Chương 1: Bồ Tát Văn Thù Thưa Hỏi

CHƯƠNG 1: BỒ TÁT VĂN THÙ THƯA HỎI

Oai nghi thưa hỏi:

Ở trong đại chúng, thường mỗi khi xin đi đâu, chẳng hạn như đi về nhà, đi khám bệnh thì chỉ cần mặc hậu. Nhưng khi hỏi đại pháp, khi nghi vấn chỗ nào thì phải đắp y, hậu y đàng hoàng lên trình Hòa thượng hoặc trình Thầy Trụ trì, trình người có trách nhiệm để chỉ dẫn pháp.

Khi ấy Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi ở trong đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy.

Chỗ này vào cái lý hơi sâu. Từ chỗ ngồi đứng dậy nghĩa là Bồ-tát cùng với tất cả phàm thánh đồng trụ trong các pháp hội bình đẳng.

Tại sao Ngài đứng lên thưa hỏi? Muốn rõ cái nhân để tu tập là mình phải trở về căn bản trí. Ở đây, có một ý nữa là từ thể pháp Không, tức là từ căn bản trí, mà khởi ra đại dụng từ bi cứu độ cho hàng căn cơ đời sau. Lợi ích đương cơ rồi đến hàng căn cơ đời sau, là đời mạt thế sau này, biết pháp này để nắm bắt tu. Tức là Ngài từ pháp Không là cái thể, khởi ra cái đại dụng. Cho nên, có những vị ở trong pháp hội thưa hỏi những câu ai cũng biết, nhưng mà hỏi cho những người đời sau nắm bắt pháp tu tập.

Đảnh lễ dưới chân Phật.

Dùng cái đầu tối tôn của mình để lễ lạy đôi chân của Phật, đó là tâm tôn kính cùng tột. Cung kính là ý nghiệp, nhưng ý nghiệp không hình tướng nên phải dùng thân miệng để biểu hiện ra hình tướng.

Cho nên, khi ngài Pháp Đạt đến lễ Lục Tổ đầu không sát đất. Tổ nói: “Đừng có lễ, đầu không sát đất tức là tâm ông không cung kính. Như vậy là trong tâm ông chất chứa sự nghiệp gì?” Ngài Pháp Đạt thưa: “Con tụng một ngày một biến Kinh Pháp Hoa”. Tức là hơn Tổ, Tổ không biết chữ. Như vậy trong tâm Ngài Pháp Đạt còn cái gì lợn cợn là chưa phải tôn kính.

Phần này nhắc nhở khi sám hối. Tại sao có người sám hối được diệt tội mà mình sám hối không diệt được tội? Là do tâm, ý nghiệp người ta đối trước tôn tượng giống như Phật hiện hữu, là “năng lễ sở lễ tánh không tịch”. Còn mình lễ gật gật cho vui, không có tác động. Không lễ thì thôi chứ lễ là phải đầu sát đất, năm vóc gieo xuống đất để tỏ lòng tôn kính.

Vua A Dục gặp bất cứ Tỳ-kheo nào dù nhỏ hay lớn ông cũng đều lễ. Có ông quan đại thần nói: “Mấy ông Tỳ-kheo này có người ở trong hàng Thủ-đà-la, Phệ xá. Bệ hạ là bậc tôn quý, là bậc quân vương Sát- đế-lợi tại sao lễ lạy họ?” Vua A Dục không nói gì. Bữa nọ ông kêu các quan đại thần vào triều, sai mỗi người đem bán một cái đầu: Đầu heo, đầu bò, có cả đầu người. Quan đại thần nhận cái đầu người đem bán. Đầu heo, đầu bò có người mua, còn đầu người không ai dám mua. Vua A Dục nói: “Tại sao khi còn sống, không dùng cái đầu này lễ lạy các thầy Tỳ-kheo để tạo ra phước điền cho mình?” Từ đó, ông quan đại thần thức tỉnh.

Các vị Hòa thượng nhiều khi đâu có muốn cho mình lễ, lễ là các ngài tổn giảm. Nhưng các ngài vì thương xót chúng sanh cần cầu phước điền nên cho mình đảnh lễ.

Nhiễu theo chiều bên phải ba vòng, quỳ gối chắp tay mà bạch Phật rằng:

Nhiễu bên phải ba vòng là pháp tùy thuận của tâm. Tùy thuận có nghĩa là khi đến môi trường nào, mình theo quy chế người ta đưa ra, chẳng hạn 6g15 tụng kinh, 7g30 ngồi thiền mình tuân thủ theo. Mình chống trái tức là nhiễu bên trái chứ không phải nhiễu bên phải.

Nhiễu bên phải còn biểu thị cho nghĩa tùy thuận giác tính, gọi là tính biết. Chẳng hạn 6g15 tụng kinh mà đi chơi, người ta nói là vô minh, không sáng. Còn tùy thuận theo quy chế là sáng, có tánh biết, rồi mới phát khởi từ từ đi lên.

Bên phải nghĩa thuận chiều Niết-bàn, nghịch chiều sanh tử. Mình phát nguyện luôn luôn thuận theo con đường Niết-bàn, bỏ con đường sanh tử không đi nữa.

Ba vòng biểu thị Phật chỉ nhất thể đầy đủ ba thân hoặc là ba đức. Ba thân là pháp thân, hóa thân, báo thân. Ba đức là ân đức, trí đức và đoạn đức.

Ba vòng là biểu thị phát nguyện diệt ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Quỳ dài là thể hiện ý an nguy không thay đổi. An nguy là gì? Trên con đường tu tập chắc chắn sẽ gặp những nghịch cảnh khốn cùng, một là thời tiết, hai là nhân duyên. Chẳng hạn mình đang tu tốt thì bị nhiễm Covid 19, hãy bình thản, cứ uống thuốc, cứ ngồi thiền, cứ tu tập. Bữa, tôi ho quá ai cũng sợ khuyên đi chụp phổi, kết quả phổi bình thường. Bác sĩ giám đốc bệnh viện ở huyện này nói, quý thầy muốn phổi không bị tổn thương thì phải tập thở một ngày 5 phút. Tôi nói tôi tập thở hơn 30 năm rồi. Ho là ho trên phế quản, cổ họng thôi, còn phổi không bao giờ bị tổn thương. Gần đây, một vị làm bên y tế của nước Đức nói khi hít thở sâu thì có kháng thể đối trị phần nào con Covid này. Như vậy khi tu gặp nghịch duyên khốn cùng đến, ta cứ bình thản tu tập, tâm không thay đổi, không thối Bồ-đề tâm. Quỳ dài có ý nghĩa như vậy.

Chắp tay biểu thị cho nghĩa tin, hiểu hợp thể, tâm cảnh giao xen ngay trong giờ phút đó.

Đại bi Thế Tôn, nguyện Đức Thế Tôn vì các chúng đến nghe pháp trong hội này mà thuyết pháp hành nhân địa thanh tịnh bổn khởi của Như Lai.

Kinh Ba La Mật ghi:

Vì sao gọi là đại bi? Vì hay trừ gánh nặng, chỉ bày thắng nghĩa, cùng vì thành tựu cho hữu tình trụ nơi pháp tính.

Chúng sanh bị gánh nặng chấp ngã, gánh nặng chấp pháp, gánh nặng trên con đường sinh tử. Phật dùng đại bi, dùng năng lực, nguyện lực, Ngài tìm cách gỡ những thứ gánh nặng này ra, bỏ xuống hết.

Ông Phạm Chí Hắc Thị Tu thuyết pháp hay đến mức Trời Đế Thích cảm động. Bữa nọ khi ông thuyết pháp xong thì Trời Đế Thích khóc. Khi biết mình chỉ còn sống được 7 ngày, ông Phạm Chí Hắc Thị Tu lo sợ và liền nghe theo lời chỉ dẫn của vị Trời đi đến thành Xá Vệ để cầu Phật cứu. Trên đường đi, thấy cây ngô đồng ông hái 2 trái. Phật nghe ông trình bày xong liền bảo: “Buông!”. Ông buông trái ngô đồng bên tay phải xong, Phật lại bảo: “buông!” Ông tiếp tục buông trái ngô đồng bên tay trái. Phật vẫn bảo: “buông!”, ông nói hai tay đã buông hai trái ngô đồng rồi, không còn gì để buông nữa. Phật bảo: “Ta bảo ông buông là buông 6 trần, 6 thức.” Ngay tức khắc ông đốn ngộ, gọi là buông bỏ gánh nặng xuống.

Bổn khởi của Như Lai, đây chính là pháp căn bản phát khởi đầu tiên vào thời quá khứ của Phật.

Đầu tiên, Bồ-tát Văn Thù bạch Đức Thế Tôn: “Ngài tu pháp gì mà thành Phật, chỉ cho con và chúng sanh đời sau để y đó tu thành Phật.” Ngoài ra không có con đường nào khác, mình nắm bắt được thì cuộc đời mình từ đây hết khổ. Thành Phật mới hết khổ. Thành Phật mới trở về giác tính, giác tính thì an ổn tự tại, không có mê loạn. Chỗ này không diễn tả được, không nói được. Đây chính là pháp căn bản phát khởi đầu tiên vào thời quá khứ, không chỉ của một Đức Phật mà mười phương chư Phật. Nếu không y pháp này tu thì không thành Phật.

Và nói về Bồ-tát ở nơi Đại thừa phát tâm thanh tịnh, xa lìa các bệnh.

Thứ nhất: Nói cho các hạng Bồ-tát ở trong Đại thừa phát tâm thanh tịnh làm sao xa lìa các bệnh. Kế đến là hỏi về phát tâm lìa bệnh.

Thể của Đại thừa chính là bản giác và thỉ giác. Bản giác là cái có sẵn nơi mình, mà nếu không nhờ thỉ giác thì ngàn đời tu không được. Thỉ giác là cái giác mới, mà nhờ cái gì để nhận ra được thỉ giác này? Đầu tiên là nhờ chư Phật, kế là nhờ Thầy Tổ, kế nữa là môi trường tương ứng khế hợp để mình nhận ra

được rồi tu. Ví dụ, mình có bản giác sẵn, mình ra chợ làm thịt cá thì sao nhận ra được. Không có phút giây nào yên tịnh, năng lượng không phổ ra được, nên phải gần gũi thiện tri thức.

Ngài Thạch Đầu Hy Thiên đến Ngài Thanh Nguyên Hành Tư. Ngài Thanh Nguyên hỏi:

  • Từ đâu đến? Hy Thiên thưa:
  • Con từ Tào Khê đến.
  • Có cái đó không?
  • Chưa đến Tào Khê cũng chẳng mất. Ngài Thanh Nguyên nói:
  • Mặc tình dùng đi, đến Tào Khê làm gì?
  • Nếu con không đến Tào Khê thì đâu biết chẳng mất.

Ở nhà cũng có mà tìm không ra. Tuy có sẵn nhưng không gặp môi trường, không có điều kiện làm sao tu, làm sao phát khởi được? Nên đủ nhân, đủ duyên có môi trường thích hợp để tu, đó là phát tâm lìa bệnh. Hỏi về phát tâm lìa bệnh là chỗ này.

Cái ban đầu lìa bệnh chính là bản giác và thỉ giác. Bản giác có sẵn nhưng không có môi trường, không có điều kiện nên không nhận ra được, tu không được.

Thứ hai: Nay Bồ-tát từ trong tâm giác ngộ mà phát tâm.

Từ trong tâm giác ngộ mà phát, giống như Lục Tổ đến gặp Ngũ Tổ, Ngũ Tổ hỏi đến đây cầu làm gì, nói

cầu làm Phật. Từ trong tâm nhận ra được, biết rằng trong tâm mình có Phật thì bây giờ đến chỉ làm Phật thôi. Vua Trần Thái Tông biết trong tâm mình có Phật nên lên núi gặp quốc sư Phù Vân. Quốc sư hỏi, Ngài trả lời đến chỉ tìm Phật chứ không tìm gì khác.

Thứ ba: Phát tâm thanh tịnh tức là phát tâm Bồ-đề, vì trực tâm chánh niệm chân như cho nên thanh tịnh.

Ở trong tâm giác ngộ Bồ-đề phát ra, cho nên toàn bộ trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, làm tất cả các việc thiện pháp đều ở trong ánh sáng Bát-nhã. Không rời Bát-nhã cho nên không chấp bốn tướng ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Làm mà vô tác, làm mà không trụ tướng sanh tâm, làm mà không cần người báo ơn, không thấy mình làm. Đó là phát tâm chân chánh, phát tâm thanh tịnh từ nơi bản giác đi ra.

Không nhận ra được chỗ này thì tất cả việc làm chỉ là phước đức. Còn nhận ra được thì đều là công đức. Đưa người ta ly nước hay thắp cây hương cũng là công đức. Trong lục độ: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, không còn là phước đức nữa mà toàn là công đức. Trong nhà thiền gọi là chuyển đường gươm do y nơi trực tâm Bồ-đề. Không thấy bố thí và đối tượng nhận đồ thí, thì tâm không có ngô ngã. Làm tất cả việc gì cũng từ nơi bản thể, cho nên là công đức chứ không phải phước đức nữa.

Thứ bốn: Kinh Hoa Nghiêm nói: Quên mất tâm Bồ-đề mà tu các căn lành thì bị ma bắt giữ. Đã bị ma bắt giữ thì tai họa rất nhiều, cho nên thưa hỏi nhân duyên phát tâm để vĩnh viễn xa lìa các bệnh.

Tu các thiện pháp là căn lành, thấy người khổ thì giúp đỡ. Nhưng nếu người ta không trả ơn hoặc không ưa, mình bắt đầu nổi sân si tìm cách hại người ta lại thì họa sẽ đến, gọi là bị ma bắt giữ. Nhiều người rất tích cực làm thiện pháp mà không thấy được chỗ này, cho nên bị họa đến liên tục rồi nói sao tôi làm từ thiện mà gặp chuyện gì đâu không! Vì làm trên hình tướng mà quên mất tâm Bồ-đề. Cho nên mới thưa hỏi nhân duyên phát tâm để vĩnh viễn xa lìa các bệnh. Bệnh gì? Hai bệnh lớn là bệnh chấp ngã và bệnh chấp pháp.

Thứ năm: Trong khi phát tâm thì vĩnh viễn không mất, vì không mất nên ma không thể quấy nhiễu.

Khi nhận được chỗ đó rồi phát tâm thì ma không thể quấy nhiễu bởi vì có áo giáp Bồ-đề tâm.

Thứ sáu: Sau đó Phật đáp: “Lìa cả hữu vô, bặt dứt giác chiếu, không còn năng sở tức là lìa các bệnh này.”

Chỗ này công phu sâu, hơi khó một chút. Lìa cả hữu vô tức là lìa có, không. Thường thường thấy có vọng tưởng, không vọng tưởng là hai, vậy cái gì thấy được có vọng tưởng, không vọng tưởng? Tức là bặt

dứt cái giác chiếu thấy có – không luôn. Chỗ này, ai dụng công mới hiểu, cho nên, Kinh Viên Giác người tu thiền mới giảng trạch được. Có vọng tưởng, không vọng tưởng hoặc là năng và sở, thì cái thấy được hai chỗ này bặt dứt luôn.

Ngồi thiền giống như tấm gương, nó phản chiếu hết tất cả hiện tượng, mà không khởi một niệm. Tức là có cái gương để chiếu soi vạn tượng, gọi là bặt dứt giác chiếu. Không còn năng sở thì mới lìa các bệnh. Kinh Viên Giác lột hết, vấn đề này không có lý luận được. Bản thân tôi cũng vậy, tôi hiểu nhưng mà chập chờn, có lúc vào lúc ra chứ không có được hoàn toàn; nếu được thì giờ này tôi đâu còn ở đây.

Đại chúng thấy, tu khó lắm chứ không phải dễ.

Cho nên ông Bàng Long Uẩn nói cũng đúng:

Nan nan thập thạch du ma thọ thượng than

(Khó khó mười tạ dầu mè trên cây vuốt)

Nhưng bà Bàng Long Uẩn thì nói:

Dị dị, bách thảo đầu thượng ý Tổ

(Dễ dễ, trên đầu trăm cỏ ý Tổ sư)

Cô Linh Chiếu nghe hai ông bà nói xong, cô nói:

bất nan, bất dị, lai khiết phạn khốn lai thùy

(Cũng chẳng khó, cũng chẳng dễ, đói ăn, khát uống mệt ngủ khò)

Nói cho các vị Bồ-tát xong, Ngài tiếp:

Lại có thể khiến cho chúng sinh đời mạt thế, những người cầu Đại thừa không rơi vào tà kiến.

Trong Kinh Viên Giác, tà kiến không phải là chấp thân hay chấp tâm mà tà kiến ở đây là không nhận được tính viên giác, có nghĩa là không nhận ra được tính viên giác, tu trên ngọn là rớt hết. Ở đây có 5 điểm, chúng ta phải lưu ý:

  • Ngài thương tưởng chúng sinh, sau cùng là nói về cứu giúp chúng sanh đời vị lai.
  • Sau khi Phật diệt độ, có một ngàn năm chánh pháp, một ngàn năm tượng pháp và một vạn năm mạt pháp.
  • Người ở vào thời này nếu không khéo tu thì dễ rớt, dễ đi vào tà kiến, dị kiến.
  • Tóm lại, Bồ-tát Văn Thù thưa hỏi cho người hiện tại và vị lai đều được lợi ích.
  • Người cầu Đại thừa không rơi vào tà kiến. Bởi vì Ngài thấy trong đời mạt pháp con người khó có được chánh giải, tức là kiến giải chân chánh.

Một là buông tâm trong năm dục. Tức là tài, sắc, danh, thực, thùy.

Hai buông học tập dị đạo. Học tập dị đạo là thần thông, bói toán, chiêm tinh, bói quẻ; cho nên ở trong tà kiến không dứt ra được.

Ba là buông chấp trước nhị thừa.

Ngoài ba điều kể trên, dẫu có người phát tâm cầu Đại thừa, nếu không nghe được pháp môn này thì cũng rơi vào tà kiến. Vì sao? Vì lìa bản tâm mà có chỗ mong cầu, thấy vọng, thấy chân đều là tà kiến.

Phần ban đầu nói về: Có, không; bặt dứt giác chiếu thì mới không rơi vào tà kiến. Đây là luận của ngài Hám Sơn. Không nghe được pháp môn này thì dễ rơi vào tà kiến. Nghe pháp môn này thì nhận ra được bản tâm, còn lìa bản tâm mà tu là thấy chơn thấy vọng, khởi tâm mong cầu cho nên rớt vào tà kiến, dị kiến.

Khi ông Bàng Long Uẩn đến hỏi Thiền Thạch Đầu Hy Thiên:

  • Người không cùng muôn pháp làm bạn người gì? Thiền Thạch Đầu bịt miệng ông lại, ngay đó ông ngộ. Một hôm Thiền sư Thạch Đầu hỏi ông:
  • Từ ngày thấy lão tăng đến nay, hằng ngày ông làm việc gì?

Ông thưa:

  • Nếu hỏi việc hằng ngày của con tức không có chỗ mở miệng. Nhưng con cũng trình Thầy một bài kệ, Thầy coi sự thấy biết của con thế nào:

Hằng ngày không việc khác,
Chỉ ta tự khéo hợp.

Tức là không việc gì khác để mong cầu. Hằng ngày tụng kinh sám hối, ngồi thiền, nghe gõ bảng thì đi ăn cơm, đều đặn không có việc gì khác hết. Hòa thượng nói ai mà tu như vậy được 3 năm, tôi bảo đảm có lòng tin. Nhớ là “hằng ngày không việc khác”, mà mình nhiều việc quá!

