Chương 8: Bồ Tát Biện Âm Thưa Hỏi

CHƯƠNG 8: BỒ TÁT BIỆN ÂM THƯA HỎI

Khi ấy, Bồ-tát Biện Âm ở trong đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu bên phải ba vòng, quỳ gối chắp tay bạch Phật rằng: Đức Thế Tôn đại bi, pháp môn như vậy thật là ít có.

Tức là tán thán từ xưa tới giờ nghe Đức Phật giảng dạy rất nhiều, nhưng giảng dạy về tâm viên giác, pháp môn này rất là ít có.

Bạch Thế Tôn! Các phương tiện này, tất cả Bồ-tát đối với môn viên giác có bao nhiêu pháp tu tập?

Thể nhập tánh viên giác rồi, từ tánh viên giác tu ra, nghĩa là đốn ngộ rồi phải có tiệm tu, thì có bao nhiêu pháp?

Xin vì đại chúng và chúng sanh đời sau phương tiện chỉ bày khiến cho ngộ được thật tướng. Thưa lời đây rồi, năm vóc gieo xuống đất, thưa thỉnh như vậy, lặp lại 3 lần.

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Bồ-tát Biện Âm rằng: Lành thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Các ông vì đại chúng và chúng sanh đời sau thưa hỏi Như Lai về sự tu tập như thế. Nay, ông hãy lắng nghe, ta sẽ

 

 

 

vì ông nói. Khi ấy, Bồ-tát Biện Âm cùng với đại chúng đồng yên lặng và hoan hỷ nghe lời Phật dạy bảo.

Bồ-tát và đại chúng trong pháp hội nghe diệu pháp là phải yên lặng và lắng nghe, tức là lắng thần.

Phật dạy về 25 pháp tu

Này Thiện nam tử! Tất cả viên giác thanh tịnh Như Lai vốn không tu tập và người tu tập.

Vốn không có tu tập và người tu tập, không có năng sở, bởi vì nó đã tròn đủ. Nhưng sở dĩ chúng ta tu tập là vì chúng ta còn huyễn cấu, vọng tưởng, còn điên đảo, phiền não, còn chấp trước… nên chúng ta mượn phương tiện, giống như mình đang ở bờ sanh tử, mượn chiếc thuyền để qua bờ, chứ không có tu tập và người tu tập.

Tất cả Bồ-tát và chúng sanh đời sau y nơi chưa giác, dùng sức huyễn mà tu tập, khi ấy mới có 25 thứ thanh tịnh định luân.

Phật đưa ra 25 pháp gọi là định luân để mượn phương tiện tu tập.

Pháp đầu tiên Phật dạy là định. Phật đưa ra trước một phương pháp, chúng ta hợp pháp nào thì y đó tu. Chẳng hạn mình vào trong thất, chiêm nghiệm xem hợp với pháp định hay pháp huệ, hay định huệ đồng đẳng.

Đại chúng nhớ là Samatha này không phải Samatha thường, mà y nơi tâm viên giác khởi quán hạnh. ‘Chỉ’ này là chỉ tự tánh viên giác chứ không phải là chỉ thường. Chỉ thường là chặt đứt các vọng tưởng, còn chỉ này là nương nơi tự tánh viên giác mà thấy tất cả vọng tưởng không thật tức lìa, gọi chỉ đó là chỉ đốn ngộ vô sanh. Chỉ samatha này là của Như Lai chứ không phải Samatha thường.

1.  Riêng tu một pháp Samatha, tức là định

Nếu chư Bồ-tát chỉ giữ một chỗ cực tịnh, tức tâm vắng lặng không còn niệm nữa, do cái sức lặng lẽ nên hằng đoạn diệt phiền não, cứu cánh thành tựu, không rời nơi tòa liền vào Niết-bàn. Vị Bồ-tát này gọi riêng tu về pháp chỉ.

Ở đây là ngộ viên giác thanh tịnh để làm sở y khởi hạnh.

