Chương 9: Bồ Tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng Thưa Hỏi

CHƯƠNG 9: BỒ TÁT TỊNH CHƯ NGHIỆP CHƯỚNG THƯA HỎI
Khi ấy, Bồ-tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng ở trong đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu bên phải Phật ba vòng, quỳ gối chắp tay bạch Phật rằng:
Đức Thế Tôn đại bi! Vì bọn chúng con rộng nói việc bất khả tư nghì như thế, tất cả hành tướng nhân địa của Như Lai khiến cho đại chúng được điều chưa từng có. Xem thấy ấn điều ngự trải qua nhiều kiếp như số cát sông Hằng, cảnh giới siêng năng cần khổ, tất cả các dụng công ví như trong một niệm.
Chúng ta ở nhà thường không có bệnh gì hết, khi xuất gia vào thiền viện hoặc vào chùa tự nhiên có bệnh về thân, về tâm. Chúng ta nói là đổ nghiệp, các nghiệp chướng này làm cho chướng đạo. Có nhiều người nói thích tu thiền, nhưng họ đến trình với chúng tôi chân đau nhức quá ngồi thiền không được. Đó là cái nghiệp làm cho chướng đạo.
Từ những chương đầu chúng ta học: Bồ-tát Văn Thù, Bồ-tát Phổ Hiền, Bồ-tát Phổ Nhãn …, khi các Ngài ở trong pháp hội nghe Đức Phật dạy, các Ngài
nói việc này là không thể nghĩ bàn. Có nghĩa là khi Đức Phật nhận ra được tính viên giác thì rõ ràng là không thể nghĩ bàn. Tất cả hành tướng nhân địa của Như Lai, trong kinh diễn tả, Đức Phật đã tu ba A-tăng-kỳ kiếp, trải dài như số cát sông Hằng. Bây giờ, Đức Phật đem ra chỉ dạy, chỉ trong một niệm, giống như khảy móng tay, là các Bồ-tát ngộ nhập được.
Như vậy, mục đích của Kinh Viên Giác là gì? Nhân địa của Đức Phật là gì? Nhân địa của Đức Phật là phải nhận ra được tánh viên giác, từ đó tu ra. Còn những việc cần khổ lao nhọc mà Đức Phật tìm ra con đường này thì trải dài, nhưng trong này không tính, mà tính chỉ ngay nơi một niệm. Đức Phật nói, là người tu, hành giả phải nhận ra được tánh viên giác, nhà thiền gọi là kiến tánh. Nhận ra tánh rồi bắt đầu mới khởi tu, từ nơi tự tánh tu ra.
Cảnh giới siêng năng cần khổ, mà chỉ pháp này khiến cho chúng ta được điều chưa từng có. Khi Đức Phật ngồi dưới cội cây bồ đề bốn mươi chín ngày đêm, Ngài nhận ra mỗi chúng sanh, trong đó có Ngài, đều có tánh viên giác. Nhưng tại sao Ngài không dạy liền mà do dự? Bởi vì Ngài nghĩ, pháp này khó quá. Xưa giờ, nhận cái tâm phan duyên cho là mình, cái suy nghĩ tư duy cho là mình. Bây giờ, nói thẳng ra cái đó không phải là mình thì chúng sanh không tin, không tin họ phỉ báng thì rớt trong những con đường khổ.
Tự chối Phật tánh của mình thì ngàn đời không bao giờ gặp, cho nên Đức Thế Tôn mới do dự.
Lúc này, Phạm thiên Sahampati ba lần thưa thỉnh, Đức Phật mới nhìn lại xem những vị Phật quá khứ sau khi thành Phật có phương tiện gì. Ngài mới hay rằng các vị Phật quá khứ đều có phương tiện thiện xảo, cho nên Ngài hứa khả lời thỉnh cầu của Phạm thiên Sahampati và quyết định chuyển bánh xe pháp.
Mười hai năm đầu, Ngài nói Kinh A Hàm, chỉ ra từng tướng để phá tướng, nhận ra cái tánh. Khi thấy đệ tử thuần thục rồi, 22 năm kế Đức Phật mới nói về Bát-nhã để phá tướng. Từ tướng trở về chỗ tánh Không, từ chỗ tánh Không nhận ra chơn tâm là Phật tánh tức là Phương Đẳng, Pháp Hoa, Niết Bàn… Trong đó, có bộ Kinh Viên Giác, thuộc về hệ Phương đẳng Đại thừa, đốn chứng vào mảnh đất Như Lai.
Sơ Tổ Trúc Lâm xưa còn là thái tử, Ngài tìm tòi, học hỏi về con đường thiền. Một hôm, Ngài hỏi Tuệ Trung Thượng sĩ yếu chỉ của thiền là gì? Tuệ Trung nói: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc”, đó là quay trở về nhận lại chỗ này. Chúng ta tin pháp này, tu pháp này, hành pháp này để chứng vào pháp này, phải nói là có túc duyên. Không thôi là mình chối bỏ. Có những người tu một thời gian cũng chối bỏ. Chúng ta có túc duyên tin tưởng pháp
này tu tập, từ đó nhận ra được từ bên trong, tu ra chứ không còn mày mò nữa.
Ngày xưa Sư Ông Trúc Lâm từ là học Tăng, mày mò tìm pháp này mà không ra. Sau khi lên làm giáo thọ, rồi Giám đốc Phật học viện, cũng mày mò tìm pháp này, vẫn không ra. Ngài mới quyết định bỏ hết tất cả, lên núi ở Vũng Tàu làm cái thất Pháp Lạc tu tập. Sư Ông nói, nếu không khám phá ra được con đường này thề chết trong thất. Nhưng cái duyên may mắn của Thiền phái Trúc Lâm vẫn còn, cho nên Ngài khám phá ra được con đường này. Ngài chỉ dạy cho chúng ta, chỉ có một niệm thôi. Ngày xưa, chúng ta đâu có biết pháp này là gì, tu làm sao.
Những người làm ra công thức toán học, bảng cửu chương cũng phải mày mò, người sau học bao lâu? Phật cũng như thế. Cho nên nói: Xem thấy ấn điều ngự trải qua nhiều kiếp như số cát sông Hằng, cảnh giới siêng năng cần khổ, tất cả các dụng công ví như trong một niệm. Phật chỉ ra chỗ này, gọi là hành tướng, nhân địa của Như Lai, ngộ được nhân địa để mà tu tập.
Bồ-tát thắc mắc giống như mình:
Bạch Thế Tôn! Nếu cái giác tâm này bản tánh là thanh tịnh, thì tại sao nó ô nhiễm, khiến cho chúng sanh mê muội chẳng vào được?
Bồ-tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng thắc mắc: Giác tâm này bản tánh thanh tịnh rồi thì tại sao bị ô nhiễm. Giống như có tâm Phật, có tánh Phật rồi mà tại sao lại bị phiền não, ô nhiễm, bị tật đố, ích kỷ, xan tham… Những thứ này từ đâu ra?
Đại chúng sáu, bảy chục người, nếu ai cũng trở về sống với tâm Phật thì không cần họp, không cần thỉnh nguyện. Tại sao phải có Bố tát? Vì chúng ta giữ luật chưa có trọn, nên phải Bố tát, đọc luật lên cho nghe, để nhớ mà giữ. Chứ còn sống với tâm Phật thì cần giới luật chi nữa, còn bây giờ chưa được nên phải chế ra giới luật, đọc giới luật.
Bản tánh thanh tịnh rồi nhưng tại sao lại ô nhiễm?
Tôi dẫn chứng đoạn này trong Kinh Lăng Nghiêm.
Tôn giả Phú Lâu Na hỏi Phật:
– Bạch Đức Thế Tôn! Lại nếu tất cả các thứ căn, trần, ấm, xứ, giới trong thế gian đều là Như Lai tàng bản nhiên thanh tịnh, cớ sao bỗng sanh ra núi sông, đất liền và các tướng hữu vi, thứ lớp dời đổi, cuối cùng rồi trở lại chỗ bắt đầu?
Cớ sao bỗng sanh… Bỗng sanh có nghĩa là gì? Giống như ngủ nằm mộng, “bỗng sanh” là từ đâu sanh ra giấc mộng? Khi mê tánh giác thì bắt đầu sanh ra những phiền não, cấu nhiễm, sanh ra những nghiệp chướng, những sai biệt nghiệp. Trong giờ phút đó tỉnh trở lại thì không có. Cho nên Thiền sư
Huyền Gíác khẳng định:
Vô minh thật tánh tức Phật tánh Huyễn hóa không thân tức Pháp thân Pháp thân giác liễu vô nhất vật
Ngũ ấm phù vân không khứ lai.
Ngay chỗ “bỗng sanh” là “sanh”, mà nhận ra được nó không có thật tức là “vô sanh.” Nên gọi: Ngay sanh tức là vô sanh, hợp với thiền của chúng ta đang tu. Mà sanh này từ đâu? Từ đâu có cái này? Vua Trần Thái Tông nói kệ “Bốn Núi”:
Trời đất nấu nung vạn tượng thành, Xưa nay không mống cũng không manh.
Tức là không đầu không đuôi, bỗng nhiên nó có.
Chỉ sai hữu niệm quên vô niệm,
Chạy theo có niệm nên quên vô niệm.
Liền trái không sanh nhận có sanh.
Tại sao chối bỏ chỗ vô sanh? Do cái gì?
Mũi đắm các hương, lưỡi tham vị, Mắt mờ chúng sắc, tiếng mê tai.
Lang thang làm khách phong trần mãi, Ngày cách quê hương muôn dặm trình.
Ngay trong chỗ mê đó, mũi chạy theo mùi, lưỡi chạy theo vị, tai chạy theo tiếng, mắt chạy theo sắc; tức là phiền não sanh.
Cho nên chúng ta phải luôn luôn tỉnh để sống.
Mà tại sao bị cái sanh này dẫn mình? Trong kinh Lăng Nghiêm Phật khai thị cho tôn giả A Nan:
Này A Nan! Tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay, các thứ điên đảo giống nghiệp tự nhiên nhóm lại, như cái chùm ác xoa vô thỉ.
Đức Phật dạy, cái mà mình vừa bất giác vừa không có tỉnh, gọi là vô thỉ. Chẳng hạn như trong chúng có sáu, bảy chục người, hôm nào đó chúng làm việc. Tôi ngồi từ xa nhìn xuống, thấy mỗi người có một cái nghiệp khác nhau. Có người làm chậm rãi, có người làm không nói chuyện, mà tại sao có những người vừa làm vừa nói chuyện? Những người trong quá khứ có tu, nhìn thấy khác những người mới tu một hai kiếp. Vô thỉ là cái bất giác ban đầu, mình không thấy gì nhưng nó liên lũy đến hiện tại ngày hôm nay. Cho nên, bây giờ mình phải tỉnh từng giờ, từng phút, từng giây.
Đại chúng thấy, mở khoá tu 3 ngày, đến lần thứ sáu mới thành công. Từ lần thứ nhất đến lần thứ năm tôi phải nhắc liên tục, bởi vì họ vào trong cái khuôn, nắm được cái bất giác đó tự nhiên tỉnh. Cho nên, lần thứ sáu này họ ăn không nói chuyện, ngủ nghỉ họ cũng không nói chuyện. Thành công là nhờ năm lần đầu. Các lần trước chưa thành công mà mình không nản. Nếu nghĩ vào khóa tu sao không tu học mà nói chuyện suốt, thì mình nản là không muốn tổ chức nữa.
Cho nên, việc tu này đòi hỏi phải kiên trì và trường viễn. Người đời nói, “trường đồ tri mã lực”, đường dài mới biết ngựa hay. Cứ đi, đi là đến, không chịu đi thì không đến. Dầu chậm lụt cách mấy mà đi là đến, trước sau gì cũng thành tựu.
Các thứ điên đảo là cái thấy lộn ngược lại, có nghĩa là ngay chỗ vô sanh, ngay chỗ tánh viên giác mình không sống, mà sống những cái niệm, những cái nghiệp của phàm phu.
Ở Ấn Độ có trái ác xoa, mọc thành chùm ba quả dính nhau, tượng trưng cho mê hoặc, nghiệp và khổ. Phật đưa ra ví dụ do đời trước mê hoặc tạo nghiệp nên lãnh quả khổ. Người ta tu, thấy an ổn tự tại, lên bồ đoàn ngồi là vào định. Còn mình lăng xăng, lộn xộn, nghĩ ngợi đủ chuyện. Khổ về thân, khổ về tâm do đời trước mê lầm tạo nghiệp, thì bây giờ có pháp để chấn chỉnh lại.
Tại sao bị mê?
Do những người tu hành không thành được đạo Vô thượng Bồ-đề mà chỉ thành Thanh văn, Duyên giác, ngoại đạo, chư thiên, ma vương và quyến thuộc của ma, đều do chẳng biết hai thứ căn bản. Tu tập sai lầm cũng như nấu cát mà muốn thành cơm, dầu trải qua nhiều kiếp trọn không thể được.
Trên bước đường tu, gặp những nghịch duyên
làm mình điên đảo thì phải “quán”. Quán rằng, có được thân phận kiếp người là khó lắm, gặp được những bậc thiện tri thức lớn càng khó. Cho nên, Đức Phật khẳng định: Đi lệch một chút là thành Thanh văn hay Duyên giác, ngoại đạo, ma vương hay là quyến thuộc của ma. Bởi vì, mình chối bỏ tánh Phật của mình, không từ bên trong tu ra mà chỉ tu bên ngoài.
Trước khi nói, tôi phải sám hối: Dù cho là pháp nào hay cách mấy, như quán thân bất tịnh, quán pháp vô ngã, quán thân vô thường, thì vẫn là phương tiện thôi. Vì sao? Vì tu bên ngoài, pháp gì tu bên ngoài là không thành, chỉ có pháp cứu cánh là phản quan, quay trở lại mới thành Phật. Ở trên chỗ đương niệm nhận vô niệm mới thành tựu quả vị vô thượng. Mình may mắn lắm mới gặp thiện tri thức, không thì trật hết, hoặc là thành ma vương, hoặc là chư thiên, ngoại đạo…
Thế nào là hai thứ căn bản? A Nan! Một là căn bản từ vô thỉ, chính là hiện nay ông và chúng sanh dùng tâm phan duyên làm tự tánh.
Dùng tư duy, dùng suy nghĩ. Bởi vì, quán vẫn còn tư duy, vẫn còn suy nghĩ, vẫn còn ở trên niệm quán chiếu. Cho nên kết quả là Thanh văn, Duyên giác hoặc là ngoại đạo thôi. Đây là Phật nói chớ không phải tôi nói.
Dùng tâm phan duyên làm tự tánh, cho nên Thiền sư Lâm Tế khai thị:
Người xưa nói, công phu bên ngoài thảy là người ngu. Các ngươi phải tùy thời làm chủ, ngay đó đều là chân, cảnh đến lôi kéo cũng chẳng được.
Tùy thời làm chủ. Tùy thời chỗ nào? 6g15 lên tụng kinh, mà trong giờ phút tụng kinh đó mình làm chủ từng niệm, làm chủ từng cảnh giới, đừng để cho niệm lôi đi.
Dù có tập khí nghiệp địa ngục vô gián, tự chuyển thành biển lớn giải thoát.
Dù cho đời quá khứ tạo nghiệp bất thiện, nghiệp ngũ nghịch chăng nữa, mà trong giờ phút đó mình làm chủ là bắt đầu chuyển niệm. Trong nhà thiền nói: Chỉ cần chuyển một đường gươm là thành tựu.
Học giả ngày nay hoàn toàn không biết pháp, ví như dê mũi ngửi chạm vật là bỏ vào miệng, tớ thầy chẳng biện, chủ khách chẳng phân. Bọn như thế tâm tà vào đạo, gặp chỗ ồn náo liền vào. Họ không được gọi là người chân xuất gia, mà chính là người tục xuất gia.
Theo thời thế, những vị trẻ tuổi, từ 20-30 tuổi, thọ giới Tỳ-kheo thì phải có bằng trung cấp, bắt buộc là phải học, mà học là cản trở nhiều lắm. Học là thêm, tu là bớt. Ở đây, Ngài nói, học giả học giống như con dê, ngửi gặp cái gì cũng bỏ vô, cho cái đó là của
mình, mà chính đó là điều cản trở. Nhà thiền không có phế giáo, nhưng chỉ ra: Giáo là phương tiện trợ duyên thôi, không phải là chỗ cứu cánh.
Ông Bùi Hưu đến gặp ngài Lâm Tế hỏi:
- Trong núi bao nhiêu người?
- 500 người.
- Có dạy họ tập đọc kinh điển không?
- Không.
- Có dạy họ tụng kinh không?
- Không.
- Có dạy họ ngồi thiền không?
- Cũng không. Ông Bùi Hưu nói:
- 500 người trong núi mà không dạy họ tập đọc kinh điển, không dạy họ tụng kinh, không dạy họ ngồi thiền, như vậy dạy cái gì?
Thiền sư Lâm Tế nói:
- Chỉ dạy họ làm Phật thôi.
Người xưa không có phế giáo, mà chỉ ra giáo là như thế đó; đừng có bám chấp vào, cho là mình sanh hiểu. Thiền chú trọng nhất là chỗ dụng công. Học là để biết phương hướng thôi, dụng công là quan trọng nhất. Mình bỏ vào nhiều quá thì gọi là người tục xuất gia chứ không phải là người chân chánh.
Bồ-đề Niết-bàn nguyên thanh tịnh, thể từ vô thỉ, tức là thức tinh nguyên minh của ông hiện nay hay sanh ra các duyên, mà bị các duyên bỏ rơi nó. Do chúng sanh bỏ rơi tánh bản minh này, nên tuy trọn ngày động dụng mà chẳng tự biết, uổng trôi vào trong các cõi.
Là 25 cõi thú. Chữ tinh là gì? Là ròng rặt, giống như vàng ra khỏi quặng, ròng rặt không có pha tạp. Thức tinh này có duyên mới biết. Chẳng hạn như vừa nhìn cái bàn mình khởi niệm. Bởi nó sanh ra các duyên, rồi mình bám theo duyên, sanh hiểu mà quên cái gốc thức tinh nguyên minh, gọi là cái tâm nguyên sơ. Mình chối bỏ cái bản sơ ban đầu, chạy theo biết cái này, biết cái nọ, biết cái kia, quên mất bản thể ban đầu.
Bồ-tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng thưa:
Cúi mong đức Như Lai rộng vì chúng con khai ngộ được pháp tánh, khiến cho đại chúng ở đây và những chúng sanh đời sau làm con mắt cho kẻ tương lai. Thưa lời đây rồi, năm vóc gieo sát xuống đất, thưa thỉnh như vậy trước sau ba lần.
Phật khen ngợi Bồ-tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng:
Khi ấy, Đức Thế Tôn mới bảo Bồ-tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng: Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử, các ông mới hay vì đại chúng và những chúng sanh đời sau thưa hỏi Như Lai phương tiện như thế. Nay ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì ông nói.
Khi ấy Bồ-tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng vâng dạy hoan hỉ và các đại chúng lặng lẽ lắng nghe.
Do cái gì mà không thể nhập được tánh viên giác? Do cái gì mà mình chối bỏ tánh viên giác? Người xưa có câu:
Thiên đường hữu lộ vô nhân đáo, Địa ngục vô môn hữu khách tầm.
Thiên đường có cửa thì không ai chịu đến, còn địa ngục không có cửa mà nhiều người tìm đến. Do gì mà mình bị ô nhiễm, bị phiền não làm cho đau khổ? Không chỉ ở ngoài đời đau khổ mà vào trong chùa quyết chí tu mà nó cũng theo.
Thiền sư Bạch Ẩn nói: “Phiền não cấu nhiễm này theo các ông từng giấc ngủ, từng hơi thở. Nếu các ông không làm chủ được nó, thì mai này nó sẽ dẫn ông xuống địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh”.
Sáng nay, hành đường, mình phiền người này quá, nhìn khuôn mặt thấy ghét rồi. Cái đó theo mình trong giấc ngủ. Tối ngủ, nó chập chờn hiện lên. Phật đã dạy hết ruột gan cho mình, do cái gì mà thể nhập tính viên giác không được?
Phật bảo:
Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay vọng chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ mạng.
Nhận bốn tướng, bốn tướng này gom lại có 2 tướng thôi chớ không có nhiều. Một là mê cảnh thức, hai là mê cảnh trí.
Thế nào là mê cảnh thức? Nghĩa là chấp tự thể là ngã.
Cái tự thể này không phải là cái ngã của tôi. Bây giờ, ngồi ở trong lớp học, mình thấy rõ ràng, quán chiếu nó không phải là cái ngã của mình, nhưng khi ra làm việc, bị đụng chạm thì cái ngã tự nhiên có. Bất chợt một hôm nào đó, mình đi đụng nhầm cây gai hoặc khúc gỗ, ngã ở đâu trồi lên. Mình giận, bực tức vô cớ: Ai mà để cái khúc gỗ kỳ quá! Là ngã trồi lên. Tưởng rằng lá mùa thu hết rồi, bỗng một cơn gió thổi đến nó rụng đầy. Chỗ này Phật dạy rất là hay: Chấp tự thể cho là ngã.
Chấp ngã, nó xoay vần hướng đến các đường khác là nhân. Chấp ngã có các cảnh biến dị nối tiếp như: thịnh, suy, khổ, vui là chúng sanh.
Chấp có thịnh, có suy, có khổ, có vui.
Chấp ngã có một cái báo thân mạng, căn trụ không gián đoạn, tức là thọ giả.
Từ cái ngã này mình không phá, rồi mai kia từ giã cuộc đời này, có một cái ngã khác nữa tức là thọ mạng, tiếp nối, tiếp nối liên lũy.
Phật dạy tiếp:
Do nhận bốn thứ điên đảo làm cái ngã thật, do đây liền sanh ra hai cảnh yêu và ghét.
Thuận với cái ngã mình thì mình thương, mà nghịch với cái ngã mình thì ghét. Nên thể nhập tánh viên giác không được. Ban đầu là mê cảnh thức, sau do cái thương và ghét là mê cảnh trí. Không nhận được tự tánh viên giác là do người ta nói những lời làm cho cái ngã mình thích thú thì mình thương, bao nhiêu kẹo bánh cho hết, mà ai nói nghịch thì một cục kẹo cũng không cho.
Những cái thương ghét, thuận nghịch trong cuộc đời lúc nào mình cũng phải chuẩn bị. Như trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Phật nói là phải mang áo giáp ra trận. Mình đang sống trong cảnh giới thương và ghét, nhưng mình không chấp nhận sống trong chỗ thương ghét, không chấp nhận sống trong chỗ thuận nghịch.
Nếu chúng ta không có túc duyên tu đời trước, đời này chúng ta chỉ có gieo duyên thôi. Nếu mình không gắng gổ tu tập, không gặp được thiện tri thức, không gặp được môi trường, thì mình tu giữa chừng không tiến được.
So với ở nhà, so với ngoài chợ, nói trên sự tướng, chắc chắn ở thiền viện, ở chùa chiền, tịnh xá, môi trường tu tập thanh tịnh hơn. Chúng ta chán cái động, không ưa sự tạp nhạp của thế gian nữa cho
nên phát túc siêu phương, xuất gia đầu Phật tìm chốn yên ổn thanh tịnh.
Nhưng khi vào đây, chúng ta phải gắng gổ tu tập để hợp tần số. Chẳng hạn như tần số đại chúng bằng 10/10, thì mình tu tập như thế nào đó, bằng 8-9/10 thì mình vẫn được duy trì. Nếu mình còn gia duyên ràng buộc, nhớ nhà nhớ cửa, nhớ gì đó, sanh ra hai cái tâm thương và ghét. Mình tu một thời gian là nó đào thải, đẩy mình đi ra đời. Hoặc là không vươn lên được thì nó nghiền nát mình bởi vì mình không đủ tần số.
Phật dạy, già lam giống như biển lớn, mà biển lớn không chứa tử thi. Những vị thiện tri thức lớn, những bậc thầy lớn nhìn khuôn mặt mình là biết có vấn đề: Hoặc phiền não với gia đình, với đại chúng; hoặc phiền não với tự thân. Người ta ngồi thiền được, mình nhức chân ngồi không được, rồi vọng tưởng điên đảo hiện lên sắc mặt, biến hiện ra thương ghét. Thuận cái ngã thì mình ưa, trái cái ngã thì mình không ưa sanh ra thù hận, bởi vì mình không hợp tần số.
Có lần Phật tử đến hỏi Sư Ông Trúc Lâm: “Sau này Sư Ông tịch thì người nào đứng ra gánh vác thay thế?” Sư Ông nói: “Người nào không bị thương ghét, tám gió làm cho khốn khổ, người đó lãnh đạo”. Như vậy, chúng ta đang ở trong thương ghét, trong cảnh
giới tám gió: lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc. Tám gió đang bủa vây mình, phải làm như thế nào đó để vượt qua.
Ở bên Mỹ có câu chuyện:
Có ông già chuyên bán xà bông, đặc biệt là ai đến mua ông đều chỉ công thức để về tự làm. Có đứa bé khoảng mười tuổi đến mua xà bông rồi hỏi cách làm để về tắm cho con chuột bạch. Ông cẩn thận chỉ cách pha chế, liều lượng, vì chuột thì dùng liều lượng khác với người. Bốn ngày sau đứa bé đến, nhìn mặt bé ông biết con chuột đã chết. Ông bày tỏ hối hận, nhưng đứa bé nói con chuột chết không phải do xà bông, mà do bé cho con chuột tắm trong máy giặt.
Nghe câu chuyện này, chúng ta nghĩ không dính dáng gì mình. Nhưng câu chuyện ám chỉ rằng, mình đang ở trong guồng quay của máy giặt: thương và ghét, có và không, năng và sở. Mình làm như thế nào đó để vượt qua thì mới tồn tại được trong cảnh giới bất nhị. Mình rất là may mắn biết được con đường của đạo Phật, con đường giác ngộ, con đường thiền đốn ngộ, bởi vì thiền đốn ngộ vượt qua đối đãi.
Bữa tôi về Sài Gòn giảng, có cô Phật tử nói với tôi. Ngày xưa chưa biết đạo Phật, cô sống rất thanh thản. Từ khi biết đạo Phật, cô qua Miến Điện tu bên Nguyên Thủy một thời gian, về nhiều khi cô còn đau khổ hơn. Tôi nhìn, biết bệnh của cô liền. Tại sao
đau khổ? Tôi nói, tôi phải sám hối, không phải tôi bài bác, nhưng bên đó đa phần chấp pháp rất nặng. Vì cô ở trong môi trường đó tu quá thanh tịnh, khi bước ra xã hội, thấy người giữ giới thanh tịnh thì cô vui, thấy người có cử chỉ không được thanh tịnh thì cô không ưa. Thêm một cái khổ nữa là sợ cái động, thích cái tịnh. Tôi nói cô bị bệnh rồi.
Tôi nói, khi cô cầm cục lửa bỏ qua tay người khác là bàn tay cô bị bỏng trước. Khi mình khởi tâm ghét là mình bị ô nhiễm, khởi tâm thương cũng ô nhiễm. Ghét cái động, thích cái tịnh là nó phân ranh, là thế giới nhị nguyên. Mà xưa nay, bản thể vô tướng, thanh tịnh, có cái gì đưa vào là nó đẩy ra. Chính cái đưa đẩy đó làm cho cô đau khổ. Cho nên, ngày xưa, cô chưa tu thì an ổn, bây giờ cô tu thì lại không an ổn, là do cô chấp về pháp quá nặng. Người xưa nói, dứt cái động thì dễ, mà dứt cái tịnh rất khó.
Có người hỏi tôi, đạo Phật bi quan hay lạc quan? Đạo Phật không bi quan cũng không lạc quan, mà vượt lên trên bi quan và lạc quan. Đạo Phật đứng trên bờ để nhìn dòng sông trôi chảy. Tinh thần bất nhị là như thế, tu được rồi thấy nhẹ lắm. Các pháp đến, dầu ưa hay không ưa, dầu động hay tịnh mình cũng bất động.
Nên Thiền sư Huyền Giác nói:
Khéo khéo lúc dụng tâm Khéo khéo không tâm dụng Không tâm khéo khéo dụng
Thường dụng khéo khéo không.
Bởi vì mình là cái ‘hay biết’, còn cái động cái tịnh, cái ưa cái ghét là cái ‘bị biết’. Sống với cái ‘hay biết’ thì lìa cái ‘bị biết’. Tinh thần đốn ngộ hay cực kỳ, càng tu càng thấy, đối với các pháp các Ngài nói tự tại là đúng. Các Ngài khẳng định “vào rừng không động lá, vào nước không quậy sóng”, bởi vì đối với các pháp các Ngài bất động.
Kinh Tương Ưng Bộ kể lại:
Thiên tử Khamaha đến hỏi Phật:
- Thưa Sa môn, Ngài có hoan hỉ không? Thế Tôn nói:
- Này hiền giả, ta được gì mà ta hoan hỉ?
Hoan hỉ là vui. Chẳng hạn được cho tiền hay trúng số độc đắc thì vui.
- Nếu vậy thưa Sa môn, có phải ngài sầu muộn không? Phật nói:
- Này hiền giả, ta mòn mỏi cái gì mà ta sầu muộn?
Thường thường, một là buồn hai là vui, một là khổ hai là sướng, luôn luôn ở chỗ phân ranh. Ở trong thế giới nhị nguyên mà không vượt qua được
thì thế giới nhị nguyên sẽ vùi dập nghiền nát mình.
- Như vậy thưa Sa môn! Ngài không hoan hỉ và không sầu muộn?
- Này hiền giả, thật đúng vậy. Rồi Thế Tôn nói bài kệ:
Hoan hỉ chỉ có đến
Với người tâm sầu muộn Sầu muộn chỉ có đến
Với người tâm hoan hỉ. Do vậy, vị Tỳ-kheo Không hoan hỉ sầu muộn
Vậy nên, này hiền giả Ngươi phải biết như vậy.