Bản thân tôi nhiều việc đã đành, tôi hy sinh, đi họp có khi liên tiếp 3 ngày, quý vị đâu có đi họp, đâu có việc gì khác! Bây giờ quý vị còn là thiền sinh, tụng kinh, ngồi thiền, ăn cơm đều đặn đúng 3 năm là có niềm tin. Mà nhớ là hằng ngày không việc khác, chỉ khéo hợp chỗ dụng công tu tập.

Ngài Triệu Châu nói, nếu 30 năm mà ông không ngộ được chỗ này thì chặt đầu lão Tăng làm cái gáo múc phân. Ta muốn cuộc đời mình không còn trầm luân trong biển khổ thì đừng có nghĩ gì hết, cứ dụng công mài giũa. Ngài Pháp Nhãn nói, khi ông trở thành bậc anh tài rồi thì Thiên long đưa ông lên chỗ cao đứng. Vậy bây giờ mong cầu làm gì? Cứ mài giũa công phu đi.

Hằng ngày không việc khác, chỉ ta tự khéo hợp. Không còn việc khác nào hết. Ví dụ, ở ngoài, mình trồng lúa. Lúa mới ra hạt mà buổi sáng có mưa sương muối, nghĩ chắc lúa chết hết. Còn bây giờ có sương muối thì tín thí cũng thương mình cho gạo rồi, còn nghĩ gì nữa. Mình lỡ vay mượn của tín thí rồi, bây giờ sáng mở mắt ra là có cơm, trưa nghe bảng lên ăn cơm. Chuyện bên ngoài có quý Thầy lớn lo, mình không còn lo nghĩ gì, chỉ có con đường tu thôi; mà lạ là mình đâu có chịu, cũng phải có chút chút việc khác.

Tôi cố gắng xây dựng xong hết là tôi buông cái điện thoại. Ngài Tuyên Hóa nói sau này ma Ba-tuần lẫn lộn trong tùng lâm nó quấy nhiễu các ông. Lúc Ngài nói chưa có điện thoại và máy vi tính, mà bây giờ rõ ràng đúng luôn. Thời này mà nói ngộ nhập là rất khó, vì bị chi phối nhiều mặt. Ngày xưa, chúng tôi ở Thiền viện Trúc Lâm không biết điện thoại là gì, chỉ một bề cắm cúi tu, bình thường giản dị mà tu lại tiến.

Bây giờ ngồi nghiệm kỹ mới cám ơn Hòa thượng Trúc Lâm, Ngài khó vậy mới có người tài ra đời. Bây giờ, huynh đệ suốt ngày bấm bấm, rồi điện tới điện lui là bảo đảm tâm loạn. Người có trách nhiệm, chẳng hạn phải liên hệ như thư ký, tri sự mua vật liệu xây dựng, hay tri khố mua rau củ cho đại chúng, đó là người ta hy sinh. Còn mình xài điện thoại là mình chết. Nhiều người nói, thầy cũng sử dụng mà, nhưng người ta sử dụng vì người ta có trách nhiệm. Tôi ở tùng lâm hai mươi mấy năm chưa từng đụng đến điện thoại, thì bây giờ năng lượng tôi còn, tôi nhập thất cũng nhiều lần. Đại chúng bây giờ đâu nhập thất bằng chúng tôi, hồi xưa chúng tôi nhập liên tục. Hòa thượng Trúc Lâm nói giai đoạn đầu là học ở Thường Chiếu, xong rồi chúng tôi lên Thiền viện Trúc Lâm tu, tu một thời gian Hòa thượng cho làm Phật sự. Tôi bàn với Thầy phó làm Phật sự một thời gian phải nghỉ để tu, rồi đến con đường nhập diệt. Con đường Thiền tông đi 4 giai đoạn: học, tu, làm Phật sự, rồi bắt đầu con đường nhập diệt.

Ông nói tiếp:

Nơi nơi không lấy bỏ, Chốn chốn chẳng trái bày.

Nơi nơi không lấy bỏ tức là niệm niệm không có sanh khởi, toàn thể đều hiện tiền. Chẳng hạn nhìn cái tượng thấy đẹp thì gọi là lấy, mà không thích thì gọi là bỏ.

Đỏ tía ai kêu gọi, Núi gò bặt trần ai.

Đỏ tía tức là giàu sang phú quý không trói ông được. Núi gò tức là bụi trần không bám được.

Thần thông cùng diệu dụng, Gánh nước bửa củi tài.

Tức là đâu đâu cũng là đạo.

Tóm lại, Bồ-tát Văn Thù nêu ra thưa hỏi nhằm có hai ý. Một là: Nhân địa phát tâm, Đức Như Lai y nơi pháp gì, tu hành như thế nào mà được thành Phật? Hai là: Thưa hỏi Bồ-tát ở trong Đại thừa đã phát tâm

thanh tịnh, nguyện thành Phật đạo độ chúng sinh, chẳng biết dụng tâm tu hành như thế nào mà được có cái thấy biết chân chánh, không đọa lạc vào bệnh thiên tà. Nếu như được khai thị thì khiến cho chúng sanh đời sau phát tâm Đại thừa, y nơi những điều thưa hỏi này mà tu thì chẳng rớt vào tà kiến, dị kiến.

Ba lần thưa thỉnh bày tỏ lòng thành như thế. Khi Bồ-tát Văn Thù trình bày xong, thưa lời ấy rồi, năm vóc gieo sát đất thưa thỉnh như vậy, lặp đi lặp lại ba lần.

Kinh Pháp Hoa, ba bốn lần thưa thỉnh Phật mới chỉ bày tri kiến Phật. Chúng ta thường thấy các vị Bồ-tát hay các hàng Thanh văn thưa Phật, Phật không trả lời liền. Tại sao phải thưa đi thưa lại tới ba lần? Đây là Đại pháp, trong luật có ghi, người đến hỏi pháp là phải ba lần thưa, bảy lần thỉnh, tha thiết như người khát được uống, đói được ăn. Đến giai đoạn vì pháp quên thân thì họ mới ngộ được. Còn bây giờ dễ quá nhiều khi người ta coi thường. Chúng ta gặp đâu nói đó. Ra quán cà phê, quán trà cũng nói thiền. Chỗ nào cũng nói thiền, gọi là khẩu đầu thiền, thiền trên môi lưỡi chứ họ không có được chút nào thật sự an lạc.

Năm vóc gieo xuống đất là hai tay, hai chân và đầu tha thiết thỉnh cầu. Phần kế Phật khen ngợi và chấp nhận khai thị cho Bồ-tát Văn Thù và tứ chúng.

Lúc bấy giờ Phật bảo Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi: Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Các ông mới vì ai, hay vì chư Bồ-tát mà thưa hỏi nhân địa pháp hạnh của Như Lai, và tất cả chúng sinh đời sau cầu pháp Đại thừa, được chánh trụ trì, khỏi rơi vào tà kiến.

Bây giờ Phật mới chấp nhận. Phật khen việc Bồ-tát Văn Thù thưa hỏi là hy hữu. Bồ-tát Văn Thù thưa hỏi nhân địa Phật tu sao để thành Phật, và tất cả chúng sanh đời sau cầu pháp Đại thừa, được chánh trụ trì; còn cầu pháp Thanh văn là không được.

Trụ là luôn đặt tâm mình nơi biển giác, vĩnh viễn bặt dứt phan duyên.

Tức là luôn luôn sống trong tánh biết, đi đứng, nằm ngồi, nói năng, động tịnh tâm không phan duyên.

Trì là giữ gìn muôn hạnh, không để rỉ chảy, không để mất mát.

Chẳng hạn, chúng ta phát nguyện vào tùng lâm làm hạnh gì thì giữ hạnh đó suốt không thối chuyển. Chứ không phải phát nguyện làm hạnh đó một tháng, mới được nửa tháng không muốn làm nữa. Như vậy, hạnh phát nguyện bị mất mát không tròn đủ gọi là rỉ chảy.

Trụ trì là lúc nào chúng ta cũng sống trong tính giác của mình, chứ không sống theo tâm phan duyên. Bởi vì phan duyên tức là vọng tưởng; làm mà

nghĩ như thế này như thế nọ nên làm không nổi. Vì tâm phan duyên nên chúng ta không trụ ở chỗ đó, không ở trong biển giác.

Tán thán xong, Phật nói tiếp:

Bây giờ ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì ông mà khai thị giảng thuyết.

Tại sao Phật không nói liền mà bắt buộc phải lắng nghe? Bởi vì nghe Đại pháp này phải bặt dứt, gọi là cắt đứt muôn duyên. Giống như khi ngài Huệ Minh gặp Lục Tổ: “Ông vì pháp đến đây thì dứt hết các duyên đi.” Tâm lặng thì mới nghe được diệu pháp này. Khi đó, Ngài Huệ Minh dứt muôn duyên thì Tổ mới khai thị: “không nghĩ thiện, không nghĩ ác…”

Thì ở đây cũng vậy. Đức Phật kêu chúng ta lắng tâm là để không duyên vào chuyện khác. Chúng ta dùng tâm sanh diệt nghe pháp thì không có phước đức cũng không có công đức. Dùng tâm trụ trì trong tính viên giác mà nghe pháp là đang nghe trong biển tuệ giác thì công đức phát sanh. Cho nên gọi là tự tánh thường sanh trí huệ tức là phước điền.

Lão Tử từng nói:

Bậc hạ dùng tai nghe pháp. Bậc trung dùng tâm nghe pháp, tâm này không phải là tâm viên giác mà là tâm phan duyên. Bậc thượng dùng thần nghe pháp. Dùng thần trong thế giới Lão Tử là bặt hết các

duyên, thần lắng xuống gọi là đại đạo. “Đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh” là chỗ này.

Lão Tử nói:

Bậc hạ nghe nói về pháp cười to bỏ đi. Nghe chỗ cứu cánh viên mãn, tính giác Bồ-đề thì bậc hạ cười nói: Làm chuyện đó! Bậc trung nghe nói về pháp thì thoạt nhớ thoạt quên. Bậc thượng nghe nói về pháp thấm vào tứ chi phổ ra hành động hằng ngày, trong cách xử đối với tha nhân.

Kinh Tương Ưng Bộ Phật dạy:

Này các thầy Tỳ-kheo! Ở đời có ba thứ trí tuệ, một là trí tuệ lộn ngược, hai trí tuệ bắp vế, ba trí tuệ rộng lớn.

Này các thầy Tỳ-kheo! Thế nào là trí tuệ lộn ngược? Ví như có người đi nghe pháp, đoạn cuối thì bỏ lên đoạn đầu, đoạn đầu thì bỏ xuống đoạn giữa.

Này các Tỳ-kheo! Thế nào trí tuệ bắp vế? như một người đem cái bánh bỏ trên bắp vế, đứng dậy nó rớt hết.

Còn trí tuệ rộng lớn là đoạn đầu thanh tịnh, đoạn giữa thanh tịnh, đoạn cuối thanh tịnh, ba điểm đều thanh tịnh nhu nhuyến. Như Lai tán thán những người nghe pháp được trí tuệ rộng lớn, ghi nhận rồi tu tập.

Cho nên, Phật nói là phải lắng nghe.

Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi vâng lời Phật dạy, tâm rất vui mừng, cùng với đại chúng im lặng lắng nghe.

 

 

 

Nghe Phật hứa khả thì tâm rất vui mừng, cùng với đại chúng im lặng lắng nghe. Ở đây có 3 phần:

  1. Làm trong sạch về thân, tức là năm vóc gieo xuống đất.
  • Tâm phải rỗng
  • Chăm chú nhìn, lắng lòng nghe trong trạng thái tịch mặc, yên lặng chăm chú để nghe diệu pháp của Phật thì công đức mới viên mãn.

Đoạn đầu, chúng ta học, nghe Bồ-tát Văn Thù hỏi Phật tu làm sao thành Phật, khi thành Phật được diệu lực gì. Phật nói, Phật có một pháp bây giờ trao lại cho hàng Bồ-tát và chúng sanh đời sau cầu pháp Đại thừa. Đây là phần quan trọng nhất trong Kinh Viên Giác.

Bắt đầu Phật nói:

Thiện nam tử! Pháp vương vô thượng có môn Đại Đà-la-ni tên là Viên Giác, từ đây lưu xuất tất cả thanh tịnh, chân như Bồ-đề, Niết-bàn và các Ba-la-mật trao dạy cho các Bồ-tát.

Phật nói có một pháp môn gọi là Đại Đà-la-ni tên là Viên Giác mà từ đó lưu xuất ra tất cả các pháp. Giống như Lục Tổ khi ngộ, Ngài nói: “Đâu ngờ tự tính hay sinh muôn pháp”. Từ bản thể viên giác sinh ra, Ba-la-mật cũng từ đó, Bồ-đề, Niết-bàn cũng từ đó.

Chúng ta phải lưu ý, chỉ có Đức Phật mới xưng là “Pháp vương vô thượng tôn, tam giới vô luân thất”. Tại sao chỉ Phật mới xưng là Pháp vương vô thượng tôn? Vì Ngài tự tại đối với các pháp, không ai vượt hơn được. Ngài tự tại bước vào trần cảnh, không dính mắc trần cảnh. Ngài bước vào thinh, hương, vị, xúc, pháp, sáu trần không trói buộc được Ngài, mới gọi là Pháp vương vô thượng tôn.

Còn chúng ta ở đây tự tại với trần cảnh nhưng ra chợ đâu có tự tại được; ở đây tự tại với thinh, nhưng đi ra một đoạn đường người ta ca hát mình tự tại không được; vị, xúc cũng tự tại không được. Chúng ta chưa được là Pháp vương vô thượng tôn, vì suốt ngày bị sáu trần cảnh trói buộc, dẫn dắt, chi phối. Chưa ai tự tại được mà xưng Vô thượng là không đúng, Kinh Lăng Nghiêm gọi là ma, ma tự xưng chứ không ai dám. Chỉ có Phật làm chủ các pháp mới xưng là pháp vương, vua của các pháp. Chúng ta có làm chủ được cũng chỉ làm chủ từng phần thôi, những cái nhỏ làm chủ được mà những cái lớn làm chủ chưa được.

Phật nói:

Không một chúng sanh nào mà không có đủ tính viên giác. Nhưng trải qua số kiếp như vi trần mà tính ấy chưa từng xuất hiện, như kho báu còn bị chôn vùi đã không tự biết. Họ luống chịu nghèo khổ, chỉ Phật mới hoàn toàn có được diệu dụng của tính viên giác.

 

 

 

Chúng ta cũng có kho báu giống như Phật mà bị bụi phủ vô lượng kiếp, gọi là số kiếp như vi trần, bị che, bị bít lấp mà chưa khai thông được. Phật thì sử dụng được, còn chúng ta không biết nó nằm ở đâu. Bây giờ, chúng ta phải tìm cho được kho báu của tự tánh viên giác, để nhận ra nó có sức diệu dụng trong cuộc đời này. Nhận ra được tính viên giác thì không còn đau khổ mà luôn luôn thong dong tự tại trong cuộc đời. Thí dụ như chúng ta nghe mai trời sập mà vẫn bình thản bắt chân ngồi kiết già, vẫn tu tập bình thường, chứ không phải nghe tận thế mình hoảng hốt chạy nháo nhào. Đó là mình chưa sống với tự tánh viên giác. Lục Tổ nói người sống được tự tánh viên giác ra giữa trận gươm kề ngay cổ vẫn thấy tánh, chứ không phải dao để ngay cổ sợ chết khóc, như vậy chưa phải là kiến tánh, mà kiến tánh giả.

Phật được cái diệu dụng đó, cho nên khi Ương Quật Ma La rượt theo, Phật bình thản. Ương Quật Ma La kêu Ngài dừng lại, Ngài nói ta đã dừng trong vô lượng kiếp còn nhà ngươi thì chưa dừng. Ương Quật Ma La ngạc nhiên hỏi tại sao đang đi mà Ngài nói đã dừng. Phật nói, Phật đã dừng hết tất cả những ô nhiễm trong cuộc đời. Bây giờ, chúng ta tu tập như thế nào đó để nhận được một chút xíu gì trong cuộc sống cho đỡ khổ.

Tập khí của chúng ta giống như người xưa nói buổi sáng vừa mở cửa là trét lên mặt một vệt mực đen. Không phải trong một ngày một giờ mà trong vô lượng kiếp như vi trần, đến nỗi không nhìn ra mặt của mình nữa, đã mất đi cái tự tánh ban đầu gọi là bản lai diện mục. Ai cũng có tập khí, nhiều hay ít, bây giờ loại cái tập khí ra là cả vấn đề. Ở đây, chúng ta là người xuất gia phải mạnh dạn, biết rằng nghiệp mình vay thì bây giờ trả, mà Phật pháp cứ tu để tiến và chứng nghiệm. Chúng ta trải nghiệm để lọc tập khí, còn chứng nghiệm là chứng nghiệm viên giác.

Tổ Lâm Tế nói, các ông tu như thế nào giống như con ngỗng chúa uống sữa chừa nước. Sữa với nước lẫn lộn giống như tự tính viên giác và vọng tưởng điên đảo lẫn lộn. Chúng ta phải uống sữa như thế nào đó để nhận được, sống và phát nguyện không chạy theo tập khí nữa. Người tu thiền dễ nhận ra tập khí lắm, vừa mấp máy là nhận biết liền. Tập khí lúc sinh ra không có, do tiếp xúc môi trường, hoàn cảnh nó sanh ra. Bây giờ phải đối trị nó. Chúng ta cứ lần lữa qua ngày đến khi sắp tắt thở, bắt đầu vô lượng nhân duyên đến đòi nợ. Người tu thiền như chúng ta phải mạnh dạn hóa giải tập khí. Lúc còn trẻ, còn đủ năng lực, đủ điều kiện hóa giải nhẹ hơn khi tuổi mình xế bóng.

Bây giờ, chúng tôi cũng hơi dễ. Dễ chỗ nào? Chẳng hạn có những huynh đệ bị bệnh đến xin chúng tôi ở riêng một chỗ. Cũng tốt nhưng mà rất khó vượt qua. Ngày xưa, tôi bệnh ghê lắm mà phải ở trong đại chúng làm việc để mà đối diện với bệnh tật, đối diện với những nghịch duyên trong cuộc đời mà hóa giải. Không phải hóa giải lúc ngồi thiền mà hóa giải trong lúc làm việc, hoặc là lên chánh điện thành tâm sám hối. Nhiều cái nhiêu khê lắm mới vượt qua được chớ không phải dễ, bởi vì bị những cái cù cặn bám. Giống như xào thức ăn xong mà không dùng xà phòng rửa chảo, lâu ngày dầu bám vào, phải dùng nhiều phương tiện như bàn chải, xà phòng chà rửa mới ra.

Người tu cũng vậy, không tu hời hợt được. Chúng tôi chia sẻ nhưng mỗi người phải dụng công tha thiết. Ngày xưa tôi trải nghiệm ở các Thiền viện từ Thường Chiếu qua Chơn Không rồi lên Trúc Lâm. Mười mấy năm mài giũa dữ lắm mới được yên chút chút, là không còn như sóng xô đẩy nữa; như các ngài nói, niệm vẫn có nhưng nó không tạo cái duyên để hình thành cái nghiệp trên thân, miệng và ý. Có niệm chớ không phải không, nhưng miệng mình không nói lời ác nữa, thân mình không hành động ác, ý mình không nghĩ phương tiện để làm người khác khổ hoặc chết, hoặc vui khi người ta không được hạnh phúc. Phật được cái đó, gọi là cái dụng của tánh viên giác.

Bây giờ chúng ta phải làm như thế nào đó nhận ra được, rồi tu tập để khai mở cái này.

Ngày xưa trên hội Tổ Quy Sơn có 1.500 vị mà họ tu được yên, bởi vì họ nhận ra được. Chúng ta mà nhận ra được, ở đây có một tỷ người cũng không sao. Nếu huynh đệ không nhận ra được thì ở đây 60 người thành 60 cái nghiệp sanh diệt đấu đá nhau. Ở chung trong đại chúng mà chúng ta vẫn vui, vẫn hoan hỉ là dù gì đi nữa ta cũng sống được.