Do sức của tâm an tĩnh, nên biết thân tâm là không, một niệm cũng không có thì phiền não nương gá vào đâu! Phiền não không khởi tức là tâm giác ngộ.

Giữ một bề cực tịnh. Do sức lặng lẽ ở chỗ cực tịnh đó, phiền não không tác động vào thân tâm năm uẩn nữa, bởi vì đã ngộ được tánh viên giác, làm chỗ khởi hạnh tu tập. Khi phiền não diệt rồi thì tức khắc cứu cánh thành tựu, không rời nơi tòa liền vào Niết-bàn.

Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ dạy:

Cửa học đạo không có gì kỳ đặc (cửa tu tập về con đường thiền này không kỳ đặc) chỉ cần gột sạch căn trần những chủng tử nghiệp thức từ lượng kiếp đến giờ.

Giống như thân bị bệnh ung nhọt, muốn chữa tận gốc thì phải nạo cho sạch máu mủ rồi xức thuốc. Chúng ta tu nếu không nhận ra được tánh viên giác, tu trên vọng tưởng, trên cái mê thì giống như lấy đá đè cỏ. Lấy đá đè cỏ là sao? Chẳng hạn như mình gặp cảnh bức xúc, tìm pháp nào đó để chận đứng phiền não, nhưng cái gốc là tập khí bên trong vẫn còn, thì một lúc nào đó, nó bung lên. Giống như mình đốn cây mà cái gốc chưa bứng, đủ nhân, đủ duyên mưa xuống, nó nảy mầm.

Trong Kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy:

Như nước đục lóng trong, lấy đồ đựng để yên mãi không lay động, thì đất tự chìm xuống, nước sạch hiện tiền, ấy gọi là ban đầu hàng phục khách trần phiền não.

Chẳng hạn như ly nước này, đất cát trong đó lắng xuống thì nước trong, nếu không đổ nước trong sang ly nước khác thì quậy một hồi, nó đục lại.

Kế là gạn bỏ đất bùn (ức là gạn tập khí) chỉ thuần nước trong, ấy gọi là dứt hẳn cội gốc vô minh. Tướng minh tinh thuần, tất cả đều biến hiện mà không bị khách trần phiền não, đều khế hợp với đức tánh thanh tịnh Niết-bàn.

Nhận được tánh viên giác rồi mới tiêu trừ những

tập khí hằng ngày. Khó lắm chứ không phải dễ! Cho nên thời gian dài lắm, có khi đời này không xong, đời sau, đời sau nữa, chứ không phải một đời là xong. Người xưa tu nhanh là vì các Ngài đã đốn ngộ rồi mới tiệm tu, hoặc là tiệm tu rồi đốn ngộ. Khi nhận nó rồi, còn phải tiêu trừ những hạt giống sâu kín bên trong. Có những vị khi ở trên núi xuống, người ta khởi hiện hành, khởi những cảnh đó để coi thử mình còn đắm nhiễm hay không.

Tổ Huệ Khả vào quán rượu, người ta nói: “Ông tu sao còn vào chỗ này?” Ngài nói: “Ta vào ta hàng phục tâm ta, đâu can hệ gì tới ông”. Các Ngài vào những nơi đó kiểm tra lại mình, coi thử còn bị đắm nhiễm hay không. Ngày xưa, ăn món đó thèm; giờ cũng ăn món đó, xem còn thèm khát hay không. Kiểm tra đến mức độ vậy, gọi là nạo sạch chánh tánh, trừ sạch nghiệp nhân, chẳng thọ hiện nghiệp. Các Ngài không đưa vào nữa. Còn ăn hành, hẹ, tỏi, nén, uống rượu bia là đưa vào, thì bây giờ không đưa vào nữa mà còn nạo ra, việc này không phải chuyện thường đâu.