Bởi vì khi buồn khổ mà có cái gì tốt tác động đến thì vui, hoặc đang vui mà có cái gì xấu tác động đến là sầu khổ. Cho nên, suốt ngày sống hoặc là vui, hoặc là khổ.
Thời xưa, có ông vua người Ai Cập, ông có quan cận thần là người rất giỏi và thông minh, cho nên ông sợ ông quan này cướp ngôi. Một hôm, vua gọi quan cận thần đến, giao cho ông phải đi tìm một chiếc vòng, đặc biệt là ai nhìn chiếc vòng, nếu đang buồn thì trở nên vui và ngược lại, đang vui sẽ cảm thấy buồn. Sau nhiều năm đi khắp nơi tìm kiếm. Một hôm ông đến kinh thành Salomong, gặp một ông lão, ông kể câu chuyện đó cho lão nghe, lão liền móc
trong bọc một chiếc vòng, bất chợt ông buồn khổ liền vui vẻ. Ông bèn trở về, mang theo chiếc vòng đưa cho vua. Vua đang vui hớn hở nhìn thấy chiếc vòng bỗng buồn rười rượi, bởi vì trên chiếc vòng có dòng chữ: “Tất cả rồi cũng sẽ trôi qua”.
Thời gian biến dịch vô thường, không đứng yên một chỗ. Buồn đó rồi sẽ vui, vui đó cũng sẽ buồn. Bởi vì thế giới này lập cước trên buồn và vui. Phước và họa kế bên. Họa đó, phước đó. Chúng ta làm thế nào để vượt qua lập cước này, mới sống còn.
Trong Kinh Tương Ưng Bộ kể lại:
Ở thành Ba La Nại, có một ông có con chết. Ông buồn khổ, gặp ai ông cũng than khóc. Phật đi khất thực ngang qua, Ngài nói: “Có thương là có khổ”. Ông này không chấp nhận, thắc mắc tại sao thương lại là khổ.
Câu chuyện đến tai vua Ba Tư Nặc, hoàng hậu của vua là Mạt Lợi Phu nhân, là đệ tử của Đức Phật. Vua nói với hoàng hậu:
- Thầy của hậu nói thương là khổ, trẫm không đồng ý. Hoàng hậu nói:
- Thầy của thần thiếp nói chắc là đúng. Hai người đến gặp Đức Phật, Phật hỏi:
- Bệ hạ có một người công chúa, bệ hạ có thương không?
- Thương chứ.
- Nếu công chúa có gặp chuyện gì bệ hạ có buồn khổ không?
Vua giựt mình, ông thấy trong cái thương có mầm mống của khổ đau. Ông hỏi tiếp:
- Như vậy ở thế gian này không có thương thì làm sao xây dựng cuộc sống? Làm sao một ông vua lo cho đất nước nếu không có lòng thương?
Đức Phật có nói: “Đa tình tâm thị Phật”. Nhiều tình thương đó là tâm Phật. Mà thương như thế nào?
Thiền sư Suzuki nói, người từ 18 tuổi mới biết yêu lần đầu thì giống như một vị thiền sư kiến tánh ngộ đạo. Đại chúng thấy có giống không? Người xưa nói:
Như nhau dọc mũi ngang mày,
Lòng phàm dạ thánh cách nhau ngàn trùng.
Giống thì giống mà phải thì không phải:
Thiền sư Suzuki nói, người từ 1 đến 10 tuổi họ không biết san sẻ tình thương, họ chấp giữ cho mình không muốn hy sinh cho ai khác. Nhưng đến 18, 19 tuổi, bất chợt họ đem lòng thương người khác, dầu cho cha mẹ cản họ cũng nhất quyết thương.
Thiền sư nói, một bậc kiến tánh cũng như thế. Ban đầu mới tu mình không có san sẻ lòng thương cho người khác, không hiến dâng cuộc đời mình cho nhân loại, cho cộng đồng. Khi kiến tánh ngộ đạo, làm nhiêu ích cho những người khác không biết mệt mỏi. Bởi vì, phát nguyện gửi thân trong dòng giáo
pháp của Đức Phật, cho dù nghiền nát thân này cũng hy sinh hết tất cả. Người mới biết yêu cũng sẵn sàng hy sinh như thế.
Vậy thì có giống nhau không? Việt Nam có câu ca dao:
Ước gì anh lấy được nàng,
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.
Mà nàng dắt người khác về là anh chém! Tức là cái đơn ngã chứ chưa phải vô ngã. Anh chàng biết yêu xây hồ bán nguyệt chỉ cho một người rửa chân thôi. Còn các bậc thiền sư sẵn sàng xây một ngàn cái hồ bán nguyệt, ai vào rửa chân cũng được.
Đa tình tâm thị Phật là các Ngài nhận ra chỗ đó, vượt lên chỗ thương ghét, làm hết tất cả mà tâm bất động. Đạo Phật hay ở chỗ vượt lên thế giới nhị nguyên.
Ở An Giang, Châu Đốc, hầu như ai cũng thuộc bài thơ này:
Ta có tình yêu rất đượm nồng Yêu đời yêu đạo lẫn non sông Tình yêu chan chứa trên hoàn vũ
Không thể yêu riêng khách má hồng.
Nếu khách má hồng muốn được yêu Thì trong tâm chí hãy xoay chiều Hướng về phụng sự cho nhơn loại Sẽ gặp tình ta trong khối yêu.
Ta đã đa mang một khối tình Dường như thệ hải với sơn minh Tình yêu mà chẳng riêng ai cả
Yêu khắp muôn loài lẫn chúng sinh.
Khi tu pháp thiền đốn ngộ, vượt qua thế giới nhị nguyên thương và ghét, tốt và xấu, dài và ngắn, ngày và đêm… Ngày xưa, mới vào thiền viện, mình làm việc đó thấy khó chịu. Ngày Tết, ai cũng nghỉ mình nhìn trên bảng thấy trị nhật hành đường, mà tới 10 ngày, mình phiền! Bây giờ hiểu, mình thấu thoát được rồi thì sẵn sàng làm không biết mệt.
Ngày xưa, tôi đi từ đây về Sài Gòn là chóng mặt chịu không nổi, mà bây giờ thứ ba là phải có mặt tại trường thiền dạy hai buổi sáng chiều, thứ tư tôi hướng dẫn ở đây, thứ năm dạy ở Phan Thiết, chủ nhật là dạy các đạo tràng. Thành ra một tuần phải đi mấy đoạn đường xe mà tại sao mình không biết mệt? Bởi vì hiến dâng cho Phật pháp, hiến dâng cho dòng giáo pháp đốn ngộ, cho nên là làm hết tất cả.
Ngày xưa, mới vào thiền viện, mình tưới nước mình buồn, thấy cực. Nhưng bây giờ, thấu thoát được rồi mình tưới nước là trong ánh sáng. Vì sao? Vì ông Duy Ma Cật đã trao cho mình ngọn đèn vô tận đăng.
Khi ma vương biến thành Đế Thích xuống tặng cho Bồ-tát Trì Thế một muôn hai ngàn thiên nữ, ngài không dám nhận. Lúc đó, Ngài Duy Ma Cật
đến nhận, rồi giảng pháp cho các vị thiên nữ nghe. Thiên nữ nghe pháp, vui với pháp lạc, thấy thân này vô thường tạm bợ, không muốn trở lên cung trời Tha Hóa Tự Tại nữa. Ngài Duy Ma Cật nói các vị cứ vào đi, Ngài sẽ cho một pháp môn gọi là “vô tận đăng”, là ngọn đèn vô tận không bao giờ tắt.
Chúng ta vào trong cuộc đời này, học Phật pháp, có trí tuệ, phải tu tập như thế nào để chuyển hóa, chứ không phải ba năm, mười năm, hai mươi năm cũng như thế thì pháp không có giá trị.
Từ khi sanh ra đời, mang thân năm uẩn này chắc chắn có nghiệp. Có một thầy mới xuất gia đợt vừa rồi. Ngoài đời thầy mạnh như lực sĩ, bị đau họng đi khám phát hiện ung thư. Sáng nay thầy đến trình, tôi hỏi có sẵn sàng ở đây tu để mà chết không hay là về? Thầy nói, con đã phát nguyện rồi. Sống làm Phật tùng lâm, chết cũng làm Phật tùng lâm. Ráng làm Phật chứ đừng làm ma. Sống chết gì cũng ở trong tùng lâm, chứ đừng có vừa chớm bệnh là về để cha mẹ nuôi. Mạng sống rất mỏng manh, vô thường, bị bệnh là do nghiệp. Trong đời quá khứ hoặc hiện tại làm điều gì đó, mang mầm mống ác nghiệp cho nên bây giờ bị di chứng vào. Bây giờ, phải tu tập như thế nào đó để chuyển hóa.
Trong Kinh Tăng Chi Bộ, quyển 2, Phật dạy:
Này các Tỳ-kheo! Ai nói như sau, này các Tỳ-kheo,
người nào làm nghiệp gì sẽ phải chịu quả báo cố định như vậy. Nếu sự kiện đúng như vậy, này các Tỳ-kheo, không có đời sống phạm hạnh, không có cơ hội để đau khổ được đoạn diệt.
Có nghĩa là, ai nói là bây giờ tạo nghiệp gì đó, chẳng hạn sát sanh, thì phải chịu quả báo sát sanh. Phật nói: Nếu như thế thì không có đời sống phạm hạnh, đau khổ không đoạn tận, đoạn trừ. Chúng ta may mắn nắm được pháp này là có cơ hội chuyển hóa được nghiệp, chứ không phải nghiệp cố định một cộng một bằng hai. Cho nên, chúng ta mang cái thân bệnh tật ở trong vòng xoáy của cuộc đời phải tu để chuyển hóa.
Phật dạy tiếp:
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người không tu tập về thân, về giới, về tâm, về tuệ. Tâm vị đó hạn hẹp, vị kỉ, nhỏ nhen. Người như vậy, này các Tỳ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ cũng đủ bị đưa vào địa ngục.
Nếu cầm thuốc độc, mà bàn tay bị xước chút xíu thôi cũng chết. Bàn tay không bị vết thương thì dù cầm thuốc độc cũng không sao. Trên đời này ai cũng từng tạo nghiệp ác về thân, về khẩu, về ý hoặc quá khứ hoặc hiện tại. Nhưng nếu không tu tập về thân, về giới, về tâm, về tuệ. Tâm quá hạn hẹp, quá vị kỷ, nhỏ nhen thì dù tạo nghiệp nhỏ thôi cũng rớt xuống địa ngục chịu khổ.
Thí dụ mình có tâm bực tức, sân hận với huynh đệ, mình thấy buông dễ quá, mà sao có những người buông không được? Là vì người đó đời quá khứ không tu tập về thân, về giới, về tâm, về tuệ. Khi ra đời, họ sanh ra trong bào thai của vô minh, của câu sanh ngã chấp, cho nên rất khó chuyển được. Còn người nào ở trong bào thai của nhân Phật, đời quá khứ họ có tu tâm, tu thân, tu giới, tu tuệ, tâm họ rộng thì họ dễ chuyển.
Ngày xưa tôi ở Trúc Lâm, ở chung ông thầy mập người nên lúc nào cũng mở cửa sổ. Huynh đệ kế bên thì ốm, sợ lạnh nên muốn đóng cửa sổ. Người đóng, người mở cự nhau hoài. Tôi thấy dễ quá, nên phát tâm đổi chỗ cho ông thầy mở cửa sổ thoải mái. Đúng 3 năm tôi ngã bệnh luôn, tôi mang bệnh ho là do di chứng mở cửa sổ. Thân năm uẩn không đủ lực, tâm như thế nhưng cái thân không chịu được nên bệnh.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người tu tập về thân, về giới, về tâm, về tuệ. Tâm vị đó rộng rãi không vị kỉ, sống đời vô lượng. Người như vậy có làm việc ác nhỏ mọn tương tự ngay trong hiện tại, một chút ít khổ báo cũng không xảy ra nói gì là nhiều.
Chúng ta có phương pháp tu, có lối thoát. Ngày cuối cùng ra đi, mình nhìn lại quãng đời phụng sự, cống hiến. Sống trong cuộc đời này không nói ngắn dài. Ngày xưa, Nhị Tổ Pháp Loa 42 tuổi mất, Sơ Tổ
Trúc Lâm 51 tuổi mất, mà sống cống hiến cho nhân loại, cống hiến cho sự nghiệp Phật pháp mới đáng sống. Nếu làm được lợi ích cho nhiều người, tuổi thọ kéo dài thì tốt. Tuổi thọ kéo dài mà không làm nhiêu ích cho người khác thì cũng uổng.
Phật ví dụ:
Này các Tỳ-kheo! Giống như một nắm muối bỏ trong ly, người ấy không uống được. Này các Tỳ-kheo! Ví như một người làm ác nhỏ mà không tu tập về thân, về giới, về tâm, về tuệ. Tâm vị đó hạn hẹp, vị kỉ, nhỏ nhen, giống như một nắm muối bỏ trong ly uống không được.
Này các Tỳ-kheo! Ví như một nắm muối bỏ xuống sông Hằng, này các Tỳ-kheo, ví như có một người làm ác nhỏ nhưng mà có tu tập về thân, về giới, về tâm, về tuệ. Tâm vị đó rộng rãi không vị kỷ, sống đời vô thượng. Người như vậy thì chắc chắn rằng một chút ít khổ cũng không xảy ra, nói gì là nhiều. Sự kiện là như vậy, này các Tỳ-kheo, thời có đời sống phạm hạnh, có cơ hội để đau khổ được đoạn diệt.
Cho nên chúng ta gắng gổ sống với tâm Phật, thì dù cho sống ở nhân gian năm mươi, sáu mươi hay một trăm năm cũng tự tại. Ngày xưa, nhìn người, mình hay nói: “Sao người đó tu mà còn như thế?” Học đoạn sau mới thông cảm, Phật nói giống như người sanh ra đời đã bị mù mắt, bây giờ, phải tìm cây kim bằng vàng lột cái màng ra thì con mắt mới sáng.
Có những người tu không được, ngồi thiền không được, thì phải tìm cách nào đó để họ từng bước làm tất cả các việc thiện pháp để đoạn tận nghiệp này, để con mắt sáng lên rồi bắt đầu tiếp tục tu.
Mình biết pháp rồi, thấy cuộc sống bao nhiêu lâu nữa đâu, tại sao tâm mình không mở ra đón nhận mà lúc nào cũng đóng kín, vị kỷ, nhỏ hẹp, không có độ lượng? Tâm như thế thì chắc chắn sẽ gặp những khốn khổ trong cuộc đời. Khi chuẩn bị từ giã cuộc đời thì lúc đó các pháp hiện khởi, tạo ác hoặc làm thiện đều hiện khởi.
Cho nên Đức Phật khẳng định: Thuận cái ngã mình thì thương, mà trái cái ngã mình thì ghét.
Thương ghét như thế đều do chấp ngã, rồi ở nơi thể hư vọng lại chấp thêm một lớp hư vọng nữa.
Đã mang thân phận này là khổ rồi: trái gió trở trời, sổ mũi nhức đầu, đau răng, đau mắt, đau khớp gì chịu cũng không nổi mà không chịu tìm cách hóa giải. Phật nói, chồng thêm cái thương ghét, một lớp khổ chồng thêm một lớp nữa.
Nhìn lại thấy kiếp nhân sinh thật khủng khiếp, nhưng người ta không chịu vượt qua mà thích thương, thích ghét, thích đủ hết. Một lớp năm uẩn đã khổ rồi mà không chịu tìm cách hóa giải để vượt lên, mà thêm một lớp nữa.
Cho nên Phật dạy:
Bốn đại, năm uẩn sở dĩ có mặt trong cuộc đời này là mê tánh giác, cho nên sanh ra cái thân phận này, và không thấy được các duyên giả hợp là hư vọng lại chấp ngã, chấp nhân, chấp chúng sanh, thọ giả. Hai vọng nương nhau sanh ra nghiệp đạo hư vọng, do hai lớp hư vọng trên, nên sanh khởi tạo tác các vọng nghiệp, nghiệp lại dẫn đến các quả khổ vui nên gọi là đạo.
Tức là chấp thân, chấp những sự kiện xung quanh, rồi tìm cách làm cho người thân được an ổn, an vui nên mình tạo ác: hoặc là sát sanh, trộm cướp, nói dối… cho nên từ đó biến hiện ra sáu đường.
Vì có vọng nghiệp nên vọng thấy có lưu chuyển. Người nhàm chán lưu chuyển lại vọng thấy có Niết-bàn.
Chúng ta đã học mê cảnh thức, là chúng sanh khởi tâm động niệm cho nên dẫn ra sáu đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, trời, người, A-tu-la. Mê cảnh trí là thấy khổ chán quá, mới bắt đầu tìm cầu Niết-bàn. Thấy có chứng có đắc, có sanh tử, có Niết-bàn, thấy phiền não, thấy Bồ-đề cho nên gọi là mê cảnh trí, thoát ra không được.
Khi tạo nghiệp về thân, về miệng, về ý, mà khi nghiệp thành thì có sanh tử lưu chuyển. Sanh tử lưu chuyển thì quả phải đến, chắc chắn một điều không có trốn chạy được. Rồi chán luân hồi sanh tử, tức
là nhàm chán ba cõi không có an, tất cả đều như nhà lửa thì hướng về con đường tịch diệt, đắm trước cảnh không, gọi là mê tánh viên giác.
Phàm phu chối bỏ tánh viên giác, còn hàng Nhị thừa đoạn diệt tánh viên giác, không có khởi dụng cho nên gọi là phần đoạn sanh tử và biến dịch sanh tử. Đắm trước chỗ tịch diệt gọi là bất hồi tâm độn căng A-la-hán, cho nên không phát khởi tâm bồ-đề. Không phát khởi hạnh Bồ-tát làm nhiêu ích chúng sanh. Đắm trước cái không này gọi là mê cảnh trí.
Sở dĩ bị lưu lãng trong sanh tử là do các chúng sanh ban đầu bất giác, mê cái bổn nguyên pháp thân nên vọng nhận năm ấm huyễn vọng thân tâm làm cái thể của thật ngã, nên gọi là ngã tướng.
Bất giác này gọi là vô thỉ vô minh. Khi bất giác, quá khứ dẫn đến hiện tại, mình chưa một lần nào tỉnh. Bây giờ may mắn gặp được thiện tri thức, gặp được pháp môn, gặp được môi trường, mình chấn chỉnh lại để nhận ra bổn nguyên, bổn thể để mà phá ngã tướng. Trong nhà thiền gọi là thùng sơn lủng đáy. Nhập thất tu như thế nào để cái thùng sơn lủng đáy, có nghĩa là không chấp vào thân năm uẩn duyên hợp nữa.
Do chấp ngã nên tạo nghiệp, cho nên nó xoay chuyển hướng đến dư thú gọi là nhơn tướng.
Do chấp ngã nên tạo nghiệp, ai đụng tới mình nổi sân, từ cái miệng phát ra cái tay, hành động hướng đến cái dư thú.
Rồi do chấp vào nhơn tướng. Sở dĩ, chấp vào nhơn tướng là thấy cái ngã thật. Nhận lấy buồn, vui, sướng, khổ cho nên nó biến dị, dời đổi từ trạng thái này qua trạng thái khác tương tục, nên gọi là chúng sanh tướng.
Chúng ta tu như thế nào mà khuôn mặt mình rạng rỡ như mùa xuân, gọi là mùa xuân miên viễn, sáng hay trưa chiều cũng như thế. Buổi sáng mặt tươi mà buổi trưa nhìn thấy chán là biết bị biến dịch, dời đổi, từ trạng thái này sang trạng thái khác. Biến hiện lên khuôn mặt gọi là biến dị, là chúng sanh tướng.
Do chấp mạng căn một thời chẳng đoạn nên gọi là thọ giả tướng. Do chẳng đạt đến chỗ vô ngã nên chấp vọng làm chơn, nên nói là điên đảo.
Chúng ta tụng hằng ngày: “chiếu kiến năm uẩn
…” làm như thế nào cho nó Không, thì những khổ nạn không bám mình. “Chiếu kiến” mà có thì khổ liên tục. Tôi nói cho đại chúng có niềm tin, tu trong đạo, ráng luyện chừng hai, ba mươi năm là nó sẽ khác. Bản thân tôi biết, hồi xưa chuyện đó vượt qua không được mà bây giờ rất là nhẹ vì có công phu.
Lại đối với vọng ngã này khởi tâm thương ghét,
nên nó lại thêm một lớp chấp hư dối, do đây mà khởi ra cảm hoặc. Hai tướng hư dối này nương nhau mà tạo ra các thứ nghiệp tập, nên nói là sanh ra cái vọng nghiệp đạo, lưu chuyển trong sanh tử. Đây gọi là tạo nghiệp nên có vọng nghiệp, ắt hẳn là thọ lãnh quả báo khổ nạn trong vòng sống chết. Quả khổ này cảm lấy ba đường khổ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đều nhân nơi vọng nhận ngã chấp. Do nhận ba cõi luân hồi nên nói là lưu chuyển, đây gọi là phần đoạn sanh tử của phàm phu.
Chẳng hạn tạo nghiệp rớt xuống địa ngục chịu khổ, được cơ duyên hết nghiệp báo địa ngục, sanh lên ngạ quỷ. Tưởng rằng sanh ngạ quỷ là xong, nhưng con ngạ quỷ này cũng bị khổ nạn sướng vui, nên nó tiếp tục tạo nghiệp thân, khẩu và ý. Ngạ quỷ cũng chấp ngã tự thân nên rớt xuống địa ngục lại. Cho nên, tại sao Đức Phật nói được sanh làm người là khó, khó ở chỗ đó, cứ ba đường lên xuống thoát không được.
Hàng Nhị thừa chán khổ sanh tử, dứt hẳn tập phiền não, vượt thoát tam giới lại vọng thấy có Niết-bàn nên nhận lấy cái khổ.
Hàng nhị thừa vẫn có khổ gọi là biến dịch sanh tử. Bởi vì chán khổ sanh tử, dứt tập phiền não, vượt qua tam giới nhưng vọng thấy có Niết-bàn, ở yên trong đó, cho nên từ phần đoạn lên chỗ biến dịch. Chỉ có tu tập
hạnh Bồ-tát thừa để vượt lên chỗ Đẳng giác, bước qua hàng Diệu giác mới bứt phá biến dịch sanh tử, khởi tâm lập hạnh xuống cuộc đời này tiếp tục giáo hóa. Đại chúng hãy nhớ, ba đời mười phương chư Phật, không có một vị Phật nào rời nhân gian để thành tựu quả vị vô thượng bồ đề, mà ở trong nhân gian này vận hành như thế nào đó để tu tập chuyển hóa.
Đều do chấp ngã mà ra nên nói từ đây thuận tiện mà sanh. Song bốn tướng này có phần thô và tế, phần thô thì mê thức, phần tế thì mê trí. Người thô mê thức chính là hạng phàm phu, vọng nhận năm uẩn làm ngã, vọng sanh ra cảnh thương và ghét, từ đó khởi niệm tạo tác, cho nên mê cảnh thức. Người tế mê trí, chính là tất cả thánh hiền vọng thấy có chứng có đắc, vọng thấy năng sở chưa có quên, chưa thoát được.
Hai thứ ngã chấp thô tế trong đây đều thuộc về câu sanh. Chúng sanh trong Kinh này ý là bao hàm chín cõi: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, trời, người, A-tu-la, Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát.
Gọi là “câu sanh ngã chấp”. Câu sanh ngã chấp là phàm phu ra đời không gặp được thiện tri thức chỉ dạy. Hàng Nhị thừa cũng có câu sanh ngã chấp đi theo, nhưng ra đời gặp thiện tri thức chỉ dạy, thấy rằng khổ sanh tử dài quá, liên lũy quá, chán nên tìm chỗ không tịch. Khi đạt chỗ không tịch, trú vào chỗ đó luôn cho nên cũng gọi là ngã chấp, ngã chấp về
pháp chứng đắc và Niết-bàn, chưa thoát được.
Trong đây, trước là nêu lên bốn tướng của phàm phu để hiển bày bốn tướng của ba thừa tức là Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát. Bốn tướng của phàm phu do thương ghét mà có. Bốn tướng của ba thừa do thủ chứng mà có. Do thủ chứng mà phát khởi ái căn chủng tử, nên phàm thánh cả hai đều không vượt thoát được.
Hàng phàm phu dính trong chỗ thương ghét. Hàng nhị thừa dính trong chỗ thủ chứng: Thấy có chứng, có đắc, thấy có sanh tử, có niết bàn cho nên không thể nhập được tánh viên giác.
Phật dạy:
Do chán lưu chuyển cho nên vọng thấy có Niết-bàn, do đây mà không thể vào được tánh giác thanh tịnh. Chẳng phải tánh giác này chống cản không cho chúng sanh vào. Có các người hay nhập không phải là giác nhập, thế nên động niệm cùng với dứt niệm đều là mê muội.
Phật nói, do chán cái lưu chuyển cho nên vọng thấy có Niết-bàn, do đây mà không thể vào tánh giác thanh tịnh. Tánh viên giác này không phải chống cản, không nói là “ông không được vào”. Tánh viên giác này sẵn sàng mở cửa cho vào nhưng với điều kiện vượt qua chỗ thương và ghét, có sở chứng và sở đắc thì mình mới vào được tánh viên giác; chứ không
phải tánh viên giác thương người này ghét người kia. Mình tu như thế nào đó mình đừng dính mắc vào hai trường hợp này thì mới thể nhập được tánh viên giác.
Do vọng chấp ngã nên nhiễm ô chơn tánh, từ đây chẳng có thể vào được tánh giác thanh tịnh. Chẳng phải tánh giác này chống cản không cho người vào, vì chấp ngã không thể vào được tánh viên giác. Có các người hay nhập không phải là giác nhập. Nếu do giác nhập giác, thì như hư không hiệp với hư không, lại đâu mà có chống cản. Do ngã chấp chưa quên nên phàm phu thì động niệm mà hàng nhị thừa thì sợ niệm, tìm cách dứt niệm, đoạn niệm.
Cho nên vào tánh viên giác không được. Đại chúng thấy hư không với hư không thì sao? Có chống cản không? Hư không hiệp với hư không. Nếu không có thương và ghét, không có chỗ chứng và đắc thì vào luôn tánh giá chứ không có chống cản.
Phàm phu suốt ngày động niệm, tạp loạn liên tục cho nên mất đi tánh viên giác. Có nhiều phương pháp tu tập để trở về tánh giác. Nhưng hàng Nhị thừa sợ niệm, thấy niệm thật, tìm cách dứt niệm cho nên mất đi cái dụng của tự tánh. Ngày xưa, quét nhà, nấu cơm mà trong phiền não, đau khổ, bực dọc. Bây giờ, quét tới đâu ánh sáng Bát-nhã tới đó. Không có tiêu dung cái niệm, vẫn thấy biết rõ ràng nên không mất cái dụng của tự tánh, mà mượn cái dụng của tự tánh này vào cuộc đời để nhiêu ích chúng sanh.
Khi sống với tâm động niệm thì trái mất đi giác thể. Còn sợ niệm quá, sợ động quá, thu vô thì mất đi dụng của tự tánh, không làm nhiêu ích chúng sanh được, tức là bỏ mất hạnh Bồ-tát. Hạnh Bồ-tát mà bỏ thì con đường Phật thừa không có.
Cho nên Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác nói:
Bỏ vọng tâm giữ chơn lý, Tâm lấy bỏ thành xảo ngụy,
Người học chẳng rõ dụng tu hành, Lâu thành nhận giặc lấy làm con.
Bỏ vọng tâm giữ cái không tịch, tâm có lấy có bỏ thành tâm xảo ngụy. Người học chẳng rõ cái dụng tu hành, lâu ngày nhận giặc làm con.
Cho nên, Tổ Tăng Xán nói:
Chẳng đuổi theo duyên, Chẳng trụ, không nhẫn, Một tâm bình thường, Tự nhiên rỗng suốt.
Đừng đuổi theo cái có, cũng đừng trụ trong cái không. Tâm để bình thường thì tự nhiên rỗng suốt.
Do đó, Triệu Luận nói:
Thánh nhân ở nơi có mà chẳng có, ở trong không mà chẳng không. Tuy chẳng chấp có không mà cũng chẳng bỏ có không. Cho nên các Ngài hòa mình trong trần lao, dạo
khắp nơi ngũ thú. Lặng lẽ mà đi, thản nhiên mà đến, điềm nhiên không làm, mà không gì chẳng làm.
Vì không dính mắc có không, chúng ta thấy các ngài như không làm, bởi vì các ngài không tạo tác mà việc gì cũng làm hết.
Đại chúng thấy buổi sáng tôi cũng hòa hợp với đại chúng làm việc. Người ta hỏi, thầy làm vậy giờ đâu thầy ra sách, giờ đâu thầy soạn giáo án? Có giờ hay không là do mình. Buổi tối, tôi ngồi thiền như đại chúng, xả thiền xong tôi mới bắt đầu soạn giáo án, soạn có khi tới mười một giờ, có khi mười hai giờ. Sáng sớm thức dậy, ngồi thiền xong đi kinh hành rồi tôi tranh thủ soạn giáo án. Sáng, tôi làm việc với đại chúng. Làm việc với tâm vô tư không suy nghĩ gì hết thì không có mất lực. Còn làm việc mà rớt trong có không, năng sở thì sẽ mệt.
Ngày xưa, tôi làm ở Thường Chiếu, việc gì cũng làm hết mình, đủ duyên đủ nhân thì làm Phật sự thành tựu. Đại chúng phải tin điều này.
Cho nên các Ngài nói:
Làm mà vô tác không có trụ cho nên tự tại trong các pháp.