Có người nói, “con không ngồi thiền thì con mất lợi ích chớ đâu ảnh hưởng gì.” Tôi kinh nghiệm từ Thường Chiếu lên Trúc Lâm, chẳng hạn như trong chúng 60 người mà có 2 người không tu tập, 2 người đó sau này sẽ quậy. Tôi theo dõi thấy, người mà có tu có học thì mai kia họ ra làm Phật sự được. Còn những người trong đại chúng mà không tu, không ngồi thiền, không tụng kinh sám hối thì một là ra đời, hai là ở lại thế nào cũng quậy. Tôi xin sám hối trước. Người ta nói tôi độc tài, ở trong đại chúng mà tôi phát hiện là tôi cũng tìm cách mời đi, chớ ở lại họ quậy những người đang tu.

Thời Đức Phật, khi lập giáo đoàn mà trong đại chúng có người không tu thì Phật dùng pháp mặc tẩn. Mặc là im lặng, tẩn là tẩn xuất. Người bị mặc tẩn đi đến đâu là người ta tránh không giao thiệp, không nói chuyện tiếp xúc. Giống như Xa Nặc, khi Phật

nhập Niết-bàn, Ngài nói nếu muốn Xa Nặc chứng quả là phải mặc tẩn. Bởi vì Xa Nặc ỷ thế là người hầu cận Đức Phật, ông luôn nói xấu hai tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên. Phật biết đây là ác nghiệp, muốn cho ông được tiến bộ thì phải mặc tẩn ông.

Trong giáo đoàn hay tu viện nào cũng vậy, người ở trong đại chúng là bắt buộc phải tu. Ngày xưa, tôi làm quản chúng, vị nào suốt ngày nằm võng là tôi lên trình Thầy Trụ trì Trúc Lâm. Anh nằm võng đâu phải anh tự tại, tu phải ngồi thiền sám hối dữ lắm, chứ đâu phải nằm võng đưa qua đưa lại mà dứt được nghiệp. Người ở trong đại chúng mà không tu sau này họ giết chúng. Người sau này giữ giềng mối ở đây phải kinh nghiệm.

Tôi đâu có ham việc, người ta nói anh cư sĩ thợ sơn làm giỏi mà sao thầy mời đi, năn nỉ tôi cách mấy cũng không được. Ở đây mà còn hút thuốc, tối đi chơi. Ông là cư sĩ, dầu ông làm lợi ích cho tôi cách mấy tôi cũng mời đi. Người xuất gia tôi cũng tìm cách nói thôi ông đi học cái khác hay hơn. Tôi cứng như vậy đó. Đừng có ngại mời đi vậy rồi không có chúng. Thành Cát Tư Hãn ác thiệt nhưng quân của ông chất lượng, là thiện chiến chứ không cần số lượng.

Tại sao pháp hội của Tổ Quy Sơn 1.500 vị mà người ta sống giống như sữa với nước? Vì người ta sống với tự tính viên giác. Sống với tự tính viên giác là

nó dung thông không có tường vách, còn sống bằng cái biệt nghiệp là có tường có vách, có ngăn có ngại, có người này có người khác. Cho nên phải cùng tu để cùng tiến thì đạo tràng mới thanh tịnh. Đạo tràng thanh tịnh, đại chúng mà chịu tu nhìn biết liền, tự nhiên từ ngọn cỏ, cái cây, đường đi trang nghiêm lạ lắm, bởi vì năng lực phổ ra hằng ngày. Còn không chịu tu là nó xì ra toàn tập khí, hôi hám, cù cặn.

Sau này, những vị nào giữ tùng lâm này là phải theo dõi chỗ đó. Sở dĩ tôi nói được vì tôi làm được. Ông anh tôi xin ở đây để đi làm, tôi hỏi ăn chay trường được không, nói không là tôi mời đi liền chớ không có vị thân. Ngày xưa, trong đại chúng ít, nên tôi hay đi nước ngoài giảng, 2 – 3 tháng mới về. Tôi về, thấy những vị đến công quả ngồi ăn uống nói chuyện với nhau không tu, là tôi dẹp. Người thương tôi nhiều mà người ghét tôi cũng không ít. Vào tùng lâm mà không tu, không ngồi thiền sao được. Ghét tôi, tôi chịu. Bất cứ giá nào tôi cũng mời đi, để cho những người khác vào tu.

Sống trong tập khí, cái nghiệp mạnh lắm, cho nên phải cùng tu, vào đây bắt buộc ai cũng phải ngồi thiền. Tôi cũng phải ngồi 2 thời, 3 thời chớ đâu phải không ngồi. Huynh đệ mình ai cũng tu thì ở 100 người, 200 người, 300 người cũng không sao. Toàn chúng bắt buộc phải học, phải tu, phải mài giũa. Việc

học, việc tu là chính, còn việc làm là phụ. Làm cũng được, không làm cũng được mà trên thiền đường lúc nào cũng phải có mặt.

Phật được diệu dụng rồi, chúng ta muốn được diệu dụng như Phật thì phải tu, không nói gì khác. Học chơi vui thôi chớ phải dụng công hằng ngày. Bằng cấp đúng là phải có để làm Phật sự, còn cái bằng hết tham sân si ai cấp? Ai cấp được cái bằng này? Chỉ có tự tánh viên giác cấp cái bằng này cho mình. Bằng kia thì trường lớp cấp, còn cái bằng này tự bản thân mình cấp cho mình.

Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên kể câu chuyện:

Một hôm vị tăng đến hỏi Thiền Thạch Cựu:

  • Trong tay Bồ-tát Địa Tạng có hạt minh châu, là nghĩa gì?

Thiền hỏi lại:

  • Trong tay ông hạt minh châu không? Vị tăng nói:
  • Con không biết. Thiền sư bèn nói kệ:

Bất thức tự gia bảo,

Tùy tha nhận ngoại trần. Nhật trung đào ảnh chất, Cảnh lý thất đầu nhân.

Dịch:

Báu nhà mình chẳng biết, Theo người nhận ngoại trần. Giữa trưa chạy trốn bóng,

Kẻ nhìn gương mất đầu.

Chúng ta hướng bên ngoài tìm mà bên trong của mình không biết, cho nên Thiền sư khai thị: “Báu nhà mình chẳng biết, theo người nhận ngoại trần” tức là nhận bên ngoài thôi.

Trong Kinh Lăng Nghiêm diễn tả, Diễn Nhã Đạt Đa soi gương, khi úp gương lại ông la lên: “Tôi mất đầu”. Có những lúc ngồi rơi vào trạng thái vong ngã, mất mình, hoảng hốt la lên “tôi mất rồi”. Mà ai biết tôi mất? Không chịu sống chỗ đó mà chạy theo cái mất cho nên các vị Tổ quở.

Thiền sư Pháp Đăng khi còn là một học tăng, một hôm một vị thiền khách đến. Ngài Pháp Đăng hỏi:

  • Đầu sào trăm trượng làm sao tiến bước? Thiền khách đáp:
  • Câm.

Ngài khán câu đó suốt 3 năm. Một hôm, ngài cưỡi ngựa đi qua cây cầu ván mục, ngựa sụp chân té nhào quăng Ngài rớt xuống cầu, bỗng nhiên đại ngộ. Ngài liền có bài kệ:

 

 

 

Ta một viên minh châu, Đã lâu bị bụi vùi sâu.

Hôm nay bụi sạch phát sáng, Soi thấu núi sông muôn vật.

Ngài nói: Ngài có hạt minh châu đã lâu bị bụi vùi lấp. Nay bụi sạch thì hạt châu phát sáng lên, tức là đại ngộ, nhận ra hạt châu.

Đà-la-ni Hán dịch là tổng trì, nghĩa là trong thể viên giác đã có trần sa đức dụng, từ xưa đến nay được giữ gìn không có mất.

Chúng ta lên xuống ba nẻo, sáu đường mà tính viên giác vẫn tròn sáng, giống như có bộ giáp kim cương che lại. Tính viên giác này gọi là trần sa diệu đức, khi nhận ra được gọi là trần sa đức dụng. Thiền sư Vô Đức nói: “Ta thắp ba nén hương cũng đủ tiêu sạch một ngày mười lạng vàng ròng” là chỗ này. Cái này gọi là bất khả tư nghì.

Chúng ta tu một thời gian có những cái diệu dụng là tự mình biết, gọi là trần sa đức dụng từ cái thể tính viên giác. Chỉ những người cầu Đại thừa tu về tự tính viên giác mới tin nhận tu. Đại chúng ráng tu đi! Cái này là của mình chứ không phải của ai đâu. Của mình mà mình quên, bây giờ tu để sống lại, nhận lại. Bảo đi lấp biển Thái Bình Dương, hoặc dời ngọn núi Tà Cú về đây mình làm không được, nhưng đây nó ở ngay nơi thân của mình, dễ vậy đó. Dễ mà khó,

khó mà dễ, bởi vì ngay nơi mình đâu phải tìm đâu xa. Tối nay, chúng ta lên thiền đường kéo chân kiết già là có chút chút rồi. Huynh đệ ngồi nghiệm lại, người xuất gia quá là hạnh phúc. Trong cuộc sống giữa đời thường, nhiều người muốn tu lắm mà không dứt ra được; mình dứt ra được rồi, tại sao không tiến thêm bước nữa?

Thuận Trị Hoàng Đế nói: Một năm 365 ngày của ông không bằng ông tăng nửa ngày nhàn. Ông làm vua một năm chỉ mong được lên chùa tụng kinh ngồi thiền nửa ngày thôi cũng được. Cho nên tại sao thời khóa tu học của Thiền viện không để cho xen hở: 3 giờ 15 sáng tọa thiền, 6 giờ 15 ăn sáng, 7 giờ lao tác… Nghỉ trưa xong là học, rồi tiếp tục không cho mình rảnh rang, lúc nào cũng đi vào khuôn. Huynh đệ tu được, tới giờ ngồi thiền thích lắm, còn chưa được phải cố gắng vượt qua. Người mới phải đau chân, hôn trầm, khó khổ trong 3 năm đầu, có vị 6 năm, có vị 7 năm, có vị 10 năm. Lên ngồi thiền giống như cực hình. Nhưng:

Chẳng phải một phen sương lạnh buốt, Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương.

Phải trải qua những cơn đau chân, nhức xương, buồn ngủ… thì mới ngửi được hoa mai chớ đâu phải dễ. Cho nên khi nhận được thể tính viên giác rồi thì có trần sa đức dụng. Được đức dụng này rồi là cho

khắp trong thiên hạ vẫn không hết.

Nhà bác học giỏi nhất cũng chỉ sử dụng vỏ não, trung tâm não sử dụng không được. Chỉ có những vị thiền sư mới sử dụng được trung não. Các ngài nghỉ ngơi, khi cần thì dùng. Khi các ngài khai thị, có những năng lực từ tự tánh viên giác tác động đến người nghe. Những vị này mà khai thị người sắp mất là họ đi về nẻo lành liền, chặt đứt những mong cầu, những con đường tập khí khổ của người ta. Huynh đệ ráng tu để sau này gửi chút công đức lành về cho cha mẹ hoặc người thân. Tu để có trách nhiệm, khi người thân hấp hối mình phải có mặt. Phật mà còn về dùng vai phải khiêng quan tài cho vua Tịnh Phạn. Muốn được như thế phải ráng tu, ráng dụng công.

Luận Đại Trí Độ nói: Đà-la-ni là ‘năng trì’, cũng gọi là ‘năng già’, nghĩa là gìn giữ các pháp thiện đến nay không mất, ngăn chặn các pháp ác không sinh. Đã nói giữ gìn pháp thiện, ngăn chặn pháp ác tức là nói cái gốc của muôn hạnh.

Thiền tông thờ Đức Phật đưa cành hoa sen lên biểu thị pháp môn đốn ngộ. Còn ở Thái Lan, Campuchia, Srilanka thờ vị Phật bắt ấn, bàn tay hướng xuống dưới đất gọi là ấn địa xúc. Địa là đất, xúc là xúc chạm. Khi ma Ba-tuần hỏi: “Cồ Đàm! Ông nói từ xưa đến giờ, ông làm các việc thiện pháp, vậy ai chứng minh cho ông?” Phật bắt ấn địa xúc, là tâm

địa chứng minh. Tâm địa đây là đại Đà-la-ni. Từ khi Đức Phật khởi phát tu tập con đường vô thượng này, Ngài đạt đến chỗ Đà-la-ni, luôn làm các pháp thiện và gìn giữ không mất, đặc biệt là từ đó, các pháp ác không sinh, không tăng trưởng nữa. Gìn giữ pháp thiện và ngăn chận pháp ác tức là cái gốc từ muôn hạnh mà có.

Phật dạy tiếp:

Từ đây lưu xuất tất cả thanh tịnh chân như, Bồ-đề Niết-bàn và các Ba-la-mật khác.

Đọc đến chỗ này, ông Bùi Hưu nhận ra được, ông viết một bài trình chỗ kiến giải với Ngài Khuê Phong Tông Mật:

Vì chỗ chứng của các Đức Phật nên gọi là Bồ-đề.

Bồ-đề tức là giác, mười phương chư Phật đều chứng chỗ này.

Vì nó giao thoa dung nhiếp nên gọi là pháp giới.

Giao thoa với nhau, dung nhiếp hết: “Càn khôn tận thị mao đầu thượng, nhật nguyệt bao hàm giới tử trung.” Trời đất có thể đặt trên đầu mảy lông, mặt trời, mặt trăng có thể ở trong hạt cải, dung nhiếp không có ngăn ngại, gọi là sự sự vô ngại pháp giới. Không ngăn ngại gọi là pháp giới.

Vì vắng lặng thường lạc nên gọi là Niết-bàn.

 

 

 

Có những lúc, chúng ta ngồi thiền, tâm vắng lặng yên ổn không buồn, không vui, gọi là tịch mà chiếu; đó là cảnh giới Niết-bàn.

chẳng dơ, chẳng rỉ chảy nên gọi thanh tịnh. chẳng hư vọng, chẳng biến đổi nên gọi là chân như. Vì lìa lỗi dứt lầm nên gọi là Phật tính.

lìa cái lỗi, dứt cái quấy nên gọi Phật tính.

bảo vệ điều thiện, ngăn chặn điều ác nên gọi tổng trì. ẩn tàng hàm nhiếp nên gọi Như Lai tạng. siêu việt sâu kín nên gọi cõi mật nghiêm.

Tức là tịnh độ của Đại Phật Như Lai.

Vì tóm thâu trọn các đức, chiếu sáng quần mê nên gọi là viên giác. Tên thì nhiều nhưng thật ra chỉ có một. Nếu trái với thể này thì thành phàm phu, thuận với thể này thì gọi là thánh.

cái thể này thì khởi đầu cho sinh tử, ngộ cái thể này thì từ đây chấm dứt luân hồi.

Lúc này, ta ra đời chỉ là thị hiện bằng nguyện lực. Mê cái thể tính viên giác là lầm lỗi ba cõi sáu đường, đi miết đi miết luôn; mà ngộ được cái thể tính này rồi thì từ đây chấm dứt cảnh giới luân hồi không còn tái sinh nữa.

Tự thân tìm cầu thì có chỉ quán định tuệ; triển khai rộng thì sáu độ muôn hạnh lấy đó làm trí, sau mới được

chánh trí. Nương vào đó làm nhân thì mới được chánh nhân.

Nhân vô sanh thì quả mới được vô sanh. Nấu gạo mới thành cơm, nấu cát mà muốn thành cơm thì không được. Nên bắt buộc là phải cố gắng nhận ra được thể tính viên giác. Nó lạ lắm, nói không được. Nhận được tự nhiên mình biết cách sống. Người xưa nói lúc này ông mới biết cách sinh nhai, là lúc đó biết cách tu.

Nhưng thật ra cũng chỉ là một pháp. Suốt ngày viên giác mà chưa từng viên giác chính là phàm phu.

Nếu không có tính viên giác thì sao chúng ta đi đứng nằm ngồi? Mà chưa từng chứng nghiệm, chưa từng rớt ở trong chỗ đó thì gọi là phàm phu.

Trong thiền thoại kể câu chuyện:

Một hôm Thiền Cảnh Thanh ngồi trong thất nghe tiếng mưa rơi, hỏi ông tăng:

  • Ông nghe tiếng gì?
  • Tiếng mưa rơi.

Thiền Cảnh Thanh quở:

  • Quên mình theo vật.
  • Hòa thượng thì sao?
  • Vẫn chẳng quên mình.
  • Vẫn chẳng quên mình ý nghĩa thế nào? Thiền sư Cảnh Thanh đáp:

 

 

 

–   Xuất thân còn là dễ mà thoát thể nói rất khó.

Xuất thân có nghĩa là giảng giải trên văn tự, chỉ chỗ này, chỗ kia dễ lắm. Thoát thể tức là chứng nghiệm, sống với tự tính viên giác. Nói cho người thứ hai thì nói không được, tức là thầm nhận thôi.

Chứng viên giác mà chưa đến tận cùng viên giác là Bồ-tát. Viên giác tròn đủ mà trụ trì nơi viên giác, chỉ có Như Lai.

Chứng viên giác là trụ trì, ở trong biển giác mà dứt phan duyên. Trì là gìn giữ thiện pháp không để mất, không để sót; muôn hạnh từ đó mà lập, rồi từ đó bắt đầu đến giai đoạn từng phần, từng phần để chứng nghiệm.

Chỗ chứng ngộ các Đức Phật trong ba đời là chứng ngộ thể tính viên giác này. Vì một việc lớn mà Như Lai xuất hiện ở đời chính là việc lớn.

Chính là việc lớn này thôi, ngoài ra không có việc nào khác.

ông tăng hỏi ngài Pháp Nhãn:

  • Đức Phật biết chúng sanh thế giới này Phật rồi xuống chi cho mất công?

Ngài Pháp Nhãn nói:

  • Phật tính cho nên Phật mới xuống.

Nếu ta không có Phật tính, ba đời mười phương

chư Phật xuống hoài cũng không được. Phật biết trong thân ngũ uẩn chúng sanh có tri kiến Phật, có tính viên giác. Nếu ráng cố gắng tu tập, mài giũa, sẽ nhận ra và sống được với tính viên giác. Cho nên, Như Lai mới xuống cõi này để chỉ cho chúng ta.

Thời nay, chiến sự chỗ này chỗ kia nổ ra, nhưng may mắn mình có Phật tính. May hơn nữa là đang tu chứ không phải ở trong chiến sự. Nghiệm lại mới thấy giá trị đời tu, chứ nhìn hời hợt chúng ta không thấy được. Kể cả Phật tử, lúc này đang tu, họ cũng thấy được may mắn là có tính Phật và họ đang đi trên con đường để nhận ra được tính Phật.

Đời mạt pháp mà gặp được pháp này tu là duyên sâu lắm chứ không phải dễ. Nói như thế là để chúng ta cảm được túc duyên nhiều đời tu pháp này, bây giờ gặp được phải gắng gổ. Hồi xưa, chúng ta mày mò, bây giờ nhờ Sư Ông Trúc Lâm nhập thất khai phá được điểm này chỉ cho chúng ta.

Phật dạy tiếp:

Nhân địa tu hành của tất cả chư Phật, đều y nơi giác tướng thanh tịnh viên chiếu, hằng đoạn vô minh mới thành Phật.

