Chương 10: Bồ Tát Phổ Giác Thưa Hỏi

CHƯƠNG 10: BỒ TÁT PHỔ GIÁC THƯA HỎI
Lúc bấy giờ, Bồ-tát Phổ Giác ở trong đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu bên phải ba vòng, quỳ dài chắp tay mà bạch Phật rằng:
Đại Bi Thế Tôn khéo nói thiền bệnh, khiến cho đại chúng được điều chưa từng có.
Thiền bệnh trong đó có ngã, nhân, chúng sanh, thọ mạng, là cái ngã ẩn sâu bên trong, mà phần trước chúng ta đã học phần hành ấm. Nó ẩn sâu bên trong đến mức độ các hàng A-la-hán tưởng rằng cảnh giới đó là tịch diệt vắng lặng rồi thể nhập luôn.
Chỉ có Phật trí mới thấy được. Có những lúc tu thấy bình thường, nhưng mà gặp chuyện nó tuôn ra các căn, đó là bệnh của người tu thiền nói riêng, hay là bệnh của người tu tập nói chung.
Những bậc Bồ-tát ở trong hội chúng được Phật chỉ ra từng niệm, từng ngõ ngách của ngã, từng ngõ ngách của nhân, của chúng sanh, của thọ mạng, mới biết rằng chỉ có Phật trí mới thấy và chỉ lại điều chưa từng có.
Tâm ý rỗng rang được an ổn lớn. Bạch Thế Tôn! Những chúng sanh đời mạt pháp cách Phật dần xa, thánh hiền ẩn khuất, tà pháp tăng mạnh.
Thời mạt pháp tu dễ sai, dễ lạc nếu không gặp thiện hữu tri thức, không gặp thầy lành, bạn tốt.
Bồ-tát hỏi tiếp:
- Vậy chúng sanh cầu những người nào?
- Y những pháp gì?
- Hành những hạnh gì?
- Trừ những bệnh gì?
- Làm thế nào để phát tâm khiến cho những kẻ mù tối chẳng rơi vào tà kiến?
Hỏi rất là kỹ, cho nên, chúng ta học bộ Kinh này, làm y cứ tu hành là không bao giờ sợ lệch đường.
Thưa lời đây rồi, năm vóc gieo xuống đất, thưa thỉnh như thế lặp lại ba lần.
Các vị Bồ-tát thường thương chúng sanh như con đỏ. Trong pháp hội này, Ngài không vì chúng hội đương cơ mà vì chúng hội đời mạt pháp. Kinh Viên Giác và những bộ Kinh đại thừa ra đời khi Đức Phật nhập Niết-bàn từ bốn đến năm trăm năm, mà thời của chúng ta cách tới hai mươi mấy thế kỷ. Như người con có bệnh, cha mẹ lo lắng nhiều hơn. Thương chúng sanh đời mạt pháp bệnh nhiều, các vị Bồ-tát rất lo nên mới thưa thỉnh Phật.
Cũng vậy, Bồ-tát đại bi trước hết là thương xót chúng sanh đời mạt pháp, khi mà hiền thánh ẩn khuất, chánh pháp bắt đầu suy vi.
Tà mạnh mà chánh thì yếu, cho nên Ngài Hám Sơn nói:
Muốn đoạn tận các bệnh, tu tập cho được kết quả. Một là nương ông thầy, hai là nương môi trường, ba là nương đại chúng, thì mới tránh khỏi bốn cái bệnh lớn mà người tu thiền gặp.
Đời mạt pháp, tu mà không có thầy bạn, không có đại chúng, không có môi trường thì tu chơi vậy thôi.
Khi ấy, Đức Thế Tôn bảo Bồ-tát Phổ Giác rằng: Lành thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Các ông mới hay thưa hỏi Như Lai đường lối tu hành như thế, hay bố thí cho tất cả chúng sanh đời sau con mắt đạo nhãn, con mắt đạo vô úy, khiến cho chúng sanh kia được thành thánh đạo. Nay ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì ông nói.
Nếu chúng ta trang bị con mắt đạo nhãn, thì tâm không sợ cảnh chướng, thấy được đúng như thật, thấy đúng con đường mình đi, không sợ hãi. Dầu cho mai này, người ta nói tận thế, vũ trụ sập đổ thì tâm cũng bình ổn, hoặc nghe trong kho không còn gạo cũng bình thản.
Bấy giờ, Bồ-tát Phổ Giác vâng lời Phật dạy, hoan hỉ cùng đại chúng yên lặng lắng nghe.
Đức Phật nói năm pháp này thành tựu thì con đường Phật quả không xa.
- Chỉ rõ vị Thầy để nương tựa.
- Phân biệt bốn bệnh.
- Luận về tâm thờ Thầy.
- Hạnh trừ bệnh.
- Phát tâm sâu rộng.
Này Thiện tri thức! Chúng sanh đời mạt pháp muốn phát đại tâm thì phải nên cầu thiện tri thức.
Muốn phát tâm lớn, tâm dõng mãnh, tâm tu tập cho được kết quả thì việc đầu tiên nhất là phải cầu thiện tri thức.
Kinh văn nói, đại tâm tức là tâm lớn, tâm dõng mãnh, tâm thu nhiếp hết tất cả, giống như biển thu nhiếp các dòng sông. Người không có đại tâm thì tu pháp này không được, bởi vì đại tâm là chánh nhân để đi, mà Phật quả là con đường chúng ta phải đến.
Cho nên muốn tu con đường này phải phát tâm rộng lớn, giống như trăm sông chảy về biển. Đức Phật dạy, một nắm muối bỏ trong ly nước, uống không được, nhưng bỏ dưới dòng sông, uống bình thường. Người làm Phật sự tâm rộng lớn, quảng đại,
thì làm các việc Phật sự mới trôi tròn, suôn sẻ. Còn tâm nhỏ hẹp, độ chúng không được. Có một số vị thầy, chúng đến ở một thời gian, chịu không được bỏ đi. Tôi hỏi tại sao? “Có một lỗi thôi, thầy con chỉ lỗi xong rồi càm ràm suốt ngày này, qua ngày khác. Con chịu không nổi nên đi.”
Tâm đại trượng phu, nó phi giữa nam và nữ, giữa tăng và tục, tâm đó lớn lắm, độ chúng mới được. Mỗi chúng sanh đều có sai biệt nghiệp, chúng ta phải dùng tâm rộng. Tâm rộng là gì? Tu tập như thế nào? Phần sau, Đức Phật sẽ nói.
Đại tâm là chánh nhân đi đến con đường Phật quả, để phân biệt tâm muốn độ cho mình, không muốn độ cho người khác, muốn thu thúc lại, rất sợ, rất e ngại làm các việc Phật sự. Đó là tâm nhỏ, tâm đó bước lên con đường Phật quả rất lâu xa.
Đại tâm là chánh nhân, còn thiện tri thức là chánh duyên, tức là người biết chân rõ vọng, biết bệnh rành thuốc, cho nên hàng sơ phát tâm phải tìm cầu học hỏi.
Chỉ cần biết những niệm, niệm lăn tăn là vọng tưởng. Biết cái nào là vọng, cái nào là chân, cái nào tu, cái nào không tu, cái nào làm, cái nào không làm, thì làm thiện tri thức được. Biết người đến với mình, phải cho họ uống thuốc gì, biết họ bệnh gì để cho họ tu tập, trưởng dưỡng, là làm thiện tri thức được. Còn không biết bệnh, không biết thuốc gì, không
biết hướng dẫn người ta tu tập thì khoan làm thiện tri thức.
Cho nên Bồ-tát Văn Thù bảo Thiện Tài: “Gần gũi, cúng dường thiện tri thức là nhân duyên đầu tiên để đầy đủ nhất thiết trí, là trí tuệ của Phật.”
Cúng dường thiện tri thức là gì? Đừng nghĩ rằng thầy này là thiện tri thức còn thầy kia không phải. Cúng dường thiện tri thức là nhìn tất cả mọi người là thiện tri thức của mình. Người dở, người hay cũng đều là thiện tri thức. Người dở, học để tránh. Người hay, học để thu thập phát huy lên.
Chẳng hạn như sáng mai, thấy trên bảng ghi tên mình nhổ cỏ, mà mình vui vẻ bình thường tức là cúng dường thiện tri thức. Thấy hôm nay không làm cỏ nữa mà hành đường trị nhật, vui vẻ làm là cúng dường thiện tri thức. Chứ không phải là cúng dường thầy Trụ trì, thầy Phó trụ trì, thầy quản chúng, hay cúng dường Ni trưởng. Tâm vui, tu tập, trưởng dưỡng thì đó là cần cầu nhất thiết trí, gọi là cúng dường thiện tri thức.
Trong Kinh Phóng Quang Bát Nhã, Phật dạy: “Muốn học sáu pháp Ba La Mật thì trước phải luôn gần gũi phụng sự thiện tri thức chân thật.”
Nghĩa là làm mà tâm bất động không có nghĩ ngợi. Làm với tâm vọng tưởng điên đảo thì chưa phải
gọi là gần gũi, phụng sự thiện tri thức. Làm hết tâm, trọn thân tâm làm việc không có nghĩ ngợi gì, thì lúc này gọi là gần gũi, phụng sự thiện tri thức.