Phật dạy tánh viên giác không có chống trái ai, ai chứng nghiệm, ai thể nhập cũng được. Nhưng tại sao có người chứng nghiệm, thể nhập được, có người không được?
Vì gốc vô minh khởi từ vô thỉ làm chủ tể, tất cả chúng sanh sanh ra không có con mắt tuệ, thân tâm bản tánh đều là vô minh, giống như người không thể đoạn mạng sống của chính mình.
Có những lúc khởi niệm sân, có những lời nói, hành động, ý nghĩ mà khi qua cơn giận rồi, mình tự hỏi không hiểu tại sao lại làm như thế. Ở trong chúng, có những người tu rất nhanh. Bản thân mình cũng có những lúc tu tập tiến triển, nhưng có những lúc tu chậm, và cũng có những cái niệm ô trược. Người nào tâm rộng, tâm quảng đại, mà nhân ban đầu của họ là nhân Phật, họ tu nhiều đời rồi nên bây giờ ra đời tu rất nhanh. Còn nhân ban đầu của mình, do một niệm bất giác thôi mà liên lũy từ đời này sang đời khác. Một niệm thôi, mà bị lưu lãng đến mức độ như vậy.
Cội gốc của sự mê muội là bản khởi vô minh, nghĩa là một niệm ban đầu bất giác, sanh ra các tướng vô minh nên mê gốc pháp thân thành Đà-na-thức làm cội rễ ngã tướng, từ đây đều là nghiệp dụng của vô minh.
Tức là trong sự giao tiếp hằng ngày, đều làm trong vô minh, vì niệm khởi ban đầu do bất giác. Cho nên đại chúng thấy tại sao tu gặp đủ chuyện mà vượt qua không được. Khi nổi bực tức, là do cái dụng hằng ngày làm đều nằm trong vô minh điên đảo, chứ không phải trong tánh giác.
Người xưa nói, người tu thiền phải tu như thế nào đó để nhận ra tánh viên giác, lúc đó mới gọi là tu thật. Còn nếu không nhận ra được là tu trên cái mê vọng, đoạn sau nói dụng công như thế đều là nghiệp ma – tức là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ đều nằm trong nghiệp ma. Các Ngài nói, vì không nhận ra tánh viên giác, tu trên niệm bất giác, là niệm vô minh.
Ngã nghĩa là chủ tể, nghĩa là từ vô thỉ đến nay một bề đều là vô minh.
Vô minh làm chủ từ ý niệm, từ lời nói, từ hành động, bởi cái nhân ban đầu do bất giác rồi, thành ra liên lũy đi từ đời này sang đời khác. Dụng hằng ngày toàn bằng vô minh chứ không phải dụng của tự tánh viên giác phóng xuất ra.
Vì sao? Vì tất cả chúng sanh lúc sanh ra đã không có con mắt tuệ, nghĩa là chưa từng ngộ đạo kiến tánh.
Chúng ta tu chưa từng ngộ đạo kiến tánh mà qua đời, nghĩ là có duyên ở thiền viện nên tái sanh vào đây, lây lất qua ngày rồi mất. Trong biến dịch của sanh tử chưa vượt qua được, đang nằm trong phần đoạn sanh tử.
Phật đưa ví dụ: 10 tuổi hoặc 12 tuổi mới bị mù, dù mắt không nhìn thấy vật nhưng nghe người ta nói đến mình biết. Chẳng hạn như người ta nói cái
ly màu trắng thì hình dung được, vì lúc còn nhỏ đã thấy cái ly rồi. Nhưng nếu bị mù trong thai mẹ thì khi đối diện trước một vật, dầu cho giải thích thế nào cũng vô ích.
Cho nên người mà nghe tiếng chuông, tiếng mõ, tiếng khánh, nhận ra được để tu, là nhờ gặp được thiện hữu tri thức chỉ dạy khai thị. Còn khi ở trong cái nhân tố vô minh thì nói cách mấy cũng không tin.
Có ông tăng đến hỏi Ngài Huệ Lãng:
- Thế nào là Phật? Ngài Huệ Lãng nói:
- Tôi nói ông cũng không Ông tăng nói:
- Lời của Hòa thượng nói thì con phải tin chớ. Thiền sư Huệ Lãng nói:
- Chính ông là Phật.
- Hòa thượng nói gì vậy, con mà là Phật gì. Thiền sư nói:
- Tôi đã nói là ông không có tin mà.
Cho nên có những pháp môn thù thắng tối thượng mà không đủ túc duyên, không đủ nhân duyên nên không tin mà còn phỉ báng, bởi con mắt mù từ trong thai mẹ.
Trong Kinh Niết Bàn, Phật nêu ví dụ, con rùa và con cá. Một hôm, con rùa đủ nhân duyên lên bờ. Một thời gian, nó về lại môi trường nước. Cá hỏi, dạo này anh đi đâu, rùa kể lên đất liền. Hỏi trên đất liền có gì, rùa nói có nhà cửa, xe cộ, cây cối. Rùa diễn tả cách mấy con cá cũng bảo là rùa nói dóc. Vì con cá ở nước chưa từng thấy núi non, nhà cửa, xe cộ …, nên nói cách mấy nó cũng không tin.
Phật nói người có tâm tu, đã chứng nhập vào viên giác rồi thì lời kinh Phật dạy, lời thầy Tổ dạy, nói là người ta liền tin nhận rồi tu. Như vậy, tự mỗi người ngồi nghiệm lại, để biết cái gốc của mình từ nhân vô minh hay từ nhân Phật đến.
Có những người hay nổi sân hận, bực tức vô cớ. Chẳng hạn việc đó, người ta thấy đơn giản nhưng họ thấy phải như thế, như thế …, nên họ bực tức, sân hận. Cái gốc của họ từ trong bào thai đi ra là bị vô minh che phủ, tức là chưa bao giờ gặp thiện tri thức.
Nhưng bây giờ đủ nhân, đủ duyên vào thiền viện, may mắn gặp được thiện tri thức, gặp môi trường tốt. Phật dụ như người bị mù mắt từ nhỏ, ra đời gặp thầy lành bạn tốt, gặp pháp môn tu, giống như được cây kim bằng vàng lễ cái mạc mắt ra.
Như vậy, trước tiên phải cần kim vàng lột bỏ cái màng che. Khi bỏ cái màng che rồi thì sau đó mới chỉ cái việc đó đúng hay là sai.
Sư Ông Trúc Lâm đưa ra quy chế rất hay: “Làm việc như ăn cơm, học giống như uống nước, tu giống như hơi thở.” Bởi vì con mắt bị mù, nên đã tạo vô lượng việc ác, bây giờ phải làm việc cho đại chúng để tích phước. Phục vụ cho đại chúng giống như tách cái màng che mắt ra, và bắt đầu học để tìm phương hướng.
Lúc dụng công phu là lúc con mắt sáng. Khi gặp môi trường thuận tiện, gặp vị thầy có cây kim bằng vàng nạo con mắt ra. Khi nạo con mắt là đang tiêu dung những nghiệp bất thiện đời trước.
Bởi chúng ta đến từ một niệm bất giác, đã liên lũy tạo nghiệp bất thiện vô lượng kiếp rồi. May mắn là bây giờ mình gặp được pháp môn này, đầu tiên phải lể tròng con mắt ra, tức là làm tất cả các việc thiện pháp. Rồi học phương pháp, chẳng hạn ngồi thiền, tụng kinh, sám hối, trì giới… Cho nên, Đức Phật mới đưa ra 3 thừa, 12 phần giáo, địa ngục, thiên đường, nhân quả… Lúc mắt sáng rồi mới bắt đầu đi từng bước.
Ở đây Phật nói: “Thân tâm bản tánh đều là vô minh”, tức là một lớp vô minh phủ che. Đại chúng học Kinh Viên Giác, chương thứ nhất, đoạn nói cho Bồ-tát Văn Thù là nói nhân địa bản khởi, đó là pháp sở tu đều là nhân Phật. Ban đầu là nhân Phật chỉ cho các hàng Bồ-tát, các hàng đại Bồ-tát, các bậc lợi căn A-la-hán có tâm hướng thượng, tâm vô thượng Bồ-đề.
Nếu có nhân Phật sẵn, tu nhiều kiếp thì vào pháp môn này tu nhẹ nhàng. Đối nhân xử thế, ở với huynh đệ không có gì chướng ngại. Trời nóng, trời lạnh hay thiếu thốn vượt qua được hết, thấy pháp này nhẹ nhàng, đơn giản quá. Nhưng có người vào không được, là do cái gốc sanh từ vô minh. Còn nếu sanh từ nhân Phật, là nhiều đời, nhiều kiếp có tu rồi.
Chương thứ 9 này Phật lại nói vô minh bản khởi. Như vậy, sanh ra đời rồi lớn lên, tất cả việc làm đều nằm trong ma nghiệp, mà tâm không có rộng. Người hay bố thí, cúng dường, hay giúp đỡ người khác là đã từ vô lượng kiếp làm việc đó rồi. Pháp tùy hỉ dễ mà tùy hỉ không được. Thấy người ta làm chùa to, Phật lớn chịu không được. Người ta hơn mình, cũng không chịu được. Đây không phải là bản thể nhân Phật. Phật dạy “vô minh bản thể” bắt nguồn từ bất giác, nhiều đời nhiều kiếp làm gì cũng trong ma nghiệp hết.
Câu chuyện của nhà văn người Đức kể:
Ở vùng nọ có một anh chàng từ nhỏ đã làm việc ác, lúc 2-3 tuổi đã lấy nước sôi đổ xuống ổ kiến, cho kiến chết hết. Lớn lên anh trở thành tướng cướp khét tiếng, ba nghiệp đều tạo ác, không chừa thủ đoạn nào. Anh đi đến đâu là tàn sát đến đó, nghe anh đến ai cũng sợ, đem của bỏ ra đường cho anh lấy, không thì anh giết.
Một hôm trên đường đi cướp, nhìn thấy con nhện
mang thai, anh định giẫm cho nó chết, nhưng anh nghĩ lại, xưa giờ làm ác nhiều quá rồi, thôi hôm nay tha vì nó đang mang thai.
Do nhân tạo ác nên khi chết anh rớt xuống địa ngục chịu khổ. Bị lửa đốt, anh và những chúng sanh tạo nghiệp bất thiện đang ở trong hỏa ngục than khóc ngày đêm. Một hôm, Đức Phật cỡi mây đi ngang qua, nghe tiếng chúng sanh kêu la quá. Đức Phật nhìn xuống xem có ai tạo nghiệp thiện không để Ngài cứu. Thấy anh chàng này có làm một chút thiện pháp. Ngài dùng năng lực Phật, lấy sợi chỉ của con nhện liệng xuống cho anh. Anh nắm sợi dây nhện đu lên gần tới nơi, nhìn xuống thấy vô số chúng sanh đu theo sợi dây, sợ nặng quá dây đứt, anh dùng dao chặt đứt sợi dây, nên tất cả rớt xuống địa ngục lại.
Phật nói, một chút xíu thiện nghiệp cứu không được. Anh tướng cướp này nhân tố là gốc vô minh tạo vô lượng nghiệp ác, hành động ác, ý niệm cũng ác. Phật nói, từ bản khởi vô minh cho nên làm tất cả đều là ma nghiệp.
Lại nữa, ở trước vì giác tròn sáng nên căn trần đều thanh tịnh, kết luận tất cả đều là giác.
Khi có túc duyên tu nhiều đời, bây giờ nếu có ra đời, làm tất cả các việc đều là vì chúng sanh, vì nhiêu ích, đều là Phật sự chứ không phải ma nghiệp nữa. Làm việc gì cũng trên tinh thần giác, tỉnh sáng, vì tất cả chúng sanh chứ không phải vì mình.
Ở phần trước, chương Bồ-tát Văn Thù, Phật chỉ ra nhân địa là phải nhận ra tánh giác.
Nếu lấy vàng làm trang sức thì vật đó đều là vàng.
Nếu bể, nó cũng có giá trị.
Còn ở chương này Phật nói vô minh làm gốc, làm nền tảng.
Dùng đất làm đồ vật thì mọi vật đều là gạch ngói.
Như vậy từng bước đi, từng lời nói phải tỉnh. Tất cả mọi việc, mọi hành động ngay trong thực tại này phải tỉnh giác, không có mê nữa thì mới trở về bổn giác được.
Bây giờ, ai biết nghiệp tập của mình sâu dày, thì phải làm như thế nào để vơi bớt những niệm bất thiện trong đời quá khứ. Phải sám hối, tụng kinh, làm việc không mệt mỏi. Tất cả ý niệm, lời nói, hành động ráng cố gắng trang sức bằng vàng ròng để cho biến thành vàng, đừng lấy gạch ngói làm vàng. Lấy gạch ngói làm vàng là nói chuyện, rửa chén, nhổ cỏ, quét nhà không có chánh niệm. Lấy đất làm đồ vật thì chỉ ra ngói gạch thôi. Còn làm việc mà tỉnh giác thì lấy vàng đúc ra vàng.
Đoạn này rất quan trọng trong toàn bộ Kinh Viên Giác. Phật dạy để giải thích về hành tướng, vô thỉ vô minh. Sở dĩ đến nay khó mà đoạn trừ, vì toàn thể vô minh biến thành thân tâm năm uẩn của mỗi
chúng sanh.
Người ta tu thấy dễ, còn mình tu sao khó quá, vì toàn thân mình trong cái bản khởi bất giác ban đầu, nên toàn thể đều vô minh hết. Có người dễ buông xả tất cả mọi thứ, còn mình trầy trật, khó khăn, là biết cái nghiệp bất thiện nhiều quá. Chư Phật, chư Bồ-tát vào cuộc đời này độ sanh không biết mệt mỏi. Các Ngài thấy sai biệt nghiệp của chúng sanh nên tìm phương pháp để giúp họ chuyển hóa nghiệp.
Song cội gốc vô minh này chẳng phải là cội gốc trí chiếu, chẳng có thể phá, do các chúng sanh này từ xưa đến nay chưa gặp thiện tri thức khai phá con mắt trí tuệ chiếu phá.
Ngày hôm nay, chúng ta gặp thiện tri thức, gặp môi trường, điều kiện, là phải đặt mình vào giây phút thực tại đó để tu tập chuyển hóa. Bây giờ, không còn con đường nào khác, phải quyết chiến như thế thì khả dĩ mới phá được vô minh này. Đi chỗ này, chỗ nọ mà cái gốc ban đầu không chịu chiếu phá, thì dù làm tất cả các việc, kể cả việc độ sanh, cũng là độ trong ma nghiệp. Làm từ thiện cũng là ma nghiệp nếu như chưa nhận được tánh viên giác. Cho nên, gặp được thiện tri thức, gặp được pháp môn tu tập, gặp được môi trường rồi thì bây giờ phải dấn thân tu tập để chuyển hóa.
Phật dạy tiếp:
Do đó, người thương ta thì ta tùy thuận, người không tùy thuận ta thì sanh tâm oán ghét. Vì tâm thương ghét nuôi lớn vô minh, nên tiếp nối để cầu đạo đều không thể thành tựu.
Chẳng hạn ở trong chúng, mình làm việc đó sai mà người ta thuận theo thì mình thương. Còn thấy mình sai, người ta nhắc nhở thì mình oán ghét. Tâm oán ghét từ đâu? Từ cái ngã. Ngày nào cũng khởi thương ghét, oán hận, thù địch là tưới gốc vô minh lớn lên. Thương nó, sợ cây vô minh chết, bởi vì mua cây vô minh này mấy ngàn kiếp giờ mới được! Cho nên ngày nào cũng tưới, mà đem tâm này vào đạo tràng, vào thiền viện, chùa chiền, tịnh xá tu học, Phật nói muôn kiếp cũng không thành tựu, vì cái gốc ban đầu trật rồi.
Tâm mê mà cầu đạo, dầu cho siêng năng cần khổ, chỉ khiến tăng trưởng vô minh.
Dùng tâm mê mà học pháp, mà tu tập, làm việc này việc nọ, thì càng làm lớn gốc vô minh.
Ngài thị giả của Thiền sư Triệu Châu tức là Ngài Viễn, một hôm lễ Phật, Thiền sư Triệu Châu hỏi Ngài làm gì.
Ngài đáp:
- Tôi lễ Phật.
- Ai bảo ông lễ?
- Lễ Phật là việc tốt mà thầy.
Ngài Triệu Châu nói:
- Việc tốt không bằng ông làm người vô sự.
Không phải Ngài bài bác việc lễ Phật, mà lễ Phật, tọa thiền, làm việc phải trong ánh sáng Bát-nhã, trong cái không thương và ghét, không tật đố, không xan tham, không ích kỷ. Học phần này mới thấy đa số chúng ta đều dính: Tùy thuận mình thì mình thích, không tùy thuận thì sanh tâm oán ghét, hiềm hận. Cho nên không thể thành tựu quả Phật. Trong kinh Lăng Nghiêm nói: Nấu cát mà muốn thành cơm thì ngàn muôn kiếp cũng không thành.
Do có tâm thương ghét như thế, cho nên cây vô minh càng lớn, tiếp nối từ đời này qua đời khác.
Này các Tỳ-kheo! Ví như có một hội chúng vết thương bị làm mủ, cho nên đụng là chảy máu. Này các Tỳ-kheo! Có những hội chúng tâm họ nhu nhuyến thanh tịnh vì vết thương không làm mủ, đụng không chảy máu.
Có những người đụng chút là sân si ở đâu nhảy ra! Là do từ vô lượng kiếp họ gieo chủng thương và ghét, oán hận và thù địch, tật đố, xan tham, ích kỷ, nhỏ nhen, gọi là chủng tử, hạt giống. Nếu không có chủng tử này là không có khởi sân si. Hay khởi niệm, là đã gieo hạt giống từ vô thỉ rồi nên bây giờ nó khởi lên hiện hành. Hiện hành là gì? Là ý niệm khởi lên, rồi nó rớt xuống thành chủng tử. Rồi nó cứ lặp thành một cái vòng tròn, khủng khiếp luôn.
Chủng tử và hiện hành tiếp nối không gián đoạn.
Khi ngồi thiền, ngồi yên trong thất thì thấy những hạt giống bắt đầu nổi lên, tu tập để chuyển hóa những hạt giống này, làm cho cái kho này là Không Như Lai tàng. Chẳng hạn mở kho ra thấy hạt bắp, hạt lúa, hạt đậu, chúng ta cố gắng đem các hạt giống này ra hết. Ngài Lâm Tế nói: “tùy duyên tiêu nghiệp cũ”, nghĩa là tiêu dung cho hết nghiệp cũ, đừng có huân nghiệp mới nữa.
Tùy duyên là, chẳng hạn ở đây qui định, 6 giờ 15 tụng kinh, 7 giờ 30 ngồi thiền, 11 giờ 30 ăn cơm thì theo đúng thời khóa mà đi tụng kinh, ngồi thiền, ăn cơm, tùy duyên cho hợp với bản giác để tiêu dung nghiệp cũ, mà nhớ đừng huân nghiệp mới nữa thì “hồn nhiên mặc áo xiêm”.
Chủng tử khởi hiện hành, hiện hành huân chủng tử lại, tiếp nối, tiếp nối.
Cho nên, do một niệm bất giác mà lưu lãng mãi ở cuộc đời này không thoát ra được. Thương và ghét, có và không, năng và sở, bứt ra không được.
Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một lát, Mà ngờ đâu ở mãi đến hôm nay.
Một niệm mà lưu lãng đến ngày hôm nay.
Vua Thuận Trị, Thái Tổ thời nhà Thanh có bài thơ. Ông nói, do một niệm bất giác ban đầu mà bây
giờ lưu lãng trong sanh tử làm đế vương thoát ra không được. Sau, ông phát tâm đi tu. Ông cảm khái:
Cơm tùng lâm khắp trong thiên hạ, Vốn cao dày bằng cả núi non,
Đến đâu bát chẳng đầy vun,
Mặc tình ngươi cứ việc ăn thỏa lòng. Dẫu vàng ngọc vẫn còn chưa báu, Chỉ có là tấm áo cà sa,
Khoác lên người đã xuất gia,
Vào hàng tăng chúng, quả là khó khăn.
Khó lắm, chứ đừng tưởng dễ. Ngài nói, dẫu cho vàng ngọc vẫn chưa là báu, chỉ có là tấm áo cà-sa. Tôi họp ở giáo hội, người ta nói đạo Phật dễ dãi. Dễ ở chỗ có một số người đắp y cà-sa mà không phải người xuất gia. Họ mặc y cà-sa giả đi khất thực kiếm ăn hằng ngày. Tôi nói: Như thế mới gọi là đạo Phật. Bởi vì khi hành Bồ-tát đạo, Đức Phật đã phát nguyện: Chúng sanh nào đắp y cà-sa thì được no đủ. Đắp y cà-sa thì dầu gì đi nữa đi đến đâu người ta cũng phát tâm cúng. Cúng đó là cúng cho cái y ba đời mười phương chư Phật chứ không phải cúng cho người.
Có một vị ở Nghệ An vào đây xin tu 3 tháng, nếu đủ duyên thì xuất gia. Tôi nói: “Thôi ở thử một tuần trước!”. Mới 3 ngày ông xin về! Có những người đến đây thấy hồ mát, núi non thanh tịnh rồi phát tâm ở 7 ngày, mới 2 ngày xin về! Xuất gia đâu phải chuyện
thường, phải có túc duyên, phải gieo hạt giống như thế nào mới đủ nhân duyên.
Trẫm vì lẽ quê hương xứ sở, Mà đứng ra làm chủ giang sơn, Hết lòng lo nước thương dân,
Tự mình chuốc lấy băn khoăn muộn phiền.
Từ đời vua Thuận Trị Hoàng Đế đến Khang Hy, Ung Chính rồi Càn Long, đời nhà Thanh rất thịnh. Do hết lòng lo nước thương dân nên ông hay phiền muộn.
Trăm năm thoáng qua liền nhanh chóng, Kiếp vô thường, mạng sống phôi pha,
Sao bằng nếp sống tăng già,
Thong dong nhàn nhã, ít ra nửa ngày.
Làm vua mà thấy cảnh thanh nhàn của người tu, người ta rất khao khát muốn vào. Tôi có quen một số vị làm trong doanh nghiệp lớn, họ mong sắp xếp công việc rồi vào thiền viện tu tập, mà bứt ra không được, dây mơ rễ má bao bọc rất khó ra.
Tôi nhớ ngày nào xuống tóc xuất gia, bây giờ đã gần 30 năm. Ba mươi năm nếu không luyện mình trong đạo pháp thì giờ này làm gì? Phải suy nghĩ quán chiếu, như thế mới vượt qua được những chặng đường, những chướng duyên. Không có kết quả, thành tựu nào dễ dàng, phải đánh đổi bằng sinh mạng, bệnh tật, bằng tất cả thì mới có được niềm vui của sự tu học.
Chỉ cần nửa ngày thôi, vào chùa nửa ngày thong dong, nhàn nhã, không bận lòng, không suy nghĩ. Bản thân tôi quản lý một thiền viện là không thể thong dong được, bởi vì đi họp giáo hội, đi giảng dạy…, nhưng quý vị mới bước chân vào đạo là không lo nghĩ, có người lo giùm hết rồi, chỉ lo tu thôi. Ngoài đời, người ta phải làm đơn xin việc, có khi còn không được nhận. Còn ở đây, ăn sáng xong là có việc làm, khỏi cần nộp đơn, không sợ thất nghiệp. Nghe tiếng kẻng là vào tắm rửa ăn cơm, không cần suy nghĩ. Tu như vậy mà không thành Phật là chuyện lạ.
Đến mờ mịt, đi thời mê muội, Ngẫm lại mình, rất đỗi u mê, Nhân gian một cõi đi về,
Uổng đời rỗng tuếch, chưa hề xét soi.
Đến cuộc đời này mờ mịt mà khi chết thì mê muội. Có mặt trong cuộc đời này mà không tu tập, không quay lại chính mình thì uổng một đời rỗng tuếch. Khi có mặt trong cuộc đời này, phải làm cái gì để khi ra đi, cười vui, vì có tu tập, có quán chiếu, có làm lợi ích cho chúng sanh.
Bởi lúc trước chào đời bất lực, Chẳng biết gì là thực chính mình, Ngậm ngùi từ thuở sơ sinh,
Lại càng chua xót, hỏi mình là ai?
Bởi vì đi bằng con đường nghiệp, thiện hoặc ác, bất lực làm chủ không được, thì bây giờ thắc mắc hỏi mình là ai, từ đâu đến?
Chừng khôn lớn thành người hiểu biết, Chợt xét tìm dấu vết cái ta,
Chấp lầm thể xác này rồi,
Góp thêm nhân ngã, đắp bồi thân sơ.
Chấp vào cái ngã này rồi, thêm vô số cái ngã nữa: thân bằng quyến thuộc, vợ con … Đã chấp cái ngã này khổ rồi, mà còn chấp thêm thân bằng quyến thuộc nữa.
Nhắm mắt rồi, bơ vơ sợ hãi, Trong mông lung ta lại là gì, Chi bằng chẳng đến chẳng đi,
Đến thì mừng rỡ, đi thì xót thương.
Chi bằng đừng có đến đừng có đi. Đến thì cha mẹ mừng rỡ vui cười, khi chết thì ai cũng xót thương.
Đời lắm nỗi vui buồn ly hợp, Khiến cho lòng lớp lớp lo toan, Bao giờ mới được thanh nhàn? Bao giờ ai biết, thời gian bao giờ?
Ông vua cảm khái đến mức độ đó. Sống đến tuổi này ông thấy nỗi buồn ly hợp, khiến cho lòng ông lo toan. Ông nhắn nhủ: bao giờ mới được thanh nhàn, bao giờ ai biết thời gian bao giờ? Mịt mù trời đất
luôn. Đọc bài thơ này, đại chúng thấy mình có phước duyên là được tu tập.
Nếu hay rõ, tăng già việc ấy, Kể từ đây mới thấy do mình. Một phen thức tỉnh tu hành,
Gắng sao cho kịp, tuổi xanh chẳng bền.
Một phen ông thức tỉnh là ông gắng tu sao cho kịp tuổi xanh. Ở trong đạo cho bền bỉ, mãi mãi, chứ không có thối tâm.
Thế gian hiếm người hiền xuất thế, Chẳng bôn ba lo nghĩ bận lòng, Nhàn nhàn từng bước sen hồng,
Vui trong tỉnh thức, yên trong chơn thường.
Nếu là người hiền xuất thế, có túc duyên đời trước thì chẳng bôn ba, chẳng lo nghĩ mà lúc nào cũng vui. Vui trong tỉnh thức, an yên trong chơn tánh, y như trong Kinh Viên Giác. Khi vui trong tỉnh thức, yên trong chỗ chơn thường thì nói ra lời nào cũng nhu nhuyến, thanh tịnh, không cau có, không bực tức.
Thanh nơi miệng, thơm hương liên tiết, Từ nơi lời thâu nhiếp hạnh lành.
Chiếc y bá nạp trên mình,
Thường làm mẫu mực, chúng sanh nương nhờ. Thân, khẩu, ý mình thanh tịnh nên lời nói ra
nhu nhuyến. Dùng chiếc y bá nạp làm đạo đức vô hành với chúng sanh. Chúng sanh thấy người tu tập trang nghiêm thanh tịnh, họ nương theo tu.
Dạo bốn biển, năm hồ tùy thích, Các ngài làm thượng khách đề huề, Bởi gieo hạt giống Bồ-đề,
Trải qua nhiều kiếp, chưa hề thối tâm.
Sau này, quý vị đủ nhân duyên ở đây 10 năm hay 20 năm, đi hành cước tôi cho đi, đi chỗ này chỗ kia xong về lại tu. Đại chúng bây giờ còn Sa-di, mới tu đừng có đi đâu hết. Mới xuất gia làm Sa-di không có ai ngó ngàng tới, bởi vì công đức, năng lực chưa đủ. Khi luyện mình trong đạo lâu năm, ra mới làm lợi ích. Khi tu tập đủ rồi thì đến đâu cũng làm thượng khách. Những sóng gió, nghịch duyên trong cuộc đời vượt qua được, thì mới đủ năng lực.
Mỗi vị là chân thân La Hán, Hiện ở đời gạn mắt gạn tai. Chiếc y ba thước Như Lai,
Các Ngài thường mặc, không rời một đêm.
Vầng nhật nguyệt mọc lên rồi lặn, Bóng hiện đông lại ẩn về Tây.
Máy tâm khiến động thân này,
Làm người quyết chớ theo đây đắm trần.
Do tâm mống niệm nên có thân 5 uẩn này. Ông
nói làm người thì đừng có theo cái thân này mà đắm cõi trần.
Sự đời dẫu trăm năm như mộng, Canh mộng tàn, kiếp sống chơi vơi, Đốt trời muôn dặm bời bời,
Ván cờ kết thúc, cuộc chơi cũng tàn.
Từ vua Võ đòi an thiên hạ,
Đến nhà Thang giựt bả quyền uy, Tần gom sáu nước Trung về, Hán lên ngôi đế, bốn bề tạm yên.
Xưa nay kẻ làm nên sự nghiệp, Bao anh hùng còn chép sử xanh? Xông pha chiến trận quên mình,
Thây phơi đầu núi, bùn tanh máu đào.
Một ông tướng mà thành danh thì thây phơi đầu núi bùn tanh máu đào.
Cõi bụi hồng lao chao như rối, Áo hoàng bào lấy đổi cà-sa, Chỉ vì một niệm sai ngoa,
Mà đành cam phận, vương gia buộc ràng.
Ông nói cõi hồng trần lao chao rối quá, thì thôi bây giờ ông đổi hoàng bào lấy áo cà sa. Chỉ vì một niệm bất giác mà đành cam phận vương gia buộc ràng.
Là nạp tử, Tây phương cõi Phật, Cớ sao ta lưu lạc chốn này?
Quyền hành nắm giữ trong tay,
Sống đời vương giả, loay hoay đến giờ.