Không phải riêng Phật Thích Ca mà của ba đời mười phương chư Phật, từ Phật quá khứ, Phật hiện tại, và Phật vị lai. Nhận được chỗ tự tính giác tướng

thanh tịnh viên chiếu, hằng đoạn vô minh thì mới thành Phật được. Vô là không, minh là sáng, vô minh là không sáng. Phật nói: Y nơi chỗ này mà phản quan, gọi là tịch mà chiếu, rọi hết tất cả các pháp, cái gì là vô minh? Đoạn được vô minh thì mới thành Phật, còn vô minh là chưa thành Phật.

Nhân địa của Như Lai chỉ riêng bày một pháp viên giác làm bổn hạnh, gọi là căn bản ban đầu để mà tu.

Ở đây bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định là phụ hết. Quán thân, thọ, tâm, pháp cũng là phụ.

Ngài Huyền Giác nói đúng. Từ khi nhận được tính viên giác rồi thì mới biết là ngày xưa ôm đồm tào lao nhiều lắm. Mà phải nhận ra, chứ chưa thì vẫn phải làm việc bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định. Không nhận ra được thì chưa phải là bổn hạnh của người tu. Phật nói nếu chỗ này không nhận ra được thì tu một thời gian sẽ thành tà kiến và dị kiến.

Cho nên, phương pháp của thiền đốn ngộ là kiến tánh mới khởi tu. Nhận ra được chỗ đó bắt đầu mới khởi tu, gọi là đốn ngộ tiệm tu, tiệm tu mới chứng ngộ tự tính viên giác. Chúng ta không phải bậc thượng căn như Lục Tổ, Ngài nghe liền đốn ngộ nhảy vào chỗ đó luôn gọi là “một nhảy liền vào đất Như Lai”. Chúng ta chưa được, nên bây giờ phải bắt đầu tu.

Thế nên tất cả nhân địa bổn khởi của Như Lai chóng thành Phật quả lại không có pháp khác, đều nương nơi ánh sáng tự tính viên giác này. Lại hay soi chiếu tướng thể giác tịch diệt thanh tịnh, ấy là tính thể. Vì tính viên giác này đầy đủ soi thấu không có sai sót, nên mới vĩnh viễn đoạn dứt vô minh, viên chứng pháp thân. Chỉ một pháp này mà thôi, nên nói: Đều y nơi giác tướng thanh tịnh viên chiếu mà vĩnh viễn đoạn dứt vô minh, chóng thành Phật đạo.

Đó là Thiền sư Hám Sơn khai thị. Chỉ có pháp này mới hằng đoạn vô minh. Chứng ngộ pháp này mới gọi là bổn hạnh ban đầu, từ đó tu; bao nhiêu năm tháng, bao nhiêu số kiếp mặc kệ, miễn là nắm được chỗ này. Các ngài nói nắm được chỗ này, dầu cho cái nghiệp làm lăn lộn, lên xuống ba đường, sáu nẻo, vẫn tu pháp này để hằng đoạn vô minh, chóng thành Phật quả.

Có một vị tăng thắc mắc đến hỏi ngài Hám Sơn:

  • Phật nói, có pháp môn đại Đà-la-ni tên là viên giác, nhân địa bổn khởi của Như Lại nói, đều nương nơi giác tướng thanh tịnh viên chiếu thì vốn không có vô minh có thể đoạn. Rồi chợt nói, vĩnh viễn đoạn dứt vô minh chóng thành Phật đạo, thì nghĩa này chẳng có tương ưng, dám hỏi về yếu chỉ này.

Phật nói nhận được tính viên giác rồi hằng đoạn vô minh, rồi đoạn sau Phật nói vô minh không

có thực thể, không cần đoạn. Vậy thì đoạn là đoạn làm sao.

Ngài Hám Sơn trả lời:

  • Nghĩa này ưu thâm huyền diệu, chẳng phải dùng tâm thô thiển mà có thể nghĩ bàn. Xin thử nói về tính viên giác, viên giác diệu tâm chính là pháp thân của chư Phật chúng sanh, bình đẳng vốn không

Tính viên giác này Phật với chúng sinh bình đẳng không có hai; thành Phật nó không có thêm, mà làm chúng sanh nó cũng không bớt. Nó không thêm, không bớt chút nào hết; giữa chúng sinh và Phật, tính viên giác tròn đủ.

Do pháp thân lưu chuyển trong năm đường nên gọi là chúng sinh. Song chơn như thanh tịnh chính là pháp thân của chư Phật, là Phật tính của chúng sinh.

Đối với chúng sinh không gọi là pháp thân mà gọi là Phật tính. Bởi vì, chúng sinh gọi là Như Lai tại triền, có tự tính Như Lai mà bị trói buộc. Còn Đức Phật gọi là Như Lai xuất triền, là thoát thể ra. Cho nên, bây giờ, chúng sinh vẫn còn lăn lộn trong sáu đường; suy nghĩ việc ác ở địa ngục, suy nghĩ việc thiện ở thiên đường. Đi lên đi xuống, ở trong sáu đường gọi là chúng sanh.

Bởi do một niệm ban đầu bất giác minh vọng động cái pháp thân này, biến thành thân tâm năm ấm huyễn vọng.

Vua Trần Thái Tông nói: “Nói thì dễ lắm nhưng mà rớt vào cái thân năm uẩn rồi, thì tự tính viên giác thanh tịnh không thấy đâu hết.” Muốn thấy phải đoạn vô minh, mà vô minh đúng là không có thực nên đoạn không được, nó như bóng điện chớp vậy thôi. Mê là vô minh có thực, mà ngộ rồi thì không có thực.

Giống như chúng ta ngủ thấy cọp rượt, nếu nói không có thực thì sao mình sợ, thức dậy vả mồ hôi? Ngủ mê gặp ác mộng là có thực, nhưng tỉnh dậy rồi thì đem con cọp trong giấc mộng ra không được. Người ngộ đạo rồi đúng là không có thực, mà bây giờ chúng ta đang mê là có thực. Muốn thoát cái mê này thì phải tu, vậy thôi!

Chúng ta mê cái pháp thân này, bây giờ nó biến thành thân tâm năm uẩn rồi, nó chuyển động theo chiều hướng của tập nghiệp. Ví dụ như có những người ra đời ở Điện Biên, ban đầu họ không biết buôn lậu ma túy. Nhưng chỗ đó là vùng biên giới buôn lậu ma túy, cho nên nó biến hiện ra, họ lấy ma túy đem về Lạng Sơn để có tiền, rồi bị ở tù hoặc bị chết.

Tập nghiệp của mình may mắn được ở trong Tùng Lâm, nó biến hiện là mình biết lên ngồi thiền. Mình mà ở Điện Biên chắc có thể cũng đi buôn lậu rồi. Tuy rằng đang ở trong năm uẩn mê muội, mà may mắn trời xui đất khiến đẩy mình vào Thiền viện Chánh Thiện, Thường Chiếu, đẩy lên Trúc Lâm tu.

Tùy theo sai biệt nghiệp nó đẩy, may là mình có túc duyên, nhờ duyên nguyện nhiều đời: con ra đời cho con vô thiền viện tu, đừng cho con rớt chỗ nào khác. Cho nên mình rớt vào đây. Đáng lý 7g30 mình đi chơi, mà 7g30 mình ngồi thiền kiết già làm Phật. Thiền sư Đạo Nguyên nói: “Ngồi một giờ là một giờ làm Phật, ngồi hai giờ là hai giờ làm Phật.”

Lại nữa, quả đức của chư Phật, Bồ-đề và Niết-bàn, đều từ mê mà soi về ngộ.

Đức Phật cũng giống như chúng ta, cũng mê muội trong vô lượng kiếp mới nhớ lại, từ đó chấm dứt là từ mê soi về ngộ.

Trước tu mà sau được, nên gọi là vĩnh viễn đốn dứt vô minh, chóng thành Phật đạo. Vậy thì, trước tu sau đoạn, đều nương nơi trí tuệ quang minh tự tính viên giác.

Ngài Hám Sơn để lại nhục thân nhằm làm niềm tin cho đời sau, tức là Ngài tu có tâm chứng. Bên chùa Nam Hoa hiện vẫn thờ ba nhục thân tư thế kiết già, Lục Tổ Huệ Năng ngồi chính giữa, bên tay trái là Ngài Hám Sơn, bên tay phải là Ngài Đơn Điền.

Đây là bí quyết thành Phật, là diệu môn đốn ngộ, đốn chứng, là pháp hạnh nhân địa của Như Lai.

Đó là lời khai thị thống thiết của Ngài Hám Sơn. Đây là bí quyết mà Phật khai thị chỉ cho Bồ-tát Văn Thù; tiêu biểu cho căn bản trí, là trí tuệ ban đầu để

mình nhận được mà tu. Chúng ta may mắn lắm mới học được và tu pháp diệu môn này.

Tôi kể chuyện đời một chút. Ngày xưa, tôi học võ đến 10 năm mà những thế hiểm ông thầy không chỉ. Bữa nọ, ông dắt lên bàn thờ Tổ kêu tôi phát nguyện để ông chỉ 4 đòn trấn môn. Ông nói 4 đòn này phát nguyện là không được chỉ bừa bãi, bởi vì đây toàn là đòn hiểm, tung ra là chết người.

Pháp diệu môn đốn ngộ này khi Đức Phật thấy căn cơ các vị Bồ-tát đệ tử thuần thục hết rồi, tâm họ định tĩnh rồi Phật mới chỉ. Mười hai năm đầu Đức Phật không chỉ pháp này cho các hàng Thanh văn. Hai mươi hai năm sau, khi Đức Phật đã chỉ tánh không của Bát-nhã, kế là Kinh Phương Đẳng để nhận ra tính viên giác, được gọi là Phật tính hay tri kiến Phật, Phật mới thấy đây là bí quyết chỉ cho chúng sanh tu thành Phật.

Có ông tăng hỏi Ngài Vân Môn: “Thưa Hòa thượng, tại sao nói Như Lai nghèo mà Ca Diếp giàu?” Bởi vì Đức Phật nói: “Ta nói pháp 49 năm mà chưa từng nói lời nào”. Không có một pháp cho người nên nói là nghèo. Còn Tổ Ca-diếp nhận được cành hoa sen trên hội Linh Sơn, truyền thừa đến 33 vị Tổ đến bây giờ không mất. Hai ngàn mấy trăm năm Tổ truyền thừa, cho mãi mà không hết là quá giàu.

Khi được Phật chỉ diệu môn đốn ngộ rồi, chúng ta nắm bắt, tu. Tổ Huệ Khả học nhanh lắm, tứ thư ngũ kinh, biện giải, chiêm tinh bói toán, Ngài biết nhiều, biết vậy mà không thành Tổ. Tại sao? Bởi vì chưa nắm bắt được cái diệu quyết tu. Đến khi gặp Tổ Đạt Ma, bảo: “Đem tâm ta an cho”, nhận ra được, từ đó dứt kiến giải, tu là thành Tổ liền.

Ngày xưa, ở ngoài đời, chúng ta xem những bộ phim kiếm hiệp thấy ai nhặt được bí kíp là làm chủ được võ lâm. Còn bây giờ, ta có bí kíp rồi: bí kíp thành Phật. Khi học và chứng nghiệm, nhận ra được tính viên giác là làm chủ võ lâm, ở đây là làm chủ sáu trần chứ không có gì lạ. Phật thấy thuần thục rồi Phật mới trao bí kíp thành Phật, chúng sanh đời sau cầu pháp Đại thừa, nương đây tu thì không rớt vào tà kiến và dị kiến. Đại chúng thấy ở đây Thiền viện ít làm lễ, chỉ tụng kinh sám hối tu tập, còn lễ giảm chừng nào tốt chừng đó, đừng có rườm rà nhiều quá. Bí quyết này rõ ràng rồi, sau này, mình tu bất cứ nơi nào mình cũng nắm chỗ này.

Thời Đường Võ Tôn, ông phá Phật pháp, phá chùa bắt chư tăng hoàn tục. Các tông môn khác đều bị suy suyển chỉ có thiền tông đứng vững. Bởi vì các Ngài vào núi rừng cũng y pháp này tu, không cần gõ mõ, tụng kinh gì hết. Gõ mõ, tụng kinh thì quân lính vào bắt, còn các Ngài cứ ngồi thiền hít thở tu tập, đâu

có biết ở đâu mà bắt. Cho nên khi ông thái tử con lên làm vua, ông cho các pháp môn tôn giáo phục hồi thì thiền tông đứng vững mạnh, có sẵn đâu vào đó hết.

Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên ghi:

Thiền sư Đại An ở Trường Khánh, Phước Châu chuyên học luật thừa. Sư thường tự nghĩ: “Ta tuy siêng năng khổ nhọc mà đối với lý cao tột của Phật pháp chưa từng được nghe.” Ngài rời trường luật đến pháp hội của Tổ Bá Trượng hỏi:

  • Học nhân muốn cầu biết Phật, thế nào là phải? Bá Trượng bảo:
  • Giống hệt cỡi trâu tìm trâu.
  • Khi biết được về sau thế nào?
  • Như người cỡi trâu về nhà.
  • Chẳng biết trước sau gìn giữ thế nào?
  • Như chú mục đồng cầm roi trông chừng, chẳng cho nó giẫm vào lúa mạ của người.

Từ đây, Sư nhận được huyền chỉ, chẳng còn dong ruổi tìm cầu gì khác.

Nhận được huyền chỉ rồi, ngay đó là công phu tu thôi. Chỉ chỗ yếu quyết thành Phật, nhận ra được rồi thì bây giờ gìn giữ thế nào? “Như chú mục đồng cầm roi trông chừng, chẳng cho nó giẫm vào lúa mạ của người.” Khi nó vừa mấp máy là kéo ra liền, còn đằng này chúng ta không chịu kéo, mà vào lúa mạ ngủ luôn.

Sau đó, một thời gian Tổ Trượng tịch, Ngài đến với huynh Tổ Quy Sơn. Sau khi Tổ Quy Sơn tịch, đại chúng thỉnh Ngài lên làm trụ trì.

Ngày đầu tiên, thượng đường khai thị chúng:

  • Các ông nếu muốn làm Phật, chỉ không tâm điên đảo chấp trước, không duyên theo vọng tưởng ác giác sạch của chúng sanh, chính là tâm chánh giác ban đầu của Phật.

Nghĩa là đừng có theo vọng tưởng. Những vọng tưởng gọi là điên đảo chấp trước, ác giác.

Lại nhằm chỗ nào riêng tìm cầu? Sở dĩ Đại An ba mươi năm ở núi Quy, ăn cơm núi Quy, đại tiện núi Quy mà chẳng học thiền núi Quy, chỉ xem chừng một con trâu đực. Nếu nó đi lạc vào trong cỏ liền nắm mũi kéo lại, vừa xâm phạm lúa mạ người, roi liền quất.

Tại sao trong nhà thiền hay nói con trâu đực mà không nói con trâu cái? Bởi vì con trâu đực không có sinh, còn con trâu cái sinh. Sinh là sinh vọng tưởng; ở đây, canh chừng con trâu đực nghĩa là không cho nó lọt vọng tưởng, không cho rỉ chảy. Vừa xâm phạm là kéo lại liền, đánh nó.

Điều phục đã lâu, trâu đã thuần thục, vâng chịu lời người dạy bảo mắng rầy, giờ đây trâu đen thành trâu trắng sờ sờ trước mắt, trọn ngày đuổi mà nó cũng không chịu đi.

Con trâu đen mà ta chăn làm sao cho thành trâu

trắng, sờ sờ trước mắt. Lúc nào tánh biết cũng có, nó gắn liền với mình luôn, đuổi cũng không đi.

Chúng ta chìm nổi trong biển khổ sanh tử, vì đâu mà có? Thứ nhất là chúng ta không y nơi tính viên giác tu, thứ hai là bị màn vô minh che.

Phật dạy:

Thế nào là vô minh? Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh từ vô thủy đến nay có các loại điên đảo, giống như người mê, bốn phương đổi chỗ, vọng nhận bốn đại là tướng của tự thân, duyên ảnh của sáu trần làm tướng của tự tâm.

Đức Phật chứng minh cho chúng ta biết thế nào là vô minh, nhưng đoạn sau chúng ta học thì Phật nói là vô minh không có thật. Mà đúng như thế, nếu vô minh có thật, là của mình, thì tu ngàn đời nó cũng không chuyển. Nhưng nếu vô minh không có thật thì tại sao mình chìm nổi trong biển khổ sanh tử mãi? Bởi vì vô minh giống như mây nổi, chợt có chợt không, chợt còn chợt mất, tức là đủ duyên thì nó có.

Chẳng hạn như phòng đang tối, mở công tắc điện thì đèn sáng, như vậy bóng tối chạy về đâu? Tìm bóng tối không có, nhưng tắt điện bóng tối liền phủ. Như bây giờ ngồi trong lớp học, mình không thấy vô minh nghe rõ từng tiếng. Trong cái nghe đó, mình đứng trên tiếng nghe, chứ không phải chạy theo

tiếng mà chìm nổi trong âm thanh sắc tướng; mình tỉnh táo rõ ràng, có chánh niệm sáng suốt. Nhưng khi ra làm lao tác, gặp những chuyện bất như ý, tự nhiên là vô minh nó đến. Như vậy, chúng ta tỉnh là tỉnh từng niệm chứ chúng ta không tỉnh giống như Phật như Tổ.

ông tăng khi trình pháp với Ngài Bạch Đoan Thủ Sơ, Thiền sư Bạch Đoan hỏi:

  • Trâu ông thuần chưa?
  • Bạch Hoà thượng thuần rồi.

Lát sau Hòa thượng mắng chửi ông, tự nhiên mặt ông đỏ bừng bừng. Thiền sư nói:

  • Trâu ở trong chuồng đủ nước đủ cỏ, trâu ra khỏi chuồng thì húc đông, húc tây.

Khi ta ngồi đây nghe pháp, hay ngồi trên thiền đường, sám hối tụng kinh, mở quạt máy mát rượi thì không có vô minh. Nhưng nếu cúp điện, trời nóng đổ mồ hôi nên phiền não, vô minh có. Còn nếu lúc này mình tỉnh thì nóng lạnh không dính dáng gì, vô minh không có. Thấy đơn giản nhưng không đơn giản, phải tu mới được.

Trong thiền thoại kể câu chuyện:

Một hôm vua Đường Đại Tông cùng với Thiền sư Bắc Phong bàn luận về Phật pháp, quan thừa tướng Ngũ

Triều Ân đến hỏi:

  • Phật nói tất cả chúng sanh đã là Phật rồi thì vô minh từ đâu mà có?

Thiền nhìn thẳng mặt ông nói:

  • Ông tôi đang nói chuyện ông xen vô? Ngũ Triều Ân nói:
  • Tôi là thừa tướng đương triều mà Hòa thượng không biết sao?
  • Vậy tôi tưởng đồ tể nào!

Nghe nói thế, Ngũ Triều Ân mặt đỏ bừng bừng. Vô minh từ đây mà có.

Bình thường hiểu Phật pháp thì không có vô minh, đụng chuyện thì vô minh đến.

Luận về vô minh, hỏi: “Thế nào là vô minh?”

Kinh Lăng Già: “Quên mất đệ nhất nghĩa đế là vô minh.”

Kinh A Hàm: “Không rõ con đường độc nhất Đức Phật chỉ dạy bốn thánh đế là vô minh.”

Mỗi người có mỗi duyên tu. Nếu có duyên tu thiền, có hạt giống từ xưa, huynh đệ mình tu thiền mà cảm thấy có kết quả, hoặc đọc ngữ lục thấy dễ, nó mở ra hết là biết mình có duyên. Tôi nhớ ngày xưa học trong lớp, sư phụ Thường Chiếu hỏi: “Thế nào

là vô minh?” Tôi đứng dậy trả lời: “Quên tánh giác”, ngắn gọn, rõ ràng. Quên tánh giác là quên tự tánh viên giác của mình tức là vô minh có mặt, còn sống với tánh giác thì không có vô minh.