Kinh Đại Phẩm Bát Nhã quyển 27 Phật dạy: “Người có khả năng giảng nói các pháp không, vô tướng, vô tác, vô sanh, vô diệt và nhất thiết chủng trí, khiến người khác vui mừng, tin ưa, thì gọi là thiện tri thức.”
Người nào có khả năng giảng về các pháp không, vô tướng, vô tác, vô sanh, vô diệt và chỉ cho con đường đến Phật quả, mở tuệ nhãn cho người ta thấy ngay nơi tâm mình chính là Phật; chẳng hạn như Sư Ông Trúc Lâm, chỉ dạy cặn kẽ con đường tu tập; mình tin, mình vui, mình ưa nhận, thì gọi là đại thiện tri thức.
Trong Luật Tứ Phần, nếu ai đủ bảy điều kiện thì mới được gọi là thiện tri thức:
- Cho được những gì khó
- Làm được việc khó làm.
- Nhẫn được việc khó nhẫn.
- Việc kín nói cho nhau biết.
- Bảo bọc cho
- Gặp khổ không bỏ.
- Gặp nghèo không
Đại sư Trí Khải dạy, có ba bậc thiện tri thức: Giáo thọ thiện tri thức; Đồng hành thiện tri thức; Ngoại hộ thiện tri thức.
- Giáo thọ thiện tri thức: là những vị thầy dạy cho mình hiểu tột được nghĩa lý Đức Phật dạy, chỉ bày cho mình con đường bỏ ác tu thiện.
- Đồng hành thiện tri thức: Rất quan trọng. Trong chúng có những vị họ tinh tấn, siêng năng tu tập. Họ làm tất cả mọi việc, dầu cho mình giải đãi cách mấy mình cũng bắt chước làm theo không dám bỏ cuộc, thì những vị này gọi là đồng hành thiện tri thức.
Hoặc gặp những nghịch duyên trong cuộc đời, mình chia sẻ: “Huynh ơi! Tôi không muốn tu nữa”, đồng hành thiện tri thức sẽ khuyên: “Ông ráng thành tâm sám hối, tu tập trưởng dưỡng rồi thế nào cũng vượt qua”. Còn nếu gặp người nói: “Ông tu không được đâu, thôi hoàn tục đi”, người đó là ác tri thức.
Hồi xưa, tôi không gặp thiện tri thức mà gặp ác tri thức. Lúc ở Trúc Lâm tôi bệnh nặng lắm, tôi kể cho một thầy kia nghe, thầy phán câu: “Thôi ông đừng tu nữa, bệnh vậy sao mà tu, hoàn tục đi”. Đó là ác tri thức, làm cho ta thối tâm Bồ-đề, tâm không vững là về luôn. Còn thiện tri thức sẽ khuyên ta cố gắng vượt chướng duyên.
Cho nên, đồng hạnh thiện tri thức rất là quan trọng, họ khuyên, họ nhắc nhở, hoặc là từ hành động cho thấy. Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự nhiếp, trong lợi hành có đồng sự, mình không muốn làm
mà huynh đệ làm việc, tu tập không biết mệt mỏi, tự nhiên mình phấn chấn lên.
- Ngoại hộ thiện tri thức: Cung cấp thức ăn, vật dụng cần dùng. Thiền viện ở rừng núi xa xôi, nếu không nhờ ngoại hộ thiện tri thức làm sao sống. Mỗi lần tôi xuống Sài Gòn giảng, Phật tử dành dụm sẵn gạo, rau củ, đậu hũ… để gởi về cúng dường. Họ cũng nhiều đời kiếp có nhân duyên với mình, nên bây giờ họ tiếp tục hộ trì.
Kinh Tăng Nhất A Hàm tập 1, phẩm Thiện Tri Thức, Phật dạy:
Một thời, Phật ở nước Xá Vệ, rừng Kỳ Đà, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo: Nếu gần gũi thiện tri thức, chớ lập theo hạnh ác, chớ tin theo nghiệp ác. Vì sao thế? Gần gũi thiện tri thức rồi niềm tin liền tăng thêm, giới, văn, thí, tuệ thảy đều tăng thêm.
Ví dụ, Thiền viện có quy chế không được hút thuốc mà có người không nghe vẫn hút thuốc là theo hạnh ác. Hoặc quy chế trong nhà khách, vị tri khách phải quản lý khách vào khách ra, khách vào tu học thì phải hướng dẫn họ tu học, mà vị tri khách không nghe, bày ra đóng ghế, đóng bàn, đóng tủ… là theo hạnh ác, trái lại với quy chế trong thiền môn. Ta không thấy nhưng nhân đã tạo thì khi quả đủ sẽ gây hại cho mình. Còn ai tin tưởng làm theo thì giới người đó thanh tịnh, nghe Kinh Phật thì thấu tột,
tâm thí xả thì tuệ ngày càng tăng trưởng.
Nếu Tỳ-kheo gần gũi thiện tri thức thì chớ tập theo hạnh ác. Vì sao thế? Nếu gần gũi ác tri thức thì sẽ không có tín, không có giới, không có văn, không có thí, không có tuệ. Thế nên, các Tỳ-kheo, hãy gần gũi thiện tri thức, chớ gần gũi ác tri thức. Như vậy, này các Tỳ-kheo, nên học điều này. Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy xong vui vẻ vâng làm.
Gần gũi thiện tri thức là có tín, tức là niềm tin.
Chúng ta đến môi trường này, ban đầu nó như bãi sa mạc không một bóng cây, mà bây giờ gầy dựng lên từ hai bàn tay trắng thành tùng lâm, thì phải có niềm tin với Tam Bảo, không có Tam Bảo thì không làm được gì. Đó là niềm tịnh tín với Tam Bảo.
Có niềm tịnh tín với Tam Bảo thì tự nhiên giữ giới được thanh tịnh. Đây là môi trường tu tập, giới được tăng lên, văn, thí, tuệ cũng được tăng dần lên.
Phật dạy tiếp:
Này Thiện nam tử! Muốn tu hành thì nên cầu người có chánh tri kiến, tâm không trụ nơi tướng, lìa cảnh giới phiền não của phàm phu, chẳng chấp cảnh giới Thanh văn, Duyên giác. Tuy hiện trong trần lao mà tâm hằng thanh tịnh. Dầu có thị hiện những lỗi lầm mà vẫn tán thán phạm hạnh, không khiến chúng sanh vào chỗ trái với luật nghi. Cầu những người như
thế tức là được thành tựu pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Muốn tu hành thì nên cầu người có chánh tri kiến. Người đó lỡ làm lỗi gì thì chỉ cho họ thấy. Có vị thiền sư, một hôm nọ, nổi tâm bực tức, mọi người nói “Hòa thượng mà còn cái đó nữa”, Ngài liền chắp tay nói: “Lão tăng tội lỗi, lão tăng tội lỗi”. Nếu vị đó nói: “Tôi thị hiện dạy ông chớ đâu có sân gì”, là không phải thiện tri thức.
Qua phần này Đức Phật dạy rất kỹ: Cầu thầy, cầu thiện hữu tri thức như thế nào và tu tập như thế nào mới gọi là thiện tri thức.
– Tâm không trụ nơi tướng, lìa cảnh giới phiền não của phàm phu. Trong Kinh Pháp Bảo Đàn hoặc Kinh Kim Cang dạy: không trụ sắc sanh tâm. Tinh thần của các hàng Nhị thừa, khi tu tập, các Ngài thường lên núi cao, chỗ A-lan-nhã tịch tĩnh, tu một đời thôi là các Ngài xong việc. Trong Kinh A-hàm nói: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui cuộc đời này nữa”, đó là tinh thần của hàng Thanh văn, Duyên giác. Các Ngài một đời thôi, khi xong việc các Ngài nhập Niết-bàn vĩnh viễn không trở lại cuộc đời này nữa.
Cho nên, chia ra 2 phần: 1. Độn căn A-la-hán, 2. Lợi căn A-la-hán. Đây là Phật dạy, y nơi kinh trùng tuyên lại lời Phật dạy để chúng ta phát hạnh đại thừa,
nói khác hơn là phát hạnh Bồ-tát.
Một ví dụ dễ hiểu: Có hai võ sĩ đấu trên võ đài, võ sĩ A thắng võ sĩ B. Người ta thấy võ sĩ B thua nên họ chê. Đành rằng võ sĩ B thua võ sĩ A, nhưng đối với họ, võ sĩ B chỉ cần dí một ngón tay vào mặt là họ cũng thua rồi.
Ở đây, nói về độn căn, lợi căn A-la-hán là chỉ Phật nói để đời sau trùng tuyên lại.
Độn căn A-la-hán là các Ngài chán sanh tử, cầu tịch diệt Niết-bàn. Bởi vì khi tu tập trong cuộc đời này rồi, các Ngài chán ngán cảnh sanh tử, sống chết tới lui suốt, nên quyết định tu chứng quả A-la-hán rồi nhập diệt vĩnh viễn, không trở lui cuộc đời này nữa.