Ông nói ông là nạp tử tu hành ở Tây phương mà tại sao đến chốn này làm vua, làm chúa, rồi bây giờ bứt ra không được.
Đâu dễ được tự do toại nguyện, Mười tám năm điêu luyện binh đao, Mãi lo Bắc chiến Nam chinh,
Chưa từng dừng nghỉ cho mình phút giây.
Làm vua đâu phải sướng, 18 năm điêu luyện binh đao, ông đánh miền Bắc, xuống miền Nam, chưa từng giây phút nào dừng nghỉ. Bây giờ, ông trao vương vị cho Khang Hi rồi mới dừng nghỉ.
Nay ta sẽ buông tay rảnh rỗi, Theo Phật đà nhận lại tánh chơn. Chẳng màng danh lợi vấn vương,
Dẫu ngàn thu, dẫu muôn ngàn vạn thu.
Tức là đời này, đời khác ông phát nguyện tu chứ không làm vua nữa. Trong giờ phút này, ông buông tay rồi. Ông phát tâm Bồ-đề tu cho đến khi nào thành Phật thì thôi, không làm đế vương nữa.
Nghe qua đoạn nhân duyên này, chúng ta thấy mình có túc duyên. Đã xuất gia rồi, đã có nhân có duyên, gieo hạt giống rồi thì phát nguyện đi thôi. Làm vua còn bỏ đi tu thì mình đâu là gì. Không tu nữa, giỏi
lắm ra bán cơm chay! Ra ngoài làm việc gì cũng thua người ta hết, vậy thôi khoác tấm cà-sa tiếp tục tu.
Phần tiếp theo của Kinh Viên Giác, là phần phá về bốn tướng. Bốn tướng này là ngã, nhơn, chúng sanh, thọ mạng nhưng khác rất nhiều so với Kinh Kim Cang.
Phật dạy, nếu đời sau nắm bắt được để phá bốn tướng này thì tuy rằng đời mạt pháp mà cũng là chánh pháp. Thời chánh pháp mà không thâm nhập được pháp này thì cũng là mạt pháp. Cho nên, hôm nay, chúng ta học kỹ phần này để có hướng mà đi. Chúng ta tu, được chút ít đừng cho là đủ, bởi vì đường tu cực kỳ khó. Ngày xưa, tôi học sơ qua rồi công phu. Sơ qua tưởng là dễ, mà thật ra rất khó.
Ở đây Phật nói, nắm bắt được pháp này rồi, tu học sẽ không sanh tâm kiêu mạn. Học phần này rồi, chúng ta thấy đường tu dài và nhiêu khê lắm, nhưng nắm được pháp rồi cứ đi, chứ không phải nghe xong thấy khó quá, nản không tu nữa. Đức Phật nói với tôn giả La Hầu La, giống như đi trên sa mạc, định bỏ cuộc nhưng sau lưng có con cọp rượt, giống như sanh tử rượt, buộc phải nắm chặt pháp này tu.
Ngã tướng
Này Thiện nam tử! Thế nào là ngã tướng? Đó là những sở chứng nơi tâm chúng sanh. Giống như có
người toàn thân điều hòa bỗng quên mất thân mình. Sau đó, do ăn uống thất thường khiến thân thể mỏi mệt, tay chân rã rời. Bây giờ, thầy thuốc châm cứu thấy đau, mới biết có thân. Cho nên, chứng nghiệm mới hiện ra ngã thể.
Ngã phàm phu
Ở đây, phân tích kỹ ngã phàm phu chi li một chút. Chẳng hạn một người vào chùa, thiền viện, hay tịnh xá tu một thời gian, năm năm hoặc mười năm thấy tương đối ổn. Nghĩ rằng, tâm sẽ không thối chuyển do nắm được giáo lý, có dụng công, chắc chắn tâm yên rồi. Nhưng hôm nào đó, có sự kiện gì xảy đến mới giật mình.
Có câu chuyện:
Có vị tu sĩ ở tu viện Vũng Tàu. Ông tu cũng lâu, nhập thất nhiều lần. Trước khi đi tu, ông có một người bạn đời. Người này không đồng ý cho ông đi tu, nhưng ông quyết chí ra đi. Nhiều lần bà kêu về nhưng không về. Ông nói với bạn đồng tu là ông hiểu Phật pháp, nắm được giáo lý tu tập nên không thối chuyển. Rồi không biết ai bày mà bà viết cho ông một lá thư, nói rằng ở nhà hư điện, hư nước nên kêu ông về để sửa. Nhưng bây giờ ông cứ yên tâm tu đi, có ông hàng xóm qua sửa giùm rồi. Thế là 3 giờ sáng, ông cuốn gói về nhà. Tức là chạm vào cái ngã của phàm phu.
Ngã người tu
Ở đây Phật dụ cho người tu đạo khi ở yên trong tịnh thất hoặc ở ẩn trong rừng sâu, tâm họ bặt dứt tính toán, không có cảnh thuận nghịch, quen với cảnh vắng vẻ, rồi trở thành cái tính.
Chẳng hạn chúng ta ngồi trong giảng đường không thấy sân hận, bực tức hay phiền não, nhưng khi ra làm việc va chạm với đại chúng hoặc đi nơi này nơi nọ, thuận thì thích, nghịch thì không ưa.
Ở tu viện nọ, có vị sư cô. Một hôm, cô lên chánh điện thắp hương, cô phát nguyện: Nếu đời này con nổi sân hận, bực tức với người nào con sẽ đọa địa ngục. May mắn là có vị ni sư đứng phía sau nghe thấy. Vị này nói, “chết rồi, phát nguyện ẩu quá!”. Từ đó về sau, sư cô ở trong thất, hai mươi mấy năm rồi mà không dám ra thất, bởi vì sợ đụng chạm nổi sân rồi đọa địa ngục. Khi ở yên trong tịnh thất, tưởng xong việc rồi, nhưng khi ra làm việc, hòa với đại chúng thì phải kiểm soát tâm ý.
Tổ Huệ Khả khi nhận được tâm yếu nơi Tổ Đạt Ma rồi. Sau đó, người ta bắt gặp Ngài trong những hàng thịt, quán rượu. Họ nói, Ngài là người tu sao ở những nơi này. Ngài nói, “Ta kiểm lại tâm của ta, không can hệ gì tới ông.”
Trong Mười Bức Tranh Chăn Trâu, bức tranh số
9 là Trở Về Nguồn Cội. Khi trở về nguồn cội, các thiền sư muốn kiểm tâm mình, là nhập vào ma giới. Kia là nhập Phật giới, đây là nhập ma giới. Cho nên, các Ngài vào rừng sâu núi thẳm, ở yên trong đại chúng có khi 30 năm. Ngài Triệu Châu, Ngài Nam Tuyền ẩn trong thôn làng hơn ba mươi năm. Ngài Quốc sư Huệ Trung ẩn trong núi Bạch Nhai bốn mươi mấy năm để gạn lọc.
Như ly nước đục để lắng một hồi, cặn bã chìm xuống. Kinh Lăng Nghiêm nói là hàng phục khách trần phiền não, mà quậy thì nó lại nổi lên. Cho nên, chiết nước trong ra, cặn đổ đi, thì quậy cách mấy cũng không đục. Đó là dứt hẳn cội gốc vô minh, dứt hẳn ngã chấp.
Cho nên, tại sao nhập thất 21 ngày, 49 ngày, nhiều lắm 6 tháng là ra thất. Khi ra thất xem thử tâm mình. Ở trong thất, không có cảnh thuận nghịch, yên tu có kết quả. Còn khi ra thất làm việc, đủ thứ chuyện đến. Tinh thần của thiền tông đốn ngộ là “Na-già thường tại định”, tức đi đứng nằm ngồi đều có định, chứ không phải ngồi mới có định.
Định mà có xuất, nhập là của hàng Thanh văn, Duyên giác. Còn định của thật tướng là thuận hay nghịch đều định hết. Cho nên, Lục Tổ nói, người kiến tánh ra trận gươm kề ngay cổ cũng thấy tánh. Chứ không phải ở đây thấy tánh, ra trận người ta kề
gươm ngay cổ, run rẩy. Bậc kiến tánh ra giữa trận hay đi đứng nằm ngồi đều thấy tánh, gọi là “Như Lai thường tại định” hay nói cách khác là “Na-già thường tại định”.
Tạm thời được quên tâm, không biết tự tha, liền cho mình đã đạt đến con đường vô ngã. Nhưng khi bị cảnh thuận nghịch đến thì rõ ràng có tâm sanh. Tâm đã chưa bình, lúc bấy giờ mới biết ngã vẫn còn.
Khó lắm, bây giờ nghiệm lại, chúng ta tu bao nhiêu năm mà cái ngã vẫn âm thầm lẫn lộn trong đó.
Ông Tô Đông Pha, bậc kỳ tài trong thiền học, một hôm ông làm bài thơ gửi cho Thiền sư Phật Ấn:
Thánh chúa thiên trung thiên Hào quang chiếu đại thiên Tám gió thổi chẳng động Ngồi trên tòa sen vàng.
Ông gửi bài thơ cho Thiền sư Phật Ấn, Ngài đọc xong Ngài phê 2 chữ: “cứt chó” rồi gửi lại Tô Đông Pha. Tô Đông Pha tức tốc chèo thuyền qua sông, gặp Ngài Phật Ấn đứng đón ở đầu con sông. Tô Đông Pha nói:
- Tôi với thầy là huynh đệ chung một thầy, tôi làm bài thơ có gì sai đâu mà thầy phê bình như thế.
Lúc này, Thiền sư Phật Ấn nói:
- Tám gió thổi chẳng động, cứt chó thổi sang sông.
Tám gió này rất nguy hiểm với người tu, người xưa dùng tám gió này để kiểm tâm mình còn cái ngã hay không.
Đó là cái ngã cho người dụng công, còn cái ngã sâu hơn nữa. Phật dạy tiếp:
Này Thiện nam tử! Tâm ấy cho dù chứng đến Niết-bàn thanh tịnh của Như Lai mà còn có chỗ nhận biết, thì đều thuộc về ngã tướng.
Nhận biết tức là có cái biết Niết-bàn. Nếu cái bị biết là Niết-bàn thì đó là Niết-bàn sanh diệt. Cái ngã lừa mình, cho chỗ thanh tịnh yên ổn là chỗ âm thầm, giống như ra biển sóng cuộn dữ dội nhưng sâu thẳm bên dưới không có sóng. Cảnh giới này giống như phi phi tưởng xứ. Hàng ngoại đạo chấp chỗ này là Niết-bàn, dứt hẳn dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Họ lầm chấp, mà trong đó có cái ngã âm thầm ở dưới. Ở trên, sóng được yên mà sâu bên dưới có những lượn sóng di chuyển.
Thiền sư Pháp Nhãn đưa ví dụ: Phòng này có cái cửa, con trâu đi qua, đầu, sừng, mình và 4 chân đều lọt mà kẹt cái đuôi.
Cho nên trong Kinh Lăng Già, Đức Phật nói:
Tất cả không Niết-bàn, Không Niết-bàn của Phật, Không có Phật Niết-bàn, Xa lìa giác, sở giác.
Giác là năng giác, sở giác là bên ngoài.
Hoặc có hoặc không có, Cả thảy đều xa lìa, Quán Mâu-ni tịch tĩnh, Thế là xa lìa sinh,
Ấy gọi là chẳng hữu, Đời này, đời sau tịch.
Còn một cái gì để thấy là an yên thì cũng là cái ngã, âm thầm liên lũy bên trong.
Trong Uyển Lăng Lục, Thiền sư Hoàng Bá dạy: Có một vị tăng hỏi Thiền sư Hoàng Bá:
- Thế nào là Phật? Sư đáp:
- Tức tâm là Phật, không tâm là đạo. Chỉ không có cái tâm động niệm có không, dài ngắn, ta người, năng sở thì tâm vốn là Phật, Phật vốn là tâm. Tâm như hư không, sở dĩ nói chân pháp thân của Phật ví như hư không, không nên tìm cầu, có cầu đều là khổ.
Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn kêu đại chúng làm bài kệ trình, khi hay được Lục Tổ viết là “xưa nay không một vật”, Ngài mới thầm nhận.
Vua Lương Võ Đế đến gặp Tổ Đạt Ma, hỏi:
- Thế nào là Thánh đế đệ nhất nghĩa?
Thánh đế đệ nhất nghĩa là cực tắc của giáo môn, là tối thượng. Nhưng Tổ Bồ Đề Đạt Ma nói:
- Hoắc nhiên vô thánh.
Chỗ đó không có thánh, không có phàm gì hết.
Giả sử trải qua số kiếp như cát sông Hằng, tu hành lục độ vạn hạnh, được Phật Bồ-đề, cũng không phải là cứu cánh. Vì cớ sao? Vì thuộc về nhân duyên tạo tác. Nhân duyên nếu hết, trở lại vô thường. Sở dĩ nói báo thân, hóa thân không phải là chân, cũng không phải nói pháp. Cốt biết tâm mình không có ngã, không có nhân, xưa nay là Phật. Lại nói, các pháp Bồ-đề vốn không phải có.
Phần này Ngài nói, tu hành lục độ vạn hạnh được Bồ-đề cũng là bên ngoài, cốt nhất là quay lại nhận ra tâm Phật. Mà tâm Phật này lìa năng sở, lìa cái hay biết và cái bị biết. Ban đầu thấy là vọng tưởng, là cái bị biết có cái hay biết, nhưng đến giai đoạn này lìa cái hay biết luôn.
Như Lai nói ra đều vì giáo hóa người, ví như cầm lá màu vàng nói là vàng để dỗ con nít khóc. Cho nên, thật không có pháp, gọi là A Nậu Bồ Đề.
Không có pháp, không Niết-bàn gì hết, tạm gọi, tạm mượn phương tiện. Phật nói trong Kinh Kim Cang: “Nếu có pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác thì Phật Nhiên Đăng không thọ ký cho ta”. Ngài Hoàng Bá nói: “Pháp này có 99 cái không thật mà còn một cái thật thì không phải pháp này”.
Như nay, lãnh hội ý này đâu cần phải ở chỗ riêng rẽ,
chỉ tùy duyên tiêu nghiệp cũ.
Lãnh hội chỗ này rồi hòa nhịp với cuộc sống tu tập, làm việc, chứ không cần ở thất riêng, không cần đi chỗ này chỗ kia. Mà trong cuộc sống giữa đời thường này, hòa nhịp rồi tùy duyên để hóa giải nghiệp cũ.
Lại chớ tạo nghiệp mới. Trong tâm sáng rỡ, nên nói, khi xưa thấy biết cần phải dẹp sạch.
Những gì cho là thù thắng, cứu cánh phải dẹp hết. Kinh Tịnh Danh nói: “Trừ bỏ những gì đã có.” Tức là những gì đã có mà còn ẩn giấu bên trong, buông hết.
Kinh Pháp Hoa nói: Trong 12 năm thường dạy trừ phân. Chỉ trừ bỏ chỗ thấy biết trong tâm. Lại nói, dẹp trừ phân hý luận.
Trong Kinh Pháp Hoa, dụ ông trưởng giả cùng với người con làm phân. Dẹp phân là dẹp cái gì? Là dẹp chỗ hý luận, những thứ học hỏi cho đó là của mình. Ở đây, Tổ Hoàng Bá nói là lầm.
Vì thế Như Lai Tạng vốn tự không lặng, trọn không dung chứa một pháp. Nên kinh nói, cõi nước chư Phật cũng đều không. Nếu nói Phật đạo tu học mà được, thấy biết như thế hoàn toàn không có liên hệ.
Tổ Đạt Ma khai thị trong Huyết Mạch Luận:
Hàng Thanh văn ngoại đạo đều không nhận biết Phật, chỉ biết mấy thứ tu chứng, rơi trong nhân quả. Đó là nghiệp báo chúng sanh, chẳng khỏi sanh tử, xa với ý Phật, tức là chúng sanh chê bai Phật.
Kinh Pháp Hoa nói:
Đến hóa thành cho rằng Niết-bàn là thủ chứng, mà không hiểu ý Phật chỉ là chỗ tạm dừng nghỉ ngơi thôi chứ chưa đến thành bảo sở. Thành bảo sở là từ nơi tự thân. Hàng ngoại đạo đạt tới chỗ phi phi tưởng xứ, cũng rơi trong nhân quả vô thường. Bởi vì pháp đó là pháp sanh, pháp sanh tức phải có pháp diệt chứ không phải là chỗ cứu cánh. Không hiểu ý Phật, tức chúng sanh chê bai Phật. Giết quách đi, không có tội lỗi.
Không phải giết người đó, mà giết cái tâm lầm chấp vào chỗ yên tịnh cho là chỗ cứu cánh.
Kinh nói người xiển đề chẳng sanh tín tâm, giết quách đi cũng không có tội lỗi. Nếu có tín tâm, người này là người ở địa vị Phật. Nếu chẳng thấy tánh, tức chẳng nên tùy tiện chê bai điều lương thiện của người, tự dối mình vô ích.
Tổ Đạt Ma dạy thêm, việc tu này không phải chuyện thường, mà rất là khó, thành ra mượn phương tiện làm những việc thiện pháp nhiêu ích chúng sanh để gạn lọc tâm bất thiện đời trước của mình. Chưa thấy tánh mà thấy người ta làm từ thiện,
phóng sanh, in kinh, bố thí là chê bai, nói việc đó không phải chỗ cứu cánh. Cứu cánh là phải nhận lại tâm Phật. Chưa thấy tánh mà chê, đó là tự dối mình vô ích.
Thiện ác rõ ràng, nhân quả rành rẽ, thiên đường, địa ngục ở ngay trước mắt.
Thiền thoại có câu chuyện:
Ngài Ngưỡng Sơn đến gặp vị sư thúc tên là Ngài Sơ Sơn. Khi đó, Ngài Ngưỡng Sơn hỏi một câu, Ngài Sơ Sơn đáp không rành rẽ, còn giả bộ ụa mửa.
Vì ông chê câu nói của Ngài Ngưỡng Sơn. Lúc đó Ngài Ngưỡng Sơn quở:
- Con đến hỏi thầy mà thầy đáp không có rõ ràng, mà còn làm ra hình tướng ói mửa.
Ngài Sơ Sơn bị tiêu ngược, ba mươi năm sau mới mất.
Tiêu ngược là ông ăn xong, móc họng ói ra. Bởi vì Ngài Ngưỡng Sơn đã thấy tánh, chứng thánh quả, thời đó Ngài được gọi là tiểu Thích Ca tái sanh. Ngài Sơ Sơn nghĩ rằng mình là sư chú, nên đáp không rõ ràng mà còn làm bộ ói mửa.
Người ngu chẳng tin, hiện rơi vào trong địa ngục hắc ám cũng chẳng hay biết. Người mù chẳng tin có ánh sáng, dẫu nói với y, y cũng chẳng tin. Chỉ vì mù, nên còn biết bằng vào đâu mà biện rõ ánh sáng mặt trời?
Không tin, hiện rớt trong địa ngục hắc ám cũng không hay biết, nghĩa là mù mờ, không có sáng, không có tỉnh. Người ta nói cũng không tin, cho rằng làm gì có nhân quả.
Người ngu cũng lại như thế. Hiện nay, rơi vào trong tạp loại chúng sinh, sinh chỗ bần cùng hạ tiện, cầu sống chẳng được, cầu chết chẳng được. Mặc dầu chịu khổ, khi hỏi đến cũng nói: “Ta vui sướng chẳng khác gì thiên đường”.
Mù mờ, không tỉnh thức, không chánh niệm còn bài bác nhân quả, bài bác người làm thiện pháp. Chính sự bài bác đó làm tâm loạn động, niệm niệm sanh trong tạp loạn, vừa tắt thở thì rớt vào loài mà muốn chết không được, muốn sống cũng không được.
Mấy con chó ở đây, nếu nó biết nói, thì sẽ nói là sướng. Cũng như chư thiên thấy cõi này là cõi xú uế dơ dáy mà chúng ta vẫn sống, vẫn vui. Mùi xú uế của chúng sanh xông lên chư thiên chịu không nổi mà chúng ta vẫn tự tại, vui sướng.
Đức Phật khi lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp xong rồi, Ngài trở về cõi ta bà, chư thiên không xuống được, vì mùi xú uế bốc lên, phải dùng hương trầm của cõi trời 33 rải xuống cho bớt mùi. Chư thiên có việc cần mới xuống cõi ta-bà này, cũng như chúng ta cần mới vào nhà xí.
Nhân tướng
Này Thiện nam tử! Thế nào là nhân tướng? Nghĩa là chúng sanh trong tâm còn thấy có chứng ngộ. Này Thiện nam tử! Ngộ là có ngã. Không lại nhận ngã. Chỗ ngộ đó chẳng phải ngã, ngộ cũng như thế, ngộ rồi vượt hơn tất cả chứng, thảy đều là nhân tướng.
Nghĩa là thấy mình có chứng có ngộ. Nói khác hơn là thấy mình có thâm nhập vào biển đại giác của Như Lai. Thấy mình tu 5 năm, 10 năm, 30 năm, bây giờ có chứng chỗ đó, ngộ chỗ đó. Đó gọi là nhân tướng.
Cho nên, người xưa nói: “Ngộ liễu đồng vị ngộ”, ngộ rồi mà chưa từng ngộ. Cái đó là gì để mà ngộ? Chẳng hạn như tiền cất chỗ nào đó rồi quên. Một hôm, tự nhiên thấy. Tiền đó của mình chứ của ai đâu mà mừng. Cho nên nói: “Rắn hóa thành rồng không đổi vảy”, vẫn như con người xưa, vẫn bình thường nhưng việc làm đều ở trong thánh vị. Hằng ngày làm các việc phàm phu mà đều biểu hiện trong thánh vị. Không phải ngộ rồi không nấu cơm, không chẻ củi, không làm gì hết, vẫn bình thường như mọi người nhưng biểu hiện ra sức sống của thiền nằm trong đó.
Trong quyển Thiền Sư Việt Nam, Thiền sư Thường Chiếu sắp tịch Ngài có làm bài kệ:
Đạo bản vô nhan sắc, Tân tiên nhật nhật khoa. Đại thiên sa giới ngoại, Hà xứ bất vi gia.
Tức là:
Đạo vốn không nhan sắc, Ngày ngày lại mới tươi.
Ngoài Đại thiên sa giới, Chỗ nào chẳng là nhà.
Nói xong sư thị tịch.
Đạo không có nhan sắc, không có hình tướng. Tôi thường nói đại chúng, vào đây một năm coi như mới xuất gia hồi sáng. Có nghĩa là đạo này không có hình tướng, mà con người lúc nào cũng mới chứ không có cũ, ngày nào cũng là ngày mới hết. Hoa cắm vào bình, nếu để 3-4 ngày không thay nước là hoa héo. Muốn hoa tươi, ngày nào cũng thay nước. Sức sống có thiền là lúc nào cũng mới chứ không có cũ. Cho nên nói, ngày ngày lại mới tươi. Tam thiên đại thiên thế giới chỗ nào cũng là nhà, chứ không có đến cũng không đi.
Trong Thiền Sư Trung Hoa có câu chuyện:
Thiền sư Thần Tán xin Thầy Bổn sư đi hành cước học đạo. Ngài đến Tổ Bá Trượng tu 30 năm, có chỗ sống rồi mới trở về quê nhà. Thầy Bổn sư hỏi:
- Ông đi 30 năm được cái gì? Thiền sư Thần Tán nói:
- Đi tay không về tay không.
Chỗ đó là chỗ đặc biệt nhất của nhà thiền. Phật dạy tiếp:
Này Thiện nam tử! Tâm kia cho đến viên ngộ được Niết-bàn đều là ngã. Tâm còn có một chút ít ngộ, đầy đủ chứng lý, đều gọi là nhơn tướng.
Thấy có Niết-bàn để thể nhập, thấy chút ít mà chứng ngộ vào con đường Niết-bàn của Như Lai, gọi là viên chứng, thì cũng gọi là nhơn tướng.
Tại sao có Niết-bàn?
Nếu biết trần gian là cõi mộng, Thì Niết-bàn có lẽ cũng chiêm bao.
Bởi vì có sanh tử, các Ngài mới đưa ra pháp đối đãi, mà cho cái đó là chỗ ngộ, chỗ chứng, đó gọi là nhơn tướng.
Ngài Tam Tổ Tăng Xán có bài kệ, đến chỗ đó gọi là:
Tròn đồng thái hư Không thiếu không dư Bởi do lấy bỏ
Không được nhất như.
Không được nhất như bởi do lấy hoặc bỏ. Lấy cái gì? Lấy chỗ chứng ngộ! Bỏ cái gì? Chẳng hạn mình nói: Lìa vọng tưởng còn có chỗ nào để mà chứng đắc nữa. Còn có thấy chút xíu thôi cũng gọi là nhân tướng.
Tôi đọc mẫu truyện cho đại chúng thấy điểm này:
Thiền sư Trí Oai đời thứ năm dòng Ngưu Đầu, tức là ở núi Ngưu Đầu ở Kim Lăng. Một hôm, Ngài muốn biện trong chúng coi có ai thành bậc Pháp khí, để ngài trao lại chức trụ trì rồi ẩn trong hang sâu cho đến ngày tịch. Ngài nhóm họp đại chúng rồi đem bài kệ Chớ Cột Niệm để khán nghiệm đại chúng:
Niệm thành sông sanh tử, Biển luân hồi sáu đường, Không thấy vượt sóng dữ.
Ý ngài nói là ngồi thiền mà khởi lên từng niệm, từng niệm, thì nó cuốn mình thành một dòng sông sanh tử. Mà khi khởi niệm liên tục không có phút giây nào dừng nghỉ an yên, thì đó chính là biển luân hồi đưa đến sáu đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, trời, người, A tu la, không thấy đâu là bến bờ để mình vượt sóng dữ.
Trong chúng có một vị tên là Huệ Trung, làm bài kệ trình lại:
Niệm tưởng do từ huyễn, Tánh tự không trước sau. Nếu được ý trong đây, Sóng dài sẽ tự dừng.
Niệm tưởng từ huyễn mộng. Ngồi đây mà không chịu an yên để tu tập, nghĩ đến chỗ này, chỗ nọ,
tâm cứ nghĩ lung tung mà không biết đó là mộng, là huyễn, là lăng xăng, lao xao, loạn động. Đây nói là tánh tự không trước sau. Nếu nhận ra chỗ niệm vọng tưởng, niệm điên đảo, tự dừng nghỉ, thì sóng dài sanh tử sẽ tự dừng.
Ngài làm tiếp một bài kệ:
Bổn tánh ta rỗng không Vọng duyên sanh nhân ngã Làm sao dứt vọng tình
Trở về ngồi chỗ không?
Ngài nói bổn tánh, tâm Phật vốn rỗng không mà do vọng duyên sanh nhân, sanh ngã, sanh đủ thứ hết. Làm sao dứt cái vọng tình này để trở về ngồi chỗ không tịch?
Lúc này, Ngài Huệ Trung là đệ tử mới làm bài kệ đáp:
Rỗng không là thật thể, Nhân ngã ở chỗ nào?
Vọng tình không cần dứt, Tức chèo thuyền Bát-nhã.
Thấy có vọng tình, có vọng tưởng, cần phương pháp để đoạn, để trừ thì chưa đúng, chưa truyền pháp được. Biết nó là rỗng không, huyễn vọng thì tự nó yên chứ không cần dứt, cũng không cần đè hay chạy theo nó, tức là chèo con thuyền Bát Nhã.
Chúng sanh tướng
Này Thiện nam tử! Thế nào là chúng sanh tướng? Nghĩa là các chúng sanh tâm tự chứng ngộ chỗ không thể đến được.
Tâm chứng, biết mình có cái chứng, là ngã tướng. Tâm ngộ là nhơn tướng. Biết rằng cả hai đều là vọng cảnh. Có một cái tâm giác liễu sâu hơn nữa, thì gọi là chúng sanh tướng.
Vì tâm giác liễu này chẳng phải chứng ngộ, không thể đến được. Do thấy có chứng ngộ có thể lìa, nên gọi là chúng sanh tướng.
Thấy có tâm chứng, tâm ngộ để lìa nó, tức là có một cái gì để mình lom lom, phá hai cái tướng này, thì gọi là chúng sanh tướng. Mà tâm này phá không được, đoạn sau Phật nói giống như con mắt không thể thấy con mắt. Sâu hơn một lớp nữa. Cái phá hai cái tướng đó, cho rằng không có chứng, không có ngộ, thì ngay trong giờ phút đó gọi là chúng sanh tướng.
Phật dạy tiếp:
Này Thiện nam tử! Thí như có người nói thế này: Tôi là chúng sanh, thì biết người kia nói chúng sanh đó không phải ngã, cũng không phải người khác, tức là không phải ta, không phải kia. Thế nào là không phải ngã? Vì tôi là chúng sanh thì không phải ngã. Thế nào là không phải kia? Tôi là chúng sanh cho nên không phải kia.
Đại chúng học đoạn này thấy giống thần chú, hơi khó bởi vì thâm sâu.
Do chúng sanh tướng của phàm phu, bên chấp ngã cảm hoặc khổ hoặc là vui, dời đổi tiếp nối, gọi là chúng sanh tướng.
Khi ở ngoài đời, chấp vào cái ngã, hoặc là khổ hoặc là vui. Khổ không ở yên một chỗ, biến đổi liên tục. Sáng khổ, trưa vui. Trưa vui, chiều khổ. Bởi vì, nó nằm trong phước nghiệp của chúng sanh, mà phước nghiệp của chúng sanh thì có sanh có diệt.
Do ta thấy nó biến diễn liên tục, thôi bây giờ không chạy theo khổ vui nữa thì ta rớt trong chúng sanh tướng. Đó là lúc đang dụng công mà cũng nằm ở trong chúng sanh tướng. Ta vào trong đạo gặp thiện tri thức chỉ: Cái này cũng không phải là tâm ngộ của ông đâu, cái này cũng là vọng cảnh.