Bây giờ học pháp này rồi, huynh đệ mình một khi nổi sân, nhắc: “Ông vô minh đó!”, huynh đệ giựt mình nhớ lại thì hết vô minh. Mình phải thực tập, ở trong đại chúng cọ xát thì vô minh mới hết.

Nói vô minh, có 5 cái ý:

1.   Vì ở phần trước nói vĩnh viễn đoạn vô minh, sợ chúng sanh cho rằng nhất định có vô minh để đoạn, đợi đoạn tận mới thành Phật đạo, nên nay Phật giải thích vô minh vốn không.

Nếu nói vô minh có thật, chờ đoạn tận vô minh mới thành Phật, thì không biết bao giờ thành. Cho nên từng niệm, niệm giác là không có vô minh, niệm mê là có vô minh, gọi là “phá từng phần vô minh để chứng từng phần pháp thân.” Người tu có lợi thế là khi còn sáng suốt, đủ năng lực để đoạn tận vô minh này. Khi không đủ sức lực nữa thì vô minh phủ, tu rất khó. Nghe nói “vô minh vốn không” rồi mặc kệ không tu, không tụng kinh, không sám hối, không ngồi thiền là rất nguy hiểm.

2.  Vô minh này là cội gốc của tám vạn bốn ngàn trần lao, đứng đầu trong 12 nhân duyên. Từ đây sanh ra hằng

hà sa số phiền não. Trần kiếp luân hồi do vô minh mà chẳng đoạn dứt.

Vô minh sinh ra những trần lao. Phiền não, tham sân si cũng do vô minh. Vô minh duyên hành, thức, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, duyên sinh, lão, tử, từ đó dài 12 cái mắt xích. Những ác nghiệp cũng từ vô minh mà có. Chửi rủa người ta, làm cho người khác đau khổ cũng là vô minh, trần sa hoặc từ đó mà có. Tám mươi tư ngàn trần lao phiền não cũng từ vô minh làm nền tảng, cho nên gọi là trần kiếp luân hồi không dứt.

Như hết định phi phi tưởng trở lại làm chồn bay, trong hầm vô vi còn là bệnh hạnh.

Ông Uất Đầu Lam Phất tu đến định phi phi tưởng xứ. Khi ngồi thiền vào định, tiếng chim kêu và tiếng con cá ăn mồi dưới nước làm loạn cái định của ông, nên ông phát nguyện sau này đủ nhân duyên, trên ông sẽ ăn chim, dưới ăn cá. Cho nên Phật thọ ký, khi hết định phi phi tưởng xứ, ông sẽ thành con chồn phi ly, hình tướng giống như con chồn nhưng có hai cái cánh, có thể bay như chim và lặn như cá; lặn xuống nước ăn cá, bay trên trời ăn chim.

Phi phi tưởng xứ, giống như mặt hồ bình lặng nhưng sóng cuộn bên dưới, đó là cội gốc vô minh chưa phá, chưa tận đoạn. Hầm vô vi là nói đến cảnh giới Niết-bàn tịch tịnh, nếu chưa đoạn tận rễ như

trong Kinh Lăng Nghiêm, thì đó cũng gọi là bệnh. Chẳng hạn ly nước đục để lắng xuống thì thấy nó trong, nhưng quậy lên nó vẫn đục, tức là cội gốc vô minh vẫn còn. Muốn phá cội gốc vô minh này phải rót phần nước trong qua cái ly khác, cặn đổ đi, giống như là mặt trăng thứ hai, nói khác hơn là bờ mé của ý thức. Mà trong tinh thần nhà thiền gọi là “đầu sào trăm trượng phải tiến bước, mười phương chư Phật hiện toàn chơn.”

Cảnh giới hầm vô vi này, giống như xung quanh cái hầm là tường vách sắt. Bám vào leo lên, lên tới đỉnh thì rớt trở xuống. Đó gọi là “tuyệt hậu tái tô”, nhà thiền gọi là một lần chết đi để ngàn năm sống lại. Chết là chết đi ý thức sanh diệt.

3.  Nay muốn nói giác tính thanh tịnh, muốn chỉ diệu môn viên đốn; nếu trước không phá vô minh, thì tất cả hạnh tu đều điên đảo.

Tu về bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định mà không phá vô minh là điên đảo. Bố thí một thời gian thấy người bố thí, thấy người nhận của thí mà trả oán nên tức giận, đó là vô minh, điên đảo. Làm các hạnh mà còn bóng dáng vô minh là điên đảo hết.

Đây là nói về tinh thần của viên đốn, tinh thần này Lục Tổ đã chỉ rồi: “Tự tính thường sanh trí huệ tức là phước điền.” Tức là khi kiến tánh, nhận được tính

viên giác rồi thì làm gì cũng ở trong ánh sáng của viên giác. Còn chưa nhận, chưa sống được, làm gì cũng là tham sân si phiền não. Chẻ củi, nấu cơm, làm tất cả việc thiện hạnh mà không phá vô minh đều là điên đảo. Nếu sống trong ánh sáng viên giác thì chẻ củi, nấu cơm, nhổ cỏ là công đức, là đạt đến cảnh giới viên mãn từ tự tính viên giác lưu xuất. Phật nói mình làm được, bởi vì cái này là nơi tự thân của mỗi người.

4.  Xác định trong tâm vốn có, liền suy biết tính vọng vốn không, nương đây mà liễu ngộ thì mới được gọi là nhân địa tu hành.

Tinh thần thiền gọi là “liễu vọng tức chơn”. Liễu vọng là không đoạn vọng, mà ngay nơi vọng biết nó không thật. Không đoạn vọng, không chìm nơi vọng, không chạy theo vọng mà “liễu”. Ngộ chỗ đó sống, từ đây ba cõi dục giới, sắc giới, vô sắc giới đóng bít không cho quý vị vào nữa. Lúc này, quý vị không nhiễm uế nữa mà nhiễm tịnh. Nhiễm tịnh là thương chúng sanh, là sanh ra tứ thánh: Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, Phật thừa; đóng bít 6 cái nhiễm ác.

Tại sao “liễu vọng” mà không phá?

Quân bất kiến,

Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân, Bất trừ vọng tưởng bất cầu chân, Vô minh thật tánh tức Phật tánh,

Huyễn hóa không thân tức pháp thân.

 

 

 

Từ chư Phật đến chư Tổ dạy hết rồi. Chúng ta may mắn mới gặp pháp này. Ngày xưa, nếu không học cái này thì làm sao biết tính vọng vốn không, liễu ngộ; bắt đầu giờ phút này mới gọi là nhân địa tu tập. Bây giờ, mình đang ngồi thiền, vọng lên là “liễu”, tức là nhân địa từ đây đi mãi chừng nào thành Phật thì thôi. Cứ bao nhiêu đây tu tới khi thành Phật, chúng ta vẫn nghe pháp, vẫn làm việc, nhưng mà nắm được cái chìa khóa này, gọi là nắm được bí quyết trong nhà thiền. Bây giờ, chúng ta nghe nhiều quá, chứ ngày xưa khi Tổ Đạt Ma chỉ cho Huệ Khả là Ngài đốn ngộ. Ai có nhân duyên vào thất nghiền ngẫm sẽ phá vỡ nhiều thứ.

5.  Vô minh là không có tha trí minh, nghĩa là y có cái minh của bản giác nhưng không có thỉ giác chiếu soi. Thỉ giác do duyên mới hiển lộ.

Ai cũng có bản giác sẵn mà nếu không nhờ thỉ giác, tu không được. Thỉ giác là cái tính biết để nhận rõ các pháp thiện và bất thiện, hoặc đang ở trong bản giác nhìn được thật tướng các pháp. Các vị ở ngoài đời làm nhiều việc, lăn lộn trong cuộc sống cơm áo gạo tiền thì thỉ giác không có; phải lui về một góc, đủ nhân đủ duyên thỉ giác phóng xuất. Nói: Tôi có bản giác tôi tu đâu cũng được. Không có đâu! Nó có duyên mới chiếu được.

Cho nên, thiền sư mới ẩn vào núi một thời gian, như Quốc sư Huệ Trung, nhận được bản giác rồi Ngài lui về núi 42 năm để thỉ giác lộ dần phá được vô minh. Khó lắm chớ không phải dễ, phải tu tập chớ không có nói suông. Huynh đệ đợt tôi xuất gia rụng gần hết. Có vị tu một thời gian về nhà đóng cửa thất tu 10 năm. Tôi nói ông phải ở trong đại chúng chứ ông tu vậy không được. Thời gian sau hay tin ông không tu nữa.

Đại chúng đừng có ỷ lại, thấy mình được chút chút rồi ra đóng cửa thất tu. Ở trong chúng được trợ duyên nhiều lắm, bởi vì khi tập nghiệp đến phải nhờ Tam Bảo, nhờ đại chúng. Tại sao tôi xây thất sâu bên trong? Vì có Tam Bảo, có đại chúng. Người xưa nói: “Phật cao nhất xích, ma cao nhất trượng”, ma là ma nghiệp của mình. Khi ma nghiệp trổ ra phải nhờ huynh đệ chia sẻ rồi mình mới phấn chấn đi tiếp con đường. Giống như trong kinh Hoa Nghiêm nói, khi mệt mỏi thì Phật hiện hóa thành, từ hóa thành đi tiếp đến bảo sở chứ đi một mạch không được.

Có bản giác rồi, phải đủ nhân đủ duyên tu tập thì thỉ giác lần lần mới hiện ra, mới chiếu soi. Lơ là nó mất, cho nên phải cọ xát, làm các việc thiện pháp để bổ túc, không phải là cứu kính mà bổ túc cho việc tu tập.

Cho nên, Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ nói: “Hữu vi tuy ngụy, xả tắc Phật đạo nan thành.” Pháp hữu vi tuy giả nhưng bỏ nó thì con đường Phật đạo không thành tựu. Chúng ta tu ở trong đại chúng tuy chậm nhưng tiến bước nào chắc bước đó.

Phật dạy tiếp:

Này thiện nam tử, tất cả chúng sinh từ vô thỉ đến nay có các loại điên đảo.

Trong Luận Đại thừa Khởi Tín, Tổ Mã Minh nói: “Gọi vô minh là bất giác, cũng gọi là điên đảo.”

Nói từ vô thỉ đến nay, tức nói chưa từng liễu ngộ, nên có bốn thứ điên đảo.

Chúng ta sống từ vô thỉ kiếp đến nay chưa từng bao giờ giác ngộ, chưa bao giờ tỉnh cho nên sanh ra bốn thứ điên đảo.

Thế nào là bốn?

  1. “Điên” tức là tâm thức cuồng loạn.

Tâm thức cuồng loạn có nghĩa là chưa bao giờ tỉnh để tu tập chuyển hóa, chạy theo vọng tưởng cho nó là của mình, tạo vô số nghiệp nên gọi là điên.

2.  “Đảo” là trái với giác tính, thuận với trần lao.

Tức là bỏ tính giác chạy theo trần lao phiền não.

3.  “Điên” chỉ cho oan cuồng.

  1. “Đảolà chấp trước, do điên nên có đảo, như do mê tự tâm mà nhận cái pháp khác.

Do mê tự tâm nên nhận tất cả các pháp là thật, gom về: tài, sắc, danh, thực, thùy; sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Chúng ta chạy theo nó gọi là điên đảo, bây giờ tỉnh bắt đầu xa lìa từng bước để hợp với tính giác.

Giống như người mê, bốn phương đổi chỗ.

Phật bắt đầu lấy ví dụ. Chẳng hạn, một người đến vùng núi sông hoặc vào nơi thôn dã, rồi nhận lầm cho hướng đông là hướng tây, hướng nam là hướng bắc.

Nhưng ngay lúc mê các phương cũng không chuyển.

Vì mê nên cho hướng đông là hướng tây, chứ hướng không có đổi chỗ.

Bỗng nhiên tỉnh ngộ thì các phương vẫn y như cũ. Bấy giờ suy xét lại cái mê này thì chúng hoàn toàn không có dấu vết. Trước không từ chỗ nào đến, nay cũng không có nơi để đi.

Khi tỉnh rồi các phương không có đổi chỗ, nó đứng yên một chỗ. Thì mới hay ra mê là ngay nơi tự thân của chúng ta chứ không phải các pháp chuyển đổi làm cho chúng ta mê. Giống như bị bệnh hay quên, bác sĩ cho uống thuốc tỉnh lại. Tỉnh lại thì mê nó chạy đi đâu? Là nó không có thực, do bị cuồng loạn điên đảo sanh ra.

Nói về tướng của vô minh, do mê chân trí pháp thân mà nhận bốn đại là thân, và duyên niệm là tâm; đó là tướng của vô minh.

Tức là nhận thân tứ đại đất, nước, gió, lửa; nhận tâm vọng tưởng suy tính là của mình, đó gọi là vô minh.

Đại sư Tăng Triệu nói: Pháp thân ẩn nơi hình chất, chân trí ẩn trong duyên lự”. Tức là pháp thân ẩn trong bốn đại, chân trí thì ẩn trong niệm duyên lự. Như ở trên tôi nói: Chữ liễu, liễulà nhận ra được liền.

Phật dạy tiếp:

Vọng nhận bốn đại là tướng của tự thân, duyên ảnh của sáu trần làm tướng của tự tâm. Nhận bốn đại là ngã, nhưng bốn đại này từ duyên giả hợp mà có. Không có ngã, không có chủ, rốt ráo là không, lìa ngã và ngã sở.

Ai cũng biết cái này không thật là của mình, mà không hiểu tại sao đụng chuyện là nó có thật. Nó không phải là chủ tể mà chúng ta làm chủ nó không được. Như ngày xưa lúc tôi về đây tóc đen mà bây giờ bạc trắng hết. Thân không có bất biến, tức là không đứng yên một chỗ, biến đổi liên tục; nó cũng không đồng nhất, tức là nó không có chủ tể, bởi vì đất khác với nước, nước khác với lửa, lửa khác với gió. Đất, nước, gió, lửa trong thân mượn bốn đại bên ngoài

bổ túc. Sáng cho ăn bún, trưa ăn cơm là mượn đất; rồi mượn nước, hơi thở là mượn gió. Chiều phải trả. Sư Ông Trúc Lâm nói, hạnh phúc của con người là mượn được trả được, hôm nào không trả được phải vào nhà thương. Nhà thương nói chịu thua thì đem về đóng 6 tấm ván là xong, trả về đất, nước, gió, lửa.

Có câu chuyện thiền thoại:

Thiết Chu một hành giả, một hôm đến chùa Tướng Quốc gặp Thiền Độc Viên, ông nói:

  • Tâm, Phật, chúng sanh cả ba đều không. Tánh Phật của hiện tượng là không, không thánh, không phàm, không mê, không ngộ, bốn đại đều không, tất cả các pháp đều không.

Sẵn cái dùi chuông, Thiền sư đánh lên đầu ông cái bốp. Ông nổi sân:

  • Tại sao Hòa thượng đánh tôi?
  • Ông nói cái gì cũng không, sao lại nổi giận?

Nói cái gì cũng không nhưng khi đụng chuyện thì có. Kinh Viên Giác nói: Thấy tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sanh, tướng thọ giả là Không. Nhưng khi đạp cây gai làm giật mình, vẫn còn cái ngã len lỏi trong đó. Chẳng hạn, ta đang đi, khúc gỗ ai để ngang đường bị vấp, nổi giận là chưa có vô ngã. Ta vui vẻ, bình thản dời khúc gỗ qua một bên là ngã không còn, nổi sân lên là ngã có mặt. Đơn giản vậy thôi.

Tu được rồi làm Phật sự dễ lắm. Người ta nói tới nói lui xì xào cũng bình thản, đâu có chạm tới cái ngã được đâu, đâu có thật đâu mà chạm. Có những người mới vào tu không thấy ngã, tu một thời gian: “Ông biết tôi ở đây là gì không? Tôi làm trưởng liêu đó nha.” Hồi xưa, chưa làm trưởng liêu không thấy ngã, bây giờ làm rồi tự nhiên cái ngã to đùng. Đáng lý càng tu cái ngã càng nhỏ, tại sao càng tu cái ngã càng lớn? Cái này chúng ta phải nghiền ngẫm suy xét.

Câu chuyện thứ hai:

Một hôm Đại Liên Trì viết sách Thập thiện hạnh, có ông tăng đến nói:

  • người nói thiền không một việc để khen, không một vật để chê. Bây giờ thầy viết sách này dụng ý gì?

Đại Liên Trì nói:

  • Ngũ uẩn trói buộc mãi không dừng, tứ đại đổi thay không hơn, cớ sao ông nói không thiện ác?

Không có thiện ác là khi nào thấy tánh, ngộ nhập Phật tri kiến. Còn bây giờ chúng ta bị ngũ uẩn trói, dẫn dắt mãi, phải tìm cách gỡ bằng cách tu tập, mài giũa.

Ông tăng chẳng phục còn phản bác:

  • Tứ đại vốn không, ngũ uẩn không có, các pháp thiện ác rốt cuộc không thiền.

Đại Liên Trì nói:

  • Ông không phải là người chân chánh tu tập phải không? Ngoài thiện ác còn bàn luận việc gì nữa?

Tăng liền tức giận mặt mày tái mét.

Có những vị cư sĩ học thiền chút chút, nói trên trời dưới biển, mình biết cách khích là họ nổi sân lên mặt tái mét, môi giựt giựt. Họ nói vậy thôi chứ có tu tập gì đâu, chỉ hiểu cái lý thôi. Còn người nhận được rồi dễ biết lắm, họ rất kính Tam Bảo, kính chư tăng.

Đại Liên Trì chậm rãi nói:

  • Sao ông không lau nhơ bẩn trên mặt đi?

Phật dạy tiếp:

Vọng nhận duyên ảnh sáu trần là tướng của tự tâm.

Ngài Hám Sơn nói có 3 điểm để chúng ta lưu ý:

1.  Sáu trần là cảnh, thể của thức là tâm, tâm đối căn trần mà có tướng duyên lự. Tướng duyên lự như hình bóng, toàn thể đều không.

Sáu trần là cảnh, thể của thức là tâm. Chẳng hạn như chiều nay ra chợ mua đồ, mình không để ý gì hết. Nhưng vì mình chưa phá cái thức tâm này, về tối ngồi thiền tự nhiên ảnh hiện: hồi sáng đi chợ gặp người này người nọ, gọi là “duyên lự”, duy thức học gọi là “lạc tạ ảnh tử”, cái bóng lưu lại hồi nào không hay. Mình đi theo con đường đó hoài thì cái bóng nó lưu, một thời gian cái bóng đẩy mình không tu nữa.

Cho nên tại sao người mới tu phải ít đi, ở trong đại chúng tu, chừng nào có việc Phật sự, chừng nào cha mẹ mình mất hoặc có việc cấp bách mới đi. Cố gắng tu tập, nếu không, cái bóng đẩy mình ra, gọi là duyên lự. Tuy rằng nó không có thực nhưng khi chưa phá cái thức, nó cũng dẫn mình đi.

2.  Tự tâm sáng tỏ linh tri, vốn không có duyên lự, nay lại nhận duyên lự là tự tâm, thì niệm niệm chạy theo đó mà nổi chìm trong biển khổ.

Tâm chúng ta sáng tỏ không có duyên lự mà do chạy theo, chìm đắm trong cái duyên lự đó, từ cái niệm nó dẫn đi mãi, rồi chìm trong biển khổ mất hút luôn. Vua Trần Thái Tông nói trong bài Bốn Núi:

Trời đất nấu nung vạn tượng thành, Xưa nay không mống cũng không manh. Chỉ sai hữu niệm quên vô niệm,

Liền trái không sanh nhận sanh. Mũi đắm các hương, lưỡi tham vị, Mắt mờ chúng sắc, tiếng mê tai.

Lang thang làm khách phong trần mãi, Ngày cách quê hương muôn dặm đường.

