho nên mới bị nhiễm, nhiễm về tài, sắc, danh, thực, thùy; còn Bồ-tát biết thế gian là hư không, là rỗng, nó không có thực thể. Không có thực thể thì vào trần lao các Ngài không có nhiễm.

Chẳng hạn như người làm nhà khách, biết tất cả các pháp là mộng là huyễn, đủ điều kiện hướng dẫn người đến. Cho dù người đó làm điều gì mà không

phạm nặng vào quy chế, thì có thể dìu dắt họ từng bước, từng bước.

Luận Đại Thừa Khởi Tín, Bồ-tát Mã Minh dạy:

Hoặc là làm quyến thuộc, hoặc là làm bạn bè, hoặc là làm oan gia, đều để giúp chúng sanh tăng trưởng căn lành; dầu thấy, dầu nghe cũng đều là lợi ích.

Ngài Hám Sơn khi ngộ đạo rồi, một hôm, Ngài lên một chiếc thuyền. Thấy Ngài, người chèo thuyền lật đật kéo nón xuống che mặt. Ngài đến giở nón người chèo thuyền lên thì phát hiện là thầy Bổn sư của mình.

Ngày xưa, bên Trung Quốc, đến các đạo tràng lớn để học pháp hiếm lắm. Thường thì cha mẹ gửi con vào các chùa quê để xuất gia. Thầy cạo tóc xuất gia cũng là thầy Bổn sư.

Thấy thầy Bổn của mình chèo đò, để tóc, Ngài bắt quỳ xuống, cạo tóc, đắp y rồi truyền mười giới sa-di tại thuyền, bắt về chùa lại.

Chỉ có bậc ngộ đạo mới làm được.

Đặc biệt nhất là thị hiện oan gia, trái chủ.

Ngài Hám Sơn đi xuất gia lúc đó mới bảy, tám tuổi.

Lên chùa, nhớ mẹ về thăm, bà mẹ đứng ngay cửa nói:

Ông về thăm tôi nữa tôi liệng ông xuống sông.

Bởi vì có lần Ngài bỏ học, bị mẹ nắm liệng xuống sông một lần rồi, nên Ngài sợ quá, đi tu, đắc quả luôn.

 

 

 

Cho nên, Ngài nói, tu đắc đạo là nhờ mẹ. Trong Kinh Niết Bàn nói, thân giống như oan gia nhưng tâm là đại Bồ-tát.

Hoặc là hiện thân của Bồ-tát Quán Thế Âm, hoặc là hiện thân các vị Thiền sư, hình tướng tuy là khác, nhưng mà cái tâm thì đồng nhất. Các Ngài dù làm gì cũng đều khởi lòng từ.

Thiền sư Đạo Ngộ, một hôm dẫn đệ tử lớn là Thiền sư Tiệm Nguyên đi làm đám tang. Thiền sư Tiệm Nguyên đến gõ vào quan tài nói:

  • Sanh phải hay tử phải? Xin Thầy trả lời. Ngài Đạo Ngộ:
  • Không bao giờ tôi trả lời câu này. Ngài Tiệm Nguyên:
  • Hòa thượng trả lời không? Không trả lời con đánh Hòa thượng.
  • Đánh thì đánh, không trả lời không trả lời.

Sau khi bị Ngài Tiệm Nguyên đánh sưng mắt, Thiền sư Đạo Ngộ nói:

  • Tôi thì bỏ qua, nhưng về thiền viện thế nào ông tri sự cũng hỏi. Tôi tu không nói dối được, tôi nói Tiệm Nguyên đánh tôi thì chúng họ không tha ông. Thôi ông đi đi.

Ngài Tiệm Nguyên khóc, từ giã thầy mình.

Một hôm đang trong thiền thất, Ngài nghe tụng Kinh

Phổ Môn: “Hoặc hiện Phạm Thiên Vương, hoặc hiện La Môn, hoặc hiện ngoại đạo, hoặc hiện Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di…” ngay tức khắc Ngài ngộ đạo.

Vì lòng đại từ bi của Bồ-tát ứng hiện, chứ thật ra không có sanh cũng không có tử. Sống chết với cặp mắt của thiền sư là tùy duyên. Đủ duyên vào cuộc đời này giáo hoá, hết duyên ra đi. Các Ngài “từ hư không về hư không” làm gì có sanh tử.

Ngài bày hương án, Ngài khóc, hướng về Thiền sư đảnh lễ. Ngài quyết định về trình để thầy ấn chứng, nhưng thầy đã tịch. Ngài hỏi huynh Ngài Thiền Thạch Sương:

  • huynh, tiên tịch lời không? Thiền sư Thạch Sương nói:
  • Khi tịch Ngài có lời, đợi khi nào ông ngộ đạo, ông về đây, tôi ấn chứng cho ông.

Ngài Tiệm Nguyên mới trình ra cho Ngài Thạch Sương ấn chứng.

Khi Bồ-tát tu nhân, nhất định là phát nguyện độ sanh, nay nương nguyện lực này, nên ở nơi nào sanh ra đều không bị lui sụt.