Lợi căn A-la-hán là phải mười phương chư Phật khuyến phát, khích lệ, sách tấn rồi các Ngài mới hồi tâm bản vị, phát tâm Bồ-tát đi vào cuộc đời này để nhiêu ích chúng sanh. Khi vào cuộc đời này rồi, các Ngài có những hạnh nguyện lớn, vì khi làm các việc Phật sự sẽ sanh ra phiền não. Ở trong cảnh giới phiền não mà không trụ trên tướng phiền não sanh tâm, đó là hạnh của Bồ-tát, lìa cảnh giới của phàm phu.
– Chẳng chấp cảnh giới Thanh văn, Duyên giác. Khi lìa cảnh giới phàm phu, Đức Phật sợ rớt trong cảnh giới tịch diệt, chìm vào chỗ không tịch, sợ vướng vào chỗ đó, mà trong nhà thiền gọi là nước chết không chứa được rồng, tức là không phát hạnh lớn.
Chẳng hạn có những vị nhập định bảy, tám trăm năm. Trong bảy, tám trăm năm đó, nếu phát hạnh đại thừa thì người này tu thành Phật lâu rồi. Trong kinh Kinh Duy Ma Cật, tôn giả Đại Ca Diếp nói: Những người tạo tội ngũ nghịch có thể tu hành thành Phật nhanh hơn tôi, vì tôi không dấn thân phát hạnh đại thừa, giống như hạt giống bị luộc, gieo xuống đất không nảy mầm được nữa.
Kinh Xưng Tán Đại Thừa ghi:
Thà ở địa ngục trăm nghìn kiếp, chứ trọn không phát tâm Nhị thừa.
Thà ở chốn cùng cực mà có nhân có duyên tu tập thì nhanh hơn người ở trong cảnh giới tịch diệt. Thà rớt xuống những chỗ khốn cùng, nhưng có ngày hết nghiệp địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, thì còn cơ hội phát tâm Đại thừa, gọi là phát túc siêu phương, gặp thiện hữu tri thức nhắc nhở thì vị này tu thành Phật nhanh hơn người nhập vào cảnh giới Niết-bàn.
- Phật dạy chánh tri kiến để phân biệt chẳng phải ngoại đạo tà giáo. Gặp thiện hữu tri thức có chánh tri kiến thì không rớt vào ngoại đạo tà giáo.
- Nói chẳng trụ tướng để phân biệt không phải là phàm phu. Phàm phu mà chẳng phải là phàm phu, tạm gọi là phàm phu. Chúng ta vẫn còn trong dịch lý ngũ hành, phải ăn, uống, mặc, cảm thọ lạnh nóng, mà trên cảm thọ lạnh nóng không sanh tâm bực tức.
Chẳng hạn đang ăn cơm mà cúp điện, nếu là người tu thì vẫn bình thản. Tôi dạy Trường Thiền, gần mấy trăm chúng ăn cơm mà chỉ có hai cái quạt dùng cho các vị lớn. Ăn cơm xong ướt áo hậu hết, bình thường thôi!
Mà những vị ở đó người ta vẫn tu, vẫn sống bình thường, họ khác hơn phàm phu. Nói điều này với đại chúng để cho thấy, ở trong cảnh giới phàm phu mà không phải phàm phu, phải vượt qua, vươn lên. Khi tu tập hạnh Đại thừa, chỗ nào cũng sống được.
- Nói không chấp trước, là để phân biệt chẳng phải hạng Nhị thừa. Tức là không chấp trước vào cảnh giới tịch diệt, không chấp trước vào cảnh tịch tĩnh, đầu sào trăm trượng phải nhảy lên một bước nữa để phát huy Phật tánh.
- Tuy hiện trong trần lao mà tâm hằng thanh tịnh. Những vị nghịch hạnh thiện tri thức hiện trần lao mà tâm thường thanh tịnh. Trần là bụi, lao là nhọc nhằn. Ở trong trần lao nhọc nhằn, mệt mỏi nhưng các Ngài ở trong trần mà bất nhiễm, dùng tất cả những phương tiện thiện xảo để độ sanh.
Kinh Duy Ma Cật nói: “Tuy có vợ con mà thường tu phạm hạnh”. Kinh Hoa Nghiêm ghi: “Bồ-tát tại gia tuy sống với vợ con mà chưa từng xa lìa tâm Bồ-đề”. Tức là luôn luôn phát khởi đại hạnh, đại tâm.
- Thị hiện có các lỗi mà ca ngợi phạm hạnh. Muốn độ chúng sanh phạm lỗi, trước hết là phải dùng đồng sự nhiếp, tâm đã thân gần nhau thì mới có thể chỉ dạy. Những vị đó muốn độ những người uống rượu thì các Ngài phải thị hiện trong quán rượu, khi uống say rồi mới bắt đầu chỉ đây là lỗi của say rượu. Gian dâm, trộm cướp các Ngài đều thị hiện hết mà chúng ta không biết các Ngài. Bởi vì các Ngài vào trong cảnh giới này đa phần dùng mật hạnh, không lộ tung tích.
Cho nên, Kinh Duy Ma nói: “Vào nhà dâm thị hiện tội lỗi của các dục”. Kinh Hoa Nghiêm ghi: “Thiện Tài đồng tử cầu đạo Bà-tu-mật”.
Khi Bồ-tát Văn Thù giới thiệu Thiện Tài Đồng Tử đến cầu đạo chỗ Bà-tu-mật, nói là thiện tri thức lớn, thì Thiện Tài Đồng Tử giựt mình, tưởng rằng thiện tri thức phải là một người tu phạm hạnh, tu thanh tịnh, là người ở trong thiền viện hay tịnh xá, chùa chiền, mà bà là một kỹ nữ ở trong một kỹ viện lớn.
Khi còn đang do dự thì bà đến nắm tay, lạ một điều là ngay trong giờ phút đó, Thiện Tài Đồng Tử thấy vô số thế giới, dung nhiếp từ thế giới này qua thế giới khác, và tâm đạt tới cảnh giới thanh tịnh, nhu nhuyến. Những người đến kỹ viện được bà ôm hay nắm tay đều đạt đến cảnh giới nhất hạnh tam muội. Nên người xưa có câu: “Tay nắm thân ôm tâm tịch tĩnh, môi kề lưỡi chạm giới châu viên”. Đó là đại Bồ-tát.
Ông Hymala cũng thị hiện làm vua. Khi ai có lỗi, ông bắt tra trấn, đánh đập. Thiện Tài Đồng Tử hỏi sao lạ vậy, ông nói đây là cảnh thị hiện cho dân sợ không dám làm ác nữa. Đây gọi là nghịch hạnh Bồ-tát.
Khi thị hiện nghịch hạnh Bồ-tát thì các Ngài:
- Không khiến chúng sanh trái với luật nghi. Nghĩa là luôn luôn chỉ cho chúng sanh: Đây là luật học các ông cần gìn giữ. Đây là giới, định, tuệ. Đây là tu tập, các Ngài chỉ dạy hết, chứ không phải thị hiện trong nhà uống rượu rồi xúi người ta uống rượu. Không phải thị hiện trong nhà dâm nữ, xúi người ta gian dâm. Không phải thị hiện trong nhà trộm cướp xúi người ta trộm cướp. Mà thị hiện để chỉ ra những lỗi đó.
Đại luật ghi:
Người phá kiến dù không phá hoại phạm hạnh, nhưng không thể làm đạo nhãn cho chúng sanh. Người phá phạm hạnh mà không phá kiến, thì người này làm phước điền tốt cho trời, người.
Phá kiến là sao? Chẳng hạn là người xuất gia, mà vào quán rượu uống thì đó gọi là phá kiến. Người ta nhìn thấy, họ thối tâm Bồ-đề, thiêu hạt giống Bồ-đề đó là phá kiến. Còn người phi phạm hạnh, nhưng có thể dìu dắt người khác tránh ác làm thiện, vẫn là phước điền cho trời người. Nếu gặp những người như thế thì tu tập chắc chắn thành tựu Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Phật dạy tiếp:
Những chúng sanh đời sau gặp người như thế phải nên cúng dường, chẳng tiếc thân mạng.
Tức là gặp thuận hạnh hoặc là nghịch hạnh thiện tri thức.
Thiền sư Tuyết Phong Ngài ngộ đạo rồi, trải qua các tùng lâm, Ngài đều phát tâm vào trong nhà bếp, nấu thức ăn, cúng dường cho đại tăng suốt ba mươi năm. Có những vị phát tâm chẻ củi, có những vị phát tâm nấu cơm, làm những việc không tiếc thân mạng.
Thời buổi này, người ta thấy giáo pháp nhiều nên xem nhẹ, nhưng mà hiểu trên cái lý thôi. Ngày xưa, chỉ cần một câu, một kệ mà thâm nhập, tu tập được thì cái ơn của thiện tri thức lớn lắm. Người ta làm tất cả các hạnh, các việc, sẵn sàng xả bỏ thân mạng mà không tiếc. Giống như Bồ-tát Thường Đề sẵn sàng bán tim gan, kiếm ít tiền lộ phí đến Hương Thành cúng dường cho một vị đại sĩ để tu tập về pháp Bát-nhã.