Chúng ta nhận cái hữu quên cái vô, trái bản thể rồi bắt đầu chìm nổi bất giác đi miết bây giờ trở thành chúng sanh. Giờ chúng ta xoay ngược lại là thành Phật. Từ chỗ mê mà chuyển lại thôi, ngoài ra không có con đường nào khác.

Từ khi Đức Phật ngồi dưới cội cây Bồ-đề 49 ngày đêm, thành đạo, Ngài giảng dạy gì cũng là mong mỏi chúng sanh nhận lại Phật tri kiến, không có con đường nào khác, nếu con đường khác thì không phải của đạo Phật, gọi là “ngoại tâm cầu Phật danh vi ngoại đạo”. Phật tha thiết dạy cách nhận lại ông Phật bản thể của mỗi chúng ta thì mới đúng con đường tu, nhân địa pháp hành bổn khởi Như Lai từ đó mà có. Dầu tu bất cứ pháp gì, tu tịnh, tu mật hay tu thiền đều phải quay lại nhận Phật của chính mình để sống, để tu, đoạn tận các nghiệp sanh tử lưu chuyển trong ba cõi.

Vì một sự nhân duyên lớn Phật mới ra đời, mở bày cho chúng sanh để cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến. Mà Phật tri kiến là Phật của mỗi người, không phải của Như Lai. Nói khác hơn Phật tri kiến là cái thấy biết của Phật của chính mình, phải xoay lại để nhận ra được chứ không có con đường nào khác. Tức là không chạy theo niệm duyên lự để nhận ra được tính viên giác, không có chìm nổi trong biển khổ nữa.

3.   Như hạt châu trong suốt chẳng thuộc xanh, vàng, đỏ, trắng, nhưng khi đối diện với xanh, vàng, đỏ, trắng thì hiện ra cái tướng xanh, vàng, đỏ, trắng. Người ngu thấy vậy liền chấp màu sắc chính là hạt châu. Vì mê tự tâm mà nhận lầm cái duyên ảnh.

 

 

 

Phật nói hạt châu trong suốt không có tướng. Chúng ta mê, sanh ra trong kiếp người rồi nhận xanh, vàng, đỏ, trắng là vật của mình; nhận thân này, tâm này là của mình. Thật ra nó không có tướng, do nhận các tướng rồi mê đắm, rồi chìm trong sanh tử. Nước này nước kia đánh nhau cũng là mê cái tự tâm mà nhận đủ thứ là của mình, mê cho nên tranh đấu với nhau.

Một hôm Đức Phật đưa hạt ngọc ma-ni cho Ngũ Đại Thiên Vương hỏi:

  • Hạt châu này màu gì?

Mỗi vị đứng mỗi phương nó hiện ra màu sắc khác nhau. Người thì nói màu đỏ, người nói màu xanh, màu vàng, màu tím, màu trắng. Phật cất hạt châu đó, rồi đưa tay ra hỏi ngọc này màu gì.

  • Bạch Thế Tôn, trên tay Thế Tôn đâu ngọc. Phật nói:
  • Hồi nãy, ta đưa ngọc thế gian thì mấy ông nói màu này màu nọ. Bây giờ ta đưa hạt ngọc xuất thế gian không có ông nào biết hết.

Ngọc xuất thế gian không có tướng nên khó nhận.

Tóm lại mê thân, mê tâm sinh ra bốn thứ điên đảo:

  1. Bốn đại chẳng phải ngã mà nhận là ngã, còn pháp thân chân ngã mình bỏ quên không nhận.
  1. Bốn đại như huyễn vốn không thấy có, còn pháp thân chân thật vốn thấy không.
  2. Duyên niệm sinh diệt nhận chân tâm, còn chân tâm thường hằng sáng tỏ không nhận lại.
  3. Duyên niệm như màu đen trong hạt châu, hoàn toàn không chấp có, còn chân tâm như ánh sáng trong hạt châu, thật lại thấy không.

Tôi xin kể cho đại chúng câu chuyện, câu chuyện này không giải thích để mọi người suy ngẫm về chỗ vô minh, nhận được tính viên giác. Tôi kể câu chuyện này vì sợ đại chúng lầm, nói có chân tâm thường hằng rồi mình về lom lom dẹp cái tối để nhận cái sáng của chân tâm.

Trong thiền thoại kể câu chuyện:

Thiền sư Hữu Đạo ngài nhập thất nhiều năm rồi, một hôm suy nghĩ: “không biết việc mình nghĩ có đúng hay không, thôi thì mình đi hành cước.”

Một hôm, ngài đi hành cước đến quán trà, chủ trà thấy ngài đến rất là mừng rỡ. Khi ngài ngồi xuống bàn, chủ trà nói:

  • Nếu con nói thiền thầy trả lời được, con cúng dường thầy một bữa trà thật ngon bốn lượng bạc làm lộ phí.

Ngài nghĩ mình nhập thất nhiều năm rồi, mà ông bán trà này là gì mà sợ, cho nên Thiền sư nói:

 

 

 

  • Ông cứ hỏi đi. Chủ quán hỏi:
  • Thưa thầy, gương xưa chưa chùi thì thế nào?

Thiền nghĩ bụng: “Tưởng hỏi gì, vậy lấy được 4 lạng bạc còn được uống bữa trà ngon. Ngài nói không suy nghĩ:

  • Đen như sơn.

Gương xưa là bản thể, bị vô minh phủ thì đen như sơn là đúng rồi.

Chủ quán lại hỏi:

  • Gương xưa đã chùi thì thế nào?
  • Chiếu trời chiếu đất. Chủ quán nói:
  • Không đúng, không đúng. Con xin lỗi thầy con không thể nào cúng dường được.

Thiền sư suy nghĩ: “Mình tu bao nhiêu năm, mình nhập thất rồi cọ xát, mài giũa mà ông bán trà nói không đúng, thôi về không đi hành cước nữa.”

Thiền sư về nhập thất. Sau 3 năm, Thiền sư Hữu xuất hiện tại quán trà, chủ quán vẫn thân thiết như xưa:

  • Mời thầy, kỳ này nếu thầy nói đúng, không những con cúng dường bữa trà ngon, còn lưu thầy lại một đêm, tối đảnh lễ thầy, sáng mai cúng thầy mười lạng bạc. Lúc này ông chủ quán trà nói:
  • Bach Hòa thượng, gương xưa chưa chùi thì thế nào? Thiền sư đáp mà không suy nghĩ:
  • Từ đây cách Hán Dương không Chủ quán hỏi tiếp:
  • Bạch Hòa thượng, gương xưa đã chùi thì sao? Thiền sư liền đáp không suy nghĩ:
  • Hoàng hạc trước lầu anh châu. Ông chủ quán nói:
  • Này anh nấu trà! Pha trà, pha trà gấp, trà thật là ngon đem đãi Thiền sư.

Sao lạ vậy? Hồi nãy nói gương xưa chưa chùi thì đen, trả lời như vậy đúng chứ. Đúng mà ở trên văn tự chữ nghĩa, là lặp lại diễn trình Phật nêu lên. Còn chỗ này là ngay trong giờ phút đó, là “liễu”, là trực nhận. Qua phần này, đại chúng phải lưu ý, “liễu vọng tức chơn”. Bao nhiêu đó là chìa khóa để nắm bắt tu, chứ không phải lom lom dẹp vô minh để chân tâm xuất hiện.

Phật dạy:

Giống như người bệnh mắt nhặm, thấy hoa đốm trong hư không và mặt trăng thứ hai; nhưng hư không thật ra không có hoa đốm, chỉ người bệnh vọng chấp. Do vọng chấp nên không chỉ mê lầm tự tính hư không, lại cũng lầm cho đó là thật nơi hoa đốm sinh ra. Do mê vọng này mà có sanh tử luân chuyển, cho nên gọi đó là vô minh.

 

 

 

Phật đưa ra ví dụ, giống như người bị bệnh mắt nhặm nhìn lên hư không thấy hoa đốm loạn xạ. Thật ra hư không chẳng có hoa đốm, vọng thấy hoa đốm là do mắt bệnh. Người tu được, chuyển hóa được thì sống với đại chúng không có dính mắc. Người tu không được, huynh đệ nhắc nhẹ mình cũng phiền não, cũng dính mắc. Rồi mình về, cái vọng đó hiện ra, nó sinh khởi. Bắt đầu mình nghĩ huynh đệ coi thường, khi dễ mình, chuyện gì mình cũng thấy phải quấy hơn thua. Giống như cái chân bị sứt móng đụng chỗ nào cũng đau, chân không sứt móng thì không đau, đi đứng thoải mái.

Khi chúng ta ra làm Phật sự cũng như thế. Tôi để ý, những người tu được họ làm Phật sự nhẹ lắm, họ giải quyết công việc rất là nhanh gọn. Còn những người tu không được, cho dù tu lâu, họ cứ rề rà, moi móc đủ chuyện. Khi tu được thấy cuộc đời quá đơn giản, còn nếu chúng ta tu không được thì dây mơ rễ má từ đó có ra. Người xưa nói các pháp vô sự mà do con người đa sự thành ra sanh sự. Khổ rồi nói: “Tu mà sao bị nghiệp chướng!” Là do mình, do con mắt mình bị nhặm mà mình không biết tu, không biết chuyển hóa. Trong cuộc sống tu hành, chúng ta phải lưu ý điểm này.

Phật dụ là nhấn vào mắt nhìn mặt trăng thì thấy bên cạnh mặt trăng có thêm một mặt trăng khác.

Chẳng hạn ngày 14, 15 buổi tối nhìn lên bầu trời có một mặt trăng, chúng ta lấy tay ấn vào mắt thì thấy mặt trăng thứ hai, là do ta ấn con mắt. Do người ta đụng vào cái ngã của mình nên mình thấy hai, thấy ba, thấy bốn … Biết cách tu, thấy nó đơn giản.

Hoa đốm trong hư không, mặt trăng thứ hai huyễn dụ cho vọng kiến.

Tức là vọng thấy, gọi là vọng tưởng.

Chúng sanh một niệm mê tâm ngăn che giác tánh viên minh, rồi ở nơi thể viên minh đó vọng thấy thân tâm sanh diệt. Cho nên nói hư không thật không có hoa mà người bệnh vọng thấy có.

Do một niệm mê tâm nên ngăn che giác tính, rồi ở trong thể viên minh đó, vọng thấy có thân tâm sinh diệt trôi nổi trong biển khổ sanh tử.

Nếu ngộ được chân như vô tướng chỉ là nhất tâm, thì như trên hư không vốn không có hoa, trên bầu trời chỉ có một mặt trăng thôi.

Chớ không có hai nếu như ngộ ra được chỗ đó. Cho nên trong Kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy:

Thấy nghe như huyễn uế, Ba cõi tợ không hoa.

Đưa nghe về chân tính, Uế căn sẽ diệt trừ,

Trần tiêu giác viên tịnh.

 

 

 

Chúng ta thấy nghe không phải ở chỗ chân như, chỗ thực tính mà thấy nghe phân biệt, thấy ba cõi là thật. Nó không có hoa đốm mà do phân biệt chia chẻ, thị phi trong đó, nên thấy ba cõi giống như hoa đốm nổi cộm lên. Từ ở trong cái mê loạn đó, Phật nói chúng ta vọng thấy như thế cho nên sanh tử luân chuyển.

Có những cuốn sách viết, sau khi chết, thần thức đi ra rồi bắt đầu thấy cảnh này cảnh nọ, vì mê, tùy theo nghiệp duyên đến, nặng đâu sa đó, rồi chìm nổi trong biển khổ tiếp tục nữa. Là do không chuyển hóa trong khi tu tập, luôn chạy theo vọng tưởng, thức tâm hằng ngày. Chúng ta ngồi không chịu yên, nghĩ chuyện này chuyện nọ, xóm trên xóm dưới đủ thứ. Chúng ta không ở trong cái thể viên minh đó mà toàn sống trong vọng thức thì khi chết làm sao chuyển hóa được, bị nghiệp dẫn.

Vì sao bị luân chuyển trong sanh tử?

Do vọng chấp thân tâm nên luân chuyển mãi trong sanh tử. Do kiến chấp này nên trong trần sa kiếp chịu luân hồi không dứt, nên gọi là vô minh.

Do vọng chấp thân. Nói vậy chứ khó lắm, phải tu miên mật. Khi các ngài phá thân kiến, giới cấm thủ, nghi, tức là bước vào dòng thánh Tu Đà Hoàn. Phá thân kiến là suốt cả cuộc đời, đi đứng nằm ngồi đều thấy thân không thật; người ta chửi mắng, đánh đập gì

cũng không thấy thật, quán tận cùng để đoạn tận các khổ đau. Không phải như chúng ta, ngồi trong giảng đường thấy thân không thật, ra ngoài bị người ta nói nặng rồi buồn khổ, là chưa bước vào dòng thánh.

Do chấp vào thân, chấp cái suy nghĩ cho là tâm của mình nên lưu chuyển mãi. Người xưa nói: “minh thì giải thoát, vô minh thì luân chuyển”. Những phương pháp chánh niệm, tỉnh thức là luôn luôn thắp ánh sáng hiện hữu ngay nơi chính mình, để cho không bị vô minh che. Bị vô minh che thì đụng tới là đau, khi “minh” tức là sáng suốt vượt qua được. Cho nên người tu phải khéo.

Trong Kinh Tương Ưng Bộ kể câu chuyện:

ông Phạm Chí Bà-la-môn đến gặp Phật:

  • Bạch Đức Thế Tôn, hôm nay tôi một điều xin Thế Tôn chỉ dạy.

Phật bảo:

  • Ông cứ nói.
  • Tôi muốn hạnh phúc, Ngài chỉ cho tôi làm thế nào để được hạnh phúc.

Phật bảo:

  • Ông bỏ cái “tôi”, bỏ cái “muốn” thì sẽ được hạnh phúc.

“Tôi” là cái ngã, “muốn” là tâm tham ái. Chỉ cần buông cái ngã, bỏ cái muốn là hạnh phúc. Buông

bỏ không được cho nên đau khổ. Hạnh phúc không thể nào tìm được, chỉ cần buông xả là hạnh phúc tự nhiên đến.

Có con quỷ La-sát chúa muốn đem giấu hạnh phúc của con người vì nó không muốn con người hạnh phúc. Nhiều ý kiến cho là cần phải giấu thật xa, chẳng hạn như trên cung trăng thì con người mới không tìm được. Cuối cùng một con quỷ nói, chỉ có một chỗ họ không thể tìm được, đó là giấu chính ngay nơi con người của họ.

Nhờ Phật chỉ dạy, biết ngay nơi mình, chỉ cần buông cái ngã, buông tâm tham chấp thì hạnh phúc đến khỏi cần tìm. Thật vậy, chúng ta làm việc gì mà có cái ngã, có tâm tham đắm trong đó thì tự nhiên nó chướng. Buông hai cái đó là hạnh phúc an ổn. Nó là bước đệm đi đến chỗ cứu cánh.

Tóm lại, nói về căn bản vô minh Phật dạy có ba điều:

  1. Vọng chấp có hoa đốm thật.

Hoa đốm không có mà do bệnh nên chúng ta cho là chắc chắn có thật. Phật dạy các pháp là vô ngã, không có thật, do các yếu tố, do các nhân duyên sinh khởi hình thành lên.

2.  Vì vọng có hoa đốm mà quên cái tự tánh hư không.

Khi ngồi thiền cứ đắm đuối, len lỏi theo vọng, bị nghiệp vọng chi phối. Có nghĩa là bị nghiệp lực

nhiều đời lôi cuốn, chìm nổi trong cái vọng đó mà quên sống trong cái tự tính hư không.

3.   Lầm trong hư không thật có hoa sanh ra. Cũng vậy, từ vô thủy đến nay, chúng sinh vọng chấp thân tứ đại này là thật có, tâm vọng tưởng lăng xăng này là thật có, mà quên tự tính viên giác của chính mình, từ đó vọng có sự lưu chuyển trong sanh tử. Vì vọng thấy có thực sinh, thực diệt nên gọi là vô minh.

Phật dạy tới dạy lui, biết cái vô minh là như thế. Chúng ta vọng thấy có cái thân này thật, cái tâm lăng xăng của mình cho là thật, ở trong đó sanh diệt chìm nổi nên gọi là vô minh.

Này thiện nam tử! Vô minh này không có thực thể.

Trước gọi là đoạn vô minh, nhưng Phật sợ chúng sanh chấp là có vô minh thật để đoạn nên bây giờ Phật chỉ vô minh này không có thực thể.

Như người trong mộng, khi mộng chẳng phải không có.

Vô minh không có thật là đối với những người ngộ được diệu tâm viên giác, còn đối với chúng ta bây giờ là thật. Chẳng hạn, ngủ nằm mộng thấy bị cọp rượt, nói không có cũng không đúng, nếu không có thì thức dậy không có sợ hãi. Khi mộng thấy có cảnh vật, đến khi thức dậy cảnh vật đó chẳng có, nghĩa là khi thức dậy không có vô minh. Còn bây giờ, chúng

ta biết rằng mình còn vô minh, còn tham ái, sân hận, còn bực tức. Biết còn để tu, hết rồi thì không cần tu nữa, tự tại thong dong trong cuộc sống giữa đời thường này, đói ăn, khát uống, mệt ngủ.

Bây giờ, chúng ta còn đang ở trong mê nên cần phải 3 giờ sáng dậy ngồi thiền. Giống như mạng internet rất yếu vào những giờ cao điểm, mạnh nhất là lúc 3 giờ sáng mọi người ngủ hết. Thức dậy, ngồi thiền lúc 3 giờ sáng cũng như thế, tâm an yên gấp nhiều lần hơn khi mình ngồi buổi trưa hoặc buổi chiều; bởi vì chúng sanh cõi Ta bà phóng ra những nguồn năng lượng không được thanh tịnh, năng lượng phải quấy hơn thua. Cho nên, các vị Tổ sư đã kinh nghiệm chế ra những điều luật là các thầy Tỳ-kheo không được đến miếu quan hoặc chợ búa thiền định. Phải lên núi non, rừng thẳm tu tập là có nguyên nhân.

Khi ngộ được diệu tâm, các vị thiền sư thấy cõi này từ ngọn cỏ, khóm cây, chim kêu đều rõ ràng là tịnh độ. Các ngài thực chứng, thấy được cái thật tướng, còn chúng ta thấy trong thơ văn. Khi tu, thực chứng trong cảnh đó thì lúc này tan mộng, còn bây giờ chúng ta nói cho vui thôi, vẫn đang ở trong mộng.

Như hoa đốm diệt trong hư không, không thể nói có chỗ diệt cố định. Vì cớ sao? Vì không có chỗ sanh. Tất cả chúng sanh ở trong vô sanh, mà vọng thấy có sanh diệt, nên nói luân chuyển trong sanh tử.

Đức Phật nhắc chúng ta biết là còn may mắn, giống như đi trên một chiếc thuyền bỗng sấm chớp nổi lên, thuyền chìm nhưng trên biển có một miếng ván mình chụp được. May mắn là tuy trôi nổi trong biển khổ sanh tử mà đều ở trong vô sanh vận hành. Phật nói chúng sanh đang ở trong mê nhưng vô sanh vận hành nên chúng ta mới có cơ hội được đưa vào thiền viện tu, chứ nếu vọng tưởng làm nền tảng thì đưa đi mất luôn.

Được sanh làm người là có túc duyên lớn, bởi vì sự vận hành của con người do vô sanh làm nền tảng. Khi nghe tiếng khánh, tiếng chuông, tiếng mõ mình thức tỉnh, có nhân duyên gì đó, cho nên gọi là ở trong vô sanh. Nhờ thiện tri thức khai thị mình quay lại sống chỗ vô sanh.

Phật dạy:

Vô minh không có thực thể.