Mùa đông năm ấy, phương Bắc tuyết rơi rất nhiều, vua Lương Võ Đế mời Thiền sư Chí Công lên tòa cung điện cao. Nhìn ra xa, thấy các ngọn núi tuyết phủ đầy, đặc biệt có một ngọn núi không có tuyết phủ. Vua ngạc nhiên hỏi Thiền sư Chí Công:

 

 

 

  • Tại sao các ngọn núi đều có tuyết phủ, riêng ngọn núi này không có tuyết?

Thiền Chí Công nói:

  • Bởi một vị thiền tu trong núi đó, Thiền Suy Hải. Sở dĩ tuyết rơi xuống mà tan hết vì Ngài dùng “hỏa chân tam muội”, tức là chánh định. Ở trong chánh định, toàn thân Ngài toát ra nguyên khí, lửa cực dương nên tuyết xuống tan hết.

Vua Lương Đế nói:

  • Vậy vị này chứng đạo rồi. Thiền sư Chí Công:
  • Tuy nhiên tập khí, hạt giống sâu bên trong chưa hết.

Vua Lương Đế muốn thử nên thỉnh Ngài Suy Hải về triều. Sau đó, vua mời tất cả các vị cao tăng Hòa thượng, tăng tu hành trong nước Lương về để Ngài cúng dường trai tăng. Các vị Hòa thượng thì được dọn mâm cao cỗ đầy. Ngược lại, theo lời dặn của Thiền sư Chí Công, trên bàn Thiền sư Suy Hải chỉ dọn một chén trà, một dĩa rau muống, một chén nước tương.

Ở đây, ý chúng tôi nói là Thiền sư Suy Hải không phải bận tâm về thức ăn, nhưng dọn như thế là một sự sỉ nhục. Bởi vì, tất cả, từ Hòa thượng, Thượng tọa tới Đại đức, Sa-di ai cũng đầy bàn, trong khi Ngài Suy Hải tu tập trong núi mấy chục năm mà giờ về đây bị đối xử

như thế. Ngài giận nhưng không thể hiện lên sắc mặt.

Bấy giờ vua Lương Đế nói với Thiền Chí Công:

  • Thiền Suy Hải vẫn bình thường đâu sân hận.

Vua muốn thử thêm, ngày hôm sau, lại mời tiếp các vị cao tăng, Hòa thượng. Vua tự tay dâng cúng mỗi vị một xấp vải lụa, Ngài Suy Hải thì một xấp vải thô. Vua còn nói sở dĩ những vị tăng được nhận sự cúng dường hậu hỉ là vì những vị này tu tập đúng chánh pháp, giữ gìn giới luật. Còn Ngài Suy Hải thì tu chưa đúng nên chỉ được cúng dường xấp vải thô.

Ngài Suy Hải giận tím mặt, nói chỉ muốn ở trong núi, đâu có muốn về kinh, mà do nhà vua tha thiết thỉnh, Ngài mới về chứ đâu phải vì những thứ này. Nói rồi, Ngài ngã xuống chết. Vua hốt hoảng, nghĩ mình đã giết một vị thánh tăng nên cầu cứu Thiền sư Chí Công giúp.

Thiền dạy, kêu lính chạy 7 dặm kể từ đây, đến cái cây có cháng ba, sẽ thấy một con chim mới nở, trên mình có hai chữ Suy Hải, thần thức Ngài Suy Hải đã nhập vào đó. Lính đem con chim về, Thiền Chí Công niệm chú xong, đập mạnh con chim xuống đất, chim tắt thở chết, thần thức vào lại Ngài Suy Hải, Ngài mở mắt ra khóc.

Thiền Chí Công khai thị:

  • Trong các pháp môn, thiền định là tối thượng, nhưng nhớ là phải nạo sạch những tập khí.

Thiền Suy Hải khóc, rồi vào núi tu tiếp.

 

 

 

Nên ở đây nói là phải nạo, chứ không phải dễ đâu. Giữ một bề chỗ cực tịnh, ở chỗ lặng lẽ đó để đoạn dứt phiền não. Khi những tập khí phiền não không còn nữa thì bắt đầu gọi là chỗ cứu cánh thành tựu. Đó là tu về pháp Samatha – chỉ.