Kinh Đại Thừa Tứ Pháp ghi:
Các Tỳ-kheo suốt đời cho dù gặp nhân duyên mất mạng, cũng nhất định không được lìa xa thiện tri thức.
Thiện tri thức là môi trường, là bạn đồng hành, là thầy lành, bạn tốt, có đủ điều kiện cho chúng ta tu
tập để trưởng dưỡng hạt giống lớn mạnh. Tôi khuyên đại chúng, sau này đi làm Phật sự các nơi, cố gắng ở cùng đại chúng tu học, chớ đừng ở am thất. Ở am thất, làm Phật sự, tu tập không được bao nhiêu. Dầu cho chùa nhỏ cũng được nhưng mà có đạo tràng, trên có Thầy Tổ, dưới có bạn đồng hành, kế nữa là môi trường, thì lúc này đạo tâm được trưởng dưỡng càng lớn mạnh.
Ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng khi ngộ đạo với Lục Tổ, Ngài phát tâm ở mười lăm năm với Tổ, rồi ngài về đất Dĩnh làm người mô phạm hai mươi năm, tổng cộng ba mươi lăm năm Ngài mới ra giáo hóa. Trưởng dưỡng công đức nhiều chừng nào thì ra giáo hóa thù thắng nhiều chừng đó.
Lại nữa, nếu thấy những thiện tri thức trong bốn oai nghi thường hiện thanh tịnh (tức tịnh hạnh), hoặc thị hiện đủ thứ tội lỗi (tức nghịch hạnh), mà còn chẳng khởi tâm kiêu mạn, huống gì thấy Bồ-tát ăn uống, giữ tiền tài, có vợ con quyến thuộc. Nếu thiện nam tử, đối với các thầy bạn ấy mà chẳng khởi niệm ác, thì cuối cùng sẽ thành tựu chánh giác, hoa tâm sáng tỏ chiếu khắp cõi Phật trong mười phương.
Cung kính các bậc thiện tri thức thuận hạnh giữ giới thanh tịnh tu tập, làm người mô phạm thì đã đành rồi, mà đối với những người hút thuốc, uống rượu tâm cũng vẫn bình thản.
Ví dụ thấy một thầy phi phạm hạnh, khởi niệm nói cho ông A, ông B. Nếu nói mà thành Phật thì cũng ráng nói, đằng này không thành, mà lỡ người ta thị hiện thì sao. Ngày xưa, chúng tôi học võ thuật, đánh ra một đường là phải thắng. Nếu biết rằng không thắng thì đừng có đánh. Cho dù người đó phạm giới, nói ra mình cũng không được thành đạo, mà cũng không được lợi ích gì. Giống như cầm cục lửa định ném người ta thì tay mình phỏng trước. Cầm vật dơ ném người ta thì tay mình dơ trước, đằng nào cũng lỗ.
Thấy những người nghịch hạnh như thế mà không khởi tâm kiêu mạn, không khởi tâm ác. Nếu có nguyện hạnh lớn, khởi tâm thương xót, tìm cách giúp đỡ thì được. Nếu giữ tâm bình đẳng như thế thì chắc chắn sẽ thành tựu chánh giác, hoa tâm sáng tỏ lên. Đừng nhìn lỗi người, đừng thị phi, tu một thời gian chắc chắn phải tiến.
Ngài Huyền Giác nói: Nếu pháp Ngài nói mà dối chúng sanh thì nguyện rớt xuống địa ngục bị cắt lưỡi chịu khổ.
Chứng thật tướng vô nhơn pháp, Sát-na diệt khước A-tỳ nghiệp,
Nhược tương vọng ngữ cuống chúng sanh, Tự chiêu bạt thiệt trần sa kiếp.
Ngài Hám Sơn bình:
Bồ-tát hóa hiện phương tiện thật là khéo léo, khó có thể lường biết. Chỉ nên căn cứ vào pháp môn tu hành, chẳng nên nghi ngờ thành tích của các ngài.
Y pháp tu chứ không y nhơn, gọi là y pháp bất y nhơn. Y nơi pháp tu tập giống như cái sọt rác mà có viên ngọc, chỉ lượm viên ngọc, những thứ khác không cần.
Không vì thuận hạnh mà dốc lòng thành kính. Không vì thấy nghịch hạnh mà khởi tâm khinh mạn.
Thấy người giữ giới luật thanh tịnh thì cung kính, còn thấy những người phi phạm hạnh thì chán ghét, như thế là khởi niệm ác là tâm bị ô nhiễm, bởi tâm không dung chứa vật (xưa nay không một vật). Phải luôn luôn giữ tâm bình đẳng, giữ tâm bình thản đối với tất cả các pháp.
Đại Trí Độ Luận ghi:
Đối với Thầy Tổ nên khởi ý niệm tôn kính như Phật.
Đại chúng thấy, tôi thường dạy thứ tư mà tại sao hôm nay dạy ngày thứ hai? Bởi vì hôm qua, Thầy gọi về gấp để họp 2 ngày thứ ba và thứ tư, không biết chuyện gì nhưng phải chạy về liền. Cho nên, đối với Thầy Tổ là luôn luôn khởi ý niệm tôn kính như Phật. Dầu cho thuận hạnh hay là nghịch hạnh, những việc làm của các Ngài mình không hiểu, không biết đâu.
Câu chuyện trong thiền thoại:
Trong ngôi thiền viện nọ có hai vị, Thiền sư Thảng Sơn và Thiền sư Vân Thăng. Ông sư đệ Vân Thăng giữ giới tinh nghiêm, tu tập, tụng kinh, sám hối, tọa thiền lúc nào cũng trang nghiêm. Ngược lại, ông sư huynh Thảng Sơn ai cho gì cũng ăn: cho thịt ăn thịt, cho cá ăn cá, cho tàu hũ ăn tàu hũ, cho rượu uống rượu. Một hôm, ông đang ngồi uống rượu, sư đệ đi ngang qua, ông mời:
- Nào giờ sư huynh thấy sư đệ ít uống rượu, thôi nay uống một ly đi.
Ông sư đệ nghiêm sắc mặt:
- Sư huynh tu hành kiểu này là đọa địa ngục.
Sắc mặt Thiền sư Thảng Sơn bình thản, Ngài nói:
- Rượu mà sư đệ không biết uống, thật không giống người chút nào.
Thiền sư Vân Thăng nghe xong giận dữ nói:
- Anh nói tôi không giống người, vậy tôi giống gì? Thiền sư Thảng Sơn cười và nói rất nhẹ:
- Không giống người, em giống Phật.
Sư đệ nghe nói “em giống Phật”, bao nhiêu bực tức bay mất.
Đó là những bậc nghịch hạnh Bồ-tát trong cuộc đời.
Tu trang nghiêm thanh tịnh, nhưng động chút là sân, động chút là bực tức, còn có những người tu
xuề xòa nhưng họ ít sân ít hận. Chúng ta phải lưu ý điểm này.
Người xưa nói:
Giống như người ban đêm cầm đuốc soi đường, dầu cho người đó như thế nào, miễn sáng đường mình đi, không cần biết người đó làm gì.
Lại nữa, nếu những người phát tâm nghịch hạnh Bồ-tát, thuốc này là điều trị cho đệ tử.
Sống với những người nghịch hạnh hãy coi đó là thuốc. Phật dạy, những nghịch hạnh là thuốc cho mình. Còn chúng ta, nếu ra làm thầy thiên hạ, nhớ đừng có uống thuốc này. Làm thuận hạnh giữ giới trang nghiêm thanh tịnh, nói năng tiết chế, giữ thân, khẩu, ý thanh tịnh, đừng dùng những việc như ăn thịt, uống rượu…
Bậc thầy chớ uống lầm thuốc, nếu uống thuốc này thì tăng thêm bệnh không có thuốc điều trị.
Bắt chước thành bệnh không có thuốc điều trị đâu. Do đó, Thiền sư Quảng Trí nói:
Những người học đạo nếu như hiện hành chưa đoạn, tập khí phiền não lại sâu đậm, ghé mắt sanh tình, chạm trần thành trệ. Dầu rõ ý nghĩa sanh tử mà sức kia chưa đủ, chẳng thể chấp rằng ta đã ngộ xong, phiền não tánh nó không; nếu khởi tâm tu, chính đó là điên đảo.
Đoạn trước học, Phật dạy: Cái gì chưa đoạn phải ráng đoạn, cái gì chưa thành phải ráng thành. Tâm hiện hành gọi là chủng tử khởi hiện hành, mà nó khởi liên tục. Chúng ta chưa có “Không Như Lai tàng”, cái kho mình còn quá nhiều, khởi lên nó thành cảnh, cảnh nhiễm sanh tình, mà tập khí phiền não sâu đậm.
Nếu biết trần gian là huyễn mộng, Niết-bàn có lẽ cũng chiêm bao.
Là cái lý thôi, hiểu vậy để phát huy năng lực lên. Đừng nói ngộ là xong, phiền não tánh nó là không. Nếu khởi tâm này, y đó tu là điên đảo.