Bởi vì Bồ-tát đời nào các Ngài cũng phát nguyện độ sanh, nhưng ở bất cứ quốc độ nào các Ngài cũng không có lui sụt. Vì sao không lui sụt?

Nếu tâm có mỏi mệt liền nhớ nguyện xưa để tự thúc giục thân tâm.

 

 

 

Làm Phật sự mệt mỏi quá, tự nhiên nhớ lại cái nguyện xưa. Nếu đời trước không phát nguyện, đời này chúng sanh không có cần mình. Mà bây giờ nơi nào chúng sanh cần, tức là đã có nguyện lực đời trước, mình đã phát nguyện với họ, thì cái tâm hết mỏi mệt. Đại chúng làm việc Phật sự mỏi mệt lắm chứ không sướng ích gì, mà nhờ nguyện lực xưa thúc giục nên hết mệt.

Các hành động hoàn toàn không nương vào tình thức chỉ nương vào nguyện lực thì không sa đọa.

Làm tất cả các việc Phật sự là phải nương nguyện lực. Nếu rời nguyện lực mà làm bằng tình thức, gọi là “tình sanh thì trí cách”, sẽ bị sa đọa. Làm các việc Phật sự là vào trong trần lao, nhiều phức tạp, chỉ nương nguyện lực thì thành tựu, nương vào tình thức tức là bị sa đọa.

Phật dạy tiếp:

Nếu tất cả chúng sanh đời mạt pháp, đối với viên giác mà khởi tâm tăng thượng, thì nên phát đại nguyện thanh tịnh của Bồ-tát như sau: “Con phát nguyện ngày nay trụ nơi viên giác của Phật, cầu mong gặp thiện tri thức, không gặp ngoại đạo và nhị thừa, theo nguyện tu hành dần dần đoạn trừ các chướng.”

Đời mạt pháp là đời của chúng ta đang sống đây. Khởi tâm tăng thượng là làm tất cả các việc thiện

pháp thiện sự, độ bao nhiêu chúng sanh trong đời này, đều khởi tâm là để thành Phật. Không vì một chút phước này mà phát nguyện sanh lên cõi trời, cõi người, hoặc là Thanh văn, hoặc là Duyên giác, hoặc là Bồ-tát quyền thừa, mà chỉ có mục đích là cần cầu quả Phật. Chúng ta phải phát nguyện bất cứ đời nào cũng gặp thiện tri thức.

Trong bài Sám pháp ở các chùa người ta hay đọc: Nguyện:

Sanh phùng trung quốc, Trưởng ngộ minh sư, Chánh tín xuất gia, Đồng chơn nhập đạo.

Theo nguyện lực nhiều đời tu thì chướng dần dần hết, chướng hết thì đắc quả.

Đoạn trước nói về đại bi để độ sanh. Đoạn này nói về đại trí cầu Bồ-đề.

Độ sanh, không vì độ sanh để hưởng phước, mà để cần cầu quả Phật. Cho nên đoạn này nói dùng đại trí cầu Bồ-đề, tức là cầu thành Phật. Tâm tăng thượng là tâm gì? Tức là tâm quyết định hướng đến viên giác để thành tựu quả Phật.

Thực hành tất cả các hạnh để mau đạt đến Bồ-đề, nếu không có sức nguyện thì phần lớn sẽ bị lui sụt, vì quyết định không hướng đến đường khác.

Chúng ta phát nguyện lực gặp pháp đốn giáo tu hành, bất cứ đời nào cũng gặp pháp này chứ không bao giờ gặp pháp khác. Quyết định như thế thì đời nào sinh ra cũng gặp, mà phải nương nguyện lực.

Nương nguyện lực tu hành cũng chính là nói tất cả những việc làm không y vào thức tình, chạy theo ý niệm, chỉ nương nguyện lực mà thúc giục, tăng trưởng và lớn mạnh để thành tựu con đường Phật quả. Nguyện đầy đủ bi trí tức là tâm Bồ-đề thành tựu.

Do đó, Thiền sư Tĩnh Am dạy:

Nên biết tội nhân ở trong địa ngục còn phát Bồ-đề tâm từ lượng kiếp. Chúng ta hàng Phật tử, chẳng lập đại nguyện đời này được hay sao?

Ngài nói những người rớt xuống địa ngục mà họ gặp đủ nhân đủ duyên còn phát nguyện.

Khi Đức Phật còn nhân địa trong cõi người, Ngài bất hiếu với mẹ nên rớt xuống địa ngục, đội cái vòng lửa. Ngài hỏi người cai ngục:

  • Chừng nào cái vòng lửa này của tôi mất?
  • Chừng nào có một người bất hiếu giống như ông xuống thay thế.

Ngài ngửa mặt lên, phát nguyện đừng chúng sanh nào bất hiếu giống như Ngài, Ngài thay thế chúng sanh đội vòng lửa đời đời, kiếp kiếp luôn. Vừa phát nguyện Ngài sanh lên cung trời liền.

Nguyện lực lạ lắm, khi phát nguyện hy sinh làm cho đại chúng thì không thấy mệt.