Nay nhờ Thánh nhân chỉ, do liễu ngộ chứng thủ, năng sở cả hai đều quên, chỉ còn tâm năng liễu thì cũng rớt vào chúng sanh tướng.
Nay được thiện hữu tri thức, chư Phật, chư Tổ, các bậc Thánh nhân chỉ dạy rằng: Cái đó là vọng cảnh, phải cẩn thận. Lúc này năng, sở bặt luôn nhưng còn tâm năng liễu hai tâm đó, gọi là chúng sanh tướng.
Nghĩa là ngã tướng và nhơn tướng không còn ẩn nấp trong tâm hành giả, nhưng có tâm năng liễu lom lom.
Đây là chỗ công phu, mấy chục năm mới được chút ít. Chẳng hạn ngày xưa ngồi thiền vọng lên, cái bị biết. Cái hay biết nhìn vọng tưởng để lìa vọng tưởng, thì bây giờ lìa cái hay biết luôn, nhưng vẫn còn thầm thầm có một cái biết, cái biết sâu hơn nữa để lìa hai cái tâm này. Có tâm năng liễu đến 2 cái ngã tướng và nhân tướng, vẫn còn là chúng sanh tướng.
Biết mình không còn ngã tướng và nhơn tướng gọi là sở liễu, là tâm chiếu soi dù rất ẩn mật vi tế, nhưng vẫn còn chướng ngại chưa khế hợp giác tánh, nên gọi là chúng sanh tướng.
Có câu chuyện:
Tướng quân Nam Mật Chánh Thành trước khi xuất trận ở Tần Xuyên, ông đến thăm Thiền sư Minh Cực Sở Tuấn ở Quảng Nghiêm Tự, ông hỏi:
- Bạch Hòa thượng, khi gặp sanh tử đến thì phải làm sao? Thiền sư đáp:
- Hai đầu đều chặt đứt, một kiếm chống trời băng.
Hai đầu đều chặt đứt là ngã tướng và nhân tướng, nhưng vẫn còn tâm năng liễu hai cái đầu này (một kiếm chống trời băng). Ngày xưa học, mình nói vẫn còn có cái biết là được rồi, gọi là tánh biết, nhưng cái đó phải buông luôn.
Nghe vậy Chánh Thành mới hỏi thêm:
- Vậy cuối cùng phải làm sao?
Thiền sư hét to một tiếng. Chánh Thành sụp xuống lạy. Thiền sư nói:
- Ngươi đã thấu triệt rồi.
Tức là ngươi đã triệt ngộ rồi. Hỏi, “ngay trong giờ phút đó phải làm sao?”, ngay chỗ đó phải quét luôn tâm năng liễu.
Thọ mạng tướng
Này Thiện nam tử! Thế nào là thọ mạng tướng? Nghĩa là các chúng sanh tâm chiếu thanh tịnh đã giác được sở liễu.
Hành giả tiến thêm một bước nữa, biết tâm liễu tri ngã, nhân, chúng sanh là chướng ngại nên không chấp vào đó. Tâm của hành giả đến đây đã được thanh tịnh, chứng ngộ, liễu đạt, tiêu dung ba cái tướng đó.
Tức là đã đến giai đoạn khá, phá được ngã, nhân, chúng sanh, quét sạch hết không còn chấp vào cái đó nữa. Tâm giống như hồ nước mùa thu thanh tịnh, cảnh giới này gọi là bờ mé của ý thức, chưa vượt khỏi ý thức thầm thầm bên trong.
Ba tướng đầu phá được: 1- Tán vị đầu độc, 2- Cuồng loạn đầu độc, 3- Mộng chung đầu độc. Nhưng rớt trong định chung đầu độc, là trạng thái giống như mùa thu treo lơ lửng, đây cũng gọi là đầu độc ý thức.
Chúng ta thấy con đường tu xa diệu vợi, nhiều
khi nghe xong không dám tu luôn. Nhưng bây giờ, giống như trèo lên lưng cọp rồi, phải đi thôi không có con đường nào khác. Muốn đi con đường sanh tử thì không tu, mà muốn giải thoát thì phải nắm pháp này đi thôi. Đời này biết được pháp này mà không tu thì uổng quá. Không tu ra đời thì cũng lẩn quẩn thôi.
Đại chúng biết tại sao thọ mạng tướng phá không được? Đây là lên bậc đẳng giác rồi. Bước qua phần diệu giác mới bước được đến phần này. Bởi vì, thọ mạng liên lũy không biết bao nhiêu đời kiếp. Cho nên, con mắt không thể nào thấy con mắt được.
Phật dạy tiếp:
Tất cả nghiệp trí không thể tự thấy, ví như là mạng căn.
Người xưa nói, khi nghèo bây giờ làm tỷ phú không thể nào cho đi hết trở lại nghèo khổ. Đây gọi là buông tay nơi vực thẳm, phải một lần mạnh dạn buông. Mà rất là khó chứ không phải dễ.
Bởi vì trí này thấy biết tất cả ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng nhưng lại không biết được chính nó. Do không biết nên không tự diệt trừ.
Phải là 49 ngày đêm, ngồi dưới cội Bồ-đề phá mới nổi. Phải là công hạnh viên mãn đầy đủ 100 pháp Ba-la-mật, tức là vô lượng các thiện pháp. Dùng vô lượng thiện pháp, năng lượng tu hành thì mới phá được cái này.
Tóm lại
Tâm năng liễu gọi là chúng sanh tướng. Nay trí quán tăng rõ chiếu phá tâm năng liễu. Đến đây thì cảnh trí cả hai đều quên, tất cả đều lìa, nghĩa là vì trí tức là tâm, lại chiếu thể tịch diệt, cảnh trí nhất như ví như mắt không thể thấy mắt. Nên nói: “Tất cả các nghiệp trí không thể tự thấy.”
Lúc này thân tâm vắng lặng, mọi cảnh không xâm nhập, mà cũng rớt ở trong thọ mạng tướng.
Do phản vọng quy chơn đến chỗ cực tắc của pháp thân, chỉ trụ giữ ở chỗ vắng lặng, không thể chuyển vị hồi cơ, nghĩa là ôm giữ đầu sào, chìm lặng vào chỗ nước chết, thiền tông gọi là rơi vào chỗ tôn quý, tức là chỗ này, chẳng thể vượt thoát ra được, ví như mạng căn, đó gọi là thọ mạng tướng.
Rớt ở chỗ này nhà thiền rất là kỵ, cho nên người xưa có bài kệ:
Đầu sào trăm thước ngồi chót vót Tuy thấy mà nào chẳng được chân Ví dám đầu sào thêm bước nữa
Mười phương thế giới hiện toàn thân.
Chỗ này phải vọt thêm một bước nữa. Người xưa nói, giống như rớt xuống bức tường toàn là vách đá phẳng lì, leo lên gần đến nơi lại rớt xuống. Trong nhà thiền gọi là “tuyệt hậu tái tô”, “một lần chết đi
để ngàn năm sống lại”. Chết là chết trí này, thì một ngàn năm mới sống lại trong thể pháp thân.
Do ngồi ôm giữ chỗ huyễn vi nên mạng căn chẳng đoạn. Phần trước có nói: Chẳng trụ sanh tử, chẳng trụ Niết-bàn, đây chính là hành tướng trụ vào trong cảnh giới Niết-bàn. Cho đó là chỗ cứu cánh mà không ngờ rớt ở trong thọ mạng tướng, rớt chỗ an yên; chỗ này rất là khó vượt qua.
Có một ông Tăng đến hỏi Thiền sư Lạc Phố:
- Khi con nghĩ trở về quê thì sao? Thiền sư đáp:
- Nhà tan, người nát, ngươi trở về chỗ nào? Ông Tăng nói:
- Thế ấy thì không trở về.
Đến chỗ này là nhà tan, người nát, không còn gì để bám víu cả.
Độc đầu ý thức
- Tán vị độc đầu
Tâm tán loạn. Hằng ngày thường sanh khởi niệm phân biệt đẹp xấu, năng sở, chủ khách, phải quấy, hơn thua.
Tâm tán loạn, đi đứng nằm ngồi nghĩ lung tung. Tâm không có an yên, gọi là độc đầu của phần ý thức. Nó dạng như là thuốc độc, làm cho con người mỏi
mệt, dã dượi, buồn khổ, làm cho sống không được, chết không xong. Khi khởi niệm liên tục như thế thì rớt qua chỗ cuồng loạn độc đầu.
2. Cuồng loạn độc đầu
Khi có người phát điên và nói năng cuồng loạn, thức thứ sáu (tức là ý thức) của họ lúc đó ở trong sự cuồng loạn, không điều khiển ý thức được nữa.
Tức là giống người điên đi ra đường nói lảm nhảm. Tu mà vọng tưởng liên tục, đến giai đoạn cuồng loạn. Miệng nói lảm nhảm suốt ngày, có khi ra đường nhìn trời nhìn đất cười.
3. Mộng trung độc đầu
Do tâm khi thức tán loạn cho nên tối ngủ mộng thấy đủ thứ: màu sắc xanh, vàng, đỏ, trắng và những điều kỳ dị, đó gọi là đầu độc ý thức tác quái.
Ban ngày tâm loạn, ban đêm thấy cảnh đó hoặc thấy cọp, sói rượt, hoặc thấy sấm chớp…. Đó gọi là trong mộng lăng xăng bày ra ba đường sáu nẻo.
Ngày mộng, tối mộng liên lũy đời này qua đời khác đều ở trong mộng. Rồi khi gặp thiện hữu tri thức chỉ dạy cho tu tập, thì lại rớt trong định trung độc đầu.
4. Định trung độc đầu
Đó là trạng thái thanh thản lặng lẽ, trong đó thấy
nghe hiểu biết hoàn toàn vắng bặt, nhưng định trung độc đầu ý thức vẫn còn hoạt động. Đó là thọ mạng tướng.
Đến chỗ này rồi, giống như mùa thu thấy mặt hồ phẳng lặng, an yên không một gợn sóng. Nhìn lên đầu nhành cây tre có bóng trăng rọi xuống, cảnh rất là thanh bình, không một gợn sóng nào hết.
Phật dạy:
Vì không rời được bốn tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ mạng nên tu chẳng thành Phật.
Như vậy, chúng ta thấy đời tu rất khó, rất dài nhưng mà cứ ráng đi.
Này Thiện nam tử! Nếu tâm soi thấy tất cả cái giác đều là trần cấu, năng giác, sở giác chẳng lìa nơi trần, như nóng làm tan băng, không riêng có băng biết băng tan, còn ngã để giác cái ngã cũng lại như thế.
Như vậy, tâm chiếu này đã rõ biết tất cả ba tướng ngã, nhơn, chúng sanh đều là vọng cảnh. Nhưng chính tâm chiếu cũng còn là trần cấu, vì tâm chưa hoàn toàn sạch chấp trước. Còn một chút, thấy phá ba cái tướng kia thì trần cấu cũng nổi lên trong tâm.
Một niệm khởi lên là năng sở còn tồn tại, cho nên nói năng giác và sở giác kia chẳng lìa nơi trần.
Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên, có câu chuyện:
Khoảng niên hiệu Chánh Hòa, Ni sư Chí Không ở
Kim Lăng từng cất nhà tắm nơi Bảo Ninh. Ngoài cửa treo bảng đề:
Một vật cũng không, rửa cái gì? Mảy trần nếu có từ đâu khởi?
Nói lấy một câu tử huyền, Mới có thể đồng vào nhà tắm.
Cổ Linh chỉ biết kỳ lưng, Khai Sĩ đâu từng sáng tâm, Muốn chứng quả ly cấu địa, Phải toàn thân toát mồ hôi.
Trọn nói nước hay rửa bụi nhơ, Đâu biết rằng nước cũng là bụi. Dầu cho nước và nhơ chống trừ, Đến đây cũng phải rửa cho hết.
Thì mới được vào nhà tắm.
Quán sát kỹ thì nước cũng là bụi. Nước và nhơ dứt hết luôn, phải rửa sạch luôn thì mới được vào nhà tắm.
Này Thiện nam tử! Chúng sanh đời sau không rõ bốn tướng, tuy trải qua nhiều kiếp cần khổ tu hành mà chỉ gọi là hữu vi, trọn không thành tựu được tất cả thánh quả. Cho nên, gọi là chánh pháp trong thời mạt thế.
Tại sao trong Kinh Viên Giác không nói là mạt
pháp mà gọi là chánh pháp trong thời mạt thế? Sở dĩ, tu tập mà không chứng thành Phật quả, hoặc nói khác hơn là không đạt đến chỗ thể nhập được tính viên giác, vì lấy ngã làm gốc để tu. Cho nên, trong nhà thiền nói rằng phải kiến tánh mới bắt đầu tu, nhận được tâm viên giác, hay còn gọi là nhân địa bổn khởi của Như Lai, từ đó tu ra thì mới thành tựu.
Chúng sanh đời sau nếu chẳng rõ được bốn tướng này, tuy trải qua nhiều kiếp siêng năng cần khổ tu hành, trọn không thành thánh quả. Vì cớ sao? Vì chấp lấy ngã tướng mà tu tập.
Ở đây, nói là chánh pháp trong thời mạt nghĩa là:
Chúng sanh đời sau nếu gặp pháp môn viên giáo này thì có thể gọi là chánh pháp.
Chẳng hạn như thời này là thời mạt mà gặp được pháp môn, tuy ở chỗ lặng lẽ an yên mà cũng còn trong thọ mạng tướng. Biết được chỗ đó rồi tu tập, thì ngay trong đời này gọi là chánh pháp.
Nếu tu tập sai lầm cùng người chẳng tu nên không có hạnh chứng, cho nên gọi là thời mạt pháp.
Thời này chúng ta gặp pháp, y đó tu tập để chuyển hóa thì thời mạt thế gọi là chánh pháp. Nếu không gặp được pháp này tu thì cùng với người ở nhà giống nhau như đúc. Bởi vì càng tu càng sanh ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ mạng tướng; thì
giống như người thế tục. Chúng ta biết được điều này, nên quy chiếu về mình tu tập để gạn từng bước thì thời này gọi là chánh pháp.
Chánh pháp của Đức Phật một ngàn năm là có đầy đủ bốn pháp: Giáo, Lý, Hạnh, Quả. Bốn pháp tròn đủ. Học nơi Đức Phật chỉ dạy gọi là Giáo. Ngộ được Lý, khởi công dụng Hạnh tu được cái Quả.
Tượng pháp một ngàn năm có Giáo, Lý, Hạnh, nhưng không có Quả. Người tu chứng rất ít.
Mạt pháp mười ngàn năm có Giáo, Lý, nhưng Hạnh, Quả không có.
Cho nên, đoạn sau Phật nói: “Các ông y nơi học cho rằng đa văn là chỗ cứu cánh, hiểu nhiều là chỗ cứu cánh là rớt trong ma nghiệp”. Thời này nếu không dụng công tu tập, chỉ cho cái học là chỗ cứu cánh viên mãn thì được Giáo, ngộ thì cũng ngộ được Lý mà không có Hạnh, không có Quả.
Thời này chúng có túc duyên, may mắn gặp pháp môn này tu tập chuyển hóa thì đó là chánh pháp, là duyên may của mình. Biết được rằng ngã, nhân, chúng sanh, thọ mạng giống như thuốc độc. Giống như người bị đau, tiêm mũi thuốc vào được yên, nhưng vẫn là thuốc độc. Tu tập như thế nào đó để đào thải bốn tướng này thì đó gọi là chỗ cứu cánh.
Học bốn tướng này thấy sâu hơn, khác hơn bốn tướng của Kinh Kim Cang. Đặc biệt nhất là khế hợp với người tu thiền, bởi vì biết được những niệm tưởng lăng xăng, những vọng huyễn đó không có thật. Tu như thế nào đó, cái hay biết buông luôn, mà cái lom lom ngay chỗ này buông một lớp nữa. Các Ngài nói, buông đến mức độ không còn chỗ để buông nữa. Chỉ có thiền tông hoặc thiền đốn ngộ mới gạn cho thật sạch để thẳng đến con đường Phật quả.
Ngài Nghiêm Dương đến hỏi Ngài Triệu Châu:
- Con đến đây không một vật, như thế nào? Thiền sư Triệu Châu nói:
- Buông!
Ngài Nghiêm Dương nói:
- Đã nói không một vật còn buông cái gì? Ngài Triệu Châu nói:
- Buông không được thì gánh lên mà đi.
Chỗ đó là chỗ lưu ý các Thiền sư chỉ dạy. Chúng ta rất may mắn được pháp này tu tập, để chuyển hóa thì thời mạt thế cũng là thời chánh pháp.
Tóm gọn lại về bốn tướng
- Ngã tướng
Ngã tướng nằm trong thô và tế.
Ngã tướng thô: Khi chưa biết đạo, chấp thân cho
là thật, nên phải ăn ngon mặc đẹp, ngủ nệm cho êm ấm, tình cảm dục vọng của phàm phu. Bồi bổ cho thân này đầy đủ, tức là tạo nghiệp. Rồi chấp những tư duy, vọng tưởng, cho nên gọi là tình phàm.
Ngã tướng tế: Là thấy tu đạt đến cảnh giới tu chứng, gọi là thánh giải. Nhà thiền nói, “tình phàm, thánh giải” một lúc phải buông sạch mới phá đi ngã tướng này.
Thiền sư Triệu Châu nói: “Chỗ không có Phật phải mau chạy qua, chỗ có Phật cũng đừng lưu luyến.” Chỗ không Phật là chỗ gì? Là những vọng tưởng điên đảo. Chỗ có Phật là những niệm khinh an, niệm tịch tĩnh, thì cũng mau chạy qua luôn.
Có một vị Tổ còn nói mạnh hơn nữa. Thiền sư Lâm Tế nói: “Phùng Phật sát Phật, phùng ma sát ma”. Có nghĩa là gặp Phật thì giết Phật, gặp ma thì giết ma. Giết ma ở đây là giết tâm ma, mà tâm ma giết thì tâm Phật cũng phải giết luôn. Tức là “hai đầu đều chặt đứt, một kiếm chống trời băng”, tức là quét sạch đi ngã phàm và ngã thánh.
- Nhơn tướng
Khi chúng ta quét sạch tình phàm, thánh giải rồi thì còn tâm năng biết chấp ngã, gọi là nhơn tướng.
- Chúng sanh tướng
Không thấy có ta chứng, cảnh giới chứng, tức là
không còn tâm năng biết cảnh và người chứng nữa. Tuy nhiên vẫn còn thấy không còn ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng. Tức là còn tâm lom lom.
- Thọ mạng tướng
Chỗ này rất là khó phá. Tại sao?
Lúc này nội tâm hành giả thanh tịnh đến mức buông sạch luôn tâm rõ biết mình, tức là không còn ngã, không còn nhơn, không còn chúng sanh. Phật nói đến chỗ này vẫn còn hiển trí, sanh diệt tương tục hết sức vi tế.
Đây là đến giai đoạn phá hành ấm, niệm rất lăn tăn nhỏ nhiệm, giống như Thiền sư Dũng Tuyền nói: Buổi sáng, Ngài ngồi trên ghế, bước qua bên này thấy 49 niệm sanh diệt. Chỉ thấy niệm thô thôi, còn niệm ẩn sâu bên trong, cảnh giới hành ấm không thấy được.
Cho nên, hàng Thanh văn đến chỗ này phá không được, tưởng rằng sạch niệm cho nên gọi là lưu trú Niết-bàn. Chỉ có mắt Phật nhìn rõ những niệm chi li khởi diệt liên tục trong tàng thức, mà Duy Thức học gọi là “thường chuyển như bộc lưu”.
Chẳng hạn như hôm nào, chúng ta về Đà Lạt thấy một dòng thác chảy, tưởng nước tuôn xuống chỉ có một dòng thôi, nhưng đến nhìn thật kỹ thấy từng hạt nước kết xâu lại mới thành dòng nước. Mà
ai thấy được chỗ này? Hoặc cầm cây nhang quay vòng tròn, từ xa thấy có một vòng lửa, đến gần mới thấy từng nhịp. Niệm tương tục như vậy.
Trong Kinh Tương Ưng Bộ, phẩm Cây Lau ghi rất kỹ:
Như vầy tôi nghe, một thời Thế Tôn ở Savathi, Jetavana, tại vườn ông Cấp Cô Độc. Một vị thiên tử khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Vị chư thiên ấy bạch Thế Tôn:
- Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt khỏi bộc lưu?
- Này Hiền giả! Không đứng lại, không bước tới, ta vượt khỏi bộc lưu.
Muốn vượt khỏi bộc lưu phải đứng lại để tìm cách nhảy lên, nhưng Phật nói, “Không đứng lại, không bước tới”, cho nên vị thiên tử này không hiểu.
- Thưa Tôn giả! Làm sao không đứng lại, không bước tới, Ngài vượt khỏi bộc lưu?
- Này Hiền giả! Khi ta đứng lại thời ta chìm xuống. Này Hiền giả! Khi ta bước tới thời ta trôi giạt. Do vậy, này Hiền giả! Không đứng lại, không bước tới, ta vượt khỏi bộc lưu.
Đứng lại thì chìm xuống, mà bước tới thì bị đẩy.
Vậy mà vị thiên tử ngộ đạo, chứng sơ quả.
Khi ngộ đạo, vị thiên tử nói bài kệ tán thán Đức Thế Tôn:
Từ lâu tôi mới thấy, Bà La Môn tịch tịnh,
Không đứng, không bước tới, Vượt chấp trước ở đời.
Vị thiên tử nói như vậy và bậc đạo sư chấp nhận. Vị chư thiên ấy biết được: Thế Tôn đã chấp nhận ta. Vị ấy đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ.
Bộc lưu là gì? Bộc lưu là dòng thác của cuộc đời đang cuồn cuộn chảy xiết, xô đẩy chúng sanh lặn hụp trong đó để tạo nghiệp rồi sanh tử, sanh tử rồi tạo nghiệp tiếp. Dòng bộc lưu giống như dòng thác, xuống là chết. Trong nhà thiền, bậc tráng sĩ đứng suốt đêm, chặt tay cầu đạo, cầu pháp an tâm mới vượt thoát bộc lưu này. Phần sau Đức Phật dạy, muốn vượt qua chỗ này phải dõng mãnh, kiên định chớ không phải tu một sớm một chiều. Vừa dõng mãnh vừa kiên định mà chánh niệm tỉnh giác trong 24 giờ mới vượt được dòng thác của cuộc đời.
Tại sao đứng lại bị chìm xuống? Chìm trong vô minh, điên đảo. Đứng lại tức là chìm. Chẳng hạn như đại chúng đang ngồi thiền, tụng kinh mình không chịu ngồi thiền, tụng kinh là đang đứng lại. Đứng lại ở đâu? Đứng lại ở tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, tà kiến, hôn trầm, trạo cử, kiết sử, thùy miên, vô tàm, vô quý. Tức là bị tham, sân, si, hôn trầm, trạo cử, ngủ
nghỉ nhận chìm mình.
Khi bị hôn trầm, trạo cử là biết đang đứng lại, đang bị chìm. Cho nên, tại sao khi ngồi thiền bị hôn trầm, phải có người đánh thức để mình đi lên, không chìm trong vô minh, điên đảo.
Tại sao bước tới bị trôi giạt? Bởi vì khi bước tới là niệm không dừng được. Niệm niệm tương tục. Khi niệm niệm tương tục là không cưỡng lại được tập nghiệp, tức là tập khí. Thân tâm khát ái, bước tới là bị trôi giạt liền, vì niệm niệm tương tục, không có phút giây nào ngừng.
Như vậy, Thế Tôn ở cảnh giới nào mà vượt khỏi bộc lưu?
Tâm Đức Thế Tôn ngay tại đây và bây giờ, Ngài vượt thoát. Có nghĩa là khi có tỉnh giác tức là vượt khỏi bộc lưu. Đức Phật nói, “không đứng lại, không bước tới”, là ngay trong giờ phút đó, Ngài có mặt. Ở đây nói, quét sạch mọi vọng tưởng chấp trước, tình phàm và thánh giải thì mới được tương ưng với đạo. Như vậy, việc tu không phải một sớm một chiều. Biết phương pháp này rồi thì ở trong thất được. Đại chúng thấy những vị mới ra thất: học tốt, tu tốt, làm việc cũng tốt nhưng mà được giỏi lắm hai tháng, rồi bị tập khí phủ lại. Cho nên, Sư Ông Trúc Lâm dạy phải có tâm kiên trì, trường viễn, trong nhà thiền nói ngày nào cũng là ngày mới.
Chẳng hạn hôm qua đã nhổ cỏ, sao sáng nay nhổ cỏ nữa? Tự nhiên có tâm khựng lại. Còn nhổ cỏ biết mình nhổ cỏ thôi, ăn chỉ biết ăn thôi, thì ngay trong giờ phút đó vượt thoát bộc lưu. Chỉ có phương pháp đốn ngộ mới thấy được từng niệm tương tục này, không có chấp trước. Không chấp trước thì không có khởi tâm tăng thượng mạn, cho là chứng cái này, cái kia.
Đến chỗ hành ấm là chỗ nào?
Khi đến Ngài Sùng Tín Long Đàm, Thiền sư Đức Sơn nói:
- Đến đây đầm thì không thấy mà rồng cũng không hiện.
Đầm là pháp, rồng tức là ngã.
Thiền sư Sùng Tín nói:
- Ông gần đến Long Đàm rồi.
Gần thôi, chứ chưa đạt đến chỗ đất thật, mới chuẩn bị bước qua hành ấm thôi, niệm vẫn còn tương tục. Cho nên, khi Ngài Sùng Tín thổi tắt ngọn đèn trên tay Đức Sơn, ngay trong giờ phút đó là quét sạch tình phàm và thánh giải, bước qua bức tranh thứ chín là nhập Phật giới.
Phản bổn hoàn nguyên chỉ phí công, Chi bằng thẳng đó tợ mù câm.
Trong am chẳng thấy ngoài vật khác, Nước tự mênh mông hoa tự hồng.
Khi hành giả vào chỗ Phật giới rồi phải tu tập, trưởng dưỡng chỗ thấy của mình. Đến đó rồi, niệm không còn tương tục như ngày xưa nữa, cho nên những vị đó phải ẩn trong chúng trưởng dưỡng lâu năm, chứ ra là mất, trong nhà thiền gọi là trưởng dưỡng thai thánh. Khi trưởng dưỡng xong rồi, mới xuống núi làm các việc Phật sự, kiểm tra lại ngày xưa chỗ hiểu biết có khế hợp vào chỗ công phu hay không, gọi là nhập ma giới.
Nhập ma giới tiêu biểu cho vị thiền sư bên tay trái cầm con cá chép, bên tay phải cầm bầu rượu nghênh ngang đi vào trong chợ xóm làng.
Trong trần bày ngực thẳng vào thành, Tô đất trét bùn nụ cười thanh.
Bí quyết thần tiên không cần nữa, Cây khô cũng khiến nở hoa lành.
Bí quyết tu tập dẹp hết, hiện ra hình tướng phàm phu nhưng không lìa Phật đạo. Tất cả những vị đó hiện tướng giống như phàm phu không khác mà đạo không có lìa.
Ngay chỗ hành ấm phát khởi lòng từ, tự nhiên cảm ứng ngoại cảnh. Đại chúng ở đây tu thanh tịnh an yên, thấy chim bay về. Lúc đó, tâm mình còn quán hạnh, còn khởi lòng thương nó. Buổi sáng xả thiền xong, tôi vừa xuống bờ ao là cá nhảy, vì nó biết sắp được cho ăn, nó bắt được năng lượng lòng từ của mình.
Ngài Ngưu Đầu Pháp Dung ngồi thiền đến chỗ cảnh giới hành ấm. Ngài khởi lòng thương chúng sanh, chim cảm được tha bông đến, vượn khỉ đem trái cây đến.
Tu mà khỉ vượn đến cúng là thấy hay lắm, nhưng mà Ngài Tứ Tổ Đạo Tín khai thị:
Cảnh không có tốt xấu, Tốt xấu từ nơi tâm.
Tâm mà không theo danh, Vọng tình từ đâu khởi?
Vọng tình mà không khởi, Chơn tâm mặc tình biết khắp.
Ngay đó, Ngài nhận ra được. Vừa nhận được chỗ đó chim hết thấy, vượn khỉ cũng hết thấy luôn.
Vị thứ hai là Ưng Am Chủ. Thiền sư Động Sơn hỏi:
- Tại sao ba ngày ông không lên trai đường ăn cơm?
– Bạch Hòa thượng, buổi trưa có chư thiên xuống cúng dường. Thiền sư Động Sơn nói:
- Ta nói ông rồi, vẫn còn chút ít kiến giải.
Buổi chiều Ngài Ưng Am Chủ đến, Thiền sư Động Sơn nói:
- Ưng Am Chủ!
- Dạ!
- Không nghĩ thiện không nghĩ ác là cái gì?
Về ngồi trong thất, chư thiên xuống tìm suốt mấy ngày không thấy nên hết cúng dường.
Ở trong cảnh giới này vẫn còn khởi những niệm li ti ẩn sâu bên trong.
Như vậy, thiền đốn ngộ là như thế nào? Để làm rắn lại điểm này, ở đây có thêm một mẩu chuyện:
Trong Nghệ Thuật Sống kể câu chuyện:
Ngày xưa có một ông vua rất giỏi, thiên văn, địa lý gì ông cũng rành. Một hôm ông mời các họa sĩ trong nước về cung điện. Trước sân rồng, ông nói:
- Hôm nay, trẫm mời các vị đến, ai vẽ bức tranh mà nhìn vào thấy thanh bình, an yên tĩnh lặng nhất thì trẫm thưởng một số vàng, lụa là và phong chức tước.
Mọi người tranh nhau vẽ, ông nhìn lướt qua không chấm được bức nào.