Nhớ là phải dè dặt, người tu Phật giống như đi trên băng mỏng. Đến giai đoạn tác, chỉ, nhậm, diệt, nếu không gặp pháp tu đúng, đa phần là lệch đường. Ra đời không gặp giáo pháp đại thừa lớn thì đa phần dễ bị lầm.
Thế nhưng tánh phiền não dù không mà hay khiến thọ nghiệp.
Nói phiền não là không thật, nhưng khi bị phiền não mà chửi người ta thì nghiệp về mình, là gieo hạt giống trong tâm thức người ta. Ví dụ, lấy cây đinh đóng xuống bàn, nhổ cây đinh lên thì để lại cái lỗ, cái bàn trở nên xấu xí. Một lời nói ra tuy là thấy không thật nhưng nó tác động tới người ta, làm cho
người ta khổ, người ta bức xúc, tu không được. Nói là “phiền não có thật đâu” nhưng nghiệp phải gánh nghiệp. Đại chúng nhớ cẩn thận.
Nghiệp quả tuy không tánh, mà tạo cái nhân khổ. Khổ đau tuy hư dối, vậy mà khó nhẫn là sao?
Lấy con dao chặt cái tay hỏi đau không? Đau chớ sao không! Như vậy, khi chúng ta tạo nhân khổ cho người khác thì quả khổ đến với mình. Phải biết để tránh con đường này. Người xưa nói: Làm thiện suốt đời chưa đủ, mà một ngày tạo nghiệp ác thì quá dư.
Khi thấy những hiện tượng nghịch hạnh, chẳng hạn những người nghịch hạnh ở cùng với mình, hoặc đi làm các việc Phật sự thấy, mà mình khởi tâm kiêu mạn thì niệm ác ngay đó sanh. Một khi niệm ác sanh khởi thì nó che lấp bản tâm. Giống như trời đang sáng, mây che lại, mặt trời không tỏ rạng.
Nếu không có niệm ác ngăn che thì nhất định người này sẽ thành tựu chánh giác. Tâm giác đã sáng thì ánh sáng trí tuệ phát chiếu, nơi nơi đều vô nhiễm nên gọi là hoa tâm, xứng hợp với thể vô biên nên chiếu soi cõi nước khắp cả mười phương.
Nếu chúng ta tu được pháp này, tâm lúc nào cũng bình thản. Giữ tâm không cho cảnh xâm nhập, không bị cấu nhiễm thì chắc chắn sẽ thành tựu. Khi tâm giác sáng rồi thì ánh sáng trí tuệ phát chiếu. Ngày
xưa, thấy cái ly này tự nhiên khởi niệm, bây giờ bình thản. Bình thản bên trong chớ không khởi tâm quán chiếu cái này là vô thường, vô ngã gì nữa.
Huệ phát sáng rồi thì ở trên tướng tự nhiên bất động không trụ nữa. Ngày xưa, người ta nói lời đó mình chịu không nổi, bây giờ tự nhiên nó không ở trên tướng sanh tâm, gọi là không có duyên lự mà sanh khởi nữa, nhờ tâm huệ mình phát sáng lên. Tu tập thì xứng với thể vô biên nên mười phương cõi nước đều ứng hiện lên hết.
Phân biệt bốn tướng
Thiện nam tử! Diệu pháp mà thiện tri thức kia đã chứng thì cần phải lìa bốn bệnh.
Đến gặp thiện tri thức để tu tập, chúng ta thấy vị này lìa bốn bệnh thì mới gọi là thiện tri thức để mình nương tu tập.
Bốn bệnh là gì?
1. Bệnh tác
Đó là có người nói bản tâm của ta làm các thứ hạnh để cầu viên giác, song tánh viên giác kia chẳng phải do làm mà được. Ấy gọi là bệnh.
Chẳng hạn chẻ củi, nấu cơm, làm tất cả các hạnh để cầu viên giác thanh tịnh. Viên giác giống như hư không, không có dung nhiếp các vật. Nếu khởi làm các hạnh để cầu viên giác, đây là bệnh, gọi là bệnh tác.
Như vậy, nói về tướng bệnh, hoặc là suy nghĩ, hoặc là ước đoán, so đo, hoặc là tính, lường, khởi tâm vận dụng là hành tướng định tạo tác. Hoặc xây chùa, tạo tháp, cúng Phật, tụng kinh cho là đạo, chịu đói rét cho là công đức để cầu viên giác, thì đó là bệnh. Vì sao? Vì tánh viên giác chẳng thuộc tạo tác, thì tạo tác làm sao khế hợp? Nếu liễu ngộ giác tánh vốn viên, thì không cần khởi tâm cầu lợi ích.
Nghĩa là làm tất cả các việc cho là để thể nhập tánh viên giác, để thành tựu Phật quả thì đây gọi là tâm tạo tác, mà tâm tạo tác tức là bệnh.
Chỗ không khởi tâm tức hợp với tâm giác, khi hợp với tâm giác thì không có các vọng. Không có các vọng thì tất cả các việc làm đều tương ưng, đắp đất, tụ cát, đều thành Phật đạo.
Đoạn sau chúng ta học: Lìa bệnh nhưng không bỏ pháp. Lìa các bệnh là làm tất cả các việc mà không mong cầu, pháp đó là thuốc. Làm tất cả các việc mà mong cầu để thành Phật là trật bản thể.
Tới phần nhậm, nghe như thế không làm gì nữa; nhưng đoạn sau Phật dạy, nếu tâm dứt duyên lự, thì làm tất cả các việc đều là tương ưng: đắp đất, tụ cát, làm gì cũng là Phật đạo hết. Nhổ cỏ, nấu cơm mà không trụ tướng sanh tâm là Phật đạo. Còn ở trên tướng sanh tâm để cầu viên giác tức là bệnh.
Kinh Duy Ma nói: “Lìa bệnh nhưng mà không bỏ pháp”, lìa bệnh tức là không chấp trước.
Chỉ cần dứt vọng thì tánh tự mở sáng. Thôi dứt thì tức Bồ-đề, chứ không từ bên ngoài mà được.
Tất cả các việc là để trang nghiêm đạo tràng thanh tịnh. Bồ-tát Duy Ma Cật trong phẩm Phật quốc nói:
Muốn trang nghiêm Phật đạo, phải khởi hạnh phương tiện độ sanh thì mới trang nghiêm cõi Phật.
Khởi tâm phương tiện thiện xảo để độ sanh mà trên tướng đó không có chấp, không dính mắc.
- Bệnh nhậm
Nếu có người nói, chúng ta ngày nay không cần đoạn sanh tử, cũng không cầu Niết-bàn, đối với Niết-bàn và sanh tử không có niệm khởi diệt, mặc kệ chúng, tất cả đều tùy pháp tính.
Nhậm là mặc kệ, không tu, không làm gì hết. Sanh tử, phiền não là bóng dáng, là huyễn mộng, cho nên mặc kệ không tu tập, không sám hối, không ngồi thiền.
Ý nói sanh tử là không, đâu có gì phải đoạn. Niết-bàn vốn tịch, đâu cần tu để cầu. Không nhàm chán, không ưa thích, tức là không có niệm khởi diệt.
Rất dễ lầm, dễ bệnh.
Mặc kệ chúng, tất cả đều tùy pháp tánh. Như nói lửa
thì nóng, nước thì ướt, mỗi mỗi đều có tánh sai biệt. Lại nói, vọng thì do người vọng, chân cũng mặc kệ, mỗi mỗi đều xứng tâm thì đâu cần phải tạo tác. Tạo tác cũng mặc kệ, thích nhàn cứ nhàn. Hễ đói thì ăn, gặp áo liền mặc. Việc tốt việc xấu đều chẳng cần quan tâm. Tự nhiên mà làm, thuận duyên mà sống. Buồn thì ngủ, thích thì đi chơi, đông, tây, nam, bắc, đâu nhất định chỗ đến chỗ đi.
Tức là mặc kệ, đói thì ăn, khát thì uống mà đều ở trong huyễn hóa tạo tác sanh tử, chứ không phải ở trên xứng pháp tánh. Cho nên thích đi chơi thì cứ đi, sống nhàn nhàn. Đông, tây, nam, bắc đâu có gì nhất định, chỗ đến, chỗ đi là tùy duyên thôi, mà Phật nói, đang ở trong chiêm bao, chưa có thức. Ở trong huyễn mộng tạo tác nên không thoát được sanh tử, chìm trong đó luôn.
Các hạnh của Tổ Bồ-đề Đạt Ma rất hay: 1. Báo oán hạnh, 2. Tùy duyên hạnh, 3. Vô sở cầu hạnh, 4. Xứng pháp hạnh, là tu ở ngay nơi pháp tính. Đói ăn, khát uống là ở trong thể tánh tịch diệt, còn ở trong huyễn mộng nó khác.
Giống như bàn tay lành lặn, nắm thuốc độc không sao. Một người xứng pháp hạnh rồi thì đói ăn, khát uống, không cần tụng kinh, ngồi thiền mà luôn luôn ở trong xứng pháp hạnh.
Như thế mà muốn cầu tánh viên giác nhưng tánh viên giác chẳng phải là mặc kệ.