2.  Riêng tu một pháp Tam ma bát đề, tức là tu huệ

Nếu Bồ-tát chỉ có quán như huyễn, do dùng Phật lực biến hóa thế giới, các thứ tác dụng, đầy đủ diệu hạnh thanh tịnh của Bồ-tát nơi Đà-la-ni, (tức là tổng trì) không mất niệm lặng lẽ và các huệ lặng lẽ. Các vị Bồ-tát này gọi là riêng tu về pháp quán.

Lúc nãy, tu về chỉ, còn đây tu về quán.

Ở đây, nói do dùng Phật lực. Phật lực nghĩa là tự tánh vốn đầy đủ chơn như. Do sức của Phật tánh ẩn tàng bên trong nên phát khởi các thứ tác dụng, biến hóa đầy đủ, diệu hạnh thanh tịnh. Đây là y nơi huyễn mà hành.

Phật tánh ẩn tàng bên trong. Nếu bên trong không có tự tánh chơn như, thì tu ngàn đời cũng không thể nhập vào được. Diệu hạnh làm từ xưa tới giờ không phải là công đức, nếu không thể nhập chơn như bản thể. Khi nhận ra rồi, thì phát khởi ra các thứ tác dụng biến hóa, đều là diệu hạnh thanh tịnh.

Khi Ngũ Tổ bảo Lục Tổ, lúc còn là cư sĩ, xuống nhà trù làm việc, Lục Tổ nói với Ngũ Tổ: “Bạch thầy,

tự tánh con thường sanh trí huệ tức là phước điền.” Có nghĩa là khi thể nhập được chơn như bản thể, nói khác hơn là tâm viên giác, từ Phật lực bắt đầu thi thiết các phương tiện: gánh nước, chẻ củi, nấu cơm, quét nhà… tất cả đều là diệu hạnh công đức. Bởi vì không làm trên mê nữa mà đang làm trên tự tánh viên giác. Lúc này, thể nhập tất cả các diệu hạnh thanh tịnh từ nơi sáu căn, làm gì cũng là công đức, không còn là phước đức nữa.

Chúng ta may mắn là bên trong mình có nhân Phật, cho nên phải tu như thế nào đó để nhận được Phật bên trong. Nhận được rồi, chúng ta bắt đầu thi thố ra các diệu hạnh phương tiện thanh tịnh, biến hóa tất cả các công việc hằng ngày. Ngày xưa, gặp việc là phiền, bực tức, còn bây giờ làm trong diệu hạnh thanh tịnh, thì lúc này công đức tròn đủ.

Do đó, nơi Đà La Ni không mất niệm lặng lẽ, cho nên toàn thể khởi ra dụng, hàm nhiếp một tâm thể có trung đạo, lặng lẽ mà khởi không huệ, chiếu phá vô minh.

Ở chỗ niệm tổng trì, toàn thể phát khởi cái diệu dụng mà chỉ có một tâm viên giác thôi. Ở trong lặng lẽ an yên đó, khởi ra không huệ. Không huệ là trí tuệ từ bản thể, chiếu phá để đoạn tận gốc căn bản vô minh, tức là đốn ngộ rồi tiệm tu.

3.  Riêng tu về pháp thiền na

Nếu Bồ-tát chỉ diệt các pháp huyễn không chấp thủ tác dụng, riêng đoạn phiền não. Phiền não đoạn hết liền chứng được thật tướng. Vị Bồ-tát này gọi riêng tu về pháp thiền na.

Đoạn diệt các tướng huyễn hóa mà không chấp thủ vào pháp của mình tu, bởi vì dùng năng huyễn để dẹp sở huyễn. Năng sở đoạn hết rồi thì còn gì nữa mà chấp, cho nên chỉ đoạn trừ phiền não, lần lần thấy được thật tướng của các pháp. Diệt trừ các cấu huyễn rồi, thấy thật tướng các pháp là ngay nơi tướng mà vô tướng, tức khắc tâm yên.