Nhìn lên bệ sân rồng, ông thấy có hai bức tranh, một bức vẽ hồ thu, nước trong vắt đến độ thấy những hòn sỏi, xa xa có bóng trăng chiếu xuống, nhìn vào thấy tĩnh lặng an yên, tâm và cảnh hòa hợp với nhau, ai cũng nghĩ họa sĩ vẽ bức tranh này sẽ thắng.
Nhưng vua chấm bức thứ hai, tất cả quần thần đều ngạc nhiên. Bởi vì, bức tranh này vẽ cảnh biển đang nổi sóng cuồn cuộn, trên biển có một hòn đảo nhỏ, trên đảo có một cái cây khẳng khiu. Sóng thì to, gió thì lớn mà trên cây có con chim mẹ đang bình yên ấp ủ một chim con. Vua chấm đây là bức tranh an yên, thanh bình nhất.
Đời tu cũng vậy, nhập thất chưa phải là an yên. Khi còn làm thiền sinh chưa phải an yên, mà khi dấn thân vào cuộc đời, làm các việc Phật sự mà tâm bình lặng, dầu cho lạnh nóng, tâm không có dấy niệm, không than vãn, không oán trách, chính tâm đó mới là an yên.
Đi xuất gia mới thấy giá trị của người tu, không phải dễ, thấy đơn giản nhưng không phải. Buổi chiều, thấy có một số quý thầy đi an yên nhưng chưa chắc. Người ta đang tranh đấu với những tâm ác xâm lấn, chưa thành bậc thánh mà, vẫn còn đang giằng co, vẫn còn đang xáo trộn. Cho nên, tôi rất thông cảm với những vị mới xuất gia. Mới xuất gia nếu tâm phàm còn nhiều thì sơ suất nhiều lắm. Bằng chứng là tôi nói với nhà khách rằng nhà vệ sinh là mặt tiền, quý vị đi vào đi ra, nhớ đóng cửa mà tôi thấy cửa mở hoài. Những người ở nhà khách đa phần là cư sĩ và những người mới xuất gia, tâm còn lao chao, vướng bận chưa ổn định. Không có tâm kiên định, không có nguyện lực thì đường tu dễ đứt đoạn.
Cho nên, bức tranh an yên nhất là ở ngay đầu sóng ngọn gió mà ta vẫn an yên, vẫn tu tập. Dầu cho thân bệnh, dầu cho tâm xáo trộn vẫn quyết chí, lập nguyện tu tập cho đến khi thành Phật mới thôi. Như vậy, mới vượt qua được cảnh giới này.
Đại chúng phải nghiệm, phải quán chiếu kỹ. Tôi giảng ở Trường thiền, khóa 2 giảng buổi sáng, khóa 3 buổi chiều. Ba giờ chiều, tôi và ông thầy tài xế chuẩn bị về, mà Phật tử ở Sài Gòn cúng dường chả, họ nói thầy lên thành phố lấy chả về cho chúng. Tôi nói với thầy tài xế ráng đi, người ta làm ra thức ăn này cực gấp trăm lần mình đi lấy, còn bỏ tiền ra mua cúng dường mà tại sao giờ đó mình không chịu đi lấy! Cho nên, mấy ông thầy đi theo tôi một thời gian mà không có nguyện lực là thối lui. Hạt gạo người ta làm bằng máu và nước mắt, nấu cơm mà mình than vãn là sao? Như vậy, không phải người tu, dở lắm.
Khi nhổ cỏ, thấy sao mệt quá, mà người ta đến tu tập, phát tâm Bồ-đề là nhờ vào thấy đạo tràng trang nghiêm thanh tịnh. Đến đây mà thấy rác với cỏ không làm sao người ta phát tâm? Cho nên, phải quán chiếu thật sâu là: Trong giờ đang làm việc là tu tập, là nghỉ ngơi. Tôi làm tất cả các việc Phật sự được là nhờ quán chiếu.
Có ông vua đến thăm một vị thiền sư lớn tuổi. Thấy Ngài lụm cụm xuống nhà bếp rửa khoai, bắc nước luộc nồi khoai lang trong khi thị giả nằm ngủ. Vua bực quá kêu thị giả dậy, nói tại sao thị giả không dậy luộc khoai mà để cho thầy phải luộc. Thiền sư cản lại nói, khoai lang này là thị giả trồng mấy tháng mới được. Nó trồng tôi nấu có gì đâu mà mệt.
Những bài học này để áp dụng trong đời tu của mình. Việc hành đường trị nhật là nhẹ lắm. Ngày xưa, tôi làm một lần bảy ngày, 3 giờ sáng dậy làm tới 6-7 giờ chiều. Đó là ở Thường Chiếu, còn trên Trúc Lâm, rất lạnh mà 2g30 sáng là phải dậy vo gạo chuẩn bị. Đời tu dài mà khó lắm, nếu không có phước lực, không có nguyện lực thì bộc lưu này đẩy mình.
Tôi sở dĩ ngày hôm nay làm được các việc Phật sự, tôi ngồi nghiệm lại, quán chiếu thấy ngày xưa dấn thân mạnh lắm. Là cư sĩ vào công quả Thường Chiếu, một buổi sáng xúc 28 xe đất, mà xúc bằng tay chớ không có xe máy múc như bây giờ. Buổi chiều hai mươi tám xe nữa! Bây giờ, làm nhẹ hơn nhiều mà mình còn than vãn! Muốn nối mạng mạch Phật pháp của thầy Tổ, cho tông phong vĩnh chấn là phải xả thân chớ không phải chuyện thường. Pháp này lạ lắm, không đủ phước lực, không đủ nguyện lực là bên ngoài dập mình. Năng lực phải lớn lắm chớ không phải chuyện đơn thuần. Cho nên, ở chỗ khó khăn cùng cực nhất mà tâm vẫn thản nhiên, vẫn an yên.
Hiểu phương pháp tu này rồi, nếu tôi ngồi lim dim thì làm sao làm Phật sự? Đi họp, đi dạy cả tuần không có ngày nghỉ, rồi chuẩn bị an cư kiết hạ. Lễ Phật Đản phải họp hành, chia sẻ giáo pháp. Ba tháng một lần, chúng tôi phải thay phiên lên Trúc Lâm, vừa dạy Phật tử, vừa chia sẻ Phật pháp với chúng Tăng.
Bởi vì, Tổ đình Thường Chiếu sanh tôi ra, Trúc Lâm nuôi dưỡng tôi, cho nên bây giờ phải trả ơn hai chỗ. Phật sự nhiều cách mấy cũng phải làm.
Lạ một điều làm được những việc như thế thì tâm yên, tâm không xáo trộn. Người xưa có câu: “Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến.” Pháp là như vậy, không có trốn. Ngày xưa, tôi phải tu tập, trưởng dưỡng gần hai chục năm. Khi ra làm Phật sự thì phải chấp nhận để kiểm soát lại tâm hành. Ngày xưa, tu như thế nào, bây giờ như thế, xem lại có tương ưng với cái đạo không.
Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên:
Có một vị tăng đến hỏi Thiền sư Duyên Quán:
- Khi giặc nhà khó giữ thì thế nào?
Chẳng hạn như người ta đánh, chửi là giặc bên ngoài, còn giặc nhà là giặc bên trong, là những tâm niệm vọng tưởng điên đảo. Có những lúc bất thình lình nổi sân si, rất là khó giữ. Ngồi thiền tự nhiên niệm vọng tưởng dẫn dắt đi chỗ này chỗ khác không yên trong suốt một tiếng đồng hồ.
Nhưng Thiền sư nói:
- Biết được chẳng phải là oan
Biết được vọng tưởng rồi, không còn sợ vọng tưởng nữa. Biết được những niệm này dẫn dắt nhiều đời nhiều kiếp rồi, làm cho mình đau khổ, điên đảo,
chìm đắm. Bây giờ, biết rồi tự nhiên tâm từng bước có sức dừng lại.
- Sau khi biết được thì thế nào?
- Tiến đến nước vô
Càng công phu tâm càng lặng, càng dễ điều phục, càng nhu nhuyến, không có ương ngạnh như ngày xưa. Ngày xưa, điều khiển tâm không phải dễ mà bây giờ càng tu tâm nhu nhuyến thanh tịnh, dễ uốn nắn. Trong Kinh Tương Ưng Bộ, Phật nói, tâm hành giả dễ uốn nắn tức là tu lâu rồi.
- Nước vô sanh đâu không phải chỗ y an thân lập mạng? Ngài nói:
- Nước chết không chứa được rồng.
Bởi vì rồng không ở chỗ nước cạn, nước tù. Hồ nước không có lưu thông thì rồng không ở mà phải ở biển sâu vực thẳm.
- Thế nào là nước sống chứa rồng?
- Dậy mòi mà chẳng thành sóng.
Dậy mòi là gì? Đến chỗ phá hành ấm rồi mà xét kỹ vẫn còn những niệm lăn tăn khởi. Thấy niệm lăn tăn mà không có tạo nghiệp như ngày xưa. Ngày xưa vừa khởi niệm là lao theo niệm tạo nghiệp. Bây giờ, vẫn còn niệm mà không thành sóng.
Thiền sư Ngưỡng Sơn năm Ngài 50 tuổi, là bậc
thiện tri thức của 500 người, bên thiền Đông Độ gọi Ngài là tiểu Thích Ca. Ngài có những cơ phong rất đặc biệt. Một hôm, Ngài đến gặp thầy mình là Tổ Quy Sơn, lúc đó 72 tuổi, Ngài hỏi: “Bạch Hòa thượng, giờ này Hòa thượng còn tẩu tác không?” Tổ Quy Sơn nói: “Ta mới dừng được 2 năm”.
Như vậy, 70 tuổi Ngài vẫn tẩu tác, dậy mòi mà không thành sóng. Mà Tổ Quy Sơn ngộ đạo với Tổ Bá Trượng năm Ngài 23 tuổi, đến 72 tuổi thì không còn tẩu tác.
Tẩu là chạy, có nghĩa là ngồi đây mà có những niệm chạy rong, niệm chạy rong nhưng không có tạo nghiệp. Cho nên, Sư Ông thường nói, quý thầy cô ở trong đạo vẫn còn đang tu cho nên có những niệm khởi làm chủ không được thì tạo thành nghiệp. Chẳng hạn miệng nói những lời không được thanh tịnh nhu nhuyến là do tập khí, bởi vì niệm khởi là lao theo niệm. Còn bây giờ, sáng rồi thì cũng có khởi những niệm lăn tăn mà không theo niệm để tạo nghiệp, gọi là “dậy mòi mà không thành sóng”.
Có ba bậc Bồ-tát:
- Bồ-tát thối chuyển: Nhận được tánh viên giác rồi nhưng thấy chúng sanh khổ quá cho nên phát những nguyện lực lớn để mà lao xuống làm các việc Phật sự. Làm thì có sơ suất, sơ suất thì tạo nghiệp nên rớt xuống, nhưng đỡ một chút là gặp thiện tri thức nhắc.
Nghiệm lại đời tu, ngày xưa, tôi đâu biết đạo là gì. Lúc đó, tôi đang làm ở xưởng gỗ, tự nhiên gặp sư bà, cảm thấy có duyên gì đó lạ lạ nên đến hỏi thăm, rồi sư bà dẫn về chùa. Tự nhiên gặp thiện tri thức hoặc nghe tiếng mõ, tiếng chuông, tiếng khánh …
- Bồ-tát bất thối chuyển: Khi nhận được tự tánh, trưởng dưỡng xong đâu đó rồi mới phát nguyện lực vào cuộc đời này độ sanh.
Ông tăng nói:
- Bỗng khi đầm nghiêng núi đổ thì sao?
Sư bước xuống giường thiền, nắm đứng ông tăng bảo:
- Chớ nói, ướt góc cà sa của lão tăng. Câu chuyện Tổ Sư Tử và vua Kế Tân: Vua Kế Tân hỏi Tổ Sư Tử:
- Năm uẩn là không chăng?
- Là không!
- Có thể cho ta cái đầu chăng?
- Thân chẳng phải của ta, huống nữa là đầu!
Đó là khi “đầm nghiêng núi đổ”, chặt cái đầu vẫn thấy tánh.
Khi làm các việc Phật sự, “đầm nghiêng núi đổ” là những nghịch duyên dồn đến mà tánh vẫn thấy.
Ngài Tăng Triệu, thông minh đĩnh ngộ, xuất sắc về mọi mặt, trong tứ thánh đệ tử của Ngài Cưu Ma La Thập.
Vua Diêu Tần thấy Ngài vừa đĩnh ngộ vừa thông minh mà tu thì uổng quá nên vua ép lấy công chúa. Ngài nói, Ngài đã gởi thân trong đạo Bồ-đề rồi nên nhất quyết không chịu. Vua nói, nếu không lấy công chúa thì chém đầu. Chết thì chết nhưng nhất định tu.
Trước khi bị chém đầu, Ngài xin một đặc ân, vua Diêu Tần chấp nhận. Ngài xin 7 ngày, trong 7 ngày đó viết cuốn Triệu Luận.
Sau 7 ngày, ra pháp trường, trước khi ra pháp trường Ngài đọc bài kệ:
Ngũ ấm nguyên phi hữu, Tứ đại bổn lai không, Tương đầu lâm bạch nhẫn, Nhứt tợ trảm xuân phong.
Dịch:
Năm ấm vốn không có, Bốn đại xưa nay không, Kê đầu kề gươm bén,
Dường như chém gió xuân.
Ông chém đầu tôi cũng như chém gió xuân.
Đầm nghiêng thì nghiêng, núi đổ thì đổ, trời sập thì sập mà tự tánh thì bất động.
Câu chuyện Ngài Thần Nghi:
Ngài có ông Sư Bác, các huynh đệ nói ông Sư Bác này
ngộ đạo sâu lắm, ông có cả thảy năm, sáu trăm chúng, Ngài nói để khán nghiệm mới biết. Ngài đến, ngồi phịch giữa giảng đường. Các đệ tử vào bạch:
- Có vị tăng nói là hàng cháu, đang ngồi trước giảng đường, thần thái kỳ lạ lắm. Hòa thượng ra xem thử.
Vị Hòa thượng đi ra, Ngài Thần Nghi đứng dậy la lớn:
- Nhà cháy, nhà cháy!
Vị Hòa thượng dáo dác nhìn:
- Đâu? Nhà cháy đâu?
Lúc này Ngài Thần Nghi nói:
- Nghe danh không bằng thấy mặt. Ngài phủi áo đi.
Tại sao? Ông nói nhà cháy kệ ông, trời nghiêng đất lở kệ ông. Khi nghe nhà cháy, giật mình dáo dác là tâm động rồi. Nhận được chỗ tự tánh thì nhà cháy, trời sập hay là biển dâng lên bao nhiêu thước cũng mặc tình.
Kiểm lại sức tu của các Phật tử trong đạo tràng còn yếu. Yếu chỗ nào? Nghe đồn tận thế đi mua mì về dự trữ. Mấy vị có con du học kéo về hết luôn. Rồi bỏ học một năm, tốn tiền. Tận thế thì chỗ nào cũng chết kéo về chi? Phật tử ngộ thiệt. Tận thế đâu phải mới đây, cách đây 25 thế kỷ Đức Phật nói tận thế rồi. Tận thế chỗ nào? Hít vào không thở ra là tận thế. Tận thế là chết, là dứt một đời.
Cho nên, người đạt đến chỗ này gọi là Bồ-tát bất thối chuyển.
- Bồ-tát vô trụ, vô tu, vô chứng: Chỉ cho các Bồ-tát Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí… Những vị đó là cổ Phật thị hiện trong cõi Ta-bà này trợ giúp Đức Phật Thích Ca Mâu Ni độ các loài chúng sanh.
Cho nên Tổ Lâm Tế mới khai thị mạnh:
Có một bọn thầy tu mù, ăn no rồi tọa thiền quán hạnh, nắm giữ niệm lậu chẳng cho dấy khởi, chán chỗ ồn, cầu chỗ tịnh, đó là pháp tu ngoại đạo.
Chán ồn, cầu tịnh, cứ lim dim mắt quán hạnh, tu đó cũng rớt trong sanh tử. Dầu cho đến cảnh giới phi phi tưởng xứ cũng là chán ồn cầu tịnh, mà không hiểu được lời Phật dạy đó là pháp tạo tác.
Tổ sư nói:
Trụ tâm khán tịnh, khởi tâm chiếu xét bên ngoài, nhiếp tâm trong lặng bên trong, ngưng tâm vào định. Bọn người như vậy, đó gọi là tạo tác.
Kinh Duy Ma Cật rất là hay. Có một số người không hiểu, nói Kinh Duy Ma Cật phỉ báng các thầy Thanh văn. Không có phỉ báng!
Khi tôn giả Xá Lợi Phất ngồi yên trong rừng, ông Duy Ma Cật nói, ngồi yên như vậy không phải ngồi
yên, mà ở trong ba cõi không hiện thân ý mới là ngồi yên. Làm các việc như phàm phu mà không rời đạo pháp thì mới gọi là ngồi yên.
Ông Duy Ma Cật nói, ở trong chỗ ồn náo mà đạt đến cảnh giới diệt tận định thì mới đúng. Diệt tận định mấy trăm năm, mấy ngàn năm thì đâu có lợi ích cho chúng sanh được. Chẳng hạn như bây giờ, chúng ta ngồi nhiếp tâm khán tịnh lim dim, sợ chỗ ồn thì Phật sự đâu có thành tựu, mà rất là uổng. Còn khi khởi tâm Đại Bồ-tát xông pha trong cuộc đời mà vẫn tu tập, vẫn nhiếp tâm, đó là thiền. Ngồi thiền để thành Phật tức là giết Phật. Phật không ở trong tướng ngồi, cũng không ở trong tướng nằm, không ở trong bốn tướng đi, đứng, nằm, ngồi, mà lìa đi đứng nằm ngồi tìm Phật thì không được. Phải hiểu chỗ đó.
Phương pháp thiền đốn ngộ rất hay. Nhiếp tâm trong lặng bên trong, ngưng tâm vào định, đó cũng gọi là tạo tác. Bỏ cái này lấy cái khác, bỏ cái loạn vào trong cái định, nhưng không biết dụng của tự tánh như thế nào.
Phật dạy:
Sở dĩ không thể nhập được tánh viên giác, vì sao? Vì nhận cái ngã làm Niết-bàn, có chứng ngộ gọi là thành tựu. Ví như có người nhận giặc làm con thì gia bảo của họ trọn chẳng thành tựu.
Kinh Viên Giác đại chúng phải nghiệm cho kỹ, không nghiệm kỹ thì rất khó thâm nhập.
Vì sao? Vì nhận tất cả ngã là Niết-bàn, có chứng có ngộ gọi là thành tựu. Nhưng do nhận ngã là Niết-bàn nên dù trải qua nhiều kiếp siêng tu mà rốt cuộc lại vô ích.
Bởi vì có cái ngã thầm thầm cho là Niết-bàn. Thành tựu là Thanh văn, Duyên giác, Bích chi Phật; nhưng không thành tựu được Phật quả. Mục đích Đức Phật ra đời là nhằm cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến để thành Phật. Trong Kinh Pháp Hoa, Phật dụ cho ba xe nhưng cuối cùng Phật cho một xe trâu trắng, bởi vì Phật nói, Như Lai giống như ông trưởng giả giàu có không bỏn xẻn với những đứa con của mình. Như Lai ra đời là muốn cho chúng sanh tu để thành Phật, vào chỗ quyền thừa Bồ-tát cũng không. Do nhận chỗ thầm thầm làm Niết-bàn cho nên trải qua nhiều kiếp siêng tu cũng vô ích.
Đến một giai đoạn nào đó chúng ta cũng phải rớt trong những cảnh giới này. Học để biết đây chưa phải là cảnh giới cuối cùng thù thắng. Giống như nhận thân mộng. Chẳng hạn tối mình nằm mộng, thấy cái thân chỗ này chỗ kia, cho là cái thân đó là mình, rồi chạy theo cái thân đó tạo nghiệp, mà quên là cái thân ngay trong giờ phút đó đang nằm trên giường.
Ví như có người nhận giặc làm con, thì tiền tài, vật báu trong nhà bị lấy sạch hết.
Tại sao? Chỗ này sâu một chút. Đây là dụ cho sáu căn bắt cảnh còn có thể nhiếp phục.
Chẳng hạn như thấy cái tượng đẹp thích quá, mình tự nói, sao tu mà còn thích! Căn tiếp xúc với trần dấy niệm mình biết dừng, nhưng mà còn cái ngã tiềm phục trong tàng thức rất khó biện minh, cho nên vật báu công đức trong Như Lai tạng suy hao trong từng niệm.
Tu mà không kiểm soát từng niệm là nó hao hụt lần lần. Cho nên ngồi thiền tu tập chỉ cần một tích tắc không có dấy những niệm ẩn sâu trong tàng thức, thì đó là công đức viên mãn trong giờ ngồi thiền có được. Công đức này không có tướng, âm thầm theo mình, tuy không có tướng nhưng là công đức chân thật. Chúng ta làm những việc hằng ngày để trợ duyên là phước, phước có hình tướng thì có sanh có diệt. Giúp đỡ người nào đó là phước, tự nhiên có người giúp lại. Công đức tuy không có hình tướng nhưng có diệu dụng. Diệu dụng của tự tánh là khi làm các việc Phật sự, có những lúc tưởng bế tắc thì có con đường tươi sáng mở ra.
Do đây mà nghèo hèn khó gom được phúc trí.
Phúc trí không thành tựu, bởi vì trong tàng thức vẫn âm thầm dấy niệm để tạo nghiệp không biết lúc nào.
Vì cớ sao? Vì có ngã ái cũng là ái Niết-bàn. Chế phục gốc ái là tướng Niết-bàn.
Bởi vì mầm mống sanh tử là do thương và ghét, ghét sanh tử ái Niết-bàn, đó là gốc ái. Gốc ái căn bản của phàm phu là thương và ghét, thương người này ghét người kia, còn gốc ái căn bản của người tu tập là ái chỗ tĩnh lặng, ái Niết-bàn chưa dứt. Muốn cầu giải thoát cần phải dứt hai nguồn này: thương và ghét.
Lục Tổ nói:
Tắng ái bất quan tâm, Trường thân lưỡng cước ngọa.
Tức là thương ghét không bận lòng thì nằm dài duỗi chân ngủ. Còn thương thì trăn trở không ngủ được. Ghét cũng trăn trở ngủ không được.
Phật nói:
Ái Niết-bàn cũng là ái căn bản. Nay ghét sanh tử cũng là ghét phần căn bản. Bỏ khổ cầu vui tuy khác nhau nhưng yêu ghét tập khí xưa vẫn còn, cho nên không thành tựu được Phật quả. Do đó Phật dạy, dính mắc vào đó thì khó tu thành Phật đạo.
Tức là dính mắc vào chỗ cảnh giới hành ấm tưởng là sạch niệm rồi, thì khó vượt qua lắm. Giống như người nghèo trúng số độc đắc, bây giờ kêu bỏ tiền độc đắc sao bỏ được.
Trong Kinh Duy Ma Cật, tôn giả Ca Diếp nói: “Thưa Ngài Duy Ma Cật, những người tạo tội ngũ nghịch mà tu thành Phật, còn chúng tôi không bao
giờ thành, bởi vì chúng tôi chặt đứt mầm mống diệu dụng công đức tự tánh”. Bởi vì không tin chỗ đó, không tin thì không đến.
Chế phục gốc ngã ái là tướng Niết-bàn, nghĩa là do chế phục nên ái không khởi. Tướng không khởi tợ như Niết-bàn. Vì tợ như chân thật nên nói như thế.
Nghe nói như thế rồi chặt đứt, không còn rớt trong niệm tịch tĩnh đó nữa thì tợ như vậy nhưng mà không phải. Đợi khi nào ra làm các việc Phật sự, nhiêu ích chúng sanh mà tâm bất động thì đó đúng là Niết-bàn chân thật. Còn không thì giống như đang tưởng tượng, gọi là tương tợ. Thỉ giác, bản giác, tương tợ giác chứ chưa phải là cứu cánh giác. Chẳng hạn như bây giờ, ngồi đây thấy yên là tương tợ thôi, khi ra làm việc với đại chúng: nhổ cỏ, nấu cơm mà tâm bất động, không khởi niệm thì đó gọi là cứu cánh giác. Bản đồ vạch ra rõ hết mà chúng ta tu chưa đến thôi.
Phật dạy tiếp:
Có ghét ngã thì cũng ghét sanh tử, mà chẳng biết ái cũng chính là sanh tử. Chỉ ghét sanh tử thì cũng không được giải thoát.
Ghét sanh tử, ái Niết-bàn thì còn nằm trong thế giới nhị nguyên phân biệt có và không, thương và ghét, sanh tử và Niết-bàn. Vì sao?
Vì ưa thích Niết-bàn thì muốn trừ niệm sanh tử. Tâm
ái đã còn tức là gốc sanh tử mình chưa phá. Gốc ái chính là mầm ghét thì sao mà giải thoát được.
Cho nên, ông tú tài Trương Chuyết làm bài kệ:
Phá trừ phiền não càng thêm bệnh, Hướng đến chân như thảy vẫn tà. Tùy thuận các duyên không quái ngại. Niết bàn Sanh tử, mộng đêm qua.
Tùy thuận các duyên là sáng thấy trên bảng ghi mình đi nấu cơm thì nấu cơm, không khởi niệm: “Sao hôm nay, tôi đang làm cái này mà ông cắt tôi nấu cơm”. Rồi mai đang nấu cơm nhìn trên bảng thấy ghi đi nhổ cỏ, thì nhổ cỏ. Tùy thuận các duyên, tâm không quái ngại thì cái gì mà sanh tử, mà Niết-bàn? Chỉ đặc biệt thiền đốn ngộ mới thấy được chỗ này. Thiền đốn ngộ mới có những cảnh giới để thực nghiệm, chứng nghiệm.
Tâm chúng sanh có những sai biệt nghiệp, mà trong sai biệt nghiệp chắc chắn sẽ có những niệm lậu rỉ chảy, nó phát ra cái miệng mà tu được. Mới tu thì hơi khó chịu, nhưng người tu lâu thì bình thản. Đến một giai đoạn tự nhiên tâm bình thản không có gượng là phải thế này, phải thế kia. Phải là còn gượng. Phật nói, đến mức độ người nhổ nước miếng lên mặt mình mà lấy tay chùi là vẫn còn ngã.
Bồ-tát Di Lặc kêu đệ tử đi làm Phật sự, Ngài hỏi:
- Ông đi làm Phật sự, lỡ người ta nhổ nước miếng lên mặt ông thì sao?
- Con chùi.
- Ông vẫn còn ngã.
- Vậy làm sao?
- Để tự nó khô.
Chúng ta làm chưa được, nhưng đến cảnh giới này là như nhiên, chứ không có phải hay không phải nữa.
Làm sao biết được pháp không có sự giải thoát? Pháp chính là Niết-bàn. Do trước nói, biết ái Niết-bàn là không giải thoát. Nếu ái sanh tử đồng ý là trói buộc. Nay đã ngộ Niết-bàn là pháp tịch diệt, thì tướng nào biết là không được giải thoát?
Tức là đặt câu hỏi: Thấy sanh tử trói buộc, thì bây giờ ngộ Niết-bàn là pháp tịch diệt thanh tịnh, sao lại nói không giải thoát?
Đoạn sau Phật dạy người tu hành nghiệm xét bản thân từ những lời khen chê để nhận biết. Nghĩa là nếu người thật chứng thì vô ngã.
Đã vô ngã thì không còn mừng giận. Nay vì pháp mà mừng giận thì biết pháp đã chứng chẳng là chân thật, chưa dứt sạch được ngã.
Chúng ta nghiệm lại trong cuộc đời, chẳng hạn như mình xấu, mà có người nói đẹp như Lệ Thủy, là
vui. Rồi người ta nói nhìn kỹ thấy như con khỉ, thì tức giận. Khen thì gió thổi lên, chê thì gió nhận xuống, là biết mình chưa sạch ngã. Tự bản thân nghiệm lại là biết. Còn mừng giận, thương ghét là chưa được, khỏi cần hỏi Phật.
Này Thiện nam tử! Các chúng sanh thời mạt pháp kia tu tập Bồ-đề, cho cảnh giới chứng ngộ nhỏ bé của mình là thanh tịnh, nhưng còn chưa đoạn trừ sạch cội gốc của tướng ngã.
Tức là được chút ít cho là đủ.
Phật chỉ ngã tướng ẩn nấp trong tàng thức:
Này Thiện nam tử! Nếu có người khen ngợi pháp ấy thì liền vui mừng muốn cứu giúp. Nếu có người chê bai pháp đã chứng đắc thì liền sanh tâm sân hận.
Ai khen pháp mình tu thì thích muốn giúp đỡ, mà người ta chê thì bực tức. Phật nói là bây giờ nó sâu bên trong, ẩn nấp trong tàng thức, biến hiện đủ cách. Thí dụ, người ta khen đẹp mình bất động, nhưng đến Phật pháp, đang hướng dẫn pháp cho người ta mà người ta chê, mà mình giận là biết mình còn tướng ngã ẩn bên trong. Hoặc là người ta chê pháp này không phải pháp cứu cánh của Phật Tổ, hoặc pháp ngoại đạo mà cũng tức giận, là vẫn còn tướng ngã ẩn nấp trong tàng thức.
Vì sao? Vì cảnh thế gian thuận nghịch thô nặng thì dễ biết, chỉ có pháp môn thật là khó thấy khó biết.
Hồi tôi ở Trúc Lâm, có một số vị chê Sư Ông. Có một số quý thầy lớn lên trình Sư Ông, nói: Để chúng con viết một bài báo giấu tên trình bày. Sư Ông nói: “Mấy chú đừng có viết, người ta chưa có hiểu, nên chưa có thông cảm cho mình”.