Nên nói là bệnh. Chỗ này các ngài nói “qua sông dễ chìm xuồng, đến ngã ba dễ mất con dê”.
Đoạn trước nói rong ruổi tìm Phật gọi là bệnh tác. Đoạn này buông thả thân tâm gọi là bệnh nhậm. Bây giờ, phải đi như thế nào đó gọi là trung đạo. Trung đạo đế, đệ nhất nghĩa đế là phương pháp tu.
Như vậy, con đường này chỉ có tự thân mình biết: Việc nào xong, việc nào chưa xong, việc nào nên làm, việc nào không nên làm. Dối ai được chứ dối chính mình không được. Đói ăn, khát uống, mệt ngủ là tự mình biết. Việc chưa xong thì phải thu thúc.
Nếu mình không chấp trước thiện ác, thành tánh vô ký.
Lục Tổ khai thị cho Ngài Huệ Minh: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính ngay đó cái gì là bản lai diện mục của ông?”
Có nghĩa là lìa thiện và ác, nhưng các ngài vẫn ở trong chỗ tính bình đẳng, thấy rõ thiện và ác không lệch một mảy may. Còn khi nói không nghĩ thiện, không nghĩ ác, nhưng cái thiện đến thì khởi niệm. Chẳng hạn có duyên nào đó, người ta khen thì vui, bỗng có duyên nào đó người ta chê thì giận. Nhưng cái vui cái giận từ đâu? Bên trong chưa hóa giải được, đó là tính vô ký. Tuy nói không chấp vào thiện, không chấp vào ác nhưng mà bên trong vẫn còn, chưa đoạn tận hết, gặp duyên thì nó tuôn ra các căn.
Người tu hành đến chỗ này dễ bị chìm thuyền, đuối nước. Tâm cần phải tự cảnh giác, chớ mắc cái bệnh này.
Bệnh tác còn đỡ, chúng ta chẻ củi, nấu cơm để cầu viên giác nhưng vẫn còn thiện pháp. Bệnh nhậm mới sợ hơn, cứ mặc kệ đói ăn, khát uống, rồi phóng túng, sanh tử không cần ra, Niết-bàn không cần thể nhập, mà đang ở trong huyễn mộng. Bệnh này rất khó trị. Chớ mắc bệnh này.
Nếu không tu hành, luôn sống trong huyễn hóa thì các ông làm sao giải thoát?
Nếu không lo tu, không ngồi thiền, không sám hối, không lo trưởng dưỡng, thì sao mà được giải thoát?
Bệnh nhậm này chính là người cuồng giải, tức là kiến giải điên cuồng.
Bệnh này rất nhiều! Vì sao? Vì bệnh này rất sướng: không ngồi thiền, không tụng kinh, đói thì ăn, mệt thì ngủ, lạnh mặc áo ấm, nóng thì hồn nhiên mặc áo thun, khỏe quá! Cho nên, gọi là bệnh điên, bệnh cuồng giải, kiến giải điên cuồng, đây là Ngài Hám Sơn nói.
Nhậm tánh thong dong, tức là thích sao làm vậy, tự do phóng túng, thân tâm buông thả. Tự nói xưa nay không một vật, thì làm gì có ngăn ngại, được đại giải thoát. Mượn cớ nói: Vốn không sanh tử có thể đoạn, vốn không Niết-bàn có thể chứng. Làm cho tâm buông tuồng phóng
túng, chẳng phải là bậc thiện tri thức có cái nhìn chánh kiến. Nếu nương với người này mà tu, chắc chắn rơi vào cuồng vọng, nên nói nhậm tánh là bệnh.
Ngày xưa, tôi ở trong tu viện nọ, có một số quý thầy hiểu trên cái lý, có kiến giải như thế này, sau một thời gian ra đời hết, không có tu được.
- Bệnh chỉ
Nếu có người khởi nghĩ thế này: Nay tôi tự tâm hằng dứt các niệm, được tất cả tánh tịch nhiên bình đẳng. Muốn cầu tánh viên giác, thì viên giác kia không dừng mà hợp, nên nói là bệnh.
Sanh tâm thì sợ sai, theo tình lại lo mất, nên cứ một bề ngừng dứt, chỉ cần dừng vọng tức là chân, đâu cần riêng chiếu.
Đây cũng gọi là bệnh.
Ý nói dừng niệm nên lìa tướng, vì lìa tướng nên được tánh, đó là tánh vô tánh của tất cả pháp, thì chứng chẳng phải là giác tánh.
Bởi vì giác tánh vượt thoát cái động cái tịnh, gọi là có một cái tâm riêng chiếu. Lìa động và tịnh vẫn còn một cái riêng chiếu, không phải là dứt bặt hết.
Do ngã tâm sanh vọng tưởng, nên chiêu cảm khổ vui sai biệt. Nay chỉ cần dừng vọng niệm, vọng đã dừng thì tự nhiên bình đẳng. Bệnh này từ pháp tĩnh quán mà sanh. Do mê lầm lấy tĩnh làm hạnh, lắng các niệm mà thành bệnh.
Lắng các niệm cho là viên giác thì cái gì thấy được lắng các niệm? Đó chưa phải là chỗ giác tánh bình đẳng. Ngày xưa, do vọng tưởng chiêu cảm khổ vui sai biệt, sợ quá thôi bây giờ dứt vọng, dứt vọng tức là chơn. Khởi niệm như thế thì đó là pháp tạo tác.
Ngài Hám Sơn bình:
Viên giác phổ chiếu đại dụng không nơi chốn, há có thể do hằng dứt các niệm, mãi vui say đắm trước vào hạnh khô tịch để cầu được ư! Vì diệu tánh viên giác chẳng phải chỉ mà có thể hợp.
4. Bệnh diệt
Nếu có người nói: Nay ta đoạn hẳn tất cả phiền não, thân tâm rốt ráo rỗng không, chẳng có gì cả, huống là cảnh giới căn, trần, hư vọng. Tất cả đều vĩnh viễn tịch diệt để mong cầu viên giác, nhưng tánh viên giác ấy chẳng phải tướng diệt, nên gọi là bệnh.
Tức là tận diệt hết tất cả những phiền não, căn, trần để thể nhập tánh viên giác thì đó gọi là bệnh, giống như cây khô.
Ngài Hám Sơn bình:
Thân tâm vốn không nên nói là vĩnh viễn tịch diệt. Các tướng đã bặt, tướng tịch diệt hiện tiền. Lại định dùng tâm này cầu chứng viên giác nên thành bệnh.
Có gì tác ý, tức thành bệnh hết. Có tâm tác ý, hướng đến đều là bệnh hết. Bởi vì tâm Viên Giác nảy
rỗng rang riêng chiếu, mà ngay nơi thân, tâm chỉ cần tột được chỗ đó thì thấu suốt, còn cầu là có tâm tác ý.
Vì sao? Vì thể của tánh viên giác sáng tỏ linh hoạt, không chỉ có tịch diệt vắng lặng. Nay diệt trừ phiền não để trụ nơi tịch diệt, thì không thể tương ưng, huống gì viên giác thì chẳng động chẳng tịnh, nhưng dung thông động và tịnh.
Đây là phương pháp chúng ta tu, lìa tướng động và tướng tịnh, bởi vì nó dung thông thiện và ác, dung thông có và không.
Vì tâm viên giác là hằng sa đức dụng, vô ngại không thể nghĩ bàn, thế thì tâm trụ tịch đâu thể khế hợp. Lời thì tợ như gần, mà lý thì hoàn toàn rất là xa.
Bốn bệnh này xa tánh viên giác, chúng ta tu tập như thế nào đó để lìa tướng tịnh và động, lìa tướng có và không để dung thông, làm tất cả các việc mà vô ngại, không ở trên tướng sanh tâm thì là đúng.
Phải cố gắng lìa bốn bệnh tác, chỉ, nhậm, diệt. Người tu thiền rất dễ bị rớt trong bốn chứng bệnh này. Cho nên, phải nhớ dung thông các pháp, dung thông giữa động và tịnh, tâm rõ biết, sáng suốt. Ngồi thiền tâm bất động nhưng mà riêng chiếu, vẫn có cái sáng tỏ nhưng bất động trên các hiện tượng niệm. Pháp này chúng ta tu rất dễ, nếu tu tập được như thế, Phật nói chắc chắn người này tu thành tựu quả vị vô
thượng chánh đẳng, chánh giác. Lúc đó, khởi tâm diệu dụng làm nhiêu ích tất cả mọi người mà tâm bất động đối với các pháp, thì đúng là lìa bốn tướng.
Tóm tắt lại bốn bệnh:
- Bệnh tác: Tạo tác, làm tất cả các việc để mong cầu thể nhập viên giác.
- Bệnh nhậm: Mặc kệ, để pháp tùy duyên. Đói thì mình ăn, khát thì mình uống, “nhậm vận tiêu giao, tùy duyên phóng túng.”
Muốn lìa bốn bệnh, phải học pháp ứng dụng trong cuộc sống theo tinh thần của Tổ Bồ Đề Đạt Ma: 1. Báo oán hạnh, 2. Tùy duyên hạnh, 3. Vô sở cầu hạnh, 4. Xứng pháp hạnh.