Tất cả đều là huyễn hóa không thật, nên hành giả buông hết không chạy theo nó, không bị nó kéo lôi, tức khắc định huệ hiện tiền.

Các pháp ngày xưa nó dẫn, lôi mình thì bây giờ buông hết không chạy theo nó nữa. Lúc đó định huệ đồng đẳng hiện tiền, gọi là thiền na.

4.  Trước tu định, sau tu huệ

Nếu các Bồ-tát trước giữ tâm thật là lặng lẽ, do tâm lặng lẽ nên trí tuệ chiếu soi các pháp như huyễn, liền khởi hạnh Bồ-tát. Gọi Bồ-tát này trước tu định sau tu huệ.

Bồ-tát ở chỗ lặng lẽ, dùng trí tuệ chiếu soi tất cả các pháp như huyễn. Thấy rõ như huyễn mà thương chúng sanh bị huyễn này trói, nên khởi hạnh Bồ-tát:

“Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”, Bồ-tát này gọi là: “Trước tu định sau tu huệ”. Tu định là ở chỗ lặng. Tu huệ là chiếu soi tất cả các pháp, thấy tất cả các pháp như huyễn rồi mới phương tiện độ sanh, chứ không phải tu được rồi trốn luôn.

Chẳng hạn, Thầy Tổ cho mình ăn học, tu một thời gian xong không phụ giúp giáo hóa, trốn lên núi thì mình không phải học hạnh Bồ-tát. Ban đầu, mình tu học, sau đó khởi hạnh Bồ-tát dìu dắt chúng sanh, cho nên mới có Tứ hoằng thệ nguyện: “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ.”

5.  Trước tu chỉ, sau tu thiền

Nếu Bồ-tát dùng trí tuệ yên tĩnh chứng được thể tánh Phật lặng lẽ, liền đoạn các phiền não, thoát khỏi sanh tử. Gọi Bồ-tát này trước tu chỉ sau tu thiền.

Tức là dùng trí tuệ yên tĩnh chứng được chỗ lặng lẽ an yên. Từ đó phiền não không làm cấu nhiễm, ngay trong giờ phút đó, thoát ra khỏi sanh tử. Phiền não có 2 loại: thô và tế. Phiền não thô thì dễ biết, phiền não tế rất là khó. Phiền não tế, trước phải dùng chỉ, sau dùng thiền mới phá được.

6.   Trước tu chỉ, giữa tu quán, sau tu thiền

Nếu Bồ-tát dùng trí tuệ lặng lẽ, lại hiện ra mọi sức biến hóa độ chúng sinh, sau mới đoạn phiền não rồi vào chỗ tịch diệt. Gọi Bồ-tát này: trước tu chỉ, giữa tu quán, sau tu thiền.

 

 

 

Có những hành giả dùng trí tuệ lặng lẽ rồi hiện ra mọi sức biến hóa độ sanh, đây là hạnh của Bồ-tát. Chúng ta mới chập chững biết bơi, mà thấy người ta rớt xuống sông, mình thương quá nhảy xuống cứu, nghĩa là mình vẫn còn trên bước đường tu.

Chẳng hạn như lập ra một ngôi chùa, một tu viện. Người lập ra tu viện chưa chắc đã dứt hết phiền não, nhưng trên bước đường lập hạnh độ chúng sanh thì vẫn tiếp tục tu. Cho nên ở đây nói: Bồ-tát dùng trí tuệ lặng lẽ quán các pháp như huyễn, hiện thân vào cõi huyễn, độ chúng sanh như huyễn. Rồi sau mới đoạn trừ phiền não, rồi sau mới thành tựu Phật đạo. Nghĩa là từng lớp. Phải phát nguyện lực vào cuộc đời này để độ chúng sanh. Khi độ chúng sanh phải quán như huyễn thì mới trừ được cái gốc, những mầm mống căn bản của phiền não, sau mới thành tựu Phật đạo.