Nếu mà nó có thật thì ngàn đời chúng ta tu không được. Nó giống như là điện chớp, là sương buổi sớm, là bào ảnh:

Nhứt thiết hữu vi pháp, Như mộng huyễn bào ảnh, Như lộ diệc như điện.

Chỉ là giả danh, tìm cầu bên trong hay bên ngoài đều chẳng có thể được. Nhưng suy xét tận nguồn chân thật của

 

 

 

minh thì mới biết rằng, đó chính là diệu minh.

Suy tận cùng, vô minh mới phát hiện rằng vô minh tức là diệu minh. Ngay chỗ vô minh tức là minh chứ không tìm đâu ra hết.

Ma-đăng-già là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là bổn giác, là cái giác gốc. Mê là Ma-đăng-già, bà ngộ ra được bà xuất gia tu chứng quả. Như vậy không có phá vô minh, mà “liễu” vô minh ngay đó là “minh”. Cho nên gọi là:

Vô minh thật tánh tức Phật tánh, Huyễn hóa không thân tức pháp thân.

Thật tánh vô minh tức là Phật tánh. Chúng ta không phải phá vô minh để nhận Phật tánh, dẹp cái vô minh để nhận cái “minh” là tu trật, mà chỉ cần “liễu” cái vô minh không thật tức khắc diệu minh kế bên. Suy xét tận nguồn nó là như thế. Đó là phương pháp đốn giáo.

Liễu ngộ vô minh vô thể thì các hành không sinh, vì không sinh nên không diệt.

“Liễu” nó không thật thì nó không sinh nữa, vì không sinh nên không có diệt; sinh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui, ngay đó luôn.

Như người trong mộng, khi mộng chẳng phải không có cảnh vật.

Ngài Hám Sơn nói, khi mê bị cảnh vật chi phối. Trang Tử nằm mộng thấy hóa thành con bướm dạo chơi, tỉnh giấc ông không biết mình hóa thành bướm hay bướm hóa ra mình. Trường hợp này để cho đại chúng suy ngẫm trong đời tu của mình. Các vị thiền sư nói phải thắp sáng chánh niệm liên tục, đừng để vô minh che. Lúc nào cũng tỉnh: nhổ cỏ, nấu cơm, làm việc gì cũng tỉnh thì không có vô minh. Vừa nhích là bóng tối phủ liền.

Có câu chuyện thiền thoại:

anh chàng bị đến chơi nhà bạn, trời tối mới ra về. Người bạn thắp cho anh cây đèn lồng để anh cầm đi đường. Anh nói:

  • Tôi thì cây đèn đối với tôi cũng như không. Người bạn nói:
  • Anh cầm cây đèn để người khác thấy không đụng

Nghe lý, anh cầm theo cây đèn. Đi một đỗi, anh bị một người đâm sầm vào. Anh tức quá:

  • Bộ ông không thấy đường sao, tôi đã cầm cây đèn mà ông còn đụng tôi?
  • Thưa anh, đèn của anh đã tắt rồi.

Nhiều khi, người ta đụng mình, mình tưởng là lỗi của người ta, thật ra là do cây đèn của mình đã tắt. Nếu đèn mình sáng thì không ai đụng được mình.

Bây giờ, tu tập là phải thắp sáng chánh niệm, thắp sáng tỉnh thức để an yên trong cuộc sống. Lúc nào cũng tỉnh thì chuyện gì cũng vượt qua.

Và đến khi thức dậy rõ ràng cảnh vật chẳng có.

Thiền sư Huyền Giác làm bài thơ:

Đốn giác liễu Như Lai thiền, Lục độ vạn hạnh thể trung viên. Mộng lý minh minh hữu lục thú,

Giác hậu không không đại thiên.

Có nghĩa là:

Đốn giác rồi Như Lai thiền, Sáu độ muôn hạnh thể tròn đầy.

Trong mộng lăng xăng bày sáu nẻo, Tỉnh rồi bằng bặt dứt ba ngàn.

Trong mộng thì bày ra đủ ba đường sáu nẻo. Khi ngộ rồi mới biết rằng thiền đang tu là thiền Như Lai chỉ về tâm tông, chỉ về cái gốc. Nhận ra đó là nhận được tính viên giác, trong đó đầy đủ sáu độ muôn hạnh, thể tròn đầy, tức là trong tự tính đầy đủ không thiếu gì hết.

Tôi phân tích sáu điều cho đại chúng thấy:

  1. Bố thí cho người mà không bám vào tướng của vật đưa bố thí thì gọi là bố thí độ.
  2. Tự tính thanh tịnh không có lỗi, tu từ tự tính,

không có dấy niệm phải quấy hơn thua thì gọi là trì giới độ.

  1. Tự tính không sinh gọi là nhẫn nhục độ.
  2. Tự tính hằng giác không có mê thì gọi là tinh tấn độ. Không phải ngồi thiền hay tụng kinh gọi là tinh tấn.
  3. Tự tính không loạn gọi là thiền định độ.
  4. Tự tính không mê gọi là trí huệ độ.

Lục độ ba-la-mật nằm ngay nơi tự tính chúng ta. Khi sống với tâm viên giác có tròn đủ: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ nằm ở đó hết, sáu độ muôn hạnh tròn đầy ngay nơi tự tính. Cho nên Lục Tổ khi ngộ rồi, Ngài nói: “Đâu ngờ tự tính vốn tự đầy đủ!” Ngài ngạc nhiên không ngờ tự tính đầy đủ sáu độ ba-la-mật, tứ vô sở úy, thập bát bất cộng pháp.

Ngài Quy Sơn nói:

Thân huyễn nhà mộng, trong không vật sắc,

Tức là từ nơi cái Không mà hiện ra sắc tướng.

trước không cùng, sau chẳng biết. Ra đây vào kia, xuống lên quá nhọc, Chưa khỏi tam luân, bao giờ thôi dứt.

Nói gì nói, nhưng vẫn ở trong mộng thì nó bày ra sáu nẻo: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, trời, người, a-tu-la. Khi tỉnh rồi mới dứt bặt.

Thiền thoại kể câu chuyện:

Có ông tăng đến hỏi Thiền Pháp Nhãn:

  • Bạch Hòa thượng, trong Kinh Lăng Nghiêm Phật dạy: Một người trở về nguồn chơn thì mười phương thế giới thảy đều tiêu mất, nhưng mà tại sao lại thấy ngọn núi trước mắt vẫn còn y nguyên?

Ví dụ, khắp đất nước Việt Nam núi non vẫn còn đầy đủ, chẳng lẽ không có người ngộ đạo?

Thiền Pháp Nhãn trả lời:

  • Một người trở về nguồn chơn, mười phương thế giới thảy đều tan mất.

Mười phương thế giới thảy đều tan mất là tan cho ai? Cho người ngộ, có nghĩa là không chấp trên tướng mà sanh tâm. Ví dụ, nhìn cái tượng này mà không sanh tâm; cái tượng vẫn hiện hữu mà không chấp, không dính mắc, không đắm đuối thì có cũng như không. Cho nên nói “sắc tức thị Không”. Ngay nơi cái Không tự nhiên chúng ta khởi lên vô số niệm là “Không tức thị sắc.” Học Bát-nhã phải hiểu điểm đó.

Thiền sư Duy Tín đời nhà Tống nói:

Trước ba mươi năm thấy núi sông núi sông. Sau gặp thiện tri thức chỉ dạy, thấy núi sông không phải núi sông. Sau ba mươi năm thấy núi sông trở lại núi sông.

Ban đầu, “thấy núi sông là núi sông” là dính

mắc, đắm đuối, là ở trong chỗ đó sanh đủ chuyện. Khi được gặp thiện tri thức chỉ dạy, quán chiếu kỹ thì “thấy núi sông không phải là núi sông” mà do tất cả các yếu tố duyên sinh hợp lại hình thành nên không bám chấp, không dính mắc nữa. Khi tu ba mươi năm rồi mới thấy thật tướng núi là núi, sông là sông, trả các pháp trở về nguyên thể không dính mắc.

Như các hoa đốm diệt mất trong hư không, nhưng không thể nói nhất định có một chỗ để hoa diệt. Vì sao? Vì không có chỗ sinh ra.

Cho nên Phật dạy:

Khi thấy hoa huyễn, nếu thật là có, thì khi không thấy liền nói có chỗ diệt. Nhưng khi thấy hoa thì hoa vốn không có chỗ sinh; đã không thấy chỗ sinh thì sao lại tìm chỗ diệt?

Do mê thấy chỗ hư không sanh ra hoa, thật ra không có.

Phật dạy tiếp:

Tất cả chúng sanh ở trong chỗ vô sanh mà vọng thấy có sanh diệt, nên nói là luân chuyển sanh tử.

Ở chỗ vô sanh mà vọng thấy có chỗ sanh diệt, cho nên Phật khẳng định:

Vô minh và sanh tử đều không, chúng sanh ở trong chỗ Không này khởi mê tình vọng tưởng, nên thấy có sanh tử luân chuyển.

 

 

 

Phật dạy tu theo viên giác:

Này thiện nam tử! Người tu viên giác nhân địa của Như Lai, biết được không hoa, liền dứt sanh tử.

Biết được hoa đốm sanh từ con mắt bệnh liền dứt sanh tử. Sống với tự tánh biết, lìa hoa đốm tức là hết sanh tử luân hồi. Từ sự dụng công hằng đêm chúng ta mới cảm được chỗ này.

Cũng không có thân tâm thọ cái sanh tử kia, chẳng phải làm cho nó thành không mà bản tánh nó vốn không.

Ngài Hám Sơn luận:

Đoạn này là khai thị diệu môn đốn ngộ để hiển bày công dụng của viên chiếu, chỉ là một chữ “biết”.

Thiền sư Hám Sơn chỉ đâu khác Sư Ông Trúc Lâm. Tham biết tham, sân biết sân, chỉ cần sống với tánh biết. Lìa cái đó là xong chứ không phải dẹp cái đó để trở về cái biết. Chỉ cần nhận được tự tánh viên giác, cái biết tự tánh chứ không phải là cái biết vọng giác, tức khắc không theo cái luân chuyển nữa.

Ngồi thiền tự nhiên nghiệm được. Mới thì chưa được đâu, phải năm, mười năm, hoặc hai, ba mươi năm. Người xưa nói ông cứ tu đi, đừng nghĩ ngộ hay nghĩ gì hết. Giống như người học võ, nhuần nhuyễn rồi nhắm mắt đỡ cũng trúng. Chúng ta tu cũng vậy. Tu đến một giai đoạn, vào ngồi là tự nhiên sống với

cái biết. Vọng cũng làm biếng không đến với mình, từ từ vọng thưa dần. Giảng Kinh Viên Giác mà không có tu thiền là rất khó giảng. Giảng trên giáo lý giảng không được, vì toàn là chỗ công phu tu thiền.

Ngài Hám Sơn bình tiếp:

Nhân địa tu hành của chư Phật chỉ dùng tự tính viên giác, cái thể tự tâm tịch diệt. Nếu một niệm liễu tri thân tâm thế giới, thì rõ biết hoa đốm ở trong hư không xưa nay chẳng thật có, sanh tử ngay đó liền đốn dứt. Vì thân tâm vốn không, nên không có người thọ cái sanh tử kia.

Biết nó không có thật, không theo nó thì không luân chuyển trong sanh tử.

Tóm kết đoạn chánh văn viên giác:

1.   Như Lai ở nơi nhân địa đã tu viên giác, tức là nương chân; biết đó là không hoa, chính là ngộ cái vọng.

  1. Không luân chuyển nghĩa không pháp sanh tử. Đã biết vạn pháp như không hoa thì lại sự luân chuyển. Một viên hoàng đan chỉ sắp thành vàng, một lời chân điểm phàm thành thánh, nhân địa như vậy mới gọi là chân tu.

Chỗ này, đại chúng lưu ý. Ở đây, Ngài Hám Sơn nói, không dễ có túc duyên được nghe pháp này. Hôm nay, chúng ta nghe, tin chắc và còn tu pháp này, là giống như sắt điểm thành vàng. Ngay trong cái vọng điên đảo chỉ cần “liễu vọng” thì ngay chỗ phàm

phu là thánh nhân. Rớt vào chỗ đó là diệu môn đốn ngộ, mới thật là chân tu, là đang đi trên con đường nhân địa vô sanh mới được quả thường trụ. Có nghĩa là tu được nhân địa tự tính viên giác này quả Phật mới đến. Còn tu nhân Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát phải đi qua thứ lớp.

Đây là diệu môn đốn giáo, chúng ta có túc duyên sâu nên nghe rồi tin, áp dụng tu và chứng nghiệm. Pháp này không phải là thường, cho nên khi Phật chứng vô thượng Bồ-đề, Ngài do dự không muốn nói pháp này vì không biết chúng sanh có tin không. Nếu không tin làm tổn hại tiền nhân, không tin mà phỉ báng thì rớt vào đường khổ nên Ngài định nhập Niết-bàn.

3.  Không có thân tâm lãnh chịu sanh tử tức không có người sanh tử. Nghĩa là nếu chấp có ngã là người thoát luân hồi thì chưa tránh được cái chấp ngã.

Chúng ta nói phá ngã để thoát luân hồi tức là có cái gì để thoát luân hồi. Cho nên, Ngài nói:

Ngã và ngã sở đều lìa thì mới gọi là giải thoát. Nên Tâm Kinh nói, chiếu kiến năm uẩn đều Không, vượt qua tất cả khổ nạn. Bên ngoài lìa thế giới, bên trong bặt thân tâm. Đã không chấp thân thì thân đồng hư không, chẳng chấp tâm thì tâm đồng pháp giới.

Lìa hết tất cả thì tự nhiên tâm rỗng rang, tự tại, tức khắc giải thoát. Chọn con đường này cho ngày cuối cùng chúng ta ra đi. Chúng tôi thường khai thị cho người sắp mất buông xả hết, đừng chấp thân, đừng chấp tâm; ngay giờ phút này đừng dính mắc vào thân, đừng chấp vào những tâm niệm sinh diệt thì họ ra đi. Giống như con diều dính với sợi chỉ, chỉ cần ngắt sợi chỉ là nó rời đi.

Cái tri giác kia quý như hư không, biết hư không tức là biết tướng hoa đốm cũng Không, và không thể nói không có tánh tri giác. Có không đều dẹp thì mới gọi là tùy thuận tánh viên giác thanh tịnh.

Đoạn này là Phật chỉ dạy, quét sạch dấu vết năng sở đối đãi, để hiển bày tánh viên giác bình đẳng, rốt ráo tịch diệt, một tâm trí tỉnh giác.

Phật sợ chúng ta chấp cho nên dẹp hết cái hay biết, năng sở, đối đãi, phàm thánh. Dẹp hết thì tự tánh viên giác mới hiển lộ, gọi là tùy thuận tánh viên giác tu.

Trí giác kia chính là yếu chỉ “biết” của phần trên, là biết hoa đốm ở trong hư không.

Pháp thân thanh tịnh giống như không, nghĩa giác thể này tuy cái sẵn bị minh che lấp, nên từ xưa đến nay bất giác.

Pháp thân của chúng sanh thanh tịnh giống như

hư không, giác thể này có sẵn nhưng bị vô minh che lấp; bị đúng sai, hơn thua, năng sở chủ khách che nên bất giác.

Nay nhờ trí quang minh một lúc chiếu soi thì vô minh đốn phá, bản thể ngay đó hiện tiền thì muôn kiếp sanh tử ngay đó đốn dứt. Ấy là biết được không hoa, tức là không bị luân chuyển.

Tức là dùng cái biết của thủy giác phá vô minh để bản thể hiện tiền, dứt sanh tử.

4.  Ý nghĩa ban đầu dùng trí chiếu chỗ mê lầm; mê lầm diệt, thì trí chiếu cũng buông luôn.

Dùng thủy giác đốn phá vô minh xong, rồi cái thủy giác này thể nhập vào trong bản giác luôn.

Song sở chiếu đã lặn, nếu còn trí năng chiếu thì vẫn còn vô minh, nên cần phải bỏ nó luôn.

Đây thì năng sở cả hai đều quên, tịch chiếu chẳng hai. Đây chỉ có cái thể chiếu như trí đứng một mình, nên nói cũng không thể nói không tánh tri giác. Thẳng đến tâm cảnh cả hai đều quên, năng sở đều dứt, nên nói có không đều bỏ; đây chính là hiệp nhất một tâm tịch diệt. Cho nên Phật dạy, đó mới gọi là tùy thuận tánh viên giác thanh tịnh.

Chỗ này chúng ta tự thầm hợp chứ không phải lúc nào cũng dùng cái biết để chiếu soi. Bởi vì khi vọng lặng thì trí chiếu soi hợp nhất là một thể tịch

diệt, mới gọi là tùy thuận tính viên giác. Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên ghi:

Thiền sư Quang Dũng ban sơ đến yết kiến Thiền sư Ngưỡng Sơn. Ngưỡng Sơn hỏi:

  • Ông đến đây làm gì?
  • Con đến lễ ra mắt Hòa thượng. Ngài Ngưỡng Sơn hỏi:
  • Lại thấy Hòa thượng chăng?
  • Dạ thấy.
  • Hòa thượng sao giống lừa?
  • Con thấy Hòa thượng cũng chẳng giống Phật.
  • Nếu chẳng giống Phật thì giống cái gì? Ngài Quang Dũng nói:
  • Nếu chỗ giống thì cùng với lừa đâu khác?

Ngay trong bản thể vô nhất vật, nếu nói giống Phật, giống Bồ-tát thì cũng có vật để giống.

Ngưỡng Sơn rất đỗi ngạc nhiên nói:

  • Phàm thánh cả hai đều quên, tình dứt, thể hiện bày, ta lấy đây để nghiệm xét cho ông, 20 năm không kể đến. Ông nên gìn giữ.

Nghĩa là ông nên bảo nhậm. Sau này, Ngài Ngưỡng Sơn nói, đây là nhục thân Bồ-tát tái hiện lại, đến cảnh giới phàm thánh cả hai đều dứt, không còn

ở trong đối đãi nữa.

Tóm kết phần “Tùy thuận tánh viên giác”: Thành tựu nhân địa bổn khởi của Đức Phật là:

Có, không đã không còn chấp nơi tâm, thì đó là chỗ tâm hành và đường ngôn ngữ bặt, giác thể thanh tịnh từ đây mà hiển lộ. Chỉ không trái với giác thể, hợp với trần lao, tức là tùy thuận mà không có cái năng tùy thuận.

Tức là sống với cái giác thể mà bỏ trần lao, chứ không hợp nhất trần lao như ngày xưa.

Như vậy, chấp đã hết, bệnh cũng trừ, thì mới khởi cái tâm vận dụng công hạnh.

Chấp hết, bệnh trừ! Bây giờ mới khởi công hạnh đi vào trong cuộc đời làm nhiêu ích chúng sanh, bởi vì lúc này chúng ta biết bơi rồi. Giới Bồ-tát thừa đã thọ là biết bơi rồi. Giống như chúng ta làm ra được hoa màu, đem cho mọi người cùng hưởng gọi là nhiêu ích hữu tình giới. Trong nhiêu ích hữu tình giới này, bệnh chấp chúng ta không còn nữa, tất cả các việc chẻ củi, nấu cơm, hành đường, trị nhựt vui làm không dính mắc gọi là tùy thuận tính viên giác. Càng chấp càng khổ, bớt chấp thì bớt khổ. Cái chấp hết thì bệnh càng ngày càng lui, bệnh nghiệp cũng tiêu luôn. Khi ấy phát nguyện lực đi vào cuộc đời làm các công hạnh.

Bấy giờ tụ cát làm tháp, vẽ hình trên đất, chắp tay cúi đầu đều là công đức viên thành Phật đạo.