Khi Sư Ông qua Mỹ, gọi là chuyến đi bão táp, biểu tình rần rần, nhà báo đến hỏi Sư Ông:
- Những người biểu tình chống đối Hòa thượng, Hòa thượng thấy sao?
Hòa thượng nói:
- Trước mắt tôi không có kẻ thù, chỉ có những người bạn đã thông cảm và chưa thông cảm thôi.
Chỉ có những bậc tu tập, công phu đến đó mới thấy được.
Ở đây, Phật dạy:
Song Niết-bàn chính là pháp rỗng, đâu có hỉ nộ ở khoảng này. Nay nghe khen ngợi chê bai mà sanh tâm hỉ nộ. Hỉ nộ vốn là ngã tướng chẳng phải là Niết-bàn.
Bởi vì tướng tự tánh viên giác không có khen chê, không có mừng giận, hỉ nộ, ái ố, mà trong khi tâm còn lợn gợn tức là ngã tướng nằm ở trong tàng thức. Ở trong chúng thấy bình ổn, mà khi ra làm Phật sự, đi giảng dạy chỗ này, chỗ kia thì đủ chuyện hết, tâm
chỉ cần lệch một chút là nổi sân liền.
Chẳng hạn như đi họp, tôi là Trưởng ban Trị sự ở huyện này, những vị hành chánh nhỏ hơn, mà chỉ vào mặt mình, nói nặng nhẹ, lúc đó chỉ cần nổi sân, đổi sắc mặt là người ta biết mình tu chưa có đến. Khi ra làm Phật sự mới thấy được chỗ này, người ta chê bai, trách móc đủ hết.
Cho nên Hòa thượng Trưởng ban Tri sự tỉnh Bình Thuận nói: “Trụ trì một cái chùa, tu một phần trăm là đủ, làm Phật sự một huyện, một tỉnh là tu gấp 10 lần. Lực dụng phải đủ mới chịu nổi.”
Như thế thì biết tướng ngã chấp giữ kiên cố ẩn nấp trong tạng thức rồi tuôn ra các căn chưa từng gián đoạn.
Này thiện nam tử! Người kia tu đạo mà không dứt trừ ngã tướng nên không thể nào nhập được tánh viên giác thanh tịnh.
Chẳng hạn như, ta đối trước đám đông, đi tướng trang nghiêm đạo mạo giống như thiền sư. Bữa nào đang đứng có đứa nhỏ chạy đụng mình té, thì cái ngã ẩn nấp bên trong tuôn ra các căn, tức giận trợn mắt lên, mặt đỏ bừng bừng. Ẩn nấp trong các căn, chờ cơ hội tuôn ra để tạo nghiệp. Cái ngã này lạ lắm, bình thường không thấy. Chưa diệt tận được cái ngã cho nên các Ngài nói ngủ không yên, nó vẫn còn thầm thầm, vẫn còn một cái gì đó, đủ nhân đủ duyên tuôn ra.
Tôi thấy học Kinh Viên Giác xong đủ tu rồi. Tu một thời gian, tưởng xong việc nhưng ngã vẫn còn ẩn nấp, gọi là câu sanh ngã chấp, rất là kiên cố.
Tu một thời gian rất dài, tưởng xong rồi nhưng khi đối duyên xúc cảnh, thấy vẫn còn ngã như ngày xưa. Chẳng hạn bình thường không thấy lá cây, bỗng gió thổi lên, lá cây rụng rất nhiều, bởi vì lá cây khô ẩn trong những cành cây rất kín.
Thì đây cũng vậy, những hạt giống nằm sâu ở trong. Cho nên, những vị kiến tánh ngộ đạo rồi, người ta ẩn ở trong chúng, hoặc trong rừng sâu núi thẳm, tu một thời gian mới bắt đầu xuống núi làm các việc Phật sự, làm các việc thiện pháp nhiêu ích chúng sanh, để xem thử mình còn cái tâm ngô ngã hay không. Nếu còn, thì các Ngài tu tiếp.
Chúng ta ở yên trong chúng, rồi khi ra làm việc Phật sự, thì mới có một niềm tịnh tín, hoặc là không có tâm ngã mạn. Khi ra làm việc, thấy nhọc nhằn, mệt mỏi, mà tâm vẫn còn kiên định, thì biết rằng, giống như Lục Tổ nói: “Người mà kiến tánh, giữa trận cũng thấy tánh”, tức là vẫn an yên. Làm các việc Phật sự mà không phiền não, không cấu nhiễm, là biết đã thực hành đúng.
“Tam tâm vị liễu”, tức là ba tâm chưa thông, chưa tột, thì “chích thủy nan tiêu”, tức là một giọt nước cũng không tiêu. Một niệm tròn sáng thì vạn
vàng ròng tiêu một lúc cũng hết. Như vậy, tam tâm ở đây là gì? Ngày xưa, chúng tôi đi qua các Thiền viện của Ngài Tinh Vân, trong nhà trù đều ghi câu này. Lúc đó, chúng tôi đi cũng có một số quý Thầy, một số quý Phật tử, hỏi tam tâm là gì, ai cũng nói tam tâm là tâm quá khứ, tâm hiện tại, tâm vị lai. Hồi xưa, tôi cũng tưởng vậy. Nhưng khi giảng Đại Luật Nghi, có phần công hạnh của các vị Bồ-tát thì mới giật mình là không phải. Vậy tam tâm đó là tâm gì?
Ba tâm phải tột:
- Trực tâm là làm các việc Phật sự không rời bản thể.
- Thâm tâm là phát nguyện tu đến thành Phật.
- Bồ-đề tâm còn gọi là đại bi tâm, nguyện lực độ hết tất cả chúng sanh thành Phật, lúc đó mới vui nhập Niết-bàn. Nếu còn một chúng sanh nào chưa thành Phật, nguyện ở mãi cõi giới ta-bà này.
Ba tâm này tột rồi thì ngàn vạn vàng ròng cũng tiêu. Ba tâm này chưa tột, chưa thấu thì giọt nước cũng không tiêu. Cho nên, tu phải làm các việc Phật sự, phải hòa hợp, hòa đồng, gọi là đồng sự nhiếp, lợi hành đồng sự thì mới thấu tột được ba tâm này. Tu tập không phải một sớm một chiều, nó trải dài, trong nhà thiền nói chừng nào thành Phật thì mới biết là xong việc. Chưa xong thì vẫn tiếp tục tu.
Tinh thần của nhà thiền là chỉ đi mà không cần đến. Bởi vì cầu đến, tức là có mong cầu, có cầu là có khổ. Cho nên chỉ đi thôi, tức là chỉ có con đường thực hành chứ không có một niệm tác ý đến, mà đi tức là đến. Nhà thiền đặc biệt, vậy nên tu, công phu trải dài trong sanh tử không có chán. Nhờ đối duyên xúc cảnh, nghiệm biết nội tâm ngã vẫn còn, tiếp tục tu tập, tiếp tục chuyển hóa. Cho nên, đời tu chúng ta còn dài lắm.
Gần đây có một số người nghĩ: Học ba năm, hoặc năm năm, lấy một cái bằng rồi đứng ra làm chủ một phương. Mà như thế thì không gạn lọc được. Khi còn ở trong chúng, thì mới có sức gia công tu tập, còn khi ra gánh Phật sự lớn, nếu ngày xưa không có dụng công mạnh thì rất dễ bị trần cảnh lôi cuốn. Cho nên, trong nhà thiền nói, phải trưởng dưỡng ở trong chúng lâu, càng lâu công đức càng sâu dày. Công đức sâu dày thì làm tất cả các việc không phải phước đức nữa mà đều là công đức.
Công đức ở chỗ nào? Có nghĩa là ở trên bản thể tác ý, làm tất cả các việc từ diệu dụng, ngay chỗ như lý mà tác ý, thì đây là công đức. Tôi đã từng nói, bình ắc quy nếu không sạc đủ điện thì không có ánh sáng, hoặc có cũng yếu ớt.
Cho nên, dồn nội lực ở trong chúng tu tập, khi nào đủ lực làm nhiêu ích cho chúng sanh, lợi ích
hơn là tu mới có 3 năm hoặc 5 – 6 năm ra nhận chùa làm Phật sự, thì giáo hóa cũng không bao nhiêu mà bị trần cảnh lôi, vì hạt giống vẫn còn ẩn nấp trong tàng thức.
Hãy nhớ trong tâm mình có hạt giống thiện hoặc ác, đủ duyên gặp môi trường tốt thì hạt giống thiện sống dậy.
Ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng trao pháp cho Ngài Mã Tổ Đạo Nhất:
Đất tâm chứa các giống, Gặp ướt liền nảy mầm.
Nếu gặp môi trường tốt, gặp cơ duyên tốt thì phát huy lên, hạt giống thiện càng tăng trưởng. Còn nếu không gặp môi trường tốt, mà gặp ác tri thức dẫn đường thì hạt giống ác nảy mầm.
Bởi vì có tương duyên giữa thiện và ác đắp đổi, cho nên đoạn sau Ngài nói:
Hoa tam muội vô tướng, Nào hoại lại nào thành?
Trong bản thể tam muội vô tướng đó, thì nào hoại lại nào thành? Ở trên hạt giống đó có đắp đổi, hạt giống thiện và ác tương duyên, đắp đổi. Đắp đổi tức là có sanh diệt.
Có những người sanh ra đời, tự nhiên thích bố
thí, thích cúng dường là vì họ có những hạt giống trong đời quá khứ thích bố thí, thích cúng dường. Có những người có hạt giống thích tu thiền, thích ngồi thiền, thích chiêm nghiệm giáo pháp, thích để tâm tĩnh lặng, an ổn.
Có một vị từng đi nhiều nước trên thế giới, từng đến các thiền viện, chùa chiền, khi đến đây ông nói ông dừng bước và phát nguyện quy y. Tức là gặp nhân duyên, gặp môi trường, hạt giống sống lại. Gặp dòng nước pháp tưới tẩm vào thì hạt giống bắt đầu lớn mạnh lên.
Hạt giống ẩn nấp trong tàng thức, chẳng hạn khi có ai khen, thì hạt giống thích thú, hạt giống là cái ngã bắt đầu tuôn ra các căn. Còn khi người ta chê thì cái giận dữ, bực tức, khó chịu, cũng hiện lên các căn. Người biết tu tập thì biết mình vẫn còn, nên lui bước tu tiếp.
Khi tuôn ra các căn, chưa từng gián đoạn, thì đây chính là hiện hành, hễ gặp cảnh thì phát động, nối tiếp, lưu chuyển, luân lưu từ niệm này đến niệm khác, từ cõi giới này đến cõi giới khác.
Này Thiện nam tử! Nếu biết có ngã không, thấy không có người hủy báng ta, nhưng vẫn thấy có ngã thuyết pháp, thì cũng chưa đoạn dứt ngã. Chúng sanh, thọ mạng cũng như vậy.
Chúng ta sợ khởi tâm mừng, giận khi nghe người khác khen chê là còn có ngã nên nhẫn chịu, và khi không giận, không vui, cho đó là vô ngã. Bởi vì, khi nghe pháp, được học là chỉ hiểu trên văn tự, nếu có người chọc giận, tự nói là mình vô ngã, nhưng thật ra đang ráng nhịn.
Tức là thầm bên trong: “Mình là người lớn mà sao giận, giận trong buổi họp là không được”, cho nên ráng. Còn người ở trong trạng thái “tánh không” thì khen chê vào không được.
Tôn giả Xá Lợi Phất lúc nào cũng trú trong Kim Cang Định, trong tánh không. Trên đường đi khất thực, có ông Bà La Môn đánh Ngài, Ngài không cảm thấy đau. Không cảm thấy đau cho nên giận không có, bởi nó tác động đến cái đau thì mới khởi niệm giận. Chúng ta tu thời gian còn dài lắm mới được, thì người ta chửi, lời nói đó không đến được.
Những bậc A-la-hán, họ trú trong cảnh giới đó, cung tên (ví dụ khen chê) bắn vào không được, có bức tường bảo bọc. Tu, tự nó phát ra cái dụng, lạ lắm. Cho nên tại sao có những người họ tu lâu rồi thì chửi mắng hoặc làm gì người ta cũng bình thản, mà bình thản thật sự, bởi vì người ta trú trong trạng thái này.
Còn chúng ta thì ráng nhịn, mà nhịn một hồi cái mặt tím ngắt, cái môi giựt giựt là biết mình nhẫn,
chịu, bởi chỉ hiểu trên cái lý. Đó gọi là khí sân, cái khí ẩn bên trong, theo dịch lý. Những người này rất dễ bị bệnh tim.
Thiền sư Đạo Huệ nói: “Ông sân thì ông sân đi, khóc thì khóc đi, chứ ông sợ cái gì mà ông đè nén? Có sao ông cứ tuôn ra rồi từ từ ông chuyển hóa”.
Là khi đó, sợ khởi tâm mừng hoặc giận thì người xung quanh nói: “Ông tu mà còn cái ngã”, nên ráng nhẫn chịu, liền cho đó là vô ngã, nên đi đâu cũng kể: “Hôm bữa bà kia bả chửi mà tôi bình thản”, là thầm bên trong thấy.
Nếu thấy kia là người phỉ báng ta, bị người ấy phỉ báng mà không giận thì đây cũng còn là ngã.
Thấy người ta chửi mắng, thấy đâu có giận gì đâu, là vẫn còn ngã ẩn bên trong.
Này Thiện nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp, nói bệnh là Pháp nên thật đáng thương xót. Dù siêng năng tinh tiến tu hành cũng chỉ tăng thêm bệnh, nên không thể nào thể nhập được tánh viên giác.
Tu mà bốn tướng vẫn còn, đều gọi là bệnh. Vì cho bệnh là Pháp nên Phật nói là đáng thương xót. Rồi mang cái bệnh mà tu hành thì càng tăng bệnh. Nghĩa là còn tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sanh, tướng thọ mạng, cho đây là pháp, ôm cái tâm niệm tu, càng tu thì ngã càng tăng trưởng mạnh lên.
Cho nên, các Ngài nói phải ở trong bản thể mà tu ra. Còn ở trên căn bản của vô minh, trên ngã tướng tu thì càng tu càng thêm bệnh. Cho nên một ngày tu, cố gắng có tu là phải có tiến. Muốn được như thế thì phải ráng tu tập như thế nào đó để chuyển hóa những hạt giống. Tùy theo tập nghiệp, biết mình có những hạt giống nào, phải gạn nó ra từng bước, từng bước.
Ngược lại, nếu hợp với lý thật mà tu thì tăng thêm công đức.
Người kiến tánh khởi tu người ta tu từ bản thể, từ pháp thân thanh tịnh tịch tĩnh, nói cách khác là từ tánh viên giác tu ra. Một ngày người ta tu bằng người thường tu một trăm năm. Đó gọi là công đức, là thật đức.
Ở đây, Phật dụ:
Dụ như các loại thảo dược có vị ngọt, có vị đắng, được đất và nước thấm tẩm thì đều lớn mạnh lên.
Chất đắng dụ cho tướng ngã là gốc, vị ngọt dụ cho tịnh giác là tâm viên giác, cũng là cái gốc, là nền tảng. Còn đất và nước dụ cho muôn hạnh lành tưới tẩm. Làm các việc hằng ngày, chẻ củi, nấu cơm, làm tất cả các việc thiện nghiệp cho Đại chúng là tưới tẩm, từ đó muôn hạnh lập bày.
Tổ Quy Sơn nói:
Thật tế lý địa bất thọ nhất trần,
Vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp.
Chỗ lý thật tế là không có thọ một mảy bụi, là cửa muôn hạnh để sau này làm các việc Phật sự nhiêu ích chúng sanh. Bây giờ, gọi là tích góp, mà tích góp phải đúng chỗ, đúng pháp, chứ không phải tích góp ở trên bản ngã.
Làm việc gì đó trên bản ngã thì nó khác, mà làm việc gì đó ở trong bản thể lưu xuất, giống như Lục Tổ nói: “Tự tánh thường sanh trí huệ tức là phước điền”, thì đó gọi là tăng trưởng nhiêu ích các công hạnh.
Này Thiện nam tử! Chúng sanh đời sau không rõ bốn tướng, mà lại dùng kiến giải và chỗ sở hành của Như Lai để tu tập thì trọn không thể thành tựu.
Có nghĩa là chưa thấu tột được bốn tướng “ngã, nhơn, chúng sanh, thọ mạng” mà dùng kiến giải của Phật, kiến giải của Tổ, cũng nói vô ngã, vô thường, nói đủ hết y như Phật nói, mà người xưa nói là mượn đàm dãi của Tổ sư, cho đó là của mình. Cho nên hằng ngày sám hối: “Bàn thiền tợ Thánh, trước cảnh như ngu. Dù ở cửa không, chưa thành vô ngã”.
Kinh Viên Giác là kinh đốn giáo thượng thừa, chỉ thẳng vào chơn tâm của mỗi chúng sanh, mình có bệnh gì phải lột ra hết.
Khi Đức Phật nói pháp môn liễu nghĩa xứng với lý, đều nói tâm và cảnh vốn không, hoặc nghiệp là vốn tịnh, phàm thánh không có khác, nhân quả bình đẳng. Nếu căn cứ theo lý Phật thì là đúng như vậy.
Nhưng căn cứ trên vọng nghiệp thì không đúng. Ngày xưa, có một số quý thầy, trong đó có tôi được Sư Ông cử đi nước ngoài. Tôi thưa Sư Ông là xưa giờ chúng con có giảng dạy gì đâu mà đi nước ngoài. Sư Ông nói: “Mình tu, có sao mình nói vậy. Mấy chú học kinh điển, nội điển mười mấy năm rồi. Bây giờ tu tới đâu hướng dẫn người ta tới đó, đâu cần văn tự trau chuốt.” Nhiều khi nói với những từ ngữ, văn tự trau chuốt mà thật ra nó không có dính dáng gì hết, vì ở trên văn tự, kiến giải, chứ không phải ở chỗ đã đi ngang qua, có chút ít công phu.
Ngài Hám Sơn nói:
Chúng sanh si mê điên đảo đã lâu, tập khí chủng tử sâu dầy, dẫu tin hiểu Pháp môn này nhưng thọ dụng hiện tiền xưa nay vẫn tùy theo vọng niệm.
Chúng ta thọ dụng pháp môn này quá tuyệt, quá hay, chỉ thẳng về chơn tâm, Phật tánh. Nhưng từ xưa đến giờ, mình toàn ở trên vọng niệm. Tự nghiệm lại trong đời sống của bản thân là biết. Còn cái tâm nhỏ nhặt, tâm ích kỷ, xan tham, tật đố, là ở trên cái vọng nghiệp, bị vọng nghiệp dẫn, lôi đi.
Pháp tu này rất thực tế, thù thắng. Ở trong đại chúng, kiểm soát từng hành động, từng lời nói, từng cách sống thì biết mình còn tập khí sâu hay cạn. Tập khí còn sâu dầy là phải gia công nhiều. Cho nên, ở trong chúng, các Ngài nói là phải im lặng như bậc thánh. Ai cũng im lặng như bậc thánh thì Đức Phật nói là hội chúng thanh tịnh, hội chúng nhu nhuyến, dễ chỉ dạy, uốn nắn. Hội chúng nào mà tâm so đo, tính toán, ước lượng thì Phật nói hội chúng này không được nhu nhuyến, khó chỉ dạy.
Pháp tu này rất là thực tế, thù thắng, nhưng do tập khí chủng tử sâu dày quá, dẫu tin hiểu pháp môn này nhưng thọ dụng hiện tiền không ở trong bản thể, mà luôn ở trong nghiệp tập thọ dụng, đụng tới là trợn mắt, múa tay múa chân. Khi thả rông tập khí như vậy, thì cũng giống như ngày nào không khác. Chỉ khác là đầu tròn hơn người ta một chút, áo khác hơn một chút nhưng tập khí, tập nghiệp vẫn như xưa. Cho nên phải bào mòn, bào mòn từng chút.
Chỉ do tâm thức phân biệt, hiểu ngôn giáo vô ngại của Phật rồi cho rằng ý Phật cũng chỉ như thế.
Có người cho rằng giáo pháp của Phật chỉ bấy nhiêu. Lấy được cái bằng, ví dụ như trung cấp, cử nhân, thạc sĩ, hoặc bằng tiến sĩ Phật học xong rồi, thôi không tu nữa. Nên nhớ rằng, dầu cho học lên bằng Tiến sĩ Phật học, là học trên văn tự, chỉ là nắm
lá trong tay của Đức Phật, mà mục đích Đức Phật ra đời là chỉ chúng ta phải khám phá ra lá ở trong rừng, là dụng của Phật tánh, phải tu như thế nào để chứng nghiệm mà thâm nhập.
Phật mong muốn chúng ta thể nghiệm, chứng nhập vào giáo pháp chứ không phải hiểu trên ngôn ngữ văn tự. Tôi dạy ở trường Thiền, tôi nói không phải học nhiêu đó là xong, học để có nền tảng, có căn bản, nhưng phải dụng công suốt cả cuộc đời chứ không phải là chuyện đơn thuần.
Vì tâm đã là niệm, nên chẳng biết niệm, chẳng biết lặng lẽ dung thông chứng nhập khác với tín tâm tùy nơi tướng văn tự.
Hiểu trên nghĩa văn tự là tùy theo tướng hiểu nghĩa thôi, mà tâm phải dung thông như thế nào. Tâm dung thông tự nhiên lìa đối đãi, có cách sống khác.
Cho nên nói:
Chỉ nhận ngôn từ bình đẳng của Phật mà không thể đoạn tận phiền não cấu nhiễm để mà cầu chứng ngộ. Kinh Hoa Nghiêm nói: Như người nghèo đếm châu báu của người khác.
Chỉ nhận trên ngôn từ bình đẳng của Phật thôi, chẳng hạn như nói, “phiền não tức Bồ-đề, sanh tử tức Niết-bàn”, mà không lo đoạn phiền não, không lo chuyển hóa phiền não, đó chỉ là lời của Phật, lời của Tổ mà thôi.
Chúng ta mượn lời Phật, lời Tổ mà không chịu lìa bỏ trần cấu của phiền não, cho nên nói, giống như người nghèo đếm châu báu. Chẳng hạn sáng nay ra ngân hàng, thấy nhân viên đếm rất nhiều tiền mà chiều về không có đồng nào hết, vì là tiền của người ta. Trên văn tự chữ nghĩa là của Phật, của Tổ, vậy mình là chỗ nào?
Trong thiền thoại kể câu chuyện:
Một hôm Đại sư Liên Trì viết quyển “Thập Thiện Hạnh”. Có một vị Tăng du phương đến nói:
- Thiền là không một việc để khen, không một vật để chê, bây giờ Thầy viết sách này có dụng ý gì?
Có người thấy người ta làm từ thiện, in kinh, phóng sanh, rồi nói tu thiền đâu có làm mấy việc này. Hiểu trên ngôn từ của Phật là, “xưa nay không một vật”, mà ở trong hông ngực đầy vật, đầy ắp phiền não, đụng chút là nổi sân si lên.
Đại sư Liên Trì liền nói:
- Ngũ uẩn trói buộc mãi không dừng, tứ đại đổi thay không có gì hơn. Cớ sao ông nói không có thiện và ác?
Tăng du phương chẳng phục, nói:
- Tứ đại vốn không, ngũ uẩn không có các pháp thiện ác, rốt cuộc xưa nay không có thiền mà cũng không có Phật gì hết.
Đại sư Liên Trì nói:
- Ông không phải là người chân chánh tu học. Ngoài thiện, ác này còn bàn luận việc gì nữa.
Tăng du phương lòng sân hận, tức giận mặt mày tái mét. Đại sư chậm rãi nói:
- Sao ông không lau nhơ bẩn trên mặt đi?
Nói là năm uẩn vốn không, tứ đại không có, thiện ác không có, không có thiền, không có Phật, mà Đại sư nói, “ông không phải là người chân chánh tu học” là nổi sân liền!
Có câu chuyện:
Một hôm, Thiền sư Triệu Châu vào một tu viện. Lúc đó, Ngài đã hơn trăm tuổi. Thấy ông tú tài ngồi đó, Ngài nói:
- Gã này tu học mà không biết lễ phép gì hết. Thấy vị Trưởng lão đi ngang qua mà không đứng dậy lễ.
Ông tú tài nói:
- Hòa thượng! Con ngồi cũng như đứng.
Ý ông nói con ngồi lễ cũng như đứng lễ, Hoà Thượng chấp nhất làm chi?
Sẵn cây gậy, Ngài phang lên đầu ông tú tài cái bốp.
Ổng nổi sân lên:
- Hòa thượng sao đánh con? Thiền sư nói:
- Tôi đánh ông cũng như không đánh!
Cho nên phải gạn lọc lại hết, coi thử mình còn cái gì. Thiền đúng là không một vật, đó là trên bản thể. Các Ngài nói: “tu chứng tức chẳng không, mà nhiễm ô không thể được”, chỗ đó một vật cũng không có mà muôn hạnh lành các Ngài làm hết.
Trong Kinh Duy Ma Cật nói, muốn trang nghiêm cõi Phật thì phải nhiêu ích chúng sanh. Hoa sen không thể nào mọc trên hư không. Bùn lầy không ở trong hư không mà ở trên đất liền. Muốn trang nghiêm cõi Phật thì phải bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, phương tiện… Các Ngài lìa tất cả các pháp mà dung thông tất cả các pháp. Các Ngài biểu hiện giống như phàm phu mà không lìa Phật đạo.
Trong hội Thiền sư Bạch Ẩn có ông tăng, bữa nọ ông lấy kinh Phật xé ra chùi đít. Đại chúng hoảng hồn nói:
- Ông làm vậy, ông tội chết! Ổng nói:
- Kinh Phật chùi đít Phật có gì đâu!
Đó là thiền bệnh.
Thiền sư Bạch Ẩn kêu ông lên nói:
- Ông phải nhớ kỹ, nếu thật là đít Phật thì Kinh không có giấy mực.
Từ đó về sau không thấy ông làm chuyện đó nữa.
Có câu chuyện:
Có ông cư sĩ đến gặp Ngài Trí Tạng Tây Đường, ông hỏi:
- Có thiên đường không? – Có.
- Có địa ngục không? – Có.
- Có nhân không? – Có.
- Có quả không? – Có.
- Có sanh tử không? – Có.
- Có Niết- bàn không? – Có. Ông cư sĩ nói:
- Hòa thượng có lầm không?
- Trước khi gặp tôi, ông có gặp ai không?
- Con gặp Hòa thượng Trường Sa Cảnh Sầm. Con hỏi có địa ngục không, Hòa thượng nói không. Hỏi có Niết bàn, có nhân quả không, cái gì Hòa thượng cũng nói không hết.
Ngài Trí Tạng Tây Đường hỏi:
- Ông có vợ không? – Dạ có.
- Ông có con không? – Dạ có.
- Ông có sự nghiệp không? – Dạ có.
- Còn Ngài Cảnh Sầm có vợ không? – Dạ không.
- Có con không? – Dạ không.
- Ngài có sự nghiệp gì không? – Dạ không.
- Sở dĩ Hòa thượng nói không, không địa ngục, không thiên đường, không gì hết đó là Ngài ở trong bản thể không. Còn ông thì cái gì cũng có, sum la vạn tượng đều có hết.
Cho nên tại sao tu thiền vẫn sám hối, tụng kinh,
vẫn làm các việc thiện pháp nhiêu ích cho chúng sanh, mà trong tinh thần nhà thiền là “dậy mòi mà không thành sóng”, tức là có những lúc khởi niệm nhưng mà không thành nghiệp.
Hiểu được ý Phật, ý Tổ dạy, làm thấy nhẹ nhàng, không biết mệt mỏi. Ở trong bản thể làm việc, dụng công nhẹ gấp trăm ngàn lần, còn làm ở trên tướng ngã là sanh phiền não. Chẳng hạn như năm người được phân công nhổ cỏ, mà bốn người kia không ra làm, chỉ có một mình làm. Nếu ở trên bản thể làm thì không có gì hết, còn làm trên tướng ngã thì: “Ủa, tại sao một mình tôi làm, mà mấy người kia không chịu làm!”. Ở trên bản thể thì làm chỉ biết làm thôi, gọi là tiếp nối mạng mạch Phật pháp, tiếp nối mạng mạch Tam Bảo từ đời này qua đời khác. Dụng công không phải một ngày, một giờ, một buổi.
Ngài Milarepa có đệ tử lớn, đệ tử nói:
- Thầy ơi, thầy tu đầy đủ công hạnh, diệu dụng, thầy chỉ cho con bí quyết để con tu cho
- Không có bí quyết.
Đệ tử năn nỉ quá, Ngài nói:
- Ông xuống núi đi rồi tôi chỉ cho ông.
Ông đệ tử đi xuống, Ngài ngoắc lại, vén quần lên chỉ vào mông Ngài nói:
- Bí quyết của tôi đây.
Ngài ngồi thiền không phải trên bồ đoàn, mà
ngồi trên đá, da mông dầy lên. Ngài ngồi ngày đêm, người em đem cơm, khoai lang cúng dường, Ngài để mốc meo hết. Tu cỡ vậy chớ không phải đơn giản.
Phật dạy:
Hoặc có chúng sanh chưa được mà nói được, chưa chứng mà nói chứng, thấy người hơn mình liền sanh tâm tật đố. Do chúng sanh kia chưa đoạn dứt được ái ngã, cho nên không thể vào được tánh viên giác thanh tịnh.
Hạnh nguyện của Bồ-tát là “nguyện độ tất cả chúng sanh”. Chúng ta có nguyện lực là nguyện độ tất cả chúng sanh thành Phật, mà chúng sanh ở đâu? Ở gần bên mình. Chúng sanh gần bên mà mình không chịu độ họ thành Phật. Ngôn từ với hành động không đi đôi, bởi vì nguyện: “Đem công đức này hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo”. Mà chúng sanh gần nhất là chúng sanh huynh đệ, tại sao cứ làm khó làm dễ huynh đệ, khó dễ với những người xung quanh, những người đồng chí hướng với mình? Cho nên, ở đây, Phật nói, thấy người ta hơn mình, sanh tâm tật đố, ích kỷ, thì đó là chưa đoạn ái ngã.