7.   Trước tu chỉ, giữa tu thiền, sau tu quán

Nếu các Bồ-tát dùng sức thật lặng lẽ đoạn các phiền não, sau khởi các diệu hạnh thanh tịnh để độ chúng sinh. Gọi Bồ-tát này trước tu chỉ, giữa tu thiền, sau tu quán.

Đoạn tận các phiền não rồi bây giờ “hòa quang đồng trần”, vào trong tất cả các tầng lớp để độ sanh, khởi ra các diệu hạnh thanh tịnh. Tất cả những phương tiện đưa ra đều là diệu hạnh thanh tịnh, giúp đỡ để đại chúng an ổn tu tập. Khi có sức công hạnh từ bản thể lưu xuất, thì người đến với mình,

người ta tu có kết quả. Tâm người ta an yên, không xáo động, không bồn chồn lo lắng. Dùng diệu hạnh thanh tịnh để độ sanh gọi là “hòa quang đồng trần, tiếp vật lợi sanh.”

8.  Trước tu chỉ, đồng thời tu quán và thiền

Nếu những vị Bồ-tát dùng sức thật lặng lẽ, tâm đoạn phiền não, sau lại dựng lập thế giới độ chúng sinh.

Trước, Bồ-tát tu chỉ, quyết tâm đoạn trừ phiền não nhưng chưa đoạn tận được, sau mới tu thiền, bắt đầu mới dứt trừ tận gốc phiền não. Tu thiền rồi trở lại tu quán để thiết lập thế giới, khởi các phương tiện hóa độ chúng sanh. Ở đây nói: Nếu không có quán hạnh thì không có khởi ra tác dụng phương tiện để độ sanh. Cho nên, phải lập ra quán hạnh để khởi ra các phương tiện mà hóa độ chúng sanh.

Ngài Ngưu Đầu Pháp Dung khi ở trên núi, ban đầu Ngài tu chỉ; kế Ngài tu quán. Rồi khi vào chỗ công phu miên mật Ngài dùng tới thiền na, kế thiền na Ngài trở lại quán hạnh để khởi ra tác dụng phương tiện độ sanh. Độ sanh vào mùa đói kém, Ngài phải thi thiết các phương tiện diệu hạnh, đi khất thực để nuôi chúng.

9.  Tu chỉ và quán, sau mới tu thiền

Nếu những vị Bồ-tát dùng sức thật lặng lẽ giúp phát khởi biến hóa, sau đoạn phiền não, gọi vị Bồ-tát này đồng tu chỉ và quán, sau mới tu thiền.

 

 

 

Bồ-tát dùng sức trí tịnh của chỉ để giúp phát khởi sức biến hóa của quán, sau tu thiền để đoạn tận phiền não, thành tựu trí tuệ viên mãn.

10.  Tu chỉ và thiền, sau mới tu quán

Nếu những vị Bồ-tát dùng lực dụng thật lặng lẽ để giúp cho sự tịch diệt, sau khởi ra tác dụng biến hóa thế giới. Gọi Bồ-tát này đồng thời tu chỉ và thiền, sau mới tu quán.

Bồ-tát dùng sức chí tịnh để lặng dứt tất cả pháp huyễn hóa. Đến chỗ tột cùng lặng lẽ thì công phu thiền cũng thành tựu. Sau đó mới khởi dụng biến hóa vào trong các thế giới, độ tận chúng sanh.

11.  Tu quán sau tu chỉ

Nếu các Bồ-tát dùng sức biến hóa ra các thứ tùy thuận chúng sanh vẫn giữ tâm thật lặng lẽ, gọi Bồ-tát này trước tu quán sau tu chỉ.