Xứng pháp hạnh là trên cái thể tánh bình đẳng, làm tất cả các việc mà không mong cầu. Đó là mình lìa bệnh tác.
Nếu mà nhậm, thì để tùy duyên, cứ ngồi thiền nhắm mắt lim dim, tự nhiên có chánh điện, tự nhiên có nhà Tổ, có thiền đường…, thì ngàn đời cũng không có.
Ngày xưa, chúng tôi ra đây, chỉ có mảnh đất khô cằn, sỏi đá. Ngồi thiền lim dim tự nhiên cây có mọc lên không, hay là 12 giờ đêm chúng tôi phải lặn lội xuống miền Tây Sa Đéc, đi mua từng gốc cây đem về trồng?
Có vị thầy xuất thân từ Trúc Lâm ra Hà Tĩnh nhận miếng đất làm thiền viện. Ông có 20 đệ tử, mà ông xin nhập thất ba năm, ông nghĩ sau khi ra thất thiền viện sẽ xong. Ba năm sau ra thất, 20 đệ tử không ai dạy dỗ nên bỏ đi gần hết. Lúc nhận miếng đất, gia chủ đang làm ăn phát triển, người ta nói hộ trì thầy xây thiền viện, thầy không chịu làm mà muốn nhập thất. Ba năm sau người ta làm ăn không được, không còn khả năng hộ trì.
Mình phải hiểu, tác là ở trên cái xứng tánh, gọi là “xứng tánh tác Phật sự”, làm tất cả các việc mà trên pháp đó, không trụ tướng sanh tâm thì đúng. Chứ không phải ngồi lim dim rồi hô biến ra thiền đường. Nhiều khi hiểu lầm là tâm sanh ra pháp. Chỗ này phải lưu ý. Càng đi sâu càng thấy Phật pháp vi diệu. Chỉ có người dụng công tu mới thấy được chỗ này.
Bản thể là như thế nhưng cái dụng phải hoạt động, mà hoạt động trên cái dụng từ nơi thể tánh, chứ không phải hoạt động trên cái dụng của vọng tưởng. Làm mà không mong cầu, không tạo tác, không trụ tướng sanh tâm nên không có bỏ sức ra nhiều. Ở trên bản thể, chúng ta làm nên không có bệnh tác.
Nhậm là mặc kệ, là để tự nhiên có. Không có gì là tự nhiên! Ngày xưa ở đây nóng, muốn mát thì tạo cái nhân là mình trồng cây, tưới tẩm, nhổ cỏ thì cái
quả là mát. Nhờ cái nhân ban đầu gieo, thì cái quả gần mười mấy năm gặt. Cái nhân mình tạo thì cái quả mình hưởng, không khi nào tự nhiên có.
- Chỉ: Không làm, dừng lại tất cả không có tạo tác gì hết. Ví dụ, bây giờ dừng hết đi, thử xem trưa nay có cơm ăn, có nước uống không. Tinh thần của nhà thiền là phải sáng tạo chứ không có chết cứng trên pháp. Thiền mà không sáng tạo là thiền khô cứng, là thiền chết. Cho nên mỗi phương sở, mỗi địa phương, mỗi con người, Phật thi thiết các phương tiện, chứ không phải chết cứng. Bây giờ, chúng ta thử đoạn tận, chặt đứt xem sao. Đang nấu cơm cho đoạn tận lửa, cơm sống, ăn không được. Cho nên nói lìa bốn bệnh này là thuốc.
Giác tánh có sẵn nhưng do quên. Khi nhớ lại thì đã bị bụi bám, cáu bẩn nên phải lau chùi. Lau chùi, dọn rửa là pháp của Ngài Thần Tú. Có sẵn là pháp của Ngài Lục Tổ Huệ Năng. Đành rằng “xưa nay không một vật”, nhưng bị bám, bị dơ do nhiều đời, nhiều kiếp lăn lộn trong bụi trần. Bây giờ, mượn pháp tu để rửa, không phải một sớm, một chiều.
Ngài Hám Sơn nói:
Giác tánh tròn đủ, tùy duyên mà ứng hiện ra, lặng lẽ mà thường chiếu.
Khi thể nhập được giác tánh, được một chút diệu dụng thì nó ứng ra pháp này. Tu được bao nhiêu thì nó ứng ra bấy nhiêu, ví dụ như ứng ra cây cối xung quanh. Sư Ông tu thể nhập bản giác tròn đủ nên ứng ra độ sanh vô số, mọi người đều quy hướng. Tùy theo cấp độ thể nhập mà ứng ra. Còn là Sa-di thì người ta chưa nương tựa, tu một thời gian thọ Tỳ-kheo thì người ta ít nương tựa, công phu càng lên người ta cảm được nên nương tựa nhiều, xung quanh các nơi người ta ứng cơ tiếp vật, ứng hiện tùy duyên.
Còn ở trong trạng thái nhậm thì cơ phong chìm trong đoạn diệt, cũng là bệnh.
- Bệnh diệt: Do lặng yên mà cầu viên giác thì chìm trong vô tưởng, rớt vào hàng nhị thừa, thì cũng gọi là bệnh.
Lặng yên cho là tánh viên giác thì chìm trong vô tưởng, không có sức hoạt dụng, cũng gọi là bệnh.
Khởi quán như thế là chánh quán. Nếu quán khác gọi là tà quán.
Quán chiếu, tu tập, trưởng dưỡng hoạt dụng thì chánh quán. Ngược lại, tạo tác cầu viên giác, mặc kệ cầu viên giác, dừng hết tất cả cầu viên giác, đoạn tất cả cầu viên giác, là bệnh.
Như vậy, diệu tánh viên giác vốn không thuộc vào bốn tướng: tác, chỉ, nhậm, diệt. Nay lìa bốn tướng
này thì tự tánh tròn sáng vốn không khiếm khuyết, nên nói vốn tự thanh tịnh.
Song bốn tướng: tác, chỉ, nhậm, diệt đều thuộc công dụng tu hành, nay nói lìa bệnh là do tại chưa ngộ tông môn, bốn tướng này đều là thuốc.
Hiểu được bốn tướng này, dụng công tu thì là thuốc, mà không hiểu thì nó là bệnh.
Nay theo tự tánh viên giác mà nói, tánh này vốn tự thiên nhiên không cần dụng công, nên nói là bệnh.
Tánh viên giác có sẵn không đợi dụng công mới có. Dụng công mong cầu thể nhập viên giác là bệnh, còn dụng công để đào thải tập khí là thuốc.
Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng nói:
Tu chứng tức chẳng không, Nhiễm ô không thể được.
Này Thiện nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp muốn tu hành, thì nên suốt đời cúng dường bạn lành, phụng sự thiện tri thức.
Pháp thì không có mạt, do cộng nghiệp tạo tác của chúng sanh thành ra mạt. Ai xuất gia đi tu cũng muốn thành Phật, thành Bồ-tát, A-la-hán để độ người thân, nhưng nếu tu không khéo thì thành ma. Tại sao? Vì người đó rời xa môi trường, rời xa đại chúng, rời xa thiện hữu tri thức.
Chúng tôi về đây là do Sư Ông sắp đặt, giống như nhận chiếu chỉ, mà ra đây còn gặp khó khăn. Chúng tôi tu hành bao nhiêu năm trong chúng, khi ra đây tôi đã là quản chúng ở Trúc Lâm rồi, là giáo thọ dạy các đạo tràng lớn, rồi đi nước ngoài giảng dạy Phật pháp khoảng ba bốn năm, vậy mà còn gặp đủ thứ chuyện, huống chi mới tu một hai năm mà ra cất cốc.
Cho nên, phải cúng dường bạn lành, tức những vị đi trước mình, cùng ở chung tu tập, không phải một, hai năm mà suốt đời.
Như Thiện Tài đi về phương Nam. Tại sao Ngài không đi về phương Đông, phương Tây, phương Bắc mà Ngài đi về phương Nam? Bởi vì phương Nam thuộc về cung Ly, mà Ly thuộc về hỏa, hỏa chỉ về tâm. Tham cầu thiện tri thức ngay nơi tâm mình qui chiếu, đó là gặp 52 thiện tri thức ngay nơi tự tâm của mình.
Do đó, Kinh Niết Bàn dạy:
Thiện tri thức là nhân duyên đầy đủ cho người hướng đến đạo Bồ-đề.
Tức là gặp môi trường, gặp thầy lành, bạn tốt, thì thiện tri thức đó là nhân duyên. Môi trường tốt thì không làm khó chịu, không sanh ác pháp. Nơi nào không sinh ác pháp, tu được thì ở. Nơi nào ở mà sinh ác pháp thì rời đi.
Do đó, Kinh Pháp Cú Phật dạy: Thiện tri thức
như cha mẹ, như mắt, như chân, như thềm thang, như thức ăn uống, như y phục, như áo giáp, như thuốc men…
Này Thiện nam tử! Thiện tri thức có vô lượng công đức nên ta nay dạy ông phải gần gũi.