Chưa chứng nói chứng, chưa ngộ nói ngộ, tức gọi là tăng thượng mạn, phạm vào cái giới gọi là đại vọng ngữ trong bốn giới trọng (giới nói dối) của Tỳ-kheo.
Trong Kinh Lăng Nghiêm nói:
Tâm ấy đứng lặng hiện ra sáng suốt. Tâm quang phát minh khắp cả mười phương thành sắc Diêm Phù Đàn, tất cả các loài hóa làm Như Lai. Khi ấy, bỗng thấy Phật Tỳ Lô Giá Na ngồi trên đài Thiên Quang, ngàn đức Phật vây quanh, trăm ức cõi nước cùng với hoa sen đồng thời hiện ra. Đây là ý thức được thấm nhiễm bởi sự linh ngộ do ánh sáng từ trong tâm sáng ra, soi các thế giới mà tạm thời được như thế, không phải là chứng bậc Thánh. Chẳng khởi tâm cho là chứng Thánh, gọi là cảnh giới tốt; nếu cho là chứng Thánh thì mắc vào lỗi tà kiến.
Khi ngồi tu tập một thời gian sâu dài, bắt đầu hiện các tướng. Hiện ra Phật Tỳ Lô Giá Na, tứ diện đều có bốn vị Phật và một ngàn cánh hoa sen.
Ngày xưa, tôi ở Thường Chiếu, có ông cư sĩ kể, ông có người Bác, người này hiểu được chút ít thiền nên ngã mạn. Bữa đó, tối ông đang ngồi thiền thì gặp cảnh giới này hiện ra. Ông thấy các vị đại Bồ-tát thỉnh ông lên pháp tòa hoa sen để thuyết pháp. Ông đi, vừa định bước lên tòa thì ngã từ trên gác xuống, bại liệt, nằm một chỗ.
Hoặc cho là chứng Thánh quả.
Nhược tác thánh giải, Tức thọ quần tà.
Bất khởi Thánh tâm, Tức thiện cảnh giới.
Do dụng công lâu ngày miên mật, bắt đầu tâm
ứng ra các hiện tượng đó, chứ không phải là chứng Thánh. Cho là chứng Thánh, đây là tà kiến, còn không cho là chứng Thánh tức là cảnh giới tốt, cứ đi qua, đi qua, hiện tất cả cảnh gì cũng đi qua hết.
Trong Kinh Lăng Nghiêm nói:
Tôi bảo các vị Bồ-tát và A-la-hán, sau khi tôi diệt độ, ứng hiện thân sanh trong đời mạt pháp, hiện ra các hình tướng khác nhau, để độ những chúng sanh còn trong vòng luân hồi.
Giống như Ngài Hàn Sơn, Ngài Thập Đắc, Ngài Phong Can. Ngài Hàn Sơn là Bồ-tát Văn Thù. Ngài Thập Đắc là Bồ-tát Phổ Hiền. Còn Ngài Phong Can là ứng hiện Đức Phật A Di Đà xuống cuộc đời này để độ sanh. Khi có người biết, các Ngài ẩn trốn liền.
Hoặc là hiện làm Sa-môn, bạch y cư sĩ, vua chúa, quan lại, đồng nam, đồng nữ, như vậy cho đến người dâm nữ, người quả phụ, kẻ gian dối, trộm cướp, người hàng thịt, buôn bán, cùng làm một việc với họ để tán thán Phật thừa, khiến cho thân tâm của họ được vào Tam-ma-địa.
Gọi là ‘đồng sự nhiếp’, đó là những hạnh nguyện lớn, mà khi biết các Ngài là đại Bồ-tát thì các Ngài tịch liền.
Thiền sư Đặng Ẩn Phong, trong lúc hai bên giao tranh, Ngài cầm tích trượng ném lên hư không biến thành con rồng, phi hành lên. Thấy sức thần biến của Ngài, hai
bên mới ngưng, không giao tranh nữa.
Biết đây là phạm vào giới điều của Phật, Ngài vào trong hang Kim Cang họp chúng lại. Ngài hỏi:
- Các ông xưa giờ có thấy ai đứng tịch chưa?
- Thấy.
- Ngồi tịch thấy chưa?
- Thấy.
- Nằm tịch?
- Thấy.
- Có ai lộn ngược rồi tịch?
- Chưa thấy.
Ngài lộn ngược lên rồi tịch. Lạ một điều là khi Ngài lộn ngược, cái y nó không rớt, xô Ngài cách mấy cũng không ngã. Ngài có người em cũng đi xuất gia, đến nói:
- Sư huynh còn sống không giữ giới hạnh của Phật (tức là hiện thần thông), rồi bây giờ còn mê hoặc quần chúng nữa.
Nói rồi bà đẩy Ngài ngã xuống.
Bà khai thị đúng chỗ.
Các Ngài không cho người ta biết, còn bây giờ có người xưng Phật!
Có vị này ở bên Campuchia, ông để hình ông ngồi trên hoa sen, dặn là từ đây ngày sanh của ông không gọi sinh nhật mà gọi là Đản sanh, rồi ông vẽ
vầng hào quang của ông. Ông nói, ông có đủ ba thân: pháp thân, hóa thân, ứng hóa thân. Vậy mà người ta tin theo rất đông.
Gặp nhân duyên như thế là chìm trong vòng luân hồi. Cho nên, chúng ta phải phát nguyện ra đời gặp được thiện hữu tri thức, chỉ dạy cho đúng pháp để tu, chuyển hóa.
Nhưng trọn không nói thật là Bồ-tát, là A-la-hán, làm tiết lộ mật nhân của Phật, khinh thường nói với người chưa học. Chỉ trừ khi lâm chung, âm thầm có những lời di chúc. Làm sao người đó còn có lừa gạt chúng sanh để mà thành đại vọng ngữ?
Các Ngài đi đều để lại di chúc.
Trong Thiền thoại, Hòa thượng Tuyên Hóa kể câu chuyện:
Đại sư Đỗ Thuận là Tổ tông Hoa Nghiêm, có ông đệ tử, một hôm nói:
- Bạch Hòa thượng, con ở gần Hòa thượng mười năm rồi mà con không học được gì hết. Con cũng không thấy Hòa thượng làm việc gì để con học. Mà nhiều khi con khởi niệm, sao Hòa thượng giống con quá, vẫn ăn vẫn uống bình thường.
Tôi kể chuyện này có thật. Ngày xưa, ông Tri sự cắt tôi với một vị thầy ở An Giang sửa nhà vệ sinh của Sư Ông. Ông đi gần tôi, ông nói: “Thầy Định, bộ Hòa
thượng còn đi vệ sinh nữa hả?” Mà ông hỏi thật tình, ông tưởng cảnh giới Hòa thượng chắc không cần đi vệ sinh. Đại chúng xem trong Kinh bốn Bộ A-hàm, có nhà vệ sinh của Đức Phật, Ngài vẫn sinh hoạt bình thường, nhưng khác hơn chúng ta nhiều lắm.
Ông Thầy hỏi:
- Vậy bây giờ ông tính đi đâu? Ông đệ tử:
- Chỉ có một con đường duy nhất là con lên Ngũ Đài Sơn đảnh lễ Bồ-tát Văn Thù xin chút ít trí huệ của Ngài thì may ra con mới tiến bộ.
Ông Thầy nói:
- Ông cứ đi đi. Nhưng khi lên Ngũ Đài Sơn, ông nhớ đi qua hai thôn làng, thứ nhất là ông trao phong thư này cho cô Thanh Lương, thứ hai trao phong thư này cho Trư Lão Mẫu giúp giùm tôi.
Khi ông đệ tử của Ngài Đỗ Thuận đi đến thôn làng thứ nhất, ông hỏi vùng này có cô nào tên là Thanh Lương hay không, người làng nói:
- Có một cô tên Thanh Lương, mà thầy đi tu tìm người đó làm chi, cô đó là kỹ nữ nổi tiếng ở vùng này.
Ông đệ tử đến kỹ viện, thắc mắc tại sao thầy mình lại quen cô kỹ nữ này.
Nhận phong thư, cô Thanh Lương đọc xong nói: “Tốt! Tốt! Ông đi thì Ta cũng đi theo ông, nói xong cô ngồi tịch”.
Ông thị giả nghe như vậy ngạc nhiên quá, mở thư ra xem, mới biết cô Thanh Lương là Bồ-tát Quán Thế Âm, hiện thân là kỹ nữ độ sanh. Trong thư viết: “Quán Thế Âm, tôi đã xong việc ở đây, vì ông đệ tử của tôi biết rồi, giờ tôi sẽ đi, Ngài đi với tôi không?”
Rồi ông cầm bức thư thứ hai tìm Trư Lão Mẫu. Đến thôn làng đó, người ta nói ở đây không có ai là Trư Lão Mẫu. Bỗng nghe trong chuồng heo có tiếng con heo nái nói:
- Tôi đây chứ đâu. Mà ông tìm chi?
Ổng đệ tử sợ hãi liệng bức thư xuống. Con heo nái đọc, rồi nó vạch cái miệng nói: “Ừ! Việc ông ấy đã xong thì tôi cũng đi theo ông”. Nói xong heo nái ngồi một chỗ tịch.
Ông đệ tử xem bức thư thì mới biết đây là Phổ Hiền Bồ-tát thị hiện thành con heo nái.
Khi lên đến Ngũ Đài Sơn, ông gặp một ông già. Ông già hỏi:
- Ông đi lên đây làm gì?
- Tôi lên đây mục đích duy nhất là tìm Bồ-tát Văn Thù xin một ít trí huệ.
Ông già nói:
- Cỡ như tôi, gặp Thầy ông, tôi còn đảnh lễ, tại sao ông không chịu đảnh lễ cho có phước?
Ông đệ tử ngạc nhiên hỏi:
- Thầy tôi là gì?
- Thầy ông là Đức Phật A Di Đà tái sanh đó. Ông chạy
nhanh về đảnh lễ đi.
Ổng lật đật chạy về, thấy thầy mình ngồi trước chánh điện tịch.
Khi về tới thì thầy ông đã tịch mấy ngày rồi.
Này Thiện nam tử! Chúng sanh đời sau mong được hành đạo, chẳng cầu giác ngộ, chỉ cốt học nhiều, khiến cho tăng trưởng ngã kiến. Chỉ chuộng danh số, chẳng mong cầu liễu ngộ nguồn tâm.
Tức là mong học hiểu, thuộc làu thôi, không cần giác ngộ.
Tổ Đạt Ma thấy vào thời đó chuộng con đường danh số, hành bố. Hành bố là tiệm tu, danh số tức là danh tự. Ngài mới đi qua, khai thị “bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền”, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật.
Tâm không thông, mà hiểu trên nghĩa ngữ thì tăng thêm phần ngã kiến.
Mà đa phần như vậy. Có những vị Ni học đâu được chút chút về, đối với quý thầy, “ngã” ra mặt luôn! Nếu là người ngộ thì không có tâm đó. Ni Trưởng Như Đức đối với những thầy nhỏ coi giống như là Thầy Tổ vậy. Người ta tu đến cảnh giới đó.
Như ta soi gương, hình mà thẳng thì bóng thẳng, hình nghiêng thì bóng nghiêng. Có nghĩa là ta kính người thì người kính lại. Còn tâm ngô ngã thì tự
nhiên nó khác.
Kinh Hoa Nghiêm nói:
Nếu không liễu ngộ tự tâm mà ở trên văn tự, thì tăng trưởng tất cả pháp ác.
Bởi vì ngô ngã, coi thường, thấy người ta không bằng mình, mình hơn người ta. Giống như Ngài Pháp Đạt, lễ Lục Tổ đầu không sát đất, vì tụng ba ngàn biến Pháp Hoa, còn Lục Tổ thì không biết chữ. Khởi niệm đó thì tự nhiên ác tăng trưởng.
Bồ-tát Long Thọ nói:
Người đa văn không có trí tuệ là người không ngộ thật tướng, giống như trong căn phòng tối, có đèn mà không có mắt.
Đa văn mà không có trí tuệ Bát-nhã thì không thể nào ngộ được thật tướng, thâm nhập vào chỗ ẩn mật.
Như vậy, chúng ta học đến phần Phật phá ngã từng đoạn. Kế nữa, Đức Phật chỉ pháp tinh tấn để hàng phục các phiền não, rồi khởi tâm đại dõng mãnh.
Những pháp chưa được khiến cho được, những thứ chưa đoạn khiến phải đoạn tận.
Đoạn sau, chuẩn bị chúng ta học, là phải gấp rút, tinh tấn hàng phục ma phiền não. Trên bước đường tu học, nếu chúng ta không khởi tâm dõng mãnh thì khó mà hàng phục được những cấu nhiễm
phiền não. Mới xuất gia chưa thấy gì, nhưng xuất gia chừng bốn năm năm bắt đầu thân bệnh, mà cứ bình thường thôi. Việc tu cứ tu, bệnh cứ chữa, thì đạo sẽ thành. Hết bệnh tu theo hết bệnh, có bệnh tu theo có bệnh, thì từ từ bệnh cũng lui. Nếu không phát tâm đại dõng mãnh, không có tâm kiên cố, kiên trì thì bỏ cuộc giữa chừng.
Đoạn sau, Đức Phật chỉ ra phương pháp để mà đoạn tận các nghiệp ác, phát tâm dõng mãnh.
Chúng ta đã đi qua những phân đoạn Đức Phật chỉ về cách phá ngã và thể nhập tánh viên giác. Bây giờ, Đức Phật dạy chúng ta, trên bước đường tu phải gạn lọc như thế nào để thể nhập tánh viên giác.
Phật dạy:
Này Thiện nam tử! Phải tinh tấn hàng phục phiền não, khởi đại dõng mãnh, những pháp chưa được khiến cho được, những cái chưa đoạn khiến phải đoạn: tham, sân, ái, mạn, siểm khúc, tật đố. Đối cảnh không sanh, ta người ân ái tất cả đều vắng lặng, Phật nói người này thứ lớp thành tựu.
Chúng ta học những chương ban đầu, Phật nói sanh tử, Niết-bàn giống như hoa đốm giữa hư không, là chỉ về phương pháp đốn ngộ. Còn cuối phẩm Bồ-tát Hiền Thiện Thủ, Phật dạy đốn ngộ rồi bây giờ phải tiệm tu.
Giống như bài kệ của ngài Thần Tú và Lục Tổ Huệ Năng, bài kệ của Tổ Huệ Năng là đốn ngộ, nhưng trên bước đường tiệm tu là của ngài Thần Tú. Ở đây, Phật nói muốn thể nhập tánh viên giác phải tinh tấn, hàng phục phiền não và khởi tâm đại dõng mãnh.
Ở đây, tôi muốn chia sẻ cho đại chúng chuyện tu. Đáng lý ra, tôi không nêu lên, mà do có một số người xem hành trạng của các vị đi trước, cho là những người sau bịa đặt ra chứ làm gì có. Bản thân tôi trên bước đường tu tập trải qua như thế nào thì xin được chia sẻ như thế đó.
Trong kinh Nikaya có một đoạn, khi tôn giả La Hầu La đi khất thực với Đức Thế Tôn, ngang qua một kinh thành nọ, có một số trẻ nhỏ dùng đá ném tôn giả. Tôn giả La Hầu La khởi một niệm bất thiện: “Thôi bây giờ, mình không tu nữa, về nhà chắc chắn sẽ kế thừa vương vị, xong sẽ mang quân qua”. Đức Thế Tôn biết La Hầu La khởi niệm bất thiện, Ngài dạy: “Này La Hầu La! Không có nơi nào đến mà họ trải thảm cho mình. Con hãy trang bị cho mình như thế nào đó, giống như một đôi dép hay một đôi giày để không bị gai góc đâm.”
Trên bước đường tu cũng vậy, không ai nghĩ mình phát tâm tu, đến thiền viện hay đến chùa người ta chiều chuộng, hoặc bị nghịch cảnh về thân hoặc nghịch cảnh về tâm. Cho nên, học Phật phải đem
Kinh Phật hoặc lời Tổ ra áp dụng. Áp dụng như thế nào? Phải lập hạnh rồi phát nguyện lực dõng mãnh thì mới vượt qua được chướng duyên, còn không thì giữa đường thối lui.
Kinh Tứ Thập Nhị Chương Phật dạy: “Người tu giống như một chiến sĩ ra trận, hoặc gặp giặc khiếp sợ, hoặc giữa đường thối lui, hoặc chết giữa trận tiền, hoặc chiến thắng trở về. Sa-môn tu tập cũng như thế.”
Khi tu tập chúng ta phải dấn thân, phải phát nguyện, lập hạnh. Chúng ta đang đi ngược dòng đời. Người xưa nói:
Không cầu mọi việc đều như ý,
Chỉ mong có thêm lòng tin và dũng khí.
Tu không bao giờ như ý của mình. Ngày xưa, tôi phát tâm đi tu là vì tôi đọc đi, đọc lại quyển Đường Xưa Mây Trắng của Hòa thượng Làng Hồng. Tôi thấy đời sống tu sĩ hay quá nên mới tìm đến con đường này. Vào rồi mới thấy không giống chút nào, dấn thân vào tu mới thấy khác toàn bộ. Có những người đọc quyển đó xong rồi cũng hăng hái, vào tu rồi mới thấy thân thì bệnh, tâm thì bị đủ chuyện hết, rồi thối tâm Bồ-đề. Cho nên, ở đây nói phải tinh tấn hàng phục những vọng tưởng, những phiền não.
Vào tu mới thấy không có gì như ý. Ở đây nói, nếu không thẩm thấu thì sanh khởi tham, sân, ái,
mạn, siểm khúc. Ngày tôi vào Thường Chiếu, phải công quả suốt một năm hoặc nhiều hơn, Thầy mới cho xuất gia. Thời đó, làm việc suốt cả ngày, còn trẻ tuổi nên làm tất cả các việc không thấy gì, nhưng khi công quả gần một năm thì ra chuyện này.
Tôi còn nhớ, xây chánh điện hoàn tất rồi mới xây cổng Thường Chiếu, lúc đó cư sĩ làm cũng đông. Có một vị cư sĩ bị bệnh, thầy tri sự, người coi việc xây dựng, đem cam, sữa cho vị này. Huynh đệ bệnh thầy chăm lo vậy, mình thấy cũng vui, cũng bình thường. Mùa đó nắng quá, ba, bốn ngày sau, tôi bệnh, thầy nói nghỉ thì thôi về, chứ đừng tu nữa.
Cách đây khoảng 5 năm gặp lại thầy tại Thường Chiếu. Thầy kể, trên chuyến xe đi từ miền Nam ra miền Bắc, tình cờ thầy nghe bốn bộ luật tôi giảng do Phật tử mở trên xe, thầy nói với tôi: “Nếu biết thầy giảng, phân tích kỹ như thế thì ngày xưa, tôi không có đày thầy!”. Xong, tôi nói: “Con phải cám ơn thầy, nhờ thầy, con mới có ngày hôm nay. Nhờ thầy bắt con làm chỗ này chỗ kia, trong đầu con chỉ có một việc là phải học và phải tu.”
Chúng ta đừng có tưởng việc gì cũng trọn ý của mình, mà phải có niềm tin với Tam Bảo, niềm tin với chính mình và phải có dũng khí để vươn lên. Ngày xưa, tôi làm tới bảy, tám giờ tối, về phải giăng cái y lên, sợ người kế bên ngủ không được, rồi thắp đèn dầu học chứ đâu có thời gian.
Đủ nhân duyên được Sư Ông cho lên Trúc Lâm tu. Lên đó, nghiệp tập ngày xưa mình tạo, bây giờ ở trong thất trổ ra thân bệnh tưởng chừng không sống nổi. Tuy vậy, không bao giờ có tâm niệm bước ra đời mà quyết chí dấn thân vào con đường đạo.
Ở với Sư Ông một thời gian, Sư Ông cắt tôi qua Canada. Khi qua Canada gặp đủ thứ chuyện trắc trở. Ni trưởng Như Đức cũng gặp trường hợp như tôi. Chỗ Ni trưởng ở, bảy tháng toàn tuyết với sương. Tôi còn nhớ buổi sáng, từ xa, thấy mấy vị cúng dường thiền viện cho Hòa thượng, là phải lo dọn dẹp cho thật sạch, lỡ họ thấy dơ là họ họp lại, nói không còn cái gì hết! Chính bản thân tôi chứng kiến.
Lúc đó, tôi ở với thầy Khả Thành, khí hậu lạnh quá, tôi với thầy, chảy máu mũi lấy khăn giấy lau. Bốn giờ chiều họ kêu họp. Họ nói, “quý thầy mới ra làm Phật sự, xài phí quá tổn phước!”. Vượt qua được không? Đó là những chướng duyên trên đường tu. Sư Ông dạy tôi, khi đi giảng dạy mà người ta cúng dường, phải nộp cho mấy cổ giữ, có bệnh thì xin. Tôi với thầy kia bệnh, xin tiền uống thuốc, họ nói: “Quý thầy tu thiền mà còn uống thuốc nữa!”. Tôi muốn nêu lên cho đại chúng biết, nếu không phát tâm dõng mãnh là rớt.
Rồi Sư Ông cắt cử tôi ra đây làm xây dựng, cũng không có gì như ý hết. Khi tôi với thầy Bảo Tú ra
đây xây dựng, người ta nói không có tiền xây chi cho lớn. Ngày xưa, Sư Ông làm chánh điện ở Trúc Lâm Đà Lạt nhỏ lắm, dung chứa không được bao nhiêu người, nên Sư Ông dạy “mấy chú về đó xây lớn để sau này đông người có chỗ.” Bây giờ mới thấy, Sư Ông nói đúng, khóa tu không đủ chỗ chứa. Rồi người này hứa, người kia hứa mà không có. Không có gì như ý đâu, chỉ có lòng tin và dũng khí đi lên thôi, lạ một điều, dây dưa vậy mà cũng xong.
Chiêm nghiệm lại thì trên đời này không có gì như ý, mà cầu toàn, cầu như ý là không đúng. Áp dụng lời Phật dạy Báo Oán hạnh, sở dĩ ông bị cái này, cái nọ là trong vô lượng kiếp, ông bỏ gốc, chạy theo ngọn, tạo vô lượng nghiệp bất thiện, cho nên ngày hôm nay, ông gặp những chuyện này, đó là phần tiêu cực. Còn phần tích cực là thấy được những chướng duyên, nghịch cảnh cuộc đời như thế này để làm những nấc thang cho mình đi lên.
Không có một vị Phật, vị Bồ-tát, vị Tổ sư nào đi trên con đường Phật đạo này mà đơn giản. Cho nên, khi bị những nghịch duyên khốn cùng, phải lập hạnh, phải có nguyện lực vươn lên, chứ thối Bồ-đề tâm, xin ra đời hoàn tục thì dễ quá. Thân bệnh, tâm bệnh, bị những nghịch duyên đến không tu nữa ra đời thì đơn giản quá, ai làm cũng được.
Đại chúng thấy, chúng tôi tu tập, gặp những chuyện khó rồi cũng xong. Người xưa nói:
Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ, Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn.
Không bao giờ chúng ta bị dồn đến con đường chết, sắp chết tự nhiên có lối thoát. Núi cùng sông cạn ngỡ hết lối, nhưng không, sẽ có một lối thoát. Gặp chuyện khó khổ mà buông xuôi thì bị nhấn chìm, trôi luôn, bản thân chúng tôi kinh nghiệm.
Xây dựng tương đối ổn rồi, qua con đường Phật sự cũng đâu có dễ. Tôi làm việc suốt tuần, giảng dạy ở đây rồi lên Trúc Lâm truyền giới Bát Quan Trai cho Phật tử, dạy cho chúng Tăng ở Trúc Lâm, xong về chuẩn bị cho lớp ôn thi ở Thường Chiếu. Thường trực ở tỉnh bắt họp, chuẩn bị lễ Phật đản, tôi phải có mặt, chủ nhật lại đi hoằng pháp. Bao nhiêu công việc trong tuần, rồi về đây tôi hướng dẫn huynh đệ trồng cây. Một số người nói, mấy ông thầy tu chỉ ăn rồi ngủ, không có đâu.
Hôm qua họp ở tỉnh, mấy thầy nói tôi làm Phật sự có ai nhập hay sao mà có sức khỏe vậy. Ai nhập biết không? Thiền nhập. Nhờ tu thiền, tâm không loạn động, tâm tỉnh không bị phân tán nên làm việc không mệt. Tâm phân tán loạn động thì sức rả, giống bong bóng bị xì.
Tu tập cũng như thế, chúng ta có môi trường, có Thầy Tổ, có phương pháp, bây giờ chỉ có con đường phát tâm dõng mãnh đi thôi. Còn chuyện thân bệnh, tâm bệnh là chuyện bình thường. Chuyện chết là tối kỵ nhất với con người mà tu không sợ nữa, thì không có gì phải sợ hết. Bệnh tu theo bệnh, không bệnh tu theo không bệnh, tôi khẳng định như thế.
Ở đây, người ta đến đông để tu học, chúng ta ráng cố gắng giữ tâm bình thường, hết duyên ra đi cũng giữ tâm bình thường, người ta đến đây thì hết lòng mình lo. Dầu cho cuộc đời có biến đổi cách mấy, chúng ta cố gắng giữ tâm bình thường, không loạn động, không chao đảo để làm Phật sự. Đó là chúng ta có lòng tin Tam Bảo và có dũng khí.
Những vị ngày xưa tu ở Trúc Lâm với Sư Ông, chỉ là tu thôi chứ không nghĩ mai đây đi chỗ này, chỗ kia, cứ gắng gổ tu ngày ba thời đều đặn vậy mà có kết quả. Những vị ở trong chúng một thời gian, ra làm Phật sự sớm, đa phần gặp những chuyện không may, bởi vì chưa đủ lực, chưa đủ công đức, chưa đền đáp Thầy Tổ của mình.
Cho nên, đại chúng ráng tu tập, ở ẩn để trưởng dưỡng một thời gian dài. Người xưa nói, trưởng dưỡng đủ duyên làm thầy trời người, còn không thì tiếp tục tu.
Trong Thiền Quan Sách Tấn:
Thiền sư Y Am, chiều mặt trời lặn là Ngài khóc, bởi vì Ngài thấy việc mình chưa xong, phiền não chưa đoạn, tham, sân còn dấy khởi. Ngài rờ lên đầu, rồi khóc vì những pháp tu chưa xong.
Còn đại chúng thì sao?
Thiền sư Từ Minh, là thầy của Ngài Hoàng Long Huệ Nam, Ngài ngồi thiền bị hôn trầm, Ngài cầm dùi đâm vào đùi cho máu chảy để thức tỉnh.
Tu thiền phải mài giũa, phải cố gắng như thế.
Tôi từng nói việc học là phụ, công phu mới là chính. Phật Tổ, Thầy đã dạy hết rồi, chỉ có con đường phải dấn thân vào. Nếu tu như thế thì tham, sân, ái, mạn, siểm khúc, tật đố, đối cảnh tâm không có sanh khởi. Thấy người ta an ổn hạnh phúc, tùy hỷ vui theo tức là mình không sanh tâm.
Tất cả thương ghét đều vắng lặng. Phật nói người này thứ lớp thành tựu. Cầu thiện tri thức, không rơi vào tà kiến. Còn nếu đối với sở cầu riêng, sanh yêu ghét, chắc chắn không thể vào biển đại viên giác thanh tịnh được.
Ta, người, ân ái đều vắng lặng. Khi niệm tận trừ thì tự tha đều vắng lặng.
Tức trong tâm không còn thương ghét, tự nhiên niệm không sanh khởi, tức có diệu dụng.
Phật dạy tiếp:
Nếu đối với thiện trí thức mà mình cầu học lại khởi tâm thương ghét thì không thể nhập đại viên giác thanh tịnh.
Bấy giờ, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Tịnh Nghiệp thầy nên biết, Tất cả các chúng sinh, Đều do chấp ngã ái,
Vô thỉ vọng lưu chuyển, Thương ghét khởi nơi tâm, Siểm khúc giữ nơi niệm, Cho nên quá tối tăm, Không thể vào thành giác.
Ở đây, nói tất cả chúng sanh do chấp cái ngã ta người, từ vô thỉ vọng niệm lưu chuyển, thương ghét từ nơi tâm mà khởi, tức là người ta khen thì mình thương, người ta chê bai thì mình ghét. Siểm khúc là những niệm muốn hại người, muốn làm cho người đau khổ, không nói ra mà giữ ở nơi niệm để tìm cách, cho nên tâm bị tối, mịt mờ, không thể nào vào thành viên giác được.
Ngài Hám Sơn nói:
Pháp và dụ mỗi mỗi đều có ba nghĩa:
- Một là liễu ngộ tâm tánh là Không, các phiền não không thể vào, như đề phòng địch bên ngoài.
Liễu ngộ được tự tánh, phiền não không thật, giống như người lúc nào cũng đề phòng giặc bên ngoài đến.
- Hai là thấy được hằng sa vạn đức, thì vạn hạnh tăng trưởng tròn đầy như nuôi dưỡng mọi người.
Tức từ nơi tự tánh mà tu tập ra.
- Ba là thông đạt tất cả đạo như mở thông cánh cửa dẫn dắt và nhiếp phục.
Rồi Phật nói tiếp:
Nếu hay về cõi ngộ, Trước dẹp tham, sân, si, Tâm không còn khát ái, Dần dần được thành tựu. Thân ta vốn chẳng có,
Thương ghét từ đâu sanh? Người này cầu thiện hữu Trọn chẳng rơi tà kiến.
Chỗ cầu riêng sanh tâm, Cứu cánh chẳng thành tựu.
Đến đây, kết thúc chương Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ-tát thưa hỏi.