Tùy duyên mà bất biến. Tùy thuận chúng sanh mà giá hóa. Song biết rõ tất cả đều huyễn hóa, nên không bị cảnh lôi, vẫn giữ tâm lặng lẽ.

12.  Trước tu quán sau tu thiền

Nếu những vị Bồ-tát dùng sức biến hóa các thứ cảnh giới mà vẫn giữ tịch diệt, gọi Bồ-tát này trước tu quán, sau tu thiền.

  1. Trước tu quán, giữa tu chỉ sau tu thiền

Nếu các vị Bồ-tát dùng sức biến hóa làm các Phật sự,

an trụ trong lặng lẽ đoạn phiền não, gọi Bồ-tát này trước tu quán, giữa tu chỉ sau tu thiền.

Dung sức biến hóa làm tất cả Phật sự là kết quả của tu quán. Tuy làm các Phật sự mà thường ở chỗ “tam luân không tịch”. Dùng pháp thiền để đoạn tận phiền não.

14.  Trước tu quán, giữa tu thiền, sau tu chỉ

Nếu các vị Bồ-tát dùng sức biến hóa làm các việc ngại, đoạn các phiền não rồi an trụ chỗ thật lặng lẽ, gọi Bồ-tát này trước tu quán, giữa tu thiền, sau tu chỉ.

Các vị Bồ-tát dùng sức biến hóa làm các việc vô ngại, giống như Thiền sư Chí Công. Khi Ngài sắp tịch, Ngài sai tri sự ra chợ mua chim về làm thịt cho Ngài ăn. Tất cả đại chúng đều giật mình. Nhưng khi Ngài ăn xong, Ngài há miệng, 12 con chim bay ra, gọi là dùng sức vô ngại để đoạn tất cả phiền não rồi an trụ chỗ đó.

Thiền sư Tế Công, cư sĩ Duy Ma Cật, Ngài Phật Đồ Trừng, những vị đó đều dùng sức biến hóa làm các việc vô ngại mà người thường không thể nghĩ được. Các Ngài ở trong chỗ thật lặng lẽ đó, rồi khởi tất cả diệu hạnh để độ sanh.

15.  Trước tu quán, đồng thời tu chỉ và thiền

Nếu các vị Bồ-tát dùng sức biến hóa làm các phương tiện tác dụng rất lặng lẽ tịch diệt, cả hai đều tùy thuận.

 

 

 

16.  Tu quán và chỉ sau mới tu thiền

Nếu những Bồ-tát dùng sức biến hóa khởi công dụng giúp cho tâm thật lặng lẽ, sau mới đoạn phiền não, gọi Bồ-tát này đồng tu quán và chỉ sau mới tu thiền.

17.  Tu quán và thiền sau mới tu chỉ

Các Bồ-tát dùng sức biến hóa giúp cho tịch diệt, rồi sau trụ chỗ thanh tịnh không khởi tĩnh lự. Gọi Bồ-tát đồng tu quán và thiền sau mới tu chỉ.

18.  Trước tu thiền sau tu chỉ

Nếu các vị Bồ-tát dùng sức tịch diệt mà khởi hạnh thật lặng lẽ rồi an trụ nơi thanh tịnh. Gọi Bồ-tát này trước tu thiền sau mới tu chỉ.

19.  Trước tu thiền sau mới tu quán

Nếu những vị Bồ-tát dùng sức tịch diệt mà khởi tác dụng, ở trong tất cả cảnh lặng lẽ khởi dụng tùy thuận. Gọi Bồ-tát này trước tu thiền sau mới tu quán.

20.  Trước tu thiền, kế tu chỉ, sau tu quán

Nếu những vị Bồ-tát do sức thật lặng lẽ, các thứ tự tánh an ở nơi tịnh lự mà khởi biến hóa. Bồ-tát này gọi là trước tu thiền, giữa tu chỉ, rồi sau tu quán.