Phật dạy gần thiện tri thức thì công đức mới có. Đại chúng nghiệm, ở thất hoặc ở nhà tu thì làm gì mà tạo ra công đức. Vào bếp nấu giỏi lắm cho ba, bốn người ăn; mà ba, bốn người đó chắc gì người ta tu. Còn ở đây mình nấu một nồi cơm là cho tất cả mọi người dụng công tu tập.
Chẳng hạn sáng nay, mình nấu nồi cơm, những người trên thiền đường người ta tu từ 3g15 đến 5g15. Quán sâu hơn nữa là cúng dường cho những vị Phật tương lai. Gặp môi trường tốt, thầy lành bạn tốt, từ nơi thiện tri thức mới tạo ra vô lượng công đức. Ở trong chúng tạo những thiện duyên, thiện pháp, khi ra làm Phật sự mới ứng ra chứ không phải tự nhiên có sẵn.
Cho nên, Đại chúng nghe xong đều cất tiếng khóc thảm thương. Đại chúng nghe Phật dạy xong mới nhớ cái ơn của thiện tri thức.
Này Thiện nam tử! Nếu thiện tri thức ấy đến gần gũi mình, nên dứt tâm kiêu mạn. Nếu vị ấy muốn xa lìa mình thì cũng không khởi tâm sân hận.
Người ta nói “gần chùa kêu Phật bằng anh”, gần gũi thiện tri thức một thời gian thấy cũng giống mình nên sanh tâm ngã mạn, sanh tâm coi thường, sanh tâm không cung kính.
Do đó, Khổng Tử nói: Kẻ tiểu nhân khó nuôi dưỡng, vì gần họ thì họ vô lễ, mà xa họ thì sanh oán hận. Oán tức là sân hận, vô lễ tức là kiêu mạn.
Vô lễ với thiện tri thức, vô lễ với thầy, tức là có hạt giống kiêu mạn mà không thấy được. Nhiều khi nghĩ: Mình học được như thế này, địa vị, danh vị như thế này nên khởi tâm xem thường, đó là tâm kiêu mạn.
Lục Tổ nói: Bên trong khiêm hạ là công, bên ngoài lễ phép là đức.
Nếu thiện tri thức hiện ra cảnh thuận hoặc là nghịch đều xem như hư không. Liễu tri thân tâm rốt ráo bình đẳng, đồng thể với tất cả chúng sanh. Tu hành như thế mới ngộ nhập được viên giác.
Thiện tri thức hiện ra cảnh nghịch hoặc cảnh thuận mà tâm mình bất động như hư không. Làm gì thì vẫn là thầy của mình, tâm bất động thì mới thể nhập được tánh viên giác.
Này Thiện nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp chẳng thể nào thành đạo do có tất cả chủng tử ta, người, thương, ghét từ vô thỉ nên chưa được giải thoát.
Chúng ta tu mà không thành đạo là do hạt giống ta,
người, thương, ghét từ vô thỉ chớ không phải mới đây.
Nếu có người xem kẻ oán thù như cha mẹ, tâm chẳng phân biệt thì liền trừ được các bệnh. Tâm ta, người, thương, ghét đối với các pháp cũng như vậy.
Cảnh giới rốt ráo nhất là xem người thù oán giống như cha như mẹ ta thì tu mới được. Đằng này những người ở gần chưa đến nỗi. Những người giết cha, giết mẹ ta mà ta coi như cha mẹ thì mới thể nhập được tánh viên giác, dứt tâm oán nghiệp.
Sở dĩ sanh ra các bệnh là do thích chân, ghét vọng, thấy ta, thấy người, do vậy chẳng thể phụng sự thầy dài lâu. Chỉ tự mình sanh tâm khởi hạnh, nay đã đoạn chủng tử này, thì bệnh tự nó trừ.
Bởi vì ở trong chúng mà không khởi quán hạnh: đây là người thân, nhiều đời nhiều kiếp là cha là mẹ; mà mình khởi tâm bực tức, nóng giận phiền não, nên không thể nào ở với thầy dạy pháp cho mình lâu dài được, ở một thời gian là rời đi. Rời đi không phải tại ông thầy, mà vì thấy không ưa những người đồng học. Khởi quán hạnh, tu tập thì bệnh sẽ dứt.
Này Thiện nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp muốn cầu viên giác nên phát tâm như thế này: Ta khiến cho tất cả chúng sanh trong cùng khắp tất cả hư không, đều ngộ nhập viên giác rốt ráo. Lại ở nơi viên giác mà chẳng có người thủ chứng viên giác, dứt trừ tất cả các tướng nhân ngã.
Chẳng hạn, chiều nay tụng kinh xong ta nán lại, phát nguyện cho tất cả chúng sanh ai cũng ngộ nhập viên giác, mà không có người thủ chứng ta và người.
Mình mong muốn những người xung quanh tu để thành tựu chớ không khởi một niệm nào hết, thì tức khắc ở trong tự tánh bình đẳng viên giác.
Phát tâm như thế thì chẳng đọa vào tà kiến. Chư Phật khi còn giai vị tu nhân đã phát tâm này, từ đó thành Phật. Lại y theo nguyện này mà tu thì chắc chắn các ông sẽ thành Phật.
Y theo nguyện này tu tức là mong muốn ai cũng tu thành Phật. Tâm mong muốn như thế thì làm, hy sinh xả thân không biết mệt mỏi, bởi vì không ở trong tướng mà sanh tâm. Chúng tôi vừa đi giảng dạy vừa đi chỗ này chỗ nọ đem thực phẩm về mà tại sao tôi không biết mệt? Vì mong muốn cho quý vị có đầy đủ lương thực để quý vị tu thì không thấy mệt. Những việc này, làm cho đến khi thành Phật chứ không chỉ làm một đời.
Nếu không có tâm nguyện này thúc giục dẫn phát, thì việc tu hành giữa chừng thối lui.
Phương pháp tu tập Phật dạy hết rồi. Bây giờ, tôi thuật lại thôi. Tôi thấy dễ mà đơn giản, không có gì khúc mắc mà tại sao có những vị ở một thời gian rồi phiền não, thì không hiểu phiền cái gì! Nếu không
có nguyện lực thúc giục thì giống như ngòi thuốc nổ. Luôn luôn nhớ, tâm nguyện phát thì phải làm, thì đời tu không bao giờ thối lui giữa đường.
Nếu nói về tâm này, theo kệ tụng của Bồ-tát Di Lặc thì có bốn tâm:
1. Tâm rộng lớn
Thế nào là tâm rộng lớn? Đối với chúng sanh khắp hư không mà phát tâm này, đây là tâm rộng lớn.
Bốn loài chúng sanh: noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, loài có tưởng, loài không tưởng, loài có sắc, loài không sắc; loài phi tưởng, loài phi phi tưởng, tất cả các loài chúng ta đều phát tâm: Vì chúng sanh tôi làm việc này, hành pháp này, vì chúng sanh mà tôi xả ly hết tất cả. Đó là tâm rộng lớn.
2. Tâm đệ nhất
Thế nào là tâm đệ nhất? Khiến cho tất cả đều vào viên giác.
Tức là khiến cho tất cả ai cũng ngộ nhập tánh viên giác. Đó gọi là tâm đệ nhất.
Do phát nguyện này mà huân thành chủng tử, rồi nương sức nguyện, tự nhiên giáo hóa chứ không cần khởi tâm.
Khi khởi tâm phát nguyện thì huân thành hạt giống, rồi nương sức nguyện phổ ra các hành động thì tự nhiên người ta thấy, tin tưởng theo học pháp, chứ không cần khởi tâm mong cầu.
Này Thiện nam tử! Các Đức Phật trong ba đời đều như thế, nếu không thì đâu khác gì hàng Thanh văn.
Đây là hạnh Bồ-tát mà ba đời mười phương chư Phật đều phát nguyện thực hiện những tâm này.
3. Tâm thường
Thế nào là tâm thường? Nơi viên giác mà không có người thủ chứng viên giác.
Vì có sẵn nên không chứng.
4. Tâm không điên đảo
Thế nào là tâm không điên đảo? Này Thiện nam tử!
Dứt trừ các tướng nhân, ngã.
Dính mắc vào tướng nhân, ngã là tướng điên đảo, tâm không điên đảo thì dứt trừ tướng nhân, ngã.
Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Phổ Giác thầy nên biết Những chúng sanh đời sau Muốn cầu thiện tri thức Nên cầu người chánh kiến.
Tâm xa lìa Nhị thừa Nơi pháp trừ bốn bệnh
Là Tác, Chỉ, Nhậm, Diệt Gần gũi không kiêu mạn.
Rời xa không oán sân Thấy các loại cảnh giới Tâm sanh niệm hy hữu Giống như Phật xuất thế.
Chẳng phạm phi luật nghi Giới căn mãi thanh tịnh Độ tất cả chúng sanh
Rốt ráo nhập viên giác.
Không tướng nhân bĩ ngã Nương bậc chánh trí tuệ Liền vượt qua tà kiến Chứng giác nhập Niết-bàn.
Tức là nương môi trường, nương thầy lành, bạn tốt thì chắc chắn sẽ đạt đến con đường chứng giác nhập Niết-bàn.