Chẳng hạn, chúng ta đắp ụ cát nói đây là tháp của Phật, vẽ trên đất chữ Phật cũng là công đức, chắp tay xá xuống cũng là viên thành Phật đạo. Người tu đạt cảnh giới này, chỉ cần chú nguyện hay khai thị cho chúng ta cũng là điều may mắn. Cho nên, đại chúng sắp tới thọ giới đàn Chơn Thành có phước lắm vì toàn các bậc cao tăng. Trong giới đức các Ngài nhiêu ích ra, đại chúng thọ nạp năng lượng để đắc được giới thể.

Ông Bùi Hưu đến chùa, vào nhà Tổ thấy hình các vị Cao tăng vẽ trên vách, ông hỏi thầy Trụ trì:

  • Hình Cao tăng đây không thấy Cao tăng đâu? Thầy Trụ trì nói:
  • Tôi không biết. Bùi Hưu hỏi tiếp:
  • đây thiền không?
  • Hồi sáng Hòa thượng mới tới, dáng vẻ giống như Thiền sư.

Bùi Hưu bảo:

  • Xin Thầy mời vị đó ra

Thầy Trụ trì mời ngài Hoàng ra. Thấy Ngài, Bùi Hưu thưa:

 

 

 

  • Khi nãy tôi một câu hỏi Thầy Trụ trì, nhưng ngài tiếc lời không đáp, giờ xin hỏi Thiền sư: “Hình Cao tăng ở đây mà Cao tăng ở đâu?”

Ngài Hoàng gọi:

  • Bùi Hưu!

Bùi Hưu ứng thanh:

  • Dạ.

Ngài Hoàng hỏi:

  • Ở đâu?

Ngay đây, Bùi Hưu biết chỗ của Cao tăng.

Kêu “Bùi Hưu!” là năng lượng từ nhiêu ích hữu tình giới của người chứng đạo phóng ra chứ không phải chuyện thường, năng lượng đi thẳng vào trung não của ông Bùi Hưu. Bùi Hưu “Dạ!” Ngài Hoàng Bá hỏi “Ở đâu?” Bao nhiêu nghiệp chướng rớt xuống hết, ngộ đạo! Còn năng lượng bên trong chúng ta không có, ví dụ kêu: “Bùi Hưu!” Trả lời: “Thầy kêu con chi?” Cho nên đòi hỏi chúng ta phải tu. Tu được rồi thì làm gì cũng lợi ích, làm gì cũng viên thành Phật đạo. Người ta nói một người sáng đạo làm lợi ích tam thiên đại thiên thế giới, tôi tin điều đó.

Khi ông Bùi Hưu bị bệnh nặng, Ngài Hoàng đến thăm. Thấy hơi thở Bùi Hưu yếu, Ngài Hoàng Bá kêu: “Bùi Hưu!” Ông giật mình dậy toát mồ hôi. Ngài Hoàng Bá hỏi:

  • Hồi nãy ông thấy gì?
  • Bạch Hòa thượng, con thấy con xuất thần ra, nóng quá chịu không nổi thì con thấy một cái Con định nhảy xuống ao tắm. Bỗng nhiên con nghe tiếng Hòa thượng kêu “Bùi Hưu”, con giật mình dậy.
  • Nếu không nhờ Lão tăng giờ này ông làm rồng rồi.

Ngài Hoàng Bá lại cứu ông lần nữa. Từ đó về sau, ông Bùi Hưu dốc chí tu tập.

Bồ-tát đều tu theo tự tính viên giác chứ không phải chỉ riêng Phật.

Vì cớ sao? Vì tánh hư không là bất động; trong Như Lai tàng không có khởi diệt; vì không có thấy biết, như pháp giới tính rốt ráo viên mãn khắp cả mười phương.

Phật dạy, khi mắt nhặm thấy hoa đốm giữa hư không, cũng giống như người mê thấy cảnh vật có thật. Vì thấy có thật nên bị vật nó lôi, rồi đắm nhiễm không có phút giây nào tỉnh; song khi tỉnh thì hoa đốm không còn nữa, vì tánh hư không này là bất động, trong Như Lai tàng không có khởi diệt.

Hư không dụ cho tánh giác, hoa đốm dụ cho vô minh. Hoa đốm hết nhưng hư không vẫn còn. Vô minh hết mà tính giác không mất. Trong Như Lai tàng không có khởi diệt. Vì chúng ta mê nên thấy có khởi diệt, ngộ rồi thì trong Như Lai tàng không có.

Mười phương chư Phật và các đại Bồ-tát từ quá khứ, hiện tại đến đời chúng sanh sau này, những ai tu theo Đại thừa thì đều y nơi pháp viên giác này tu.

Đức Phật cũng gọi là Như Lai tàng, mà là Như Lai xuất triền. Chúng ta cũng có Như Lai tàng nhưng là Như Lai tại triền. Triền có nghĩa là triền phược trói buộc. Chúng ta cũng có kho tàng Như Lai nhưng không có diệu dụng vì bị sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; nói khác hơn là bị tài, sắc, danh, thực, thùy trói dính khằn trong đó rồi. Tại triền có nghĩa là bị nhốt, như con chim bị nhốt trong lồng không bay ra được. Còn Như Lai giống như ra khỏi lồng, vượt thoát pháp giới, không dính mắc vào năm thủ uẩn nữa nên có diệu dụng. Đặc biệt nhất là trong Như Lai tàng không có khởi diệt, vì trong đó không có tri kiến.

Kinh Lăng Nghiêm Phật dạy:

Tri kiến lập tri tức vô minh bổn, nghĩa là thấy biết rồi thêm cái thấy biết nữa tức là gốc vô minh.

Tri kiến vô kiến tư tức Niết-bàn, nghĩa là thấy biết, không thêm thấy biết nữa đó là Niết-bàn. Đa phần, chúng ta bị nghiệp nhiều đời. Khi gặp cảnh là nó gá cái thấy biết, năng hoặc sở, chủ hoặc khách trong đó có thương có ghét, có chia chẻ phân tích. Sự học của chúng ta là hay phân tích chia chẻ, một cọng tóc có thể chia chẻ ra 99 phần. Khi chia chẻ thì mất đi cái thực tại nên đó là gốc của vô minh.

Đặc biệt nhất là trong Như Lai tàng không dung chứa cái thấy biết đó, dung chứa thấy biết đó là sanh tử luân hồi. Phần này Phật dạy rất kỹ, khi tâm không có lập thấy biết thì cái thấy trùm khắp, từ đó có diệu dụng để đi vào cuộc đời này.

Ý này có 3 phần:

1.  Đoạn này giải thích rõ về chỗ chiếu soi của tâm thể tịch diệt, trọng tâm là hiển bày chơn tâm, dứt bặt các đối đãi, để khai thị giác tướng thanh tịnh. Vì sao? Vì muốn quét sạch nhiều lớp năng sở, vì tâm thể tịch diệt xưa nay, như tánh hư không thường trụ bất động.

Chơn tâm dứt bặt các đối đãi có, không hoặc phi hữu, phi không. Đây là đi theo yếu chỉ của ngài Trí Khải Đại Sư, tức là quét sạch nhiều lớp năng sở, chủ khách; vì trong đó không dung nhiếp cái có và không.

2.   Nay tuy có thân tâm sanh tử mà từ xưa nay như hoa đốm ở trong hư không; vì trong Như Lai tàng không có khởi diệt, chẳng dung tri kiến.

Có nghĩa là dầu cho chúng ta trải qua đoạn đường dài sống chết, khi tỉnh rồi thì giống như hoa đốm giữa hư không, bởi vì trong Như Lai tàng không có khởi và diệt. Cho nên Đức Phật khẳng định rằng, muốn tìm một bến bờ vô sanh bất động là chỉ ngay nơi thân tướng năm uẩn.

3.  Xứng với pháp giới tánh rốt ráo viên mãn khắp cả

 

 

 

mười phương. Đây hiển bày chung, đây thật thật tế của diệu giác minh tâm. Nhân địa của Như Lai chỉ đây mà thôi.

Rốt ráo chỉ là y nơi tính viên giác bình đẳng không lay chuyển, từ đó chúng ta tu ra chứ không có tìm đâu khác hết.

Do đó trong Ngộ Tánh Luận, Tổ Đạt Ma khai thị: Xét về đại đạo, lấy tịch diệt làm thể, còn tu thì lấy lìa tướng làm tông.

Xét về đại đạo tức là đạo lớn, lấy chỗ tịch diệt làm thể, còn khi dụng công tu thì lìa tướng, tức là thấy tất cả các tướng mà không sanh tâm có và không, chủ và khách.

Một hôm có ông tăng đến hỏi Thiền sư Tào Sơn:

  • Trong 12 giờ làm sao bảo nhậm?

Nhận ra tính viên giác rồi, chứng nghiệm trong con đường đó rồi, từ đây chỉ có một điều duy nhất là bào mòn tập khí của mình. Muốn như thế thì trong 12 giờ phải bảo nhậm.

Thiền Tào Sơn nói:

  • Giống như người qua làng cổ độc, chẳng được dính giọt nước.

Chẳng hạn, chúng ta đi qua một cái làng, nước trong làng đó bị nhiễm độc, dính một giọt là chết. Vì

vậy, người đi qua làng phải hết sức cẩn thận, giống như đi trên băng mỏng, gọi là công phu bảo nhậm.

Nên Kinh nói tịch diệt là Bồ-đề, vì diệt các tướng. Phật là giác, người có giác tâm, được đạo Bồ-đề thì gọi là Phật.

Tịch diệt là Bồ-đề tức là giác. Chỗ lặng lẽ mà chiếu soi bình đẳng, chính chỗ đó là người giác ngộ, là Phật, chứ không phải là Phật ở Ấn Độ hay là Phật ở đâu hết, Phật ngay nơi tâm mình.

Kinh nói: “Lìa tất cả các tướng gọi là chư Phật.” Mới biết có tướng là tướng không tướng, chẳng thể lấy mắt mà thấy, chỉ có thể dùng trí mà biết. Nếu nghe pháp này sanh một niệm tín tâm, thì người này do phát Đại thừa mà vượt thoát ba cõi.

Chúng ta nghe và tin pháp này, tin ngay nơi mình có tự tính viên giác. Nhận được tự tính viên giác, tự nhiên từ đây mãi về sau mình bớt chấp ngã, bớt chấp tâm, bớt dính mắc các pháp. Tin chắc tu sẽ được, như vậy là chúng ta có tâm đại thừa, chắc chắn sẽ vượt thoát ba cõi dục giới, sắc giới, vô sắc giới.

Bồ-tát nhân đây ở trong pháp Đại thừa phát tâm thanh tịnh, và các chúng sanh đời sau y đây tu hành thì gọi là chánh hạnh nên chẳng lạc vào tà kiến.

Phật dạy, Bồ-tát nhân ở trong pháp Đại thừa tu mới được. Bởi vì tu pháp Thanh văn là phải mượn phương tiện, chẳng hạn như quán thân, quán thọ,

quán tâm, quán pháp; quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên pháp. Hoặc quán thân này là khổ, không, vô ngã; quán vạn pháp là vô thường, biến chuyển liên tục. Còn pháp tính viên giác là ngay nơi tự tính viên giác, nhận được, bảo nhậm, từ đó tu ra. Pháp này y đây tu hành thì không bị rớt vào những con đường tẻ.

Bồ-tát phát tâm ngay cái nhân đây mà phát, thì gọi là cái nhân chân chánh.

Lấy gạo nấu mới thành cơm. Còn tu không khéo giống như nấu cát không bao giờ thành cơm được. Chúng ta gieo nhân vô sanh, tu mới đến quả thường trụ. Chúng ta gặp pháp này có niềm tin tịnh tín, không phải tin suông mà chứng nghiệm vào pháp môn này tu. Tin chắc điều đó rồi, ai nói gì mình cứ cười thôi, chúng ta cứ một con đường thẳng bước đi.

Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:

Văn Thù thầy nên biết, Tất cả Đức Như Lai, Từ nơi bổn nhân địa,

Pháp này không phải chỉ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tu, mà mười phương chư Phật, hằng hà sa số chư Phật đồng nhau tu ở chỗ y vào tự tánh viên giác. Các hàng Bồ-tát và chúng sanh đời sau có tâm đại thừa, tin

tưởng pháp môn này muốn thành Phật cũng vậy, y nơi tánh viên giác tu, gọi là phản quan, xoay lại, không phóng tâm mà quay về bên trong để chứng nghiệm rồi từ đó tu. Do đó, Kinh Viên Giác rất là đặc biệt.

Đều dùng trí Viên giác, Liễu đạt được vô minh.

“Liễu” chứ không thêm gì hết. Liễu vọng tức chơn, có nghĩa là “liễu” bằng trực giác Bát-nhã chứ ở trong đó không có tri kiến. Trực giác Bát-nhã này không có hình tướng mà tùy theo căn cơ của mỗi chúng sanh, nhận được và thực hiện con đường đó. Cho nên đây gọi là “liễu đạt được vô minh”. Vì vô minh không có thực thể nên không phá vô minh mà chỉ “liễu” nó bằng con mắt thứ ba, bằng trực giác Bát-nhã. Vì cái bị biết nằm ngay cái biết nên không cần dùng pháp đối trị.

Đây là tinh thần của thiền đốn ngộ mà Lục Tổ dạy: An tâm tại vọng tình, ngay đó lìa ba chướng.

An tâm ngay nơi vọng tưởng, ngay nơi vọng tình, không tìm đâu xa hết.

Biết nó như không hoa, Liền được khỏi lưu chuyển.

Biết là hoa đốm giữa hư không thì không bị hoa đốm lôi kéo đi.

Lại như người trong mộng, Khi tỉnh không thấy gì.

Biết như không,

Bình đẳng không động chuyển. Biết khắp mười phương cõi, Liền được thành Phật đạo.

Kinh Viên Giác Đức Phật nhắm vào chỗ “biết”, nhấn mạnh chỗ “biết”, “biết huyễn tức lìa, lìa huyễn tức giác”. Khi tâm bình đẳng, không phân biệt trên có và không, tức khắc cái biết sẽ trùm khắp.

Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên có kể câu chuyện:

Một hôm, Thiền sư Đạo Ngô hỏi Thiền sư Đàm Thạnh:

  • Đức Quán Thế Âm ngàn tay ngàn mắt, không biết con mắt nào là mắt chánh?

Thiền Đàm Thạnh đáp:

  • Như người ban đêm với tay lại phía sau chiếc gối.

Ví dụ, tối ngủ, cái gối lăn rớt xuống nền, chúng ta dùng con mắt nào lấy? Lượm cái gối đâu cần con mắt, vậy mắt nào là mắt chánh?

Thiền Đạo Ngộ nói:

  • Tôi hội rồi! Tôi hội rồi! Thiền sư Đàm Thạnh nói:
  • Hội thế nào?
  • Khắp thân tay mắt.
  • Nói tột lời nói chỉ nói được 8 phần thôi. Thiền sư Đạo Ngô hỏi:
  • Còn huynh thì sao? Ngài nói:
  • Toàn thân tay mắt.

Sao lạ vậy? Ngài cũng nói giống như sư đệ, mà sao sư đệ chỉ được tám phần? Vì sư đệ hiểu chứ chưa phải chỗ chứng nghiệm, còn Ngài đã chứng nghiệm vào con đường đó rồi, cho nên “toàn thân là tay mắt”, tức là biết khắp mười phương, chỗ nào cũng là mắt hết.

Các huyễn diệt không nơi, Thành đạo cũng không được, Vì bổn tánh tròn đầy.

Có những người học Kinh Phật thắc mắc sao trong Kinh Phật nói lúc này lúc khác. Chẳng hạn như đoạn trước Phật nói: “… biết được như thế tức khắc thành Phật đạo.” Đoạn này Phật lại nói: “Thành đạo cũng không được”. Chúng ta không tu cũng khó nắm bắt, khó thấu suốt. Bởi vì tinh thần của đạo Phật là phá chấp, chấp đến đâu lột đến đó, cho tới khi nào lộ cái “vô vị chân nhân”. Phật sợ mình nghe nói “liền được thành Phật” thì bám vào chỗ để thành, nên Phật lại nói ‘thành đạo cũng không được’. Vì sao? Vì bổn tánh có sẵn chớ đạo đâu mà thành. Như vậy thành đạo là thành cái gì? Nếu nói thành đạo tức

là có đối tượng, có pháp. Như vậy là chưa lột hết chỗ chấp vào pháp.

Trong thiền thoại kể câu chuyện:

Một hôm vua Hiến Tông nhà Tống đến hỏi Thiền Phật Chiếu:

  • Đức Thế Tôn vào núi tuyết sau thành đạo, hỏi thành là thành cái gì?

Gặp chúng ta sẽ giải thích: Đức Phật vào trong núi tuyết năm năm tìm đạo, sáu năm khổ hạnh, 49 ngày đêm ngồi dưới cội cây Bồ-đề rồi thấy sao mai mọc, Ngài thành Phật. Dẫn một hồi, ông vua không biết đi đâu luôn.

Thiền Phật Chiếu đáp:

  • Dám bảo bệ hạ đã quên!

Vua ngộ, tặng Ngài viên ngọc quý. Thiền sư nói “dám bảo bệ hạ đã quên!” Quên là quên tự tánh viên giác nên không thành Phật, mà nhớ tự tánh viên giác tức khắc là biết liền. Vậy nên không thành cái gì hết, chỉ vì mê nên quên, bây giờ nhớ lại là xong, chứ không có thành gì hết.

Bồ-tát ở trong đây, Hay phát tâm Bồ-đề. Chúng sanh ở đời sau, Tu đây khỏi tà kiến.

Khi nhận được tự tánh viên giác, tu không phải để hưởng. Giống như trong Kinh Duy Ma Cật, ông Duy Ma Cật nói với Bồ-tát Văn Thù:

Khi Bồ-tát cảm niệm đến cái sanh tử dài lâu mới nhớ lại chúng sanh khổ, mới phổ độ.

Khi chúng ta mang bệnh, lúc đó, chúng ta sẽ thương người khác bị bệnh. Cũng vậy, khi các vị Bồ-tát tu được rồi, họ phát khởi lòng từ lớn vào trong cuộc đời này phổ độ chúng sinh.

Tâm Đại thừa tâm gì? Tức Bồ-đề tâm, thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh.

Đặc biệt, tâm Bồ-đề hướng đến quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác có đặc tính siêu việt:

Ý chí hiến dâng

Nghĩa là phụng sự tha nhân không mệt mỏi, làm mọi việc vì chúng sanh là cúng dường chư Phật. Mọi việc làm đều nhiếp về chỗ công đức viên mãn, thành tựu Phật quả, viên thành Phật đạo. Đó là tâm Bồ-đề. Từ đây trở đi, làm gì cũng đều trong ánh sáng Bát-nhã chứ không có lệch, không cầu phước, không cầu gì hết, chỉ là công hạnh để cần cầu Phật quả thôi. Khi được như thế thì tình thương rộng lớn, thấy thân tâm không có thật, là vô ngã, khởi đại bi gọi là vị tha. Trí tuệ siêu việt là nhận ra được tự tính viên giác để tu.

Thiền sư Triệu Châu có một lần khai thị chúng:

Kim Phật bất độ lô, Mộc Phật bất độ hỏa, Nê Phật bất độ thủy, Chân Phật ốc lý tọa,

Tạm dịch:

Phật vàng chẳng độ lò, Phật gỗ chẳng độ lửa, Phật đất chẳng độ nước, Phật thật ngồi trong nhà.

Phật vàng, Phật gỗ bỏ trong lò lửa chảy, cháy hết. Phật đất, Phật bùn mà cho vào nước tan hết luôn.

Chỉ có Phật thật ngồi trong nhà năm uẩn; nhận ông Phật đó mới có công đức viên mãn.