21.  Trước tu thiền, kết tu quán, sau tu chỉ

Nếu những vị Bồ-tát do sức tịch diệt từ tác tự tánh mà khởi ra tác dụng trong cảnh giới thanh tịnh trở về nơi

tịnh lự. Bồ-tát này gọi trước tu thiền, giữa tu quán, sau tu chỉ.

22.  Trước tu thiền, sau đồng thơi tu chỉ quán

Nếu những vị Bồ-tát dùng sức tịch diệt, các thứ thanh tịnh trụ chỗ tịnh lự, rồi khởi biến hóa. Bồ-tát này gọi là trước tu thiền, đồng thời tu chỉ quán.

23.  Trước đồng thời tu thiền và chỉ, sau tu quán

Nếu những vị Bồ-tát dùng sức tịch diệt giúp cho rất lặng lẽ mà khởi biến hóa. Bồ-tát này gọi là đồng thời tu thiền và chỉ, sau mới tu quán.

24.  Trước đồng thời tu thiền và quán, sau tu chỉ

Nếu những vị Bồ-tát dùng sức tịch diệt giúp cho sự biến hóa mà khởi lên sự rất lặng lẽ, cảnh giới trí huệ thanh tịnh trong sáng. Bồ-tát này gọi là đồng thời tu thiền và quán, sau mới tu chỉ.

25.  Bồ-tát viên tu ba pháp

Nếu các vị Bồ-tát do các huệ viên giác được tròn đầy, hợp với tất cả, đối với các tánh tướng không lìa tánh giác. Bồ-tát này gọi là tròn tu ba thứ tự tánh thanh tịnh tùy thuận.

Này Thiện nam tử! Ấy gọi là 25 luân của Bồ-tát. Tất cả Bồ-tát nên như thế tu hành. Nếu các Bồ-tát và những chúng sanh đời sau y nơi những luân này mà giữ gìn phạm hạnh, lặng lẽ tư duy, thành tâm sám hối trải qua 21 ngày, nơi 25 luân này mỗi cái ghi ra rồi để

 

 

 

trên bàn, chí tâm cầu nguyện rồi tay bốc một thăm. Tùy theo cái thăm đó mà mở ra, liền biết mình căn cơ đốn hay tiệm. Nếu còn một niệm nghi thì chẳng thành tựu.

Đoạn này là tóm kết khuyên tu, phải giữ gìn phạm hạnh, nghĩa là nhân giới sanh định, tức là ba loại tiệm thứ trong Kinh Lăng Nghiêm. Chính là căn bản nhập thiền, trước phải lặng lẽ tư duy sám hối, tức là quán tội tánh vốn không, nghĩa là nếu người muốn sám hối ngồi ngay thẳng mà niệm thật tướng, chí tâm cầu nguyện kết quả nêu bày, để chiêm nghiệm căn cơ của mình đốn hay tiệm. Đây chính là mỗi mỗi thánh tần dùng sức gia trì để khởi lên lòng tin quyết định.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Biện Âm, Thầy nên biết Tất cả các Bồ-tát

ngại Huệ thanh tịnh Đều y thiền định sanh Ấy là Samatha

Tam-ma-đề, thiền na Đốn tiệm tu ba pháp Có hai mươi lăm loại

Mười phương Đức Như Lai Người ba đời tu hành Thảy đều nhân pháp này

Mà được thành giác đạo Chỉ trừ người đốn giác Với pháp không tùy thuận

Hai mươi lăm luân đều là nhân hạnh của Bồ-tát tụng nói: “Mười phương Đức Như Lai” ý là nếu bày cái quả thú hướng. Đây chính là “Nhân địa pháp hành của Như Lai”. Người đốn giác trực chỉ thì chẳng cần tiệm thứ với pháp chẳng tùy thuận, còn kẻ Xiển-đề chẳng tin thì tiệm cũng chẳng có thể vào.

Tất cả các Bồ-tát

Và chúng sanh đời mạt Thương phải theo luân này Tùy thuận siêng tu tập Nhờ sức đại bi Phật

Mau chứng được Niết-bàn.