Khi phát nguyện lực tu theo viên giác sẽ dần dần đoạn trừ các chướng. Có nghĩa là khi thể nhập viên giác rồi, bắt đầu tu từng bước, lý thì đốn ngộ, mà sự là phải tiệm tu, dần dần trừ mới hết.

Chướng mà dứt sạch thì giải thoát. Nguyện đầy đủ thì chứng đại viên giác tịch diệt.

Phật dạy tiếp:

Bấy giờ, con bước lên điện pháp thanh tịnh giải thoát, đạt đến cõi Đại viên giác diệu trang nghiêm.

Ở trong chúng, người nào cứ lục đục với chúng, là người đó chướng nặng. Sống không hòa hợp, không an yên, tâm cứ trạo cử, đi tới đi lui thấy người nào cũng xấu, cũng dở, là bị chướng rồi. Thấy người ta chướng, bây giờ nghiệm lại, xem mình chướng nhiều hay ít. Chướng nhiều thì phải sám hối nhiều. Do tập khí nhiều đời, gọi là huân. Đời quá khứ, toàn huân chuyện gì đâu, khi vào thiền viện bắt đầu xì ra, gọi là chướng.

Rất đơn giản, chướng dẹp rồi thì đắc quả, ngộ đạo. Chướng sạch rồi, đi, đứng, nằm, ngồi nơi nơi đều giải thoát, cho nên dụ là “đều ở trong pháp điện thanh tịnh của Đức Phật”. Đi bất cứ nơi đâu cũng ở trong đại điện tịch diệt viên giác.

Nguyện đầy đủ thì chạm mắt, đối cảnh, tất cả đều là viên giác diệu tâm, cho nên dụ cho tòa thành đại trang nghiêm.

Nguyện lực đầy đủ thì chạm mắt, đối cảnh đều là viên giác. Chướng sạch là tu tự lợi. Chướng sạch rồi, đủ nhân duyên ra giúp đỡ cho người khác gọi là nguyện đầy đủ. Khi ở trong chúng, mình phục vụ, làm việc cho đại chúng là không có mất. Nguyện đầy đủ, vuông tròn rồi, nhập thất hay làm gì cũng an ổn.

Ở Trúc Lâm, có ông thầy nhập thất lúc nào cũng bể thất. Ông là thầy lớn, không ai dám nói. Bữa nọ làm chung với ông, tôi nói: “Ông nhập thất không được là vì ông khó dễ với chúng quá.” Khi mình khó dễ với chúng, vào trong thất, mình tu không được. Người ta là người trí, mới đi xuất gia. Cho nên, đại chúng nhớ một điều: Khi ở chúng là phải hòa hợp an yên.

Hồi tôi ở Thường Chiếu, có ông thầy cũng khó dễ với chúng lắm. Tôi nói: “Thầy tu lâu rồi thầy phải có tâm từ với chúng, chứ thầy cứ khúc mắc, cằn nhằn hoài vậy!”. Ông nói: “Ông có nghe người ta nói ma cũ ăn hiếp ma mới không?” Tôi nói: “Thầy sai rồi, người ta vào tu để thành Phật, thầy tu thầy muốn làm ma sao? Thầy nói ma cũ ăn hiếp ma mới, vậy thầy là ma đó! Thầy nghiên cứu kỹ đi, không có ông Phật nào nói Phật cũ ăn hiếp Phật mới hết. Phật cũ

thương Phật mới. Ông vào trước, là đàn anh ông phải thương người sau mới là Phật.”

Khi nguyện mình đầy đủ rồi, tu an lắm. Mà nguyện lực đầy đủ là gì? Là cái tâm phải bao dung, dung nhiếp. Người đi trước, không có tâm bao dung, không có tâm dung nhiếp là không có tu được, vì nguyện chưa đầy đủ. Ở đây, nói là nguyện đầy đủ rồi thì chạm mắt, tiếp xúc đều ở trong cảnh trang nghiêm tịch diệt, chứ không phải là cõi ta bà nữa. Sướng vậy! Sao chúng ta không tu? Đã từ bỏ cha mẹ, thân bằng quyến thuộc, tất cả mọi cái bỏ hết rồi. Bây giờ hiểu Phật pháp phải ráng cố gắng.

Bấy giờ, Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Di Lặc Thầy nên biết Tất cả các chúng sinh

Không được đại giải thoát Đều do tham dục vậy.

Nếu hay đoạn thương ghét Và cả tham sân si

Chẳng do tính sai biệt Đều thành tựu Phật đạo. Hai chướng hằng tiêu trừ Cầu Thầy được chánh ngộ Tùy thuận nguyện Bồ-tát Nương tựa Đại Niết-bàn.

 

 

Đoạn cái chướng là thương và ghét, là tham, sân, si, thì không có tính sai biệt nằm trong đó, đều thành tựu Phật quả.

Các Bồ-tát mười phương Đều dùng nguyện đại bi Thị hiện vào sanh tử.

Hiện tại người tu hành Và chúng sanh đời sau Siêng năng đoạn ái kiến Liền về đại viên giác.